Phương pháp điều tra bằng cách phát phiếu khảo sát đã được thiết kế sẵn cho các doanh nghiệp hoạt động XNK trên địa bàn tỉnh lựa chọn ngẫu nhiên nhằm đánh giá các quy định có liên quan c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
PHAN CHÍ HIẾU
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO TRONG KIỂM
HẢI QUAN TỈNH QUẢNG BÌNH
Chuyên Ngành: Quản Lý Kinh Tế
Mã Số : 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRƯƠNG TẤN QUÂN
HUẾ, 2017
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung
thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi
sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫntrong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoahọc của Tiến sĩ Trương Tấn Quân, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - Đại họcHuế Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình./
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến Quý thầy cô tham gia giảng dạy
lớp cao học chuyên ngành Quản lý Kinh tế K16D; các khoa, phòng và Ban Giám hiệu
Trường Đại học kinh tế, Đại học Huế đã tổ chức khóa học Thạc sĩ này để tạo điều kiện
cho tác giả được học tập, nâng cao hiểu biết và trình độ nghiệp vụ nhằm phục vụ côngtác cũng như quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn
Đồng thời, tác giả trân trọng gửi lời cảm ơn đến Lãnh đạo Cục Hải quan tỉnh
Quảng Bình và Ban Quản lý rủi ro – Tổng cục Hải quan đã tạo điều kiện cho tác giả
được trực tiếp làm việc, phỏng vấn, thu thập số liệu trong quá trình thực hiện luận văn
Tác giả chân thành cảm ơn các đồng nghiệp đã chia sẽ kinh nghiệm quý báu cũng như
hỗ trợ tác giả trong quá trình hoàn thành luận văn Cảm ơn các doanh nghiệp tham giahoạt động xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình đã phối hợp, hợp tác đểcuộc khảo sát ý kiến vừa qua đạt kết quả
Đặc biệt, tác giả xin thể hiện sự cảm ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Trương Tấn Quân,
Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế đã cho tác giả những lờikhuyên sâu sắc và hướng dẫn tận tình trong quá trình hoàn thành Luận văn thạc sỹnày
Mặc dù có nhiều có gắng trong quá trình thực hiện, song Luận văn vẫn cònnhiều hạn chế nhất định Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của Quý thầy, cô và cácbạn đồng nghiệp./
Trang 4TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
Họ và tên học viên : PHAN CHÍ HIẾU
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế; Niên Khóa: 2015-2017
Người hướng dẫn khoa học: TS TRƯƠNG TẤN QUÂN
Tên đề tài: HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QLRR TRONG KIỂM SOÁT
HOẠT ĐỘNG XNK HÀNG HÓA TẠI CỤC HQ TỈNH QUẢNG BÌNH
1 Tính cấp thiết của đề tài: Trước yêu cầu hội nhập quốc tế và tạo thuận lợi
thương mại; thông qua việc lựa chọn hàng hóa và doanh nghiệp trọng điểm để kiểm
tra, quá trình thông quan và giải phóng hàng được diễn ra nhanh chóng hơn trên cơ sở
áp dụng quản lý rủi ro nhằm giải quyết thủ tục đúng quy định, giảm bớt các chi phí và
đáp ứng lưu lượng hàng hóa XNK ngày một tăng trong điều kiện biên chế không thay
đổi Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý rủi ro trong kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình” được lựa
chọn nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ
2 Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng hệ thống các phương pháp: chuyên
gia chuyên khảo; thống kê mô tả; so sánh; phân tích dữ liệu chuỗi thời gian…Thu thậptài liệu thứ cấp từ Cục HQ tỉnh Quảng Bình; Thu thập số liệu sơ cấp từ khảo sát 50 cán
bộ, công chức thuộc Cục HQ tỉnh Quảng Bình và 88 doanh nghiệp đang hoạt độngXNK dựa trên bảng hỏi được thiết kế sẵn Việc phân tích số liệu sử dụng phương pháp
so sánh và thống kê mô tả, kiểm định giá trị trung bình…
3 Kết quả nghiên cứu và những đóng góp khoa học của luận văn
Luận văn đạt được những kết quả nghiên cứu sau: Khái quát đầy đủ về cơ sở lýluận và thực tiễn công tác quản lý rủi ro trong kiểm soát hoạt động XNK hàng hóa;
Phân tích, đánh giá thực trạng và kết quả đạt được của công tác quản lý rủi ro trong
kiểm soát hoạt động XNK hàng hóa tại Cục HQ tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2012 –2016; Phân tích rủi ro, xác định trọng điểm kiểm tra trong thông quan, sau thông quan
đối với hàng hóa XNK; Định hướng, mục tiêu đến năm 2020 và các giải pháp hoàn
thiện công tác quản lý rủi ro trong kiểm soát hoạt động XNK hàng hóa
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
EDI Trao đổi dữ liệu điện tử
EU Liên minh Châu Âu
HQ Hải quan
HQCK Hải quan cửa khẩu
ISO Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế
KTSTQ Kiểm tra sau thông quan
KYOTO Công ước quốc tế về đơn giản hoá và hài hòa hóa thủ tục hải quan
NTC Trung tâm xác định trọng điểm quốc gia
OIIL Văn phòng liên lạc tình báo và điều tra
SAFE Khung tiêu chuẩn an ninh thương mại toàn cầu
TCHQ Tổng cục Hải quan
TK Tờ khai
UBND Ủy ban nhân dân
XNK Xuất nhập khẩu
VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
VCIS Hệ thống thông tin tình báo Hải quan Việt Nam
VNACCS Hệ thống thông quan hàng hóa tự động
WCO Tổ chức Hải quan thế giới
WTO Tổ chức Thương mại thế giới
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 6MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Tóm lược luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế iii
Danh mục các chữ viết tắt và ký hiệu iv
Mục lục v
Danh mục bảng ix
Danh mục hình x
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Cấu trúc luận văn 3
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO TRONG KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA 5
1.1 Quản lý và quản lý rủi ro trong kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa 5
1.1.1 Quản lý hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa 5
1.1.2 Sự ra đời của hoạt động quản lý rủi ro trong quản lý Hải quan 7
1.1.3 Quản lý rủi ro trong kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa 8
1.2 Quy trình quản lý rủi ro đối với kiểm soát hoạt động XNK hàng hóa 15
1.3 Nội dung công tác quản lý rủi ro trong hoạt động XNK hàng hóa 18
1.3.1 Thu thập thông tin rủi ro và xây dựng, quản lý áp dụng tiêu chí quản lý rủi ro 18
1.3.2 Phân tích, đánh giá thông tin rủi ro 19
1.3.3 Phân tích, xác định trọng điểm giám sát đối với hàng hoá XNK phục vụ kiểm tra sau thông quan 20
1.3.4 Thực hiện các biện pháp kiểm soát rủi ro 21
1.3.5 Theo dõi, kiểm tra, đánh giá hiệu quả việc áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ Hải quan 22
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 71.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý rủi ro trong kiểm soát hoạt động XNK
hàng hóa 23
1.4.1 Các quy định áp dụng quản lý rủi ro trong thủ tục Hải quan của một số tổ chức quốc tế mà Việt Nam là thành viên 23
1.4.2 Chủ trương, đường lối và chính sách của Nhà nước trong công tác quản lý nhà nước về Hải quan 24
1.4.3 Các yếu tố nội tại của cơ quan Hải quan Việt Nam 25
1.4.4 Các yếu tố thuộc về doanh nghiệp hoạt động XNK 26
1.4.5 Các yếu tố thuộc về quy mô, tính chất hàng hóa XNK 26
1.5 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý rủi ro trong hoạt động XNK hàng hóa 27
1.5.1 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý rủi ro trong hoạt động XNK hàng hóa được quản lý tập trung tại Tổng cục Hải quan 27
1.5.2 Đánh giá, xếp hạng mức độ rủi ro của doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu 27
1.5.3 Kết quả phân tích, đánh giá rủi ro đối với hàng hóa và doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu 28
1.6 Kinh nghiệm áp dụng quản lý rủi ro trong kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của Hải quan một số nước 29
1.6.1 Kinh nghiệm quản lý rủi ro của Hải quan Singapore 29
1.6.2 Kinh nghiệm quản lý rủi ro của Hải quan Nhật Bản 31
1.6.3 Kinh nghiệm quản lý rủi ro của Hải quan Hoa Kỳ 32
1.6.4 Kinh nghiệm quản lý rủi ro của Hải quan Anh 33
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ KẾT QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO TRONG KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG BÌNH 35
2.1.Tổng quan về Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình 35
2.1.1 Giới thiệu về Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình 35
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ 36
2.1.3 Kết quả hoạt động của Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình 38
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 82.2 Thực trạng công tác quản lý rủi ro trong kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu hàng
hóa tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình 45
2.2.1 Công tác quản lý rủi ro tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình qua các giai đoạn 45
2.2.2 Thực trạng công tác quản lý rủi ro trong kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình hiện nay 47
2.3 Đánh giá các đối tượng liên quan về công tác quản lý rủi ro trong kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình 57
2.3.1 Các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình 57
2.3.2 Cán bộ công chức Hải quan trong hoạt động XNK hàng hóa 60
2.4 Đánh giá về công tác quản lý rủi ro trong kiểm soát hoạt động XNK hàng hóa tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình 64
CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO TRONG KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG XNK HÀNG HÓA TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG BÌNH 70
3.1 Định hướng phát triển của Hải quan Việt Nam 70
3.1.1 Về xây dựng thể chế 71
3.1.2 Công tác nghiệp vụ hải quan 71
3.1.3 Tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực 73
3.1.4 Cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật; công nghệ thông tin và thống kê hải quan 75
3.1.5 Các nội dung khác 76
3.2 Mục tiêu phát triển của Hải quan Việt Nam 77
3.2.1 Mục tiêu tổng quát 77
3.2.2 Mục tiêu chủ yếu 78
3.3 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý rủi ro trong kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa 80
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90
1 Kết luận 90
2 Kiến nghị 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
QUYẾT ĐỊNH VỀ VIỆC THÀNH LẬP HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 9BIÊN BẢN CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VẮN THẠC SĨ KINH TẾ
NHẬN XÉT LUẬN VĂN THẠC SĨ CỦA PHẢN BIỆN 1
NHẬN XÉT LUẬN VĂN THẠC SĨ CỦA PHẢN BIỆN 2
BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN
XÁC NHẬN HOÀN THIỆN LUẬN VĂN
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 10Bình năm 2012- 2016 43Bảng 2.5 Kết quả đo thời gian thông quan hàng hóa XNK tại Cục HQ tỉnh Quảng
Bình năm 2016 48Bảng 2.6 Tổ chức bộ máy chuyên trách công tác quản lý rủi ro tại Cục HQ tỉnh
Quảng Bình năm 2016 50Bảng 2.7 Kết quả thu thập xử lý thông tin của Cục HQ tỉnh Quảng Bình năm
2012- 2016 51Bảng 2.8 Kết quả xây dựng tiêu chí rủi ro của Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình Từ
các năm 2012 – 2016 53Bảng 2.9 Thống kê kết quả phân luồng tại Cục HQ tỉnh Quảng Bình năm 2012-
2016 53Bảng 2.10 Thống kê kết quả chuyển luồng tại Cục HQ tỉnh Quảng Bình năm 2012-
2016 54Bảng 2.11 Tình hình doanh nghiệp chấp hành pháp luật HQ của Cục HQ tỉnh
Quảng Bình năm 2015-2016 55Bảng 2.12 Bảng Tổng hợp khảo sát ý kiến doanh nghiệp Trong hoạt động XNK
hàng hóa tại Cục HQ tỉnh Quảng Bình 57Bảng 2.13 Bảng Tổng hợp khảo sát ý kiến công chức Hải quan trong hoạt động
XNK hàng hóa tại Cục HQ tỉnh Quảng Bình 60
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Ma trận tạo thuận lợi và kiểm soát 7
Hình 1.2 : Quy trình Quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ Hải quan 16
Hình 1.3 : Phân tích về mức độ rủi ro và biện pháp xử lý 17
Hình 2.1 : Cơ cấu tổ chức của Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình 36
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 12PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế có ảnh hưởng đến mọi quốc gia trên thế giới,tạo ra sự gia tăng mạnh mẽ các dòng lưu chuyển của hàng hóa, dịch vụ, vốn côngnghệ, nguồn nhân lực lao động và các yếu tố khác giữa các quốc gia Điều này cùngvới sự gia tăng áp lực từ cộng đồng thương mại quốc tế trong việc giảm tối đa sự canthiệp của Chính phủ vào hoạt động thương mại đã đòi hỏi cơ quan Hải quan phải đổimới phương thức quản lý của mình nhằm vừa tạo thuận lợi thương mại, đồng thời vẫn
đảm bảo kiểm soát chặt chẽ sự tuân thủ pháp luật
Trong nỗ lực tìm kiếm phương thức quản lý phù hợp với sự phát triển của
thương mại quốc tế, Hải quan một số quốc gia đã tiếp cận, nghiên cứu và áp dụng
thành công kỹ thuật quản lý rủi ro vào hoạt động nghiệp hải quan nói chung và kiểmsoát hàng hóa xuất nhập khẩu nói riêng Kỹ thuật này đã được phát triển thành phươngpháp quản lý mới áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới Tháng 6/1999, Hội đồngHải quan thế giới (nay là tổ chức Hải quan thế giới WCO) đã thông qua Công ướcquốc tế về đơn giản hóa và hài hòa thủ tục Hải quan – (Công ước KYOTO sửa đổi),
trong đó đưa ra các khuyến nghị (6.3, 6.4, 6.5) áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động
kiểm soát Hải quan
Trước yêu cầu hội nhập quốc tế, cùng với áp lực tạo thuận lợi thương mại ngày
càng lớn, Hải quan Việt Nam đã xây dựng và triển khai chương trình hiện đại hóa Hải
quan, trong đó xác định một trong những mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm là từng bước
triển khai, áp dụng một cách toàn diện, đầy đủ phương pháp quản lý rủi ro, xem đây lànền tảng cho các hoạt động quản lý nghiệp vụ Hải quan
Quản lý rủi ro là phương pháp hữu hiệu để đảm bảo đồng thời yêu cầu của côngtác quản lý nhà nước về hải quan và tạo thuận lợi cho thương mại Áp dụng quản lý rủi
ro đã tạo ra những bước chuyển biến căn bản về phương thức quản lý, giảm thiểu cácthủ tục Hải quan, trong khi vẫn đảm bảo kiểm soát thích hợp việc tuân thủ pháp luật.Thông qua việc lựa chọn đối tượng hàng hóa và doanh nghiệp trọng điểm để kiểm tra,quá trình thông quan và giải phóng hàng được diễn ra nhanh chóng hơn Tiến trình
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 13thực hiện thủ tục hải quan đối với các lô hàng, doanh nghiệp được xác định có độ rủi
ro thấp sẽ ít bị cơ quan Hải quan can thiệp Thế nên, thủ tục sẽ được xử lý nhanhchóng, thuận lợi hơn, giảm bớt các chi phí cho doanh nghiệp và đáp ứng lưu lượnghàng hóa xuất nhập khẩu ngày một tăng trong điều kiện biên chế công chức Hải quan
toàn ngành không thay đổi
Nhằm hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị đã được Bộ Tài chính, Tổng cụcHải quan và UBND tỉnh giao, đồng thời đáp ứng yêu cầu cải cách, hiện đại hóa hảiquan, Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình phấn đấu giảm tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hóaxuống dưới 7% vào năm 2020 (theo Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020 banhành kèm theo Quyết định số 448/QĐ-TTg ngày 25/3/2011 của Thủ tướng Chínhphủ), công tác quản lý rủi ro cần tiếp tục được củng cố, hoàn thiện một cách toàn diện
vào hoạt động của đơn vị nhằm đảm bảo sự gắn kết giữa các hoạt động nghiệp vụ, tạo
ra sự cân bằng giữa tạo thuận lợi và kiểm soát, nâng cao năng lực quản lý của Cục Hảiquan tỉnh Quảng Bình theo định hướng phát triển bền vững
Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý rủi ro trong
kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình”
được lựa chọn nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích thực trạng áp dụng quản lý rủi ro trong kiểm soát hoạt
động xuất nhập khẩu hàng hóa, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu
quả quản lý rủi ro trong kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa tại Cục Hảiquan tỉnh Quảng Bình trong thời gian đến
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về QLRR trong kiểm soát hoạt
động XNK hàng hóa trong thủ tục hải quan
- Phân tích thực trạng công tác QLRR trong kiểm soát hoạt động XNK hànghóa tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2012 - 2016
- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý rủi ro trong kiểm soáthoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình thời gian đến
năm 2020
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 143 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: công tác quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải
quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình
+ Thời gian: giai đoạn từ năm 2012 đến hết năm 2016
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, sơ cấp; chọn mẫu, điều tra
- Số liệu thứ cấp cần thiết cho đề tài được thu thập từ các nguồn: các bộ phậnchuyên trách QLRR Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình, TCHQ, BTC; Báo cáo tổng kết
công tác các năm 2012-2016, các văn bản pháp luật về QLRR, các tài liệu kinh tế - xã
hội, Internet Ngoài ra, còn sử dụng các số liệu từ báo cáo khoa học đã được công
bố, các công trình nghiên cứu khoa học của nhiều tác giả về lĩnh vực liên quan đến đềtài
- Số liệu sơ cấp: Được thu thập bằng cách điều tra, khảo sát ý kiến đánh giá của cácdoanh nghiệp hoạt động XNK trên địa bàn và các công chức Hải quan trực tiếp thực hiệncông tác QLRR, thông quan hàng hóa XNK tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình
Phương pháp điều tra bằng cách phát phiếu khảo sát đã được thiết kế sẵn cho các
doanh nghiệp hoạt động XNK trên địa bàn tỉnh (lựa chọn ngẫu nhiên) nhằm đánh giá
các quy định có liên quan của cơ quan Hải quan đối với công tác áp dụng quản lý rủi
ro trong kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa
Phỏng vấn khảo sát công chức Hải quan thuộc Cục Hải quan tỉnh Quảng Bìnhnhằm thu thập các dữ liệu quan trọng về tính hiệu quả của áp dụng quản lý rủi ro trongkiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa
4.2 Phương pháp tổng hợp, phân tích
Phương pháp tổng hợp và phân tích thống kê là phương pháp chủ yếu được sử
dụng trong đề tài, cụ thể gồm phân tích các chỉ tiêu tương đối, tuyệt đối và số bình
quân để đánh giá sự biến động của các chỉ tiêu phân tích khi có sự thống nhất về thời
gian, không gian theo một số tiêu thức nhất định
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 154.3 Công cụ xử lý dữ liệu
Số liệu sơ cấp và số liệu thứ cấp được thu thập và xử lý trên các phần mềm thôngdụng như Micrsoft Excel, SPSS…
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý rủi ro trong kiểmsoát hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa
- Chương 2: Thực trạng và kết quả công tác quản lý rủi ro trong kiểm soát hoạt
động xuất nhập khẩu hàng hóa tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình
- Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý rủi ro trongkiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 16PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO TRONG KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA 1.1 Quản lý và quản lý rủi ro trong kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa 1.1.1 Quản lý hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa
Hoạt động xuất nhập khẩu và giao lưu thương mại giữa các quốc gia, vùng lãnhthổ trên thế giới là một tất yếu khách quan do sự phát triển không ngừng của hoạt độngsản xuất, kinh doanh thương mại và nhu cầu trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ Xét
trên phương diện lợi ích quốc gia, việc quản lý, kiểm soát tốt hoạt động xuất nhập
khẩu hàng hóa không những tạo ra nguồn thu rất lớn cho ngân sách Nhà nước mà cònrất cần thiết để bảo vệ các lợi ích nội tại của quốc gia trong các lĩnh vực an ninh quốcphòng, an ninh kinh tế, văn hóa, chính trị Vì thế, cơ quan Hải quan được Chính phủ
các nước thành lập và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm soát hàng hóa qua biên giới,
thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát hàng hóa, hành lý và phương tiện vận tải được phépvào, ra biên giới lãnh thổ theo luật lệ của quốc gia đó và thực hiện chính sách thu thuế
đối với hàng hóa xuất nhập khẩu
Giai đoạn đầu thành lập, mục đích chủ yếu của cơ quan Hải quan là thu thuếđánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu để tạo nguồn thu ngân sách Hàng hóa xuất nhập
khẩu qua biên giới thường có giá trị lớn Đối tượng thực hiện trao đổi, mua bán hànghóa qua biên giới các nước thường là các thương nhân, quý tộc giàu có nên các nhà
nước phong kiến muốn thu lại một phần lợi nhuận của họ
Cùng với quá trình phát triển của hoạt động giao thương giữa các quốc gia vàvùng lãnh thổ, chức năng nhiệm vụ của cơ quan hải quan được mở rộng ra ngoài lĩnhvực thu thuế Ngày nay, cơ quan Hải quan của các nước được giao nhiều nhiệm vụ
như: kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu, phòng chống buôn lậu và gian lậnthương mại, chống vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, quản lý nhà nước về
Hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, phương tiện vận tải xuấtcảnh, nhập cảnh, quá cảnh… Ngoài ra, cơ quan Hải quan cũng thường được giaonhiệm vụ ngăn chặn hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép vũ khí, thiết bị quân sự
như máy bay chiến đấu, tàu ngầm
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 17Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, bên cạnh nhiệm vụ thực hiện những vai tròquan trọng đối với nền kinh tế và hoạt động quản lý của nhà nước, lực lượng Hải quan là
cơ quan đại diện cho một quốc gia trong việc xây dựng và mang hình ảnh quốc gia đến
với bạn bè và đối tác quốc tế Thái độ, năng lực, trình độ, tổ chức và tính chuyên nghiệpcủa công chức Hải quan mang lại ấn tượng về văn hóa ứng xử và trình độ tổ chức quản lýcủa quốc gia đó Cơ quan Hải quan thực hiện các chính sách của Nhà nước trong việc
định hướng hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa phục vụ lợi ích quốc gia, thực hiện các
chính sách khuyến khích hay hạn chế, ngăn cản xuất nhập khẩu các loại hàng hóa theoyêu cầu quản lý Cơ quan Hải quan hỗ trợ và tạo điều kiện cho thương mại dịch vụ pháttriển, góp phần duy trì một môi trường bình đẳng cho cho tất cả các doanh nghiệp thamgia vào hoạt động thương mại quốc tế Qua đó đóng góp vào sự phát triển của hoạt động
thương mại dịch vụ cũng như hoạt động sản xuất, đầu tư trong nước
Tuy nhiên, bên cạnh vai trò và các mặt tích cực, cơ quan Hải quan cũng tạo ramột số rào cản nhất định đối với hoạt động thương mại Việc kiểm soát hàng hóa xuấtnhập khẩu làm tăng thời gian và chi phí trong hoạt động giao thương hàng hóa Vớinhững tổ chức hải quan hoạt động trì trệ, thiếu khoa học, quy trình giải quyết thủ tụclạc hậu sẽ làm chậm thời gian thông quan của hàng hóa, tăng chi phí lưu kho, lưu bãicủa doanh nghiệp Từ đó kéo giảm lợi nhuận và cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp.Bên cạnh đó, cơ quan Hải quan cũng tác động tiêu cực đến hoạt động xuất nhập khẩuthông qua các rào cản về thuế quan và phi thuế quan Chính vì tác động cản trở này màcác tổ chức liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu đang nỗ lực đàm phán để các quốc gia
và vùng lãnh thổ hạ thấp hàng rào bảo hộ ở biên giới
Qua đây, chúng ta đã phần nào hiểu sơ lược về quá trình hình thành và phát
triển của hoạt động quản lý hải quan truyền thống Hoạt động này đã được DavidWiddowson đánh giá như sau: “Quá trình hình thành và phát triển của ngành Hải quangắn liền với chức năng, nhiệm vụ của “người gác cửa nền kinh tế” Để hoàn thành tốtnhiệm vụ của mình, trước đây, ngành Hải quan luôn nỗ lực kiểm tra, kiểm soát đối vớitất cả các dòng dịch chuyển, hàng hoá, phương tiện, qua lại biên giới nhằm đảm bảothực thi pháp luật và nguồn thu cho quốc gia.” (trích Customs ModernizationHandbook của David Widdowson, năm 2005)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 181.1.2 Sự ra đời của hoạt động quản lý rủi ro trong quản lý Hải quan
Phương pháp quản lý hải quan truyền thống đứng trước yêu cầu phải thay đổi khi
xu hướng toàn cầu hoá kinh tế thế giới được hình thành từ thập kỷ 80 – 90 của thế kỷ XX
Các dòng lưu chuyển hàng hóa gia tăng nhanh chóng, trong khi nguồn nhân lực của ngànhHải quan có hạn và tăng lên không đáng kể Thách thức này đặt ra cho Hải quan các nướcbài toán về tính hiệu quả, phải giải quyết sự quá tải công việc với nguồn lực có hạn Sức
ép từ yêu cầu cắt giảm thời gian thông quan hàng hóa của cộng đồng doanh nghiệp ngàycàng tăng, trong khi nhiệm vụ của cơ quan Hải quan trong việc kiểm soát ngăn chặn cáchành vi vi phạm pháp luật vẫn phải được thực hiện Những điều này làm cho mâu thuẫngiữa việc tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại và đảm bảo kiểm soát đối với hàng hóa
xuất nhập khẩu của cơ quan Hải quan ngày càng gay gắt
Để tìm hiểu mối quan hệ giữa mâu thuẫn này và mục tiêu quản lý của cơ quan
Hải quan, sau đây chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu ma trận tạo thuận lợi và kiểm soát HQcủa David Widdowson
Hình 1.1: Ma trận tạo thuận lợi và kiểm soát
(Nguồn: David Widdowson (2005) Customs Modernization Handbook)
Ma trận đã thể hiện các các cách thức quản lý của cơ quan Hải quan như sau:
- (1) Phương pháp quản lý quan liêu:
Mục tiêu quản lý: kiểm soát cao, tạo thuận lợi thấp, đây là cách quản lý quan liêu
- quản lý truyền thống của Hải quan: cơ quan Hải quan kiểm soát chặt chẽ tất cả các
đối tượng, tạo ra sự cản trở rất lớn cho thuận lợi thương mại toàn cầu
Phương pháp quản lý quan liêu
Phương pháp
quản lý cân bằng
Phương pháp
quản lý khủng hoảng
Phương pháp
quản lý không can thiệp
Cao
CaoTạo thuận lợi
(3)(2)
Thấp
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 19- (2) Phương pháp quản lý khủng hoảng:
Mục tiêu quản lý: kiểm soát thấp, tạo thuận lợi thấp, đây là cách quản lý khủnghoảng, không mang lại lợi ích cho hoạt động thương mại cũng như Chính phủ
- (3) Phương pháp quản lý không can thiệp:
Mục tiêu quản lý: kiểm soát thấp, tạo thuận lợi cao, đây là cách quản lý khôngcan thiệp, chứa đựng nhiều rủi ro đối với một quốc gia
- (4) Phương pháp quản lý cân bằng:
Mục tiêu quản lý: kiểm soát cao và tạo điều kiện thuận lợi, đây là cách quản lýcân bằng, tối đa hoá hiệu quả quản lý của cơ quan Hải quan và cả lợi ích lớn chodoanh nghiệp
Mục tiêu quản lý như tại ô (4) chứa đựng hai yếu tố mâu thuẫn nhau, mặc dùkhó thực hiện nhưng phương thức này được Hải quan các nước quan tâm và dànhnhiều nguồn lực thực hiện bởi những hiệu quả, lợi ích to lớn mang lại cho công tácquản lý nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp Phương pháp quản lý cân bằng đã đượcHải quan nhiều nước trên thế giới áp dụng hiệu quả với việc thực hiện quản lý rủi ro
1.1.3 Quản lý rủi ro trong kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa
1.1.3.1 Khái niệm rủi ro, rủi ro trong lĩnh vực nghiệp vụ Hải quan
* Khái niệm:
- Trong xuất nhập khẩu hàng hóa, khái niệm rủi ro có nguồn gốc từ buôn bánhàng hải của Ý cổ đại Nó được kết hợp của khái niệm bất trắc hoặc không chắc chắn
ở trên biển và khả năng thiệt hại trong vận tải (tàu, hàng hóa) ở trên biển Nhiều nhà
nghiên cứu đã tập trung đi sâu phân tích tìm ra những quy luật của những nguy cơ, bấttrắc và thiệt hại xảy ra trong lĩnh vực vận chuyển hàng hải và vận dụng những kết quảnghiên cứu này vào lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm Sau này, việc nghiên cứu về rủi rocòn được phát triển ra các lĩnh vực khác như ngân hàng, kinh doanh, quản lý Nóthực sự trở thành một môn khoa học ứng dụng không chỉ trong các khu vực kinh tế tưnhân mà còn được đưa vào áp dụng trong lĩnh vực quản lý của cơ quan Nhà nước
Theo quan niệm truyền thống, “rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy
đến” (Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1995) Như vậy, rủi ro có thể được hiểu là sự kiện
không may xảy ra luôn gắn liền với hoạt động và môi trường sống của con người Theo
Từ điển Oxford “rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm hoặc bị đau đớn thiệt hại”.
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 20Theo quan niệm hiện đại: “rủi ro là những biến động xảy ra ngoài mong
muốn” hay “Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả, nó có thể xuất hiện trong hầu hết mọi hoạt động của con người mà người ta không thể dự đoán được chính xác kết quả Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định, nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể đoán được”.
- Trong lĩnh vực nghiệp vụ Hải quan, khái niệm rủi ro (risk) được nêu tại
Chương 6 Phụ lục tổng quát – Công ước KYOTO sửa đổi, bổ sung năm 1999, là nguy
cơ tiềm ẩn việc không tuân thủ pháp luật về Hải quan Hay nói cách khác, rủi ro trong
lĩnh vực Hải quan được hiểu là việc không chấp hành hoặc chấp hành không đúng,
không đầy đủ pháp luật Hải quan Theo quan điểm của Hải quan Việt Nam được dẫn
tại Điều 4 Luật HQ năm 2014, rủi ro là nguy cơ không tuân thủ pháp luật về Hải quan
trong thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải.
Nghiên cứu về rủi ro cần phân biệt rủi ro và vi phạm pháp luật Hải quan:
- Vi phạm pháp luật Hải quan là những hành vi vi phạm cụ thể đã được pháthiện và xác lập bằng biên bản vi phạm về hành chính hoặc bị khởi tố về các tội danh
có liên quan lĩnh vực quản lý Hải quan
- Rủi ro là nguy cơ tiềm ẩn vi phạm pháp luật Hải quan Như vậy, rủi ro đượctồn tại dưới một trong những dạng thức sau đây:
+ Những nguy cơ vi phạm pháp luật Hải quan có thể xảy ra Việc xảy ra viphạm chỉ mang tính khả năng; có thể xảy ra hoặc không xảy ra Rủi ro này thườngxuất hiện trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất định Với cách tiếp cận này chothấy rủi ro có thể được xác định bằng cách tổng kết quy luật của những vi phạm đã xảy
ra trước đó hoặc phân tích các điều kiện hoàn cảnh để dự báo khả năng và hậu quả của
những rủi ro
+ Những dấu hiệu phản ảnh một vi phạm có thể đã xảy ra trước đó nhưng chưa
được làm rõ Những rủi ro này thường được phát hiện trong quá trình phân tích các
hoạt động Hải quan đã được thực hiện và những rủi ro này thường được xử lý thôngqua các hoạt động kiểm tra sau thông quan, điều tra hoặc áp dụng các biện phápnghiệp vụ khác để quản lý, theo dõi
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 21* Phân loại rủi ro
Trong lĩnh vực Hải quan, để đáp ứng yêu cầu quản lý, ngoài việc xem xét rủi
ro trong từng bối cảnh, cơ quan Hải quan còn phải xem xét nó trong từng lĩnh vực
và từng thời điểm cụ thể Lĩnh vực được xem xét có thể là một loại hình quản lý,một chuyên ngành, một hệ loại đối tượng hoặc quy trình thủ tục được gọi là lĩnhvực rủi ro Vì thế, rủi ro có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau Ở đâychúng ta tập trung đi vào nghiên cứu hai tiêu chí về nguồn gốc của rủi ro và lĩnhvực xuất hiện rủi ro
- Xét về tiêu chí nguồn gốc, rủi ro trong lĩnh vực Hải quan gồm ba loại:
+ Rủi ro tiềm ẩn: Là những rủi ro bắt nguồn từ động cơ vụ lợi của các chủ
doanh nghiệp khiến họ cố tình làm sai quy định của pháp luật, ví dụ rủi ro về buôn lậu,gian lận thuế, buôn bán hàng bị cấm;
+ Rủi ro quy định: là những rủi ro phát sinh từ sự sơ hở, thiếu thống nhất, thiếu
đồng bộ trong các văn bản quy phạm pháp luật, đã tạo cơ hội cho người khai Hải quan,
doanh nghiệp lợi dụng để gian lận thương mại hoặc nhập lậu hàng hóa;
+ Rủi ro phát hiện: là những sai phạm của người khai Hải quan hoặc chủ doanh
nghiệp mà công chức Hải quan không phát hiện được do năng lực, trình độ yếu kémhoặc do thông đồng, tiếp tay cho sai phạm của đối tượng chiu sự quản lý Hải quan
- Xét về tiêu chí lĩnh vực xuất hiện, rủi ro trong lĩnh vực Hải quan được chia ra
làm năm loại sau:
+ Rủi ro trong hoạt động vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới: Đây là
những rủi ro phát sinh do công chức Hải quan không phát hiện được hành vi vậnchuyển hàng hóa trái phép qua biên giới Loại rủi ro này dễ xảy ra ở các cửa khẩu, biêngiới và các cảng biển, nơi các đối tượng buôn lậu sử dụng nhiều phương thức và thủ
đoạn nhằm che giấu, vận chuyển trốn tránh sự kiểm soát Rủi ro này có xác suất lớn dođối tượng buôn lậu và vận chuyển hàng hóa trái phép lớn, khó kiểm soát với phương
thức, thủ đoạn hoạt động ngày càng tinh vi Trong khi lực lượng kiểm soát của Hảiquan gặp nhiều khó khăn do các nguồn lực về lực lượng, trình độ cán bộ và trang bị kỹthuật có hạn, chưa theo kịp yêu cầu thực tế
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 22+ Rủi ro trong quá trình khai báo Hải quan của người khai Hải quan: Loại rủi
ro này liên quan đến việc người khai Hải quan không kê khai đúng, đủ số thuế phải
nộp vào ngân sách nhà nước hoặc khai báo sai nhằm vi phạm các chính sách áp dụng
đối với hàng hóa xuất nhập khẩu Loại rủi ro này xảy ra do chủ hàng cố ý khai báo
hàng hóa không đúng thực tế (khai báo sai tên hàng, sai số lượng, sai đặc điểm tínhchất của hàng hóa ); áp sai thuế suất của hàng hóa để giảm số thuế phải nộp hoặc cốtình chây ỳ, không nộp thuế theo quy định Rủi ro này cũng có thể xuất hiện do một sốdoanh nghiệp không nắm vững chính sách mặt hàng và chính sách thuế;
+ Rủi ro trong quá trình giải quyết thủ tục Hải quan của công chức hoặc cơ quan Hải quan: Rủi ro này là nguy cơ công chức Hải quan phạm sai lầm trong kiểm
tra chi tiết hồ sơ; kiểm tra thực tế hàng hóa dẫn đến việc áp dụng sai chính sách thuế
và chính sách mặt hàng Nguyên nhân của nguy cơ này xuất phát từ trình độ năng lựcyếu kém của cán bộ Hải quan trong thực thi nhiệm vụ hoặc xảy ra trong trường hợp
lượng hàng hóa và số tờ khai Hải quan đăng ký làm thủ tục vượt quá khả năng giải
quyết của công chức được phân công, trong khi áp lực từ việc thông quan nhanh chóngcho hàng hóa là rất lớn;
+ Rủi ro trong công tác cung cấp trao đổi thông tin: Đây là loại rủi ro xảy
ra khi cơ quan Hải quan thiếu thông tin hoặc được cung cấp thông tin nhưng chậm
trễ hoặc thiếu chính xác dẫn đến định hướng sai hoạt động kiểm tra, kiểm soát vàgiám sát Hải quan Trên thực tế với lượng hàng hóa xuất nhập khẩu ngày càngnhiều, cơ quan Hải quan không đủ khả năng kiểm tra tất cả các hồ sơ và lô hàng
mà việc kiểm tra dựa trên việc tổng hợp, xử lý các kết quả đánh giá tuân thủ phápluật của người khai Hải quan để phân loại rủi ro và xác định đối tượng kiểm tratrọng điểm Do đó, nếu thông tin không đầy đủ, không chính xác, không kịp thờithì dễ dẫn đến sự phán đoán sai, lãng phí nguồn lực vào lô hàng không có vấn đề,
bỏ qua lô hàng vi phạm;
+ Rủi ro bất khả kháng: nguy cơ thiếu trang thiết bị máy móc hỗ trợ cho công
việc kiểm tra hoặc do các yếu tố khách quan khác dẫn đến kết luận kiểm tra sai Loạirủi ro này có xác suất xảy ra lớn, thường xảy ra ở những nơi thiếu thốn trang thiết bịphục vụ công tác, điều kiện ngoại cảnh khó khăn
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 231.1.3.2 Quản lý rủi ro, quản lý rủi ro trong lĩnh vực nghiệp vụ Hải quan
- Con người vốn có bản năng hành động tự vệ trước những tác động của tựnhiên và xã hội nhưng ít khi nhận ra những hành động này Thôn thường chúng ta chỉtập trung vài những hành động mang tính chủ ý Nhưng bản chất cả hai hành động trên
đều hướng đến việc đối phó với những sự kiện bất lợi đối với mình Hay nói cách khác
là việc xử lý đối với những nguy cơ rủi ro có thể xảy ra (quản lý rủi ro)
Chúng ta khi đối mặt hoặc có khả năng đối mặt với rủi ro, thường xuất hiện tâm
lý lựa chọn phương pháp xử lý rủi ro có hiệu quả, bao gồm việc lựa chọn các biệnpháp thích hợp để: ngăn chặn không cho rủi ro xuất hiện; giảm thiểu khả năng và hậuquả của rủi ro có thể xảy ra; né tránh rủi ro; chuyển giao rủi ro; chấp nhận rủi ro
Việc lựa chọn biện pháp và hình thức nào là tùy thuộc vào điều kiện, môi
trường thực tế và năng lực của người lựa chọn Như vậy, khái niệm quản lý rủi ronói
chung có thể được hiểu là hành động để nhận diện về khả năng và mức độ xảy ra củarủi ro, qua đó áp dụng các biện pháp để kiểm soát thích hợp đối với rủi ro đó
- Trong lĩnh vực Hải quan, quản lý rủi ro được hiểu là việc ứng dụng có hệthống các chính sách, thủ tục và thông lệ vào các lĩnh vực quản lý Nhà nước về Hảiquan, nhằm tạo ra cơ chế hoạt động đồng bộ, hiệu quả trong việc phát hiện và xử lýcác vi phạm; đồng thời qua đó tạo ra môi trường và các điều kiện cho việc tự nguyệntuấn thủ, hạn chế tối thiều các vi phạm pháp luật Hải quan
Cơ quan Hải quan áp dụng quản lý rủi ro để quyết định mức độ kiểm tra, giámsát đối với hàng hóa, phương tiện vận tải chuyên chở hàng hóa, hỗ trợ hoạt động
phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới Theo quy định tại
Khoản 18 Điều 4 Luật Hải quan số 54/2014/QH13: “là việc cơ quan hải quan áp dụng
hệ thống các biện pháp, quy trình nghiệp vụ nhằm xác định, đánh giá và phân loại mức độ rủi ro, làm cơ sở bố trí, sắp xếp nguồn lực hợp lý để kiểm tra, giám sát và hỗ trợ các nghiệp vụ hải quan khác có hiệu quả.”
Cơ quan Hải quan áp dụng quản lý rủi ro dựa trên việc thu thập, phân tích, đánh
giá thông tin về các đối tượng rủi ro (tổ chức, cá nhân) thực hiện hoạt động xuất nhậpkhẩu hàng hóa, phương tiện vận tải hàng hóa; các tổ chức, cá nhân trong nước hoặc
nước ngoài là đối tác hoặc có liên quan đến các hoạt động này Ngoài ra, các thông tin
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 24về xuất xứ hàng hóa; quốc gia, khu vực xuất nhập khẩu hàng hóa hoặc là địa điểmtrung chuyển hàng hóa vào Việt Nam; thông tin về chính sách quản lý của cơ quanquản lý nhà nước đối với hàng hóa xuất nhập khẩu; chính sách ưu đãi trong hoạt độngxuất nhập khẩu hàng hóa, ưu đãi về hạn ngạch thuế quan của Việt Nam hoặc giữa ViệtNam với các quốc gia đều là cơ sở để phục vụ quản lý rủi ro.
Cơ quan Hải quan áp dụng quy trình quản lý rủi ro trong kiểm soát hoạt động
xuất nhập khẩu hàng hóa theo trình tự quy định Theo đó để điều chỉnh, bổ sung việcthực hiện hoạt động nghiệp vụ Hải quan một cách có hiệu quả, cơ quan Hải quan theodõi, kiểm tra đánh giá lại việc thực hiện nội dung các bước theo quy trình, đo lường, đánhgiá mức độ chấp hành pháp luật của các tổ chức, cá nhân
1.1.3.3 Sự thiết yếu của công tác quản lý rủi ro
Công tác quản lý rủi ro luôn gắn liền với tiến trình cải cách, phát triển, hiện đạihóa nhằm đáp ứng và tạo nền tảng cho các hoạt động nghiệp vụ Hải quan Việc triểnkhai chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020 ban hành kèm theo Quyết định số
448/QĐ-TTg ngày 25/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ; Kế hoạch cải cách, phát triển
và hiện đại hóa ngành Hải quan giai đoạn 2011-2015; Kế hoạch cải cách, phát triển vàhiện đại hóa ngành Hải quan giai đoạn 2016-2020 và thực tiễn công tác quản lý nhà
nước về Hải quan hiện nay đang đặt ra những yêu cầu cấp bách đối với công tác quản
lý rủi ro, cụ thể:
- Triển khai đầy đủ các tiêu chuẩn quản lý rủi ro tại Công ước KYOTO vàKhung tiêu chuẩn an ninh thương mại toàn cầu (SAFE); trong đó tập trung vào cácgiải pháp tạo thuận lợi thương mại và kiểm soát vấn đề an ninh, an toàn dây chuyềncung ứng thương mại; phát triển quan hệ hợp tác giữa Hải quan Việt Nam với Hải
quan các nước, giữa cơ quan Hải quan với cộng đồng doanh nghiệp dựa trên nền tảng
của quản lý tuân thủ
- Xây dựng, triển khai quản lý rủi ro đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trong thủ tụcHải quan điện tử, Hải quan một cửa quốc gia, Hải quan một cửa ASEAN Nâng caotính tự động hóa trong thông quan hàng hóa, tự động kiểm tra điều kiện, kiểm tra sơ bộ
để đăng ký và phân loại tờ khai hàng hóa xuất nhập khẩu; cung cấp thông tin, dữ liệu
đã được phân tích, đánh giá rủi ro để hỗ trợ cho các hoạt động kiểm tra việc hoàn
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 25thành nghĩa vụ nộp thuế, kiểm tra định mức, thanh khoản hợp đồng gia công, sản xuấtxuất khẩu, kiểm tra sau thông quan…
- Hỗ trợ đầy đủ, hiệu quả cho các hoạt động kiểm tra, giám sát đối với hànghóa xuất nhập khẩu, phương tiện vận tải; tạo thuận lợi thương mại, giảm tỷ lệkiểm tra thực tế hàng hóa đến 2015 là dưới 10% và đến 2020 phấn đấu đạt dưới7% Đồng thời, đảm bảo việc kiểm soát tuân thủ pháp luật hải quan, đặc biệt đốivới các nguy cơ về khủng bố, ma túy, hàng hóa vi phạm quy định về môi trường,xâm hại quyền sở hữu trí tuệ…
- Việc xây dựng, phát triển công tác quản lý rủi ro phải phù hợp, đảm bảo kếtnối đồng bộ với việc triển khai, vận hành Hệ thống thông quan tự độngVNACCS/VCIS và Hệ thống Hải quan một cửa do Chính phủ Nhật Bản tài trợ
1.1.3.4 Nguyên tắc áp dụng quản lý rủi ro trong lĩnh vực Hải quan
- Nguyên tắc 1: Cơ quan Hải quan áp dụng quản lý rủi ro để phòng ngừa,
phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật đồng thời khuyến khích, tạo thuận lợi đối với các đối tượng quản lý tuân thủ tốt pháp luật Như vậy, khi
áp dụng quản lý rủi ro, cơ quan Hải quan sẽ tập trung nguồn lực để kiểm tra, kiểm soátcác lô hàng trọng điểm và người khai Hải quan có nguy cơ sai phạm cao, đồng thời tạothuận lợi tối đa đối với các tổ chức, cá nhân chấp hành tốt pháp luật (hình thức kiểmtra Hải quan ở mức đơn giản, khối lượng hàng được tiến hành kiểm tra thực tếgiảm,thời gian thông quan nhanh chóng giúp cho các chi phí cơ hội, chi phí lưu kho,
lưu bãi hàng hóa tại cửa khẩu giảm)
- Nguyên tắc 2: Cơ quan Hải quan áp dụng quản lý rủi ro nhằm xây dựng ý thức tuân thủ pháp luật của các đối tượng quản lý Hàng hóa xuất nhập khẩu, được
đánh giá mức độ rủi ro để áp dụng các biện pháp kiểm tra, giám sát Hải quan và các
biện pháp nghiệp vụ khác ở mức độ phù hợp nhằm đảm bảo tuân thủ pháp luật Việc
áp dụng quản lý rủi ro sẽ giúp cơ quan Hải quan xác định trọng tâm kiểm tra Hải quanvới các đối tượng quản lý khác nhau dựa trên thông tin về sự tuân thủ pháp luật Mục
đích của việc tập trung, xác định trọng điểm kiểm tra, giám sát này là tạo ưu đãi cho
doanh nghiệp tuân thủ pháp luật để khuyến khích cộng đồng doanh nghiệp tuân thủpháp luật tốt hơn
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 26- Nguyên tắc 3: Việc đánh giá rủi ro, đánh giá tuân thủ pháp luật của người thực hiện xuất nhập khẩu dựa trên tiêu chí quản lý rủi ro, thông tin nghiệp vụ và thông tin, dữ liệu có trên hệ thống thông tin của ngành Hải quan tại thời điểm đánh giá Cơ
quan Hải quan thực hiện thu thập, phân tích thông tin, đánh giá rủi ro ở 3 giai đoạn:
trước, trong và sau thông quan theo các tiêu chí được xác định trong từng thời điểm;
thông tin thu thập được ghi nhận vào Hệ thống thông tin quản lý rủi ro làm cơ sở để raquyết định việc kiểm tra, giám sát, kiểm soát Hải quan, kiểm tra sau thông quan đốivới hàng hóa xuất nhập khẩu
- Nguyên tắc 4: Cơ quan Hải quan tập trung kiểm tra, giám sát, kiểm soát những rủi ro cao, áp dụng các biện pháp phù hợp đối với các rủi ro thấp Cơ quan Hải
quan sẽ tập trung kiểm soát chặt chẽ các đối tượng không tuân thủ các quy định củapháp luật theo quá trình Các biện pháp kiểm tra được áp dụng phụ thuộc vào mức độrủi ro của đối tượng quản lý, theo đó các đối tượng có mức độ rủi ro cao và rất cao sẽ
được kiểm tra chặt chẽ, đối tượng có mức rủi ro thấp sẽ được hạn chế kiểm tra, tuy
nhiên sẽ được bổ sung bằng kiểm tra sau thông quan để đánh giá mức độ tuân thủ phápluật của doanh nghiệp
Nguyên tắc 5: Trường hợp xảy ra vi phạm pháp luật Hải quan, pháp luật thuế nhưng trước đó công chức Hải quan đã thực hiện đúng, đầy đủ và kịp thời các quy định của pháp luật, quy định và hướng dẫn về quản lý rủi ro theo phân cấp thì được miễn trách nhiệm cá nhân Đây là nguyên tắc bảo vệ các cán bộ công chức Hải quan đã thực hiện đầy
đủ trách nhiệm và tuân thủ các quy định, quy trình quản lý rủi ro Tuy nhiên, trong côngtác đấu tranh này tiềm ẩn nhiều yếu tố bất khả kháng, các đối tượng quản lý có phương
thức thủ đoạn hoạt động ngày càng tinh vi, xảo quyệt để qua mặt cơ quan chức năng
1.2 Quy trình quản lý rủi ro đối với kiểm soát hoạt động XNK hàng hóa
Quy trình quản lý rủi ro chính là một phương pháp luận có chu trình kép kín,
trong đó có những bước công việc được định danh cụ thể, hỗ trợ cho việc đưa ra các
quyết định nghiệp vụ thông qua phân tích bản chất của rủi ro, xem xét các tác động cóthể của nguy cơ rủi ro, xác định cơ sở cho các quyết định quản lý trong điều kiện hàihòa với các nguồn lực được phân bổ, cũng như với thứ tự ưu tiên của các biện pháp xử
lý Quy trình này gồm các bước sau đây:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 27Hình 1.2 – Quy trình Quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ Hải quan
(Nguồn: Các Bài giảng về công tác Quản lý rủi ro Hải quan của Trường Hải quan
Việt Nam và Ban Quản lý rủi ro, năm 2013)
- Xây dựng bối cảnh quản lý: xác định bối cảnh diễn ra hoạt động quản lý rủi
ro, các mục tiêu của việc phân tích các đối tượng quản lý, và những rủi ro cần đượcquản lý Việc xác định đối tượng cần quản lý sẽ giúp xây dựng thước đo chuẩn chotoàn bộ quy trình quản lý rủi ro
- Xác định rủi ro: chỉ ra và ghi lại tất cả những rủi ro tiềm ẩn thông qua một quytrình mang tính hệ thống, theo đó chỉ ra những rủi ro có thể phát sinh, lý do và cáchthức phát sinh rủi ro, từ đó hình thành cơ sở để phân tích sâu hơn những rủi ro đó;
- Phân tích rủi ro: lượng hóa rủi ro, phân tích, đánh giá hậu quả có thể nếu xảy
ra rủi ro, cách thức xử lý nếu có hậu quả xảy ra Việc phân tích cần trả lời cho các câuhỏi sau: Làm cách nào mà một sự kiện có thể xảy ra? Hậu quả tiềm ẩn là gì? Mức độcủa hậu quả? Kết hợp được các yếu tố nêu trên, chúng ta sẽ có cấp độ dự kiến của rủi
ro Việc đánh giá và dự tính rủi ro phải có tính định lượng và định tính, hoặc kết hợp
cả hai tính chất;
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 28- Đánh giá và xếp thứ tự các rủi ro: so sánh các rủi ro đã được đánh giá với cáctiêu chí chủ đạo đã được xác định từ trước Thông qua xem xét cấp độ của từng rủi rotheo kết quả phân tích tương ứng để có thể đánh giá và sắp xếp thứ tự cho các rủi ro cơbản, là những rủi ro cần được phân tích sâu hơn, cần phải sử dụng các nguồn lực theo
dự kiến để chuẩn bị hoặc ngăn ngừa hoặc đối phó với rủi ro đó
Hình 1.3 –Phân tích về mức độ rủi ro và biện pháp xử lý.
(Nguồn: Giáo trình nghiệp vụ quản lý rủi ro của Cục Điều tra chống buôn lậu – Tổng
cục Hải quan năm 2008)
Kết quả thu được từ cách phân tích và đánh giá, sắp xếp thứ tự rủi ro này sẽ chophép nghiên cứu, định lượng và sắp xếp rủi ro theo các cấp độ của rủi ro, kết nối rủi rovới các đơn vị có thể xảy ra rủi ro để các đơn vị đó có trách nhiệm trong việc tìm cáchgiảm thiểu rủi ro và theo dõi rủi ro
- Xử lý rủi ro: quyết định và hành động nhằm phản ứng với các rủi ro đã được xác
định Có thể sử dụng bốn cách phản ứng, gọi là “bốn T”, gồm: chịu đựng (tolerate); xử lý
(treat); chuyển giao (transfer); và chấm dứt (terminate) Trong nhiều trường hợp, chúng ta
có thể chấp nhận chịu rủi ro Chịu đựng hay chấp nhận rủi ro không có nghĩa là khôngkiểm soát và theo dõi các rủi ro đó Công việc giám sát thường được thực hiện thông quacác thủ tục vận hành tiêu chuẩn để xem mức độ rủi ro có thay đổi nào không;
- Theo dõi và đánh giá, rà soát: đây là công việc phải thực hiện ở tất cả các
bước trong quy trình quản lý rủi ro, bao gồm cả việc vận hành hệ thống quản lý rủi ro,
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 29các thay đổi có tác động đến quản lý rủi ro Để theo dõi và rà soát, đánh giá các kết
quả và quy trình áp dụng biện pháp xử lý rủi ro, cần thiết phải có một khung tiêuchuẩn để đánh giá, bao gồm các tiêu chí so sánh kết quả đầu ra của quy trình nhằm
đánh giá trực tiếp và gián tiếp các kết quả, hiệu ứng của hành vi xử lý rủi ro đã áp
dụng, từ đó cho phép so sánh kết quả trước và sau khi áp dụng biện pháp xử lý rủi ro;
- Ghi chép, giao tiếp và tư vấn: tổ chức thực hiện theo kế hoạch tại các cấp quản
lý rủi ro, cho cả quy trình quản lý rủi ro và cho từng nội dung của quy trình quản lý rủi
ro, bao gồm: dự đoán về rủi ro; phương pháp đã sử dụng; các nguồn dữ liệu; logic và kếtquả phân tích; kết quả xử lý; và các quyết định đã được đưa ra, lý do của quyết định
- Theo dõi và rà soát, đánh giá khung tiêu chuẩn:
Việc xây dựng cơ chế đánh giá và báo cáo nhằm có được thông tin phản hồi từtrong và ngoài cơ quan Hải quan Theo đó, kết quả quản lý rủi ro sẽ được xem xét vàphản hồi đến cấp xây dựng chính sách.Việc báo cáo sẽ giúp người ra quyết định rútkinh nghiệm và nâng cao hiệu quả công việc thông qua phân tích các kết quả tốt lẫnkết quả không tốt, đồng thời giúp theo dõi việc sử dụng các nguồn lực, giúp chia sẻthông tin về các thông lệ và bài học kinh nghiệm
1.3 Nội dung công tác quản lý rủi ro trong kiểm soát hoạt động XNK hàng hóa
Quản lý rủi ro áp dụng trong hoạt động nghiệp vụ Hải quan được thực hiện theonội dụng như sau:
1.3.1 Thu thập thông tin rủi ro và xây dựng, quản lý áp dụng tiêu chí quản lý rủi ro
Cơ quan Hải quan xây dựng cơ chế, tổ chức thu thập thông tin phục vụ quản lý
rủi ro bao gồm: Tiếp nhận thông tin về hàng hóa xuất nhập khẩu trước khi đến hoặc rờicảng, cửa khẩu; Tiếp nhận thông tin khai Hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu;kết quả thực hiện thủ tục Hải quan, kiểm tra trong thông quan, giám sát Hải quan,kiểm soát Hải quan, thanh tra, điều tra, xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động xuấtnhập khẩu; Thông tin vi phạm pháp luật của người thực hiện xuất nhập khẩu; thông tin
vi phạm hoặc dấu hiệu vi phạm pháp luật
Cơ quan Hải quan thu thập, phân tích các thông tin rủi ro, xây dựng tiêu chí
quản lý rủi ro đáp ứng yêu cầu quản lý Hải quan, quản lý thuế trong từng thời kỳ; quản
lý, ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ Hải quan để cập nhật, kết nối chia sẻ thông
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 30tin rủi ro để phục vụ việc phân tích, đánh giá rủi ro, đánh giá tuân thủ pháp luật; thống
kê, phân tích xu hướng vi phạm pháp luật và đáp ứng yêu cầu của các hoạt động
nghiệp vụ khác trong quản lý hoạt động xuất nhập khẩu
Trong quy trình áp dụng quản lý rủi ro vào hoạt động nghiệp vụ Hải quan thìviệc thu thập thông tin rủi ro, xây dựng và quản lý áp dụng tiêu chí quản lý rủi ro đặcbiệt quan trọng, đây là cơ sở để xác lập các bối cảnh áp dụng quản lý rủi ro Cơ quanHải quan thông qua việc thu thập, phân tích các thông tin, dữ liệu liên quan đến việc
áp dụng quản lý rủi ro, tiến hành phân tích, đánh giá các yếu tố liên quan đến môi
trường, điều kiện tác động đến quá trình áp dụng quản lý rủi ro để từ đó xác định mục
tiêu, yêu cầu quản lý, xây dựng tiêu chí rủi ro thực hiện các mục tiêu, yêu cầu quản lý
và dự kiến các biện pháp, kỹ thuật nghiệp vụ quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ
Thông tin quản lý rủi ro được quản lý trên Hệ thống thu thập và xử lý thông tin,
hệ thống thông tin nghiệp vụ VNACCS/VCIS, Hệ thống thông tin vi phạm, hệ thốngthông tin quản lý dữ liệu giá tính thuế, Hệ thống thông tin kế toán thuế xuất nhập khẩutập trung, Hệ thống thông tin quản lý doanh nghiệp phục vụ hoạt động kiểm tra sauthông quan…
1.3.2 Phân tích, đánh giá thông tin rủi ro
Trên cơ sở các thông tin rủi ro thu thập, tiếp nhận được, cơ quan Hải quan tiếnhành phân tích, đánh giá thông tin theo ba nội dung sau:
- Xem xét độ tin cậy của nguồn thông tin thu thập: thông tin từ nguồn đáng tincậy sẽ đảm bảo độ chính xác cao hơn Đối với các nguồn thông tin chưa chắc chắn, cơquan Hải quan xử lý thông tin cần thu thập, đối chiếu với thông tin từ các nguồn khác
có liên quan;
- Phân tích nội dung của thông tin rủi ro thu thập, tiếp nhận được để xác định
tính chính xác, đầy đủ, kịp thời của thông tin cũng như tính liên quan của thông tin rủi
ro trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa;
- Căn cứ vào nội dung thông tin đã được kiểm định tính đầy đủ, kịp thời và độtin cậy cao, cơ quan Hải quan tiến hành phân tích, đánh giá mức độ quan trọng củathông tin rủi ro và tính cần thiết để xác lập hồ sơ rủi ro (Hồ sơ rủi ro là hồ sơ do cơquan Hải quan xác lập về đối tượng cụ thể có nguy cơ vi phạm pháp luật trong hoạt
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 31động xuất nhập khẩu để quản lý và áp dụng các biện pháp kiểm tra, giám sát, kiểm
soát Hải quan và các biện pháp nghiệp vụ khác, hồ sơ rủi ro là cơ sở để cơ quan Hảiquan thiết lập các tiêu chí rủi ro)
Cơ quan Hải quan thực hiện phân tích đánh giá thông tin rủi ro để đánh giá tuân
thủ pháp luật của doanh nghiệp xuất nhập khẩu, đánh giá điều kiện áp dụng chế độ,
chính sách đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, đánh giá xếp hạng doanh nghiệp xuất
nhập khẩu, đánh giá mức độ rủi ro, phân tích khả năng xuất hiện và hậu quả rủi ro để
từ đó xác định, tổng hợp danh sách rủi ro trong các lĩnh vực hoạt động Việc đánh giárủi ro, xếp hạng mức độ rủi ro đối với hàng hóa và người thực hiện xuất nhập khẩu dựatrên tiêu chí quản lý rủi ro, và thông tin, dữ liệu có trên hệ thống thông tin của ngànhHải quan tại thời điểm đánh giá
1.3.3 Phân tích, xác định trọng điểm giám sát đối với hàng hoá XNK phục vụ kiểm tra sau thông quan
Trên cơ sở tổng hợp, đối chiếu kết quả đánh giá phân loại rủi ro, cơ quan Hải
quan xác định mức độ quan trọng, sự cần thiết của việc kiểm soát đối với từng loại rủi
ro từ đó đưa ra các biện pháp kiểm soát rủi ro dự kiến được áp dụng tương ứng Việc
đánh giá chính xác tác động ảnh hưởng của việc áp dụng các biện pháp kiểm soát rủi
ro là cơ sở để cơ quan lựa chọn biện pháp kiểm soát rủi ro phù hợp Trọng điểm kiểmtra đối với hàng hóa xuất nhập khẩu bao gồm ở ba khâu: trong thông quan, sau thông
quan và giám sát Hải quan
Về kiểm tra trong khâu thông quan, trên cơ sở phân tích, tổng hợp các nguồnthông tin nghiệp vụ bao gồm: Thông tin, dữ liệu rủi ro trên hệ thống thông tin của
cơ quan Hải quan; thông tin về các doanh nghiệp trọng điểm; thông tin doanh
nghiệp có nghi vấn vi phạm pháp luật Hải quan, pháp luật thuế; kết quả phân tíchthông tin về hàng hóa xuất nhập khẩu trước khi đến hoặc rời cảng, cửa khẩu biêngiới; hay các đề nghị áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro trong thủ tục Hải quan
đối với hàng hóa xuất nhập khẩu của các đơn vị có thẩm quyền, cơ quan Hải quanxác định các lĩnh vực rủi ro và các đối tượng rủi ro trong từng lĩnh vực; đối chiếu
với các tiêu chí và quy định quản lý rủi ro để phân loại các đối tượng trọng điểmcần lựa chọn kiểm tra trong thủ tục Hải quan
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 32Về kiểm tra sau thông quan, theo quy định hiện hành, cơ quan Hải quan áp
dụng tiêu chí quản lý rủi ro lựa chọn đối tượng kiểm tra sau thông quan để đáp ứngyêu cầu quản lý Hải quan, quản lý thuế trong từng thời kỳ Việc áp dụng tiêu chí quản
lý rủi ro, quản lý hệ thống thông tin nghiệp vụ để xác định trọng điểm kiểm tra sauthông quan, bao gồm: xác lập danh sách doanh nghiệp thuộc diện kiểm tra sau để đánhgiá tuân thủ pháp luật Hải quan, pháp luật thuế theo kế hoạch hàng năm; xác định lôhàng xuất nhập khẩu với mức rủi ro thuộc diện cần tiến hành kiểm tra sau thông quan.Việc xác lập danh sách doanh nghiệp thuộc diện kiểm tra sau thông quan được thựchiện bằng việc cập nhật tiêu chí quản lý rủi ro (ở hai cấp Tổng cục Hải quan và cấpCục Hải quan) trên hệ thống thông tin nghiệp vụ; hệ thống sẽ tự động đánh giá, lậpdanh sách doanh nghiệp kiểm tra sau thông quan để đánh giá tuân thủ theo kế hoạch
hàng năm, trong đó đảm bảo: Tiêu chí cấp Tổng cục lựa chọn từ 80% đến 85% sốlượng doanh nghiệp theo danh sách; Tiêu chí cấp Cục lựa chọn từ 10% đến 15% sốlượng doanh nghiệp theo danh sách; Hệ thống tự động lựa chọn ngẫu nhiên không quá
5% số lượng doanh nghiệp theo danh sách
Về giám sát Hải quan, cơ quan Hải quan quản lý hệ thống thông tin nghiệp
vụ, áp dụng tiêu chí quản lý rủi ro để xác định hàng hóa xuất nhập khẩu rủi ro caocần tăng cường giám sát Hải quan, tiến hành thu thập, phân tích thông tin về hànghóa xuất nhập khẩu trước khi đến hoặc rời cửa khẩu và các địa điểm làm thủ tụcHải quan khác theo quy định của pháp luật để lựa chọn đối tượng trọng điểm cầntập trung giám sát Hải quan trong quá trình vận chuyển, lưu giữ trên địa bàn hoạt
động Hải quan
1.3.4 Thực hiện các biện pháp kiểm soát rủi ro
Trên cơ sở danh sách trọng điểm kiểm tra trong thông quan, sau thông quan và
trọng điểm giám sát đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, cơ quan Hải quan sẽ xây dựng
kế hoạch, phương án kiểm soát rủi ro, tổng hợp, phân loại, chuyển giao danh sách đối
tượng rủi ro đến các bộ phận, đơn vị để phục vụ các hoạt động nghiệp vụ Hải quan
theo chức năng, nhiệm vụ được phân công Căn cứ vào tính chất, mức độ dấu hiệu viphạm pháp luật Hải quan của từng lô hàng, cơ quan Hải quan có thể áp dụng một trongcác biện pháp nghiệp vụ để kiểm soát rủi ro sau đây:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 33- Áp dụng biện pháp dừng thông quan đột xuất trong trường hợp lô hàng đãhoàn thành việc kiểm tra hoặc hoàn thành thủ tục Hải quan nhưng chưa đưa ra khỏikhu vực giám sát của địa bàn hoạt động Hải quan khi có cơ sở xác định lô hàng buônlậu, trốn thuế, gian lận thương mại;
- Áp dụng biện pháp kiểm tra sau thông quan, đối với lô hàng xuất nhập khẩu códấu hiệu rủi ro hoặc dấu hiệu vi phạm pháp luật nhưng đã làm xong thủ tục Hải quan;
- Ghi nhận, tiếp tục theo dõi đối với các lô hàng xuất nhập khẩu có dấu hiệu bất
thường nhưng chưa cần thiết phải áp dụng hai biện pháp trên;
- Tăng cường giám sát đối với hàng hóa ra, vào địa bàn hoạt động Hải quan đốivới các lô hàng áp dụng biện pháp kiểm soát rủi ro được đề cập ở trên
1.3.5 Theo dõi, kiểm tra, đánh giá hiệu quả việc áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ Hải quan
Cơ quan Hải quan thực hiện việc theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc áp dụng quản
lý rủi ro một cách thường xuyên, kết hợp với kiểm tra định kỳ, đột xuất tại từng cấp,từng đơn vị Hải quan nhằm đảm bảo hiệu lực, hiệu quả áp dụng quản lý rủi ro, đồngthời đáp ứng yêu cầu quản lý Hải quan, quản lý thuế
Việc đánh giá rủi ro được thực hiện theo trình tự: Thu thập, xử lý thông tin liên
quan để xác định rủi ro; phân tích rủi ro; thẩm định tính tuân thủ của đối tượng rủi ro;xác định mức độ quan trọng và tính cấp thiết của việc xử lý rủi ro;đề xuất, kiến nghị áp
dụng biện pháp xử lý rủi ro
Cơ quan Hải quan thực hiện theo dõi, đánh giá kết quả thu thập, xử lý
thông tin và áp dụng quản lý rủi ro bao gồm các nội dung sau: Việc thu thập, cungcấp thông tin quản lý rủi ro của các đơn vị; Nội dung, trình tự thủ tục xây dựng,quản lý đối tượng rủi ro; Số lượng, tỷ lệ phân luồng, chuyển luồng, dừng thông
quan đột xuất và các căn cứ áp dụng thực hiện; Việc thực hiện chỉ dẫn rủi ro, yêu
cầu nghiệp vụ và các quy định, hướng dẫn có liên quan trong kiểm tra hồ sơ, kiểmtra thực tế hàng hóa và dừng thông quan đột xuất; Kết quả phát hiện vi phạm vànhững bất cập, hạn chế được phát hiện qua hoạt động kiểm tra sau thông quan; vàcuối cùng là những vấn đề khác phát sinh trong thực hiện thủ tục Hải quan đối vớihàng hóa xuất nhập khẩu
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 341.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý rủi ro trong kiểm soát hoạt động XNK hàng hóa
1.4.1 Các quy định áp dụng quản lý rủi ro trong thủ tục Hải quan của một số tổ chức quốc tế mà Việt Nam là thành viên
Việc gia nhập các tổ chức kinh tế thương mại khu vực và thế giới thể hiện chính
sách đối ngoại rộng mở, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế song phương và
đa phương của Việt Nam, ảnh hưởng từ việc thực hiện các cam kết quốc tế sẽ tạo sức
ép, thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính của Việt Nam theo tiêu chuẩn quốc
tế, nhằm đẩy mạnh thương mại, khuyến khích xuất khẩu, thu hút đầu tư và du lịchquốc tế vào Việt Nam.Việc áp dụng quản lý rủi ro trong lĩnh vực Hải quan trong các
quy định về hoạt động Hải quan của các tổ chức Thương mại thế giới WTO và Tổ
chức Hải quan thế giới WCO (thể hiện qua Công ước Kyoto sửa đổi) thể hiện rất triệt
để, mang tính tuân thủ cao
Công ước Kyoto sửa đổi được Tổ chức Hải quan thế giới WCO thông qua tại
phiên họp lần thứ 93/94 vào tháng 6/1999 Về nghiệp vụ Hải quan, Công ước Kyotosửa đổi là công cụ pháp lý hiệu quả để giải quyết các thách thức của ngành Hải quan
như lượng công việc ngày càng tăng trong khi nguồn lực hạn chế; vừa phải tăng cường
kiểm soát Hải quan, lại vừa phải tạo thuận lợi cho thương mại thông qua thực hiện các
quy định của Công ước về áp dụng tối đa công nghệ thông tin, ứng dụng kỹ thuật tiên
tiến như quản lý rủi ro, kiểm tra trên cơ sở kiểm toán, các biện pháp bảo đảm và trao
đổi thông tin Việc tham gia Công ước đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi để Việt
Nam nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ của WCO cũng như các thành viên của Công
ước trong việc đẩy mạnh cải cách, hiện đại hoá hoạt động Hải quan
Tổ chức thương mại thế giới WTO khuyến khích mọi cải cách thủ tục Hải quan
theo hướng tạo thuận lợi cho thương mại giữa các nước Hiệp định tạo thuận lợiThương mại của WTO đã quy định nguyên tắc không sử dụng thủ tục Hải quan để cản
trở một cách không cần thiết đối với hoạt động thương mại, nguyên tắc không phânbiệt đối xử khi tiến hành thủ tục Hải quan đối với hàng hóa của các nước khác nhau,trừ ngoại lệ về các liên kết khu vực, nguyên tắc hài hòa hóa thủ tục Hải quan giữa các
nước Trong những khuyến nghị có tính nguyên tắc đó, WTO khuyến khích các nước
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 35áp dụng các tiêu chuẩn hóa về thủ tục Hải quan do tổ chức Hải quan Thế giới khuyếnnghị mà một trong những nội dung khuyến nghị là áp dụng quản lý rủi ro khi làm thủtục Hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu Trong các đàm phán thương mại định
kỳ, WTO gây sức ép nhất định để các chính phủ phải cải cách Hải quan theo hướng ápdụng kỹ thuật quản lý rủi ro Đặc biệt, khi kết nạp thành viên mới, các thành viên cũcũng gây áp lực để các thành viên mới buộc phải cam kết thực hiện kỹ thuật quản lýrủi ro khi làm thủ tục thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu
1.4.2 Chủ trương, đường lối và chính sách của Nhà nước trong công tác quản lý nhà nước về Hải quan
Hiệu quả việc áp dụng quản lý rủi ro vào hoạt động nghiệp vụ Hải quan phụthuộc vào chủ trương, đường lối cũng như các chính sách pháp luật và hiệu quả quản
lý của cơ quan thực thi pháp luật Đường lối phát triển kinh tế - xã hội đúng đắn của
Nhà nước sẽ thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển đồng thời tạo điều kiện để
ngành Hải quan triển khai áp dụng quản lý rủi ro trong lĩnh vực Hải quan Bên cạnh
đó, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước ở mức cao sẽ tạo môi trường khuyến khích
và giám sát doanh nghiệp tuân thủ pháp luật
Thời gian qua, với đường lối phát triển kinh tế mở cửa, hội nhập, Việt Nam
đã tập trung ưu tiên các vấn đề cải cách hiện đại hóa ngành Hải quan và hoạt động
ngoại thương, việc triển khai áp dụng quản lý rủi ro trong lĩnh vực Hải quan nhận
được sự ủng hộ chính trị ở mức độ cao cùng với nhiều ưu tiên về nguồn lựcthực
hiện Vì vậy, ngành Hải quan nhận được sự quan tâm rất lớn của Chính phủ, BộTài chính và sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan nhà nước có liên quan trongviệc triển khai thủ tục Hải quan điện tử và triển khai Hệ thống thông quan tự độngmột cửa quốc gia VNACCS/VCIS Ngoài ra, trong các hoạt động hợp tác Hảiquan trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế hoặc liên quan đến Hải quan, cơ quanHải quan Việt Nam đã nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật, nguồn vốn, kinh nghiệm củaHải quan các nước và các Tổ chức quốc tế, đặc biệt là Dự án Hiện đại hóa Hảiquan bằng vốn vay của Ngân hàng Thế giới (trị giá 70 triệu USD) Đây là một dự
án lớn tạo điều kiện thuận lợi, cơ hội cho việc cải cách phát triển và hiện đại hóaHải quan Việt Nam
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 361.4.3 Các yếu tố nội tại của cơ quan Hải quan Việt Nam
Sự ủng hộ của Chính phủ và Bộ Tài chính, sự ưu tiên nguồn lực thực hiện cùngvới sức ép của các tổ chức quốc tế là những nhân tố tiền đề bên ngoài để cơ quan Hảiquan áp dụng quản lý rủi ro trong lĩnh vực hoạt động Nhưng thành công của việc ápdụng quản lý rủi ro của Hải quan Việt Nam cũng phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố bêntrong ngành Hải quan, đó là năng lực tổ chức triển khai quản lý rủi ro trong cơ quanHải quan
Thứ nhất, việc tập trung nguồn lực, đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cùng
với cơ cấu tổ chức bộ máy thích hợp, chuyên nghiệp là thành quả của quyết tâm chínhtrị và chính sách ưu tiên của những người đứng đầu cơ quan Hải quan từ Trung ương
đến địa phương Quyết tâm chính trị của các cơ quan quản lý nhà nước không chỉ thể
hiện ở động thái ban hành đầy đủ, kịp thời và đồng bộ hệ thống văn bản pháp luật liên
quan đến triển khai áp dụng quản lý rủi ro, mà còn liên quan đến việc cơ quan Hải
quan đào tạo, bố trí cán bộ cũng như xây dựng quy trình thực hiện công việc cho các
thành viên, đơn vị triển khai
Thứ hai, thái độ làm việc chuyên nghiệp, sự thành thạo nghiệp vụ quản lý
rủi ro của công chức Hải quan quyết định mức độ thành công của công tác quản lýrủi ro trong hoạt động nghiệp vụ Hải quan Để công tác quản lý rủi ro hiệu quả
đòi hỏi sự tinh thông của đội ngũ cán bộ công chức làm công tác thu thập, phân
tích và đánh giá thông tin rủi ro Tuy nhiên có một khó khăn không nhỏ là cókhông ít công chức có thái độ thiếu tích cực với việc áp dụng quản lý rủi ro vàohoạt động nghiệp vụ do nhiệm vụ mới đòi hỏi họ phải thay đổi, phải có thời gianlàm quen với những kỹ năng mới và làm giảm ảnh hưởng của họ với doanhnghiệp, người khai Hải quan Do đó nhiệm vụ quan trọng của cơ quan Hải quan làtuyên truyền, phổ biến hoặc tạo cơ chế, áp lực để thay đổi nhận thức và đào tạomột số cán bộ công chức không tích cực, chưa phù hợp với việc áp dụng quản lýrủi ro trong hoạt động nghiệp vụ
Thứ ba, hiệu quả áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ Hải
quan còn phụ thuộc vào hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật để phối hợp với các banngành có liên quan áp dụng công tác quản lý rủi ro trên các góc độ như: mức độ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 37phủ khắp của mạng lưới thông tin điện tử; khả năng truy cập và tốc độ xử lýnhanh chóng, chính xác, khả năng, hệ thống kết nối và phối hợp với các cơ quan,
tổ chức trong và ngoài nước khác trong việc thu thập và sử dụng thông tin Phạm
vi và hiệu quả của công tác quản lý rủi ro còn phụ thuộc vào sự đầy đủ và kịp thờicủa thông tin rủi ro được cập nhật và trao đổi thuận tiện trên hệ thống quản lýthông tin rủi ro tập trung của cơ quan Hải quan
1.4.4 Các yếu tố thuộc về doanh nghiệp hoạt động XNK
Số lượng, quy mô, tính chất và chủng loại đa dạng của các doanh nghiệptham gia hoạt động xuất nhập khẩu tác động không nhỏ đến việc áp dụng quản lýrủi ro trong quy trình thủ tục Hải quan Số lượng doanh nghiệp lớn cần thu thập hồ
sơ, thông tin đòi hỏi thời gian thực hiện lớn và lượng thông tin cập nhật nhiều gâykhó khăn về tốc độ xử lý và việc cập nhật, lưu trữ và khai thác trên hệ thống thông
tin tập trung của cơ quan Hải quan Quy mô doanh nghiệp khác nhau cũng đòi hỏi
phương thức xử lý khác nhau, trong khi tính đa dạng của doanh nghiệp đòi hỏi
thông tin phục vụ công tác quản lý rủi ro của cơ quan Hải quan bao gồm nhiều biến
số, tiêu chí quản lý rủi ro đa dạng hơn, đòi hỏi phải trang bị nhiều kỹ năng, phươngtiện hơn Lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp cũng là yếu tố quantrọng, đòi hỏi phương thức áp dụng quản lý rủi ro khác biệt
Bên cạnh đó, nhận thức và sự tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp và ngườikhai Hải quan ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công tác quản lý rủi ro của cơ quanHải quan Với những doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ pháp luật tốt, có hiệp hội ngànhnghề hỗ trợ thì việc quản lý của cơ quan Hải quan đơn giản, dễ quản lý và kiểm soát.Trong khi với nhiều doanh nghiệp mới thành lập, hoặc với các doanh nghiệp kinhdoanh ở các mặt hàng, lĩnh vực nhạy cảm, có độ rủi ro cao trong việc khai thuế, tínhthuế và thu thuế thì việc thu thập, phân tích, xử lý thông tin đối với hoạt động của cácdoanh nghiệp này phức tạp, khó khăn và đòi hỏi nhiều thời gian hơn để theo dõi, đánhgiá và áp dụng các biện pháp xử lý
1.4.5 Các yếu tố thuộc về quy mô, tính chất hàng hóa XNK
Quy mô hàng hóa xuất, nhập khẩu ngày càng lớn, chủng loại ngày càng đadạng, phức tạp, khó phân loại, thống kê và dự đoán có thể ảnh hưởng đến sự chính
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 38xác, kịp thời và toàn diện của các thông tin rủi ro khi được thu thập, đánh giá và xử lý
trước khi đưa ra các biện pháp kiểm soát rủi ro phù hợp Ngoài ra, một số chính sách
quản lý riêng theo chủng loại hàng hóa như hàng hóa cấm xuất nhập khẩu, tạm dừngxuất nhập khẩu, hàng hóa xuất nhập khẩu có điều kiện, hàng hóa phải kiểm tra chất
lượng, kiểm dịch hay hàng hóa phải kiểm tra xuất xứ hàng hóa, danh mục các loại
hàng hóa thực thi theo các chế độ thuế quan khác nhau theo các Hiệp định quốc tếcũng gây ra nhiều khó khăn cho việc áp dụng quản lý rủi ro
1.5 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý rủi ro trong hoạt động XNK hàng hóa
1.5.1 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý rủi ro trong hoạt động XNK hàng hóa được quản lý tập trung tại Tổng cục Hải quan, bao gồm các phân hệ:
- Quản lý thông tin về doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu;
- Quản lý thông tin về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;
- Quản lý thông tin vi phạm pháp luật hải quan, pháp luật thuế của doanhnghiệp hoạt động XNK;
- Quản lý thông tin về kết quả kiểm tra trong thông quan, kiểm tra sau thôngquan và giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;
- Quản lý thông tin kiểm soát hải quan (tình báo hải quan, thu thập xử lý thôngtin nghiệp vụ hải quan);
- Quản lý hồ sơ rủi ro (bao gồm: doanh nghiệp xuất nhập khẩu, hàng hóa xuấtnhập khẩu) trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu;
- Quản lý thông tin phối hợp, trao đổi với các cơ quan hữu quan có liên quan
1.5.2 Đánh giá, xếp hạng mức độ rủi ro của doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu
Trên cơ sở đánh giá tuân thủ pháp luật trong quá trình hoạt động xuất khẩu,
nhập khẩu của từng doanh nghiệp để áp dụng chế độ ưu tiên hoặc áp dụng các biệnpháp kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan, quản lý thuế và các biện pháp nghiệp vụcần thiết khác trong quản lý đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp
đó Theo đó, doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu được đánh giá xếp hạng theo 7
loại sau đây:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 39- Loại 1: Doanh nghiệp ưu tiên;
- Loại 2: Doanh nghiệp tuân thủ tự nguyện;
- Loại 3: Doanh nghiệp rủi ro thấp;
- Loại 4: Doanh nghiệp rủi ro trung bình;
- Loại 5: Doanh nghiệp rủi ro cao;
- Loại 6: Doanh nghiệp rủi ro rất cao;
- Loại 7: Doanh nghiệp chưa có đủ thông tin đánh giá (bao gồm doanh nghiệpmới thành lập, doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu dưới 365 ngày)
1.5.3 Kết quả phân tích, đánh giá rủi ro đối với hàng hóa và doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu
Cơ quan hải quan ứng dụng thuật toán và các tham số rủi ro; kết nối hệ thống
thông tin nghiệp vụ với hệ thống thông tin hải quan một cửa quốc gia, các hệ thốngthông tin liên quan ở trong và ngoài ngành để tích hợp, xử lý thông tin, dữ liệu Kếtquả phân tích, đánh giá rủi ro đối với hàng hóa và doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩunhằm đáp ứng các yêu cầu:
- Đánh giá tuân thủ pháp luật hải quan, pháp luật thuế của doanh nghiệp hoạt
động xuất khẩu, nhập khẩu;
- Đánh giá, xếp hạng mức độ rủi ro đối với doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu,nhập khẩu;
- Kiểm tra điều kiện đăng ký tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu,nhập khẩu;
- Phân luồng tờ khai (theo 3 mức độ: luồng xanh – miễn kiểm tra chi tiết hồ sơ,miễn kiểm tra thực tế hàng hóa; luồng vàng - kiểm tra chi tiết hồ sơ, miễn kiểm trathực tế hàng hóa; luồng đỏ - kiểm tra chi tiết hồ sơ, kiểm tra thực tế hàng hóa);
- Cảnh báo rủi ro, đưa ra các chỉ dẫn, yêu cầu nghiệp vụ để định hướng, hỗ trợcông chức hải quan kiểm tra, giám sát đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;
- Đánh giá rủi ro, hỗ trợ các hoạt động quản lý thuế, thanh tra và các hoạt độngnghiệp vụ khác;
- Phân tích rủi ro, xác định trọng điểm đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;
- Các yêu cầu nghiệp vụ khác
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 401.6 Kinh nghiệm áp dụng quản lý rủi ro trong kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của Hải quan một số nước
1.6.1 Kinh nghiệm quản lý rủi ro của Hải quan Singapore
Hải quan Singapore là cơ quan Hải quan hiện đại trong khu vực Đông Nam Á
và trên thế giới với hệ thống pháp luật Hải quan hoàn chỉnh, đồng bộ, áp dụng đầy đủcác chuẩn mực của khu vực Đông Nam Á cũng như các quy định của Tổ chức Hảiquan thế giới và Tổ chức thương mại thế giới Hiện nay, 100% hàng hóa xuất nhậpkhẩu được làm thủ tục Hải quan điện tử thông qua Hệ thống thông tin chung
Về Quy trình thông quan hàng hóa, Hải quan Singapore xây dựng quy trìnhtheo 05 bước: lựa chọn đối tượng kiểm tra; chuẩn bị kiểm tra; thực hiện kiểm tra; kếtthúc kiểm tra; đánh giá kết quả kiểm tra Việc lựa chọn đối tượng kiểm tra đối vớihàng hóa xuất nhập khẩu được dựa vào nguồn thông tin tình báo thông qua hệ thống
dữ liệu phân tích đánh giá quản lý rủi ro
Phương pháp quản lý rủi ro của Hải quan Singapore được thực hiện theo 7 bướcnhư sau:
+ Bước 1 Thiết lập nội dung: cơ quan Hải quan sẽ xem xét các yếu tố ảnhhưởng đến rủi ro qua các tiêu chí có tính chiến lược cao: môi trường, chính sách, chếđộ hoặc các doanh nghiệp có liên quan;
+ Bước 2 Nhận biết rủi ro: cơ quan Hải quan thực hiện thông qua trả lời các
câu hỏi: Các loại rủi ro thường xảy ra là gì? Nó được hình thành như thế nào? Tại saolại xảy ra rủi ro này? Hiệu quả của việc kiểm soát hiện nay ra sao?;
+ Bước 3 Phân tích rủi ro: Xác định rủi ro có thể xảy ra và hậu quả cao hoặc
thấp để từ đó xác định các mức độ rủi ro: Có thể bỏ qua, thấp, trung bình, cao, rất cao;
+ Bước 4 Đánh giá rủi ro: Tập trung vào các yếu tố để xác định rủi ro có ở mức
độ chấp nhận được hay không? Tầm quan trọng của rủi ro;
+ Bước 5 Xử lý rủi ro: Xác định biện pháp kiểm soát rủi ro và nguồn lực cần
có để thực hiện xử lý rủi ro;
+ Bước 6 Giám sát và rà soát: Đánh giá việc xử lý rủi ro có hiệu quả, tiết kiệm
chi phí, phù hợp với chính sách hiện hành có thể cải tiến được không;
Trường Đại học Kinh tế Huế