Để góp phần giải quyết những tồn tại trên, đề tài "Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật phục hồi rừng thứ sinh nghèo trên núi đá vôi tại vùng đệm Vườn Quốc Gia Cát Bà" đã được thực hiện...
Trang 1HOÀNG VĂN THẬP
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP KỸ THUẬT
PHỤC HỒI RỪNG THỨ SINH NGHÈO TRÊN NÚI ĐÁ VÔI
TẠI VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA CÁT BÀ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI, 2008
Trang 2Đặt vấn đề
Việt Nam có diện tích tự nhiên 33,12 triệu hecta, trong đó diện tích đấtlâm nghiệp 18,77 triệu hecta, chiếm 56,67% Nằm trên bán đảo Đông Dương,chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, địa hình chia cắt phức tạp, trảidài qua nhiều vùng sinh thái khác nhau, Việt Nam có nguồn tài nguyên phongphú, có tính đa dạng sinh học và đặc hữu cao Tuy nhiên, do chiến tranh kéodài dẫn đến sự đói nghèo, cộng với cơ chế chính sách chưa phù hợp dẫn đếnrừng bị tàn phá nặng nề, nhiều nguồn tài nguyên động, thực vật rừng quý hiếm
bị tuyệt chủng (năm 1943 diện tích rừng là 14,3 triệu hecta và sau 50 nămdiện tích rừng hiện nay chỉ còn xấp xỉ 13 triệu hecta) Trong những năm gần
đây, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng quan tâm tới phát triển lâm nghiệp,thông qua các chính sách hỗ trợ bằng các chương trình dự án như chương trình
327, chương trình 661, v.v, do đó diện tích rừng đã được tăng lên nhưngkhông đáng kể, bên cạnh đó các loài động thực vật quý hiếm có nguy cơ bịtuyệt chủng vẫn còn tiếp diễn Đặc biệt rừng trên núi đá vôi đã bị giảm sútnhanh chóng cả về số lượng và chất lượng Những tác động này đã ảnh hưởnglớn đến khả năng tồn tại của rừng, làm mất cân bằng hệ sinh thái, diễn thếrừng đi theo chiều tiêu cực [31]
Đảo Cát Bà là đảo đặc trưng cho hệ sinh thái rừng - biển Nơi đây cóVườn Quốc gia danh tiếng, là địa chỉ du lịch hấp dẫn đối với du khách trong
và ngoài nước Địa danh này không chỉ có vẻ đẹp hấp dẫn mà còn là một khotài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng Vì vậy, việc nghiên cứu quản lý và
sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên rừng trên núi đá vôi nói riêng có ý nghĩa to lớn và thiết thực về các mặt kinh tế, xã
hội, văn hoá, khoa học và môi trường
Rừng trên núi đá vôi ở Cát Bà có cấu trúc và tổ thành phong phú trên địahình phức tạp Tuy nhiên, hiện nay phần lớn kiểu rừng này đã trở nên nghèokiệt, nhiều loài cây quý trong rừng như; Đinh, Nghiến, Hoàng Đàn, Kim Giao,
Trang 3Cọ Hạ Long đã khan hiếm và đang bị đe doạ biến mất Một khi hệ sinh tháirừng trên núi đá vôi bị tàn phá thì khả năng tự phục hồi gặp rất nhiều khókhăn, đặc điểm này khác hẳn với hệ sinh thái rừng núi đất.
Mặc dù vậy, cho đến nay chúng ta vẫn chưa xác định được những giảipháp đồng bộ cho hoạt động phục hồi và phát triển rừng trên núi đá vôi tạiVQG Cát Bà, cụ thể là:
- Chưa xác định được tiêu chuẩn phân loại đối tượng cần tác động cho từng điều kiện cụ thể.
- Chưa xây dựng được hệ thống biện pháp kỹ thuật hoàn chỉnh, những quy trình công nghệ có hiệu quả cao cho hoạt động phục hồi và phát triển rừng trong từng điều kiện cụ thể.
- Chưa xác định được tập đoàn cây phù hợp để phát huy tiềm lực kinh tế
và sinh thái cao của rừng trên núi đá vôi.
Để góp phần giải quyết những tồn tại trên, đề tài "Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật phục hồi rừng thứ sinh nghèo trên núi đá vôi tại vùng đệm Vườn Quốc Gia Cát Bà" đã được thực hiện.
Trang 4Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.1 ở ngoài nước
1.1.1 Quan niệm về rừng thứ sinh nghèo và phục hồi rừng thứ sinh nghèo
Tuy khác nhau về ngôn từ hay cách diễn đạt, nhưng cho đến nay thuậtngữ rừng thứ sinh nghèo (Degraded secondary forest) đã được nhận thứcthống nhất trên phạm vi toàn thế giới Rừng thứ sinh nghèo là rừng nằm trongloạt diễn thế thứ sinh, tiềm năng và các chức năng có lợi của rừng đã bị suygiảm dưới tác động của các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội, đặc biệt là tác
động của con người (A.G.Iatxenko, 1976; P.D.Iasenko, 1969; V.N Sukasov,
1957, 1960, 1964; ITTO, 2002) (Dẫn theo Vũ Tiến Hinh và Phạm Văn Điển,
2006 [9])
Quan điểm hiện nay về phục hồi rừng thứ sinh nghèo được chia thành
ba nhóm chính như sau:
Một là, phục hồi rừng là đưa rừng đến trạng thái hoàn chỉnh, tiếp cận
với trạng thái trước khi bị tác động Theo quan điểm này có các tác giả Cairns(1995), Jordan (1995) và Egan (1996)
Hai là, nhấn mạnh hệ sinh thái rừng phải được phục hồi tới mức độ bền
vững nào đó bằng con đường tự nhiên hoặc nhân tạo mà không nhất thiếtgiống như hệ sinh thái ban đầu Đây là quan điểm nhận được nhiều sự tán
đồng nhất Điển hình của quan điểm này là: Harrington, 1999; Kumar, 1999;Bradshaw, 2002; IUCN, 2003; David Lamb, 2003)
Ba là, tập trung vào việc xác định các nguyên nhân và yếu tố rào cản của
quá trình phục hồi rừng Điển hình là nghiên cứu của ITTO (2002) khi nhấn mạnh,những khu vực đất rừng đã bị thoái hoá, hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất thấp,kết cấu không tốt, nhiều mầm bệnh, xói mòn mạnh và lửa rừng
Trang 5Để phục hồi rừng cần phải xác định các nhân tố ảnh hưởng tới sự mấtrừng (stress factors), từ đó hạn chế hoặc loại bỏ chúng Đây được coi như mộtquan điểm, một sự nhìn nhận mới về phục hồi rừng, vì đã bước đầu gắn kếtphục hồi rừng với các yếu tố xã hội, khi nguyên nhân chính gây nên mất rừngtại các nước nhiệt đới chính là con người.
1.1.2 Thành tựu nghiên cứu phục hồi rừng thứ sinh nghèo trên núi đá vôi
Khi nghiên cứu thảm thực vật trên núi đá, đặc biệt trên núi đá vôi ở nhiệt
đới, nhiều chuyên gia về thực vật, địa lý thực vật, thổ nhưỡng đã rất ngạcnhiên trước hệ sinh thái hùng vĩ có vẻ đẹp kỳ diệu và cho nhiều sản phẩm quýgiá Núi đá có đất ít và mỏng, vách núi gần như dựng đứng, sau thời giankhông lâu phần lớn đất sẽ bị gột rửa xuống chân núi Hơn nữa núi đá khikhông có tán rừng che phủ, biên độ nhiệt cao, phong hoá sẽ rất mạnh, đá nứtthành từng tảng và sạt lở rơi xuống Những nghiên cứu này cũng khuyến cáorằng: Một khi rừng núi đá vôi bị tàn phá nặng nề thì rừng rất khó có thể tựphục hồi trở lại, đặc điểm này khác hẳn với hệ sinh thái núi đất Sau khi thảmthực vật núi đá vôi bị mất, dưới các trận mưa lớn và cường độ mạnh ở vùngkhí hậu nhiệt đới ẩm (như ở Việt Nam), chân núi bị thiệt hại, đe doạ đời sống
và sản xuất của con người (dẫn theo Trần Hữu Viên, 2004 [40])
Viện lâm nghiệp Quảng Tây và Quảng Đông - Trung Quốc đã nghiêncứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài cây trên núi đá vôi như: Toona sinensis, Delavaya toxocarpa, Chukrasia tabularis, Excentrodendron tonkinensis trong thời kỳ (1985 – 1998) Những nghiên cứu đó đã được tổng
kết sơ bộ sau nhiều hội thảo khoa học ở Học viện Lâm nghiệp Bắc Kinh với sựtham gia của nhiều nhà khoa học lâm nghiệp đầu ngành của nước này và nhữnghướng dẫn tạm thời về kỹ thuật phục hồi rừng trên núi đá vôi đã được xây dựng.Tuy nhiên, những nguyên lý về phục hồi và phát triển rừng trên núi đá vôi chưa
được tổng kết một cách có hệ thống nên việc áp dụng những hướng dẫn này cho
Trang 6nhiều quốc gia khác, trong đó có Việt Nam còn khiêm tốn và đang trong giai
áp dụng những hướng dẫn này cho nhiều quốc gia khác, trong đó có Việt Namcòn khiêm tốn và đang trong giai đoạn thử nghiệm
1.2 ở trong nước
1.2.1 Quan điểm về rừng thứ sinh nghèo và phục hồi rừng thứ sinh nghèo
Thái Văn Trừng (1970, 1978) và Trần Ngũ Phương (1970) cho rằng,rừng thứ sinh nghèo là rừng thứ sinh đang ở trong loạt diễn thế theo chiềuhướng thoái hoá Trần Ngũ Phương (2000) còn khẳng định tất cả các kiểurừng giàu nguyên sinh hay thứ sinh, dưới tác động phá hoại liên tiếp của conngười, cuối cùng vẫn biến thành trảng cỏ, với phương thức chặt tỉa thưa và táisinh tự nhiên từ rừng nguyên liệu ban đầu sẽ trở thành rừng hạt hay rừng chồi,rừng này sẽ thoái hoá thành rừng chồi và cuối cùng rừng chồi sẽ thoái hoáthành trảng cỏ [27], [28]
Theo Phạm Văn Điển (2006): (1) Rừng thứ sinh nghèo là rừng nghèo vềtrữ lượng và tài nguyên sinh học, nghèo nàn về loài cây mục đích, về chủngloại, số lượng và chất lượng lâm sản (2) Rừng thứ sinh nghèo là rừng nghèocả về giá trị kinh tế, về khả năng đáp ứng nhu cầu kinh tế – xã hội của conngười (3) Rừng thứ sinh nghèo còn là rừng nghèo về năng lực tự phục hồi,
Trang 7biểu hiện rõ nhất thông qua năng lực tái sinh Ngoài ra, rừng thứ sinh nghèocòn là rừng nghèo về khả năng dịch vụ, nghèo về vai trò bảo vệ môi trườngsinh thái, như điều hoà khí hậu, giữ và điều tiết nước, hạn chế xói mòn đất, v.v[7], [9].
Phục hồi rừng trước hết là phục hồi lại thành phần chủ yếu của rừng làthảm thực vật cây gỗ Phục hồi rừng là một quá trình sinh học gồm nhiều giai
đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thế hệ mới thảm cây gỗ bắt đầu khéptán Quá trình phục hồi rừng sẽ tạo điều kiện cho sự cân bằng sinh học xuấthiện, đảm bảo chi sự cân bằng này tồn tại liên tục và cũng vì thế mà chúng ta
sử dụng chúng liên tục được (Võ Đại Hải và cộng sự, 2003) [14]
1.2.2 Nghiên cứu về thảm thực vật rừng trên núi đá vôi
Trong quá trình phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam, Thái Văn Trừng(1978) đã xem xét loại hình thực vật trên núi đá vôi Theo đó rừng trên núi đá vôi
được xác định thuộc kiểu phụ thổ nhưỡng kiệt nước trên đất đá vôi xương xẩu
(Đk) và nằm trong các kiểu thảm thực vật sau:
-Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm nhiệt đới (Rkx).
Đây là kiểu thảm thực vật chủ yếu của rừng trên núi đá vôi với ưu hợpNghiến + Trai lý xuất hiện ở những lèn, sườn núi đá vôi có độ dốc lớn, đặc trưngcủa địa hình Karst, có nhiều khoảng trống lớn để lộ đá gốc, sườn núi thường lởmchởm thấp dưới 700m thuộc một số tỉnh miền Bắc Việt Nam (Cao Bằng, LạngSơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Ninh Bình) Tuy nhiên, do quá trình khaithác và sử dụng quá mức nên diện tích rừng nguyên sinh ít bị tác động còn lại rất
ít, thường nằm ở các VQG và các KBTTN như Cúc Phương, Pù Luông, v.v Kiểuthảm thực vật này hiện nay là những khu rừng thứ sinh trên núi đá vôi, phân bốchủ yếu ở vùng gần dân cư, ven các trục đường, nơi mà việc khai thác vậnchuyển gặp nhiều thuận lợi Tại nhiều nơi, do khai thác mạnh và cháy, rừng đãtrở nên nghèo kiệt, còn ít những loài cây gỗ, tổ thành rừng thay đổi, các loài câymọc nhanh chiếm ưu thế như Mạy tèo, Ô rô, Ba bét, Ràng ràng mít, Chẩn, Do
Trang 8vậy, kiểu thảm thực vật này còn được xác định làkiểu phụ thứ sinh nhân tác trên
đất đá vôi xương xẩu.
- Kiểu rừng kín nửa rụng lá, ẩm nhiệt đới (Rkn):
Rừng trên núi đá vôi có sự kết hợp của nhiều loài cây khác nhau nhưNghiến + Trai lý + Chò nhai + Ô rô cùng các loài rụng lá như Trường sâng, Xoannhừ, Gạo, Dâu da xoan, Lòng mang, Cui rừng, v.v thường gặp trên những sườn
núi đá vôi dốc đứng hoặc tại các thung lũng núi đá vôi với đất dốc tụ, thấp ẩm,thực vật phát triển cao lớn, gần giống với thực vật trên núi đất
- Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp (Rka):
Kiểu rừng này phân bố ở đai cao trên 700m: Chợ Rã (Bắc Cạn), NguyênBình (Cao Bằng), Quản Bạ, Đồng Văn (Hà Giang), và vùng Tây Bắc Đặc điểmnổi bật là thực vật thuộc ngành Hạt trần có tỷ lệ tương đối lớn và tập trung, có cácloài như Thông Pà cò, Sam kim hỷ, Trắc bách Quản bạ, ở độ cao 1000m thuộcvùng Tây Bắc, xuất hiện ưu hợp Kiêng + Heo (Burretiodendron brilletti + Croton pseudoverticillata) thuộc kiểu phụ thổ nhưỡng kiệt nước trên đất rendzina giàu
chất dinh dưỡng
- Kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng, lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp (Rkh)
ở Hà Giang, Tuyên Quang và Ninh Bình độ cao dưới 700m, với ưu hợp Nghiến +Kim giao + Hoàng đàn (Burretiodendron hsienmu + Podocarpus latiofolia + Cupressus terulus) cùng một số loài cây thuộc các họ Thích, Dẻ,
Ngoài ra, tại những khu vực sau hoạt động nương rãy hoặc những khurừng đã bị khai thác nhiều lần đến cạn kiệt ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang,Hoà Bình, Quảng Bình, v.v., xuất hiện dạng thực bì có diện tích tương đối lớn vớinhững loài cây bụi, cây gỗ nhỏ như Ô rô, Mạy tèo, Xẻn gai, v.v Dạng thực bìnày được gọi làQuần lạc cây bụi, cây gỗ rải rác trên núi đá vôi [28].
Trần Ngũ Phương (1970), khi đề cập đến rừng ở miền Bắc Việt Nam đãxếp rừng trên núi đá vôi vào: (1) đai rừng nhiệt đới mưa mùa vớikiểu rừng nhiệt
đới lá rộng thường xanh núi đá vôi, kiểu này có 4 kiểu phụ thổ nhưỡng nguyên
Trang 9sinh 1-2 tầng cây gỗ, trong đó Nghiến là loài cây ưu thế; (2) đai rừng á nhiệt đớimưa mùa vớikiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đá vôi, kiểu này có 3 kiểu phụ
một tầng, trong đó các loài Vân sam (Keteeleria calcarea), Hoàng đàn
(Cupressus terulus) và Kim giao (Podocarpus latiofolia) chiếm ưu thế [20].
Ngoài ra, theo Nguyễn Bá Thụ (1995), rừng trên núi đá vôi ở Cúc Phương
được xếp vàoquần hệ phụ rừng rậm nhiệt đới thường xanh mưa mùa cây lá rộng trên đất thấp (dưới 500m so với mặt nước biển) thoát nước phong hoá từ đá vôi
và quần hệ phụ này bao gồm 6 quần xã, trong đó các loài cây chính tham giagồm Chò đãi, Sấu, Nhội, Vàng anh, Chò nhai, Mạy tèo, Sâng, Dẻ gai, Re đá,Côm lá lớn, Trường nhãn, Vải guốc, Mang cát, Hồng bì rừng và Ô rô
Qua kết quả phân loại thảm thực vật rừng trên núi đá vôi của một số tácgiả trên đây, chúng tôi có nhận xét sau:
Trần Ngũ Phương (1970) chỉ phân loại rừng trên núi đá vôi ở trạng tháinguyên sinh, nên ở kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh núi đá vôi đã pháthiện Nghiến (Burretiodendron hsienmu) là loài cây luôn giữ vai trò ưu thế Trong
thực tế, phần lớn các diện tích rừng trên núi đá vôi hiện nay đã bị tác động, sốlượng tầng và loài cây ưu thế ở các kiểu rừng này đã thay đổi Vì vậy, cách phânchia của Trần Ngũ Phương không phù hợp với những khu rừng thuộc đối tượngnghiên cứu của đề tài [20]
Hệ thống phân loại rừng của UNESCO (1973) mặc dù khá chi tiết và dễdàng vận dụng nhưng chỉ thích hợp cho việc phân loại thảm thực vật trong phạm
vi một vùng khí hậu như phân loại thảm thực vật cho một VQG, KBTTN Hơnnữa hệ thống phân loại này không đề cập đến thảm thực vật nhân tạo nên nóthường được sử dụng trong các công trình nghiên cứu về tính đa dạng của thựcvật
Hệ thống phân loại thảm thực vật rừng của Thái Văn Trừng được xâydựng trên cơ sở học thuyết về hệ sinh thái của Tansley A.P (1935) và họcthuyết sinh địa quần lạc của Sucasev (1957) theo nguyên lý "sinh thái phát
Trang 10sinh thảm thực vật" [19] Do vậy, lý luận của phân loại này hoàn toàn chặt chẽ
và có khả năng áp dụng Để xác định một kiểu rừng chính, theo Thái VănTrừng, chỉ cần dựa vào 4 tiêu chuẩn là dạng sống ưu thế, tàn che, hình tháisinh thái lá và trạng thái mùa của tán lá thuộc tầng cây ưu thế sinh thái Mặt
khác, hệ thống phân loại của Thái Văn Trừng có thể áp dụng cho tất cả cácloại thảm thực vật dù đó là rừng nguyên sinh hay rừng thứ sinh bị tác động,thậm chí là những khu rừng nhân tạo do con người xây dựng [28]
1.2.3 Nghiên cứu về phục hồi rừng thứ sinh nghèo trên núi đá vôi
Việt Nam với diện tích tự nhiên 33,12 triệu ha, trong đó diện tích núi đá1,15 triệu ha (phần lớn là đá vôi già nằm chủ yếu vào giai đoạn Các bon -Pecmi) chiếm 3,5% tổng diện tích cả nước (Viện Điều tra Quy hoạch rừng,1995) [35]
Trường Đại học Lâm nghiệp (1990-1999) đã nghiên cứu xác định đặc
điểm chính của một số loài cây và trồng thử nghiệm tại một số tỉnh biên giớiphía Bắc và miền Trung nước ta [30]
Vườn Quốc gia Cát Bà (Hải Phòng), Vườn Quốc gia Ba Bể (Bắc Cạn) đãtrồng thử cây Kim giao trên núi đá vôi, nhưng vì thiếu những nghiên cứu cơbản trước đó nên những kết quả thu được rất hạn chế, qui mô rừng trồng đãkhông được mở rộng
Việc trồng thử Keo dậu trên núi đá vôi ở Chiềng Sinh (Sơn La) thấyrằng loài cây này sinh trưởng khá tốt Tuy nhiên để phát huy tiềm năng to lớncủa vùng núi đá vôi thì nhiều loài cây bản địa khác của vùng núi đá nên đượctiếp tục nghiên cứu làm cơ sở cho việc xây dựng và phục hồi rừng trên núi đávôi
Theo Nguyễn Huy Phồn, Nguyễn Huy Dũng, Nguyễn Văn Dũng (tạpchí NN&PTNT T8/2001), khả năng phục hồi rừng trên núi đá vôi kém hơntrên núi đất, việc trồng lại rừng trên núi đá là rất khó khăn, do vậy ở nhữngvùng còn cây tái sinh nên đưa vào khoanh nuôi bảo vệ để phục hồi tự nhiên
Trang 11Tuy nhiên, một số vùng đã trồng rừng trên núi đá thành công như: Cao Bằng,Lạng Sơn, Hoà Bình với các loài cây Nghiến, Lát, Mắc Mật, Kháo, Muồngtrắng cần được tiếp tục đánh giá và nhân rộng [1].
Hoàng Kim Ngũ và Bùi Thế Đồi (2002) đưa ra một số giải pháp phụchồi rừng trên núi đá vôi:
+ Đối với kiểu phục hồi trên thổ nhưỡng kiệt nước trên đất đá vôi xươngxẩu ít bị tác động:khoanh nuôi bảo vệ và cải tạo rừng.
+ Kiểu phụ thứ sinh nhân tác trên đá vôi xương xẩu sau khai thác:
khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung bằng gieo hạt thẳng.
+ Kiểu phụ tái sinh nhân tạo phục hồi sau khai thác:khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung và trồng rừng bằng cây con có bầu, không bầu và gieo hạt thẳng.
Khi nghiên cứu hệ sinh thái tại Vườn Quốc gia Pù Mát, Nguyễn ThanhNhàn đã đưa ra một số giải pháp nhằm bảo tồn hệ thực vật trên núi đá vôi:Quản lý bảo vệ rừng, quản lý vùng đệm, nâng cao nhận thức, nâng cao hiệulực thi hành pháp luật
Trần Hữu Viên – Đại học lâm nghiệp (2004) với đề tài “Nghiên cứu cơ
sở khoa học nhằm xây dựng các giải pháp kinh tế - kỹ thuật để quản lý bền vững rừng trên núi đá vôi” đã đưa ra tổng quan hệ thống rừng trên núi đá vôi
ở miền Bắc Việt Nam, đã đề xuất các giải pháp và xây dựng nhiều mô hình tạimột số tỉnh Trong thời gian gần 3 năm, đề tài vừa tiến hành nghiên cứu vừatiến hành xây dựng các mô hình thử nghiệm, bao gồm mô hình quy hoạch sửdụng đất cấp xã, quy hoạch sử dụng đất cấp thôn bản, xây dựng hương ướcthôn bản về QLBVR Đặc biệt các mô hình phục rừng trên núi đá vôi như môhình trồng cây con có bầu, loài cây trồng là Mắc rạc, Mắc mật, Tông dù,Luồng, Lát hoa; Mô hình gieo hạt thẳng, loài cây Mắc rạc và Mắc mật; Môhình khoanh nuôi có trồng bổ sung, loài cây trông bổ sung là Nghiến, Kháo,Lát hoa tại 3 địa phương [40]
Trang 121.2.4 Một số nghiên cứu khác về rừng thứ sinh nghèo trên núi đá vôi
Viện Điều tra - Quy hoạch rừng (1965) cùng với Viện sinh thái tài nguyênsinh vật, Viện Dược liệu, v.v đã nghiên cứu mức độ đa dạng sinh vật, quản lýbảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng trên núi đá vôi ở Cao Bằng và một số địaphương khác
Trong hai năm 1967 và 1968, Nguyễn Vạn Thường và đội Lâm học - Viện
Điều tra Quy hoạch (Bộ Lâm nghiệp) thực hiện điều tra chuyên đề rừng trên núi
đá vôi tại một số khu vực thuộc tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Hoà Bình, CaoBằng, Quảng Ninh Kết quả điều tra đã đưa ra nhận xét khái quát: sự biến đổi các
đặc trưng lâm học của quần hệ rừng trên núi đá vôi miền Bắc Việt Nam có sự saikhác rõ rệt về cấu trúc (ngay cả trong trạng thái rừng nguyên sinh) trên các dạng
địa hình chủ yếu
Báo cáo "Đặc điểm tự nhiên rừng núi đá vôi Na Hang, Tuyên Quang"
(1968) đã đưa ra số liệu về diện tích và trữ lượng tài nguyên rừng núi đá vôi,
đồng thời đã xác định các đặc điểm chủ yếu của một số loài cây trên núi đá vôinhư Nghiến, Trai, Tre trinh, Đao, Báng, v.v và tình hình sâu bệnh hại trong vùng.Ngoài ra, báo cáo này còn đưa ra một số nhận định về tái sinh của Nghiến, Trai
lý, v.v
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về rừng núi đá vôi trên đây chủyếu được thực hiện dưới dạng mô tả, thống kê tài nguyên và đưa ra một số kiếnnghị bảo vệ và kinh doanh rừng Những biến đổi theo chiều hướng tiêu cực của
điều kiện hoàn cảnh núi đá vôi sau khi rừng bị khai thác đã chỉ ra mức độ nghiêmtrọng của việc mất rừng và nhất thiết phải có biện pháp duy trì các diện tích rừnghiện có và khôi phục diện tích rừng đá vôi đã mất
Hoàng Kim Ngũ (1990-1998) đã nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và khảnăng gây trồng các loài cây như Nghiến, Mạy sao, Trai lý, Hoàng đàn, Mắc rạc,Xoan nhừ, Mắc mật, v.v trên núi đá vôi ở Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn Tác giả
Trang 13đã xác định được một số đặc điểm sinh thái và đề xuất kỹ thuật gây trồng nhữngloài cây này ở các địa phương trên Từ năm 1999 tiếp tục trồng thử nghiệm cácloài cây này trên núi đá vôi ở một số địa phương khác ở Cao Bằng, Bắc Cạn,Lạng Sơn và các tỉnh vùng Tây Bắc Tuy nhiên, do còn đang trong thời gian thửnghiệm nên đây chỉ là những khẳng định ban đầu về khả năng thành công củacác mô hình phục hồi rừng, đặc biệt là các mô hình ở vùng Tây Bắc.
1.2.5 Tồn tại nghiên cứu phục hồi rừng thứ sinh nghèo trên núi đá vôi
Mặc dù nghiên cứu phục hồi hệ sinh thái rừng đã phát triển mạnh hơntrong 10 năm qua, nhưng đến nay vẫn còn rất nhiều vấn đề cần được giảiquyết Theo Nguyễn Xuân Quát và cộng sự (2001) có thể xếp thành 2 nhóm:Một là: Cần chọn biện pháp áp dụng cho từng đối tượng rừng thứ sinhvừa dễ làm, vừa rẻ tiền mà vẫn phát triển ổn định và bền vững
Hai là: Cần thu hút được nhiều người dân tham gia công tác quản lý bảo
vệ rừng, gắn được quyền lợi và nghĩa vụ của họ
Từ các nghiên cứu phục hồi rừng trên núi đá vôi, đề tài rút ra một số nhận xét sau:
Nhìn chung, những nghiên cứu phục hồi rừng trên núi đá vôi trên thếgiới và trong nước còn rất ít ỏi và tản mạn chủ yếu dưới dạng mô tả, thống kêtài nguyên và đưa ra một số kiến nghị bảo vệ và kinh doanh rừng Nhưng thựctiễn phục hồi rừng núi đá vôi ở một số địa phương đã cho phép đặt niềm tinrằng: việc phục hồi rừng trên núi đá vôi có thể thành công sau thời gian ngắn,giá thành không quá cao so với trồng rừng mới trên núi đất Đồng thời nhữngnghiên cứu về sự biến đổi điều kiện hoàn cảnh núi đá sau khi rừng bị tàn phácũng chỉ ra sự cần thiết của việc duy trì rừng trên núi đá, hoặc cần nhanhchóng phục hồi rừng núi đá khi chưa muộn
Trang 14Chương 2 Mục tiêu, giới hạn, nội dung
và phương pháp nghiên cứu 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.2 Phạm vi và giới hạn của đề tài
- Về đối tượng nghiên cứu: đề tài chỉ nghiên cứu rừng thứ sinh nghèotrên núi đá vôi
- Về nội dung: đề tài chỉ nghiên cứu những chỉ tiêu cơ bản phản ánh khảnăng phục hồi rừng, thuộc các nhóm nhân tố sinh thái: khí hậu - thuỷ văn, địahình, thổ nhưỡng, thảm thực vật
- Về địa điểm: đề tài chỉ thực hiện tại vùng đệm Vườn Quốc gia Cát Bà
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng của rừng thứ sinh nghèo trên núi đá vôi
2.3.1.1 Đặc điểm địa hình
2.3.1.2 Đặc điểm thổ nhưỡng
2.3.2 Đặc điểm thảm thực vật rừng thứ sinh nghèo trên núi đá vôi
2.3.2.1 Đặc điểm tầng cây cao
- Đặc điểm tổ thành, mật độ, độ tàn che, sinh trưởng và phẩm chất tầng cây cao.
Trang 15- Phân bố số cây theo loài mục đích, loài phi mục đích và loài triển vọng.
2.3.2.2 Đặc điểm cây tái sinh
- Cấu trúc tổ thành và mật độ, phân bố cây tái sinh
- Đặc điểm sinh trưởng, nguồn gốc, chất lượng và số lượng cây tái sinh triển vọng.
2.3.2.3 Đặc điểm cây bụi thảm tươi
2.3.3 Đề xuất giải pháp kỹ thuật phục hồi rừng thứ sinh nghèo trên núi đá vôi
2.3.3.1 Phân chia đối tượng tác động
2.3.3.2 Chọn loài cây triển vọng để phát triển trong rừng núi đá vôi2.3.3.3 Các giải pháp kỹ thuật phục hồi rừng thứ sinh nghèo trên núi đávôi
- Khoanh nuôi bảo vệ rừng
- Xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp trồng bổ sung
- Làm giàu rừng
- Cải tạo rừng
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu
Trong quá trình thực hiện, đề tài đã kế thừa các tư liệu sau:
+ Những tư liệu về điều kiện tự nhiên ở địa bàn nghiên cứu: khí hậu, thuỷvăn, địa hình, thổ nhưỡng, tài nguyên rừng, tài nguyên đất, tài nguyên đa dạngsinh học
+ Những tư liệu về điều kiện kinh tế: cơ cấu ngành nghề, sản xuất hànghóa, nguồn vốn, chi phí, thu nhập, lưu thông, tiêu dùng, tích luỹ, thị trường,năng suất, sản lượng, v.v
Trang 16+ Những tư liệu về điều kiện xã hội ở địa bàn nghiên cứu: dân số, dântộc, lao động, phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, kiến thức bản địa,chính sách của Nhà nước, quy định của địa phương, vấn đề sở hữu, sử dụng
đất đai v.v
+ Những kết quả nghiên cứu liên quan đến khoanh nuôi phục hồi rừng:quy luật tái sinh, diễn thế, điều kiện thổ nhưỡng, điều kiện tiểu khí hậu, đặc
điểm sinh thái loài, kinh nghiệm trong khoanh nuôi phục hồi rừng v.v
+ Những văn bản liên quan đến phục hồi rừng: các quy phạm liên quan
đến khoanh nuôi và làm giàu rừng, chiến lược phát triển lâm nghiệp của Nhànước, của địa phương, kết quả thử nghiệm các phương pháp chuyển giao tiến
bộ kỹ thuật, phát triển công nghệ có người dân tham gia, kết quả của cácchương trình, dự án tại khu vực nghiên cứu v.v
2.4.2 Phương pháp thực nghiệm
a Lập ô tiêu chuẩn
- Do địa hình núi đá vôi phức tạp, chia cắt, trạng thái thảm thực vật trênnúi đá vôi cũng không đồng đều nên số lượng ô tiêu chuẩn phụ thuộc vào điềukiện thực tế Từ kết quả khảo sát tình hình rừng, đề tài đã lập 18 OTC đại diệncho các trạng thái rừng phổ biến tại khu vực nghiên cứu
- Hình dạng và kích thước ô tiêu chuẩn: ô tiêu chuẩn sơ cấp có dạng hìnhvuông, mỗi chiều là 50m, diện tích 2500m2 để xác định trạng thái thảm thựcvật, và các tiêu chí liên quan, đồng thời là phần đệm của ô bán định vị Ô tiêuchuẩn bán định vị hình chữ nhật, với chiều dài 50m và chiều rộng 20m (1000
m2) Cạnh dài của ô tiêu chuẩn được bố trí theo hướng song song với đường
Trang 17+ Đại diện cao cho từng đối tượng rừng thứ sinh nghèo.
+ Phân bố trải đều trong tất cả các đối tượng khoanh nuôi và bao quát
được sự biến động của từng đối tượng khoanh nuôi
+ Xác định được vị trí của ô tiêu chuẩn trên bản đồ
b Điều tra các chỉ tiêu trên ô tiêu chuẩn
- Địa hình: độ cao tuyệt đối (m), độ cao tương đối (m), độ dốc mặt đất(độ), hướng phơi (dùng địa bàn cầm tay và GPS)
- Điều kiện thổ nhưỡng: loại đất, độ dày tầng đất, độ xốp đất, hàm lượngmùn tầng đất mặt (độ sâu 0 - 10 cm) Tại mỗi ô tiêu chuẩn lấy 2 mẫu đất,trong đó mẫu thứ nhất là mẫu tổng hợp theo phương pháp 9 điểm; mẫu thứ hailấy tại một vị trí điển hình về chỉ tiêu dung trọng đất Các mẫu đất được chovào túi nilon, ghi rõ số hiệu và tiến hành phân tích tại phòng phân tích đấtTrường Đại học Lâm nghiệp
- Lớp thảm thực vật được điều tra cụ thể trên ô tiêu chuẩn định vị và bán
+ Cây bụi thảm tươi: xác định loài, độ che phủ, chiều cao
- Lớp thảm khô, thảm mục: tính tỷ lệ của lớp thảm khô, thảm mục
- Mỗi ô đều vẽ trắc đồ dọc và trắc đồ ngang
- Tình hình tác động của sinh vật và con người: hoạt động chăn thả giasúc, hoạt động canh tác
Trang 18- Một số chỉ tiêu khác có liên quan: tình hình cháy rừng, mức độ xóimòn đất, v.v.
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm SPSS và Excel để xử lý các số liệu thu thập, cụ thểnhư sau:
- Đặc điểm địa hình được đề cập gồm: độ dốc mặt đất, độ cao tuyệt đối,
hướng phơi của 18 OTC được nhập vào bảng tính Excel để đánh giá, nhận xét
- Đặc điểm thổ nhưỡng: những chỉ tiêu phân tích gồm tỷ trọng, dungtrọng, hàm lượng mùn, độ xốp, hàm lượng N, P, K dễ tiêu và độ pH Tất cảcác chỉ tiêu này được phân tích bằng các phương pháp phân tích đất chuyênngành tại phòng thí nghiệm của trường Đại học Lâm nghiệp
- Đặc điểm cấu trúc tầng cây cao
a Tổ thành tầng cây cao:
Tổ thành thực vật là tỷ lệ của loài cây hay nhóm loài cây chiếm trongQXTV rừng Hệ số tổ thành của các loài cây thường được xác định theo số câyhoặc theo tiết diện ngang Công thức biểu thị hệ số tổ thành của các loài câytrong QXTV rừng được gọi là công thức tổ thành Trên quan điểm sinh thái
người ta thường xác định tổ thành tầng cây cao theo số cây còn trên quan điểmsản lượng, người ta lại xác định tổ thành thực vật theo tiết diện ngang hoặc theotrữ lượng
Để xác định tổ thành tầng cây cao, đề tài sử dụng phương pháp xác định
mức độ quan trọng (Important Value - IV%) của Daniel Marmillod:
(2-1)
Trong đó: IVi% là tỷ lệ tổ thành (độ quan trọng) của loài i
Ni% là % theo số cây của loài i trong QXTV rừngGi% là % theo tổng tiết diện ngang của loài i trong QXTVrừng
Theo Daniel M., loài cây có IV% 5% mới thực sự có ý nghĩa về mặt sinhthái trong QXTV rừng Những loài cây xuất hiện trong công thức tổ thành là loài
có IV% giá trị bình quân của tất cả các loài tham gia trong QXTV rừng Trong
Trang 19một quần xã nếu một nhóm dưới 10 loài cây có tổng IV% 40%, chúng đượccoi là nhóm loài ưu thế và tên của QXTV rừng được xác định theo các loài đó.
ô
S
n ha N
- Đặc điểm tái sinh:
a Tổ thành cây tái sinh
Đề tài xác định tổ thành tái sinh rừng theo số cây, hệ số tổ thành của từngloài được tính theo công thức:
Ki: Hệ số tổ thành loài thứ i
Ni: Số lượng cá thể loài iN: Tổng số cá thể điều tra
b Mật độ cây tái sinh
Trang 20Là chỉ tiêu biểu thị số lượng cây tái sinh trên một đơn vị diện tích, đượcxác định theo công thức sau:
dt S
n ha
c Chất lượng cây tái sinh
Nghiên cứu tái sinh theo cấp chất lượng tốt, trung bình và xấu đồng thờixác định tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng nhằm đánh giá một cách tổng quát tìnhhình tái sinh đang diễn ra tại khu vực nghiên cứu
e Phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng ngang
Để tài nghiên cứu hình thái phân bố của cây tái sinh trên bề mặt đất thôngqua xác định khoảng cách từ một cây tái sinh chọn ngẫu nhiên đến cây gần nhất
Sử dụng tiêu chuẩn U (phân bố chuẩn) của Clark và Evans để đánh giá với dunglượng quan sát (n) đủ lớn, qua đó dự đoán giai đoạn phát triển của QXTV rừngtrong khu vực:
26136,
0
.5,0
Nếu: /U/ < 1,96 thì tổng thể cây tái sinh có phân bố ngẫu nhiên
U > 1,96 thì tổng thể cây tái sinh có phân bố đều
U < -1,96 thì tổng thể cây tái sinh có phân bố cụm
- Phân chia đối tượng tác động: Phương pháp chung là dựa vào các chỉ
tiêu địa hình, thổ nhưỡng, thảm thực vật thông qua đánh giá điểm về mức độphù hợp của từng nhân tố
Trang 21- Chọn loài cây có triển vọng: Phương pháp chung là điều tra đánh giá
các tiêu chuẩn cụ thể về kinh tế, sinh thái phản ánh mức độ phù hợp của từngloài
- Đề xuất giải pháp tác động: Từ kết quả của việc phân chia đối tượng
tác động, đối tượng nào có điểm cao nhất tức là có mức độ phù hợp nhất, cótiềm năng nhất thì chọn giải pháp ít phải tác động nhất và ngược lại
Trang 22Cát Bà nằm trong khoảng toạ độ địa lý sau:
- Phía Đông và Đông Nam giáp với vịnh Lan Hạ
3.1.2 Đặc điểm địa hình, địa thế
Đảo Cát Bà có độ cao trung bình là 100m, những đỉnh có độ cao trên200m không nhiều, cao nhất có đỉnh Cao Vọng 322m Các đảo nhỏ có đầy đủcác dạng địa hình của một miền Karst bị ngập nước biển Nhìn chung, Cát Bà
có các kiểu địa hình chính như sau:
+ Kiểu địa hình núi đá vôi
+ Kiểu địa hình đồi đá phiến
+ Kiểu địa hình thung lũng giữa núi
+ Kiểu địa hình bồi tích ven biển
Trang 233.1.3 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng
+ Địa chất
Khu vực Cát Bà cũng như phần Đông Bắc Việt Nam có lịch sử pháttriển địa chất lâu dài, từng là một bộ phận của cấu trúc uốn nếp caledoni đánhdấu sự kết thúc chế độ địa máng biển sâu Karstzia vào cuối kỷ Silua
+ Thổ nhưỡng
Khu vực này có các loại đất sau:
Đất Feralit đỏ nâu phát triển trên đá vôi (Fv):
Đặc điểm: Đất màu đỏ nâu, khô, trung tính, ít chua và khá giàu mùn, tầng
đất dày 30 - 40 cm Phân bố trên sườn ít dốc hay trong hốc đá vôi, có nhiều ởcác xã Trân Châu, Gia Luận, Việt Hải
Đất Feralit nâu đỏ dốc tụ chân núi đá vôi (Tv)
Hình thành do quá trình dốc tụ Đất có màu vàng đỏ, thường ẩm, tầng dày từ
50 - 100 cm, trung tính, cấu tượng viên hơi chặt, thành phần cơ giới nặng, giàumùn, phù hợp cho trồng cây ăn quả như; Cam, Quýt, Nhãn, Vải
Đất Feralit nâu vàng phát triển từ các sản phẩm phong hóa đá vôi dốc
tụ hỗn hợp (Th):
Đất màu nâu vàng, trung tính, ít chua, giàu mùn, thường bị khô hạn vàomùa khô, nơi thấp có thể bị úng nước cục bộ Phân bố ở các thung lũng rộng
có nước chảy trên mặt như thung lũng Trung Trang, Việt Hải, Gia Luận, Đồng
Cỏ, v.v Đất này đã được sử dụng để trồng rừng, cây ăn quả và hoa màu
Đất dốc tụ thung lũng(Tl):
Được phân bố trong các thung lũng, giếng Karst Đất có màu nâu đến vàngnhạt, tầng dày 80 - 100 cm Giàu mùn, trung tính đến chua Mùa mưa có thể
bị ngập nước tạm thời, mùa khô thiếu nước Một số diện tích đã được khai phátrồng lúa và hoa màu
Đất bồi chua mặn (Db):
Trang 24Đặc điểm: đất này là loại đất hỗn hợp biển, đầm lầy ở bãi triều cao Phân bố ởxã Xuân Đám về phía biển, sau này được đắp đê ngăn mặn, cải tạo để cây lúa
1 - 2 vụ
Đất mặn Sú vẹt (D4P2):
Đặc điểm: Bùn lỏng, hình thành do thuỷ triều, rất mặn Phân bố tập trung chủyếu khu vực Cái Viềng, xã Phù Long và rải rác ở một số nơi quanh đảo (thuộcbãi triều thấp) Tại đây hình thành rừng ngập mặn khá tốt và là hệ sinh thái
độc đáo của đảo Cát Bà
3.1.4 Đặc điểm khí hậu thuỷ văn
* Đặc điểm khí hậu
Cát Bà thuộc chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa và chịu ảnh hưởng trựctiếp của khí hậu đại dương, có gió mùa Tây Nam về mùa hạ và gió mùa ĐôngBắc về mùa đông, ít khắc nghiệt hơn các vùng có cùng vĩ độ ở đất liền Tuynhiên, do sự khác biệt về địa hình, và ảnh hưởng của biển, nhất là ảnh hưởngcủa các yếu tố độ cao, hướng núi, thảm thực vật rừng mà chế độ khí hậu cũng
có sự khác nhau giữa các khu vực, trong vùng
+ Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình năm là: 23,60 C Tháng có nhiệt độ cao nhất làtháng 7, nhiệt độ trung bình từ 28 -290 C, cao nhất 320 C Tháng có nhiệt độthấp nhất là tháng 1, nhiệt độ trung bình từ 16 - 170C, thấp nhất 100C, đôi khixuống tới 50C Mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa lạnh từ tháng
11 đến tháng 4 năm sau Giữa hai mùa chênh lệch từ 11 - 120C
Tổng số ngày nắng trong năm giao động từ 150 đến 160 ngày, thángcao nhất có 188 giờ nắng là tháng 5, tháng7
+ Lượng mưa
Trang 25Lượng mưa bình quân năm là: 1.500 2.000 mm Mùa mưa từ tháng 5
-10, chiếm 80% - 90% tổng lượng mưa cả năm Một năm có hai mùa rõ rệt,mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
+ Gió bão
Trong vùng, có hai loại gió chính: về mùa khô là gió Đông- Đông bắc,
về mùa mưa là gió Đông, Đông Nam Bão thường xuất hiện từ tháng 6 đếntháng 10, bình quân có 2,5 trận bão/năm Bão thường kéo theo mưa lớn gây lụtlội, nhất là trong các thung, áng Bão kèm theo mưa lớn gây ảnh hưởng nặng
đến các hệ thống đê, các khu vực canh tác nuôi trồng thuỷ sản
3.1.5 Thảm thực vật rừng
Tiêu biểu nhất trong các kiểu thảm thực vật ở quần đảo Cát Bà là kiểurừng kín thường xanh mưa ẩm trên núi đá vôi và kiểu thảm rừng cây ngập mặnven biển, cửa sông Ngoài ra, trong khu vực cũng đã xuất hiện một số kiểuthảm thực vật đặc thù và khá hiếm hoi đó là kiểu thảm cây ngập nước trên núicao (loài cây hầu như chỉ phân bố ở miền Tây Nam Bộ)
Ngoài các kiểu thảm thực vật rừng, chiếm vai trò chủ đạo còn có kiểuthảm cây nông nghiệp Loại thảm này bao gồm: rừng trồng, cây nông nghiệpcây ăn quả, cây lâu năm, nuôi trồng thuỷ sản
Dưới đây là biểu thống kê diện tích các kiểu thảm thực vật trong khuvực quần đảo Cát Bà thuộc 6 xã và thị trấn Cát Bà:
Bảng 3.1 : Thống kê diện tích các kiểu thảm thực vật rừng đảo Cát Bà
Trang 261 Rừng nguyên sinh TX mưa ẩm trên núi đá vôi 1045,2 6
Thảm thực vật rừng có diện tích là 15.510 ha, chiếm 52% tổng diện tích
tự nhiên, dưới đây là các kiểu thảm thực vật VQG Cát Bà đã được điều tra,
đánh giá năm 2005:
- Thảm rừng nguyên sinh lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
- Thảm rừng thứ sinh nghèo lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới phụchồi trên núi đá vôi
- Thảm rừng thứ sinh tre nứa phục hồi sau nương rẫy
- Thảm rừng ngập mặn
- Thảm rừng trồng
- Thảm rừng cây ngập nước thung núi đá vôi
- Thảm cỏ, cây bụi, cây tái sinh trên núi đá vôi
- Thảm cỏ, cây bụi, cây tái sinh trên núi đất
Thảm thực vật rừng thuộc đối tượng nghiên cứu của đề tài làthảm rừng thứ sinh nghèo lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới phục hồi trên núi đá vôi, đặc điểm chính của nó như sau: rừng phục hồi sau khai thác trên núi đá
Trang 27vôi, phân bố thành từng mảng tương đối lớn, rải rác ở các độ cao từ 100 m
-300 m tại khu vực nghiên cứu, sinh trưởng phát triển kém, việc phục hồi rừngdiễn ra khó khăn và rất chậm Thực vật chiếm ưu thế là: Nghiến
(Excentrodendron tonkinense), Trai (Garcinia fagraeoides), Mạy tèo, Teo
nông(Streblus spp.), Lát hoa (Chukrasia tabularis), Sâng (Pometia pinnata), Cà lồ (Caryodaphne tonkinensis), Đinh (Fernandoa spp.), Vàng anh (Saraca dives), v.v
3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
(Nguồn: UBND các xã, thị trấn Cát Bà và Niên giám thống kê huyện – 2007)
Dân cư phân bố không đồng đều với mật độ bình quân các xã vùng đệm
là 127người/km2 Thành phân dân tộc chủ yếu là người Kinh tập trung ở khuvực có vị trí thuận lợi hơn về các hoạt động mưu sinh
- Lao động
Tỷ lệ lao động nam và nữ không biến động nhiều trong những năm qua
và số lao động nữ thường cao hơn nam một chút Trong năm 2004 tỷ lệ lao
động nữ chiếm 50,9%, lao động nam chiếm 49,1% Cơ cấu dân số và lao động
được phản ánh chi tiết ở dưới đây:
Trang 28Bảng 3.3: Cơ cấu dân số và lao động khu vực đảo Cát Bà
Nguồn: UBND các xã, thị trấn Cát Bà và Niên giám thống kê huyện - 2007
- Hoạt động sản xuất kinh tế chủ yếu
+ Sản xuất nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong nền kinh tế củahuyện (trên toàn huyện chỉ chiếm 1,5% tổng GTSX và 2,3% GDP huyện năm2004) Các sản phẩm chủ yếu là lúa, ngô, khoai, sắn, đậu, lạc, rau xanh, hoaquả tươi và chăn nuôi gia súc gia cầm các loại Hướng sản xuất theo mô hìnhnày tập trung vào các loài cây, con có sản lượng và giá trị kinh tế cao, phục vụnhu cầu tại chỗ của nhân dân trên đảo và khách du lịch
+ Lâm nghiệp
Do diện tích rừng trên đảo Cát Bà phần lớn thuộc diện tích của VQGCát Bà quản lý, nên diện tích đất Lâm nghiệp thuộc địa bàn các xã vùng đệmkhông nhiều Cho đến nay, Hạt kiểm lâm huyện phối hợp với Hạt kiểm lâmVQG đã chỉ đạo thực hiện được một số công việc như sau:
Trang 29- Khai thác thuỷ sản : Vịnh Cảng Cát Bà được đầu tư xây dựng khá
kiên cố, có sức tiếp nhận gần 1000 phương tiện tàu, thuyền lớn nhỏ, ngoài ra
đảo Cát Bà còn có rất nhiều Vụng Vịnh kín gió được huyện quy hoạch làm nơitránh trú bão an toàn
- Nuôi trồng thuỷ sản
Những năm qua mặc dù diện tích nuôi trồng trên địa bàn không có sựthay đổi lớn, tuy nhiên sản lượng nuôi trồng lại tăng lên rất lớn Trong đó, việcnuôi trồng thuỷ sản được chia làm hai hình thức là nuôi cá lồng bè và nuôi
đầm hồ Nhìn chung, việc nuôi trồng thuỷ sản trong khu vực có sản lượng tăngnhanh với một số loài cá có giá trị kinh tế cao trong xuất khẩu như; Tù hài, CáSong, Cá Hồng, Cá Thác, Cá Vược… nhưng hiệu quả nuôi trồng trong nhữngnăm qua là không cao, nguyên nhân chính là do thiếu quy hoạch, sắp xếp, bố tríhợp lý về nghề nuôi cá lồng bè, nghề nuôi đầm tôm và công tác vệ sinh môi trường
ở các khu vực nuôi cá lồng bè và nuôi tôm chưa được quan tâm đúng mức từ cácnhà quản lý và ý thức về môi trường của người dân còn kém như vứt rác thải bừabãi dẫn đến ô nhiễm môi trường
Tóm lại, với những yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội nổi bật trên đây cho thấythảm thực vật rừng ở khu vực nghiên cứu đang phục hồi nhưng với cường độchậm, điều kiện sinh sống của người dân địa phương có ảnh hưởng tới nguồn tàinguyên rừng, tới khả năng phục hồi của rừng Vì vậy việc đề xuất các giải phápphục hồi rừng ở đây là rất cần thiết
Trang 30Chương 4
Kết quả nghiên cứu và thảo luận4.1 Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng của rừng thứ sinh nghèo trên núi đá vôi
4.1.1 Địa hình
Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng tại vùng đệm Vườn Quốc gia Cát Bà được
đánh giá thông qua điều tra 18 ô tiêu chuẩn, kết quả cho thấy:
Bảng 4.1: Đặc điểm địa hình của các OTC nghiên cứu
Trang 31Các OTC chủ yếu nằm ở độ cao từ 45m – 100m, hướng phơi chủ yếu là
Đông – Nam, Tây, Tây – Tây Bắc và Tây – Tây Nam
- Độ dốc giữa các ô tiêu chuẩn biến động tương đối lớn, từ 150 đến 320
Trang 32Đất Feralit nâu đỏ dốc tụ chân núi đá vôi được hình thành do sườn tích
đất từ đỉnh và sườn núi trượt xuống Đất có màu vàng đỏ, thường ẩm, tầng dầy
từ 50 – 100cm, trung tính, kết cấu viên hơi chặt, thành phần cơ giới nặng, giầumùn, phù hợp cho các thảm thực vật rừng phát triển
Kết quả nghiên cứu trên 18 OTC cho thấy:
- Độ dầy tầng đất biến động lớn giữa các ô tiêu chuẩn, tập trung số ô ở
cấp độ dày 50 đến 100cm Phần lớn số ô có độ dày tầng đất trung bình (bảng4.3)
Bảng 4.3: Phân chia số ô tiêu chuẩn theo độ dày tầng đất
Độ xốp (%)
Mùn (%)
N dễ tiêu (ldl/100gđ)
P dễ tiêu (ldl/100gđ)
Trang 33* Về các tính chất vật lý
- Tỷ trọng đất
Trang 342.35 2.4 2.45 2.5 2.55 2.6 2.65
và chất hữu cơ trong đất, đặc biệt là tỷ lệ khoỏng cú mặt trong đất
Tỷ trọng của đất trên các trạng thái biến động từ 2,47 – 2,65 g/cm3.Theo đỏnh giỏ của Katrinski thỡ tỷ trọng của đất tại cỏc vị trớ nghiờn cứu ởmức trung bỡnh
- Dung trọng đất
Trang 350 0.2 0.4 0.6 0.8 1 1.2
g/cm 3
1 3 5 7 9 11 13 15 17 OTC
Hỡnh 4.2: Dung trọng đất trờn cỏc OTC
Dung trọng là một trong cỏc chỉ tiờu vật lớ cơ giới cơ bản của đất Dungtrọng của đất núi lờn hàm lượng chất hữu cơ và hàm lượng mựn trong đất.Cỏc loại đất giàu chất hữu cơ và mựn thỡ dung trọng thường nhỏ và ngược lạiloại đất chặt, bớ, kộm tơi xốp thỡ dung trọng lớn Trong phẫu diện của phầnlớn cỏc loại đất dung trọng cú chiều hướng tăng dần khi xuống tầng đất sõu,
do quỏ trỡnh tớch tụ sột và cỏc vật liệu mịn từ trờn đưa xuống Dung trọngphản ỏnh kết cấu đất, dung trọng càng lớn thỡ đất càng chặt
Kết quả bảng trên cho thấy dung trọng của đất giữa các trạng thái dao
động từ 2,47 - 2,65g/cm3 Các OTC thuộc trạng thái Ic thường có dung trọnglớn, biểu hiện sự bí chặt, cằn cỗi của đất
- Độ xốp (%)
Trang 360 5 10 15 20 25 30 35 40 45
động trong khoảng là 23,87 - 34,54% trong khi các OTC thuộc trạng thái ICcó
độ xốp bình quân dao động xung quanh chỉ số 28% Điều đó cho thấy tácdụng lớn của rừng, đặc biệt là tầng cây cao, lớp cây này làm cho đất ngàycàng tơi xốp hơn, mùn nhiều hơn, làm tăng kết cấu đất hay nói cách khác làlàm cho đất tốt hơn Tác dụng chủ yếu của tầng cây cao là do tán nhiều tầnglàm giảm lực tác động cả giọt mưa, hệ rễ cây chằng chịt, ăn sâu vào đất, đàoxới đất, làm tăng độ xốp đất
* Về tính chất hoá học:
- Hàm lượng mùn
Trang 370 0.5 1 1.5 2 2.5 3 3.5 4
%
1 3 5 7 9 11 13 15 17 OTC
Hỡnh 4.4: Hàm lượng mựn trờn cỏc OTC
Mựn là chỉ tiờu hoỏ tớnh quan trọng số một được sử dụng để đỏnh giỏ
độ phỡ của đất, nú ảnh hưởng đến mọi tớnh chất vật lớ, hoỏ học và sinh học đất.Mựn là hợp chất chứa nguồn dinh dưỡng cho cõy trồng Mựn cũn được coi làkho dự trữ chất dinh dưỡng như nitơ, phụtpho, lưu huỳnh….bổ sung cho cõytrồng thụng qua quỏ trỡnh khoỏng hoỏ Khi phõn giải chất hữu cơ, mựn làmtăng CO2 cho khụng khớ đất và lớp khụng khớ gần mặt đất tạo điều kiện thớchhợp cho sự quang hợp của cõy trồng Ngoài ra, mựn cũn cú ý nghĩa là chấtđệm pH cú chứa cỏc sinh tố kớch thớch sinh trưởng đối với cõy trồng, v.v
Kết quả nghiên cứu cho thấy, hàm lượng mùn ở các trạng thái nghiêncứu rất khác nhau, biến động từ 1,2 - 3,65 % và các OTC thuộc trạng thái IIA
và IIIA1 có hàm lượng mùn cao hơn các OTC thuộc trạng thái IC , điều nàykhẳng định tác dụng to lớn của lớp phủ thực vật Trạng thái IIA và IIIA1 có lớpphủ thực vật với tầng cây cao sinh trưởng phát triển khá tốt, hàng năm trả lạicho đất nhiều chất dinh dưỡng, tạo môi trường thuận lợi cho các vi sinh vật đấtphát triển, cải thiện môi trường đất, làm cho đất ngày càng tốt hơn
Trang 38- Các chất dễ tiêu trong đất (N, P, K): Mỗi trạng thái rừng có các đặctrưng riêng về thành phần loài, tầng thứ, tổ thành, đặc điểm tái sinh, v.v do
đó đặc điểm đất đai cũng rất khác nhau Hàm lượng các chất dễ tiêu cao ở cácOTC thuộc trạng thái IIA, IIIA1 (NH4+ từ 4,26 – 5,79 ldl/100gđ; K2O từ 4,83 -7,01ldl/100gđ; P2O5 từ 0,51 – 0,89 ldl/100gđ), ngược lại rất thấp ở các OTCthuộc trạng thái IC (NH4+ từ 2,91 – 3,48 ldl/100gđ; K2O từ 3,41 – 3,55ldl/100gđ; P2O5từ 0,22 – 0,33 ldl/100gđ) Như vậy, các trạng thái có rừng đất
có tính chất tốt hơn rất nhiều so với nơi tán rừng đã bị mất, đây là lý do tại saophải phục hồi và phát triển rừng trong mọi điều kiện có thể
- Độ pH
6.66 6.68 6.7 6.72 6.74 6.76 6.78
Việc nghiên cứu các tính chất lý, hoá của đất là rất quan trọng, nó cho
ta thấy tầm quan trọng của lớp phủ thực vật, đặc biệt là sự có mặt của tầng câycao Kết quả nghiên cứu cho thấy, nếu đất được che phủ bởi lớp thực vật nhiều
Trang 39tầng tán, nhiều lớp với hệ rễ chằng chịt thì các tính chất lý, hoá càng được cảithiện Mặt khác, các tính chất lý, hoá của đất cũng là cơ sở để chọn loài câytrồng rừng phù hợp Các loài được lựa chọn không chỉ phù hợp với mục tiêukinh doanh mà còn phải phù hợp với điều kiện tự nhiên trong đó có đặc điểmcủa đất Từ đó cũng cho thấy nhu cầu của việc phục hồi lại rừng, tăng cườnglớp phủ thực vật bằng các loài vừa có giá trị kinh tế, vừa có tác dụng cải tạo
đất, nhằm nâng cao trữ lượng, chất lượng rừng, nâng cao tác dụng về môitrường sinh thái, cảnh quan và vai trò khoa học, v.v của rừng
4.2 Đặc điểm thảm thực vật rừng trên núi đá vôi
4.2.1 Tầng cây cao
Tầng cõy cao là thành phần quan trọng của quần xó thực vật rừng, cúvai trũ quan trọng trong việc hỡnh thành tiểu hoàn cảnh rừng, điều tiết tỏi sinhrừng và ảnh hưởng đến chiều hướng diễn thế của rừng Sự đa dạng và phongphỳ của tổ thành tầng cõy cao là do đặc thự của từng trạng thỏi hoàn cảnhrừng và là sự tỏc động tổng hợp của nhiều nhõn tố tạo thành hệ sinh thỏi rừngnhư điều kiện thổ nhưỡng, địa hỡnh, hướng phơi, đai cao, nhiệt ẩm và tỏcđộng của con người Bản chất của phục hồi rừng trước hết là khôi phục tầngcây gỗ, vì vậy nghiên cứu tầng cây cao là một trong những cơ sở khoa họcquan trọng cho việc phân loại và đề xuất các giải pháp phục hồi rừng
* Trạng thái IC
Có 6 OTC nghiên cứu thuộc trạng thái IC, đây là những OTC nằm ở khuvực gần khu dân cư, tầng cây gỗ đã bị phá vỡ gần như hoàn toàn, chỉ còn sótlại một vài cây tạp, ưa sáng; lớp cây bụi thảm tươi sinh trưởng phát triểnmạnh, nhiều loài tái sinh có triển vọng Các chỉ tiêu điều tra trên các OTC này
là loài cây, mật độ và các chỉ tiêu sinh trưởng D1.3, Hvn, kết quả được trìnhbày ở bảng 4.5
Trang 40Bảng 4.5: Một số đặc điểm tầng cây cao ở trạng thái I C
* Trạng thái IIA