Trong lĩnh vực thương mại của cơ quan QLTT thì có thể chia GLTM thành các nhóm hành vi như sau: - Buôn lậu, kinh doanh hàng nhập lậu, sản xuất, buôn bán hàng giả; - Vi phạm quy định về q
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế “Tăng cường công tác chống gian lận thương mại trên địa bàn Thành phố Huế của Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Thừa Thiên Huế” là công trình nghiên cứu độc lập Đề tài đã sử dụng
nhiều nguồn thông tin liên quan khác nhau để phục vụ cho phần viết luận văn
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này làtrung thực, chính xác và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cũng xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Người cam đoan
Nguyễn Thanh Hòa
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu ở nhà trường, kết hợpvới kinh nghiệm trong quá trình thực tiễn công tác, với sự cố gắng nỗ lực của bảnthân
Đạt được kết quả này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giámhiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học, quý thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Kinh tế -Đại học Huế Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS PhanVăn Hòa là người trực tiếp hướng dẫn khoa học Thầy đã tận tình giúp đỡ tôi trongsuốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến Ban Lãnh đạo Chi cục, cán bộ côngchức Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Thừa Thiên Huế đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôitrong thời gian thực hiện luận văn cũng như trong công tác
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân luôn bên cạnh độngviên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Mặc dù, bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi nhữngkhiếm khuyết, tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy, cô giáo; đồngnghiệp và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn
Tác giả luận văn
Nguyễn Thanh Hòa
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 3TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
Họ và tên học viên: NGUYỄN THANH HÒA
Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh
Người hướng dẫn khoa học: TS PHAN VĂN HÒA
Tên đề tài: TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC CHỐNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ CỦA CHI CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Gian lận thương mại luôn là vấn đề nóng được đề cập nhiều trong thời giangần đây Vấn nạn gian lận thương mại, đang là một trong những trở ngại lớn chocông cuộc xây dựng và phát triển đất nước Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta hếtsức coi trọng công tác đấu tranh phòng, chống gian lận thương mại và đã đề ra nhiềuchủ trương, chính sách, chỉ đạo quyết liệt để ngăn chặn, phòng ngừa vấn nạn này.Việc nghiên cứu, đề xuất ra các biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quảcông tác chống gian lận thương mại trong bối cảnh kinh tế hiện nay là rất cần thiết
2 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phân tích dữ liệu chuỗi thời gian
để đánh giá công tác chống gian lận thương mại trên địa bàn Thành phố Huế củaChi cục Quản lý thị trường tỉnh Thừa Thiên Huế thời kỳ 2013 – 2015
- Sử dụng phương pháp phân tích nhân tố, phân tích hồi quy, kiểm địnhthống kê để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác chống gian lậnthương mại
3 Kết quả nghiên cứu và những đóng góp khoa học của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận cơ bản về gian lận thương mại và chống gianlận thương mại, đồng thời thông qua nghiên cứu thực trạng, hiệu quả công tácchống gian lận thương mại trên địa bàn Thành phố Huế của Chi cục Quản lý thịtrường tỉnh Thừa Thiên Huế, luận văn đã đề xuất và giới thiệu những giải phápnhằm tăng cường công tác chống gian lận thương mại trên địa bàn Thành phố Huếđến năm 2020
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU
Chữ viết tắt Ý nghĩa
VSATTP : Vệ sinh an toàn thực phẩm
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU viii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ ix
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu luận văn 4
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI, CHỐNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI 5
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI VÀ CHỐNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI 5
1.1.1 Khái niệm về gian lận thương mại 5
1.1.2 Các hình thức, nguyên nhân và tác hại của gian lận thương mại 7
1.1.3 Sự cần thiết của công tác chống gian lận thương mại 12
1.1.4 Vai trò, nội dung công tác chống gian lận thương mại của lực lượng Quản lý thị trường 13
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chống gian lận thương mại của Quản lý thị trường 19
1.1.6 Mô hình nghiên cứu 22
1.2 THỰC TIỄN VỀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI VÀ CHỐNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI 26
1.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác chống gian lận thương mại tại Việt Nam 26
1.2.2 Tình hình gian lận thương mại và chống gian lận thương mại tại Việt Nam 28
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 61.2.3 Kinh nghiệm chống gian lận thương mại 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHỐNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ 35
2.1 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA THÀNH PHỐ HUẾ VÀ CHI CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG THỪA THIÊN HUẾ 35
2.1.1 Đặc điểm cơ bản của Thành phố Huế 35
2.1.2 Tình hình cơ bản của Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Thừa Thiên Huế 37
2.2 TÌNH HÌNH GIAN LẬN THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ .45
2.2.1 Đối tượng gian lận thương mại 45
2.2.2 Ngành hàng, mặt hàng gian lận thương mại 46
2.2.3 Phương thức, thủ đoạn gian lận thương mại 47
2.2.4 Các hình thức gian lận thương mại chủ yếu 47
2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHỐNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ 50
2.3.1 Tổ chức bộ máy chống gian lận thương mại trên địa bàn Thành phố Huế 50
2.3.2 Kế hoạch kiểm tra, kiểm soát thị trường và các văn bản chỉ đạo khác từ năm 2013-2015 50
2.3.3 Công tác tuyên truyền, tập huấn phòng, chống gian lận thương mại 52
2.3.4 Nguồn nhân lực phòng, chống gian lận thương mại giai đoạn 2013-2015 524
2.3.5 Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, công cụ hỗ trợ chống gian lận thương mại 55 2.3.6 Kết quả chống gian lận thương mại của Chi cục Quản lý thị trường trên địa bàn Thành phố Huế giai đoạn từ năm 2013-2015 56
2.3.7 Công tác tổ chức kiểm tra, giám sát cán bộ và giải quyết khiếu nại 61
2.4 ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU TRA VỀ CÔNG TÁC CHỐNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI 62
2.4.1 Đặc điểm cơ bản của các đối tượng điều tra 62
2.4.2 Kiểm định mẫu điều tra 64
2.4.3 Kết quả phân tích nhân tố khám phá 66
2.4.4 Kết quả phân tích hồi quy 71
2.4.5 Phân tích so sánh ý kiến đánh giá của các đối tượng điều tra đối với công tác chống gian lận thương mại trên địa bàn Thành phố Huế của Chi cục Quản lý thị trường 74
2.5 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC CHỐNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ CỦA CHI CỤC QLTT TỈNH TTHUẾ 80
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 72.5.1 Kết quả 80
2.5.2 Hạn chế 81
2.5.3 Nguyên nhân 82
2.5.4 Bài học kinh nghiệm 83
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU, GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI 85
3.1 ĐỊNH HƯỚNG 85
3.2 MỤC TIÊU 86
3.3 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC CHỐNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI 87
3.3.1 Giải pháp về tổ chức bộ máy, đơn giản hóa quy trình, thủ tục, quản lý, kiểm tra thị trường 87
3.3.2 Giải pháp về nâng cao kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức của cán bộ công chức Chi cục Quản lý thị trường 88
3.3.3 Giải pháp tăng cường trang bị cơ sở vật chất, phương tiện hỗ trợ, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động phòng, chống gian lận thương mại 90
3.3.4 Giải pháp tăng cường chỉ đạo công tác thanh tra, kiểm tra chống gian lận thương mại 91
3.3.5 Giải pháp tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền, hỗ trợ và cung cấp thông tin về pháp luật cho các cơ sở kinh doanh và quần chúng nhân dân 912
3.3.6 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phối hợp trong hoạt động phòng, chống gian lận thương mại 93
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96
1 KẾT LUẬN 96
2 KIẾN NGHỊ 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 99
Nhận xét của phản biện 1
Nhận xét của phản biện 2 112
Biên bản của Hội đồng chấm luận văn 115
Bản giải trình nội dung chỉnh sửa luận văn 118
Giấy xác nhận hoàn thiện luận văn 119
96
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Số hiệu Tên bảng Trang
Bảng 2.1: Cơ cấu nguồn nhân lực của Chi cục QLTT năm 2014 và 2015 43
Bảng 2.2: Số lượng văn bản chỉ đạo được ban hành của Chi cục từ 2013-2015 52
Bảng 2.3: Số lượng các đợt tổ chức tuyên truyền pháp luật từ năm 2013-2015 53
Bảng 2.4: Số lượng CBCC phòng, chống GLTM từ năm 2013-2015 54
Bảng 2.5: Cơ sở vật chất, phương tiện hiện có từ năm 2013-2015 55
Bảng 2.6: Tổng hợp kết quả chống GLTM từ năm 2013-2015 56
Bảng 2.7: Kết quả kiểm tra chống buôn lậu, hàng cấm từ 2013-2015 58
Bảng 2.8: Kết quả kiểm tra chống sản xuất, buôn bán hàng giả từ 2013-2015 59
Bảng 2.9: Kết quả chống vi phạm về nhãn và xuất xứ hàng hóa từ 2013-2015 60
Bảng 2.10: Kết quả chống vi phạm về lĩnh vực giá từ 2013-2015 60
Bảng 2.11: Kết quả chống GLTM trong các lĩnh vực khác từ 2013-2015 61
Bảng 2.13: Kiểm định độ tin cậy đối với các biến điều tra 65
Bảng 2.14: Kết quả kiểm định KMO và Bartlett's Test 67
Bảng 2.15: Phân tích nhân tố đối với các biến điều tra 69
Bảng 2.16: Kết quả kiểm định mô hình 71
Bảng 2.17: Kết quả phân tích hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến công tác chống GLTM của Chi cục QLTT trên địa bàn Thành phố Huế 72
Bảng 2.18: Chênh lệch giá trị trung bình về ý kiến đánh giá của các đối tượng điều tra về quy trình, thủ tục, quản lý, kiểm tra thị trường 75
Bảng 2.19: Chênh lệch giá trị trung bình về ý kiến đánh giá của các đối tượng điều tra đối với kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ của CBCC Chi cục QLTT 76
Bảng 2.20: Chênh lệch giá trị trung bình về ý kiến đánh giá của các đối tượng điều tra đối với công tác tuyên truyền, hỗ trợ và cung cấp thông tin cho CSKD, NTD .77
Bảng 2.21: Chênh lệch giá trị trung bình về ý kiến đánh giá của các đối tượng điều tra đối với ứng dụng CNTT trong công tác quản lý nhà nước về thương mại và hoạt động kiểm tra thị trường……… 78
Bảng 2.22: Chênh lệch giá trị trung bình về ý kiến đánh giá của các đối tượng điều tra đánh giá chung về công tác kiểm tra chống GLTM của Chi cục QLTT trên địa bàn Thành phố Huế 79 ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ
Số hiệu Tên sơ đồ, đồ thị Trang
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Chi cục QLTT tỉnh Thừa Thiên Huế 40
Sơ đồ 2.2: Tổ chức bộ máy chống GLTM của Chi cục QLTT tại Thành phố Huế 50
Đồ thị 2.1: Tổng số vụ kiểm tra và Tổng giá trị thực hiện chống GLTM trên địa bàn
Thành phố Huế từ năm 2013-2015 57
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 10PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang trở thành xu thế tất yếu của mỗi mộtquốc gia trên thế giới Thông qua quá trình tự do hóa, hội nhập kinh tế quốc tế tạo
ra những lợi thế mới thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, đẩy mạnh giao lưu kinh
tế giữa các nước, góp phần khai thác tối đa lợi thế so sánh của các nước tham giavào nền kinh tế toàn cầu Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế tất yếu đó Sau gần
30 năm thực hiện đường lối đổi mới, chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sangphát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đã đạtđược nhiều thành tựu phát triển kinh tế khá ấn tượng Bên cạnh đó, chúng ta cũngphải đối mặt với nhiều vấn đề mặt trái của cơ chế thị trường Lợi nhuận luôn là mụctiêu ưu tiên hàng đầu, quyết định đến sự tồn tại của mỗi chủ thể kinh doanh trên thịtrường Vì để kiếm lời và tồn tại mà một bộ phận không nhỏ đối tượng kinh doanh
đã và đang thực hiện những hành vi gian lận, cạnh tranh không lành mạnh, bất chấpmọi thủ đoạn kể cả vi phạm pháp luật để đạt được cái mình muốn, đánh mất đạođức trong kinh doanh, làm ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh và sự ổn định củanền kinh tế
Gian lận thương mại không phải là hiện tượng mới xuất hiện gần đây mà nó
đã được đề cập từ lâu với câu thành ngữ “buôn gian, bán lận” để chỉ các hành vi lừadối, mánh khóe trong hoạt động thương mại Thông qua các hoạt động sản xuất,kinh doanh, mua, bán, xuất nhập khẩu, cung cấp dịch vụ, hành vi gian dối, lừa lọchướng đến mục đích thu lợi bất chính Trong một thị trường cạnh tranh thì gian lậnthương mại, theo quy luật của nó, sẽ phát triển đến các mức độ ngày càng tinh vihơn Với những tiến bộ vượt bậc về khoa học và công nghệ như hiện nay thì gianlận thương mại cũng đã ở mức độ tinh vi và phức tạp hơn, đặc biệt là việc sản xuấthàng giả, hàng nhái rất khó phát hiện và phân biệt được Gian lận thương mại diễn
ra trên tất cả các lĩnh vực quản lý của cơ quan quản lý nhà nước như Hải quan,Thuế, Quản lý thị trường, Y tế, Nông nghiệp
Gian lận thương mại luôn là vấn đề nóng được đề cập nhiều trong thời giangần đây Vấn nạn gian lận thương mại, đang là một trong những trở ngại lớn cho
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 11công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta hếtsức coi trọng công tác đấu tranh phòng, chống gian lận thương mại và đã đề ra nhiềuchủ trương, chính sách, chỉ đạo quyết liệt để ngăn chặn, phòng ngừa vấn nạn này.
Thành phố Huế nằm ở vị trí trung tâm của đất nước, trên trục Bắc - Nam củacác tuyến đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường biển, gần tuyến hànhlang Đông - Tây của tuyến đường Xuyên Á Thành phố Huế là trung tâm kinh tế,văn hóa, chính trị của tỉnh Thừa Thiên Huế, là một đô thị lớn của khu vực TrungTrung Bộ với diện tích tự nhiên là 71,7 km² gồm 27 phường, dân số 350.345 người.Trong những năm gần đây, tình hình gian lận thương mại trên địa bàn Thành phốphát triển hết sức nhanh chóng, đa dạng và phức tạp hơn [9]
Làm thế nào để đánh giá được thực trạng gian lận thương mại đang diễn ratrên thị trường Thành phố Huế? Công tác tổ chức, chỉ đạo chống gian lận thươngmại đã triển khai như thế nào? Giải pháp và kinh nghiệm được đề xuất nhằm hoànthiện và tăng cường công tác chống gian lận thương mại trong thời gian tới ra sao?
Đó là những vấn đề đặt ra cần được làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn Xuất phát từnhững vấn đề trên, tôi chọn đề tài: “Tăng cường công tác chống gian lận thương mại trên địa bàn Thành phố Huế của Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Thừa Thiên Huế” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác chống gian lận thương mại (GLTM),
đề xuất hệ thống giải pháp nhằm tăng cường công tác chống gian lận thương mạitrên địa bàn Thành phố Huế của Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Thừa Thiên Huếtrong thời gian đến
Trang 123 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực trạng công tácchống GLTM trên địa bàn Thành phố Huế của Chi cục QLTT tỉnh Thừa Thiên Huế
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
+ Phạm vi về nội dung:
Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình GLTM và chống GLTM trong giai đoạnhiện nay và một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chống GLTM Từ đó đưa ra giảipháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác chống GLTM trên địa bàn Thành phố Huếđến năm 2020
+ Phạm vi về không gian: Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
+ Phạm vi về thời gian: Phân tích, đánh giá thực trạng giai đoạn từ năm
2013-2015; số liệu điều tra, phỏng vấn năm 2015 và đề xuất giải pháp đến năm 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp chọn mẫu, điều tra, thu thập số liệu
Số mẫu phải điều tra thu thập tối thiểu là 114 mẫu
Như vậy, số liệu sơ cấp được thu thập từ điều tra 130 mẫu, trong đó cán bộ,ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 13công chức của Chi cục là 40 mẫu, cá nhân, tổ chức đang hoạt động sản xuất kinhdoanh là 50 mẫu và người dân, người tiêu dùng trên địa bàn Thành phố Huế là 40mẫu.
- Số liệu thứ cấp:
Thu thập tài liệu, số liệu từ cơ quan ban ngành từ trung ương đến địaphương, tài liệu có sẵn tại Chi cục QLTT tỉnh TTHuế và Đội QLTT số 2 từ năm2013-2015, cũng như các tư liệu nghiên cứu hiện có về chống buôn lậu và GLTM
đã được đăng tải trên các báo, tạp chí, trên Internet,…
4.2 Phương pháp tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu
- Phương pháp khảo cứu tài liệu, tổng quan về cơ sở lý luận và thực tiễn liênquan công tác chống GLTM;
- Phương pháp thống kê mô tả, so sánh,… nhằm phân tích thực trạng côngtác chống GLTM của Chi cục QLTT tỉnh TTHuế giai đoạn 2013-2015;
- Phương pháp phân tích nhân tố, phân tích hồi quy, kiểm định thống kênhằm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến công tác chống GLTM trên địa bànThành phố Huế của Chi cục QLTT tỉnh TTHuế thời gian qua
- Công cụ xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm EXCEL và SPSS 18
5 Kết cấu luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo; luận vănđược kết cấu thành 3 chương:
- Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về gian lận thương mại, chống gianlận thương mại
- Chương 2 Thực trạng công tác chống gian lận thương mại trên địa bànThành phố Huế
- Chương 3: Định hướng, mục tiêu, giải pháp chống gian lận thương mại.ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 14PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI, CHỐNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI VÀ CHỐNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm về gian lận thương mại
Gian lận là những hành vi gian dối, dối trá, lừa lọc, thủ đoạn của chủ thểnhằm thực hiện cho được mục đích của mình, cho dù những hành vi đó có ảnhhưởng như thế nào đến chủ thể khác Nói đến gian lận là nói đến những hành vitiêu cực, làm trái với những quy định, luật lệ đã đặt ra trong xã hội Gian lận cóthể xuất hiện ở nhiều lĩnh vực của đời sống, xã hội như gian lận trong giáo dục,trong quan hệ xã hội, trong hoạt động thương mại
Thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiềntệ, giữa hai hay nhiều đối tác, và có thể nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiềnthông qua giá cả) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác như trong hình thức thương mạihàng đổi hàng Trong quá trình này, người bán là người cung cấp của cải, hàng hóa,dịch vụ cho người mua, đổi lại người mua sẽ phải trả cho người bán một giá trịtương đương nào đó Theo Luật Thương mại năm 2005 của Việt Nam thì "Hoạtđộng thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hóa,cung ứng dịch vụ, đầu tư xúc tiến thương mại và các hoạt động khác nhằm mụcđích sinh lời khác"
Gian lận thương mại là những hành vi gian dối, dối trá, mánh khóe, lừa lọc trong hoạt động thương mại nhằm mục đích thu lời bất chính Chủ thể của hành viGLTM bao gồm người mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động khác.Mục đích của hành vi GLTM là thu lợi bất chính do thực hiện trót lọt hành vi gian dối,lừa đảo
Gian lận thương mại là một hiện tượng mang tính lịch sử vì chỉ khi sản phẩmđược sản xuất ra và mang ra trao đổi trên thị trường, có người mua, người bán nhằm
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 15thực hiện phần giá trị được kết tinh trong đó thì GLTM cũng mới xuất hiện Khi sảnxuất hàng hóa ngày càng phát triển, thị trường ngày được mở rộng, các sản phẩmhàng hóa được đưa ra trao đổi, mua bán trên thị trường ngày càng nhiều thì GLTMcũng gia tăng, phức tạp và tinh vi hơn Ngày nay, GLTM không chỉ là vấn đề nội bộcủa mỗi quốc gia mà nó đã trở thành vấn đề nổi cộm của các quốc gia trên thế giớibởi hội nhập kinh tế quốc tế, đa dạng hóa trong quan hệ kinh tế quốc tế là vấn đề tấtyếu khách quan Các quốc gia đã mở rộng phạm vi "biên giới mềm" cho những sảnphẩm hàng hóa, dịch vụ của mình sang các quốc gia khác Do vậy, GLTM cũngmang tính toàn cầu trên cơ sở sự khác biệt của các quốc gia.
Gian lận thương mại ở Việt Nam cũng không phải là vần đề mới xuất hiện,
từ xa xưa ông cha ta đã có câu: "Buôn gian, bán lận" để chỉ những mặt trái của việcbuôn bán, để mọi người cảnh giác với những thủ đoạn gian dối, mánh khóe củanhững gian thương Hiện nay, chúng ta đang phát triển kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, tức là phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Vận động theo cơ chếthị trường là chấp nhận những quy luật vốn có của kinh tế thị trường như quy luậtgiá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trường, cạnhtranh là yếu tố tất yếu, không thể thiếu Cạnh tranh là đấu tranh giữa các mặt đối lậpnhằm giải quyết mâu thuẩn để có sự phát triển trên cơ sở các điều kiện có lợi nhất.Nguyên nhân và động cơ cuối cùng chính là lợi nhuận Vì vậy, để đạt được mụcđích đó, không ít cá nhân, tổ chức đã thực hiện những thủ đoạn gian lận trong hoạtđộng thương mại bất chấp đạo đức, luật pháp
Vấn đề GLTM luôn được xã hội và nhà nước ta đề cập nhiều trong thời gianqua và được sử dụng rộng rãi ở các cấp từ Trung ương đến địa phương Cụm từGLTM luôn được đi đôi với cụm từ "buôn lậu, hàng giả" để chỉ những hành vi viphạm pháp luật trong hoạt động thương mại Theo Bộ luật hình sự năm 1999 thìbuôn lậu là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới đối với các loại hàng hóa, hàngcấm, Đối tượng buôn lậu đã sử dụng những hành vi lén lút, trốn tránh, che dấu, tràtrộn hàng lậu để đưa hàng hóa qua biên giới vào thị trường nội địa tiêu thụ Nhưvậy, những biểu hiện đặc trưng của buôn lậu lại trùng hợp với GLTM nhưng GLTM
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 16lại có nội dung rộng hơn, bao hàm hơn Buôn lậu chỉ là một trong những hình thứcđặc biệt của GLTM Ngoài ra, GLTM còn bao gồm cả các hành vi như: buôn bánhàng giả, hàng cấm, trốn lậu thuế, gian lận trong lĩnh vực giá, kinh doanh hàngkhông đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm Mặc dù, nhà nước ta đã banhành nhiều văn bản pháp luật để quy định rõ hành vi nào là vi phạm pháp luật tronghoạt động thương mại Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một khái niệm đầy đủ nào
về GLTM
Với những nội dụng được đề cập ở trên thì GLTM là một khái niệm chung,dùng để chỉ những hành vi gian dối, dối trá, mánh khóe, lừa lọc, của chủ thể tronghoạt động thương mại mà những hành vi đó trái với quy định của pháp luật, nhằmmục đích thu lợi bất chính
1.1.2 Các hình thức, nguyên nhân và tác hại của gian lận thương mại
1.1.2.1 Các hình thức gian lận thương mại trong lĩnh vực của cơ quan Quản lý thị trường
Hiện nay, GLTM xãy ra ở tất cả các lĩnh vực quản lý của cơ quan quản lýnhà nước như Hải quan, Thuế, Quản lý thị trường, Y tế, Khoa học và công nghệ,Nông nghiệp, Tùy thuộc vào từng lĩnh vực quản lý của từng cơ quan mà GLTM
có những hình thức khác nhau Trong lĩnh vực thương mại của cơ quan QLTT thì
có thể chia GLTM thành các nhóm hành vi như sau:
- Buôn lậu, kinh doanh hàng nhập lậu, sản xuất, buôn bán hàng giả;
- Vi phạm quy định về quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa, dịch vụ kinhdoanh trong nước và xuất khẩu, nhập khẩu;
- Vi phạm quy định về lĩnh vực giá hàng hóa, dịch vụ;
- Vi phạm quy định về ghi nhãn hàng hóa lưu thông trong nước và hàng hóaxuất khẩu, nhập khẩu; Vi phạm quy định về xuất xứ hàng hóa;
- Vi phạm các quy định liên quan đến chất lượng hàng hóa, dịch vụ kinhdoanh trong nước và hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu;
- Vi phạm quy định về đăng ký kinh doanh; giấy phép kinh doanh củathương nhân; thành lập và hoạt động của Văn phòng đại diện, Chi nhánh củathương nhân Việt Nam và của thương nhân nước ngoài;
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 17- Các vi phạm khác trong hoạt động thương mại theo quy định của pháp luậtnhư: Gian lận, lừa dối khách hàng khi mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; Vi phạmcác quy định liên quan đến bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng; các vi phạm khác…
1.1.2.2 Nguyên nhân của gian lận thương mại
- Nguyên nhân khách quan:
Thứ nhất, GLTM là hiện tượng kinh tế - xã hội, mang tính lịch sử, nó xuất
hiện từ khi có hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa Khi kinh tế - xã hội càng pháttriển thì GLTM cũng thay đổi theo hướng tinh vi và phức tạp hơn, bởi áp lực vềcạnh tranh, lợi nhuận, từ hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường Nhiềuthương nhân sẵn sàng bất chấp pháp luật, đánh mất lương tri để tìm kiếm tiền tài,địa vị bởi nguồn lợi khổng lồ so với chi phí bỏ ra từ việc thực hiện trót lọt nhữnghành vi đó mang lại
Thứ hai, nước ta có bờ biển và đường biên giới với tổng chiều dài gần
8.000km, chạy qua nhiều địa hình phức tạp là điều kiện thuận lợi cho hoạt độngbuôn lậu Bên cạnh đó, Việt Nam là quốc gia đang phát triển có quy mô dân số trên
90 triệu người, nằm ở trung tâm khu vực kinh tế năng động của thế giới, vì vậy ViệtNam là địa điểm hấp dẫn đối với hoạt động GLTM
Thứ ba, nền sản xuất của chúng ta còn nhỏ bé, sức cạnh tranh yếu, hiệu quả
quản lý thị trường yếu (hệ thống luật pháp hiện thiếu đồng bộ, quy chế, quy trìnhchưa đầy đủ, phân định trách nhiệm chưa rõ ràng, phối hợp giữa các lực lượng chưachặt chẽ, ) đã tạo ra một môi trường rộng lớn, màu mở cho hoạt động GLTM
- Nguyên nhân chủ quan:
Thứ nhất, một số cấp ủy, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan
trọng của công tác phòng chống GLTM trong phát triển kinh tế - xã hội, dẫn đến lơ
là trong công tác chỉ đạo, tuyên truyền và kiểm tra đôn đốc, phối hợp công tác.Nhiều trường hợp vì lợi ích cục bộ nên đã làm ngơ, bao che, buông lỏng quản lý,đáng chú ý là một bộ phận cán bộ, chiến sỹ thừa hành công vụ thiếu tinh thần tráchnhiệm, thiếu rèn luyện phẩm chất đạo đức dẫn đến tha hoá, biến chất, lợi dụng chức vụ,quyền hạn để trục lợi, bảo kê, tiếp tay cho các đối tượng thực hiện hành vi GLTM…
Thứ hai, phần lớn người tiêu dùng Việt Nam có tâm lý sính hàng ngoại, thích
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 18sử dụng “hàng hiệu” giá rẻ, cả tin, ngại động chạm đến kiện cáo, chưa dám mạnhdạng đấu tranh vì lẽ phải, Về phía doanh nghiệp thì không ít doanh nghiệp lại engại thương hiệu bị ảnh hưởng nên khi được mời đến cơ quan chức năng để phốihợp xử lý thì từ chối hoặc phối hợp miễn cưỡng Đây là điều kiện dung dưỡng tệnạn GLTM tồn tại và phát triển.
1.1.2.3 Tác hại của gian lận thương mại đối với tình hình kinh tế - xã hội
- Hậu quả đối với nền kinh tế:
GLTM nói chung và buôn lậu, sản xuất kinh doanh hàng giả nói riêng có táchại rất lớn đối với nền kinh tế, làm ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của nền kinh tế,tác động tiêu cực đến môi trường đầu tư kinh doanh, làm ảnh hưởng đến việc thuhút vốn đầu tư nước ngoài, tạo lực cản đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đạihoá và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước Hàng nhập lậu - hàng trốn thuế sẽ làmthất thu thuế cho ngân sách nhà nước dẫn đến Nhà nước mất đi một nguồn lực tàichính để tái đầu tư cho các hoạt động của nền kinh tế Mặc khác, thuế quan đánhtrên hàng hoá nhập khẩu nhằm mục đích làm tăng giá của hàng nhập khẩu để bảo vệ
và kích thích sản xuất nội địa Nhưng hàng nhập lậu vào thị trường do trốn thuếnhập khẩu nên có giá rẻ hơn, mẫu mã đa dạng, chất lượng cao hơn hàng nội do cócông nghệ sản xuất tiên tiến, thiết bị khoa học hiện đại Trong khi đó, những cơ sởsản xuất trong nước với hệ thống công nghệ kỹ thuật trong một số lĩnh vực sản xuấtcòn lạc hậu, chưa đồng bộ, năng suất và hiệu quả thấp, hàng hoá chưa theo kịp thịhiếu người tiêu dùng, trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, họ còn phải nộpcác khoản thuế khác như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp… nênkhông đủ sức cạnh tranh với hàng nhập lậu ngay trên chính thị trường của mình.Điều này làm cho các cơ sở sản xuất đứng trước nguy cơ phá sản và đe dọa đến việclàm của người lao động ở các cơ sở sản xuất trong nước
Tại thị trường nội địa, tình trạng sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng viphạm quyền sở hữu trí tuệ, vi phạm về nguồn gốc xuất xứ, gian lận trong lĩnh vựcgiá, đang diễn ra hết sức gây go, phức tạp Điều này đã tạo ra sự cạnh tranh khônglành mạnh, làm suy giảm niềm tin của người tiêu dùng, nhà sản xuất và nhà đầu tưvào tính minh bạch của thị trường hàng hóa, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trườngđầu tư kinh doanh và thu hút đầu tư nước ngoài
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 19- Hậu quả về mặt văn hoá - xã hội:
GLTM gây nên những hậu quả phức tạp và nặng nề về mặt văn hoá - xã hội.Đây là một trong những yếu tố làm gia tăng giữa giàu và nghèo, bởi việc thực hiệntrót lọt những hành vi GLTM sẽ mang lại cho chủ thể một lợi thế không nhỏ so vớicác chủ thể khác và đem lại lợi nhuận chênh lệch nhiều hơn Tại các vùng biên giới,cửa khẩu, một lực lượng lao động khá lớn đã và đang tham gia vào đội quân “cửuvạn” mang vác hàng qua biên giới Do cuộc sống khó khăn, trình độ học vấn thấp,việc mang vát hàng hóa đem lại thu nhập cao nên họ đã chấp nhận tham gia vào độingũ cửu vạn, bất chấp pháp luật, bỏ sản xuất, bỏ học hành Đây là đội ngũ tiếp taycho hoạt động buôn lậu
Hàng nhập lậu tuồn vào thị trường nội địa ngoài các mặt hàng tiêu dùng,thiết bị điện tử, hàng may mặc còn có nhiều tài liệu phản động, văn hoá phẩm đồitrụy, thậm chí có cả ma túy, vũ khí Những loại sản phẩm này ảnh hưởng rất lớnđến vấn đề giáo dục nhân cách, đạo đức lối sống, kích động bạo lực, tệ nạn xã hội,dẫn đến làm suy đồi văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc
Vấn nạn GLTM là một trong những nguyên nhân làm mất tính văn minhtrong thương mại, làm suy thoái đạo đức xã hội Trong hoạt động thương mại, đểtồn tại và có lời, không ít đối tượng kinh doanh sử dụng nhiều thủ đoạn, mánh khóenhư tung tin thất thiệt, không niêm yết giá hoặc niêm yết giá không đúng quy định,nói thách - hô giá cao hơn nhiều so với giá thật, lừa dối, quảng cáo quá mức hay vềtính năng, công dụng của hàng hóa, chèo kéo khách hàng làm mất tính văn minhtrong thương mại, gây sự ganh tỵ, ghen ghét giữa các thương nhân Việc sản xuất,kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng không đảm bảo chất lượng, không chỉ gâythiệt hại về tài chính mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người tiêudùng, gây thiệt hại cho nhà sản xuất kinh doanh chân chính và cho toàn xã hội Điềunày làm suy thoái về đạo đức kinh doanh và đạo đức trong xã hội
Bên cạnh đó, GLTM bao giờ cũng liên quan đến tiêu cực, tham nhũng vàlàm tha hoá một bộ phận không nhỏ cán bộ công chức của Nhà nước Thực tế chothấy, nhiều cán bộ, công chức trong quá trình điều hành, thực thi nhiệm vụ đã bị lôikéo, mua chuộc và bao che cho các đối tượng thực hiện GLTM
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 20- Hậu quả đối với an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội:
Những hậu quả do GLTM gây ra đối với nền kinh tế và đối với nền văn hoá
xã hội đã dẫn đến những tác hại về mặt chính trị, gây khó khăn cho sự quản lý Nhànước GLTM làm cho thị trường hỗn loạn, đời sống kinh tế của một bộ phận nhândân gặp khó khăn, tệ nạn xã hội gia tăng; công bằng, văn minh xã hội không đượcthiết lập; nhà nước thất thu thuế nên không cân đối được thu - chi ngân sách làmảnh hưởng đến nền kinh tế và vấn đến đảm bảo an ninh quốc gia
Vấn nạn buôn lậu gia tăng làm ảnh hưởng đến vấn đề bảo vệ chủ quyền biêngiới quốc gia Hàng nhập lậu được tuồn qua biên giới theo những đường mòn, lối
mở, đường biển hoặc hai bên cánh gà cửa khẩu biên giới luôn đi liến với việc cưdân qua lại biên giới bất hợp pháp, lực lượng Bội đội Biên phòng và cán bộ Hảiquan khó có thể kiểm soát được vấn đề xuất nhập cảnh
- Ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý kinh tế - xã hội:
GLTM gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối nền kinh tế, văn hoá xã hội,chính trị, đây là những hậu quả trực tiếp dễ nhìn nhận Một hậu quả khác khôngkém phần nguy hại là hậu quả của buôn lậu, gian lận thương mại dưới góc độ cả về
vĩ mô và vi mô Nó làm cho cơ quan quản lý nhà nước không kiểm soát được tìnhhình xuất nhập khẩu; công tác điều hành của cơ quan chức năng gặp nhiều khó khăn
và hoạt động kém hiệu quả
Xét về góc độ quản lý vĩ mô, buôn lậu, sản xuất hàng giả là một trong nhữngnguyên nhân làm hàng hoá nội địa bị đình trệ, sản xuất trong nước bị đình đốn.Nhiều doanh nghiệp sản xuất ra hàng hóa không cạnh tranh nổi trên thị trường dẫnđến phá sản, kéo theo sự gia tăng của đội quân thất nghiệp GLTM còn là nguyênnhân trực tiếp hoặc gián tiếp dẫn đến các tệ nạn xã hội, đó là tham nhũng, tha hoá,rượu chè, cờ bạc, trộm cắp Do đó, nó làm cho công tác quản lý của Nhà nướcthêm khó khăn, phức tạp Mặt khác, GLTM mà trực tiếp là buôn lậu dẫn đến thấtthu về thuế xuất, nhập khẩu và các sắc thuế khác, đây là khoản thu lớn của ngânsách Nhà nước Điều này ảnh hưởng đến các kế hoạch về kinh tế, tài chính khiếnNhà nước mất cân đối về thu - chi ngân sách GLTM còn phá vỡ sự bình ổn của thịtrường, tạo nên cơn sốt giả tạo về hàng hoá và giá cả làm cho Nhà nước không thể
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 21kiểm soát thị trường dẫn đến việc hoạch định chính sách, xây dựng chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội bị sai lệch…
Những hậu quả của GLTM đối với quản lý vĩ mô đã trực tiếp và gián tiếpảnh hưởng đến quản lý vi mô Hệ thống pháp luật của ta còn chưa đầy đủ, thiếuđồng bộ, chưa theo kịp sự thay đổi của các vấn đề kinh tế - xã hội Chính vì thế,những chủ thể GLTM đã lợi dụng kẽ hở, những quy định thiếu chặt chẽ của nhànước để thực hiện hành vi GLTM Từ đó việc quản lý của cơ quan nhà nước ở cơ sởgặp nhiều khó khăn Giải pháp đấu tranh chống GLTM, tăng cường hiệu lực kiểmtra, kiểm soát của các ngành chức năng vẫn chưa được giải quyết tận gốc, một số cơquan quản lý lúng túng, bị động, khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị -
xã hội
- Ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng:
Việc sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng nhái hoặc hàng kém chất lượng màđặc biệt là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, thuốc tân dược, thuốc bảo vệ thựcvật, rượu bia không chỉ gây tác động xấu cho nhà sản xuất chân chính mà còn ảnhhưởng trực tiếp tới sức khoẻ, tính mạng của người tiêu dùng, ảnh hưởng đến chấtlượng cuộc sống của cả cộng đồng, của một dân tộc
Tóm lại, những hậu quả và tác hại do GLTM gây nên đó là: Làm mất ổn địnhgiá cả thị trường, kìm hãm sản xuất trong nước, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư,gây thất thu cho ngân sách cho nhà nước, tạo nên sự cạnh tranh không bình đẳnggiữa hàng nội và hàng ngoại, là nguyên nhân phát sinh các tiêu cực trong xã hội Vìvậy, vấn nạn GLTM phải được ngăn chặn một cách triệt để và là nhiệm vụ của toàn
xã hội, trong đó có ngành Quản lý thị trường
1.1.3 Sự cần thiết của công tác chống gian lận thương mại
GLTM làm mất ổn định thị trường, suy yếu nền kinh tế, ảnh hưởng xấu đến anninh trật tự, an toàn xã hội, môi trường đầu tư, Do đó, chống GLTM là nhiệm vụ vừacấp bách, vừa lâu dài; nhiệm vụ này không phải chỉ của các lực lượng chức năng màcòn là nhiệm vụ của cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương các cấp, các tổ chức xã hội,các tổ chức đoàn thể, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, người tiêu dùng
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 221.1.3.1 Chống gian lận thương mại để hạn chế tác động đến nền kinh tế quốc dân
- Chống GLTM giúp tăng nguồn thu của ngân sách quốc gia.
- Giảm thiệt hại cho người tiêu dùng và thiệt hại của nhà sản xuất, kinhdoanh chân chính;
- Cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh
1.1.3.2 Chống gian lận thương mại để hạn chế tác động tới văn hóa xã hội, an ninh, trật tự an toàn xã hội
- Chống GLTM hạn chế mặt trái của cơ chế thị trường, làm giảm nguồn thunhập bất chính, giảm sự gia tăng giàu nghèo bất hợp lý;
- Bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội;
- Ngăn chặn sự suy đồi về văn hóa, thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội,nâng cao tính văn minh trong hoạt động thương mại, lấy lại lòng tin của quầnchúng, nhân dân vào sự quản lý của cơ quan nhà nước
1.1.3.3 Chống gian lận thương mại để hạn chế tác động đến doanh nghiệp và người tiêu dùng
Trong điều kiện nền sản xuất trong nước còn lạc hậu và gặp nhiều khó khăn,năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm chưa cao, giá thành và chi phí sảnxuất cao, các sản phẩm trong nước khó hoặc không thể cạnh tranh được với hànglậu, gian lận cùng loại, nhiều doang nghiệp sản xuất phải đứng trước nguy cơ đóngcửa do không tiêu thụ được sản phẩm Chống GLTM góp phần ổn định thị trường,hạn chế các hoạt động thương mại cạnh tranh không lành mạnh, bảo vệ quyền và lợiích chính đáng của người tiêu dùng và doanh nghiệp kinh doanh chân chính
1.1.3.4 Chống gian lận thương mại để nâng cao hiệu quả công tác quản lý của nhà nước
Chống GLTM góp phần làm tăng hiệu quả công tác điều hành, quản lý củanhà nước về phương diện vi mô và vĩ mô của nền kinh tế; giúp kiểm soát được tìnhhình xuất nhập khẩu; hạn chế việc lợi dụng những kẽ hở, những quy định thiếu chặtchẽ về chính sách, pháp luật; làm giảm tiêu cực trong bộ máy quản lý nhà nước
1.1.4 Vai trò, nội dung công tác chống gian lận thương mại của lực lượng Quản lý thị trường
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 231.1.4.1 Vai trò, vị trí của lực lượng Quản lý thị trường
Nhà nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xãhội chủ nghĩa, có sự quản lý của nhà nước nhằm mục đích phát huy tính ưu việt củanền kinh tế thị trường, phát huy tiềm năng sẵn có của đất nước và nội lực của nềnkinh tế, tranh thủ kinh nghiệm và vốn của các nước phát triển để đạt được tốc độtăng trưởng kinh tế cao
Quản lý thị trường là một trong những nội dung của quản lý nhà nước, trong
đó tổ chức quản lý thị trường là bộ phận cấu thành trong hệ thống tổ chức nhà nước,
là công cụ thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong việc xây dựng và bảo vệ nềnkinh tế thị trường nước ta phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Lực lượng QLTT được thành lập từ năm 1957, ở Trung ương thì QLTT cónhiệm vụ giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu chủ trương, chính sách quản lý thịtrường, chống đầu cơ, tích trữ, chỉ đạo thực hiện các chủ trương chính sách đó trongphạm vi toàn quốc Còn ở địa phương, QLTT có nhiệm vụ giúp Ủy ban hành chínhđịa phương chỉ đạo công tác quản lý thị trường tại địa phương mình theo chủtrương, chính sách của Chính phủ Trong giai đoạn từ 1957-1982, QLTT chưa cóchức năng trực tiếp kiểm tra, kiểm soát, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về kinhdoanh thương mại trên thị trường Từ năm 1982 đến nay, tổ chức QLTT đã trở thànhmột hệ thống từ Trung ương đến địa phương và dần dần được chuyên trách hóa, đượcgiao chức năng, nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các hành vi
vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại ở thị trường trong nước [10]
Từ khi thành lập cho đến nay, lực lượng QLTT luôn là lực lượng nồng cốt,chủ lực trong công tác đấu tranh chống GLTM ở thị trường trong nước Hàng năm,
số vụ xử lý vi phạm của lực lượng QLTT luôn chiếm tỷ lệ trên 40% tổng số vụ xử
lý của các lực lượng chức năng chống GLTM trong cả nước, đặc biệt là trong lĩnhvực chống hàng giả, luôn chiếm tỷ lệ trên 90% tổng số vụ xử lý vi phạm Tỷ lệ xử
lý vi phạm của lực lượng QLTT tăng lên qua các năm Từ năm 2014, số vụ xử lý là91.713 vụ trên tổng số 175.626 vụ cả nước (chiếm tỷ lệ 52,2%) Năm 2015, số vụ
xử lý là 94.474 vụ trên tổng số 186.989 vụ cả nước (chiếm tỷ lệ 50,5%) [10]
Thông qua vai trò kiểm tra, kiểm soát thị trường, ngăn chặn và hạn chế mặttrái của nền kinh tế thị trường, lực lượng QLTT góp phần cùng các cơ quan chức
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 24năng của bộ máy nhà nước đấu tranh chống các hành vi: đầu cơ, buôn lậu, sản xuất,buôn bán hàng giả, kinh doanh trái phép; bảo vệ nền sản xuất trong nước, quyền lợichính đáng của người sản xuất, kinh doanh hợp pháp và của người tiên dùng; gópphần chống thất thu cho ngân sách nhà nước.
1.1.4.2 Nội dung công tác chống gian lận thương mại của Quản lý thị trường
Chống GLTM là việc cơ quan chức năng sử dụng các biện pháp, nghiệp vụ
và thẩm quyền, quyền hạn được giao để phòng ngừa, đấu tranh với các chủ thể thựchiện GLTM nhằm ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của phápluật Đối với lực lượng QLTT công tác chống GLTM chủ yếu tập trung vào các nộidung sau:
- Công tác xây dựng cơ chế chính sách, cải cách thủ tục hành chính:
Từ thực tiễn cho thấy, một trong những nguyên nhân làm xuất hiện tình trạngGLTM là do những sơ hở, mâu thuẫn, chưa rõ ràng trong hệ thống luật pháp, trongchính sách quản lý thương mại, Bên cạnh đó, quy trình nghiệp vụ quản lý thịtrường thì thiếu chặt chẽ, chưa phân định rõ trách nhiệm của công chức thừa hành,cán bộ lãnh đạo ở từng cấp dẫn đến tình trạng xử lý công việc tùy tiện, dễ dãi, theocảm tính gây tiêu cực, cửa quyền, tham ô, tham nhũng,… làm mất tính nghiêmminh của pháp luật
Ngoài ra, những hạn chế, bất cập cơ bản trong tổ chức và hoạt động của lựclượng QLTT hiện nay được thể hiện ở những điểm cơ bản như về địa vị pháp lý,chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động của QLTT vẫn chủ yếu được quyđịnh bởi các văn bản pháp quy mà trong đó phần lớn là các Thông tư của Bộ trưởng
Bộ Công Thương và các Quyết định của UBND tỉnh Trong khi đó quy định kiểmtra, kiểm soát thị trường và xử lý vi phạm pháp luật chưa bảo đảm cơ sở pháp lývững chắc cho hoạt động của QLTT Đây cũng là thực tế mà hầu hết các cơ quanquản lý hành chính nhà nước trong đó có ngành QLTT phải đối mặt
Các cơ chế, chính sách hỗ trợ kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện cho côngtác chống GLTM đã được ban hành nhưng tại địa phương, trong quá trình thựchiện, cơ quan tài chính lại yêu cầu các thủ tục, chứng từ thanh toán quá nhiều, rườm
rà, kể cả khoản kinh phí do xã hội hóa hỗ trợ
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 25Thông qua thực tiễn công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, lực lượng QLTTphát hiện những bất cập về cơ chế chính sách, những khe hỡ, khoảng trống của phápluật, những mối quan hệ kinh tế mới phát sinh cần được điều chỉnh trong hoạt độngthương mại… Từ đó, lực lượng QLTT đế xuất, kiến nghị, tham mưu xây dựng cơchế, chính sách và văn bản quy phạm pháp luật phù hợp nhằm hoàn thiện cơ chế,chính sách, pháp luật và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước.
- Công tác tổ chức lực lượng và hoạt động nghiệp vụ của lực lượng QLTT:+ Về hệ thống tổ chức:
Lực lượng QLTT là lực lượng chuyên trách trong công tác đấu tranh chốngcác hành vi GLTM ở thị trường nội địa, là lực lượng được tổ chức từ Trung ươngđến cấp huyện Ở địa phương, lực lượng QLTT được tổ chức theo hình thức songtrùng lãnh đạo, tức là Chi cục QLTT có nhiệm vụ: "giúp Giám đốc Sở CôngThương quản lý nhà nước về công tác quản lý thị trường, bảo đảm lưu thông hànghóa theo pháp luật; tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấutranh chống các vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại, công nghiệp, cáclĩnh vực khác được pháp luật quy định "[1,2]; đồng thời, Chi cục QLTT chịu sựchỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về công tác đấu tranh chống các hành vi vi phạm phápluật trong hoạt động thương mại của Cục QLTT thuộc Bộ Công Thương Do đó,trong quá trình thực thi công vụ, Chi cục QLTT chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, giám sáttrực tiếp của hai cơ quan (Sở Công thương và Cục QLTT)
Chi cục QLTT có các Đội QLTT trực thuộc đóng trên địa bàn, trực tiếp thựchiện nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát thị trường, chống các hành vi vi phạm pháp luậttrong hoạt động thương mại, công nghiệp trên địa bàn hoặc lĩnh vực được giao ĐộiQLTT chịu sự quản lý, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát trực tiếp của Chi cục QLTTthông qua các phòng chức năng trong quá trình hoạt động
Đội QLTT có các Tổ Kiểm tra trực tiếp thực hiện công tác quản lý địa bànthường xuyên, liên tục; làm nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát thị trường trên địa bàn các
xã, phường, thị trấn và công tác khác theo phân công
Biên chế công chức của Chi cục QLTT thuộc biên chế quản lý hành chínhnhà nước Căn cứ vào quy mô thị trường của từng địa bàn và yêu cầu công tác mà
số lượng công chức của Đội QLTT được cơ cấu phù hợp
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 26+ Về hoạt động nghiệp vụ kiểm tra, kiểm soát thị trường:
Vai trò, vị trí của lực lượng QLTT ngày càng được nâng cao, tuy nhiên lựclượng QLTT gồm những cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn từ những ngànhkhác nhau, chưa có trường lớp đào tạo chính quy nên năng lực nhận thức về các quyđịnh của pháp luật cũng khác nhau Do đó, trong quá trình thực thi pháp luật, côngchức QLTT cũng không thể tránh khỏi những sai sót về nghiệp vụ như bỏ sót đốitượng, hành vi vi phạm, chế tài xử phạt Điều đó làm ảnh hưởng đến hình ảnh củalực lượng QLTT, ảnh hưởng đến hiệu lực và hiệu quả công tác quản lý nhà nướctrong hoạt động thương mại Trước thực trạng đó, để chấn chỉnh những tồn tại, yếukém trong công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường và chuẩn hóa đội ngũ công chứcQLTT, Bộ Công Thương đã ban hành nhiều văn bản pháp quy nhằm chấn chỉnh kỷcương, kỷ luật, tác phong, thái độ ứng xử và nâng cao chất lượng hoạt động công vụcủa công chức QLTT
Về hoạt động nghiệp vụ của QLTT gồm quản lý địa bàn, thẩm tra, xác minh,trinh sát, xây dựng cơ sở cung cấp thông tin do cán bộ, công chức Quản lý thịtrường áp dụng để phát hiện kịp thời các vi phạm của tổ chức, cá nhân trong kinhdoanh hàng hóa, dịch vụ và phục vụ hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạmcủa Quản lý thị trường Trong đó, "hoạt động quản lý địa bàn là nhiệm vụ thườngxuyên của QLTT nhằm nắm bắt tình hình hoạt động thương mại, công nghiệp trênđịa bàn được phân công về số lượng, tình hình diễn biến thị trường, dấu hiệu vi
phạm, phương thức thủ đoạn vi phạm của các tổ chức, cá nhân" [2,1]; Hoạt động
thẩm tra, xác minh là hoạt động nghiệp vụ của công chức QLTT được giao nhiệm
vụ nhằm tìm ra những bằng chứng, chứng cứ cụ thể, xác thực, qua đó thẩm định,phân tích để làm rõ sự thật, làm căn cứ để kiểm tra và xử lý vụ việc Trình tự nghiệp
vụ thẩm tra, xác minh đã được quy định tại Thông tư số 09/2013/TT-BCT ngày 02tháng 5 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định về hoạt động kiểm tra
và xử phạt vi phạm hành chính của QLTT Đối với các hoạt động nghiệp vụ trinhsát, xây dựng cơ sở cung cấp thông tin của QLTT đã được áp dụng từ lâu và đạthiệu quả cao nhưng vẫn chỉ là kinh nghiệm từ công chức đi trước truyền đạt lại chocông chức vào sau mà chưa có văn bản pháp luật nào điều chỉnh
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 27- Công tác phối hợp với các cơ quan hữu quan và cộng tác với cộng đồngdoanh nghiệp, các hiệp hội nghề nghiệp:
Trong những năm qua, tình hình GLTM diễn biến hết sức phức tạp Nó xãy
ra ở tất cả các khâu của hoạt động sản xuất kinh doanh từ sản xuất, nhập khẩu đếntiêu thụ hàng hóa; ở nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước như ngành y tế, công thương,nông nghiệp , nhiều ngành nghề kinh doanh như may mặc, thực phẩm, hàng tiêudùng ; ở nhiều địa bàn từ đô thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến vùng sâu, vùngxa Để ngăn chặn tình trạng GLTM, không một cơ quan chức năng nào có thể tựmình làm được mà cần phải có sự vào cuộc phối hợp của tất cả các ban ngành chứcnăng, chính quyền các cấp và một bộ phận không thể thiếu là cộng đồng, tổ chức xãhội (gồm cộng đồng doanh nghiệp, các hiệp hội nghề nghiệp, người tiêu dùng )cùng chung sức vì mục đích chung là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh
Đối với lực lượng QLTT công tác phối hợp trong hoạt động kiểm tra, kiểmsoát thị trường được triển khai, phối hợp trên các tuyến với các lực lượng chức năngnhư sau:
+ Ở biên giới, cửa khẩu, cảng biển có Hải quan, Bộ đội Biên phòng
+ Ở thị trường nội địa có các cơ quan, lực lượng chức năng như Công an, cáclực lượng Thanh tra chuyên ngành Thuế, Khoa học và Công nghệ, Y tế, Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn, Tài chính và chính quyền các cấp Ngoài ra, còn
có sự phối hợp, cộng tác của cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp
- Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật cho thương nhân,người tiêu dùng:
Vừa qua, Việt Nam đạt được những kết quả khả quan trong quá trình đàmphán các hiệp định thương mại song phương, đa phương với các nước và vùng lãnhthổ trên thế giới, đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế Tuy nhiên,với nền kinh tế của nước ta vẫn còn nhỏ, cuộc sống của đại bộ phận người dân còngặp khó khăn, ý thức chấp hành pháp luật của người dân chưa cao, tâm lý thích sửdụng hàng ngoại giá rẻ của người tiêu dùng; hệ thống văn bản chính sách pháp luật
về đấu tranh chống GLTM đang dần được hoàn thiện nhưng vẫn còn chồng chéo,
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 28sau thời gian áp dụng đã bộc lộ nhiều bất cập và việc sửa đổi, bổ sung còn chậm;thêm vào đó là hàng rào thuế quan dần dần được tháo bỏ theo lộ trình của các Hiệpđịnh được ký kết , hàng hóa từ các nước sẽ không còn biên giới và vào thẳng thịtrường nội địa Như vậy, tình trạng buôn lậu sẽ giảm xuống nhưng GLTM về chấtlượng hàng hóa, hàng giả, hàng nhái, giá cả sẽ gia tăng Do đó, ngoài công táckiểm tra, kiểm soát thị trường cần phải kết hợp với công tác tuyên truyền, phổ biếnchính sách, pháp luật cho thương nhân và người tiêu dùng Xem công tác kiểm tra,kiểm soát là nhiệm vụ trọng tâm, còn công tác tuyên truyền là nhiệm vụ thườngxuyên và then chốt trong công tác chống GLTM.
Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật nhằm vận động các tổchức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh tham gia công tác đấu tranh chốngGLTM Từng bước đưa hoạt động sản xuất, kinh doanh thương mại, dịch vụ vào nềnếp, chấp hành đúng các quy định của pháp luật; đồng thời thông qua công táctuyên truyền để các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng hiểu
rõ quyền và lợi ích hợp pháp của mình được pháp luật bảo vệ, từ đó tích cực đấutranh, tố giác các hành vi vi phạm pháp luật; mang lại hiệu quả thiết thực của côngtác đấu tranh chống GLTM
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chống gian lận thương mại của Quản
bộ, phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của đất nước sẽ là cơ sở pháp lý quan trọnggiúp chủ thể kinh doanh hiểu và thực hiện đúng nghĩa vụ của mình Nếu nội dungcủa các văn bản quy phạm pháp luật quá phức tạp, qui định không rõ ràng, thủ tụchành chính rườm rà sẽ khó khăn cho cả cán bộ thực thi pháp luật và chủ thể kinhdoanh Bên cạnh đó, tính ổn định của hệ thống văn bản pháp luật về thương mạicũng tác động rất lớn đến việc chấp hành pháp luật của chủ thể kinh doanh Hệ
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 29thống văn bản liên tục thay đổi, sửa đổi, bổ sung có thể phù hợp với tình hình kinh
tế xã hội, với các chính sách vĩ mô của nhà nước nhưng lại có mặt trái là dễ gâychồng chéo, phức tạp, khó nắm bắt Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng tuânthủ của chủ thể kinh doanh trên thị trường
Các cơ chế, chính sách hỗ trợ kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện cho côngtác chống GLTM đã được ban hành nhưng trong quá trình triển khai thực hiện lạigặp những vướng mắc, khó khăn từ nguồn ngân sách địa phương, chế độ chứng từthanh toán…
1.1.5.2 Năng lực, trình độ chuyên môn của cán bộ công chức
Muốn công tác đấu tranh phòng, chống GLTM đạt kết quả tốt thì cán bộcông chức phải có chuyên môn, năng lực, có trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp,
vì vậy vấn đề then chốt là phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chứcQLTT Trong những năm trở lại đây, khoa học công nghệ đang ngày càng pháttriển, mọi thứ đều hiện đại hóa hơn, công nghệ thông tin cũng được ứng dụng ngàycàng rộng rãi hơn trong công tác quản lý… mà thực tế lực lượng cán bộ công chứcChi cục QLTT đang ở giai đoạn chuyển giao từ thế hệ cán bộ công thương nghiệpnhững năm 1986 hạn chế về công nghệ thông tin với thế hệ cán bộ trẻ được đào tạochính quy hơn nhưng kinh nghiệm chưa nhiều Hơn nữa, hành vi GLTM được thựchiện ngày một tinh vi hơn Chính vì vậy, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải thườngxuyên tổ chức đào tạo nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho các cán bộ công chức,xác định rõ các tiêu chí đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ
1.1.5.3 Trình độ dân trí và ý thức chấp hành pháp luật
Ngày nay, trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới, bùng nổ về công nghệthông tin, sự đa dạng trong lĩnh vực truyền thông đã giúp cho trình độ dân trí củangười dân ngày càng được nâng cao Khi người dân thực sự hiểu biết pháp luật, có
ý thức tự giác chấp hành pháp luật thì hiệu quả của công tác chống GLTM sẽ rấtcao Ngược lại, nếu người dân có thái độ thờ ơ, không lên án, khuyến khích, thậmchí còn tiếp tay, đồng tình đối với các hành vi GLTM sẽ dẫn đến tình trạng công tácquản lý nhà nước kém hiệu quả, luật pháp không nghiêm, kinh tế suy thoái, xã hộisuy đồi
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 30Trình độ dân trí càng cao, sự hiểu biết về pháp luật càng cao thì tình hìnhGLTM cũng ngày càng tinh vi hơn, phức tạp hơn.
1.1.5.4 Hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật
Ngoài công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường cần phải kết hợp với công táctuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật cho thương nhân và người tiêu dùng.Xem công tác kiểm tra, kiểm soát là nhiệm vụ trọng tâm, còn công tác tuyên truyền
là nhiệm vụ thường xuyên và then chốt trong công tác chống GLTM
Các chính sách pháp luật chỉ có thể thực thi một cách đầy đủ, thống nhất khicông tác phổ biến giáo dục được triển khai sâu rộng trong quảng đại quần chúng.Mọi tổ chức, cá nhân cần phải biết đầy đủ các quy định, những việc phải làm vàmức độ sẽ bị xử lý đối với từng hành vi GLTM Tăng cường công tác phổ biến, giáodục pháp luật còn có ý nghĩa nâng cao tính tự giác, ý thức về nghĩa vụ của công dânđối với nhà nước và sự kiểm tra giám sát của xã hội đối với việc thực thi các chínhsách, pháp luật, đảm bảo tính công khai, công bằng xã hội
1.1.5.5 Hoạt động thanh tra, kiểm tra
Thanh tra, kiểm tra nhằm mục tiêu thiết lập trật tự kỷ cương trong lĩnh vựckinh doanh, đảm bảo việc thực thi pháp luật được chấp hành một cách nghiêm túc.Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang chuyển mạnh sang cơ chế thị trường, hoạtđộng kinh tế pháp triển mạnh mẽ, đa dạng và phức tạp Sự cạnh tranh giữa cácthương nhân ngoài mặt tích cực thì bộc lộ những tồn tại, đồng thời làm cho các mặttrái của cơ chế thị trường có điều kiện nảy sinh và phát triển mạnh mẻ hơn Đứngtrước yêu cầu đó, việc quản lý thị trường bằng pháp luật để các thương nhân thuộccác thành phần kinh tế phát triển lành mạnh, theo khuôn khổ, đúng định hướng ngàycàng trở nên cấp thiết hơn và lực lượng QLTT thông qua công tác thanh tra, kiểmtra chuyên ngành thực sự trở thành công cụ hữu hiệu để nhà nước thực hiện tốt chứcnăng quản lý nhà nước về hoạt động thương mại
Phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về lĩnh vựcthương mại là mục tiêu chủ yếu, trực tiếp của hoạt động kiểm tra, kiểm soát Kiểmtra, kiểm soát là hoạt động thường xuyên của cơ quan quản lý nhà nước nhằm đảmbảo cho các quyết định quản lý được chấp hành, bảo đảm mọi hoạt động của thương
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 31nhân tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật Tuy nhiên trong thực tế hoạt độngkiểm tra vẫn có những biểu hiện lệch lạc như buông lỏng, tránh né, thiếu thườngxuyên,…
1.1.5.6 Cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác chống gian lận thương mại
Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện là một trong những nhân tố quantrọng để lực lượng QLTT thực thi tốt nhiệm vụ chống GLTM Trong điều kiện kinh
tế xã hội ngày càng phát triển đa dạng và phức tạp thì hoạt động GLTM cũng trởnên tinh vi, phức tạp hơn Với điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị thiếu thốn,phương tiện lạc hậu thì công tác chống GLTM sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ, khôngthể đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội
Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin để theo dõi, cập nhật, tổnghợp, phân tích,… các cơ sở kinh doanh trên địa bàn Thành phố Huế (32.522 cơ sởkinh doanh vào năm 2013 chiếm 43,7% so với toàn tỉnh [4]) vào hoạt động quản lýđịa bàn, hoạt động kiểm tra cũng làm nâng cao hiệu quả công tác chống GLTM
1.1.5.7 Sự hợp tác giữa các cơ quan hữu quan trong công tác chống gian lận thương mại
Sự phối hợp với các cơ quan chức năng, nhất là cơ quan Công an, Thuế, Hảiquan, Thanh tra chuyên ngành các Sở,… trong việc chống buôn lậu, chống làmhàng giả, chống trốn lậu thuế, chiếm đoạt tiền hoàn thuế, chống buôn bán hoá đơnbất hợp pháp sẽ có tác dụng tốt trong việc phát hiện, xử lý kịp thời những viphạm pháp luật Việc phối kết hợp này sẽ nâng cao hiệu quả công tác chống GLTM,thể hiện ở sự phối hợp đồng bộ nhiều lực lượng, áp dụng nhiều biện pháp nghiệp vụchuyên ngành, triển khai kiểm tra trên nhiều nội dung, lĩnh vực, địa bàn
1.1.6 Mô hình nghiên cứu
Như chúng ta đã biết, kiểm tra, kiểm soát là hoạt động thường xuyên của cơquan quản lý nhà nước nhằm đảm bảo cho các quyết định quản lý được chấp hành,bảo đảm mọi hoạt động của thương nhân tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật.Song song với công tác kiểm tra, cơ quan nhà nước kết hợp với công tác tuyêntruyền hỗ trợ cá nhân, doanh nghiệp nắm các quy định của pháp luật trong hoạtđộng thương mại Xét trên bình diện tổng thể, đây được xem là dịch vụ công mà cơ
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 32quan Nhà nước với tư cách là chủ thể có trách nhiệm cung cấp cho các đối tượng cóliên quan (khách thể).
Hệ thống chính sách về thương mại là tổng hợp các quan điểm chính thốngcủa nhà nước về các hoạt động thương mại và công tác kiểm tra, kiểm soát thịtrường trong một giai đoạn nhất định để sử dụng chức năng của quản lý thị trườngnhằm thực hiện mục tiêu chiến lược chung của đất nước Cá nhân hay tổ chức kinhdoanh thì tồn tại khách quan cùng với sự ra đời của hệ thống chính sách pháp luật
về thương mại Trong một nền hành chính mệnh lệnh, một chiều, cá nhân, doanhnghiệp chỉ là người buộc phải tuân thủ các hoạt động của cơ quan nhà nước mộtcách thụ động, không tác động tích cực trở lại hệ thống Trong nền hành chính dịch
vụ, sự tác động trở lại của cá nhân, doanh nghiệp trong hệ thống chính sách thươngmại mang tính tích cực hơn Để họ tuân thủ tốt nghĩa vụ, họ cần phải được nắmvững các quy định về hoạt động thương mại
Thông qua thực hiện dịch vụ công này, tổ chức, cá nhân kinh doanh có thểnắm được các chính sách và tuân thủ pháp luật tốt hơn, định hướng kinh doanh tốthơn để mang lại nhiều thuận lợi Đồng thời, trong quá trình thực thi, tổ chức, cánhân kinh doanh cũng phản hồi những thông tin bất cập của hệ thống chính sáchthương mại để nhà nước hoàn thiện, sửa đổi Thực tiễn cho thấy những điều chỉnhchính sách về hoạt động thương mại phần lớn đều xuất phát từ việc thực hiện dịch
vụ công này Ngày nay, trong tiến trình hội nhập, cơ quan Quản lý thị trường có vaitrò, vị trí ngày càng lớn trong hoạt động thương mại tại thị trường nội địa Do vậy,việc kiểm tra, kiểm soát thị trường chống GLTM là rất cần thiết cho công tác quản
lý nhà nước về thương mại
Tuyên truyền pháp luật về hoạt động thương mại là nhiệm vụ của các ngànhchức năng, trong đó có lực lượng QLTT, được ban hành trong các văn bản pháp luật
về hoạt động thương mại của nhà nước Các thông tin liên quan đến kết quả kiểmtra, kiểm soát thị trường, tuyên truyền pháp luật đều được đăng tải trên hệ thốngthông tin điện tử của mỗi cơ quan để công khai, hỗ trợ, tư vấn, hướng dẫn, trợ giúpcho cơ sở kinh doanh, người dân trong hoạt động thương mại Nói tóm lại, tuyêntruyền, hỗ trợ và cung cấp thông tin cho cơ sở kinh doanh, người tiêu dùng không còn
là yếu tố quan trọng mà là nhân tố quyết định trong công tác chống GLTM hiện nay
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 33Với những lý luận trên, công tác kiểm tra và tuyên truyền pháp luật đượcxem như là một loại hình dịch vụ công - dịch vụ "đặc biệt" mà cơ quan QLTT cungcấp cho khách hàng đặc biệt: tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh và người dân,người tiêu dùng Với loại hình dịch vụ này, chất lượng của nó được thể hiện quaquan điểm chất lượng của khách hàng, ở đây là cơ sở kinh doanh, người dân:phương tiện hữu hình, sự tin cậy, khả năng đáp ứng, năng lực phục vụ, thái độ cư
xử, sự tín nhiệm, độ an toàn, cách tiếp cận, sự trao đổi thông tin, sự hiểu biết kháchhàng (Tony Bovaird và Elke LÖffler, 2005)
Parasuraman & ctg (1985) định nghĩa chất lượng dịch vụ là “sự đánh giá haythái độ chung về sự ưu tú toàn diện của dịch vụ” Vì thế, chất lượng dịch vụ là sựkhác biệt giữa sự mong đợi với nhận thức về dịch vụ được cung cấp Nitecki & ctg(2000) định nghĩa chất lượng dịch vụ là sự đáp ứng hay vượt mức mong đợi củakhách hàng, hoặc sự khác biệt giữa nhận thức của khách hàng với mong đợi củadịch vụ (I-Ming Wang và Chich-Jen Shieh, 2006)
Dựa trên những đặc trưng cơ bản của dịch vụ công và những điều nêu trên,chất lượng dịch vụ công có thể xem là thái độ chung của các tổ chức và công dânđối với các hoạt động phục vụ lợi ích chung thiết yếu, quyền và nghĩa vụ cơ bản của
họ do nhà nước đảm nhận hay ủy nhiệm cho các cơ sở ngoài nhà nước thực hiện.Sản phẩm dịch vụ nói chung, dịch vụ công nói riêng có tính vô hình, rất khó đểđánh giá Vì vậy, để đánh giá chất lượng dịch vụ có nhiều cách tiếp cận khác nhau
Để đánh giá và đo lường chất lượng dịch vụ, Parasuraman & ctg (1985,1988) đã đưa ra mô hình năm khoảng cách chất lượng dịch vụ và thang đoSERVQUAL, đây là thang đo chất lượng dịch vụ được sử dụng phổ biến Nó khôngchỉ được sử dụng để nghiên cứu trong lĩnh vực marketing mà còn được sử dụngrộng rãi trong các lĩnh vực khác Tùy vào những đặc thù riêng của lĩnh vực đangnghiên cứu mà có những thay đổi, điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp Trong nền dịch
vụ hành chính công, cơ sở kinh doanh là khách hàng và cơ quan QLTT là nhà cungcấp Nhưng khác với khách hàng trong khu vực công khác, cơ sở kinh doanh ở đây
là khách hàng thụ động, không muốn thực hiện dịch vụ công đặc biệt này
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 34Trong quá trình hoạt động thương mại, bản thân cơ sở kinh doanh phải tựquyết định các hoạt động kinh doanh của mình và chịu trách nhiệm trước pháp luật
về những hoạt động đó Việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cơ sở kinhdoanh phải đi đôi với việc nâng cao chất lượng dịch vụ công của cơ quan QLTT Do
đó, mô hình nghiên cứu được xây dựng nhằm đánh giá công tác kiểm tra, kiểm soátthị trường và tuyên truyền pháp luật của Chi cục QLTT để từ đó cải thiện, nâng caochất lượng hoạt động chống GLTM Trên nền tảng mô hình và thang đoSERVQUAL, tác giả điều chỉnh nội dung 5 thành phần cơ bản của chất lượng dịch
vụ để phù hợp với vấn đề đang nghiên cứu như sau:
- Thành phần Tin cậy: thể hiện qua khả năng cung cấp dịch vụ kiểm tra, kiểmsoát và tuyên truyền hỗ trợ cơ sở kinh doanh trong hoạt động kinh doanh phù hợp,
đầy đủ, kịp thời của Chi cục QLTT và được gọi là "Thành phần Công tác tuyên truyền, hỗ trợ, cung cấp thông tin".
- Thành phần Đáp ứng: thể hiện qua khả năng và kỹ năng giải quyết côngviệc, sự thực thi của cán bộ nhân viên QLTT và cơ sở kinh doanh Thành phần này
được gọi tên mới là "Thành phần Kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ".
- Thành phần Đồng cảm: thể hiện qua sự quan tâm, chăm sóc của Chi cụcQLTT đối với cơ sở kinh doanh nhưng yêu cầu cơ sở kinh doanh phải hiểu và thực
hiện đúng trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trước pháp luật và được gọi là "Thành phần Quy trình, thủ tục, quản lý, kiểm tra".
- Thành phần Phương tiện hữu hình và Thành phần Năng lực phục vụ: đượcghép lại và điều chỉnh thành “Phương tiện phục vụ” và được thể hiện qua hìnhtượng cán bộ QLTT và các trang thiết bị, ứng dụng CNTT phục vụ cho công tác
kiểm tra, tuyên truyền hỗ trợ về pháp luật tại Chi cục QLTT và được gọi là "Thành phần Công nghệ thông tin".
Theo đó, mô hình lý thuyết về quan hệ giữa sự hài lòng của cơ sở kinh doanh
và chất lượng dịch vụ quản lý thị trường được xây dựng gồm 4 thành phần như sau:
- Thành phần Công tác tuyên truyền, hỗ trợ, cung cấp thông tin
- Thành phần Quy trình, thủ tục, quản lý kiểm tra
- Thành phần Kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ
- Thành phần Công nghệ thông tin
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 351.2 THỰC TIỄN VỀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI VÀ CHỐNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI
1.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác chống gian lận thương mại tại Việt Nam
Công tác chống GLTM ở nước ta đã được Đảng và Nhà nước quan tâm vàchỉ đạo từ khi đất nước mới giành được độc lập năm 1945 Vào ngày 10/9/1945, Bộtrưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã thay mặt Chính phủ ký Sắc lệnh số 27 lập ra
Sở Thuế quan và Thuế gián thu (tiền thân của cơ quan Thuế và Hải quan) với mụcđích đảm bảo việc kiểm soát hàng hóa XNK và duy trì nguồn thu ngân sách; đếnngày 03/7/1957, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 290/TTg thành lậpBan Quản lý thị trường ở các Thành phố, tỉnh, khu tự trị (tiền thân của lực lượngQuản lý thị trường các cấp) Từ đây, các lực lượng chức năng trong công tác chốngGLTM đã được hình thành tương đối đầy đủ Ở các tuyến biên giới, cửa khẩu đã cólực lượng Hải quan và Bộ đội Biên phòng kiểm tra, kiểm soát Ở nội địa, đã có lựclượng QLTT, Thuế, Công an và chính quyền địa phương đảm nhiệm Tuy nhiên,việc phối kết hợp trong công tác chống GLTM của các ngành tương đối rời rạt,mạnh ai nấy làm nên không đem lại hiệu quả cao và đặc biệt là trong tình hình mớihội nhập kinh tế quốc tế
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác đấu tranh chống buôn lậu, hànggiả và GLTM trong công cuộc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa hội nhập quốc tế, Ðảng và Nhà nước luôn quan tâm và đã đề ra nhiều chủtrương, chính sách nhằm ngăn chặn, phòng ngừa vấn nạn này Hội nghị lần thứ tưBan Chấp hành Trung ương Ðảng khóa VIII (1997) đã nhấn mạnh: “Tǎng cường sựphối hợp giữa các cơ quan chức nǎng, phát huy vai trò của nhân dân để tiến hành cóhiệu quả những biện pháp chống buôn lậu trên các tuyến biên giới, vùng biển vàtrên thị trường nội địa Ngǎn chặn và xử lý nghiêm mọi hành vi buôn lậu, gian lậnthương mại hoặc tiếp tay, bao che cho bọn buôn lậu” Đẩy mạnh hiệu quả công tácđấu tranh chống buôn lậu, sản xuất, buôn bán hàng giả, gian lận thương mại và các
vi phạm pháp luật khác trong lĩnh vực thương mại có ý nghĩa hết sức to lớn trongviệc tạo lập môi trường phát triển thương mại lành mạnh tại Việt Nam Bởi vậy bêncạnh việc khẩn trương bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thể chế kinh tế phù
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 36hợp với các nguyên tắc, quy định trong các cam kết quốc tế; hình thành nhanh vàđồng bộ các yếu tố của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; pháthuy tối đa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày05/02/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tại Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấphành Trung ương Đảng khóa X) về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh
tế phát triển nhanh và bền vững đã khẳng định chủ trương “sắp xếp lại tổ chức bộmáy các cơ quan nhà nước theo yêu cầu phổ biến là quản lý đa ngành, đa lĩnh vực;khắc phục sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, tăng cường sự phối hợp đồng bộ,nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động Khẩn trương hoàn thiện tổ chức, cơ chếhoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh, chống trợ cấp, chống bán phá giá, quản
lý thị trường”
Quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng, trong nhiều năm qua, Chính phủluôn xác định chống buôn lậu, GLTM là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và cả hệthống chính trị, trong đó các cấp ủy Đảng, chính quyền các địa phương, các lựclượng chức năng có vai trò chủ công, nòng cốt, quyết định sự thành bại trên mặttrận này Để thống nhất tập trung chỉ đạo và đấu tranh có hiệu quả, từng bước ngănchặn và đẩy lùi tình trạng buôn lậu, GLTM, ngày 27/8/2001 Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành Quyết định số 127/2001/QĐ-TTg về việc thành lập Ban Chỉ đạo quốcgia chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại (gọi tắt là Ban Chỉ đạo 127Trung ương) Thành phần Ban Chỉ đạo 127TW gồm lãnh đạo của nhiều Bộ ngànhtrung ương và giao Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) làmTrưởng ban Ở địa phương, thành lập Ban Chỉ đạo 127 tỉnh, Thành phố trực thuộctrung ương Tuy nhiên, do tình hình thị trường, kinh tế xã hội thay đổi và qua nhiềulần kiện toàn nhưng hoạt động của Ban Chỉ đạo 127 các cấp vẫn chưa đúng tầm,ngày 19/3/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 389/2014/QĐ-TTg về việc thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại
và hàng giả (gọi tắt là Ban Chỉ đạo 389 Trung ương) để thay cho Ban Chỉ đạo127TW Thành phần Ban Chỉ đạo 389TW gồm lãnh đạo của nhiều Bộ ngành trungương và giao Phó Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng ban, giao Bộ trưởng Bộ Tàichính làm Phó Trưởng Ban thường trực Điều này cho thấy quyết tâm của Chínhphủ trong công tác đấu tranh phòng chống buôn lậu, hàng giả và GLTM khác
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 37Song song với việc thành lập, kiện toàn các Ban chỉ đạo chống buôn lậu,GLTM, Nhà nước đã ban hành, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện nhiều văn bản phápluật có liên quan như: Luật Thương mại, các Luật về Thuế, Luật Doanh nghiệp, BộLuật Hình sự, Luật xử lý vi phạm hành chính, các Nghị định quy định về chế tài xửphạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực và ban hành các văn bản hướng dẫnthực hiện chi tiết Nhà nước đã từng bước hoàn thiện chính sách quản lý để pháttriển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lýcủa Nhà nước, đã góp phần đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, bảo vệlợi ích chính đáng của người sản xuất, người tiêu dùng và lợi ích hợp pháp củathương nhân, góp phần hạn chế tình trạng buôn lậu và gian lận thương mại.
Bên cạnh đó, Nhà nước điều chỉnh, ban hành một số chính sách như: chínhsách ưu đãi đầu tư, ưu đãi về thuế đối với vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khókhăn hay chính sách tín dụng cho vay vốn lãi suất thấp ưu tiên nhân dân vùng biên
để kích thích đầu tư sản xuất tạo ra công ăn việc làm cho người lao động ở vùng nàynhằm ngăn chặn tình trạng tiếp tay cho buôn lậu
Để khuyến khích hoạt động phòng, chống GLTM, nhà nước đã ban hànhnhiều chế độ, chính sách đảm bảo kinh phí cho hoạt động của các lực lượng chốngGLTM như: Kinh phí đảm bảo cho các hoạt động điều tra, xác minh, bắt giữ, lưukho bãi, định giá, đấu giá, chi trả cho người cung cấp tin và cũng từng bước sửađổi, bổ sung chế độ, chính sách cho phù hợp với tình hình thực tiễn để phần nào hỗtrợ, động viên cho công tác này
1.2.2 Tình hình gian lận thương mại và chống gian lận thương mại tại Việt Nam
Nước ta có biên giới đường bộ và đường biển khá dài (với trên 4.600 kmđường bộ và trên 3.400 km đường biển) Biên giới đường bộ núi liền núi, sông liềnsông, có nhiều cửa khẩu quốc tế, quốc gia, chưa kể đường mòn, lối mở, nhất là biêngiới phía Tây Nam, vào mùa nước nổi đồng nước mênh mông, rất thuận tiện choviệc qua lại Nước ta lại sát với Trung Quốc, quốc gia có nền sản xuất hàng hóa kháphát triển, được mệnh danh là “công xưởng của thế giới”, lại gần khu vực ngã babiên giới Lào - Thái Lan - My-an-ma (được gọi là “tam giác vàng”) Những đặcđiểm địa lý đó rất thuận tiện cho việc giao lưu buôn bán, nhưng cũng thuận lợi cho
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 38việc vận chuyển hàng lậu, gây khó khăn cho công tác chống buôn lậu và GLTM.
GLTM ở nước ta đã xuất hiện từ nhiều năm trước đây và đặc biệt phát triểnsau khi nước ta mở cửa thị trường, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế với diễnbiến ngày càng phức tạp trên tất cả các tuyến, mặt hàng, bằng nhiều hình thứcGLTM khác nhau:
- Trên tuyến biên giới đường bộ:
Tình trạng mua bán, vận chuyển trái phép qua biên giới các loại hàng cầmnhư ma túy, vật liệu nổ, pháo các loại, thuốc lá điếu, diễn biến phức tạp tại cáctỉnh Điện Biên, Lài Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Sơn La, Nghệ An, HàTĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Tây Ninh, An Giang Các đường dây ma túy thường
có sự cấu kết của tội phạm trong nước và nước ngoài, chúng dụ dỗ cư dân biên giới,đồng bào dân tộc thiểu số để vận chuyền ma túy
Hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới các loại hàng hóakhông rõ nguồn gốc, không đảm bảo chất lượng, có nguy cơ ảnh hưởng đến sứckhỏe cho người tiêu dùng như mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, đông dược, gia cầm,sản phẩm từ gia cầm chủ yếu diễn ra ở khu vực biên giới các tỉnh Lào Cai, LạngSơn, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An,
- Trên tuyến biển, cửa khẩu cảng biển, cảng sông quốc tế:
Tình hình buôn lậu xăng, dầu trên biển vẫn tái diến phức tạp tại các vùngbiển Thanh Hóa, Khánh Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiên Giang, với phươngthức tinh vi, phức tạp hơn, đầu nậu trong nước cấu kết với các đối tượng ngườinước ngoài sử dụng tàu, thuyền không treo cờ quốc tịch, sử dụng tàu cá đã hoán cải
để mua bán, vận chuyển, sang mạn trái phép xăng dầu trên biển Trong năm 2015,lực lượng Cảnh sát biển, Hải quan và Bộ đội Biên phòng đã phát hiện, bắt giữ trên
33 ngàn tấn than, quặng, trên 287 ngàn lít xăng và gần 4,9 triệu lít dầu các loại
Tình trạng buôn lậu mỹ phẩm, thực phẩm chức năng và các mặt hàng cấm là
đồ điện tử, điện lạnh, điện gia dụng, thiết bị y tế cũ, đã qua sử dụng có dấu hiệu giatăng phức tạp tại các cảng biển Điển hình trong năm 2015, Tổng cục Hải quan đãphát hiện khoảng 5.000 tấn hàng vi phạm, trị giá ước tính khoảng 100 tỷ đồng, chủyếu là hàng đã qua sử dụng, cấm nhập khẩu, nhiều loại hàng hóa nhập khẩu có điềukiện như thực thẩm chức năng, mỹ phẩm, sữa, rượu
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 39Hoạt động buôn lậu mặt hàng thuốc lá điếu có chiều hướng gia tăng trên cácvùng biển khu vực phía Bắc và Tây Nam sau khi lực lượng chức năng tăng cườngkiểm tra trên tuyến đường bộ Điển hình trong năm 2015 là vụ buôn lậu 240.000bao thuốc lá hiệu Esse Lights và 75.000 bao thuốc lá hiệu 555 tại Hải Phòng, vụbuôn lậu 82.000 bao thuốc lá hiệu 555 tại Quảng Ninh
- Tại các cảng hàng không, bưu điện quốc tế:
Mặt hàng vi phạm vẫn tập trung chủ yếu vào các loại hàng cấm, hàng gọnnhẹ, có giá trị kinh tế cao và dễ cất giấu như ngoại tệ, mỹ phẩm, thuốc tân dược,điện thoại di động, máy tính bảng, đồng hồ, máy quay phim, máy ảnh kỹ thuật số,rượu ngoại, Thủ đoạn phổ biến của đối tượng buôn lậu là cất giấu hàng hóa trongngười, trong hành lý không khai báo khi xuất cảnh, nhập cảnh; chia nhỏ số lượnghàng hóa, gửi về nhiều địa chỉ khác nhau; lợi dụng định mức miễn thuế, hàng quàbiếu, quà tặng để vận chuyển trái phép hàng lậu
Đáng chú ý, những năm trở lại đây, tình trạng vận chuyển trái phép các loại
ma túy, vũ khí, tài liệu cấm, động vật hoang dã diến biến phức tạp và có chiềuhướng gia tăng Qua kiểm tra, kiểm soát trong năm 2015, lực lượng chức năng đãphát hiện, bắt giữ tại các cảng hàng không 95 kg ngài voi, 108 kg vẩy tê tê, 28 kgvăn hóa phẩm, tài liệu có nội dung phản động, 2,7 kg tiền chất ma túy, 49.000 viên
ma túy tổng hợp, 94 khẩu súng ngắn quân sự và hàng trăm hộp tiếp đạn,
- Trong thị trường nội địa:
Các hành vi GLTM trong những năm qua có chiều hướng gia tăng, với cácthủ đoạn tinh vi phức tạp nhằm trốn lậu thuế, bòn rút ngân sách nhà nước và lừa dốingười tiêu dùng Các hình thức gian lận phổ biến là: quay vòng hóa đơn chứng từ,mua bán hóa đơn để hợp thức hóa hàng nhập lậu; gian lận trong việc kê khai về giátrên hóa đơn bán hàng hoặc không xuất hóa đơn để giảm thuế giá trị gia tăng phảinộp; khai sai tên hàng, số lượng, chất lượng, nhãn hiệu, mục đích sử dụng, làm giảgiấy chứng nhận xuất xứ (C/O) đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu; sản xuất hàngkhông bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng; gian lận trong cân, đong, đo, đếm hàng hóa,
sử dụng phương tiện đo lường không qua kiểm định; gắn chíp điện tử vào cácphương tiện đo lường (cột bơm xăng dầu) làm sai lệch đồng hồ đo; pha trộn dầu
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
Trang 40hỏa, axeton vào xăng, bán xăng A83 (chất lượng thấp) nhưng tính tiền theo giá xăngA92 (chất lượng cao) ; sang chiết gas trái phép và gian lận trong đo lường, chấtlượng đối với sản phẩm gas; gian lận đối với các hàng hóa đóng gói sẵn; quảng cáocông dụng và chất lượng sản phẩm không đúng thực tế; vi phạm các quy định vềghi nhãn hàng hóa; lừa đảo trong mua bán hàng qua mạng (các website); sản xuất
và bán các sản phẩm hàng hóa chưa công bố tiêu chuẩn hoặc công bố, ghi trên nhãnhàng hóa tiêu chuẩn chất lượng cao nhưng thực tế thì hàng hóa chất lượng lại rấtthấp; lập ra nhiều công ty “ma” trên thực tế không hoạt động mà xin hóa đơn do BộTài chính phát hành để mua - bán kiếm lời hoặc làm nhiều hợp đồng mua - bán giả
để lừa đảo vay vốn ngân hàng nhằm trục lợi
Các lực lượng chức năng đã tăng cường kiểm tra, phát hiện và xử lý nhiều vụviệc vi phạm nghiêm trọng liên quan đến sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng kémchất lượng, vi phạm sở hữu trí tuệ, vệ sinh an toàn thực phẩm Điển hình: tại HàNội, lực lượng Công an phối hợp với lực lượng QLTT kiểm tra, thu giữ khoảng 20tấn thực phẩm chức năng giả, trên 37.800 sản phẩm mỹ phẩm không có hóa đơnchứng từ; vào tháng 12/2015, lực lượng QLTT đã bắt giữ quả tang 02 cửa hàngxăng dầu gắn chíp điện tử để gian lận về đo lường; ngày 05/01/2016, lực lượngQLTT phối hợp với Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm buôn lậu - Bộ Công ankiểm tra kho hàng và phát hiện 210 bộ công tơ điện không có hoá đơn chứng từ và
560 bộ công tơ điện, kèm theo “Giấy chứng nhận kiểm định” giả Tại Thành phố HồChí Minh, Chi cục QLTT bắt giữ 500 thùng hàng là mỹ phẩm, thực phẩm chứcnăng không có hóa đơn chứng từ Tại Quảng Ninh, lực lượng QLTT bắt giữ 6.000thỏi son môi giả các nhãn hiệu
Kết quả công tác chống GLTM của các lực lượng chức năng cả nước: Theo
số liệu thống kê của Ban chỉ đạo 389 quốc gia, trong năm 2015, các lực lượng chứcnăng đã phát hiện, bắt giữ, xử lý 186.989 vụ việc vi phạm (tăng 6,47% so với năm2014), trong đó, số vụ buôn lậu, hàng cấm là 26.881 vụ, số vụ hàng giả, vi phạm sởhữu trí tuệ là 13.78 vụ, số vụ gian lận thương mại khác là 146.130 vụ; số tiền thunộp ngân sách từ xử phạt vi phạm hành chính, bán hàng tịch thu và truy thu thuếước đạt 11.535 tỷ đồng (tăng 5,75% so với năm 2014) Trong đó, lực lượng Công
ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ