Trên thế giới, ở các nước phát triển, mặc dù có cách mạng nông nghiệp, với những công nghệ hiện đại làm tăng năng suất đáng kể nhưng khối ngành nông nghiệp vẫn ngày càng giảm tầm quan tr
Trang 1Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Nền kinh tế Việt Nam vẫn là một nền kinh tế nông nghiệp với đặc trưng là năng suất, chất lượng thấp Đời sống của đại bộ phận nhân dân vẫn còn nghèo Phát triển kinh tế nông thôn, xoá đói giảm nghèo, phát triển bền vững là nhiệm vụ trọng tâm của Việt Nam
Trên thế giới, ở các nước phát triển, mặc dù có cách mạng nông nghiệp, với những công nghệ hiện đại làm tăng năng suất đáng kể nhưng khối ngành nông nghiệp vẫn ngày càng giảm tầm quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, kể cả về phương diện đóng góp vào GDP lẫn thu hút lao động Tuy nhiên trong những năm gần đây, nhiều nước tiên tiến đã hướng tới gắn liền nông nghiệp với du lịch thành một mô hình kinh doanh mới gọi là du lịch nông nghiệp hay du lịch trang trại (Agritourism hay Farm tourism) Khi đó, giá trị nông nghiệp không còn chỉ là cung cấp lương thực thực phẩm, mà được nâng lên thành văn hóa, dịch vụ, cảnh quan du lịch Những giá trị gia tăng này có thể gấp nhiều lần giá trị gốc của nông nghiệp
Tuy nhiên, không phải bất kỳ một vùng sản xuất nông nghiệp nào cũng có thể trở thành khu du lịch nông nghiệp Muốn phát triển du lịch nông nghiệp thì cần phải có đầy đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất là phải có một sản phẩm nông nghiệp đặc sắc làm trọng tâm, Sản
phẩm này phải có đủ số lượng để phục vụ nhu cầu ngày càng tăng khi có du lịch, đảm bảo an toàn thực phẩm và có chất lượng nổi trội
Thứ hai là sản phẩm đó phải có bản sắc Bản sắc của một sản phẩm nông
nghiệp có thể do địa bàn sinh trưởng hạn hẹp, hoặc gắn liền với văn hoá, lịch sử, văn hóa ẩm thực đặc trưng của vùng đó khiến cho sản phẩm này nếu được canh tác
ở vùng khác cũng bị giảm giá trị nhiều
Thứ ba là cảnh quan đặc trưng của thể loại canh tác nông nghiệp tạo ra sản
phẩm nói trên cũng phải có hiệu quả thẩm mỹ cao Cảnh quan canh tác này lại cần
Trang 2được gắn liền với một môi trường cảnh quan thơ mộng xung quanh thì mới thu hút được du khách
Khi đã có đầy đủ các yếu tố trên, người ta phát triển các dịch vụ du lịch đi kèm nhằm khai thác tổng hợp tất cả các tiềm năng của sản xuất nông nghiệp đặc trưng của vùng
Việt Nam chúng ta có rất nhiều sản phẩm nông nghiệp, nhưng những loại đạt chất lượng và số lượng để trở nên có tầm cỡ thì không nhiều Một trong những sản phẩm nông nghiệp có thể coi là đặc là đặc sắc là những loại hoa quả nổi tiếng của một số vùng, ví dụ như Thanh Long (Bình Thuận), Xoài Cát (Bình Định), Cam Canh, Bưởi Diễn (Hà Nội), Bưởi Đoan Hùng (Phú Thọ)… Trong những năm vừa qua diện tích gây trồng những hoa quả đặc sản này đã phát triển đáng kể, chất lượng sản phẩm ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu nội địa và bắt đầu hướng đến xuất khẩu
ra các nước trong khu vực và trên thế giới Thông thường thì những vùng canh tác cây đặc sản này cũng có một số nét về lịch sử, văn hoá đặc sắc, gắn liền với sản phẩm đó Nếu biết khai thác, những tiềm năng này có thể hấp dẫn du khách trong và ngoài nước
Giống bưởi Đoan Hùng – Phú Thọ được biết đến như một đặc sản của vùng đất Tổ Năm 2003, tỉnh Phú Thọ bắt đầu tiến hành phục tráng và bảo tồn, quy hoạch phát triển sản xuất giống bưởi đặc biệt quý hiếm này Cũng trong năm đó, thương hiệu bưởi Đoan Hùng cũng được đăng ký Năm 2010, tỉnh Phú Thọ dự kiến phát triển vùng bưởi đặc sản có diện tích khoảng 1300 ha Đoan Hùng có vị trí chiến lược của khu vực trung du miền núi phía Bắc, có một nền văn hoá lâu đời, có cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, với các di tích lịch sử cách mạng đặc biệt Với tiềm năng tổng hợp đó, đặc sản bưởi Đoan Hùng có thể trở thành hạt nhân của một chiến lược phát triển du lịch nông nghiệp hiện đại và hiệu quả
Để xây dựng mô hình phát triển du lịch nông nghiệp cho Đoan Hùng chúng
ta cần xây dựng một phương án quy hoạch với những chiến lược về sử dụng đất, lao động, công nghệ, dịch vụ, cảnh quan…Từ yêu cầu thực tiễn của Đoan Hùng và ý nghĩa ứng dụng của chiến lược này cho các vùng cây đặc sản khác, tôi đề xuất đề tài
Trang 3nghiên cứu: “Quy hoạch du lịch nông nghiệp v ng b i c s n oan ng tại
h m – huyện oan ng – t nh Phú Thọ”
Phương pháp tiếp cận của đề tài là xây dựng quy hoạch cho vùng bưởi đặc sản xã Chí Đám dựa trên sự phân tích hệ thống các điều kiện hiện có của khu vực, làm cơ sở cho việc xây dựng quy hoạch phát triển du lịch vùng bưởi đặc sản cho toàn huyện Đoan Hùng
Trang 4Chương 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Trên thế giới
Du lịch nông nghiệp được đề cập đến từ cuối những năm của thập k 80 của thế k XX Những nhà nghiên cứu tiên phong và điển hình về lĩnh vực này là Honadle, Beth 1990 [33]; Shaw, Gareth và Allan Williams [40], Frederick [30], Hilchey, Duncan 2000 [31]… cùng hàng loạt các nghiên cứu lý luận và thực tiễn về
du lịch nông nghiệp của các nhà khoa học quan tâm đến lĩnh vực này như: Hilchey, Duncan (Đại học Cornell – New York) [31]; Holland, Rob, Kent Wolfe (Đại học Tenesse) [32]; Jolly, Desmond, Denise Skidmore (Đại học Califorina) [34]; [148]; Linberg & Hawkins [25]…
Hiện tại, du lịch nông nghiệp đang trở thành đề tài được đề cập đến như một hướng đi cho du lịch và nông nghiệp của thế giới Có thể coi như một trào lưu mới giống như trào lưu phát triển du lịch sinh thái cách đây 30 năm
Theo định nghĩa của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ thì du lịch nông nghiệp được coi là “Du lịch nông nghiệp là một lĩnh vực đang phát triển một cách phổ biến như một cách để các nhà sản xuất đa dạng hóa sản phẩm và tăng cường lợi nhuận Bằng cách kết hợp giữa nông nghiệp và du lịch, du lịch nông nghiệp tạo ra được những nguồn lợi nhuận mới” theo Hilchey, Duncan, 2000 [31]
Hoặc theo Frederick, M 1995 [30], có thể được hiểu như sau: “Nói một cách đơn giản thì du lịch nông nghiệp được coi như là điểm kết nối giữa du lịch và nông nghiệp Nếu xét trên quan điểm kỹ thuật thì du lịch nông nghiệp được coi như một kiểu thương mại kết nối giữa sản xuất nông nghiệp hoặc quá trình sản xuất với du lịch để thu hút khách du lịch đến các trang trại, các nông hộ, để giải trí hoặc học tập
và mang lại những lợi nhuận cho những trang trại và những người tổ chức du lịch”
Theo Adams, Katherine 2001 [27] thì du lịch nông nghiệp còn là hình thức phát triển mối giao hòa về mặt văn hóa, con người giữa các vùng thông qua việc đến ở hoặc tham quan có mục đích nhằm hưởng thụ các sản vật địa phương
Trang 5Các nghiên cứu này đã cho thấy du lịch nông nghiệp không bắt đầu từ các nước công nghiệp mà lại lại có khởi nguồn từ các nước vùng Trung Đông, từ những năm 20 của thế k XX người ta đã bắt đầu biết kết hợp du lịch và nông nghiệp để tạo ra những cảm giác mới cho khách du lịch [37] Nhưng sau xu hướng này được các nước công nghiệp khác ở Châu Âu và Châu Mỹ có nền nông nghiệp phát triển ứng dụng để khắc phục các khó khăn và những vấn đề về nông thôn khi quá trình công nghiệp hóa nông thôn làm cho nông nghiệp bị lãng quên [36]
Trên thế giới, tại các nước phát triển cách đây 30 - 40 năm cũng đã diễn ra hiện tượng dân cư nông thôn bỏ nghề nông để chuyển sang các ngành nghề khác do thu nhập quá thấp hoặc sản xuất nông nghiệp thua lỗ Ví dụ: ở Italia từ những năm
1970 tới những năm 1980, tình trạng bỏ nghề nông tăng mạnh với xu hướng ào ạt ra thành phố kiếm việc Trong 10 năm của thập k 1980, có khoảng 400.000 hộ nông dân chuyển sang nghề khác Chính phủ Italia đã phải đối mặt với những cuộc khủng hoảng trầm trọng Tình trạng như vậy cũng diễn ra ở Nhật Bản, Pháp, Mỹ [39]
Một nguy cơ nữa là sự mất đất nông nghiệp một cách dễ dàng vào tay các ông chủ lớn các tập đoàn, công ty, người nông dân dễ dàng bị mất đất vì không được xem là ông chủ số tài sản đất mà nhiều đời cha ông của họ đã canh tác trên đó
Để giải quyết vấn đề trên, chính phủ các nước đã triển khai rất nhiều biện pháp để ngăn chặn, trong đó có một hướng đã được triển khai rất hiệu quả và đã chứng minh được qua vài chục năm hoạt động là có tác dụng rất tốt với thu nhập của dân cư nông nghiệp, thay đổi nhanh bộ mặt nông thôn Đó là việc chính phủ đã hướng sự quan tâm của cộng đồng toàn xã hội và việc phát triển du lịch nông nghiệp
Đây là một hình thức xuất khẩu hàng hóa nông nghiệp tại chỗ rất hiệu quả và tiếp thị gốc về hồ sơ xuất xứ sản phẩm nhất là khi nhu cầu về tự bảo vệ sức khỏe trước các thức ăn và môi trường ô nhiễm của cộng đồng xã hội tại các thành phố lớn ngày càng tăng
Ở Italia hình thức du lịch nông nghiệp này đã đưa ra những kết quả về kinh tế rất đáng khích lệ, trong 5 năm từ 1985 đến 1990 doanh thu từ hoạt động kinh doanh
Trang 6này tăng gấp hai lần Trong 10 năm từ 1990 đến 2000 đã tăng lên 50% Doanh số năm 2004 là 880 triệu euro, trong đó khách trong nước là ¼ còn lại là đến từ các quốc gia châu Âu khác Các gia đình thành phố đi du lịch nông thôn hầu hết thường
ở từ 3 – 6 ngày, mục đích số một là nghỉ ngơi, thứ hai là tham gia các sự kiện lễ hội
và tham quan những di sản văn hóa, thứ ba mới là ăn uống [30] Được coi là các cơ hội để biết và hiểu về nông thôn Italia và có thể nhận được sự hiếu khách truyền thống của người dân nông thôn Từ năm 2004, ước tính có khoảng 8000 chi nhánh
du lịch nông nghiệp và riêng ở Tuscany có khoảng 2000 chi nhánh Chỉ cần khoảng
ba tháng du khách có thể đi du lịch được hàng trăm nơi của hàng chục vùng khác nhau của Italia
Rất nhiều chi nhánh du lịch của ở Italia có mặt tại các trang trại sản xuất bơ, nho, và các trang trại khác Nhiều nơi, du khách có thể được dùng các thiết bị hiện đại và xa xỉ như hồ bơi, điều hòa nhiệt độ, và các tiện nghi đắt tiền khác như trong một khách sạn 5 sao nếu du khách có yêu cầu
Du lịch nông nghiệp ở Italia thường được biết đến như một hình thức thăm quan trang trại hay là các khu đât nông nghiệp được mở ra kinh doanh để phục vụ nhu cầu của du khách Các trang trại đó có thể cung cấp mọi thứ, từ xem, quan sát đến sản xuất và các mặt hàng cho du khách Có những trang trại mở cửa 365 ngày một năm, nhưng cũng có những trang trại thường mở vào các ngày cuối tuần Nếm rượu vang, thăm quan trang trại, ngủ đêm và các bữa sáng, các cảnh quan cánh đồng ngô, là những sản phẩm mà du khách có thể được thưởng thức
Sự đa dạng hóa các sản phẩm giúp kéo du khách đến với nông nghiệp, có thể giúp du khách có những trải nghiệm quý giá, tạo ra những sản phẩm nông nghiệp đặc sắc, những công việc mà du khách có thể tham gia, và là cơ hội giáo dục với giá
rẻ nhất cho những người trẻ tuổi
Tại Mỹ, mệt mỏi vì sự xô bồ của phố xá, người dân Mỹ ngày càng ưa chuộng những chuyến du lịch đồng quê, có nhiều trang trại có doanh thu lên đến 1 triệu USD Thế là nhiều nông dân đã biến trang trại và nhà cửa của mình thành nơi vui chơi giải trí hấp dẫn (Southern Illinois University 2000) [35, 41]
Trang 7Năm 2001 đã có khoảng 62 triệu lượt người đi nghỉ tại các trang trại Và doanh thu hàng năm do du lịch đồng quê mang lại dao động từ 20 triệu USD ở Vermont đến 200 triệu USD ở New York Ở Hawaii, lợi nhuận từ du lịch đồng quê
đã tăng 30% trong khoảng thời gian 2000-2003, lên tới 34 triệu USD [35,36]
Trang trại bò sữa Jersey Dairy của gia đình Young ở Yellow Springs, Ohio thu hút hơn 1,4 triệu khách một năm Nơi đây có cả nhà đánh bóng chày, sân golf mini và kem sản xuất tại nhà Còn trang trại Coutry Farm & Stores của gia đình Eckert gần St Louis, Missouri mang lại lợi nhuận 10 triệu USD một năm, trong đó 80% là từ kinh doanh nhà hàng, lò bánh mì và các cửa hàng lưu niệm
Tại bang Califfornia (Mỹ), mỗi năm du lịch nông nghiệp đã thu được lợi nhuận khoảng 3,2 t USD và tạo ra khoảng 650.000 việc làm
Để giúp những người nông dân muốn chuyển sang kinh doanh du lịch đồng quê, một số bang của Mỹ đã thành lập các văn phòng du lịch đồng quê Năm 2007, bang Pennsylania đã thiết lập quỹ tín dụng trị giá 150 triệu USD để trợ cấp và cho vay ưu đãi đối với những nông dân mong muốn chuyển sang kinh doanh loại hình
du lịch giải trí mới này [35]
Theo thống kê của trường Đại học Exter (1991), tại Anh có 19,7 % số trang trại của Anh tham gia vào kinh doanh du lịch nông nghiệp, mỗi năm có thêm 2,5 %
số trang trại tăng thêm Cũng theo thống kê, tại Anh có tới 19 % số 185,1 triệu lượt
du khách lựa chọn du lịch nông nghiệp, trong khi đó tại các nước phương Tây khác,
tỉ lệ này là 22%
Thực tiễn chứng minh rằng ngày càng có nhiều sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế, chuyển từ các ngành kinh tế công nghiệp sang các ngành kinh tế thân thiện hơn với môi trường Và từ các loại hình du lịch thì du lịch nông nghiệp đang nổi lên như một giải pháp cho ngành nông nghiệp đang bị quá trình đô thị hóa xâm lấn, đồng thời cũng làm phong phú thêm các hình thức du lịch và không gây nhàm chán cho du khách
Khi nghiên cứu về du lịch nông nghiệp người ta cho rằng du lịch nông nghiệp cũng là một phần của du lịch sinh thái, chứa đựng các tiêu chuẩn và nguyên
Trang 8tắc của du lịch sinh thái nhưng du lịch nông nghiệp cũng có những đặc thù riêng [40,41] Du lịch sinh thái thường khai thác các yếu tố tự nhiên, các khu bảo tồn, các vườn quốc gia và các thắng cảnh thiên nhiên để thu hút khách du lịch Nhưng du lịch nông nghiệp hướng đến việc khai thác các cảnh quan nông nghiệp, sự đa dạng của các hoạt động sản xuất và văn hóa địa phương, các hệ sinh thái bán nhân tạo và các sản phẩm nông nghiệp, những theo hướng bảo vệ và thân thiện với môi trường Nông nghiệp hóa chất hoàn toàn bị cấm, không một hành động nào phá hủy môi trường được cho phép Nông nghiệp hữu cơ và sự phát triển theo hướng này sẽ là một động lực to lớn cho du lịch nông nghiệp, du khách ngày nay muốn được thưởng thức các sản phẩm sạch, tự nhiên hơn là các sản phẩm nông nghiệp nhưng sản xuất theo hướng công nghiệp đại trà [31,32,33]
2.2 Ở Việt Nam
Tại Việt Nam, du lịch nông nghiệp hầu như chưa được nghiên cứu, đề cập trong các tài liệu chuyên ngành nào kể cả trong văn bản pháp qui của nhà nước về phát triển và quản lý du lịch Có thể nói rằng, khái niệm du lịch nông nghiệp là hoàn toàn xa lạ với Việt Nam Có một hình thức du lịch gần với du lịch nông nghiệp là
du lịch sinh thái được quan tâm phát triển và thực sự bùng nổ vào những năm 90 của thế k XX thế biết đến và cũng có rất nhiều các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này
Có thể đề cập đến các công trình nổi bật như: ề tài tổ chức l nh thổ du lịch Việt Nam [3]; Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân vùng du lịch Việt Nam [4]; Quy
hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 1995 – 2000 [5]; Những nội dung chính của quy hoạch phát triển du lịch [5], Tổ chức lãnh thổ du lịch [7] và nhiều công trình khác, tập trung nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn, với quy mô
và lãnh thổ phạm vi khác nhau
Du lịch sinh thái Việt Nam bắt đầu nổi lên từ khoảng giữa thập k 90 của thế
k XX song đã được các nhà nghiên cứu về du lịch, kinh tế, hoạch định chính sách quan tâm Trong hội nghị Quốc tế về du lịch bền vững ở Việt Nam do Tổng cục Du lịch Việt Nam kết hợp với Quỹ Hanns Sneidel (CHLB Đức) tổ chức tại Huế tháng
Trang 95/1997, nhiều vấn đề về du lịch và du lịch sinh thái được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm thảo luận (Gray, L, C [7]; Phạm Trọng Lương [10]),
Đề tài “ ơ s khoa học của ph t triển du lịch sinh th i Việt Nam” của Viện
Nghiên cứu du lịch Việt Nam với Hội thảo về du lịch sinh thái với du lịch sinh thái bền vững ở Việt Nam (tại Hà Nội, tháng 4/1998) đã tập hợp nhiều đóng góp tham luận của các tác giả (Nguyễn Thượng Hùng [8]; Đặng Võ Trí Chung [6]…) Các báo cáo tham luận chủ yếu tổng quan một số khía cạnh lý luận về du lịch sinh thái ở Việt Nam (Phạm Trung Lương, Nguyễn Quang Mỹ & nnk, Kocman…)
Ngoài ra nhiều chương trình nghiên cứu, luận án tiến sỹ, thạc sỹ cũng đã tiếp cận các vấn đề du lịch liên quan nhiều đến tự nhiên và sinh thái môi trường (Đặng Huy Lợi [9]; Phạm Quang Anh [1]
Vào 9/1999, đã diễn ra hội thảo “Xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển
du lịch sinh thái,ở Việt Nam” được tổ chức với sự phối hợp của Tổng cục Du lịch Việt Nam IUCN, ESCAP và được tài trợ bởi Tổ chức SIDA, Rất nhiều tham luận đã đóng góp những kinh nghiệm và thực tiễn phát triển du lịch sinh thái ở nhiều nơi, Các kết quả hội thảo đạt được là những cơ sở bổ ích cho việc xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam [8]
Phát triển du lịch sinh thái là hướng đi đúng đắn của Việt Nam Với cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, giàu bản sắc văn hóa, sự đa dạng về các loài động thực vật, các sản vật địa phương và những phong tục văn hóa địa phương là những yếu tố thu hút khách du lịch, đặc biệt là khách quốc tế Nhưng cũng nhận thấy rằng, chúng
ra chỉ đang tập trung vào phát triển du lịch sinh thái dựa trên các thắng cảnh, các Vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên Du lịch nông nghiệp đang bị bỏ ngỏ cả
về lí luận và thực tiễn, thiếu hụt về cơ sở lí luận và các kinh nghiệm thực tiễn, chưa
có các công trình nghiên cứu về quy hoạch và phát triển du lịch nông nghiệp Xu thế của thế giới hiện nay là chuyển từ sản xuất nông nghiệp đơn thuần sang kinh doanh kết hợp du lịch và sản xuất để giải quyết các vấn đề nông nghiệp và nông thôn Thực tiễn tại các nước đã chứng minh rằng, du lịch nông nghiệp đã thu được các kết quả khả quan và còn nhiều tiềm năng để phát triển
Trang 10Việt Nam là một nước nông nghiệp lâu đời, hiện nay có tới 70% dân số tương đương 62 triệu người làm việc trong lĩnh vực này Ngành nông nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và chiếm một t lệ khoảng 20% giá trị xuất khẩu Tuy nhiên hiện nay ngành nông nghiệp cũng đang đứng trước các một thách thức Đó là vấn đề đô thị hóa, chuyển đổi mục đích sử dụng đất phục vụ đô thị hóa và các khu công nghiệp, sự chuyển dịch lao động, di cư vào thành thị, bỏ hoang ruộng đất, ô nhiễm môi trường, mâu thuẫn giữa cư dân nông thôn và các khu công nghiệp Trong cuộc hội thảo về vấn đề nông nghiệp và nông thôn diễn ra đầu năm 2008 tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có
ý kiến: “Nếu mức sống đô thị và nông thôn quá xa, quá khác thì nước ta còn chứng kiến những cuộc di dân to lớn hơn nữa hướng ra thành phố Điều này sẽ phá nát đô
thị và cũng xô đổ văn hóa nông thôn” (Nguồn: Bộ Nông nghiệp & Ph t triển nông thôn, 2008)
Các khu công nghiệp hiện tại đang là giải pháp để phát triển kinh tế và mang lại lợi nhuận trước mắt, nhưng xét trong tiêu dài hạn, không thể để quá trình công
nghiệp hóa lấn át hoàn toàn nông nghiệp Bên cạnh phát triển công nghiệp cũng cần
phải phát triển hài hòa giữa công nghiệp và nông nghiệp
Trong năm 2007 và những tháng đầu năm 2008, cuộc khủng hoảng lương thực trầm trọng trên thế giới chứng minh vai trò của nông nghiệp trong đời sống
kinh tế quốc tế Thêm vào đó, sự suy thoái kinh tế trên thế giới tại thời điểm này đã
nêu bật được vị trí quan trọng của những quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên
to lớn về lương thực, nguồn nước sạch và năng lượng
Mặt khác các vấn đề về môi trường và xã hội của nông thôn nếu không được giải quyết thấu đáo sẽ để lại những hậu quả lâu dài Đó là vấn đề an ninh lương thực, mai một văn hóa và bản sắc địa phương, phá vỡ các cấu trúc cộng đồng truyền thống…Theo quan điểm phát triển bền vững thì phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường và giải quyết các vấn đề xã hội Việc bảo vệ nền nông nghiệp và phát triển nông thôn đang là yêu cầu cấp thiết Chỉ khi đó mới có thể ngăn chặn được quá trình ly nông và ly hương và bần cùng hóa tại nông thôn đang có chiều
Trang 11hướng gia tăng khi tiến hành đô thị và công nghiệp hóa mà chưa gắn kết hài hòa với lợi ích của đại đa số dân cư nông nghiệp như ngày nay
Trong các giải pháp đó, phát triển du lịch nông nghiệp tại nông thôn là một hướng đi mới cho nông thôn Việt Nam, đồng thời nó cũng phù hợp với xu thế phát triển của thế giới Trong chiến lược phát triển du lịch nông nghiệp, nên hướng vào khai thác các sản phẩm nông nghiệp đặc sắc, các yếu tố văn hóa cộng đồng địa phương
Các sản vật nông nghiệp mang đậm sắc thái tự nhiên của mọi miền đất nếu được hỗ trợ bằng các chính sách đúng đắn, có luật bảo hộ và được úng dụng khoa học công nghệ phù hợp sẽ tạo ra được các sản phẩm hàng hóa lớn thương hiệu Việt cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước, đó cũng chính là lợi thế cạnh tranh sắc bén cho nước ta trong quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu và cũng là nguồn cung cấp cho du khách tại chỗ
Điều đó đã được thể hiện bằng các sản phẩm độc đáo như cà phê, chè, hạt tiêu, nước mắm Phú Quốc, tôm, cá tra, lúa gạo, hoa quả đặc sản đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long đã khẳng định đặc thù về vị thế địa lý nông nghiệp Việt Nam
Phát triển du lịch sinh thái và du lịch nông nghiệp sẽ tạo ra sự đa dạng trong kinh doanh du lịch của Việt Nam nay, làm giảm áp lực lên các hệ sinh thái tự nhiên đang bị khai thác cạn kiệt
Hiện nay ở Việt Nam đang manh nha những hoạt động của du lịch nông nghiệp và du lịch trang trại, đặc biệt tại đồng bằng sông Cửu Long với nhưng tour
du lịch miệt vườn, thăm cảnh quan sông nước và văn hóa địa phương Nhưng chủ yếu là tự phát, do các công ty lữ hành tự tổ chức, như công ty Du lịch lữ hành Sài Gòn – Saigontourist [5] Hiện tại Việt Nam chưa có bất cứ một văn bản pháp quy nào đề cập đến phát triển du lịch nông nghiệp
Vì những phân tích trên, chúng ta thấy rằng, sớm hay muộn thì du lịch nông nghiệp cũng sẽ phát triển mạnh tại Việt Nam Do đó, công tác nghiên cứu và quy hoạch du lịch nông nghiệp là một việc làm cần thiết và cấp bách hiện nay để có thể
Trang 12định hướng phát triển và khai thác tối đa tiềm năng của loại hình du lịch này, góp phần thúc đẩy ngành du lịch phát triển
2.3 Cây bưởi (Citrus grandis (L.) Osbeck)
Cây bưởi có tên khoa học là Citrus grandis (L.) Osbeck thuộc họ phụ
Aurantibidae, họ Cam quýt Rutaceae, nằm trong bộ cam quýt Họ phụ này có tới
250 loài chia ra làm nhiều chi và chi phụ, trong đó có ba chi được trồng từ lâu đời
để lấy quả Đó là chi Cam quýt (Citrus), Chi Cam ba lá (Poncirus) và chi Quất (Fortunella còn gọi là Tắc).[2]
Bưởi là giống cây có múi chịu được nóng ẩm, trồng nhiều ở nhiệt đới và cận nhiệt đới Cây cao to, lá có cánh rộng, hoa to, thơm Quả to nhỏ túy theo giống
Về mặt sinh thái học, bưởi có thể trồng được ở nhiệt độ từ 12 – 390
C, trong
đó nhiệt độ thích hợp là từ 23 – 290C Nhiệt độ thấp hơn 120C và cao hơn 400C cây rụng lá và ngừng sinh trưởng Nhiệt độ không khí cao ảnh hưởng đến nhiệt độ mặt đất và ảnh hưởng đến sự hoạt động của bộ rễ Ngoài ra, chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm lớn, cây phát triển mạnh và làm cho khả năng tích lũy, vận chuyển đường bột trong quả tăng Kích thích sự hình thành các sắc tố trên quả, làm quả đẹp, có màu sắc đúng với màu sắc của từng giống Nhìn chung ở vùng có nhiệt độ bình quân năm trên 200C và tổng tích nhiệt hữu hiệu từ 2000 – 35000C đều có thể trồng được bưởi
Bưởi là loại cây ưa ẩm nhưng không chịu được úng thường xuyên vì rễ cây bưởi thuộc loại rễ nấm (hút chất dinh dưỡng qua hệ nấm cộng sinh), do đó ngập nước làm cho rễ thiếu oxy, hoạt động kém, nếu ngập lâu sẽ bị thối chết làm rụng lá, quả non Vì vậy trồng bưới nên trồng trên đất hơi dốc thì cây thường có tuổi thọ cao hơn Các thời kỳ cần tưới nước: Bật mầm, phân hóa mầm hoa, ra hoa, phát triển quả Nhìn chung lượng mưa từ 1400 – 2500 mm là đủ nhu cầu nước cho bưởi
Yêu cầu về ất ai
Bưởi có thể trồng nhiều trên các loại đất khác nhau Tuy nhiên trồng trên đất xấu thì đầu từ cao hơn mà hiệu quả lại thấp hơn Đất thích hợp trồng bưới nhất là đất phải có tầng dày từ 1m trở lên, hàm lượng các chất dinh dưỡng N,P,K, Ca,
Trang 13Mg…đạt từ trung bình khá trở lên ( N: 0,1 – 0,15%; P2O5: 5 – 8mg/100g đất; K2O:
1 – 10mg/100 g đất) Độ chua pHKCl = 5,5 – 6,5 Đặc biệt là phải thoát nước tốt Thành phần cơ giới từ, cát pha thịt nhẹ (cát thô đến thịt nhẹ chiếm đến 65 – 75%) Địa hình dốc từ 3 – 40 [11]
Trên thực tế các vùng trồng bưởi có tiếng đều là những vùng nằm ven sông suối, trên các loại đất phù sa cổ, phù sa được bồi và không được bồi hàng năm, đất
sa thạch cuội kết, có thành phần cơ giới nhẹ, xốp, thoát nước tốt và giàu dinh dưỡng Vì thế lựa chọn loại đất và thành phần cơ giới để trồng bưởi là rất quan trọng
Giá trị của cây bưởi:
Bưởi vốn là trái cây rất giàu dinh dưỡng có giá trị dinh dưỡng cao và có tác dụng tốt với sức khỏe con người, trong 100g phần ăn được có: 89 g nước, 0,5 g Protein, chất béo 0,4 g, 9,3 g tinh bột, 4,4 g Vitamin C, ngoài ra trong các hợp chất glucosid Bưởi không chỉ dễ ăn vị ngọt mát mà còn chứa rất ít calo Cứ 1/2 trái bưởi thì cung cấp đến 78% nhu cầu vitamin C hàng ngày cho cơ thể Theo Đông y, bưởi là loại trái cây được xem là có tác dụng thông khí, tiêu đờm Nước ép từ bưởi
có tác dụng hỗ trợ điều trị tim mạch, viêm nhiễm đường hô hấp, giảm cân Vỏ bưởi dùng làm thuốc dân gian, chữa tiêu chảy, nôn mửa Lá bưởi có nhiều tinh dầu
có thể dùng làm thuốc chữa bệnh, thuốc xông giải cảm, hạ nhiệt và giải độc Hoa bưởi có hương thơm quyến rũ, nhiều nơi dùng để ướp trà, có thể chiết suất làm nước hoa Rễ bưởi có vị mát, được dùng nhiều trong các vị thuốc chữa bệnh gan, thận Hạt bưởi chứa nhiều tinh dầu, là một vị thuốc quan trọng [11] Hiện nay, chúng ta trồng bưởi để lấy quả là chủ yếu mà chưa khai thác các bộ phận có giá trị khác của cây bưởi
Trên thế giới, nhiều loại cây có múi có thể được dùng làm nguyên liệu để sản xuất nước giải khát như nước ép cam, quýt Hiện nay, sản lượng bưởi chưa nhiều, giá thành lại cao nên chưa sản xuất được sản phẩm này Nhưng khi xây dựng được vùng trồng bưởi tập trung, đủ nguyên liệu thì sản xuất các loại sản phẩm nước uống dinh dưỡng có giá trị cao Bên cạnh đó có thể sản xuất các mặt hàng có giá trị cao
Trang 14như nước hoa từ hoa bưởi, tinh dầu bưởi, các loại thuốc đông y để đa dạng hóa mặt hàng và nâng cao giá trị từ cây bưởi
Hiện nay ở nước ta có các giống bưởi sau:
B i Phúc Trạch: Có nguồn gốc ở xã Hương Khê, Hà Tĩnh Loại bưởi này
ăn rất ngon Quả hình cầu, hơi dẹt, vỏ quả màu vàng xanh, trọng lượng trung bình
từ 1 – 1,2 kg Màu sắc thịt quả và tép múi hơi hồng, vách múi dòn, dễ tách rời, thịt quả mịn, đồng nhất, vị ngọt hơi chua, độ Brix từ 12 – 14 Thời gian thu hoạch vào tháng 9
B i Diễn: Trồng nhiều ở xã Phú Diễn, Phú Minh, Từ Liêm, Hà Nội Bười
Diễn có thể là một biến dị của bưởi Đoan Hùng Quả tròn, vỏ nhẵn, khi chín màu vàng cam, trọng lương trung bình từ 0,8 – 1,0 kg, t lệ phần ăn được là 60 – 65% Múi và vách múi dễ tách rời nhau Thịt quả màu vàng xanh, ăn dòn, ngọt, độ Brix từ
12 – 14 Thời gian thu hoạch muộn hơn Bưởi Đoan Hùng Thường trước tết nguyên Đán khoảng 12 – 13 ngày
B i ỏ Mê Linh: Giống bưởi này được trồng nhiều ở xã Văn Quán, Mê
Linh Hiện nay được trồng phổ biến tại nhiều địa phương như Hàm Yên – Tuyên Quang, Yên Bình – Yên Bái Hoài Đức – Hà Tây (cũ) và các huyện ngoại thành Hà Nội Quả có hình cầu dẹt và thuôn dài, trọng lượng trung bình từ 1 – 1,2 kg, khi chín cả vỏ quả, cùi, thịt quả có màu đỏ gấc, vỏ quả nhẵn, có nhiều tinh dầu múi thơm Bưởi đỏ thường được thu hoạch tháng 12 âm lịch để bày Tết Vị ngọt hơi chua, hơi khô
B i Thanh Trà: Trồng nhiều ở huyện Thanh Trà, Thừa Thiên Huế Ven bờ
sông Hương Đây cũng là giống bưởi ngon có tiếng Quả nhỏ, hình quả lê, trọng lượng quả từ 0,6 – 0,8 kg, vỏ mỏng, dễ bóc, khi chín màu vàng, tép nhỏ, mọng nước nhưng ăn dòn, ngọt Thịt quả mịn, đồng nhất, màu vàng xanh T lệ phần ăn được
từ 62 – 65 %, độ Brix từ 10 – 12 Thu hoạch vào tháng 9 dương lịch
B i Năm roi: Trồng nhiều ở vùng Đồng Bằng sông Cửu Long Quả hình
quả lê, vỏ dày, cúi xốp trắng, thịt quả màu xanh vàng, mịn, đồng nhất Múi và vách
Trang 15múi rất dễ tách, ăn dòn, ngọt, hơi dôn dốt chua, đặc biệt không có hạt mẩy, chỉ có hạt nhỏ li ti T lệ ăn được trên 55%, độ Brix từ 9 – 12 %
B i Biên òa: Vùng nổi tiếng là ở cù lao phố và cù lao Tân Triều trên sông
Đồng Nai Quả to, hình quả lê, vỏ dày, cùi xốp trắng, múi dễ tách, ăn dòn, ngọt, dôn dốt chua Trọng lượng quả trung bình từ 1,2 – 1,5 kg T lệ phần ăn được là 60% Thường thu hoạch vào tháng 9 dương lịch
B i oan ng: Đây chính là hai giống bưởi đặc sản của Đoan Hùng
Được trồng trên đất phù sa ven sông Chảy và sông Lô Được xem là ngon nhất là hai giống bưởi Tộc Sửu và Bằng Luân Trong đó, bưởi Bằng Luân quả hình tròn, hơi dẹt, trọng lượng trung bình từ 0, 7 – 0,8 Kg Vỏ quả màu vàng hơi xám nâu, tép múi màu trắng xanh, mọng nước, thịt quả hơi nhão, vị ngọt nhạt, độ brix từ 9 – 11,
t lệ phần ăn được từ 60 – 65% Quả thu hoạch vào tháng 10 – 11 Có thể để được lâu sau khi thu hái
Bưởi Tộc Sửu quả to hơn, trọng lượng trung bình từ 1 – 1,2 kg Thịt quả ít nhão hơn bưởi Bằng Luân, vị ngọt mát, có màu trắng xanh Thời gian thu hoạch sớm hơn từ 15 – 20 ngày Đây là giống bưởi ngon nhất hiện nay Năm 2003, tại cuộc thi các giống bưởi quốc gia thì bưởi Đoan Hùng đã được chấm giải nhất Năm
2006, thương hiệu bưởi Đoan Hùng đã được công nhận và bảo hộ trên phạm vi toàn quốc
Việt Nam chúng ta có rất nhiều giống bưởi quý, có chất lượng và giá trị cao Nhưng chủ yếu các giống bưởi được phân bố theo vùng Mỗi vùng có điều kiện lập địa khác nhau đã tạo ra những giống có những đặc điểm sai khác nhau nhưng lại tạo
ra nhiều giống bưởi có tính chất khác nhau Các giống bưởi thường có những vùng sinh trưởng tối ưu, khi di thực sang vùng khác có thể vẫn sinh trưởng tốt nhưng ít quả hoặc có quả nhưng chất lượng không cao Vì thế, giống bưởi và vùng sinh trưởng là hoàn toàn có mối quan hệ chặt chẽ Chính yếu tố này là tạo ra những vùng bưởi khác nhau
Bưởi Đoan Hùng không phải là một giống cụ thể mà là tên gọi chung cho các loại giống bưởi Đoan Hùng, trong đó hai giống bưởi Bằng Luân và bưởi Tộc Sửu là
Trang 16hai giống ngon nhất Tuy nhiên cũng có nhiều giống bưởi khác cũng sinh trưởng và phát triển tốt trên vùng đất Có thể vùng này có những điều kiện lập địa thuận lợi cho sự phát triển của cây bưởi Trải qua nhiều năm đã hình thành nên những giống bưởi có chất lượng cao
Vì thế, khi nghiên cứu về bưởi Đoan Hùng là nghiên cứu vùng chứ không phải nghiên cứu về giống nào nhất định Thương hiệu bưởi Đoan Hùng mang tính chất vùng nhiều hơn là mang tính chất giống
Do đó, trong luận văn này, tôi đề cập đến quy hoạch vùng bưởi đặc sản Đoan Hùng hơn là cho các giống cụ thể Khu vực nghiên cứu được chọn là xã Chí Đám bởi vì đây chính là vùng trọng điểm của dự án phát triển vùng bưởi, là vùng nguyên sản của giống bưởi Tộc Sửu và là vùng có điều kiện giao thông thuận lợi và
có cảnh quan thiên nhiên rất đẹp và hài hòa
Trang 17Chương 3 MỤC TIÊU – ĐỒI TƯỢNG NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu lý thuyết: Nghiên cứu cơ sở định hướng quy hoạch phát triển du
lịch nông nghiệp ở Việt Nam nói chung và chiến lược phát triển những vùng trồng cây có múi đặc sản nói riêng
- Mục tiêu thực tế: Đề xuất phương án quy hoạch phát triển du lịch vùng
bưởi đặc sản tại xã Chí Đám – Đoan Hùng - Phú Thọ, nhằm phát huy tổng thể các giá trị du lịch sinh thái, cảnh quan và kinh tế của khu vực này
3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Thời gian thực hiện từ tháng 08 năm 2007 đến tháng 07 năm 2008
3.3 Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, tôi đã triển khai các nội dung nghiên cứu chính như sau:
+ Điều tra phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
+ Điều tra, phân tích hiện trạng sử dụng đất, tiềm năng đất đai
+ Phân tích đánh giá hệ thống giao thông và mối liên hệ vùng lãnh thổ
+ Phân tích đánh giá hiện trạng trồng và kinh doanh bưởi Đoan Hùng:
- Phân tích lịch sử phát triển cây bưởi đặc sản Đoan Hùng
- Đánh giá hiện trạng và tiềm năng phát triển
Trang 18+ Phân tích tiềm năng du lịch:
- Tiềm năng cảnh quan, môi trường
- Tiềm năng tài nguyên nhân văn + Nghiên cứu các giải pháp quy hoạch du lịch bưởi đặc sản Đoan Hùng
- Các giải pháp pháp phát triển vùng bưởi
- Các giải pháp về phát triển du lịch
- Đề xuất lộ trình thực hiện quy hoạch
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các nội dung nghiên cứu trên, tôi đã triển khai các phương pháp nghiên cứu sau:
3.4.1 Nghiên cứu ngoại nghiệp
3.4.1.1 Phương pháp thu thập số liệu
Đề tài đã sử dụng phương pháp kế thừa có chọn lọc các nguồn tài liệu thứ cấp của địa phương và các ban ngành hữu quan, bao gồm:
- Lịch sử phát triển vùng bưởi khu vực
- Dự án quy hoạch phục tráng vùng bưởi đặc sản Đoan Hùng – Phú Thọ
- Các bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ phân bố sử dụng đất, bản đồ giao
đất của xã t lệ 1: 5.000
- Các số liệu thống kê về đất đai, cơ sở hạ tầng, kết quả sản xuất nông nghiệp,
du lịch, văn hoá…được thu thập tại phòng Thống kê và phòng văn hoá, phòng Kinh tế huyện Đoan Hùng và UBND xã Chí Đám
- Các loại tài liệu khác như: Quy hoạch phát triển vùng bưởi, quy hoạch sử
dụng đất, quy hoạch phát triển du lịch, quy hoạch tổng thể của tỉnh, rà soát
bổ sung quy hoạch nông nghiệp nông thôn của tỉnh Phú Thọ đến năm 2020; các loại bản đồ sử dụng đất, giao đất, các phương án sử dụng đất đã và đang
áp dụng tại tỉnh
- Phương hướng đường lối chính sách, chủ trương của tỉnh đối với hoạt động
phát triển kinh tế xã hội huyện Đoan Hùng, vùng bưởi đặc sản, định hướng phát triển du lịch của vùng
Trang 19- Các số liệu về thời tiết, khí hậu thu thập tại trạm khí tượng của tỉnh Phú Thọ
Ngoài nguồn tài liệu trên, đề tài còn tiến hành thu thập một số quy trình quy phạm ngành, các hướng dẫn kỹ thuật liên quan tới công tác quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp, quy hoạch phát triển du lịch sinh thái do các chương trình và dự
Tiến hành điều tra, phóng vấn các hộ dân trồng bưởi tại 5 thôn trồng bười nhiều của xã Chí Đám là thôn Chí 1, Thôn Đám, Thôn Phượng Hùng 2, thôn Lã Hoàng 1, Thôn Lã Hoàng 2
- Sử dụng các công cụ phân tích lịch mùa vụ cho các cây trồng hàng năm, sử dụng lao động ở phạm vi xã, thẩm định cho các thôn
- Sử dụng công cụ đắp sa bàn, đi lát cắt để đánh giá hiện trạng sử dụng đất, phân tích hệ thống canh tác, hiện trạng sản xuất các loại cây trồng
3.4.1.3 Phương pháp điều tra chuyên đề
- Phương pháp này thực hiện nhằm điều tra chi tiết các nội dung cần quan
tâm cụ thể như sau:
- Lĩnh vực trồng và kinh doanh cây bưởi: Tình hình phát triển, quy mô diện tích trồng, thông tin chung về cây trồng, năng suất, đầu tư, thâm canh, quản lý sâu bệnh hại, tổn thất cây trồng, giá cả, thông tin khuyến nông, khuyến lâm, kiến thức bản địa trong gây trồng, chăm sóc cây bưởi…
- Lĩnh vực du lịch: Điều tra các dịch vụ du lịch, mạng lưới các điểm khai thác du lịch trong huyện, tỉnh và các tỉnh lân cận, các lễ hội văn hoá, tín ngưỡng trong vùng Các sự tích, lễ hội, văn hóa tâm linh
Trang 203.4.2 Phương pháp nội nghiệp
3.4.2.1 Tổng hợp và phân tích các thông tin cơ bản về điều kiện tự nhiên - kinh
tế xã hội
- Các thông tin liên quan đến điều kiện tự nhiên như: Vị trí địa lý, địa hình địa vật, khí hậu thu văn, thổ nhưỡng, thực vật tự nhiên được thu thập chắt lọc từ tài liệu của gốc của xã, huyện, tỉnh
- Các thông tin về điều kiện xã hội như: Dân cư ( Dân số, thành phần dân tộc); Cơ cấu xã hội ( xã, thôn, nhóm hộ, hộ gia đình): Nghề nghiệp, việc làm, các dịch vụ xã hội và cơ sở hạ tầng (y tế, giáo dục, giao thông, thông tin liên lạc, thị trường giá cả…) được tổng hợp theo mục đích của đề tài
3.4.2.2 Tổng hợp và phân tích thông tin điều tra chuyên đề
- Thông tin được tổng hợp cho phân tích các hệ thống canh tác theo hệ thống bảng, bản đồ quy hoạch phát triển vùng bưởi, xây dựng bản đồ quy hoạch 1: 5000 được kết hợp giữa khảo sát hiện trường và tính toán nội nghiệp sau đó được chuyển hoá lên bản đồ tại hiện trường, xây dựng bản đồ công năng cho khu vực dự tính quy hoạch
- Trong quá trình xử lý tài liệu, tiến hành chỉnh lý và sắp xếp các thông tin theo thứ tự ưu tiên, mức độ quan trọng của vấn đề, phân tích các ý kiến, quan điểm
để lựa chọn tìm ra giải pháp
- Tiềm năng du lịch và tình hình khai thác du lịch của vùng, được tổng hợp
từ các tài liệu, báo cáo của các ban ngành liên quan Phân tích xu thế phát triển dựa trên xu thế phát triển du lịch nông nghiệp của thế giới và Việt Nam
3.4.2.3 Phương pháp xây dựng bản đồ chuyên đề
Dựa trên sự phân tích hiện trạng sử dụng đất, phương án quy hoạch sử dụng đất cho xã đến năm 2010 và kết quả phân tích các số liệu thu thập được Tiến hành phân tích và đánh giá bản đồ hiện trạng bằng cách tách các lớp (layer) dữ liệu và số hóa bản đồ trên phần mềm Mapinfor, AutoCad và Photoshop Tất cả các ý tưởng và phương án quy hoạch đều được thể hiện trên bản đồ quy hoạch Các bản đồ được xây dựng riêng biệt và tiến hành chồng xếp các dữ liệu lên bản đồ quy hoạch tổng thể
Trang 213.4.2.4 Phân tích hiện trạng
Dựa trên bản đồ quy hoạch sử dụng đất hiện trạng năm 2005 của Trung tâm kỹ thuật và môi trường Phụ Thọ, ảnh vệ tinh chụp lấy từ trang Web
http/www.googleearth.com, tiến hành điều tra bổ sung và hiệu chỉnh một số các
điều kiện hiện trạng hiện tại cho phù hợp với thực tế địa phương
- Tiến hành phân loại hiện trạng địa hình, hiện trạng sử dụng đất, phân loại đất
đai theo bản đồ số hóa, theo phương pháp tách các lớp dữ liệu riêng biệt
- Phân tích hiện trạng cảnh quan đặc trưng, các dải đất xanh, diện tích mặt
nước và đất thổ cư, đất trồng cây ăn quả, đường giao thông và các công trình công cộng, văn hóa, tôn giáo tại khu vực nghiên cứu Thể hiện bằng các màu khác nhau theo các lớp dữ liệu khác nhau
- Phân tích lịch sử, hiện trạng, quy hoạch trồng và phát triển cây bưởi đặc sản
từ những năm trước năm 1971, sau năm 1971 và sau năm 2001 đến nay để thấy được sự phát triển của cây bưởi đặc sản tại vùng
- Tiến hành chồng xếp các lớp dữ liệu về đất đai và dựa trên sự phân tích hiện
trạng để đưa ra các phương án quy hoạch sử dụng đất hợp lý nhất
3.4.3 Các quan điểm khi thực hiện quy hoạch cho khu vực
1 - Phát triển khu du lịch nông nghiệp Chí Đám phù hợp với quan điểm xây dựng chung phát triển kinh tế của huyện Đoan Hùng Gắn kết sự phát triển vùng
đô thị có mật độ cao là thị trấn Đoan Hùng với giữ gìn các vùng sinh thái tự nhiên, thúc đẩy sản xuất bưởi đặc sản hàng hóa và khai thác du lịch
2 - Khai thác và phát huy triệt để các nét cảnh quan tự nhiên sẵn có, bằng cách làm rõ hơn các yếu tố cảnh quan chính: Sông, núi, vùng ngập trũng, vườn cây ăn quả, cấu trúc thôn xóm
3 - Hạn chế đến mức thấp nhất xây dựng các công trình tập trung, tránh các hoạt động tác động mạnh vào cảnh quan và làm cho phá vỡ các hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên
4 - Phát huy các cơ sở hạ tầng, văn hóa xã hội vốn có để xây dựng các khu du lịch mang tính cộng đồng, có bản sắc cao và đem lại công ăn việc làm cho người
Trang 22dân Hạn chế tối đa việc giải tỏa, cưỡng chế và di dân Thực hiện theo phương châm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ sản xuất nông lâm nghiệp sang phục vụ du lịch nông nghiệp
5 – Quy hoạch là quy hoạch mở, không cứng nhắc, đảm bảo sự phát triển có định hướng nhưng có thể thay đổi một số phương án quy hoạch Đảm bảo sự tham gia và lợi ích của các thành phần kinh tế
Trang 23Chương 4 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU
4.1 Điều kiện tự nhiên
Ranh giới hành chính của xã Chí Đám
- Phía Bắc giáp tỉnh Tuyên Quang
- Phía Đông giáp Tỉnh Tuyên Quang
- Phía Nam giáp xã Hữu Đô
- Phía Tây giáp xã Vân Du và Thị trấn Đoan Hùng
Phân t ch vị tr ịa lý
Điều quan trọng nhất về vị trí địa lý của Đoan Hùng là nằm trong một vị trí trọng yếu trong khu vực trung du và miền núi phía Bắc Đây là điểm kết nối của cả đường giao thông đường bộ và đường thủy, có vị trí chiến lược không chỉ về kinh tế
và còn cả về chính trị, quân sự Đoan Hùng nằm án ngữ ở trục giao thông trung tâm nối liền cả khu vực Đông Bắc và Tây Bắc, các tỉnh biên giới phía Bắc và các tỉnh thành vùng đồng bằng sông Hồng Về đường bộ, nơi đây là điểm giao cắt của quốc
lộ 2 (Hà Nội – Vĩnh Yên – Phú Thọ - Tuyên Quang – Hà Giang), quốc lộ 70 ( Đoan Hùng – Yên Bái – Phú Thọ), các đường liên tỉnh nối Đoan Hùng với các tỉnh thành xung quanh, Trong tương lai gần, đường xuyên Á và đường Hồ Chí Minh sẽ đi qua trục giao thông này
Về đường thủy, đây là nơi hợp lưu của 2 con sông Lô và sông Chảy, vì thế giao thông thủy cũng có tầm quan trọng đặc biệt
Trang 24Nhìn vào tổng thể tỉnh Phú Thọ, Đoan Hùng sẽ cùng với các điểm du lịch, văn hóa, lịch sử của tỉnh Phú Thọ như khu di tích lịch sử Đền Hùng, Ao Châu, Ao Giời – Suối Tiên, Vườn Quốc gia Xuân Sơn, sẽ tạo ra một mạng lưới địa chỉ du lịch hấp dẫn, đa dạng, có bản sắc văn hóa và cảnh quan đặc trưng cho khu vực trung du miền núi phía Bắc
Hình 4.1: Sơ đồ mối liên hệ vùng
Hơn nữa, nhìn trên tầm vĩ mô, đây còn là điểm kết nối trung gian với Trung Quốc qua các cửa khẩu biên giới Hà Khẩu (Lào Cai) và Thanh Thủy (Hà Giang), du khách quốc tế có thể thực hiện các chuyến du lịch xuyên quốc gia từ Trung Quốc qua Việt Nam, theo đường Quốc lộ 2 và đường Xuyên Á qua Đoan Hùng về Hà Nội
Trong những năm tới nếu phát triển đúng mức, Đoan Hùng sẽ là một trung tâm giao lưu kinh tế, trao đổi hàng hóa, là động lực phát triển cho cả một vùng rộng lớn, là điểm dừng chân của du khách trước khi tiếp tục hành trình đến các khu vực lân cận
Trang 25Từ các mối liên hệ vùng, liên quốc gia như trên, Đoan Hùng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển thành một điểm du lịch hấp dẫn, không chỉ có tầm ảnh hưởng cho tỉnh Phú Thọ mà còn cho cả khu vực rộng lớn của miền Bắc Việt Nam
Xã Chí Đám nằm ngay sát thị trấn Đoan Hùng, vì thế các lợi thế về vị trí địa lý của Đoan Hùng cũng chính là lợi thế của Chí Đám
4.1.2 Địa hình, địa mạo của khu vực
Hình 4.2: Địa hình khu vực nhìn từ vệ tinh
Chí Đám là xã miền núi có địa hình tương đối phức tạp, thấp dần từ Bắc xuống Nam, địa hình có những đặc trưng cơ bản: Xen giữa đồi núi là những cánh đồng nhỏ hẹp Khu vực nghiên cứu nằm ở vùng núi thấp chuyển tiếp giữa vùng núi
cao và đồng bằng Bắc Bộ, có các kiểu địa hình chính như sau:
- Khu vực ất ồi núi
Có độ cao từ 30 đến 70 m, cá biệt có khu vực núi Đám có độ cao 175m so với mực nước biển Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá Gnai xen Pecmatit Thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt trung bình Thích hợp cho trồng các loại cây lâm nghiệp và cây chè, cây ăn quả khác như nhãn, vải, na, xoài nhưng không thích hợp cho trồng bưởi Nên trong quy hoạch, diện tích này không quy hoạch để trồng bưởi
Trang 26Hình 4.3 - 4.4: Sơ đồ địa hình và hiện trạng đồi núi
- Khu vực ất cao trung bình:
Đây là các vùng đất cao có cao trình từ 10 – 30 m so với mực nước biển, các vùng đất không bị ngập, độ cao thích hợp cho xây dựng, có nền địa chất ổn định Đất có độ phì tương đối khá, rất thích hợp với trồng cây ăn quả như cây bưởi, cây xoài và một số loại cây trồng khác như chè, cây hoa màu Đa phần diện tích đất đai này là khu vực dân cư xen với các vườn cây ăn quả
Hình 4.5 - 4.6: Sơ đồ phân bố và hiện trạng đất cao trung bình
Trang 27- Khu vực ất ruộng trũng:
Hình 4.7: Sơ đồ địa hình ruộng trũng Hình 4.8: Hiện trạng ruộng trũng
Địa hình của khu vực này có cao trình thấp, thường xuyên ngập nước cục bộ trong mùa mưa Độ cao so với mặt nước biển khoảng 18 – 20 m và có độ chênh cao với mặt nước sông là 0,5 – 1,0 m Chủ yếu địa hình này nằm giữa các đồi bát úp Đất có màu xám đen, xám xanh, thành phần cơ giới nặng, ngập nước quanh năm nên quá trình glây xảy ra mạnh, ít chua và chua, đạm, kali tổng số và lân dễ tiêu nghèo, để trồng hai vụ lúa Cần có quy hoạch để bảo vệ dạng cảnh quan này, vẫn giữ nguyên diện tích này để trồng lúa, nếu san lấp có thể gây ra hiện tượng úng ngập hoặc biến đổi cảnh quan tự nhiên
ất ph a ngoài ê sông Lô
Khu vực này có độ cao không lớn, chỉ cao hơn nền ruộng trũng từ 0,2 – 1,0 m Sản phẩm phù sa ngoài đê hàng năm được bồi đắp bởi hai con sông Chảy và Sông
Lô, có thành phần cơ giới nhẹ, từ thịt nhẹ đến thịt trung bình, thịt pha cát nên rất thích hợp cho việc trồng cây ăn quả như cây bưởi Tuy nhiên, do nằm ngoài đê nên hàng năm vào mùa lũ thường bị ngập một thời gian ngắn theo các đợt lũ trên sông Lô và sông Chảy Đây là loại đất thích hợp với cây bưởi đặc sản Trong những năm tới tiếp tục chuyển đổi mục đích sử dụng từ trồng hoa màu sang trồng bưởi đặc sản
Trang 28nh 4.9 - 4.10:
Hình 4.11: Kết quả phân tích địa hình
Trang 29Với điều kiện đặc điểm địa hình đa dạng đã tạo ra các tính đa dạng về cảnh quan Các cảnh quan này đẹp và có nhiều đặc điểm Trong quá trình quy hoạch cần chú ý tiết kiệm diện tích đất đai, bảo vệ các cảnh quan địa phương, tôn trọng điều kiện địa hình khu vực Trong đó, chú trọng các kiểu địa hình, loại đất đai phù hợp với trồng bưởi
4.1.3 Đặc điểm khí hậu
Chí Đám mang khí hậu đặc trưng của khí hậu nhiệt đới nóng ẩm Hàng năm chia thành 02 mùa rõ rệt Mùa hè trùng với gió mùa Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 10 Mùa đông trùng với gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
0 50 100
Hình 4.12: - Walter
Nhiệt ộ: Nhiệt độ không khí trung bình năm là 23,20C Tháng lạnh nhất tập trung vào các tháng 12, tháng 1, tháng 2 Các tháng lạnh nhất lại là vào thời điểm thu hoạch bưởi, đó sẽ là một khó khăn khi khai thác du lịch
ộ ẩm: ẩm độ không khí trung bình trên năm khá cao ( từ 84 – 86 %) chênh
lệch giữa các tháng không lớn (4 – 7%)
L ợng m a: Chí Đám có tổng lượng mưa trung bình năm là 1641 mm Do
ảnh hưởng của địa hình và gần các trung tâm mưa lớn như Tuyên Quang, Yên Bái
Trang 30nên Chí Đám có lượng mưa khá cao so với lượng mưa trung bình toàn tỉnh Phú Thọ
Nhận ét: Những kết quả phân tích điều kiện khí hậu có những điều kiện thích
hợp cho sự phát triển của cây bưởi Tuy nhiên, do ảnh hưởng của mùa đông lạnh, ảnh hưởng đến các hoạt động tổ chức du lịch Thêm nữa, do tính chất mùa vụ của cây bưởi
sẽ ảnh hưởng đến mùa vụ khai thác du lịch Muốn khai thác kéo dài mùa vụ du lịch cần
đa dạng hóa các loại cây trồng, các giống bưởi và cây có múi nói chung và mở rộng nhiều loại hình du lịch Khách du lịch có thể đến đây vào nhiều thời điểm khác nhau, tránh tập trung quá đông khách du lịch trong một thời gian ngắn
4.1.4 Đặc điểm thủy văn
Chế độ thủy văn của xã Chí Đám chịu ảnh hưởng lớn của hai con sông trên địa bàn xã, đó là sông Chảy và sông Lô chảy qua địa bàn xã có chiều dài khoảng 10 km
và hợp lưu tại đền Mom (Ngọc Trúc – Chí Đám) và một số hồ, đập nhỏ Mùa lũ bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 9 dương lịch, các tháng có lưu lượng nhỏ nhất là từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Hiện nay, chính quyền địa phương xây dựng các đê phòng chống lũ, cao trình của mặt đê đều cao hơn so với mặt nước đỉnh lũ lịch sử năm 1971
từ 0,3 – 0,5 m Hiện nay phía thượng nguồn của hai con sông này đều có các hồ thủy điện, nhờ khả năng điều tiết của hai hồ thủy điện Thác Bà và thủy điện Tuyên Quang nên tình hình lũ lụt cũng được kiểm soát
Chế độ thủy văn nói chung tương đối ổn định, không có các đột biến trong vòng những năm vừa qua, tình hình sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân không chịu ảnh hưởng nhiều của lũ lụt như các vùng ven sông khác
4.2 Thực trạng phát triển kinh tế – xã hội
4.2.1 Kinh tế
Nhìn chung, ngành nông lâm nghiệp chiếm t trọng lớn trong cơ cấu kinh tế Mặc dù cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng giảm dần t trọng ngành nông lâm nghiệp, tăng t trọng các ngành tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại Cụ thể: Nông Lâm nghiệp: 59,84%, tiểu thủ công nghiệp: 27,05%, dịch vụ: 12,80% Sản
Trang 31lượng lương thực quy thóc đạt 2,407 tấn, bình quân 341 kg/người/năm Tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm từ 9 -10%, giá trị tổng thu nhập đạt khoảng 33,4 t VNĐ
Thực trạng ph t triển c c ngành kinh tế
+ Ngành trồng trọt:
- Diện tích lúa cả năm được giữ ổn định ở mức từ 300 – 400 ha, năng suất lúa tăng từ 47 tạ/ha lên 49 ha năm 2007 Năng suất lúa chưa phải là cao, nhưng phần diện tích này chỉ thích hợp với lúa nước và để đảm bảo an ninh lương thực và cảnh quan nên tiếp tục trồng lúa nhưng theo mô hình kinh doanh các loại lúa chất lượng và năng suất cao
- Diện tích cây trồng lâu năm: Đất vườn trong các hộ gia đình được cải tạo để trồng cây ăn quả và các loại cây có giá trị kinh tế cao Đặc biệt là cây bưởi đặc sản, từ giai đoạn 2001 – 2007 trồng được khoảng 20 ha, ngoài ra còn có các loại cây ăn quả khác như xoài, vải, hồng Các loại hoa quả này sẽ là sản phẩm nông nghiệp quan trọng phục vụ cho du lịch Diện tích các loại cây này nên giữ khoảng 30 % diện tích còn lại là trồng bưởi
- Diện tích đất lâm nghiệp: Diện tích rừng trồng là 188,32 ha, được giao cho các hộ gia đình, cây trồng chủ yếu là cây nguyên liệu giấy (bạch đàn, keo), với năng suất thấp Vì thế nên ưu tiên cải tạo lại diện tích rừng này, có thể trồng các loại cây cải tạo đất và sau đó trồng các cây bản địa để tôn tạo cảnh quan và cải tạo đất và điều hòa khí hậu
+ Ngành chăn nuôi:
Các hộ gia đình mạnh dạn đầu tư các con giống mới như gà vịt siêu trứng, lợn siêu nạc, bò lai sind Nhiều gia đình đã phát triển đàn gia cầm theo mô hình VAC, chăn thả nuôi nhốt đạt hiệu quả cao Diện tích mặt nước hiện có, người dân đã biết tận dụng để thả cá, năng suất khoảng 25 – 30 tấn/ha Những mô hình có thể kết hợp phục vụ cho công tác du lịch Đây là nguồn thực phẩm có thể cung cấp cho khách du lịch trong những năm tới khi khu du lịch đi vào hoạt động
+ Các ngành tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
Trang 32Trong những năm qua ngành tiểu thủ công nghiệp đang phát triển mạnh, đa dạng, đặc biệt cải tạo sản xuất vật liệu xây dựng, xay sát và chế biến nông sản, khai thác cát sỏi, cơ khí đã giải quyết được hơn 500 lao động tại chỗ, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao đời sống thu nhập cho nhân dân Tuy nhiên, các ngành còn mang nặng tính thủ công, năng suất chưa cao, chủ yếu là các ngành cần nhiều lao động, không có tính bản sắc Vì vậy phát triển các tiểu thủ công nghiệp có bản sắc và hướng đến phục vụ khách nên được ưu tiên phát triển Riêng đối với khai thác cát sỏi cần chú ý vì có thể làm ảnh hưởng đến dòng chảy và cảnh quan ven sông Tuy nhiên khai thác ở cường độ thấp vẫn có thể cho phép để đáp ứng nhu cầu xây dựng của địa phương
Ngành dịch vụ chủ yếu tập trung ở trung tâm xã dọc Quốc lộ 2 như dịch vụ
ăn uống, hàng tiêu dùng, dịch vụ vật tư nông nghiệp, phân bón, dịch vụ thú y, vận chuyển hàng hóa, thức ăn gia súc, gia cầm đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân trong xã
4.2.2 Dân số, lao động, việc làm
Theo số liệu thống kê đến cuối năm 2007 dân số toàn xã là 7015 người và
1595 hộ Số lao động khoảng 3500, chiếm khoảng 50% dân số và chủ yếu là lao động nông nghiệp 2800, chiếm khoảng 80%, còn lại là số lao động phi nông nghiệp Hoạt động sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún, năng suất lao động thấp, nên giá trị thu nhập không cao.Thu nhập bình quân đầu người mới đạt khoảng 7 triệu đồng/người/năm năm 2007 tương đương 450 USD Hiện tại, có sự chuyển dịch lao động về các thành thị, trong tương lai gần sẽ dẫn tới mất cân bằng về lao động T
lệ tăng dân số tự nhiên giảm từ 1,42% năm 2001 xuống 1,0% năm 2005, t lệ tăng dân số cơ học từ 1,07% năm 2001 xuống 0,72% năm 2005
Nếu không có các chiến lược đột phá để phát triển kinh tế thì trong những năm tới không thể nâng cao thu nhập của người dân Phát triển du lịch, nâng câo t trọng của các ngành phi nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa,
áp dụng các tiến bộ khoa học, để thay đổi cơ cấu kinh tế của vùng là một giải pháp hợp lý trong giai đoạn hiện nay
Trang 334.2.3 Thực trạng phát triển các khu dân cƣ nông thôn
Toàn xã có 17 khu hành chính phân bố dân cư và đất ở của các khu dân cư không đồng đều Khu có dân cư đông nhất là khu 16 với 662 khẩu, 166 hộ Khu có dân cư thấp nhất là khu 8 với số dân cư là 246 khẩu và 53 hộ Các khu này nằm tách biệt và có các đặc điểm khác nhau, Trong quá trình quy hoạch chi tiết, nên biến khu hành chính này thành các cụm dân cư và các điểm du lịch làng quê hấp dẫn
+ Thủy lợi
Hệ thống kênh mương thủy lợi của xã có một số hồ đập lớn nhỏ cùng hệ thống các tuyến kênh mương nội đồng đã được bê tông hóa, đáp ứng một phần yêu cầu tưới tiêu Các hồ đập chủ yếu có nguồn gốc tự nhiên, chưa được đầu tư, xây dựng với mục đích sử dụng lâu dài Nhưng nhờ vậy nên vẫn giữ được những nét tự nhiên rất đẹp Vì thế có thể đa dạng hóa mục đích sử dụng các hồ, đập này vào các mục đích phục vụ
du lịch, như câu cá, bơi thuyền, nuôi trồng thủy sản
+ Giáo dục, đào tạo
Xã có 4 trường học (01 trường cấp 2, 2 trường cấp 1 trường mầm non) với số học sinh hàng năm là 1900 em Đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở năm 2000 Mặt bằng dân trí nói chung còn thấp, lao động qua đào tạo chủ yếu đi làm ở các địa phương khác Trình độ dân trí là tiềm năng quan trọng trong phát triển du lịch sinh, nhất là trong công việc hướng dẫn và tổ chức du lịch Cần có chiến lược đào tạo hợp
lý nguồn lao động để phục vụ du lịch, ưu tiên đào tạo con em địa phương
+ Y tế
Trạm y tế của xã được xây dựng trên diện tích 2200 m2
gồm có một dãy nhà cấp 4 mới xây dựng, giường bệnh, cán bộ y tế các trang thiết bị được trang bị đầy đủ Nhưng trong tương lai khu du lịch được thành lập thì nhu cầu về y tế sẽ tăng cao, cần phải xây dựng và trang bị các thiết bị hiện đại để đáp ứng nhu cầu du khách
+ Hệ thống điện, thông tin liên lạc
ệ thống iện: Xã chỉ có ba trạm biến áp 180KVA nên lượng điện chưa đáp
ứng đủ nhu cầu sử dụng của người dân Một số khu vực hành chính xa trung tâm, điện áp thường xuyên bị sụt vào giờ cao điểm ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất
Trang 34ệ thống liên lạc: Hiện có một bưu điện văn hóa xã, công tác thông tin tuyền
truyền được thông qua hệ thống phát thanh xã đến các khu hành chính và qua các phương tiện thông tin đại chúng Mạng lưới điện thoại cố định đã phát triển khắp xã với t lệ 15 máy/100 dân.Trong khu vực có 2 trạm phát sóng (BTS) của Viettel và Vinaphone.Vì vậy, mạng di động đã phủ sóng khắp xã
Mạng Internet: Mạng internet trong khu vực có mật độ thuê bao thấp, chủ
yếu các thuê bao là của các hộ gia đình khá giả, các cơ quan trên địa bàn, các cửa hàng kinh doanh internet công cộng Trong khu vực lắp đặt mạng ADSL, với tốc độ đường truyền trung bình Hiện nay đáp ứng được nhu cầu của một bộ phận người dân, nhưng trong thời gian tới khi quy hoạch khu du lịch sinh thái, thì nên xây dựng thêm các đường truyền Internet tốc độ cao, đến các khu dân cư để cho du khách có thể truy cập Internet ngay tại các hộ gia đình
+ Bưu chính:
- Tuy nhiên, cả xã mới có một điểm bưu điện văn hóa là thấp Điểm bưu điện văn hóa xã đã cung cấp các dịch vụ công cộng, sách, mạng internet, báo chí cho người dân Tuy nhiên chủ yếu là các dịch vụ cơ bản, cần nâng cao chất lượng phục
vụ, mở rộng các dịch vụ có chất lượng cao phục vụ cho du khách
4.2.4 Hiện trạng tài nguyên môi trường
4.2.4.1 Môi trường nước
Nước mặt: Diện tích nước mặt là 143,91 ha bao gồm diện tích sông suối, kênh mương và mặt nước chuyên dùng, kể cả sông Chảy và sông Lô Mùa mưa, nước sông cao hơn mặt ruộng từ 4 – 5m, lưu lượng bình quân lên đến, 5730 m3/s (có năm lên tới
8780 m3/s), hàm lượng phù sa là 1,29g/l Vào mùa cạn, nước sông rất trong, hầu như không có phù sa
Nước ngầm: Tại khu vực, nguồn nước ngầm khá phong phú, nước có chất lượng tốt nằm ở độ sâu từ 6 – 8m Lỗ khoan có lưu lượng lớn nhất: Q = 17,14l lít/s Nguồn nước ngầm của xã được khai thác chủ yếu từ hệ thống các giếng đào, đây là nguồn cung cấp nước chính cho nhân dân trong xã
Trang 35Hình 4.13 - 4.14 Sơ đồ phân bố và hiện trạng nước mặt
4.2.4.2 Môi trường không khí
Môi trường không khí của khu vực nghiên cứu không bị ô nhiễm do nằm cách xa các khu đô thị và trong khu vực không có các công trình công nghiệp gây ô nhiễm Đây là một tiềm năng có giá trị, cần được bảo vệ nguyên vẹn, nên không cho xây dựng các công trình công nghiệp có thể gây ô nhiểm trên khu vực Mật độ giao thông ở khu vực chưa phải là cao, các phương tiện tiêu dùng nhiều nhiên liệu như ô
tô, xe tải nên ô nhiễm do các phương tiện giao thông vận tải rất ít
Trang 36Hình 4.15: Hiện trạng sử dụng đất
H nh 4.16: Đất thổ cƣ Hình 4.17: Rừng trồng sản xuất
Hình 4.18: Đất trồng lúa Hình 4.19: Đất trồng cây lâu năm
Trang 372.2.2 Đất trụ sở cơ quan công trình sự nghiệp 4,53 0,355
Biểu đồ 4.1: Tổng hợp cơ cấu hiện trạng sử dụng đất
BIỂU ĐỒ CƠ CẤU HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT
Đất trồng lúa Đất trồng cây hàng năm khác
Đất trồng cây lâu năm Đất lâm nghiệp Đất ở Đất sản xuất kinh doanh Đất quốc phòng an ninh Đất trụ sở cơ quan công trình sự nghiệp Đất công cộng Đất di tích tôn giáo Đất nghĩa trang Đất mặt nước Đất phi nông nghiệp
Trang 384.2.6 Hiện trạng giao thông
4.2.6.1 Giao thông đường bộ
- Giao thông đối ngoại - liên vùng
+ Trục đường Quốc lộ 2 chạy xuyên qua xã đạt tiêu chuẩn đường loại A, có chất lượng tốt, mới được đầu tư xây dựng đưa vào sử dụng từ năm 2005
+ Trục đường Quốc lộ 70 nối khu vực với Yên Bái, Lào Cai, là đường rải nhựa từ những năm 90 của thế k trước, hiện nay đang được nâng cấp thành đường 4 làn xe, đạt tiêu chuẩn được loại A đô thị
- Giao thông nội vùng: Chủ yếu là đường rải đá răm và cấp phối, một số đoạn đường liên thôn được bê tông hóa, mặt cắt từ 3 – 5,0m, còn lại các đường nhánh nhỏ vào các xóm vẫn là đường đất, mặt cắt đường nhỏ, từ 2 – 2,5m
4.2.6.2 Giao thông đường thủy
Sông Chảy và sông Lô có vị trí chiến lược trong giao thông đường thủy của vùng Xã Chí Đám nằm trên ngã ba sông, là nơi hợp lưu của hai con sông trên nên giao thông đường thủy có tầm quan trọng đặc biệt đối với giao thông với các khu vực lân cận xung quanh Hiện nay, giao thông đường thủy chủ yếu vận chuyển các hàng hóa nặng như các mặt hàng lâm sản (gỗ, củi, nguyên liệu giấy), các loại cát sỏi, vật liệu xây dựng và các loại hàng hóa khác
Hình 4.20: Sơ đồ hiện trạng giao thông của khu vực
Trang 39Đường cấp phối – trục chính Đường đất trong làng
Hình 4.21 - 4.22: Hiện trạng đường giao thông
- Đánh giá hiện trạng giao thông
- Thuận lợi:
Giao thông đường bộ và đương thủy đều rất thuận lợi cho các hoạt động phát triển kinh tế và du lịch cho khu vực Khoảng cách với các trung tâm đô thị khác không quá xa, nhưng lại không quá gần để tránh bị ảnh hưởng tiêu cực về mặt môi trường từ các đô thị lớn
Các tuyến giao thông nhánh đi qua các cảnh quan ven sông, làng mạc, ruộng trũng, xen lẫn với các cụm làng với các cảnh quan đặc trưng cho vùng bán sơn địa,
có một không gian đóng mở, có thể khai thác các tuyến thăm quan, ngắm cảnh làng quê rất đẹp Giao thông đường thủy là một lợi thế của vùng, vừa là con đường vận chuyển hàng hóa quan trọng nhưng cũng đồng thời là tiềm năng to lớn về du lịch
Trang 40Chương 5 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
5.1 Phân tích kết quả gây trồng bưởi đặc sản
5.1.1 Lịch sử phát triển của giống bưởi đặc sản Đoan Hùng
Cây bưởi (Citrus grandis) được trồng ở Đoan Hùng từ rất lâu đời Theo các
cụ già địa phương thì giống bưởi này đã được dùng để đem tiến vua Nguyễn Các quan lại địa phương khi xưa, thường chọn lọc những quả bưởi ngon nhất để mang
về kinh đô tiến vua Vì thế nên người ta còn gọi giống bưởi đặc sản này là bưởi Kinh Một số tài liệu cho biết, giống bưởi này đã gây trồng cách đây 2 thế k Dù chưa có con số thống kê chính xác nhưng ít nhất, giống bưởi đã có mặt ở vùng này hàng trăm năm nay
Trong đó tại khu vực nghiên cứu có 5 giống bưởi là bưởi Sửu, bưởi Bằng Luân, bưởi đỏ, bưởi chua, bưởi cơm Những hiện tại có hai giống bưởi nổi tiếng nhất là bưởi Sửu và bưởi Bằng Luân Đây cũng chính là hai giống bưởi được chọn lựa để phát triển vùng bưởi đặc sản Đoan Hùng Trong hai giống này thì bưởi Tộc Sửu có chất lượng cao hơn hẳn và nổi tiếng hơn Điều đặc biệt, tại xã Chí Đám chính là vùng bưởi Tộc Sửu gốc và đây chính là nơi có diện tích trồng nhiều nhất Bưởi cũng xen kẽ với các loại cây ăn quả khác như hồng, nhãn, vải, na, chuối, xoài
Trong những năm sau hòa bình lập lại ở miền Bắc, chính quyền địa phương
có chủ trương phát triển mô hình hợp tác xã theo hướng tập trung ruộng đất, tập trung nhân công Tại xã đã hình thành một hợp tác xã trồng bưởi để nộp cho nhà nước Theo các kết quả phỏng vấn dân địa phương cho biết, trước đây, tại khu vực
có những vườn có diện tích khá lớn và phát triển rất tốt Đến năm 1971, sau trận lũ lịch sử trên lưu vực các sông miền Bắc, cùng với chủ trương chuyển đổi, tăng thêm diện tích đất nông nghiệp, chính quyền địa phương di chuyển các hộ dân vào các khu vực đất cao phía trong Các diện tích trồng bưởi được phá bỏ để trồng cây nông nghiệp đáp ứng nhu cầu lương thực của địa phương Từ đây, diện tích bưởi giảm sút đáng kể, chỉ còn lại một số diện tích nhỏ được người dân trồng quanh nhà ở các khu