Tiểu luận về môn học Quản trị sản xuất và điều hành chuyên ngành Quản trị Kinh doanh. Giúp các bạn hiểu rõ hơn về nhiều qui trình sản xuất của các doanh nghiệp
Trang 1ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT HIỆN
ĐẠI TRONG NGÀNH CƠ KHÍ Ô TÔ
Giáo viên hướng dẫn : TS Võ Tấn Phong Sinh viên thực hiện : Nhóm 16
Lớp : Cao học QTKD K8
Trang 2ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT HIỆN
ĐẠI TRONG NGÀNH CƠ KHÍ Ô TÔ
Giáo viên hướng dẫn : TS Võ Tấn Phong Lớp : Cao học QTKD K8 Học viên thực hiện : Nhóm 16
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Quản trị sản xuất và điều hành liên quan đến việc quản trị các nguồn lực và hoạt động sản xuất và cung cấp các hàng hóa và dịch vụ cho khách hàng Qua thời gian học tập và nghiên cứu chúng em đã được sự chia sẽ của tập thể lớp QTKD K8 Đặc biệt là sự chỉ dạy, hướng dẫn, giúp đỡ của thầy tiến sĩ Võ Tấn Phong đã truyền đạt kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu Bài tiểu luận “Áp dụng phương pháp sản xuất hiện đại trong ngành cơ khí ô tô” được nhóm nghiên cứu thực hiện trong thời gian gần 4 tuần, Bước đầu đi vào thực tế, tìm hiểu về vấn đề quản trị hiện đại trong sản xuất, kiến thức của chúng em còn hạn chế và còn nhiều bỡ ngỡ Do vậy, không tránh khỏi những thiếu sót là điều chắc chắn, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của Thầy để kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn Sau cùng, em xin kính chúc Thầy dồi dào sức khỏe, niềm tin để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau.
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN :
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Biên Hòa, ngày 18 / 4 / 2017
Giảng viên hướng dẫn
TS Võ Tấn Phong
Trang 5MỤC LỤC
1 Cơ sở lý thuyết just in time (J.I.T) 1
1.1 Một số khái niệm và lịch sử phát triển 1
1.1.1 Khái niệm 1
1.1.2 Lịch sử và phát triển 1
1.1.3 Hệ thống “Kéo”: 2
1.1.4 Thẻ Kanban 2
1.2 Các yếu tố chính của hệ thống JIT 3
1.2.1 Sản phẩm có chất lượng 3
1.2.2 Linh hoạt 3
1.2.3 Tạo năng suất cao: 4
1.2.4 Tăng diện tích hữu ích: 4
1.2.5 An toàn lao động cao: 4
1.2.6 Tạo động lực làm việc cho người lao động: 4
1.2.7 Giảm chi phí lưu kho: 4
1.3 Những ưu điểm và hạn chế của JIT 4
1.3.1 Ưu điểm chính của JIT 4
1.3.2 Hạn chế của JIT 4
1.3.3 Phạm vi và điều kiện áp dụng Just in time 6
2 Ứng dụng phương pháp sản xuất hiện đại trong sản xuất ô tô 9
2.1 Giới thiệu Công ty Toyota Việt Nam 9
2.2 Hệ thống sản xuất của Toyota 9
2.3 Thành quả và những dấu ấn đáng ghi nhớ của Toyota 10
2.4 Bí quyết thành công của Toyota 11
3 KẾT LUẬN 14
Trang 6Lời nói đầu
Theo một số khái niệm phổ biến thì sản xuất (Production) được hiểu là một quátrình (Process) tạo ra sản phẩm (Goods) hoặc dịch vụ (Services)
Khoa học và công nghệ cơ khí chế tạo của thế giới trong thế kỷ XX đã có nhữngbước phát triển nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại như: Công nghệ thông tin, vậtliệu nano, tự động hoá ,nhờ áp dụng các phương pháp sản xuất hiện đại như: (Just-In-Time - JIT) “đúng sản phẩm với đúng số lượng tại đúng nơi vào đúng thời điểm”, Sảnxuất theo nhu cầu (Manufaturing on demand), Các phương pháp xác định chi phí sảnxuất (Chi phí mục tiêu, chi phí dựa trên hoạt động…), Phương pháp cải tiến (Kaizen)
…
Theo như lịch sử của ngành cơ khí sản xuất chế tạo ô tô thì Mỹ đã từng thống trịthị trường ô tô trên toàn thế giới và không có bất cứ đối thủ cạnh tranh nào xứng tầm.Ngành công nghiệp ô tô được đánh dấu sự phát triển vượt bật vào năm 1914 khi đượcsản xuất một số lượng lớn các sản phẩm ô tô, khởi đầu là dây chuyền lắp ráp từ nhàmáy sản xuất ô tô của Henry Ford Những phương pháp sản xuất mới của Ford biếnnhững phát minh về ngành cơ khí chế tạo ô tô trở nên phổ biến với nhiều người Tuynhiên, sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, ngành công nghiệp ô tô của cácquốc gia có công nghệ tiên tiến ở châu Âu và đặc biệt là Nhật Bản đã đạt được nhữngthành tựu nhất định và trong một thời gian rất ngắn
Toyota lần đầu tiên gây sự chú ý với thế giới vào những năm 1980 khi người tiêudùng bắt đầu chú ý rằng những chiếc xe ô tô của Toyota bền hơn và ít sửa chữa hơnnhững chiếc xe ô tô từ Mỹ Ngày nay, Toyota là một trong những nhà sản xuất xe hơi
có lợi nhuận cao nhất, liên tục sản xuất những chiếc xe chất lượng cao sử dụng ít giờnhân công và ít kho bãi Đến ngày hôm nay, Toyota tiếp tục nâng tầm sản xuất, pháttriển sản phẩm và sự hoàn hảo trong quy trình
Sự thành công của Toyota được giải thích theo nguyên tắc quản lý và triết lý kinhdoanh Với những áp dụng phương pháp sản xuất hiện đại Toyota đã định hướng đếnchất lượng và sự hoàn hảo
Trang 71 Cơ sở lý thuyết just in time (J.I.T)
1.1 Một số khái niệm và lịch sử phát triển
1.1.1 Khái niệm
"Just In Time" có nghĩa là làm "những gì là cần thiết, khi cần thiết, và trong sốtiền cần thiết." Ví dụ, để sản xuất có hiệu quả một số lượng lớn xe ô tô, có thể bao gồmkhoảng 30.000 bộ phận, cần phải tạo ra một kế hoạch sản xuất chi tiết bao gồm muasắm bộ phận Cung cấp "những gì cần thiết, khi cần thiết, và số lượng cần thiết" theo
kế hoạch sản xuất này có thể loại bỏ lãng phí, mâu thuẫn, và yêu cầu không hợp lý, kếtquả là năng suất được cải thiện
JIT (just in time) là hình thức quản lý dựa trên sự cải tiến không ngừng và giảmthiểu tối đa sự lãng phí trong tất cả các bộ phận của công ty
Mục đích của JIT là chỉ sản xuất ra những mặt hàng cần thiết trong số lượng cầnthiết tại một thời điểm nhất thiết nào đó Đạt được mục đích này sẽ giúp cho công tyđáp ứng được nhu cầu của khách hàng và giúp công ty có thể có đủ khả năng để cạnhtranh với các đối thủ khác về mặt giá cả, chất lượng, độ tin cậy, sự linh hoạt và thờigian
Nói cách khác ngắn gọn hơn: “Đúng sản phẩm – với đúng số lượng – tại đúngnơi – vào đúng thời điểm cần thiết”
1.1.2 Lịch sử và phát triển
Những năm 1930, Hãng ô tô Ford (Hoa kì) lần đầu tiên áp dụng hệ thống dâychuyền để lắp ráp xe, một dạng sơ khai của phương pháp Just in time (JIT)
Đến những năm 1970, Hãng ô tô Toyota (Nhật bản) hoàn thiện phương pháp trên
và nâng thành lý thuyết Just in time – JIT
Hãng ô tô Nhật bản Toyota đã phát triển hệ thống dây chuyền sản xuất của Ford,phát huy ưu điểm và khắc phục được nhược điểm của hai hình thái sản xuất trên Độingũ công nhân có tay nghề thuần thục được trang bị hệ thống máy móc linh hoạt, đanăng, có khả năng sản xuất theo nhiều mức công suất với nhiều loại sản phẩm trêncùng một dây chuyền
Trang 8Sau Nhật, JIT được 2 chuyên gia TQM (Total Quality Manufacturing) là Deming
và Juran phát triển ở Bắc Mỹ, và sau đó mô hình JIT lan rộng trên khắp thế giới
1.1.3 Hệ thống Kéo:
Hệ thống “Kéo” dựa trên cơ sở nhu cầu sử dụng ngay của khách hàng Ngay khikhách hàng lấy đi sản phẩm, sản phẩm sẽ được sản xuất và bổ sung ngay tức thì (nóđược áp dụng phổ biến trong các siêu thị lớn) Nếu khách hàng không sử dụng, hàngcòn tồn trong kho (số lượng tối thiểu), hàng sẽ không được sản xuất hay bổ sung.Khách hàng ở đây được hiểu với nghĩa rộng hơn: đó là người công nhân ở côngđoạn tiếp theo trong dây chuyền, là nhà phân phối, nhà bán lẻ và người sử dụng cuốicùng
Linh kiện qua hết các công đoạn trong dây chuyền lắp ráp, Kanban đã được điềnđầy đủ các thông tin theo yêu cầu và gửi ngược lại vừa để lưu công việc đã hoàn tất,vừa để yêu cầu cung ứng linh kiện tiếp theo
Kanban được áp dụng theo 2 hình thức:
- Thẻ rút (Withdrawal Kanban): chi tiết chủng loại, số lượng linh kiện qui trìnhsau nhận từ qui trình trước
- Thẻ đặt (Production – Ordering): chi tiết chủng loại, số lượng linh kiện qui trìnhsau phải thực hiện
Số thẻ Kanban được tính theo công thức: N = D T (1+X ) C
Trong đó:
N: Tổng số Kanban
Trang 9D: Mức nhu cầu kế hoạch của trạm công việc.
T: Tổng thời gian chờ bổ sung trung bình cộng thời gian sản xuất trung bình mộtcontainer phụ tùng
X: Hệ số phản ánh mức không hiệu quả trong hệ thống (càng gần 0 càng hiệuquả)
C: Khả năng chứa của một container tiêu chuẩn (thường không quá 10% nhu cầuphụ tùng hàng ngày)
Chú ý: D và T phải có cùng đơn vị thời gian (phút hay ngày)
.Hình 1.1: Mô hình J.I.T và sử dụng thẻ Kanban
1.2 Các yếu tố chính của hệ thống JIT
Họ đóng vai khách hàng khi nhận sản phẩm từ công đoạn trước chuyển sang và
là người bị kiểm tra tại công đoạn sau
Trang 101.2.2 Linh hoạt
Bất cứ thay đổi nhu cầu nào của khách hàng về sản phẩm đều có thể đáp ứngđược ngay
1.2.3 Tạo năng suất cao:
Thực hiện luồng một sản phẩm rất ít có loại công việc không tạo ra giá trị giatăng Ví dụ tình trạng nguyên vật liệu bị chuyển đi chuyển lại giữa các bộ phận (nhưcách truyền thống) Đây là năng suất thực tạo nên giá trị gia tăng cho sản phẩm
Số lượng sản phẩm thực hiện theo bộ phận (tư duy truyền thống) có thể rất cao,nhưng nếu sản phẩm được sản xuất quá nhiều, dư thừa, tồn kho lớn Tốn thời gian tìmsản phẩm hỏng để sửa chữa Một sự lãng phí rất lớn
1.2.4 Tăng diện tích hữu ích:
Vật tư, bán thành phẩm được chuyển theo qui trình sản xuất từng công đoạn.Không tốn diện tích kho bãi dự trữ
1.2.5 An toàn lao động cao:
Sử dụng từng lô hàng nhỏ một nên không cần một qui trình an toàn đặc biệt nào
1.2.6 Tạo động lực làm việc cho người lao động:
Họ nhận thấy ngay kết quả lao động của mình, mãn nguyện với công việc
1.2.7 Giảm chi phí lưu kho:
Giảm chi phí vốn đầu tư kho bãi, chi phí xử lí hàng tồn kho bao gồm các chi tiết
và nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang và thành phẩm
1.3 Những ưu điểm và hạn chế của JIT
Những nhà sản xuất truyền thống luôn dự báo nhu cầu sản phẩm tương lai củadoanh nghiệp và cố gắng để thực hiện theo dự báo đó Việc này hoàn toàn dễ hiểu khicùng một lúc họ muốn nhân công làm việc tối đa để tăng năng suất và giảm thiểu chiphí Quản lý sản xuất theo hướng này có một số hạn chế trong một số trường hợp hàngtồn kho lớn, kế hoạch sản xuất dài hạn, tỉ lệ khiếm khuyết cao, không có khả nănghoàn thành kế hoạch được giao, dần dần cách quản lý này đã không còn được áp dụngnữa
Trang 111.3.1 Ưu điểm chính của JIT
- Giảm lượng tồn kho ở tất cả các khâu: cung ứng nguyên vật liệu, sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm…
- Giảm nhu cầu về mặt bằng
- Tăng chất lượng sản phẩm, giảm phế phẩm và lượng sản phẩm làm lại
- Giảm thời gian phân phối trong sản xuất
- Có tính linh động cao trong phối hợp sản xuất
- Dòng sản xuất nhịp nhàng và ít gián đoạn, chu kỳ sản xuất ngắn do cáccông nhân có nhiều kỹ năng nên họ có thể giúp đỡ lẫn nhau và thay thếtrong trường hợp vắng mặt
- Tăng mức độ sản xuất và tận dụng thiết bị
- Có sự tham gia của công nhân trong giải quyết vấn đề, khắc phục sự cốcủa quá trình sản xuất, từ đó nâng cao tinh thần trách nhiệm của côngnhân
- Tạo áp lực để xây dựng mối quan hệ tốt với các nhà cung cấp
- Giảm nhu cầu lao động gián tiếp, tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sảnphẩm
Tóm lại, JIT là hệ thống sản xuất được sử dụng chủ yếu trong sản xuất lặp lại,trong đó sản phẩm luân chuyển qua hệ thống được hoàn thành đúng lịch trình và có rất
ít hàng tồn kho Các lợi ích của JIT đã lôi cuốn sự chú ý của các nhà sản xuất từ vàithập niên trở lại đây, và việc áp dụng hệ thống JIT trong các doanh nghiệp nước ta làbiện pháp không thể thiếu được nhằm tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệphiện nay
Trang 12Đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà sản xuất và nhà cung cấp, bởi vì bất
kỳ một sự gián đoạn nào cũng có thể gây thiệt hại cho nhà sản xuất vì sẽ phải chịunhững tổn thất phát sinh do việc ngừng sản xuất
Một số lãnh đạo cấp cao của các cơ quan cho rằng JIT phủ nhận công sức của họnên khó khăn khi áp dụng JIT
Lịch trình sản xuất phải được cố định trong một khoảng thời gian để có thể thiếtlập các lịch mua hàng và sản xuất, điều này gây ra áp lực lớn trong việc có được dựbáo tốt và phải xây dựng được lịch trình thực tế bởi vì không có nhiều tồn kho để bùđắp những thiếu hụt trong hệ thống
Yêu cầu thiết lập mối quan hệ giữa các khâu phải chặt chẽ
Đòi hỏi lao động, thiết bị, nguồn vật tư cung ứng phải đảm bảo chất lượng
Thời gian giao hàng ngắn đồng nghĩa với nhiều khó khăn sẽ xảy ra khi có thayđổi về công nghệ sản xuất hoặc thông số kỹ thuật sản xuất
Lô sản xuất cỡ nhỏ có thể phát sinh nhiều chi phí hơn cho nhà cung cấp
Hàng hóa sẽ phải di chuyển nhanh hơn vì không có chỗ dừng lại
Với dự trữ ít trong kho và trên dây chuyền, nên đòi hỏi phải làm đúng ngay từđầu
Lịch trình sản xuất phải được cố định trong một khoảng thời gian để có thể thiếtlập các lịch mua hàng và sản xuất, điều này gây ra áp lực lớn trong việc có được dựbáo tốt và phải xây dựng được lịch trình thực tế bởi vì không có nhiều tồn kho để bùđắp những thiếu hụt trong hệ thống
Yêu cầu thiết lập mối quan hệ giữa các khâu phải chặt chẽ
1.3.3 Phạm vi và điều kiện áp dụng Just in time
Áp dụng hiệu quả nhất đối với doanh nghiệp có hoạt động sản xuất có tính chấtlặp đi lặp lại
Trang 13- Đặc trưng quan trọng của mô hình Just in time: áp dụng những lô hàng nhỏ vớiqui mô sản xuất gần như nhau, tiếp nhận vật tư trong suốt quá trình sản xuất tốt hơn làsản xuất những lô hàng lớn rồi để tồn kho, ứ đọng vốn Nó cũng giúp dễ kiểm tra chấtlượng, giảm thiệt hại khi có sai sót.
- Luồng “hàng hóa” lưu hành trong quá trình sản xuất và phân phối được lập chitiết cho từng bước sao cho công đoạn tiếp theo thực hiện được ngay sau khi công đoạntrước hoàn thành Không có nhân công hay thiết bị nào phải đợi sản phẩm đầu vào
- Mỗi công đoạn chỉ làm một số lượng sản phẩm / bán thành phẩm đúng bằng sốlượng mà công đoạn sản xuất tiếp theo cần tới
- Người công nhân ở qui trình tiếp theo chính là khách hàng của qui trình trước
đó Họ có trách nhiệm kiểm tra, nghiệm thu bán sản phẩm được chuyển đến trước khithực hiện công việc của mình
- Sản phẩm không đạt yêu cầu sẽ bị loại bỏ ra khỏi dây chuyền và báo cho toàn
Hệ thống để điều chỉnh kế hoạch kịp thời
- Sử dụng mô hình Just in time đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà sản xuất vànhà cung cấp Tăng cường phân công lao động xã hội thông qua hợp tác với các Công
ty liên kết
- Muốn Just in time thành công, Doanh nghiệp cần kết hợp đồng bộ nhiều biệnpháp: áp dụng dây chuyền luồng một sản phẩm (sản phẩm được chuyển theo qui trìnhsản xuất chứ không theo bộ phận chuyên môn nhằm giảm thiểu chi phí vận chuyển),khả năng tự kiểm lỗi (công đoạn sau kiểm tra, nghiệm thu công đoạn trước), bìnhchuẩn hóa (phân bổ công việc đều mỗi ngày, không có ngày quá bận, ngày ít việc)
Trang 14Hình 1.2: Mô hình trước áp dụng J.I.T
Hình 1.3: Mô hình sau áp dụng J.I.T
Trang 15Hình 1.4: Lợi thế cạnh tranh từ mô hình J.I.T
2 Ứng dụng phương pháp sản xuất hiện đại trong sản xuất ô tô.
2.1 Giới thiệu Công ty Toyota Việt Nam
Công ty ô tô Toyota Việt Nam (TMV), có trụ sở chính Phường Phúc Thắng, Thị
xã Phúc Yên, Tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập năm 1995, là liên doanh với số vốn đầu
tư ban đầu là 89,6 triệu USD từ Tập đoàn Toyota Nhật Bản (70%), Tổng công ty MáyĐộng Lực và Máy Nông Nghiệp - VEAM (20%) và Công ty TNHH KUO Singapore(10%)
Lĩnh vực hoạt động chính: Sản xuất, lắp ráp, kinh doanh ô tô Toyota các loại vàsửa chữa, bảo dưỡng và sản xuất, kinh doanh phụ tùng chính hiệu Toyota tại ViệtNam
Hiện tại, Toyota Việt Nam giữ vị trí dẫn đầu trên thị trường ô tô Việt Nam vớisản lượng nhà máy của công ty đạt trên 30.000 xe/năm Doanh số bán cộng dồn củaToyota Việt Nam đạt trên 305.799 chiếc, và các sản phẩm đều chiếm thị phần lớn trênthị trường
Trang 162.2 Hệ thống sản xuất của Toyota
Hệ thống sản xuất Toyota đã trở thành chân lý cho những thành công vượt bậc
mà Toyota có được, với mục tiêu “Cung cấp các sản phẩm một cách nhanh nhất vàhiệu quả nhất theo yêu cầu của khách hàng”, là một hệ thống giúp loại bỏ hoàn toàncác khía cạnh thừa trong sản xuất (chi tiết, công đoạn, thao tác…) nhằm theo đuổi cácphương pháp hiệu quả nhất, còn được gọi là sản xuất tinh gọn
Dựa trên những triết lý cơ bản về 2 trụ cột chính là đúng thời điểm (Just in JIT) và kiểm soát lỗi tức thì (Jidoka), Hệ thống sản xuất Toyota đã đáp ứng được mộtcách hoàn hảo những yêu cầu của khách hàng khi sản xuất ra những chiếc xe một cáchnhanh chóng và chất lượng
time-Để cung cấp một chiếc xe theo yêu cầu của khách hàng một cách nhanh chóngnhất và hiệu quả nhất, Toyota qui về hệ thống sản suất JIT như sau:
Khi có đơn đặt hàng, chỉ thị sản xuất cần được đưa ra và tiến hành nhanh nhất cóthể
Dây chuyền lắp ráp cần dự trữ đủ số lượng các bộ phận cần thiết để có thể đápứng bất cứ loại đơn đặt hàng
Công nhân của quy trình sau sẽ tự động lấy các linh kiện cần thiết với số lượngcần thiết tới từng quy trình trước đó Và như vậy, những gì mà công nhân quy trìnhtrước phải làm là sản xuất cho đủ số linh kiện đã được lấy đi
Phải hạn chế và quản lý được hàng lưu kho để chờ vào công đoạn kế tiếp (tồnkho thấp) Như vậy, mỗi xưởng chỉ sản xuất đúng và đủ số lượng hàng mà xưởng kếtiếp cần