hiện nay thì sự phân hoá giàu nghèo, mức sống giữa những cá nhân, các vùngmiền ở đồng bằng và miền ngược có sự chênh lệch rất lớn, do đó không phải aicũng có điều kiện để có thể tiếp cận
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
HOÀNG MINH NGUYÊN
ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC Ở VƯỜN QUỐC GIA VŨ QUANG,
TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội 2008
Trang 2HOÀNG MINH NGUYÊN
ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC Ở VƯỜN QUỐC GIA VŨ QUANG,
TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Chuyên nghành: Quản lý tài nguyên rừng
Mã số: 06 62 68
Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Trần Minh Hợi
Hà Nội 2008
Trang 3môn lẫn tài chính, để hoàn thành được khóa học và thực hiện xong đề tài này đó
là một sự nỗ lực lớn của bản thân, bên cạnh đó là sự giúp đỡ tận tình và hết sức
có ý nghĩa của Gia đình, Thầy cô giáo, bạn bè…Nhân dịp này cũng là lúc Tôi cóthể bày tỏ lòng tri ân đến những người đó
Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn và ghi nhớ công ơn của Thầy giáoPGS.TS Trần Minh Hợi- Phó Viện Trưởng Viện Sinh Thái và Tài nguyên Sinhvật, mặc dù rất bận trong công tác lãnh đạo nhưng đã dành những sự quan tâmđặc biệt đối với những sinh viên tỉnh lẻ
Nhân dịp này tôi xin dành một phút tưởng niệm và nhắc lại lời cảm ơn vớiThầy giáo PGS.TS Phạm Nhật, người Thầy đầu tiên đã dìu dắt tôi trên conđường làm khoa học
Tôi xin cảm ơn Thầy Giáo GS.TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn-ĐHQG Hà Nội,Thầy giáo TS Phạm Văn Điển-ĐHLN, Ks Lê Vũ Thảo-Phân viện Điều tra Quyhoạch Rừng, những người đã truyền những kiến thức cơ bản về nghiên cứu thựcvật
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Quản lý VQG Vũ Quang, Ks TrầnVăn Song, đã tạo điều kiện giúp đỡ chúng tôi tiếp cận và làm việc trên địa bàn
Cuối cùng Tôi xin cảm ơn gia đình Tôi, Cô Nguyễn Thị Huyền nhữngngười đã giúp đỡ về mặt tài chính và động viên tinh thần những lúc khó khănnhất
Tự nhiên là cuốn sách không có trang cuối cùng, với trình độ chuyên môn
có hạn, chắc chắn đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến đóng góp của các Thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18, tháng 8 năm 2008
Tác giả
Hoàng Minh Nguyên
Trang 4Chương 1- TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG
SINH HỌC VÀ NGHIÊN CỨU CÂY THUỐC………… 4
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới……… 4
1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam……… 5
Chương 2- MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 10
2.1 Mục tiêu……… 10
2.2 Nội dung ………. 10
2.3 Phương pháp nghiên cứu……… 10
Cơ sở lý thuyết và phương pháp tiếp cận…… ………. 15
Luận điểm khoa học ……….……….… ………… 19
Chương 3- ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU……… 16
3.1 Điều kiện tự nhiên……… 16
3.1.1 Ranh giới ……… 16
3.1.2 Vị trí địa lý……… 16
3.1.3 Địa hình……… 16
3.1.4 Đất đai……… 17
3.1.5 Khí hậu, thủy văn ……… 17
3.1.6 Thảm thực vật……… 17
3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội ………. 18
3.2.1 Dân số, dân tộc ……… 18
3.2.2 Thu nhập và đời sống ……… 18
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU……… 21
4.1 Đa dạng về thành phần loài ……… 21
4.2 Đa dạng về dạng sống ……… 21
Trang 54.3.2 Đa dạng phương pháp chế biến ……….……… 30
4.3.3 Bộ phận sử dụng ………. 31
4.3.4 Những bài thuốc theo kinh nghiệm của người dân địa phương ……… 33
4.4 Đa dạng về nguồn gốc ……… 35
4.5 Phân bố cây thuốc ……… 37
4.5.1 Phân bố cây thuốc theo môi trường sống … 37
4.5.2 Phân bố của các loài theo các dạng thảm thực vật…… 38
4.6 Các loài cây thuốc có nguy cơ tuyệt chủng tại VQG Vũ Quang. 43 4.7 Các loài cây thuốc có giá trị kinh tế cao ở VQG Vũ Quang…… 44
4.8 Bảo tồn và phát triển cây thuốc ở VQG Vũ Quang……….
46 4.8.1 Thực trạng quản lý tài nguyên rừng trên địa bàn……… 47
4.8.2 Thực trạng và tiềm năng phát triển cây thuốc ở VQG Vũ quang ……… 49
4.8.3 Các giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng…… 50
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ………. 54
Kết luận……… 55
Kiến nghị ………. 56
Trang 6ĐDSH Đa dạng sinh học
IEBR Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
ICDP Chương trình phát triển cộng đồng
IUCN Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế
NN&PTNT Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
UNEP Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc
Trang 72.1 Hiệu quả kinh tế từ rừng ở vùng Hồ Hoà Bình……… 142.2 Giá trị xuất nhập khẩu nguồn dược liệu trong những năm trước
thuốc ở VQG Vũ
4.11 Phương pháp chế biến các loài làm thuốc ở VQG Vũ Quang…… 304.12 Phân bố số loài theo số lượng bộ phận sử dụng……… 314.13 Tần số sử dụng các loài theo bộ phận……… 324.14 Nguồn gốc các cây thuốc ở VQG Vũ Quang……… 364.15 Phân bố của các loài cây thuốc theo môi trường sống ở VQG Vũ
Quang……… 374.16 Các loài cây thuốc có giá trị cao về mặt bảo tồn ở VQG Vũ Quang 434.17 Những loài cây thuốc có giá trị kinh tế ở VQG Vũ Quang ……… 454.18 Lựa chọn tập đoàn cây trồng để phát triển TNCT ……… 52
DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Đa dạng sinh học (ĐDSH) có một vai trò cực kì to lớn đối với con người,
đó là điều không thể phủ nhận Từ xa xưa, con người đã sử dùng nguồn tàinguyên này cho nhiều mục đích khác nhau để phục vụ đời sống như: lương thực,thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nơi ở, và ngay cả những hoạt động tinh thần nhưphong tục tập quán, nghệ thuật - thi ca, hội hoạ cũng đều xuất phát từ mối liên
hệ giữa con người và những sinh vật xung quanh, “Hệ thống giá trị của hầu hếttôn giáo, triết học đã cung cấp và biện hộ cho sự hiểu biết của con người về bảotồn loài” [23] Trong các nhu cầu cơ bản của con người thì chữa bệnh là mộtđiều hết sức quan trọng, đây là vấn đề mà bất cứ dân tộc nào, cá nhân nào cũngphải quan tâm, đặc biệt khi xã hội loài người đang ở giai đoạn mà khoa học chưaphát triển, chưa có những loại thuốc tây y (theo cách gọi hiện nay) thì con ngườichỉ dựa hoàn toàn vào những vị thuốc lấy từ thiên nhiên Trải qua nhiều thế hệ,con người mới tổng kết được những phương pháp khai thác, chế biến và sử dụngnhững loài cây, con làm thuốc, những hiểu biết này chưa được công bố mà nóchỉ tồn tại ở những nhóm nhỏ người sống trong các bản làng ở vùng rừng núi và
ta gọi chúng là kiến thức bản địa Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta đãxem nhẹ cách chữa bệnh truyền thống để tôn vinh những sản phẩm được bào chếchủ yếu từ các chất hoá học - thuốc tây hiện nay, “trong hoạt động bảo tồnĐDSH thì những kiến thức bản địa cần phải được đánh giá ngang tầm với những
hệ thống kiến thức khác” [37] Cả Đông y và Tây y đều có vai trò rất lớn trong
sự tiến bộ của loài người và tài nguyên thực vật không những là nguồn nguyênliệu chủ yếu trong Đông y mà nó cũng rất quan trong trong Tây y Theo Lancet(1994) thì có hơn 25% đơn thuốc ở tổ chức các nước hợp tác kinh tế và phát triển(OECD) và khoảng 60% đơn thuốc ở Đông Âu vẫn bao gồm các sản phẩm cónguồn gốc từ thực vật bậc cao [40] Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam như
Trang 10hiện nay thì sự phân hoá giàu nghèo, mức sống giữa những cá nhân, các vùngmiền ở đồng bằng và miền ngược có sự chênh lệch rất lớn, do đó không phải aicũng có điều kiện để có thể tiếp cận được với những dịch vụ y tế đắt tiền, y họcdân tộc có thể đảm đương được một phần rất lớn để giải quyết vấn đề này, vì khảnăng chữa bệnh của chúng là điều không thể phủ nhận, không phải cứ nhất thiếtphải dùng hoá phân tích một cách rõ ràng rồi mới dùng, chúng ta không đợinghiên cứu xong rồi mới đem ra áp dụng vì “những kinh nghiệm chữa bệnh củaông cha đã được chứng minh trên người thực, bệnh thực từ bao đời nay rồi” [20].Mặt khác trong những năm qua, nhà nước ta cũng xác định cần phải phối hợpĐông và Tây y mới có thể đem lại những lợi ích cho cả cộng đồng, như vậy xãhội chúng ta đã thừa nhận và coi trọng y học cổ truyền Việt Nam có điều kiện tựnhiên nhiệt đới gió mùa rất thuận lợi cho các loài thực vật phân bố và nước tađược xem là một trong những trung tâm ĐDSH của thế giới Theo thống kê củaViện Dược liệu - Bộ Y tế, từ năm 1961-2004, ở Việt Nam có khoảng 3.948 loàithực vật và nấm, thuộc 307 họ có giá trị sử dụng làm thuốc, trong đó khoảng80% là những loài cây thuốc mọc tự nhiên trong rừng, nhưng hiện nay nhữngkhu rừng nhiệt đới đa dạng, nơi sinh sống lý tưởng cho những loài này đang bịthu hẹp với một tốc độ nhanh chóng, chỉ còn lại một diện tích rất nhỏ ở trongnhững khu bảo tồn thiên nhiên, các vườn quốc gia Những khu rừng này được vínhư những ốc đảo nhỏ bé nằm trên sa mạc của sự tàn phá, quy mô về diện tíchcũng như số lượng của các khu bảo tồn ngày càng được tăng lên nhưng chấtlượng của chúng lại ngược lại, do đó chúng ta cần phải hành động ngay để cứulấy tài nguyên ĐDSH nói chung và tài nguyên cây thuốc nói riêng Cần phải xácđịnh được các đặc điểm của đối tượng từ đó mới có những ưu tiên và phươngpháp bảo tồn thích hợp Trên cơ sở những nghiên cứu về ĐDSH chung, đối vớinhững loài cây thuốc, một yêu cầu cấp thiết hiện nay là phải nắm được thành
Trang 11phần loài và giá trị sử dụng của chúng ở từng VQG và khu bảo tồn thiên nhiên(BTTN), để từ đó có kế hoạch bảo tồn đi đôi với sử dụng một cách có hiệu quảcao.
VQG Vũ Quang nằm trong vùng sinh thái Bắc Trường Sơn, có mức độĐDSH rất cao, đặc trưng nhất là kiểu rừng mưa nhiệt đới và rừng nhiệt đới núicao Mặt khác, ở đây có một bộ phận dân địa phương bao gồm cả người kinh,người dân tộc Lào khá đông sinh sống lâu đời ở vùng sâu trong rừng, những kinhnghiệm sử dụng thuốc của họ chưa được ai quan tâm nghiên cứu Để phục vụcông tác bảo tồn, chúng ta cần phải nắm được thành phần loài, phân bố, côngdụng… của cây thuốc từ đó mới có những chiến lược và công cụ hợp lý Xuấtphát từ yêu cầu về thực tiễn và lý luận đó chúng tôi tiến hành đề tài “Điều tra, đánh giá nguồn tài nguyên cây thuốc ở Vườn Quốc gia Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh”.
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH
HỌC VÀ NGHIÊN CỨU CÂY THUỐC
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Nền y học cổ truyền dùng cây cỏ để làm thuốc có mặt từ rất sớm ở hầu hếtcác nơi trên thế giới Ở miền Địa Trung hải, miền trung châu Âu đã được biết từthời Galien, Điốtcôride và Hipôcrat, các thầy thuốc thời trung cổ đã dùng những
cỏ cây, vỏ, rễ… để chữa bệnh, họ đã xây dựng được một nền lý thuyết khá cơbản, từ đó làm nền tảng cho nền y học hiện đại, một số cây thuốc đó dưới dạngnày hay dạng khác được dùng làm nguyên liệu chế các chế phẩm của Tây y.Nhưng nền y học phương Đông đã sử dụng một số lượng loài làm thuốc lớn hơnnhiều Sau khi thực dân Pháp chiếm đóng Việt Nam, trong giai đoạn này đã xuấthiện những nhà khoa học châu Âu để tâm nghiên cứu về nền y học Việt nam,trong đó phần nhiều họ quan tâm nghiên cứu về thực vật chí và nghiên cứu vềcây thuốc
Đầu tiên là những bút kí về y học của Tarell và cộng sự sau cuộc viễn dumiền Đông Dương, nhưng đây chỉ mới là những tài liệu rời rạc chưa được công
bố một cách cụ thể Regnault (1902) đã nghiên cứu một cách cụ thể hơn, ông đãcho xuất bản cuốn sách về nền y học cổ truyền Trung Quốc và Việt Nam, tácphẩm này đã sưu tầm được 494 loài cây làm thuốc, và có tên gọi Latinh Côngtrình về dược liệu Việt Nam được E.M.Petrot và Paul Hunrier nghiên cứu và choxuất bản vào năm 1907 Tiếp đó là công trình của nhà thực học người PhápPétélot và Crévost, được xuất bản gồm 2 tập (1952-1953) về “Cây thuốc củaCampuchia, Lào và Việt Nam”[20] Ở Nga, cũng có nhiều nhà thực vật quan tâmnghiên cứu về cây thuốc như I I Brekhman, A F Hammerman, I V.Gruxvitxki và A A Iaxenko, và đã xuất hiện Dược điển, những công trình này
Trang 13ghi lại thành phần cây, con làm thuốc và họ đã đưa ra được những phân tích vềphương pháp sử dụng thuốc Đông y so với những vị thuốc quen sử dụng.
Vào năm 2006, Nguyễn Kim Dân đã biên dịch cuốn “ Dược thảo toànthư”[1] của Andrew Chevallier, trong đó ông đã mô tả về hình thái và công dụngcủa hơn 550 loài thực vật làm thuốc trên toàn thế giới, chú trọng vào những loàiphân bố rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới và mô tả đúng với phương pháp cổđiển trong việc chế biến và sử dụng
1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Trong những đầu của thế kỉ XX, nhà thực vật học người Pháp H Lecomte
và cộng sự đã giới thiệu bộ Thực vật chí đại cương Đông Dương, trong đó đã mô
tả, định tên khoa học và lập khoá phân loại cho các loài thực vật có mạch Tiếp
đó, Thái Văn Trừng đã bổ sung và rà soát lại và công bố cuốn “Thảm thực vậtrừng Việt Nam”, trong đó đã thống kê được 7.004 loài thuộc 850 chi và 289
họ[30] Lê Khả Kế và các cộng sự (1969-1976) đã công bố bộ sách “Những cây
cỏ thường thấy ở Việt Nam” gồm có 6 tập[15] Từ năm 1971 đến 1988, Viện
Điều tra Quy hoạch rừng đã công bố 7 tập của bộ “ Cây gỗ rừng Việt Nam”,trong đó giới thiệu khá chi tiết các loài[31] Năm 1993, Trần Đình Lý và các
cộng sự đã giới thiệu cuốn “Cây cỏ có ích ở Việt Nam” trong đó đã giới thiệu
1900 loài, gồm các loài thực vật như rau ăn, tinh dầu, dược liệu[21]…Từ năm
1991 đến 1993, Phạm Hoàng Hộ đã xuất bản cuốn “Cây cỏ Việt Nam” [18], bộ
sách này gồm 6 tập được xuất bản tại Canada và được tái bản ở Việt Nam, ông
đã tiến hành khảo sát các mẫu thực vật của Việt Nam tại Bảo tang lịch sử tựnhiên Paris (Pháp), nên những loài được thống kê là những loài đã có mẫu rõràng Bên cạnh đó, bộ sách này còn có hệ thống khoá phân loại được lập mộtcách công phu Có thể nói đây là một công trình cực kì có giá trị cho những nhànghiên cứu thực vật và những nhà bảo tồn Năm 1997 Nguyễn Tiến Bân đã biên
Trang 14soạn cuốn “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ Thực vật Hạt kín ở Việt Nam”
giới thiệu 265 họ, khoảng 2300 chi thuộc ngành Hạt kín ở Việt Nam[2] NguyễnNghĩa Thìn (1997) đã tổng hợp và chỉnh lí dựa trên bảng phân loại của Brummitt
và thống kê được hiện nay Việt Nam có khoảng 11.178 loài thuộc 395 họ và2.582 chi Tiếp đó, Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã xuất bản cuốn “Cẩm nang
Nghiên cứu đa dạng sinh vật”[28], đây là công trình có ý nghĩa rất lớn cho
những người điều tra và nghiên cứu về thực vật, nó giúp người đọc có thể bướcđầu tiếp cận được với phương pháp nghiên cứu và nhận biết các họ thực vật ngaytại hiện trường
Trên đây là những công trình nghiên cứu mang tính cơ bản, được thực hiệncho toàn bộ khu hệ thực vật Việt Nam, để phục vụ cho công tác bảo tồn một cách
có hiệu quả cho một khu vực nhất định như VQG hay khu BTTN thì cần phảixác định một cách cụ thể các yếu tố như thành phần, phân bố, điều kiện tự nhiên,kinh tế- xã hội… từ đó mới có những đề xuất sát thực với các điều kiện của cáckhu bảo tồn
Nền y học cổ truyền của Việt Nam đã xuất hiện từ rất sớm, ngay từ thế kỉXIV đời Trần điển hình có danh y Tuệ Tĩnh, ông là tác giả của hai cuốn sách
“Nam dược thần hiệu”, trong đó đã ghi chép 496 cây thuốc và vị thuốc, tập sách thứ hai là “Hồng nghĩa giác tư y thư” có 600 vị thuốc và cây thuốc nam, sách
của ông đã tổng kết được nhiều bài thuốc và phương pháp chữa bệnh rất có ýnghĩa đối với nền y học nước nhà[20] Tiếp đó là một danh y nổi tiếng HảiThượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, đây là người có ảnh rất lớn đến nền y học cổtruyền của nước nhà thông qua tác phẩm “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” đượcviết vào năm 1770 và được in ra vào năm 1885, bộ sách gồm 28 tập và chiathành 66 cuốn, trong đó giới thiệu hơn 700 vị thuốc và phương thuốc nam “ HảiThượng Lãn Ông đã tiếp thu có phê phán, chọn lọc rồi vận dụng những kiến thức
Trang 15cơ bản vào điều kiện cụ thể về khí hậu, về con người và cả cách suy nghĩ của conngười Việt Nam, nhất là lý luận của nền y học Trung Quốc và những thầy thuốc
đi trước, của nhân dân lao động và những người nước ngoài” [20] Nguyễn
Quang Lượng (thế kỉ XIX) trong tác phẩm “Nam dược chí danh truyền” ghi
chép khoảng 500 vị thuốc nam[13] Những tác phẩm này vào thời điểm đó chưa
do chưa tiếp cận được với những tiến bộ trong phân loại học nên vẫn chưa ghi rõđược những loài nào tạo nên những vị thuốc đó Đến 1997, Võ Văn Chi đã choxuất bản tác phẩm “Từ điển cây thuốc Việt Nam” [8] Điển hình có nhà dượcliệu học lớn của Việt Nam, giáo sư Đỗ Tất lợi, ông đã cho ra đời tác phẩm
“Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” (1962-1965), trong bộ sách này đã
trình bày khoảng 430 loài thực vật thuộc 116 họ khác nhau và đến năm 2006,ông lại bổ sung và hoàn thiện thêm và cho ấn hành tác phẩm cùng tên, trong đótrình bày đầy đủ tên khoa học, mô tả chi tiết về hình thái, cấu tạo hoá học, côngdụng của 670 loài thuộc 172 họ[20] Có thể nói đây là tác phẩm đầy đủ nhất vềthực vật làm thuốc ở Việt Nam hiện nay, nó đã tổng hợp được những kinhnghiệm quý báu từ nhiều nguồn khác nhau trong và ngoài nước, đây là cẩm nang
có ý nghĩa rất lớn đối với những người làm nghề y, những nhà nghiên cứu thựcvật học, những nhà bảo tồn sinh vật Bên cạnh đó, ông còn phối hợp với nhiềutác giả khác nghiên cứu những đề tài khác đi sâu hơn về y học như nghiên cứunhân sâm, ba kích, sa nhân Tiếp đến năm 1998, Quý Ngưu và Trần Như Đứccho xuất bản cuốn “Cây thuốc quanh ta”[22], trong đó thống kế khoảng 400 loài
và hơn 100 bài thuốc khác nhau về tác dụng chữa bệnh Vào năm 2004, NguyễnVăn Tập có tài liệu tham luận về “Một số vấn đề phát triển cây thuốc ở Việt Namhiện nay”[26], trong đó đã chỉ ra phương hướng mới cho tương lai, gắn liền giữabảo tồn và phát triển Vào đầu tháng 4/2006, Nhà xuất bản trẻ cho xuất bản cuốn
“Cây có vị thuốc ở Việt Nam” [19] của Phạm Hoàng Hộ, trong đó ông đã đưa ra
Trang 16hơn 2010 loài cây thuốc khác nhau, trong đó đi sâu vào việc mô tả hình thái, chỉmới nêu ra mặt công dụng Khu BTTN Pù Huống (2006) đã tiến hành đề tài
“Điều tra khảo sát đánh giá tài nguyên cây thuốc ở khu BTTN Pù Huống” [16],
đề tài đã đưa ra 374 loài thực vật làm thuốc thuộc 5 ngành, 124 họ và 286 chi.Mới đây nhất vào năm 2007, nhà xuất bản Hà Nội cho xuất bản cuốn “Câythuốc, Vị thuốc, Bài thuốc Việt Nam”[6] của hai dược sỹ Tào Duy Cần và Trần
Sỹ Viên, trong đó đã thống kê được 380 loài cây thuốc và 161 bài thuốc chữađược nhiều nhóm bệnh khác nhau
Trên đây là những nghiên cứu điển hình đi trước có ý nghĩa lớn về y học,bao gồm những thông tin như thành phần, mô tả hình thái, công dụng
Nghiên cứu ở VQG Vũ Quang
VQG Vũ Quang đã được quan tâm nghiên cứu từ năm 1992 với các côngtrình điển hình như:
Vào tháng 5/1992, đoàn nghiên cứu gồm Bộ NN&PTNT, Viện Điều tra quyhoạch rừng, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Đại học Vinh và WWF đãkhảo sát các loài chim, thú, bò sát, lưỡng cư, bướm và các loài thực vật
Tháng 2-3/1993, Danh mục đầu tiên về các loài thú, chim, bò sát, lưỡng
cư, cá, bướm và thực vật đã được Viện điều tra quy hoạch rừng và WWF tiếnhành
Tháng 1/1999, WWF đã tiến hành khảo sát hệ thực vật Vũ Quang và lưu
dữ tiêu bản ở phòng thực vật
Nghiên cứu điển hình về thực vât được A Kuznetsov và Vũ Văn Dũngtổng hợp và công bố trong cuốn “Quy hoạch không gian để bảo tồn thiên nhiên,Khu Bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang”[11] với tổng số 423 loài thực vật Năm
2005, “dự án đầu tư xây dựng và phát triển VQG Vũ Quang”[24], do Phân việnĐiều tra Quy hoạch rừng Bắc Trung bộ đã công bố 523 loài thực vật khác nhau
Trang 17Ngoài ra có những đề tài nghiên cứu ở cấp độ nhỏ hơn như: đề tài “hệ thực vậtbậc cao có mạch tại xã Hương Điền, thuộc VQG Vũ Quang”[17], do Phan ThịThuý Hà thực hiện đã xác định được 349 loài, thuộc 215 chi và 79 họ, trong 349loài Hiện tại Đinh Trần Tân đang thực hiện đề tài “ Đánh giá tính đa dạng thựcvật của VQG Vũ Quang”, bước đầu đã phát hiện thêm 48 loài mới để bổ sungvào bảng danh lục thực vật của vườn.
Nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc tại khu vực hiện nay chưa có một tàiliệu nào đề cập tới Cũng vì lý do đó, để giải quyết yêu cầu về mặt lý luận, đề tàinày tiến hành là hết sức cần thiết
Trang 18Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu
- Nắm được những thông tin về thành phần loài, công dụng, phân bố, giá trịcủa các loài cây thuốc
- Tổng kết kinh nghiệm về thu hái, chế biến và sử dụng các loài cây làmthuốc của cộng đồng địa phương
- Xác định được thực trạng về quản lý tài nguyên rừng và tài nguyên câythuốc ở VQG Vũ Quang
- Đề xuất các giải pháp về kỹ thuật và kinh tế - xã hội để bảo tồn và pháttriển tài nguyên cây thuốc
2.2 Nội dung
- Đánh giá đa dạng các taxon cây thuốc (Đa dạng cấp độ ngành, họ, chi)
- Đặc điểm làm thuốc ( Công dụng, chế biến…)
- Đánh giá phân bố của các loài cây thuốc (Phân bố theo môi trường sống, theocác dạng sinh cảnh)
- Các loài cây thuốc quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng
- Các loài thuốc có giá trị hàng hoá cao
- Các giải pháp bảo tồn và phát triển cây thuốc
2.3 Phương pháp nghiên cứu
* Khảo sát thực địa: về cơ bản cũng giống như phương pháp điều tra thực
vật chung, nhưng nó có một số đặc điểm khác như điều tra cây thuốc cần phải cóthêm những thông tin như: Công dụng, cách khai thác, chế biến….Chúng tôi sửdụng phương pháp điều tra cây thuốc của Viện Dược liệu (Bộ Y tế) Đặc điểmchung của những phương pháp này là thống kê tất cả các cây thuốc hiện có trêncác tuyến điều tra, đi từ thấp lên cao qua các kiểu rừng, khe suối
Trang 19* Phương pháp PRA: cần phải kết hợp cả phương pháp này để phát huy tối
đa năng lực của cộng đồng thông qua sự tham gia tích cực của họ vào hoạt độngđiều tra trên thực địa, đồng thời phân tích những áp lực lên tài nguyên rừng vàtìm các giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc
* Phương pháp RRA (phương pháp điều tra nhanh nông thôn): Đây là
phương pháp để khai thác những thông tin thông qua phỏng vấn những cá nhân
và gia đình bằng nhiều câu hỏi như: Cây thuốc nào mà bác biết cách sử dụng? nó
có ở đâu?, khai thác nó như thế nào? nó có bán đắt không?
* Công tác ngoại nghiệp
- Thu hái và xử lý mẫu
Phải xác định rõ ràng mục tiêu chính của công tác điều tra là: Điều trathành phần loài, phân bố, trữ lượng, công dụng, cách chế biến và sử dụng thuốctrong nhân dân, đây là cơ sở để phân bổ nhân lực, xác định tuyến và tìm hiểunhững thông tin cần thiết
- Lựa chọn địa bàn nghiên cứu và lập tuyến điều tra
Để tiếp cận được những thông tin có giá trị cần phải lựa chọn những địađiểm và vị trí tuân theo những nguyên tắc như: chọn những khu vực của ngườidân trong những địa bàn xa trung tâm vì đây là khu vực còn ít nghiên cứu, mặtkhác họ là những người sống gần với rừng nhất và trải qua quá trình sinh sốngnhiều đời phụ thuộc vào rừng họ sẽ có nhiều kinh nghiệm quý về cây thuốc
+ Công tác chuẩn bị: Những tài liệu về danh lục thực vật đã có ở khu vực
VQG Vũ Quang như: Danh lục thực vật VQG Vũ Quang…, Xác định những loàiđịnh tìm thông qua tài liệu mô tả, hình vẽ hoặc xem tiêu bản khô nếu có, để hìnhdung được chúng ngoài thực địa, xác định vị trí địa lý khảo sát Khi điều tra cầnphải có chuyên gia về thực vật và cây thuốc đi cùng Chuẩn bị thêm các dụng cụ
để thu mẫu như: bao tải, túi nilon, dao cắt cành
Trang 20+ Vận động quần chúng tham gia điều tra: Đối tượng quan trọng tham
gia công tác này là những ông lang, bà mế, những người họ sống bằng nghề đihái cây thuốc Ngoài ra còn những đối tượng khác có thể tham gia một cách cóích như trẻ em, đối tượng này có thể cung cấp những thông tin một cách chínhxác những gì thấy được trong cuộc sống hàng ngày
+ Thu thập mẫu cây, xác định tên và nghiên cứu tác dụng.
Cố gắng lấy mẫu đủ hoa, quả và bộ phận dùng làm thuốc, đồng thời vớiviệc lấy mẫu cần phải chụp ảnh để xác định màu sắc vì khi khô mẫu sẽ mất hếtmàu Khi thu được mẫu cần hỏi ngay người dân đi cùng như: Cây này chữa bệnh
gì, cách bào chế, dùng tươi hay dùng khô, liều lượng và cách dung [20]
* Công tác nội nghiệp
Lập danh lục thực vật
- Danh lục thành phần loài được lập theo từng họ, chi, loài theo vần ABC,sắp xếp theo Brummitt[35] Danh lục bao gồm: Tên khoa học, họ, công dụng,cách chế biến và bộ phận sử dụng
Phương pháp đánh giá đa dạng thực vật
- Đánh giá đa dạng taxon trong ngành
Thống kê loài, chi và họ theo từng ngành từ thấp lên cao, trên cơ sở dựa vàobảng danh lục đã xây dựng, tính tỉ lệ % của các taxon để từ đó thấy được mức độ
đa dạng của nó
- Đánh giá đa dạng loài của các họ
Xác định họ có nhiều loài, tính tỉ lệ % số loài các chi so với toàn bộ số loàicủa hệ thực vật làm thuốc
- Đánh giá đa dạng loài của các chi
Xác định chi nhiều loài, tính tỉ lệ % số loài các chi đó so với toàn bộ số loàicủa cả hệ thực vật cây thuốc
Trang 21- Đánh giá mức độ giá trị và mức độ đe dọa
Dựa vào các tài liệu: Sách Đỏ Việt Nam, Phần II – Thực vật (2007)[5];Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam, 2006[27] và Nghị định 32/2006/NĐCP [10]đểphân tích thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá này
- Đánh giá mức độ các nhóm công dụng cây thuốc
Dựa vào thông tin thu thập được về công dụng và phương pháp chế biếncủa người dân bản địa, kết hợp với các tài liệu về cây thuốc đã được xuất bản,thống kê các loài theo các nhóm công dụng như: Các loài chữa bệnh ngoài da,chữa bệnh dạ dày, cao huyết áp… để từ đó thấy được sự đa dạng về công dụngcủa cây thuốc
- Đánh giá sự phân bố tài nguyên cây thuốc
Đánh giá theo các tuyến khảo sát trên thực địa khi đi qua các dạng sinhcảnh khác nhau, vì khả năng về thời gian và tài chính có hạn nên chỉ có thể tiếnhành đánh giá mức độ nhiều hay ít theo mức độ xuất hiện của nó Để từ đó thấyđược sinh cảnh thích hợp cho loài
- Đánh giá giá trị kinh tế của tài nguyên cây thuốc
Dựa vào điều tra giá bán các loại cây thuốc ở địa bàn nghiên cứu và các tàiliệu điều tra ở các khu vực khác như thành phố Vinh, thứ tự từ loài có giá trị caođến loài có giá trị thấp hơn
Cơ sở lý thuyết và phương pháp tiếp cận
Quan điểm hệ thống và hệ sinh thái là nền tảng để bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc.
Hệ sinh thái rừng bao gồm các thành phần tài nguyên sinh vật rừng: thực vật, động vật và vi sinh vật; tài nguyên tiểu hoàn cảnh rừng: Tiểu khí hậu, đất
rừng Cây thuốc nằm trong nhóm tài nguyên sinh vật rừng, cây thuốc có thể làcây gỗ lớn, trung bình hoặc cây gỗ nhỏ, có thể là tầng cây cao, cây bụi, dây leo,
Trang 22thực vật phụ sinh, thực vật kí sinh, thảm tươi… Trong điều kiện khí hậu mưa ẩmnhiệt đới thì cây thuốc là một bộ phận chức năng sinh thái rất quan trọng.
Hiệu quả kinh tế là động lực để phát triển tài nguyên cây thuốc
Ngoài hiệu quả về mặt xã hội như đã nói đến ở phần đặt vấn đề thì tàinguyên cây thuốc còn có hiệu quả kinh tế hiện tại cũng như tiềm năng rất lớn khichúng ta nắm bắt thị trường và phát triển chúng một cách hiệu quả, điều này đặcbiệt có ý nghĩa ở vùng đệm Ví dụ, theo kết quả điều tra và tính toán về lượng giácho các loài lâm sản ngoài gỗ (LSNG) trong đó có dược liệu trong các trạng tháirừng ở vùng hồ Hoà bình của Trường Đại học Lâm nghiệp năm 2002
Bảng 2.1 Hiệu quả kinh tế từ rừng ở vùng Hồ Hoà Bình
Trạng thái
rừng
Hình thức kinh doanh Đơn vị tính Giá trị hiện tại
Giá trị tiềm năng
IIIA2 LSNG đ/ha/năm 1.249.760 5.185.129 IIIA1 LSNG đ/ha/năm 542.000 1.716.500
Đó chỉ mới là giá trị dược liệu còn những giá trị khác nữa như lương thực,thực phẩm, nguyên liệu thủ công nghiệp, mỹ nghệ… nếu tính tổng giá trị thì sẽrất lớn Theo thống kê của Bộ Thương mại trong một vài năm về tình hình xuấtnhập khẩu dược liệu của nước ta như sau:
Bảng 2.2 Giá trị xuất nhập khẩu nguồn dược liệu trong những năm
trước đây.
Năm Xuất khẩu
(Tr.USD)
Nhập khẩu (Tr.USD)
Trang 23chứng tỏ nhu cầu về dược liệu trong nước là rất lớn, khả năng cung cấp trongnước là không đủ vì lượng nhập khẩu cao hơn nhiều so với xuất khẩu Do đó,
đây là cơ hội để phát triển loại hàng hoá này để kết hợp bảo tồn và phát triển kinh tế.
Quan điểm đa ngành trong bảo tồn ĐDSH
Bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng nói chung và tài nguyên cây thuốc nóiriêng không thể đạt được hiệu quả cao nếu chỉ dựa vào hoạt động của một ngànhhay một lĩnh vực nào đó, vì hoạt động này cần phải huy động nhiều lĩnh vực kiếnthức khác nhau “Người chủ rừng phải biết huy động kiến thức sâu rộng và phảibiết kết hợp kiến thức về sinh vật học, sinh thái học, thổ nhưỡng học và đặc biệt
là kiến thức lâm học Đồng thời phải biết đặt đối tượng tác động trong bối cảnh
vận động của yếu tố kinh tế - xã hội” [14] Do đó, khi đề xuất các giải pháp bảo tồn tài nguyên cây thuốc phải kết hợp giữa giải pháp kỹ thuật và giải pháp kinh
tế - xã hội.
Luận điểm khoa học
Sau khi tiến hành tra cứu các tài liệu nghiên cứu về thực vật, những vấn đềtrong hoạt động bảo tồn và phát triển TNCT ở khu vực VQG Vũ Quang, chúngtôi có thể đưa ra những luận điểm như sau:
- Hệ thực vật cây thuốc tại VQG Vũ Quang đa dạng về số lượng các taxon
so với toàn khu vực Việt Nam.
- Người dân địa phương ở VQG Vũ Quang có nhiều kinh nghiệm quý trong khai thác, chế biến và sử dụng cây thuốc.
- Còn có những vấn đề (mâu thuẫn) trong hoạt động bảo tồn ĐDSH và Phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực.
Trang 243.1.1 Ranh giới
VQG Vũ Quang nằm cách thị xã Hà Tĩnh 70 km về phía Tây Phía Bắc giáp
xã Sơn Kim, Sơn Tây (Hương Sơn) và các xã Hương Quang, Hương Minh,Hương Thọ, Hương Điền và thị trấn Vũ Quang; phía Nam là đường biên giớiViệt - Lào; Phía Đông giáp xã Hương Thọ, Hòa Hải (Hương Khê); Phía Tây giáp
xã Hương Quang và Sơn Kim( Hương Sơn)
3.1.2 Vị trí địa lý
VQG Vũ Quang nằm giữa 18009’và 18027’ vĩ độ Bắc và giữa 105015’và
105035’ kinh độ Đông
3.1.3 Địa hình
Đây là khu vực cuối cùng của vùng Bắc Trường Sơn, có độ cao dao động từ
30 – 2.286 m, đỉnh cao nhất là Rào Cỏ, nằm ở phía Bắc, thuộc biên giới Việt Lào Đây là nơi bắt nguồn của 3 con sông: Sông Nậm Tươi, sông Rào Nổ vàsông Khe Tre, bắt nguồn từ phía Nam VQG, có nhiều suối nhỏ hẹp độ dốc lớn.Những con sông này chảy về hướng Bắc và rộng dần ở vị trí thấp
Trang 25-3.1.4 Đất đai
Đây là khu vực phân bố nhiều độ cao và nhiều kiểu địa hình khác nhau nêntập trung khá nhiều loại đất đai, nhưng chủ yếu là những loại đất như: Đất feralit
đỏ nâu, feralit đỏ vàng, và đất phù sa thung lũng
- Đất feralit đỏ vàng tập trung chủ yếu ở núi thấp và trung bình, hàm lượngmùn trong lớp đất mặt trung bình, thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình
- Đất feralit đỏ nâu phát triển trên đá vôi, đất feralit đỏ nâu phát triển trên
đá bazan ở độ cao lớn hơn 1800 m, nằm ở khu vực biên giới Việt - Lào
3.1.5 Khí hậu, thủy văn
Khí hậu chia thành hai kiểu khá rõ ràng Ở khu vực đồng bằng, độ cao nhỏ,khí hậu chịu ảnh hưởng của hai loại gió mùa đông bắc và đông nam - chế độ khíhậu chung của miền trung Việt Nam Ở khu vực miền núi, có độ cao lớn, là sựkết hợp của chế độ khí hậu Lào và Miền trung Việt Nam Khí hậu trong nămđược hình thành 3 mùa rõ rệt: mùa đông từ tháng 12 đến tháng 3, thời tiết lạnh,
độ ẩm cao; mùa hè từ tháng 4 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 11,lượng mưa rất lớn nên có thể gây lũ lụt
- Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình cao nhất vào tháng 7, nhiệt độ trung bình tháng là 290C
và nhiệt độ trung bình cực đại là 34,70C VQG Vũ Quang có sự biến đổi độ caorất lớn nên nhiệt độ thay đổi theo độ cao- độ cao tăng thêm 100 m thì nhiệt độgiảm 0,60C
- Lượng mưa
Tổng lượng mưa trung bình năm Hương Khê là 2418 mm và ở Hương Sơn
là 23900 mm Lượng mưa chủ yếu tập trung vào tháng 9 và tháng 10 Số ngàymưa trong tháng phân bố khá đều trong năm Mùa đông lượng mưa không lớn(45 – 64 mm), chủ yếu là mưa phùn
Trang 26- Cường độ bốc hơi và độ ẩm
Lượng bốc hơi cao nhất vào tháng 7, tháng có nhiệt độ trung bình cao nhấttrong năm, và lượng bốc hơi nhỏ nhất vào tháng 3 là tháng có số giờ nắng thấpnhất trong năm
Độ ẩm ở đây khá cao quanh năm (lớn hơn 70%) Độ ẩm cực đại vào tháng 2(91%) Độ ẩm cực tiểu vào tháng 7, khi số giờ nắng và nhiệt độ đạt cực đại
Sông suối.
Đại diện cho hệ thống thủy văn của VQG Vũ Quang là ba con sông chính:Khe Chè, Ngàn Trươi, Rào Nổ và một hệ thống các suối nhánh nhỏ trên lưu vựccác con sông này Sông Khe Chè bắt nguồn từ phía Tây - Xã Kim Sơn, chảy theohướng nam bắc và chảy vào sông Ngàn Phố, ở thượng nguồn sông này có độ dốckhá lớn nên dòng chảy có cường độ mạnh và phức tạp, càng xuống thấp dòngchảy chậm và ổn định hơn do địa hình bằng phẳng hơn Sông Ngàn Trươi bắtnguồn từ biên giới Việt - Lào, và đổ vào sông Ngàn Trươi Sông Rào Nổ bắtnguồn từ phía đông của VQG, lúc đầu chảy theo hướng bắc nam và sau đó chảytheo hướng đông và nhập vào sông Ngàn Sâu
Nói chung những con sông này được hình thành ở những khu vực có địahình phức tạp, có độ dốc cao nên dòng chảy có cường độ mạnh và nhiều đoạnkhác nhau và gần xuống thấp thì dòng chảy ổn định hơn
Trang 27- Rừng thường xanh trên núi thấp phân bố trong khoảng đai cao từ 300 đến
1000 m, ở vùng lõi VQG Rừng chủ yếu là rừng thứ sinhcó trữ lượng gỗ khá cao
- Rừng thường xanh trung bình: phân bố trên đai cao từ 1000 đến 1400 m,theo dải hẹp, chạy dài từ phía Bắc đến Đông Nam VQG, thành phần chủ yếu làcác loài cây lá rộng và một số loài cây lá kim thuộc họ Kim giao, Hoàng đàn, đặcbiệt là loài Pơ mu
- Rừng thường xanh núi cao: phân bố trên độ cao 1400 m đến 1900 m , hìnhthành ở sườn và dông ở phía Nam và phía Tây, có một số loài lá kim và một số
họ như họ Côm (Eleocarpaceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Long não (Lauraceae)
- Rừng phân bố trên độ cao lớn hơn 1900 m: Phân bố ở phía Nam VQG, chủyếu là các loài thuộc họ Đỗ quyên (Ericaceae), họ Dẻ (Fagaceae)
3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.2.1 Dân số, dân tộc
- Dân số
Theo số liệu điều tra gần đây nhất, VQG Vũ Quang có vùng đệm gồm 9 xã,
1 thị trấn với 7578 hộ và 33.148 nhân khẩu Trong đó gồm khoảng 1 - 2% số dânsống trong vùng lõi của VQG và 98% sống trong vùng đệm Tỉ lệ tăng dân sốkhoảng 1,2% Đặc biệt chú ý có những thôn sinh sống lâu đời trong vùng lõiVQG như Kim Quang và Mạn Chạn của xã Hương Quan (Huyện Vũ Quang),bốn xóm của xã Hòa Hải
- Dân tộc: Có 4 thành phần dân tộc đang sinh sống trong vùng đệm và
vùng lõi của VQG Vũ Quang gồm: Kinh, Lào, Mán Thanh, Tày; trong đó ngườiKinh chiếm 98,0%, Lào chiếm 1,4%, Thanh và Tày chiếm 0,6% [11]
Trang 283.2.2 Thu nhập và đời sống
Nguồn thu nhập của người dân vẫn chủ yếu là từ các hoạt động sản xuấtnông, lâm nghiệp, chiếm 97% thu nhập, còn lại là thu nhập từ các hoạt độngkhác như dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp… Thu nhập bình quân đầu người rấtthấp, chỉ đạt 2,1 – 2,4 triệu đồng/người/năm
Trang 29nhưng lại chiếm đến 29,67% số họ, 15,50% số chi và 6,66% số loài của cả nước.Qua đó có thể kết luận hệ thực vật cây thuốc Vũ Quang khá đa dạng về số lượngcác taxon.
Bảng 4.1 So sánh hệ cây thuốc VQG Vũ Quang và hệ cây thuốc Việt Nam
Trang 30Bảng 4.2 Số lượng và tỉ lệ của các taxon các ngành thực vật làm thuốc
Ngành Mộc lan có số lượng taxon lớn nhưng sự phân bố trong các lớpMộc lan (Magnoliopsida) và lớp Loa kèn (Liliopsida) trong ngành này cũngkhông đồng đều, điều này sẽ được thể hiện rõ qua bảng 4.3 tổng hợp sau đây
Bảng 4.3 Số lượng và tỉ lệ của các lớp Mộc lan và lớp Loa kèn
trong ngành Mộc lan tại VQG Vũ Quang
Tuy các taxon chủ yếu tập trung rất ít vào các ngành khác ngoài ngànhMộc lan (Magnoliophyta) nhưng các loài chứa đựng trong đó lại có giá trị về
Trang 31công dụng cũng như bảo tồn rất cao như: Thông đất (Lycopodiella cernua (L.) Fraco & Vast.) thuộc ngành Thông đất (Lycopodiophyta), Pơ mu (Fokienia hodginsii (Dunn) A Henry & Thomas), Thông lông gà (Dacrycarpus imbricatus (Blume) de Laub., Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum (Roxb.) Wallich ex Hook.)… Lớp Loa kèn có các loài như: Thiên niên kiện (Homalomena occulta (Lour.) Schott., Thổ phục linh (Smilax glabra Roxb.), Sa nhân (Amomum xanthioides Wall ex Baker) …
Sự không đồng đều trên có thể giải thích được bởi đặc điểm của khu hệthực vật ở Việt Nam nói chung và VQG Vũ Quang nói riêng thì các taxon chủyếu cũng tập trung vào ngành Mộc lan (Magnoliophyta) và lớp Mộc lan(Magnoliopsida)
Sự đa dạng ở bậc họ, bậc chi đồng nghĩa với việc xét trong họ, trong chi
có bao nhiêu loài, thông qua bảng tổng hợp sau đây (bảng 4.4 )
Bảng 4.4 Sự phân bố số lượng các loài cây thuốc trong các họ
Số loài Ngành
Trên
15 loài
10-15 loài
5-9 Loài
4 loài
3 loài
2 loài
1 loài
có từ 1 đến 9 loài (87 họ, chiếm 97,76%) Số loài trong 2 nhóm này cũng tương
tự Như vậy có nghĩa là hệ thực vật cây thuốc ở VQG Vũ quang có số họ và số
Trang 32loài phân bố tập trung vào các họ có số loài từ 1 đến 9 Những họ có nhiều loàinhất được thể hiện ở bảng 4.5 sau:
Bảng 4.5 Các họ đa dạng nhất về số loài làm thuốc ở VQG Vũ Quang
Vũ Quang (1)
Số loài ở Việt Nam (2)
Tỉ lệ (1) và (2)
Sự phân bố các loài trong các chi thực vật làm thuốc ở VQG Vũ cũngkhông đồng đều, điều này thể hiện qua bảng 4.6 sau:
Bảng 4.6 Sự phân bố số loài trong các chi