1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đặc tính sinh học và khảo nghiệm một số biện pháp sinh học phòng trừ sâu hại chính ăn lá muồng đen (casia siamea lamk) tại rừng trồng lâm trường chợ mới bắc kạn

72 327 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 5,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù vậy những nghiên cứu về đặc tính sinh học, sinh thái của các loài côn trùng ăn lá cây Muồng đen và các biện pháp phòng trừ chúng để bảo vệ cho loài cây gỗ đa tác dụng này cho đến

Trang 1

TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa của Đông Nam Châu Á, rừng nước ta đóng một vai trò hết sức quan trọng, không chỉ chiếm diện tích lớn

mà rừng còn phong phú đa dạng về thành phần các động, thực vật Tính đến ngày 31/12/2005 diện tích rừng của cả nước là 12,61 triệu ha chiếm khoảng 37% độ che phủ toàn quốc (Bộ NN & PTNT, 2005) [3]

Tuy nhiên, trong những năm qua tài nguyên rừng nước ta đã bị suy giảm nghiêm trọng Nguyên nhân là do sự yếu kém của công tác quản lý bảo vệ rừng, nạn khai thác bừa bãi, sức ép của gia tăng của dân số, cháy rừng và dịch sâu bệnh hại (Lê Sỹ Trung và Cs, 2003) [19] Vì vậy mà Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng Các loài cây gỗ có giá trị cả về mặt kinh tế và sinh thái như: Keo, Mỡ, Quế, Bạch đàn, Bồ đề, Muồng đen… đã được gây trồng ở các địa phương trong cả nước Song do đặc điểm của khí hậu là nóng

ẩm mưa nhiều nên rừng trồng nước ta thường bị các loài sâu hại phát sinh, phát dịch, phá hàng trăm hàng nghìn ha rừng mỗi năm, đặc biệt là các khu rừng trồng thuần loài Muồng đen là loài cây bản địa của khu vực Đông Nam Á, là loài cây

có giá trị kinh tế cao, gỗ cứng, thớ mịn, ít bị mối mọt và được dùng để đóng đồ gia dụng, đồ thủ công mỹ nghệ Là cây sinh trưởng nhanh, khả năng tái sinh tốt nên ngoài mục đích trồng lấy gỗ Muồng đen còn được trồng phòng hộ và làm giàu rừng (Lê Mộng Chân và Cs, 2000) [5] Tính đến năm 1999 cây Muồng đen được trồng tập trung ở các tỉnh: Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Kạn… với diện tích là 10.163 ha trong đó có 4.919 ha rừng thuần loài

và 5.244 ha hỗn giao (Bộ NN & PTNT, 1999) [2]

Trong những năm gần đây sâu ăn lá ở cây Muồng đen thường phát sinh, phát dịch, năm 1999 - 2002 tại lâm trường Chợ Mới - Bắc Kạn, sâu gây hại đến vài trăm ha rừng, phát dịch từ 30 - 50 ha chủ yếu là các loài sâu ăn lá bộ cánh vẩy Gây thiệt hại lớn nhất là sâu xanh ăn lá bộ cánh vẩy (Lâm trường Chợ Mới, 1999,

2000, 2001, 2002) [8] Với diện tích trồng Muồng đen khoảng hơn 500 ha của Lâm trường Chợ mới, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn đều đã bị một số loài sâu ăn

Trang 2

lá gây hại, tuy chưa phát dịch lớn nhưng chúng đã phân bố trên diện rộng Lâm trường cũng chưa có phương pháp phòng trừ nào ngoài các biện pháp phun thuốc hóa học nên dịch sâu hại vẫn thường tái phát Đặc biệt là khi sử dụng thuốc trừ sâu hoá học cho rừng trồng còn rất độc hại tới sức khoẻ của con người, ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái Thuốc hoá học tiêu diệt được sâu hại song đồng thời cũng làm chết luôn nhiều loài côn trùng có ích khác (thiên địch) và dần dần làm cho các loài sâu có khả năng kháng thuốc, vì vậy dịch sâu hại lại tái phát là điều khó tránh khỏi

Trên cây Muồng đen ngoài các loài côn trùng gây hại cũng có rất nhiều loài côn trùng hay sinh vật có khả năng ký sinh và ăn thịt các loài sâu hại, chúng có khả năng giúp con người tiêu diệt sâu hại (Trần Công Loanh và Cs, 1997) [13] Dựa vào mối quan hệ giữa sâu hại và thiên địch chúng ta có thể hạn chế sự phát sinh, phát dịch của sâu hại Biện pháp này duy trì được cân bằng sinh thái, giảm việc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật trong phòng trừ sâu hại và công sức của con người, các biện pháp sinh học này không gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của con người, môi trường và tính đa dạng sinh học tự nhiên Mặc dù vậy những nghiên cứu về đặc tính sinh học, sinh thái của các loài côn trùng ăn lá cây Muồng đen và các biện pháp phòng trừ chúng để bảo vệ cho loài cây gỗ đa tác dụng này cho đến nay vẫn đang còn bỏ ngỏ

Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc tính sinh học và khảo nghiệm một số biện pháp sinh học phòng trừ sâu hại chính ăn lá Muồng đen (Casia siamea Lamk) tại rừng trồng Lâm trường Chợ Mới - Bắc Kạn.”

Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài thành công sẽ giúp các nhà quản lý sâu hại nắm được đặc điểm sinh học, sinh thái của một số loài sâu hại chính ăn lá Muồng đen và các biện pháp sinh học có hiệu quả trong phòng trừ chúng góp phần cho việc kinh doanh rừng

đạt hiệu quả cao, bảo vệ môi trường sinh thái

- Ý nghĩa khoa học

Trang 3

Bổ sung thêm về những Kiến thức khoa học trong lĩnh vực nghiên cứu côn trùng học về đặc điểm sinh học, sinh thái của của một số loài sâu hại mới ăn lá cây Muồng đen là cơ sở quan trọng cho việc đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu hại hợp lý, góp phần quản lý sâu hại rừng nói chung và rừng Muồng đen nói riêng

Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo có giá giá trị trong việc nghiên cứu đặc tính sinh học sinh thái của loài sâu hại mới và đề xuất các biện pháp quản lý chúng một cách hợp lý, góp phần kinh doanh rừng bền vững

- Ý nghĩa thực tiễn sản xuất

Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ đóng góp một phần nhất định trong việc vận dụng một số biện pháp kỹ thuật đề xuất chăm sóc, nuôi dưỡng rừng và quản lý sâu hại chính ăn lá Muồng đen tại địa bàn nghiên cứu theo hướng phòng trừ sâu hại tổng hợp, thiên về các biện pháp sinh học, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái cũng như công tác quy hoạch phát triển rừng Muồng đen tại địa bàn nghiên cứu và các khu vực lân cận

PHẦN I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trang 4

1.1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

Côn trùng phân bố rất rộng rãi từ xích đạo đến Nam cực, Bắc cực… Chúng sống trong nước, đất, rễ cây, thân cây, lá cây, củ và quả…, nhiều loài côn trùng còn ký sinh trên các loài sinh vật khác Côn trùng bao gồm cả các loài có ích và

có hại (Trần Công Loanh và Cs, 1997) [13]

Trong sản xuất lâm nghiệp chúng ta thường gặp rất nhiều loài sâu hại, phương thức phá hoại của chúng cũng rất khác nhau

Sâu hại là các loài côn trùng có khả năng gây hại cho cây trồng, con người

và sinh vật có ích khác Sâu hại ở rừng trồng chủ yếu là các loài sâu ăn lá, thường phát dịch có thể ăn trụi hàng trăm, hàng nghìn ha rừng trong mỗi chu kỳ dịch ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng phát triển của rừng, (Trần Công Loanh và Cs, 1997) [13] Vậy câu hỏi đặt ra là: Khi nào thì sâu hại có thể phát thành dịch Sâu hại có thể phát thành dịch thường do 2 nguyên nhân

- Nguyên nhân nội tại: là do các nhân tố sinh học mà chủ yếu là do quá trình lịch sử của các loài Thường là những loài có khả năng sinh sản lớn, vòng đời ngắn, có sức sinh sản nhanh khi gặp điều kiện thuận lợi thì hay xảy ra dịch

- Nguyên nhân ngoại cảnh: Tổng hợp của các nhân tố môi trường mà chủ yếu là tác động tổng hợp của nhiệt độ, độ ẩm, thức ăn và thiên địch

Các nhân tố như nhiệt độ, độ ẩm… là nhân tố khách quan không chịu tác động của con người (Đặng Kim Tuyến và Cs, 2008) [23]

Trong trồng rừng việc xây dựng các khu rừng thuần loài đã tạo ra lượng thức ăn khổng lồ cho nhiều loài sâu hại, khiến một số loài dễ phát sinh thành dịch trong điều kiện môi trường (nhiệt độ, ẩm độ, thức ăn) phù hợp và thiên địch ít Nghĩa là khi đó tính ổn định tự nhiên của hệ sinh thái rừng rất mỏng manh, thiên địch không đủ sức khống chế quần thể sinh vật hại, những trận đại dịch về sâu róm Thông và sâu xanh ăn lá Bồ đề ở nước ta trong những năm qua là các minh chứng điển hình (Đặng Kim Tuyến và Cs, 2008) [23]

Thực ra côn trùng có hại chỉ chiếm không quá 10% tổng số loài và nếu chỉ

kể các loài thường gây các trận dịch lớn có ý nghĩa kinh tế thì chỉ chiếm khoảng 1%, nhưng những tổn thất do sâu hại gây ra là vô cùng lớn Số còn lại là các loài

Trang 5

côn trùng ít có khả năng gây hại và các loài côn trùng có ích (Trần Công Loanh và

Cs, 1997) [13]

Thiên địch trong bảo vệ thực vật là từ thường dùng chỉ nhiều nhóm sinh vật

có ích như: côn trùng ký sinh và ăn thịt, tuyến trùng, nấm, vi khuẩn, virus gây bệnh cho sâu hại, các loài chim, thú và động vật khác ăn côn trùng Đặc biệt là nhóm côn trùng có ích có thể ký sinh và ăn thịt nhiều loài sâu hại khác nhau (Trần Công Loanh,1989) [14]

Thiên địch giúp con người tiêu diệt sâu hại vì vậy mà chúng ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng và khả năng phân bố, phát dịch của sâu hại (Trần Công Loanh và Cs, 1997) [13]

Dựa trên khái niệm về điều hoà tự nhiên là sự điều hoà mật độ quần thể của loài sâu hại nào đó do tác động của thiên địch, trong phòng trừ sâu hại thì thiên địch có khả năng khống chế số lượng quần thể sâu hại và làm giảm khả năg phá hại của sâu hại góp phần bảo vệ cây trồng Thực tế cho thấy giữa các loài sâu hại

và thiên địch có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Khi mối quan hệ đó ở mức ổn định nghĩa là sâu hại không có khả năng vượt qua ngưỡng gây hại (Phạm Văn Lầm, 1995) [10]

Vậy ngưỡng gây hại gì? Ngưỡng gây hại là mật độ sâu hại tối thiểu bắt đầu

làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng (Trần Công Loanh và Cs, 1997; Đặng Kim Tuyến và Cs, 2008) [13]; [23] Khi các điều kiện môi trường (nhiệt độ,

ẩm độ, ánh sáng) thuận lợi và nếu nguồn thức ăn dồi dào, thiên địch ít thì một số loài sâu hại rất dễ phát thành dịch Nguồn thức ăn của sâu hại chính là cây trồng

mà trong trồng rừng khi cần một lượng gỗ lớn chúng ta vẫn phải trồng rừng tập trung trên diện tích lớn làm cho nguồn thức ăn của sâu hại sẽ nhiều lên gấp bội và đến một lúc nào đó khả năng khống chế sâu hại của thiên địch không còn ổn định nữa sẽ dẫn đến sâu hại phát dịch Để giải quyết mâu thuẫn này buộc con người phải có các biện pháp tác động vào nhóm thiên địch để tăng khả năng khống chế sâu hại của chúng từ việc hạn chế số lượng sâu hại ở mức cân bằng, bảo vệ các loài thiên địch hoặc sử dụng chúng đưa vào hệ sinh thái làm cho mối quan hệ

trong lưới thức ăn của hệ sinh thái rừng trồng luôn ổn định

Để hạn chế những thiệt hại mà côn trùng gây ra, con người đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau nhằm tiêu diệt chúng như bắt giết, bẫy đèn, trồng rừng hỗn giao nhưng hiệu quả không cao, những biện pháp này chỉ thực sự có tác

Trang 6

dụng khi số lượng côn trùng ít và chưa phát thành dịch Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã có rất nhiều loại thuốc hoá học ra đời đã hạn chế rất nhiều tác hại mà côn trùng gây ra Khi thực hiện biện pháp hoá học cho hiệu quả cao, nhanh, gọn, dễ sử dụng, chi phí phòng trừ thấp, tuy nhiên lại gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, con người, những loài sinh vật có ích và phá vỡ cân bằng sinh học Chính vì vậy đòi hỏi cần có một phương pháp thực sự có tác dụng đối với côn trùng mà không hoặc ít làm tổn hại đến môi truờng sinh thái Trong bối cảnh đó biện pháp sinh học (BPSH) đã được quan tâm trở lại nhiều hơn, nhiều công trình đã tập trung nghiên cứu và ứng dụng trong bảo vệ thực vật BPSH ngày càng phát triển mạnh mẽ và được sử dụng như một biện pháp quan trọng, cốt lõi của phòng trừ tổng hợp IPM Năm 1971, tổ chức sinh học thế giới đã định nghĩa BPSH là việc sử dụng những sinh vật sống hay các sản phẩm hoạt động của sinh vật nhằm ngăn ngừa hoặc làm giảm bớt tác hại do sinh vật gây ra (Phạm Văn Lầm, 1995) [10] Trong các nhóm thiên địch con người đã từng lợi dụng hoặc tạo

ra các chế phẩm sinh học để phòng trừ sâu hại, ngoài các loài côn trùng bắt mồi

ăn thịt, côn trùng ký sinh thì các loài nấm, vi khuẩn, vi rút và các chiết xuất của một số loại cây cỏ cũng đã được đưa vào sử dụng

Từ việc nghiên cứu sử dụng các côn trùng thiên địch để tiêu diệt côn trùng hại đến việc sử dụng tất cả các sinh vật có ích đề phòng trừ bất kỳ một nhóm sinh vật hại nào Những sinh vật có ích được dùng làm tác nhân sinh học bao gồm: vi khuẩn, vi rút, nấm, thực vật ăn thịt chúng có thể trực tiếp tiêu diệt sâu hại hoặc thông qua cơ chế đối kháng cạnh tranh dinh dưỡng (thức ăn) để kìm hãm dịch hại

Trong đó vi khuẩn Bacillus thuringensis (B-t) và nấm Bạch cương Beauveria Bassiana (B-b) là những loài vi sinh vật được sử dụng khá phổ biến trong việc tạo

ra những chế phẩm sinh học nhằm tiêu diệt côn trùng gây hại và đảm bảo tính bền vững

Nấm gây bệnh cho côn trùng thuộc nhiều nhóm khác nhau Nấm gây bệnh cho côn trùng bằng cách xâm nhập vào cơ thể vật chủ qua lớp vỏ cơ thể, vì vậy nấm có thể ký sinh được ở cả các côn trùng chích hút, cánh cứng và những pha phát triển khác mà các sinh vật khác không ký sinh được như pha trứng, nhộng Ngoài ra nấm có thể xâm nhập vào bên trong cơ thể côn trùng qua đường miệng,

từ miệng bào tử tới ruột và qua thành ruột xâm nhiễm vào các tế bào nội quan để

gây bệnh Sau khi tiếp xúc với bề mặt cơ thể vật chủ nấm B bassiana, bắt đầu

Trang 7

mọc mầm và xâm nhập vào bên trong cơ thể vật chủ, côn trùng bị nhiễm B bassiana ở nhiệt độ 25oC sẽ chết sau 6-7 ngày (Phạm Văn Lầm,1995) [10 ]

Vi khuẩn Bacillus thuringensis (B-t) là vi khuẩn rất phổ biến trong tự nhiên

Vi khuẩn B-t hình que, phản ứng gram dương hình thành bào từ và tinh thể độc tố Tính độc hay tính diệt sâu của B-t phụ thuộc vào các độc tố do vi khuẩn sinh ra trong quá trình sinh trưởng và phát triển của chúng Yếu tố chính gây chết sâu có trong chế phẩm B-t là các tinh thể nội độc tố delfa Các tinh thể nội độc tố được côn trùng ăn cùng với thức ăn Trong ruột côn trùng, dưới tác động của hệ men các tinh thể nội độc tố được phân giải sinh ra độc tố Chế phẩm B-t còn có tác dụng gây ngán đối với côn trùng và còn có ảnh hưởng dị hậu có tác dụng kìm hãm sinh trưởng và phát triển, biến thái của côn trùng tạo thành những cá thể

dị hình làm giảm sức sinh sản của cá thể trưởng thành cái (Phạm Văn Lầm,1995) [10 ]

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới đã BPSH đã được sử dụng từ rất lâu được con người nghiên cứu và sử dụng trong phòng trừ dịch hại nông lâm nghiệp

Năm 1602, Androvandi công bố cuốn sách “De Animalibus insectit” được coi là công trình đầu tiên về BPSH

Sự tiêu diệt côn trùng bởi các loài thiên địch (đặc biệt là các loài côn trùng

có ích) đã được quan tâm từ rất lâu trước nhiều thế kỷ so với việc sử dụng thiên địch để trừ sâu hại nông nghiệp (Phạm Văn Lầm, 1995) [10]

Trong cuốn sách “De Animalibus Insectis” của Anđrovandi công bố năm

1602 là công trình đầu tiên liên quan đến biện pháp sinh học và cũng lần đầu tiên

viết về hiện tượng ký sinh côn trùng, mô tả ong kén trắng tập thể (Apanteles glomeratus) ký sinh trên sâu non của loài bướm Pieris rapae (Dt Phạm Văn Lầm,

1995) [10]

Từ thế kỷ XVIII, những ý niệm về vai trò của thiên địch trong hạn chế sự sinh sản của sâu hại được hình thành khá rõ ràng Năm 1726, Reaumur đã mô tả hiện tượng sâu non bộ cánh vẩy bị bệnh nấm Cordyceops Kế đó vào năm 1734 -

1742 ông còn đưa ra nhiều khuyến cáo trong phòng trừ sâu hại như dùng trứng của một loài Ruồi ăn thịt rệp thả vào nhà kính để kìm hãm sự phát triển của Rệp muội (Dt Phạm Văn Lầm, 1995) [10]

Trang 8

Năm 1760, De Geer đã công nhận vai trò to lớn của côn trùng và thiên địch,

ông cho rằng “chúng ta không khi nào có thể phòng chống côn trùng hại thành công mà thiếu sự giúp đỡ của các loài côn trùng khác” (j Weiser, 1966) [27]

Trong thế kỷ XIX có rất nhiều công trình nghiên cứu về thiên địch của sâu hại bao gồm cả những nghiên cứu về côn trùng ăn thịt, côn trùng ký sinh sâu hại

và các loại nấm, vi khuẩn có thể gây bệnh cho sâu hại

Về côn trùng có ích thì năm 1823, những nghiên cứu của Mitchill về côn

trùng ký sinh bộ cánh màng cũng được công bố Ở Đức còn có cuốn sách “Ong

Cự ký sinh côn trùng rừng” của Rateburg xuất bản vào năm 1844 và được sử dụng

trong nhiều năm (Coppel; Metins, 1997; Doutt, 1964) [26]; [28] Năm 1862, trong

ấn phẩm “Đại cương về côn trùng” của Kirby đã có một chương viết về bệnh của

côn trùng (Dt Phạm Văn Lầm, 1995) [10]

Năm 1840, “Tuyển tập về côn trùng” của Kollar đã chứng minh khả năng

chế ngự sinh sản của nhiều loài côn trùng của các loài ăn thịt và ký sinh (Dt Phạm Văn Lầm, 1995) [10]

Không chỉ có những nghiên cứu về côn trùng và thiên địch, nhiều nước trên thế giới đã tiến hành nhập nội và thuần hoá các loài thiên địch phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp Năm 1840, ở Pháp Boisgraud đã sử dụng bộ cánh cứng ăn

thịt Calosoma sycophanta để trừ sâu róm Parthetria clispar hại Bạch Dương

(Doutt, 1964) [26]

Ở Italia vào năm 1844, Villa đã thí nghiệm dùng bọ cánh cứng ăn thịt thuộc

họ Carabidae và Staphylinadae để diệt trừ sâu trong vườn cây (Doutt, 1964) [28]

Mỹ đã nhập nhiều loài thiên địch của sâu róm trong đó đã thuần hoá được 9 loài ký sinh và 2 loài bắt mồi ăn thịt (Dt Phạm Văn Lầm, 1995) [10]

Từ năm 1910 - 1911, ong mắt đỏ đã được nhân nuôi và sử dụng ở nước Nga

và Trung Á (Phạm Văn Lầm, 1995) [10]

Bắt đầu từ năm 1940, Hoa Kỳ đã sử dụng chế phẩm trừ Bọ hung Nhật Bản

từ vi khuẩn Bacillus popilliae và B.lentimorbus (F.J.Simmonds, 1976) [25]

Năm 1966 các nhà máy ở Nga đã sản xuất được 20 tỷ ong mắt đỏ và thả trên diện tích là 600.000 ha cây trồng (Trần Công Loanh và Cs, 1997) [13]

Trang 9

Năm 1970, Donal DJ Borror và Riched E White đã đề cập nhiều vấn đề

về phân loại sâu hại và côn trùng có ích trong “Sổ tay về lý thuyết côn trùng ở Bắc Mỹ”

Ở Bungari còn cho ra đời luật Bảo vệ Kiến (Trần Công Loanh và Cs, 1997) [13]

Những nghiên cứu về côn trùng và thiên địch đã được sử dụng trong các biện pháp sinh học phòng trừ sâu hại trên khắp thế giới (Phạm Văn Lầm, 1995) [10] Đến năm 1837, Audouin đã chỉ ra ra rằng nấm bạch cương ngoài gây bệnh cho tằm có thể dùng phòng trừ các loài côn trùng khác (Weiser, 1966) [27]

Agostino Bassi là người đầu tiên giải thích bản chất nấm bạch cương ở tơ tằm, đề xuất biện pháp khắc phục, đồng thời gợi ý dùng vi sinh vật để gây bệnh phòng trừ côn trùng gây hại (Dt Weiser, 1966) [27]

Từ năm 1888 ở Hoa Kỳ đã bắt đầu những thí nghiệm dùng nấm bạch cương

Beauveria bassiana để trừ bọ xít (Dt Phạm văn Lầm,1995) [10]

Trong các năm 1891 - 1892 hơn 50.000 gói chế phẩm nấm đã được phát cho các trang trại để rải các bào từ nấm lên đồng lúa mì nhưng do cách sử dụng lúc đó chưa hợp lý nên hiệu quả gây bệnh của nấm không cao và các chủ trang trại không thích áp dụng biện pháp này (Weiser, 1966) [27]

Nấm bạch cương có phổ kỷ khá rộng chỉ riêng vùng Bắc châu Mỹ đã ghi nhận được 175 côn trùng là ký chủ của nấm này (Dt Phạm Văn Lầm,1995) [10] Năm 1911 Berliner phân lập được vi khuẩn Thuringensis từ sâu non

(Ephestia kuehniella) chết bệnh và mô tả đặt tên là Bacillus thuringensis Các thử

nghiệm trừ sâu được bắt đầu ở Hungari với sâu đục thân ngô (Hufz, 1928) sau

đó thử nghiệm hiệu lực của vi khuẩn này đối với sâu hồng hại bông, sâu xanh bướm trắng hại cải và nhiều loại sâu khác ở châu Âu (Dt Phạm văn Lầm,1995) [10]

Theo Jacobs 1951, chế phẩm thương mại đầu tiên từ vi khuẩn

B.thurigensis là “Sporiene” được sản xuất ở nước Pháp năm 1938 (Dt Phạm

văn Lầm,1995) [10]

Năm 1940 Dutky mô tả và đặt tên vi khuẩn gây bệnh cho ấu trùng bọ hung ở

nhật bản là Bacillus popilliae và B lentimorhus (Stehaus,1964), vi khuẩn này

được sản xuất thành chế phẩm để trừ bọ hung ở Nhật bản và Hoa Kỳ 1940 (Dt Phạm văn Lầm,1995) [10]

Trang 10

Cuối thập kỉ 50, một số loại độc tố của vi khuẩn B.t đã được phát hiện: ngoại độc tố beta do Hau và Arkawa tìm ra năm 1953, ngoại độc tố alpha do Toumanoff phát hiện năm 1953, nội độc tố delta do Hanay tìm ra 1953 Cuối thập kỷ 50 đã sản xuất công nghiệp chế biến của vi khuẩn này và việc sử dụng chúng cho những kết quả tốt đẹp Cho đến nay người ta đã phát hiện được 7 loại độc tố do vi khuẩn B-t sinh ra: ngoại độc tố alpha, ngoại độc tố beta, nội độc tố delta, ngoại độc tố gama, độc tố không bền vững, độc tố tan trong nước và loại độc tốt đối với động vật có vú (Coppel, 1977) [26]

Nhật bản có chế phẩm B-t khử trùng 7% wp và B.t không khử trùng 10% wp Năm 1989 hai chế phẩm này bán ra được tương ứng là 78 và 17 tấn chế phẩm (Takeuchi, 1992) [29]

Ở Trung Quốc sử dụng chế phẩm B-t được khoảng 30 năm Năm 1976 Trung Quốc sử dụng 1.000 tấn sản phẩm của B-t trên diện tích 66.600 ha cây trồng các loại Từ năm 1991 Trung Quốc chuyển sang sản xuất chế phẩm Bt ở dạng lỏng và đã sử dụng 5.000 tấn để trừ sâu trên toàn diện 300.000 ha lúa và bông riêng rẽ trên 200.000 ha cây ăn quả và rau các loại (Dt Phạm văn Lầm, 1995) [10]

1.1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước

BPSH phòng chống dịch hại là một lĩnh vực khoa học tương đối mới ở nước

ta Mặc dù BPSH trên thế giới đã thành công hơn 100 năm nay nhưng những nghiên cứu về BPSH ở Việt Nam mới chỉ bắt đầu từ những năm đầu của thập kỷ

70 của thế kỷ XX Trong 1/4 thế kỷ qua với đội ngũ cán bộ kỹ thuật không nhiều nhưng đã đạt được những thành tựu nhất định trong lĩnh vực nghiên cứu BPSH phòng chống dịch hại (Phạm văn Lầm, 1995) [10]

Ở Việt Nam, ngay từ thế kỷ I - IV nhân dân ta đã biết sử dụng các loài côn trùng có ích vào sản xuất như: Thả Kiến đen cong đuôi vào vườn để diệt các loài sâu hại ở Cam, Quýt… (Phạm Văn Lầm, 1995) [10]

Mặc dù trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về thiên địch và đã sử dụng thành công các loài thiên địch trong phòng trừ sâu hại đến hơn 100 năm Nhưng ở Việt Nam phải đến thập kỷ 70 của thế kỷ XX mới có những nghiên cứu về các biện pháp sinh học để phòng trừ sâu hại (Phạm Văn Lầm, 1995) [10]

Trang 11

Từ năm 1967 - 1968, viện bảo vệ thực vật và viện sinh học đã có những điều tra về một số loài côn trùng thiên địch, nhưng kết quả thu được còn ít ỏi Tác giả Lê Khương Thuý năm 1989 [17] đã công bố danh lục 75 loài côn trùng thuộc họ

Carabidae, trong đó phần lớn là côn trùng bắt mồi ăn thịt sâu hại

Hiện nay côn trùng thiên địch ở nước ta đã được thống kê khá đầy đủ gồm:

Họ Bọ Rùa (Coccinellidae) với 246 loài trong đó có gần 200 loài sống theo kiểu

bắt mồi ăn thịt (Phạm Văn Lầm, 1995) [10]

Họ Ong ký sinh (Scelionidae) hiện có 221 loài đã được phát hiện (Lê Xuân

Huệ, 1989) [7]

Đến năm 1993, Phạm Văn Lầm đã phát hiện được 27 loài ong ký sinh họ

Ichneumonidae và 36 loài thuộc họ Braconidae là 2 họ khá phổ biến và quan

Nghiên cứu sử dụng nấm trừ sâu hại được bắt đầu từ năm 1990 Hiện nay

đang nghiên cứu khả năng sử dụng nấm Metarhizium anisopliae và Beauveria bassiana để trừ một số sâu hại quan trọng trong Nông Lâm nghiệp Đã thu thập được 18 nguồn bệnh nấm Beauveria và 10 nguồn bệnh nấm Metarhizium do phân

lập từ một số sâu hại và nhập nội từ Philipin, các nghiên cứu tập trung vào tìm kiếm môi trường thích hợp để tạo sinh khối lớn phục vụ cho sản xuất chế phẩm (Phạm văn Lầm, 1995) [10]

Trong thời gian này đã sản xuất lượng nhỏ và tạo chế phẩm dưới dạng bột khô thấm nước Hiệu lực của chế phẩm đã thử đối với rầy nâu, sâu đo đay, cầu cấu xanh, châu chấu ở điều kiện trong phòng thí nghiệm, trong lồng lưới Ngoài ra

có một số thí nghiệm thử hiệu lực của chế phẩm ngoài đồng ruộng, trên diện tích

Trang 12

nhỏ Tỉ lệ giảm của rầy nâu sau khi xử lý chế phẩm nấm là 55.2% - 58.8%, chỉ tiêu này đối với sâu xanh hại đay là 43,9 - 64,2% (Phạm thị Thuỳ,1993) [16]

Thí nghiệm trong phòng với châu chấu Momadaeris succincta, nấm M anisopliae sau 10 ngày xử lý gây chết 84,6% còn nấm M flavoiride gây chết 100% châu chấu thí nghiệm sau 10

ngày (Phạm văn Lầm, 1995) [10]

Tuy nhiên mọi nghiên cứu ứng dụng nấm trừ côn trùng còn đang ở giai đoạn mới bắt đầu, cần phải có những nghiên cứu tiếp tục về cơ sở sử dụng nấm côn trùng ở nước ta Đặc biệt những nghiên cứu tuyển chọn chủng nấm có độc tố cao và biện pháp sử dụng chế phẩm nấm có chất lượng cao không bị lẫn tạp chất (Phạm Văn Lầm, 1995) [10]

Trong nghiên cứu sử dụng vi khuẩn Bacillus thuringiensis trừ sâu ở nước ta

Sử dụng theo hai hướng: nhập nội chế phẩm B.t của nước ngoài và sản xuất ở trong nước Từ những năm đầu thập kỷ 70 đã nhập nội chế phẩm B-t và thử hiệu lực trừ một số loài sâu hại, tìm hiểu khả năng sử dụng B-t trừ sâu hại ở nước ta (Nguyễn Văn Cảm và Cs, 1976) [4]

Từ năm 1970 ở Việt Nam bắt đầu nghiên cứu sản xuất B-t Hiện nay công nghiệp thực phẩm đang sản xuất chế phẩm này trên quy mô công nghiệp với chủng B-t var Kurstaki Bước đầu các chế phẩm B-t trừ một số sâu hại tơ, sâu xanh bướm trắng (Phạm Văn Lầm, 1995) [10]

Theo Phạm Văn Lầm 1994 thì thuốc sinh học từ vi khuẩn B-t không gây ảnh hưởng tới các loài thiên địch chính

Nhiều năm qua trung tâm đấu tranh sinh học cùng với trạm dự báo sâu bệnh rừng Thanh Hoá đã nghiên cứu sản xuất chế phẩm virut sâu róm thông, hiệu quả tiêu diệt sâu róm thông của chế phẩm virus NPV đạt 55,2 - 83,3% (Trương Thanh Giản và Cs, 1994) [6]

1.1.4 Những nghiên cứu về sâu hại cây Muồng đen (Cassia siamea Lamk)

Theo Tổ chức nông lương Liên Hiệp Quốc (FAO - 2005) thì trên cây

Muồng đen có loài xén tóc (Celostorna scabrato Fabricicus) gây hại

Ngoài ra còn có loài Rệp Sáp (Stimacocus aster) gây hại và loài Bọ trĩ

Theo tài liệu của Philippin: thành phần sâu hại ăn lá Muồng đen có 11 loài

thuộc bộ cánh cứng (Coleoptera), bộ cánh vẩy (Lepidoptera) có 8 loài và những

loài này đã gây hại ở Đài Loan, Malayxia, Philippin

Trang 13

Ở Việt Nam chưa có những nghiên cứu lớn về sâu hại Muồng đen mặc dù sâu hại ở loài cây này đã phát sinh thành dịch ở một số tỉnh miền Bắc Trong vài năm gần đây đã có một số nghiên cứu về đặc tính sinh học, sinh thái của nhóm sâu hại chính thuộc bộ cánh vẩy ăn lá Muồng đen ở vườn ươm và rừng trồng

Tác giả Đặng Kim Tuyến, 2008 [22] trong kết quả báo cáo chuyên đề nghiên cứu sinh cho biết ở rừng trồng Muồng đen 4 đến 12 tuổi tại Vĩnh Phúc có

23 loài thiên địch thuộc 11 họ của 4 bộ là bộ Cánh Màng, cánh không đều, cánh cứng và bộ Bọ ngựa

Song chưa có tác giả nào nghiên cứu về biện pháp phòng trừ sâu ăn lá Muồng đen bằng các loài côn trùng thiên địch mà mới chỉ dừng lại ở mức độ điều tra thành phần các loài thiên địch

1.2 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

1.2.1.1 Vị trí địa lí

Chợ mới là huyện núi cao nằm ở phía nam của tỉnh Bắc Kạn, trung tâm huyện lỵ cách thị xã Bắc Kạn 40 km dọc theo quốc lộ 3 từ km 42 - km 73, trên

trục đường Hà Nội - Thái Nguyên - Bắc Kạn - Cao Bằng

Phía bắc giáp thị xã Bắc Kạn, huyện Bạch Thông

Phía nam giáp huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên

Phía đông giáp huyện Na Rì

Phía tây giáp huyện Chợ Đồn ( Phòng Nông nghiệp - PTNT Huyện Chợ Mới - Bắc Kạn 2009 ) [15]

1.2.1.2 Địa hình

Chợ Mới là huyện có địa hình tương đối phức tạp, có nhiều đồi núi cao, độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 200 - 400 m Hầu hết các xã trong huyện

Trang 14

Chợ Mới đều có địa hình núi cao chia cắt phức tạp tạo ra nhiều khe suối, đường giao thông đi lại khó khăn, nhất là vào những ngày mưa Trong huyện có dòng sông Cầu chảy qua bắt nguồn từ thị xã Bắc Kạn đã cung cấp một lượng phù sa rất tốt ở hai dọc bờ sông và cung cấp nguồn nước tưới, nước sinh hoạt cho nhân dân

ở các xã có dòng sông Cầu chảy qua ( Phòng Nông nghiệp - PTNT Huyện Chợ Mới - Bắc Kạn 2009 ) [15]

1.2.1.4 Khí hậu thủy văn

Do ở chí tuyến bắc trong vành đai nhiệt đới bán cầu nên khí hậu của huyện Chợ Mới mang tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa Trong năm có hai mùa rõ rệt mùa đông lạnh nhiệt độ xuống thấp (có khi xuống tới 30C) và thường có đợt gió mùa đông bắc, hanh khô, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10 trong mùa này nhiệt độ thường cao và mưa lớn

Nhiệt độ trung bình năm khoảng 220C, tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng

2 nhiệt độ là 15,90C, nhiệt độ trung bình cao nhất là 270C vào tháng 7, số giờ nắng trung bình cả năm là 1.370 giờ

Độ ẩm không khí trung bình là 84%, tháng có độ ẩm không khí thấp nhất là tháng 11, 12 đạt 79%, tháng có độ ẩm không khí cao nhất là tháng 7 đạt 89%

Lượng mưa trung bình năm đạt 127,69 mm/tháng, tháng 7 là tháng có lượng mưa cao nhất 492 mm, tháng 1 là tháng có lượng mưa thấp nhất 10 mm

Trang 15

Lượng bốc hơi trung bình năm 821 mm đạt 68,42 mm/tháng, trong đó tháng 5 là tháng có lượng bốc hơi cao nhất 93 mm, thấp nhất là tháng 2 và tháng 6: 56,5 - 57 mm

Hướng gió: gió mùa đông bắc xuất hiện từ tháng 10 năm trước đến tháng 2 năm sau gió đông đông nam từ tháng 3 đến tháng 9 ( Trạm khí tượng thủy văn Huyện Chợ Mới - Bắc Kạn - 2009) [18]

Nhìn chung điều kiện khí hậu ở Chợ Mới tương đối thích hợp cho cây Muồng đen sinh trưởng và phát triển Do vậy việc quản lý và bảo vệ cây Muồng đen là cần thiết và cần có một hệ thống quản lí bảo vệ mang tính chất khoa học để bảo vệ cho cây Muồng đen nói riêng và rừng trồng nói chung sinh trưởng phát triển tốt, đáp ứng chưac năng phòng hộ môi trường sinh thái trong khu vực

1.2.2 Đặc điểm về điều kiện kinh tế, xã hội

1.2.2.1 Dân số, dân tộc

Theo số liệu của phòng thống kê huyện Chợ Mới đến cuối năm 2005 toàn huyện có 7.836 hộ trong đó số hộ làm nông - lâm nghiệp là 6.673 hộ chiếm 85,2%, số hộ làm phi nông - lâm nghiệp là 1.163 hộ chiếm 14,8%

Tổng số dân trong huyện là 36.307 người trong đó nam là 18.135 người chiếm 49,95 %, nữ là 18.172 người chiếm 50,05%

Tổng số lao động là 18.516 lao động chiếm 50,1% tổng số dân, trong đó lao động làm nông - lâm nghiệp là 15.702 lao động chiếm 84,8%, nghề khác là 2.814 lao động chiếm 15,2%

Trong huyện có 13 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó:

Trang 16

Nhìn chung mức sống của nhân dân trong huyện còn thấp năm 2002 còn tới

423 hộ nghèo đói, thiếu ăn giáp hạt Do năng suất nông nghiệp còn thấp, người dân chủ yếu tập trung vào khai thác rừng nên số lượng rừng tự nhiên giảm, đời sống người dân còn nhiều khó khăn, họ chưa ý thức được quản lý bảo vệ rừng ( Phòng Nông nghiệp - PTNT Huyện Chợ Mới - Bắc Kạn 2009 ) [15]

1.2.2.2 Tài nguyên rừng

Diện tích đất rừng của huyện hiện nay là 38.621,6 ha chiếm 63,72% tổng diện tích tự nhiên Trong đó diện tích rừng tự nhiên là 35.524,6 ha, diện tích rừng trồng là 3.096,4 ha và đất ươm cây là 1 ha Như vậy tỷ lệ che phủ thảm thực vật rừng trên địa bàn huyện đạt 37% so với ổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 60.611 ha diện tích tự nhiên Với tỷ lệ che phủ này chưa đảm bảo mức cân bằng sinh thái ở một huyện có nhiều đồi núi cao như huyện Chợ Mới Vì vậy trong quy hoạch sử dụng đất cần chú ý các giải pháp để phục hồi tăng vốn rừng, tăng diện tích các loại cây trồng có tán che rộng và thời gian che phủ dài trong năm, để đảm bảo tỷ lệ che phủ của thảm thực vật đạt mức cân bằng sinh thái tự nhiên (Lâm trường Chợ Mới - Bắc Kạn, 2009) [9]

PHẦN II ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Đề xuất được các biện pháp phòng trừ hiệu quả đối với sâu hại chính ăn lá Muồng đen nhằm tránh được những trận dịch do sâu hại gây ra đáp ứng được mục tiêu kinh doanh và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái

2.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Trang 17

- Xác định được một số đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài sâu hại chính ăn lá cây Muồng đen ở rừng trồng thuộc lâm trường Chợ Mới - Bắc Kạn

- Đánh giá hiệu quả của một số biện pháp sinh học trong phòng trừ sâu hại chính ăn lá Muồng đen, đề xuất các biện pháp phòng trừ chúng trên địa bàn nghiên cứu

2.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Các loài sâu hại chính ăn lá cây Muồng đen (Cassia siamea Lamk)

Cây Muồng đen (Cassia siamea Lamk) còn có tên gọi là cây Muồng xiêm, thuộc

họ Vang (Cacsalpiniaceae R.Rr) bộ Đậu (Fabales) Là cây gỗ nhỡ, cao 12 - 20m, đường

kính 40 - 50cm, thân thẳng, vặn xoắn phân cành sớm

Lá kép lông chim 1 lần chẵn, hoa tự ngù lưỡng tính, hoa gồm 5 tràng màu vàng tươi Nhị 10 không đều, có 3 nhị lép Bầu phủ đầy lông, đầu nhụy rõ Quả đậu hình dải, dài 25 - 30cm, rộng 1,5-1,7cm Khi quả chín có mầu nâu đen, mang

10 - 20 hạt Hạt gần tròn, dẹt, mầu nâu nhẵn bóng

Đây là loài cây ưa sáng mọc nhanh, lúc nhỏ cần che bóng 50 - 70% Sống tốt trên đất bồi tụ trung tính hoặc hơi kiềm, có thể chịu được nơi đất nghèo dinh dưỡng, khô hạn Phân bố tự nhiên ở độ cao < 1200m, có thể chịu được tới 6 tháng khô hạn nhưng không sống được ở nơi có sương gió Mùa ra hoa tháng 10 - 12 và tháng 6 - 7 Quả chín tháng 1- 4 và tháng 8 - 9

Muồng đen là cây bản địa vùng Đông Nam Á (Việt Nam, Lào, Campuchia, Malaixia và Inđônêxia) Ở Việt Nam cây mọc tự nhiên từ các tỉnh Quảng Bình đến các tỉnh miền Nam, phổ biến ở Quảng Nam, Đà Nẵng, Tây Nguyên

Loài cây này có gỗ cứng, nặng, giác màu xám vàng, lõi nâu đỏ hoặc nâu đen và chịu được ẩm ướt, mối mọt Có thể dùng làm gỗ xây dựng, đóng đồ mỹ nghệ và nhạc cụ

Muồng đen thường được trồng thành dải rừng phòng hộ hoặc trong các mô hình nông lâm kết hợp, do cây có khả năng bảo vệ và cải tạo đất Củi cho nhiệt lượng cao, có thể kinh doanh rừng củi Cây có dáng đẹp lại dễ tính, mọc nhanh, có hoa gần như quanh năm nên được trồng làm cây cảnh và bóng mát

Trang 18

Là loài cây có giá trị nhiều mặt nên đã và đang được gây trồng ở nhiều nơi trong cả nước (Lê Mộng Chân và Cs, 2000) [5]

2.4 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN TIẾN HÀNH

Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại Lâm trường Chợ Mới - Bắc Kạn

từ tháng 2/2009 đến tháng 12/2010

2.5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Căn cứ vào mục tiêu của đề tài, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các nội dung sau:

- Khảo sát hiện trạng rừng trồng Muồng đen thuộc khu vực lâm trường Chợ Mới, xác định sâu hại chính ăn lá

- Đặc tính sinh học, sinh thái của sâu hại chính và thành phần thiên địch của sâu ăn lá Muồng đen

- Đánh giá khả năng hạn chế sâu hại chính của một số biện pháp sinh học: Phun chế phẩm sinh học

Sử dụng thuốc thảo mộc

Gây nuôi và thả một số loài thiên địch chính của sâu xanh ăn lá Muồng đen vào rừng trồng

- Đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu ăn lá Muồng đen tại địa bàn nghiên cứu

2.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.6.1 Phương pháp kế thừa số liệu có chọn lọc

- Kế thừa số liệu về điều kiện tự nhiên, điều kiện dân sinh - kinh tế - xã hội… của khu vực nghiên cứu

- Tham khảo các tài liệu đã nghiên cứu có liên quan đến đối tượng nghiên cứu

2.6.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của SHC

Trang 19

2.6.2.1 Phương pháp điều tra quan sát trực tiếp tại thực địa

Điều tra sơ bộ

Điều tra sơ bộ tại rừng trồng muồng đen của lâm trường Chợ Mới được tiến hành theo tuyến song song với đường đồng mức, tuyến nọ cách cách tuyến kia 100m Trên tuyến đi khoảng cứ cách khoảng 50 - 100m thì dừng lại rẽ sang 2 bên

để quan sát với bán kính 10 - 20m về tình hình sâu hại, rồi lập điểm điều tra Mỗi tuyến điều tra có thể lập 1- 2 điểm điều tra Mỗi điểm điều tra tối thiểu 30 cây Xác định tỷ lệ cây có sâu và ghi chép các thông tin về tình sinh sinh trưởng của rừng trồng rồi tiến hành chọn địa điểm để điều tra tỷ mỷ ( Nguyễn Thế Nhã và

Cs, 2001) [12]

Điều tra tỷ mỉ

Điều tra mật độ sâu hại và đánh giá mức độ sâu ăn lá

Để điều tra mật độ và mức độ hại lá thì tiến hành lập các ô tiêu chuẩn (OTC), diện tích OTC là 1000m2, OTC được đặt ở các vị trí chân, sườn và đỉnh đồi OTC phải đi qua các dạng địa hình khác nhau, đại diện cho các hướng phơi khác nhau Trong mỗi ô tiêu chuẩn cứ cách 1 - 3 hàng điều tra 1 hàng và trong hàng cứ cách 1 - 3 cây lại điều tra 1 cây (cây tiêu chuẩn) sao cho số cây trong O.T.C phải đảm bảo ít nhất điều tra tối thiểu 30 cây hoặc 10% số cây nếu rừng trồng mật độ thưa Trên cây tiêu chuẩn điều tra 5 cành (2 cành gốc tán theo hướng Đông - Tây, 2 cành giữa tán theo hướng Nam - Bắc và 1 cành ngọn) Tại địa bàn nghiên cứu, chúng tôi bố trí 3 điểm điều tra Số liệu thu thập tại mỗi điểm điều tra

là 9 O.T.C theo phương pháp rút mẫu hệ thống [20]

- Điều tra mật độ sâu thuộc bộ cánh vẩy ăn lá thì trên tất cả các cành điều tra đếm tất cả số lượng cá thể sâu hại ở các pha và tổng số cành của cây điều tra

- Điều tra mức độ hại lá trên cây tiêu chuẩn Trong mỗi cành tiêu chuẩn điều tra 5 lá (2 lá gốc, cành, 2 lá giữa cành và 1 lá ngọn cành) Cá lá bị sâu ăn hại được chia theo các cấp sau:

Cấp 0: Những lá không bị sâu ăn (còn nguyên vẹn);

Cấp I: Những lá bị sâu ăn < 1/4 diện tích lá

Trang 20

Cấp II: Những lá bị sâu ăn từ 1/4 - 1/2 diện tích lá

Cấp III: Những lá bị sâu ăn 1/2 - 3/4 diện tích lá

Cấp IV: Những lá bị sâu ăn > 3/4 diện tích lá

Các số liệu thu thập được ghi vào mẫu bảng tương ứng ( Nguyễn Thế Nhã và Cs, 2001) [12]

Đồng thời trong qua trình điều tra quan sát trực tiếp tại rừng trên các ô tiêu chuẩn (O.T.C) chúng tôi kết hợp điều tra và theo dõi luôn về đặc điểm hình thái, tập tính sinh sống, số lượng sâu hại và mức độ hại lá và biến động của quần thể

của loài SHC ăn lá Muồng đen ( Nguyễn Thế Nhã và Cs, 2001) [12]

Các số liệu thu thập trong quá trình điều tra được ghi vào các mẫu bảng đã chuẩn bị sẵn theo tài liệu hướng dẫn: điều tra và dự tính dự báo sâu bệnh hại rừng ( Nguyễn Thế Nhã và Cs, 2001) [12]

Điều tra, đánh giá mức độ phổ biến của thiên địch

Cũng trong các OTC điều tra đã lập để điều tra đánh giá số lượng và mức

độ sâu ăn lá chúng ta đếm tất cả các tổ Kiến và xếp theo nhóm, điều tra các loài thiên địch khác như: Bọ rùa, Bọ ngựa, Ong vàng, số sâu chết do nấm, vi khuẩn… ( Nguyễn Thế Nhã và Cs, 2001) [12]

2.6.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm nuôi sâu trong phòng

Nuôi sâu hại chính

- Nuôi sâu trong phòng thí nghiệm để theo dõi các đặc tính sinh vật học, sinh thái học của loài Chuẩn bị lồng nuôi sâu, sâu của loài hại chính, cây thức ăn, nhiệt kế, ẩm kế, tủ định ôn các mẫu biểu và các dụng cụ cần thiết khác để thu thập số liệu ( Nguyễn Thế Nhã và Cs, 2001) [12]

Để nắm vững một số đặc tính sinh học cơ bản của sâu hại chính thuộc bộ cánh vảy ăn lá Muồng đen, trong quá trình nghiên cứu ngoài việc kế thừa kết quả của các nghiên cứu trước, song song với việc điều tra quan sát tại rừng và nuôi

chúng tôi vẫn tiến hành nuôi tiếp 2 loài sâu hại chính là loài sâu xanh (Catopsilia pomoma Fabricius) và sâu xanh vàng viền đen (Eurema hecabe Linnaeus)

Trang 21

- Đặc điểm của lồng nuôi: Làm bằng gỗ có kích thước (40 x 40 x 60)cm xung quanh được làm bằng lưới thép nhỏ lỗ có kích thước (1 x 1)mm, chân lồng được kê trong các bát nước tránh Kiến và các thiên địch khác bò vào ăn làm sai lệch kết quả nghiên cứu Lồng có cửa mở ra, vào thuận tiện việc nuôi và quan sát Hàng ngày cho lá vào cho sâu ăn, sau 24 giờ lại cân đong, kiểm tra và ghi chép cụ thể vào các mẫu bảng phù hợp, nội dung ghi chép: nhiệt độ, ẩm độ mỗi ngày, ngày nở, ngày lột xác, ngày vào nhộng, lượng thức ăn ở mỗi giai đoạn ( Nguyễn Thế Nhã và Cs, 2001) [12]

2.6.2.3 Phương pháp nghiên cứu thử nghiệm một số biện pháp sinh học trong phòng trừ SHC

a Phun chế phẩm sinh học

+ Danh mục và công dụng của một số loại thuốc thử nghiệm

Các loại chế phấm dùng để phun nhằm đánh giá hiệu quả phòng trừ sâu hại chính được tổng hợp ở bảng sau:

Bảng 2.1: Các loại thuốc và nồng độ sử dụng

(%)

Dạng

1 Bacilluss thuringensis (B-t) 0,4 Sữa Trung tâm BVR Nghệ An

2 Bôvêrin (B - b) 0,4 Bột Trung tâm BVR Nghệ An

3 Trutat 0.32EC 0,25 Sữa Trạm BVTV Thái Nguyên

4 Javitin 18EC 0,25 Sữa Trạm BVTV Thái Nguyên

5 Pyrinex 20EC (thuốc hóa học) 0,25 Sữa Trạm BVTV Thái Nguyên

- Bôvêrin: Sử dụng phòng trừ sâu róm thông, các loài sâu non thuộc bộ cánh vảy và cánh cứng, có hiệu quả cao với bọ xít dài hại lúa bộ cánh nửa Gây độc qua

đường tiếp xúc Thành phần: Bào tử nấm bạch cương (Beauveria bassiana) có độc

tố Boverixin khi ký sinh trên cơ thể sâu hại, sợi nấm sẽ lấy dinh dưỡng của sâu non và làm sâu bị mốc trắng Bào tử nấm dễ lây lan khi gặp điều kiện thời tiết thuận lợi Hiệu quả tiêu diệt sâu hại kéo dài từ 4 - 15 ngày sau khi phun

- Javitin 18EC: loại thuốc trừ sâu thế hệ mới nhất có nguồn gốc thiên nhiên, chiết xuất từ các sinh vật có chất độc, thuốc có tác dụng diệt trừ sâu có miệng gặm nhai và chích hút Thành phần: Hoạt chất Abamectin 18g/l Phụ gia: 99,82%

Trang 22

- Trutat 0,32EC loại thuốc trừ sâu thế hệ mới có nguồn gốc thiên nhiên, chiết xuất từ các sinh vật có chất độc, thuốc có tác dụng diệt trừ sâu có miệng gặm nhai qua đường tiêu hóa

- Baciluss thuringensis: Là loại thuốc trừ sâu có chứa vi khuẩn gây bệnh chết nhũn cho sâu hại qua đường tiêu hoá Gây độc cho sâu róm thông, sâu non bộ cánh vảy, nhiều loài sâu hại khác

- Pyrinex 20EC: Là loại trừ sâu thuốc học thuộc nhóm lân hữu cơ, với hoạt chất Chlopyrifos 200g/lít (20%), phụ gia 80% Tác dụng tiếp xúc, vị độc, xông hơi Độ độc trung bình, tiêu diệt nhiều loài sâu hại cây trồng, hiệu quả cao với sâu non bộ cánh vảy Mục đích chúng tôi đưa loại thuốc này vào là để so sánh hiệu quả tiêu diệt sâu ăn lá Muồng đen, đồng thời đánh giá mức độ tiêu diệt các loài thiên địch của thuốc hoá học so với các chế phẩm sinh học để có cơ sở đưa ra các khuyến cáo nhằm bảo vệ môi trường trong việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

+ Dụng cụ cần thiết phục vụ thí nghiệm:

Bình phun 8lít, xô, chậu, thước dây, sổ ghi chép và mẫu bảng biểu

Cây Muồng đen 1 tuổi trong bầu có mang sâu ăn lá để phun thử trong phòng trước khi phun chế phẩm ngoài rừng có đối chứng phun nước lã sạch

+ Bố trí thí nghiệm

Rừng Muồng non 3 tuổi, được trồng trên các đồi bát úp

Điều tra sơ bộ lấy ngẫu nhiên trên 5 điểm mỗi điểm điều tra 30 cây Xác định tỷ lệ cây có sâu, rồi tiến hành chọn địa điểm lập ô tiêu chuẩn để điều tra tỷ

mỷ

Thí nghiệm được tiến hành trên 3 điểm, mỗi điểm lập 6 OTC để phun thuốc, diện tích mỗi ô là 150m2 Mỗi ô thí nghiệm là 1 loại thuốc ứng với mỗi công thức và một ô đối chứng Thí nghiệm theo dõi với 3 lần nhắc lại

Sau khi bố trí thí nghiệm, chúng tôi tiến hành điều tra mật độ sâu hại và thành phần các loài thiên địch trong các ô thí nghiệm theo từng công thức Trong mỗi ô thí nghiệm điều tra 15 cây, do cây còn thấp nên mỗi cây chúng tôi lấy 1/2

số cành, rồi bắt và đếm tất các cá thể của pha sâu non, quy ra mật độ trung bình (con/cây) Đồng thời điều tra cả thiên địch và ghi chép mức độ phổ biến của

chúng

Trang 23

Tiếp theo tiến hành pha chế và phun thuốc Các loại thuốc đem thử nghiệm đều pha theo đúng hướng dẫn ngoài bao bì về nồng độ và sử dụng đúng liều lượng, sau khi pha xong phun ngay Sau 2 ngày đêm kể từ khi phun chúng tôi tiến hành điều tra và ghi chép số sâu chết, theo dõi cho đến tận ngày cuối cùng Riêng

thuốc Pyrinex 20EC vì là thuốc hoá học nên không phun trong phòng mà chỉ phun

ở tại rừng, theo dõi số sâu chết sau 8 giờ kể từ khi phun

b Thí nghiệm phun thuốc thảo mộc tiêu diệt SHC

+ Cách chế nước thuốc thảo mộc: lá và vỏ Xoan ta ở cây Xoanto Cứ 1 kg

giã nhõ lọc với 10lít nước lã Ngâm qua đêm, phun cho cây trong phòng và rừng mới trồng có chiều cao cây < 2m

+ Phun thử nghiệm trong phòng: lấy 5 mẫu cây Muồng đen tuổi 1 trong

bầu lớn (mỗi mẫu 1cây), mỗi mẫu thả 40 sâu non từ tuổi 1- tuổi 4, mẫu nọ cách mẫu kia 1,5m mỗi mẫu đều có 1 mẫu đối chứng Phun nước lá Xoan vào 8h buổi sáng cho 5 mẫu, mẫu đối chứng phun nước lã Liều lượng phun 0,05lít thuốc nước/mẫu Theo dõi sâu chết và ghi chép

+ Phun thử nghiệm ở rừng non: Trong OTC lập lập 5 ô dạng bản, mỗi ô

50m2 Phun nước lá Xoan ta vào 8h buổi sáng cho 5 ô dạng bản, mẫu đối chứng phun nước lã Liều lượng phun 0,1lít thuốc nước/m2 Theo dõi sâu chết và ghi chép

c Thí nghiệm thả tổ Kiến đen cong đuôi vào rừng Muồng đen thuần loài

+ Phương pháp bố trí thí nghiệm:

Trên diện tích rừng thuần loài đo lấy 10.000m2 (1ha) chạy dài từ chân lên đỉnh đồi để thí nghiệm thả kiến, do đặc điểm của Kiến đen cong đuôi đi kiếm ăn khá xa Trong diện tích 10.000 m2, bố trí 4 tổ Kiến đen cong đuôi nằm về 4 phía của 2 đường chéo và 1 tổ ở chính giữa Trong diện tích thả kiến lập 3 OTC ở các

vị trí chân, sườn, đỉnh Đặt ô đối chứng bố trí trên cùng quả đồi nhưng cách diện tích thả kiến là 200m, cũng ở các vị trí chân, sườn đỉnh Các tổ kiến phải là các tổ lớn có kích thước: Đường kính tổ 20 - 30cm, chiều dài tổ: 35- 40cm Các tổ kiến được thu từ rừng tự nhiên và rừng tre nứa nơi có số lượng tổ nhiều Khi lấy tổ

Trang 24

Kiến phải cưa nhẹ nhàng tránh vỡ tổ, cưa cả 1 phần các cành cây cũ mang tổ, sau

đó mang về dùng dây cước nâu đen buộc thật chặt vào các cây Muồng đen để cố định, tránh gió rung lắc Kiến sẽ bỏ đi Thời gian thu tổ Kiến là mùa xuân (tháng 4 dương lịch)

+ Phương pháp điều tra và theo dõi

Phải điều tra mật độ sâu hại và mức độ hại lá trước khi tiến hành thí nghiệm Sau đó mới thả Kiến vào và tiếp tục điều tra lại để theo dõi

Phương pháp điều tra, đánh giá mật độ sâu hại và mức độ hại lá do sâu ăn

đã được trình bày chi tiết ở các mục trước

Đối với Kiến đen cong đuôi sau khi buộc tổ Kiến cố định vào cây đợi khoảng 5 -10 ngày sau khi tổ ổn định thì cứ cách 5 ngày điều tra 1 lần và điều tra liên tục 3 lần cho mỗi lứa sâu, sau khoảng 30 - 34 ngày khi sâu non lứa sau xuất hiện lại điều tra lại trên các ô đối chứng và ô thí nghiệm thả Kiến với 3 lần nhắc lại

d Thí nghiệm nuôi, thả Bọ ngựa

+ Nuôi 2 loài Bọ ngựa (thiên địch của Sâu ăn lá Muồng đen) trong phòng trong phòng

Để nắm được khả năng bắt mồi ăn thịt của một số loài Bọ ngựa là thiên địch chủ yếu của sâu hại chính, chúng tôi đã tiến hành nuôi 2 loài Bọ ngựa là Bọ ngựa xanh thường và Bọ ngựa xanh bụng rộng trong lồng Mục đích là quan sát một số đặc tính sinh vật học: vòng đời, đặc điểm của từng giai đoạn và tập tính sinh hoạt của chúng trong việc tiêu diệt sâu hại chính ăn lá Muồng đen

- Đặc điểm của lồng nuôi: Làm bằng gỗ có kích thước 40 x 40 x 60 (cm) xung quanh được làm bằng lưới thép nhỏ lỗ có kích thước (1 x 1) mm giống như lồng nuôi sâu hại chính

- Bố trí mỗi loài Bọ ngựa nuôi ở 3 lồng Lấy Bọ ngựa trưởng thành sắp đẻ

cả đực, cái và cả ổ trứng vừa đẻ ở rừng mang về nuôi và theo dõi trong lồng ngay

từ ngày đầu cho đến khi trứng nở và từ Bọ ngựa mới nở ra cho đến khi trưởng thành

Trang 25

Để nắm được một số đặc tính sinh học cơ bản của chúng và khả năng tiêu diệt con mồi của 2 loài Bọ ngựa là Bọ ngựa xanh thường và Bọ ngựa xanh bụng rộng Ngoài ra chúng tôi còn bố trí thêm các lồng nuôi riêng từng giai đoạn tuổi của 2 loài Bọ ngựa này

- Cách theo dõi: Hàng ngày chúng tôi thả sâu xanh ăn lá Muồng đen vào cây Muồng đen để trong lồng nuôi Bọ ngựa Sau 1 ngày đêm đếm lại số sâu non còn lại và lấy số sâu đã thả trừ đi số sâu còn lại để biết số sâu non Bọ ngựa đã ăn hết trong 1 ngày đêm Và lấy số liệu trung bình cho từng giai đoạn tuổi và từng loài ( Nguyễn Thế Nhã và Cs, 2001) [12]

+ Thả Bọ ngựa vào rừng

Sau khi nuôi đủ số lượng Bọ ngựa chúng tôi tiến hành thả Bọ ngựa tuổi 2, 3

và 4 vào các khu rừng trồng Muồng đen thuần loài tuổi 3 - 4 có sâu hại ở mật độ trung bình Do số lượng Bọ ngựa nuôi được có hạn nên chúng tôi chỉ thả mỗi loài vào 3 ô tiêu chuẩn (OTC), diện tích OTC là 250 m2 (gọi là ô thí nghiệm), các OTC được bố trí trong cùng một khu, có đối chứng (OTC không thả Bọ ngựa) Số

Bọ ngựa mang thả vào OTC là 250con/OTC và được rải đều từ giao điểm của 2 đường chéo OTC ra gần cạch ngoài của ô, chừa ra 5 m sát mép OTC không thả vì

Bọ ngựa có thể bay sang khỏi ô thí nghiệm Trước khi thả chúng tôi lợi dụng các quả đồi có ruộng lúa hay đường giao thông bao quanh để lập OTC để hạn chế Bọ ngựa bay ra khỏi ô thí nghiệm, vì diện tích rộng, địa hình phức tạp nên không có điều kiện chăng lưới bao Cứ 10 ngày chúng tôi điều tra lại một lần để đánh giá mật độ sâu hại chính ăn lá Muồng đen và mật độ Bọ ngựa còn lại trong OTC, riêng Bọ ngựa không bắt mà chỉ đếm trực tiếp trên các cây điều tra Mỗi OTC điều tra 30 cây theo phương pháp rút mẫu hệ thống

2.6.2.4 Phương pháp xử lý số liệu

- Mức độ hại lá do sâu ăn được xác định theo công thức:

Σ n.v R% = - 100

N.V

Trong đó: R%: Mức độ bị hại của cây điều tra

Trang 26

n: Số lá bị hại ở mỗi cấp ; v: Trị số của cấp hại tương ứng

N: Tổng số lá điều tra trong cây V: Trị số của cấp hại cao nhất (V = 4)

Sau khi tính mức độ hại của cây điều tra, tính mức độ hại trung bình cho cả

ô tiêu chuẩn rồi cho cả đợt theo bình quân cộng Đánh giá mức độ hại lá như sau:

R < 25% là hại nhẹ; R từ 25 - 50% là hại vừa

R từ 50 - 75% là hại nặng; R > 75% là hại rất nặng ( Nguyễn Thế Nhã và

Trong đó n : Số cây có sâu hoặc số điểm có sâu cần tính

N: Tổng số cây hoặc số điểm điều tra; P%: Tỷ lệ cây có sâu hoặc điểm có sâu Nếu: P% >50% - Phân bố đều hay là loài phổ biến; P% = 25 - 50% - Phân bố không đều hay là loài ít gặp; P% < 25% - Phân bố ngẫu nhiên hay loài rất ít gặp

- Phân tich phương sai 1 nhân tố của các thí nghiệm nghiên cứu dưới sự trợ giúp của phần mềm Excel trên máy vi tính - Tỉ lệ sâu chết trong phòng thí nghiệm được tính theo công thức:

Số sâu chết thí nghiệm

Tỉ lệ sâu chết = - x 100 Tổng sâu thí nghiệm

+ Tính hiệu quả tiêu diệt sâu của các loại thuốc

Hiệu quả tiêu diệt sâu trong thí nghiệm được tính theo công thức sau:

B - K H% = - x 100

100 - K

Trong đó: H%: Hiệu quả tiêu diệt sâu của thuốc ở các công thức

Trang 27

K: Là tỉ số phần trăm số sâu chết ở công thức đối chứng B: Là tỉ số phần trăm số sâu chết ở công thí nghiệm

Để đánh giá hiệu quả của các loại thuốc đến SHC ăn lá cây Muồng đen ở rừng trồng có rõ rệt hay không chúng tôi phân tích phương sai một nhân tố, sử dụng phần mềm excell 7.0 Nếu Ftính < F0,05 thì kết luận giữa các công thức thí nghiệm không có sự sai khác

Nếu Ftính > F0,05 thì kết luận chứng tỏ việc sử dụng các loại thuốc khác nhau ở các công thức thí nghiệm là có ý nghĩa Khi đó cần lựa chọn các công thức có hiệu quả cao để đưa vào ứng dụng trong phòng trừ sâu ăn lá Muồng đen ( Nguyễn Hải Tuất, 2001) [20]

2.6.3 Phương pháp tra cứu tài liệu

- Sau khi thu thập mẫu vật điều tra tiến hành tra cứu tài liệu để giám định phân loại côn trùng

- Kết hợp số liệu nuôi sâu trong phòng và quan sát ngoài thực địa để có kết luận

Sau khi có kết quả xử lý số liệu, chúng tôi tiến hành tổng hợp, nhận xét, phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu và viết báo cáo đề tài nghiên cứu

Trang 28

PHẦN 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 HIỆN TRẠNG RỪNG TRỒNG MUỒNG ĐEN VÀ THÀNH PHẦN SÂU HẠI THUỘC KHU VỰC LÂM TRƯỜNG CHỢ MỚI

3.1.1 Hiện trạng rừng trồng Muồng đen của lâm trường Chợ Mới - Bắc Kạn

Rừng trồng Muồng đen của lâm trường Chợ Mới - Bắc Kạn chủ yếu được trồng theo dự án 661 của Chính Phủ, bắt đầu trồng từ năm 1999 Đến nay tổng số là trên 500

ha cả thuần loài và hỗn giao Các lô được trồng thuần loài không nhiều, phần lớn là được trồng hỗn giao với Keo, Trám, Lát Cây Muồng đen được trồng ở đây sinh trưởng

và phát triển ở mức trung bình, cùng với sự sinh trưởng phát triển thì trên cây Muồng đen cũng xuất hiện nhiều sâu hại Phần lớn các khu rừng trồng này ít được áp dụng các biện pháp phòng trừ nhất là các khu rừng ở từ tuổi 5 trở lên

Đối với các khu rừng non thì chủ yếu là phun thuốc hoá học Bassa 50EC và khi sâu phát dịch, các biện pháp chăm sóc quản lý bảo vệ rừng Muồng đen còn rất kém Do mật độ trồng dày (2200 - 2500 cây/ha), rừng trồng hỗn giao thì Muồng đen bị các cây khác như Keo, Mỡ chèn ép và sâu bệnh hại nên sinh trưởng yếu ớt, cây thường bị đứng ở phía dưới tán rừng

Rừng thuần loài, rừng non cây sinh trưởng, phát triển trung bình, mật độ trồng 1800 - 2200 cây/ha, song do quản lý bảo vệ kém nên số cây bị chết do sâu bệnh và gia súc lên tới hơn 30% nên chỗ dày chỗ thưa Rừng trên 7 tuổi có sự phân hoá rõ rệt, số cây sinh trưởng từ trung bình trở lên chỉ chiếm khoảng 55 - 60%, còn lại là cây xấu, cong queo, sâu bệnh, lệch tâm, lệch tán ở đối tượng rừng này không hề có biện pháp phòng trừ nào, khi bị sâu hại phát dịch rừng thường bị suy giảm khả năng sinh trưởng và sau một thời gian lại tự phục hồi

3.1.2 Thành phần sâu hại lá rừng trồng Muồng đen

Kết quả điều tra và giám định các mẫu vật thu thập tại các điểm nghiên cứu cho thấy thành phần các loài sâu hại lá Muồng đen ở địa bàn nghiên cứu là tương đối phong phú

Danh lục các loài sâu hại lá Muồng đen được tổng hợp qua bảng 3.1

Trang 29

Bảng 3.1: Danh lục sâu hại lá Muồng đen tại năm 2009 tại

lâm trường Chợ Mới- Bắc Kạn

biến, gây hại Tác hại

I Bộ Cánh vảy Lepidoptera

1 Bướm chanh di cư Catopsilia pomona Fabricius +++ Ăn lá

2 Bướm vàng viền đen Eureuma hecabe Linnaeus +++ Ăn lá

3 Sâu róm 4 túm lông nâu Orgyia sp + Ăn lá

4 Sâu róm 4 túm lông đỏ Orgyia sp - Ăn lá

5 Sâu kèn bó lá Dappula tertia Templeton + Ăn lá

6 Sâu kèn dài Amatisa snelleni Heylart + Ăn lá

7 Sâu đo xanh Biston marginata Shiraki + Ăn lá

8 Cầu cấu xanh Hypomeces squamosus F ++ Ăn lá

9 Bọ xít dài Leptocorisa varicornis + Hút nhựa

10 Bọ xít gai Dereteryx iunata + Hút nhựa

11 Bọ xít nâu vàng Clatus punctiger + Hút nhựa

IV Bộ cánh thẳng Orthoptera

12 Sát sành Climaea berezoo Wskii - Ăn lá

Ký hiệu: (-) Rất ít xuất hiện, gây hại không đáng kể (tần suất xuất hiện <10%)

(+) Xuất hiện ít, gây hại nhẹ (tần suất xuất hiện từ 10% - <30%)

(++) Xuất hiện, gây hại ở mức trung bình (tần suất xuất hiện từ 30%- 50%)

(+++): Xuất hiện nhiều, gây hại nặng (tần suất xuất hiện từ >50%)

Qua điều tra đại diện cho khu vực nghiên cứu cho thấy thành phần sâu hại lá Muồng đen tương đối nhiều, gồm 12 loài của 7 họ thuộc 4 bộ: Bộ cánh vảy, bộ

cánh cứng, bộ cánh không đều, bộ cánh thẳng Riêng bộ cánh vảy có số họ và số

loài nhiều nhất: 4 họ gồm 7 loài, tất cả các loài này đều ăn lá Bộ cánh cứng 1 loài

là cầu cấu xanh ăn lá, thuộc họ vòi voi Bộ cánh không đều có 3 loài đều thuộc họ

Trang 30

Bọ xít mép là chích nhựa cả ở lá và ngọn non Bộ cánh thẳng 1 loài sát sành là

loài ăn lá

Trong các loài sâu ăn lá tại khu vực nghiên cứu khi điều tra, thì hiện tại có

2 loài sâu hại phổ biến và gây hại nhiều hơn cả cho tán lá cây Muồng đen ở rừng

trồng là: Loài Catopsilia pomona Fabricicus và loài Eurema hecabe Linnaeus, cả

2 loài này đều thuộc họ bướm phấn (Pieridae), bộ cánh vẩy (Lepidoptera), kiểu

biến thái hoàn toàn Để hoàn thành một vòng đời chúng phải trải qua bốn giai đoạn phát dục đó là: Trứng -> sâu non -> nhộng -> trưởng thành, đây cũng chính là kết quả xác định thành phần sâu hại chính của một số đợt điều tra trước

đó (Đặng Kim Tuyến, 2008) [22]

Qua điều tra sơ bộ cho thấy: Tỷ lệ cây bị nhiễm sâu ăn lá từ 58,18- 62% và sâu hại đã phân bố tương đối đều trên toàn khu vực (Phụ lục 02)

3.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA SÂU HẠI CHÍNH

ĂN LÁ MUỒNG ĐEN

3.2.1 Đặc điểm sinh học, sinh thái của loài sâu Eurema hecabe Linnaeus 3.2.1.1 Đặc điểm sinh vật học

a Đặc điểm hình thái

+ Trứng hình bầu dục hơi tròn, có đế bám, khi đẻ trứng được gắn chặt vào giá thể (lá cây), trứng mới đẻ có màu trắng đục dần dần chuyển xang màu hơi vàng

+ Sâu non có 4-5 tuổi Tuổi 1, tuổi 2 thân sâu có màu vàng, đầu nhỏ hơn

thân, hai bên thân có 2 vạch màu đen nhạt Từ tuổi 3 trở đi thân sâu chuyển dần sang màu vàng sẫm, đầu to bằng thân Hai bên thân xuất hiện nhiều chấm đen nổi

rõ xếp đều tạo thành một vạch màu đen to, đậm cùng với vạch màu trắng như đường chỉ chạy song song

+ Nhộng màng, màu vàng, lúc sắp vũ hoá có màu vàng xẫm hoặc vàng viền đen, nhộng được chằng bằng sợi tơ gắn vào gân mặt sau của lá hoặc cành cây

+ Trưởng thành là dạng bướm, con cái lưng có màu vàng hơi nâu, cánh viền đen hình quả núi to ở mép cánh, ở sát mép trên cánh trước mỗi cánh có 1 chấm đen to, tròn Con đực màu vàng có viền đen nhỏ hơn con cái ở mép cánh, râu đầu hình dùi đục

Kích thước các pha được ghi ở bảng 3.2

Trang 31

Hình 3.1 Vòng đời loài Eurema hecabe Linnaeus

1 Trứng trên lá Muồng, 2 Sâu non, 3 Nhộng 4 Trưởng thành

Bảng 3.2 Kích thước của loài Eurema hecabe Linnaeus

Trứng Chiều dài 1,23 ± 0,03

Chiều rộng 0,68 ± 0,04 Sâu non thành

thục

Dài thân 47,6 ± 1,09 Rộng đầu 4,10 ± 0,11

Nhộng

Chiều dài 26,98 ± 0,48 Chiều rộng 6,8 ± 0,08 Trọng lượng (gam) 0,36 ± 0,02

Trưởng thành

Dài thân 22,9 7± 1,25 Dài sải cánh 66,46 ± 2,19

Trang 32

b Tập tính sinh sống của loài Eurema hecabe Linnaeus

+ Trưởng thành thường vũ hoá vào ban đêm từ 1-5 giờ sáng, con đực vũ hoá trước con cái khoảng 1-2 ngày, hoạt động chủ yếu vào ban ngày, buổi sáng từ

8 - 10h, buổi chiều từ 4 - 5h Thời gian giao phối kéo dài từ 4 - 6 giờ, trưởng thành không có tính xu quang Nó đẻ trứng lẻ tẻ từ 1 - 3 trứng trên mỗi lá non hoặc lá bánh tẻ Chúng không đẻ trứng trên lá già và lá bị bệnh Mỗi con cái có thẻ đẻ từ 108 - 205 trứng, sau đẻ trứng 2- 3 ngày thì nó chết

+ Sâu non thường trải qua 3 - 4 lần lột xác vì thế sâu non có 4 - 5 tuổi

- Tuổi 1: Sau khi cắn vỏ trứng chui ra ngoài sâu non thường nằm ở giữa lá

mặt trên hoặc mặt dưới, sau khoảng 1- 2 giờ chúng bắt đầu ăn, chúng ăn lá non nhất hoặc các chồi non mới nhú, ăn lỗ chỗ Giai đoạn này mức độ hại không nhiều nhưng có thể làm cho lá non phát triển không bình thường hoặc làm ngọn non bị héo ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây

- Tuổi 2: Sâu non hại lá còn ít, chúng ăn chủ yếu là các lá non nhưng thường

ăn không ăn hết lá mà chỉ ăn một mảng nhỏ trên lá rồi chuyển sang lá khác

- Tuổi 3: Sâu non hoạt động mạnh hơn, chúng lớn rất nhanh và sức phá hoại

tăng mạnh

Chúng ăn đâu hết đấy chỉ bỏ lại gân chính của lá bánh tẻ

- Tuổi 4, tuổi 5: Đây là giai đoạn phá hoại mạnh nhất của sâu non Chúng ăn

cả ngày lẫn đêm và ăn hết cả lá chỉ để lại phần cuống

+ Nhộng: Trước khi vào nhộng sâu non trải qua giai đoạn tiền nhộng Thời gian tiền nhộng kéo dài từ 8-10 giờ đồng hồ Sâu non ngừng ăn và thải hết phân ra ngoài Sau đó chúng tìm nơi thích hợp để làm nhộng, sâu non nhả tơ cố định phần bụng rồi làm tiếp một đường tơ vòng qua lưng để chằng nhộng vào gân chính mặt sau lá hoặc cành non tạo thành một góc khoảng 25 - 300 so với giá thể rồi cong mình hoá nhộng

Trang 33

3.2.1.2 Đặc điểm sinh thái học của loài Eurema hecabe Linnaeus

a Ảnh hưởng của một số yếu tố khí hậu đến thời gian phát dục của SHC

Bảng 3.3 Ảnh hưởng của một số yếu tố khí hậu đến thời gian

Số ngày phát dục của loài

Eurema hecabe Linnaeus (Ngày) Trứng Sâu non Nhộng STT Tổng

Loài Eurema hecabe Linnaeus 1 năm có 7 vòng đời, vòng đời ngắn nhất là

32,2 ngày (vòng đời 5) ở nhiệt độ trung bình 31,80C; vòng đời dài nhất là 59,6 ngày (vòng đời 7) ở nhiệt độ trung bình 20,20C

+ Qua thời gian nghiên cứu chúng tôi tính được tổng tích ôn hữu hiệu cho cả

vòng đời loài Eurema hecabe L là: 516,7 (ngày x độ) (Phụ lục 06)

b Ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu đến một số hoạt động sống của SHC

Để xem xét ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu đến hoạt động sống của loài sâu ăn lá Muồng đen, căn cứ vào số liệu khí hậu của vùng, từ việc theo dõi mẫu sâu nuôi bán cố định tại rừng và trong phòng chúng tôi thu được kết quả sau:

Trang 34

Bảng 3.4: Ảnh hưởng của một số yếu tố khí hậu khí hậu đến sinh trưởng,

phát triển của loài sâu Eurema hecabe Linnaeus ăn lá Muồng Đen

Số ngày hoàn thành vòng đời

trứng TB/con cái

Chỉ số giới tính

ở pha nhộng

Trứ

ng

Sâu non

Nhộng Tỷ lệ

chết cả vòng đời

tỷ lệ chết của từng pha, tỷ lệ cái đực

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ chết, số trứng trung bình/cá thể cái và tỷ

lệ cái đực của loài Eurena hecabe L có sự biến đổi rõ nét Tỷ lệ chết có chiều hướng giảm dần từ vòng đời thứ nhất (43,34%) đến vòng đời thứ 4 (36,67%) và chết nhiều nhất ở vòng đời thứ 6, thứ 7 (73,33%; 76,66%) Số trứng trung bình/con cái tăng dần từ vòng đời 1 (144 quả) đến vòng đời 4 (205 quả) sau đó giảm dần từ vòng đời 5, 6 và vòng đời 7 chỉ còn 108 quả Tỷ lệ cái đực cũng có sự thay đổi, số con cái tăng dần từ vòng đời 1 (0,44) đến vòng đời 4 (0,59) sau đó giảm ở vòng đời 5; 6 và đến vòng đời 7 chỉ số này chỉ là 0,43

Trang 35

c Ảnh hưởng của yếu tố thức ăn

Qua thời gian nuôi sâu, chúng tôi thấy loài sâu Eurema hecabe L ăn lá

Muồng đen, chúng ăn từ lá non đến lá bánh tẻ tùy theo giai đoạn tuổi sâu, khi thiếu có thể ăn cả lá gần già, sâu non sinh trưởng tốt, chúng hoàn toàn không ăn lá

bị bệnh và lá úa vàng hoặc quá già

Bảng 3.5: Trọng lượng lá bình quân do 1 sâu non ăn theo tuổi

Tuổi Trọng lượng lá trung bình do 1 sâu non ăn (g)

Eurema hecabe Linnaeus

d Ảnh hưởng của yếu tố thiên địch: Qua điều tra thực tế cho thấy ở các khu vực

nghiên cứu thì SHC bộ cánh vảy ăn lá Muồng đen có tới 23 loài côn trùng thiên địch thuộc 10 họ, 4 bộ, trong đó chủ yếu là các loài Kiến và Bọ ngựa (phụ lục 03),

ngoài ra còn có một số thiên địch khác như chim sâu, nấm, vi khuẩn

e Ảnh hưởng của yếu tố địa hình: Nhân tố địa hình có tác động tương đối rõ nét

tới loài sâu Eurema hecabe L mật độ sâu và mức độ hại lá giảm dần theo độ cao

Sâu gây hại chủ yếu ở các lâm phần có độ cao dưới 200m và từ 200 - 400m so với mực nước biển

3.2.2 Đặc điểm sinh học, sinh thái của loài sâu Catopsilia pomona Fabricicus 3.2.2.1 Đặc điểm sinh vật học

a Đặc điểm hình thái

- Trứng hình bầu dục hơi dài có đế bám, khi đẻ trứng được gắn chặt vào giá thể (lá cây), trứng mới đẻ có màu trắng đục dần dần chuyển xang màu vàng nhạt

Trang 36

Hình 3.2 Vòng đời loài Catopsilia pomona Fabricicus

1 Trứng trên lá Muồng, 2 Sâu non, 3 Nhộng 4 Trưởng thành

Bảng 3.6 Kích thước của loài Catopsilia pomona Fabricicus

Giai đoạn (Pha) Chỉ tiêu Kích thước (mm)

Ngày đăng: 09/10/2017, 14:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Ngọc Anh (1967), Côn trùng lâm nghiệp, Đại học lâm nghiệp. Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côn trùng lâm nghiệp
Tác giả: Phạm Ngọc Anh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1967
2. Bộ NN &amp; PTNT (1999), Kết quả kiểm kê rừng toàn quốc, Báo cáo hội nghị toàn quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả kiểm kê rừng toàn quốc
Tác giả: Bộ NN &amp; PTNT
Năm: 1999
3. Bộ NN &amp; PTNT (2005), Kết quả kiểm kê rừng toàn quốc, Báo cáo hội nghị toàn quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả kiểm kê rừng toàn quốc
Tác giả: Bộ NN &amp; PTNT
Năm: 2005
5. Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên (2000), Giáo trình Thực vật rừng, Đại học Lâm nghiệp, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thực vật rừng
Tác giả: Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
10. Phạm Văn Lầm (1995), Biện pháp sinh học phòng chống dịch hại nông nghiệp, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp sinh học phòng chống dịch hại nông nghiệp
Tác giả: Phạm Văn Lầm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
12. Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão (2001), Điều tra dự tính dự báo sâu bệnh hại trong Lâm nghiệp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra dự tính dự báo sâu bệnh hại trong Lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
13. Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã (1997), Côn trùng rừng, Đại học Lâm nghiệp, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côn trùng rừng
Tác giả: Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
14. Trần Công Loanh (1989), Quản lý bảo vệ rừng - Tập 2, Đại học lâm nghiệp, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý bảo vệ rừng - Tập 2
Tác giả: Trần Công Loanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1989
15. Phòng Nông nghiệp - PTNT Huyện Chợ Mới - Bắc Kạn (2009). Báo cáo tình hình sản xuất và phát triển, huyện Chợ Mới 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình sản xuất và phát triển
Tác giả: Phòng Nông nghiệp - PTNT Huyện Chợ Mới - Bắc Kạn
Năm: 2009
16. Phạm Thị Thuỳ (1993), Tạp chí Nông nghiệp CNTP, (4), 137 - 139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CNTP
Tác giả: Phạm Thị Thuỳ
Năm: 1993
18. Trạm khí tượng thủy văn Huyện Chợ Mới - Bắc Kạn - 2009. Số liệu khí tượng thủy văn, huyện Chợ Mới 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu khí tượng thủy văn
19. Lê Sỹ Trung, Đặng Kim Tuyến (2003), Giáo trình Quản lý và phòng chống cháy rừng, Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội 20. Nguyễn Hải Tuất (2001), Thống kê toán học trong Lâm nghiệp, Nxb Nôngnghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và phòng chống cháy rừng", Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội 20. Nguyễn Hải Tuất (2001), "Thống kê toán học trong Lâm nghiệp
Tác giả: Lê Sỹ Trung, Đặng Kim Tuyến (2003), Giáo trình Quản lý và phòng chống cháy rừng, Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội 20. Nguyễn Hải Tuất
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
23. Đặng Kim Tuyến, Nguyễn Đức Thạnh, Đàm Văn Vinh (2008), Côn trùng lâm nghiệp, Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côn trùng lâm nghiệp
Tác giả: Đặng Kim Tuyến, Nguyễn Đức Thạnh, Đàm Văn Vinh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2008
24. Vụ khoa học Công nghệ bộ Lâm nghiệp (1992), Kỹ thuật phòng trừ một số loài sâu hại, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.II. TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật phòng trừ một số loài sâu hại
Tác giả: Vụ khoa học Công nghệ bộ Lâm nghiệp
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1992
25. F.J.Simmonds, J.M. Franz, R.I. Sailer (1976), Theory and practices of biological control. Acard.Press, New York, 17 - 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theory and practices of biological control
Tác giả: F.J.Simmonds, J.M. Franz, R.I. Sailer
Năm: 1976
26. H.C. Coppel, J.W. Mertins (1977), Biological Insect Pest Suppression New York, 428 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biological Insect Pest Suppression New York
Tác giả: H.C. Coppel, J.W. Mertins
Năm: 1977
27. J.Weiser (1966), Microbiologicheskie Methody borby Vredomymi nasecomymi Praha, 540 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Microbiologicheskie Methody borby Vredomymi nasecomymi Praha
Tác giả: J.Weiser
Năm: 1966
28. R.Doutt (1964), Biological control of Insect prests and weeds, new York Reinhold, 21 - 42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biological control of Insect prests and weeds, new York Reinhold
Tác giả: R.Doutt
Năm: 1964
4. Nguyễn Văn Cảm, Nguyễn Văn Hành và CTV (1976), Kết quả nghiên cứu khoa học Bảo vệ thực vật năm 1971 - 1976, Nxb Nông nghiệp Khác
6. Trương Thanh Giản và CTV (1994), Tạp chí Nông nghiệp Công nghệ thực phẩm (2), 55 - 58 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm