1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI GIẢNG MÔN CHÍNH TRỊ HỆ CAO ĐẲNG NGHỀ

90 842 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 838 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI MỞ ĐẦU ĐỐI TƯỢNG, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ MÔN HỌC CHÍNH TRỊ1 - ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, HỌC TẬP Môn học Chính trị nghiên cứu những quy luật chung nhất của hoạt động chính trị, cơ chế tác độ

Trang 1

BÀI MỞ ĐẦU ĐỐI TƯỢNG, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ MÔN HỌC CHÍNH TRỊ

1 - ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, HỌC TẬP

Môn học Chính trị nghiên cứu những quy luật chung nhất của hoạt động chính trị, cơ

chế tác động, những phương thức sử dụng để hiện thực hóa những quy luật chung đó;nghiên cứu hoạt động của các đảng phái và chính quyền, các tổ chức chính trị; các giai cấp

và các mối quan hệ về chính trị giữa các lực lượng đó của các chế độ xã hội

Mục đích của môn học Chính trị là trang bị cho người học nhận thức cơ bản về chủ

nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương,chính sách của ĐCS Việt Nam; về truyền thống quý báu của dân tộc và giai cấp công nhânViệt Nam; góp phần bồi dưỡng nhận thức tư tưởng, giáo dục niềm tin vào sự lãnh đạo củaĐảng và định hướng trong quá trình học tập, rèn luyện cho người học

2 - CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA MÔN HỌC CHÍNH TRỊ

- Chức năng nhận thức khoa học: giúp người học hiểu biết hệ thống tri thức về nền

tảng tư tưởng của Đảng và của cách mạng, nội dung hoạt động lãnh đạo, quản lý và xâydựng của Đảng, Nhà nước ta

- Chức năng giáo dục tư tưởng, tình cảm cách mạng: Môn học Chính trị có chức

năng giáo dục tư tưởng chính trị, tham gia vào việc giải quyết những nhiệm vụ hiện tại; giáodục niềm tin vào sự phát triển của cách mạng Việt Nam, có tác dụng quan trọng đối với việctrau dồi thế giới quan, phương pháp luận khoa học, xây dựng niềm tin vào thắng lợi củacách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Từ đó có quyết tâm phấn đấu thực hiệnđường lối, chủ trương chính sách của Đảng

Nhiệm vụ nghiên cứu là: các hoạt động xây dựng chế độ và hoạt động của hệ thống

chính trị ở nước ta; nghiên cứu nền tảng tư tưởng của Đảng và của cách mạng nước ta; cungcấp những hiểu biết cơ bản về Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lốilãnh đạo của Đảng, những truyền thống quý báu của dân tộc và của giai cấp công nhân ViệtNam

Người học nghề sau khi học xong môn Chính trị cần đạt được:

- Về kiến thức: Nắm được nội dung cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ

Chí Minh, đường lối lãnh đạo của Đảng, những truyền thống quý báu của dân tộc và củagiai cấp công nhân Việt Nam và của Công đoàn Việt Nam

- Về kỹ năng: Vận dụng kiến thức đã học để rèn luyện trở thành người lao động mới

có phẩm chất chính trị vững vàng, có đạo đức tốt và năng lực công tác, góp phần thực hiệnthắng lợi sự nghiệp CNH – HĐH đất nước

- Về thái độ: Có tư tưởng, tình cảm tốt đẹp; có ý thức trách nhiệm thực hiện đường

lối của Đảng, pháp luật Nhà nước và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

3 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ Ý NGHĨA HỌC TẬP

- Phương pháp:

Phát huy tính chủ động của thầy và tính tích cực của trò SV phải liên hệ với thựctiễn, tự nghiên cứu, thảo luận, liên hệ thực tiễn, thảo luận tích cực, cung cấp cho nhau các trithức trong quá trình học tập

Cần áp dụng các phương pháp giảng dạy và học tập tích cực để môn học không khôkhan mà thiết thực và có hiệu quả

Có thể tổ chức cho sinh viên thảo luận, xem băng hình, phim tư liệu lịch sử, chuyên

đề thời sự hoặc tổ chức đi tham quan, nghiên cứu các điển hình sản xuất công nghiệp, các di

Trang 2

tích văn hóa ở địa phương.

- Ý nghĩa học tập:

+ Môn Chính trị là một trong những nội dung quan trọng của đào tạo nghề nhằm thựchiện mục tiêu nâng cao trình độ giác ngộ và giáo dục toàn diện, góp phần khắc phục nhữngsai lầm, khuyết điểm cho người lao động

+ Nghiên cứu, học tập, nắm vững tri thức chính trị có ý nghĩa rất to lớn trong việcgiáo dục phẩm chất chính trị, lòng trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dânlao động và dân tộc Việt Nam, tính kiên định cách mạng trước tình hình chính trị, phức tạp

ở trong nước và quốc tế, giáo dục đạo đức cách mạng

+ Việc học tập chính trị có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục về truyền thống cáchmạng, về chủ nghĩa yêu nước và lòng tự hào đối với Đảng và đối với dân tộc Việt Nam; bồidưỡng ý chí chiến đấu cách mạng, có ý chí biết noi gương những người đi trước, học tập vàlao động thông minh, sáng tạo, có kỷ thuật, có kỷ luật và năng suất cao

Trang 3

CHƯƠNG 1

NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN

Bài 1 KHÁI QUÁT VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHỦ NGHĨA

MÁC – LÊNIN

1 KHÁI LƯỢC VỀ CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN

1.1 Chức năng thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin

a Chủ nghĩa Mác – Lênin là gì?

Chủ nghĩa Mác - Lênin “là hệ thống quan điểm và học thuyết” khoa học của C Mác,

Ph Ăngghen và sự phát triển của V.I Lênin; là sự kế thừa và phát triển những giá trị của

lịch sử tư tưởng nhân loại, trên cơ sở thực tiễn của thời đại; là khoa học về sự nghiệp giảiphóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động và giải phóng con người; là thế giớiquan và phương pháp luận phổ biến của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng

b Chức năng thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin:

- Chức năng thế giới quan: Chủ nghĩa Mác - Lênin đem lại cho con người hệ thống các

quan điểm khoa học thống nhất về thế giới (bao hàm cả con người, xã hội loài người) Hệthống các quan điểm này đóng vai trò định hướng cho toàn bộ hoạt động sống, từng bướchình thành và củng cố nhân sinh quan của con người

- Chức năng phương pháp luận: Chủ nghĩa Mác - Lênin trang bị cho con người cơ sở

lý luận khoa học để tìm tòi, xây dụng và vận dụng các phương pháp trong hoạt động nhậnthức, thực tiễn nói riêng và trong toàn bộ cuộc sống nói chung

1.2 Ba bộ phận cấu thành Chủ nghĩa Mác - Lênin

Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống tri thức phong phú về nhiều lĩnh vực, nhưng trong

đó có ba bộ phận lý luận quan trọng nhất là: triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học:

- Triết học Mác - Lênin là bộ phận nghiên cứu những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy nhằm hình thành thế giới quan và phương pháp luận chung nhất cho nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng

- Kinh tế chính trị nghiên cứu những quy luật kinh tế của xã hội, đặc biệt là nghiên cứu

quy luật kinh tế của sự phát sinh, phát triển của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời của phươngthức sản xuất cộng sản chủ nghĩa

- Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu quy luật khách quan của quá trình cách mạng

xã hội chủ nghĩa, sự chuyển biến lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội

Ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác - Lênin có đối tượng nghiên cứu cụ thể khácnhau nhưng đều nằm trong hệ thống lý luận khoa học thống nhất - Đó là khoa học về sựnghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ áp bức, bóclột, tiến tới giải phóng con người

2 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

2.1 C Mác và Ph Ăngghen sáng lập và phát triển Chủ nghĩa Mác (1842 - 1895)

a Các tiền đề hình thành

- Về kinh tế - xã hội

+ Chủ nghĩa Mác ra đời trong những năm 40 của thế kỷ XIX ở Tây Âu Đó cũng làthời kỳ CNTB đã bước sang giai đoạn mới nhờ tác động của cách mạng công nghiệp Cuộc

Trang 4

cách mạng công nghiệp thế kỷ XVIII đánh dấu sự chuyển biến từ nền sản xuất thủ côngTBCN sang nền sản xuất đại công nghiệp TBCN.

+ Giai cấp vô sản từng bước trở thành một lực lượng chính trị độc lập

+ Nhu cầu cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản cần phải có lý luận dẫn đường

- Tiền đề về lý luận.

Chủ nghĩa Mác ra đời là kết quả kế thừa tinh hoa di sản lý luận của thời đại, trực tiếplà:triết học Cổ điển Đức, Kinh tế chính trị học Anh và Chủ nghĩa xã hội - không tưởng phêphán Pháp

Các Mác và Ph Ăngghen đã kế thừa trực tiếp:

+ Những nội dung hợp lí trong phép biện chứng duy tâm của Hêghen để xây dựng nênphép biện chứng duy vật

+ Quan điểm duy vật, vô thần về giới tự nhiên trong triết học Phơbách để góp phầnhình thành nên thế giới quan duy vật

- Tiền đề khoa học tự nhiên.

Chủ nghĩa duy vật biện chứng của Mác là kết quả của sự tổng kết những thành tựu tưtưởng của nhân loại, được chứng minh và phát triển dựa trên những kết luận mới nhất của

khoa học tự nhiên, trong đó có 3 phát minh quan trọng nhất: Định luật bảo toàn và chuyển

hóa năng lượng, Thuyết tiến hóa của Darwin, Học thuyết tế bào Những phát minh này đã

góp phần bác bỏ tư duy siêu hình và quan điểm thần học Khẳng định tính khoa học của tưduy biện chứng (thế giới vô cùng, vô tân, tự tồn tại, tự vận động, tự chuyển hoá) Đồng thời

nó tạo ra điều kiện tiền đề cho thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng ra đời

- Tiền đề chủ quan.

Đó chính là thiên tài về trí tuệ và chính trị của Mác - Ăngghen Lần đầu tiên trong lịch

sử, hai ông đã chỉ ra rằng: giai cấp vô sản là người giải phóng mình đồng thời giải phóngcho toàn nhân loại Đồng thời, đó còn là tình yêu thương những người lao động; sự thôngminh; lòng dũng cảm dám hy sinh vì người lao động; sự phấn đấu không mệt mỏi cho sựnghiệp giải phóng người lao động

b Qúa trình C Mác và Ph Ăngghen sáng lập chủ nghĩa Mác (1842 - 1895)

- Thời gian từ 1842 về trước: Mác và Ăngghen là những thanh niên đầy nhiệt tình vàlòng nhân đạo, say mê nghiên cứu triết học, nhưng chưa thoát khỏi lập trường triết học duytâm và lập trường dân chủ cách mạng

- C Mác, Ph Ăngghen và quá trình chuyển biến tư tưởng của các ông từ CNDT và dânchủ cách mạng sang CNDV và cộng sản chủ nghĩa (1842 – 1844)

- Giai đoạn 1844 - 1848: Các Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa những tinh hoa của chủ

nghĩa duy vật và phép biện chứng để xây dựng nên phép biện chứng duy vật Trong “Tuyênngôn đảng cộng sản” (Các Mác, Ph.Ăngghen, 1848) đã chỉ ra quy luật vận động của lịch sử,thể hiện tư tưởng cơ bản về lý luận hình thái kinh tế xã hội, về giai cấp và đấu tranh giaicấp Với các quan điểm này, Các Mác và Ph.Ăngghen đã tạo tiền đề sáng lập ra chủ nghĩaduy vật lịch sử

- Giai đoạn Mác và Ăngghen bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác (1849 - 1895): Đây

là giai đoạn phát triển, hoàn thiện của chủ nghĩa Mác Trong giai đoạn này cùng với cáchoạt động thực tiễn, trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử, Các Mác và Ph.Ăngghen

đã nghiên cứu một cách toàn diện phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Dựa trên việcphát hiện ra phạm trù hàng hóa sức lao động, Các Mác đã tìm ra nguồn gốc của giá trị thặng

dư, chỉ ra bản chất bóc lột của CNTB Lý luận giá trị thặng dư được Các Mác vàPh.Ăngghen trình bày toàn diện, sâu sắc trong bộ “Tư bản”

Trang 5

Thực chất và ý nghĩa của cuộc cách mạng trong triết học do C Mác và Ph Ăngghen thực hiện:

Thực chất cuộc cách mạng:

+ Khắc phục sự tách rời giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng trongtriết học trước đó, tạo ra sự thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật và phương pháp biệnchứng là chủ nghĩa duy vật biện chứng

+ Sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, làm cho triết học của C Mác và Ph Ăngghentrở nên triệt để

+ Khắc phục sự đối lập giữa triết học với hoạt động thực tiễn Triết học của hai ông trởthành công cụ nhận thức và cải tạo thế giới của nhân loại tiến bộ

+ Khắc phục sự đối lập giữa triết học và các khoa học cụ thể

- Ý nghĩa của cuộc cách mạng trong triết học do C Mác và Ph Ăngghen thực hiện:

+ Làm cho triết học thay đổi cả về vai trò, vị trí, chức năng trong hệ thống tri thứckhoa học

+ Làm cho chủ nghĩa xã hội không tưởng có cơ sở trở thành khoa học

+ Làm cho triết học Mác trở thành công cụ nhận thức và cải tạo thế giới của giai cấpcông nhân và nhân dân lao động

c Những đóng góp của Mác vào kho tàng lý luận của nhân loại

- Giá trị lý luận tiêu biểu nhất mà Chủ nghĩa Mác đã sáng tạo, cống hiến cho nhân loạitrước hết là về Triết học Triết học Mác không chỉ giải thích mà còn vạch ra con đường,những phương tiện cải tạo thế giới bằng con đường cách mạng Mác viết: Triết học khôngchỉ nhận thức mà còn phải cải tạo thế giới

Việc sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử mà cốt lõi là học thuyết hình thái kinh tế

-xã hội là một thành tựu vĩ đại của triết học Mác

- Học thuyết giá trị thặng dư vạch ra quy luật vận động kinh tế cơ bản của CNTB, từ

đó thấy rõ bản chất của CNTB; vai trò địa vị lịch sử của CNTB trong sự phát triển của nhânloại

- Lý luận về sứ mệnh lịch sử của GCCN chỉ rõ giai cấp công nhân là người lãnh đạocuộc đấu tranh để xóa bỏ chế độ bóc lột và xây dựng thành công xã hội mới

Ngoài sáng tạo ra học thuyết lý luận, Mác – Ăngghen đã tích cực hoạt động trongphong trào của Giai cấp công nhân Hai ông là lãnh tụ, người thầy vĩ đại của Giai cấp côngnhân quốc tế

2.2 Giai đoạn Lênin phát triển Chủ nghĩa Mác (1895 - 1924)

a Sự phát triển lý luận cách mạng

- Bối cảnh lịch sử mới và nhu cầu bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác:

+ Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, CNTB đã bước sang một giai đoạn mới: CNTB

độc quyền, chủ nghĩa đế quốc, là giai đoạn cao của CNTB Bản chất bóc lột và thống trị của

CNTB ngày càng được bộc lộ rõ nét, mâu thuẫn của CNTB trở nên gay gắt Các nước tưbản chia nhau thị trường thế giới và gây ra cuộc chiến tranh thế giới 1914-1918

+ Tại các nước thuộc địa, cuộc đấu tranh chống CNĐQ tạo nên sự thống nhất giữacách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản mà trung tâm là cách mạng ThángMười Nga Cách mạng vô sản đã trở thành nhiệm vụ trực tiếp

+ Sau khi Ăngghen qua đời, các phần tử cơ hội trong Quốc tế II xuyên tạc CN Mác.Tình hình đó đòi hỏi Lênin phải tiến hành đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác.+ Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong khoa học tự nhiên, nhất là trong vật lý học, cómột loạt phát minh khoa học làm đảo lộn quan niệm siêu hình về vật chất và vận động, gây

ra cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong vật lý học Chủ nghĩa duy tâm lợi dụng tình

Trang 6

trạng khủng hoảng này để tấn công và bác bỏ chủ nghĩa duy vật Lênin phải tiến hành đấutranh chống chủ nghĩa duy tâm và bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật.

- Vai trò của V.I Lênin:

+ Phê phán, khắc phục và chống lại những qua điểm sai lầm xuất hiện trong thời đại

đế quốc: chủ nghĩa xét lại chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa duy tâm vật lý học, bệnh ấu trĩ tảkhuynh trong triết học, chủ nghĩa giáo điều

+ Hiện thực hóa lý luận chủ nghĩa Mác bằng sự thắng lợi của Cách mạng tháng 10Nga, đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa xã hội hiện thực

+ Bổ sung và hoàn chỉnh về mặt lý luận và thực tiễn những vấn đề lý luận về cáchmạng vô sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, lý luận về nhà nước chuyên chính vô sản,chính sách kinh tế mới…

b Chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở thành hiện thực

Cách mạng tháng mười đã mở ra một thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản

lên chủ nghĩa xã hội Cách mạng tháng Mười đã đưa CNXH từ lý luận trở thành hiện thực;

đây được coi là thắng lợi đầu tiên của Chủ nghĩa Mác – Lênin trên thực tế Sự xuất hiện vàlớn mạnh của hệ thống XHCN đã cổ vũ mạnh mẽ cao dân tộc bị áp bức trên thế giới, vùngdậy để đấu tranh tự giải phóng mình

Sau Cách mạng Tháng Mười năm 1917, nước Nga lâm vào nội chiến 1918 – 1920

Trong thời kỳ này Lênin đã thực hiện Chính sách cộng sản thời chiến Đó là Nhà nước

trưng thu lương thực thừa của nông dân sau khi giành lại cho họ mức ăn tối thiểu, đồng thời xoá bỏ quan hệ hàng hoá – tiền tệ, thực hiện chế độ cung cấp hiện vật cho quân đội và

bộ máy nhà nước

Sau khi nội chiến kết thuc, đề phù hợp với tình hình, V.I Lênin đã đề ra chính sách Kinh tế mới (NEP) ra đời Nội dung cơ bản là bãi bỏ chế độ trưng thu lương thực thừa và

thay vào đó là chế độ thuế lương thực Nhờ đó mà trong một thời gian ngắn nền kinh tế

quốc dân đã được khôi phục và khối liên minh công nông đuợc củng cố

Mô hình Chủ nghĩa xã hội đầu tiên trên thế giới:

Năm 1924, V.I.Lênin mất Từ đó Liên Xô chuyển dần sang xây dựng CNXH theo môhình kế hoạch hóa tập trung Mô hình đó có những đặc trưng cơ bản sau:

- Dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu dưới hai hình thức: toàn dân vàtập thể;

- Việc sản xuất cái gì, như thế nào, phân phối cho ai, giá cả như thế nào được quyếtđịnh từ nhà nước và mang tính pháp lệnh;

- Phân phối mang tính chất bình quân và trực tiếp bằng hiện vật là chủ yếu, xem nhẹcác quan hệ hàng hóa – tiền tệ;

- Nhà nước quản lý bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, xem nhẹ các biện phápkinh tế

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống XHCN ra đời bao gồm các nước Liên Xô,Cộng hoà Dân chủ Đức, Bungari, Ba Lan, Hunggari, Rumani, Tiệp Khắc, Anbani, Mông

Cổ, Trung Quốc, Triều Tiên, Cu Ba, Việt Nam Năm 1960, tại Mátcơva, Hội nghị 81 Đảngcộng sản và công nhân của các nước trên thế giới đã tuyên bố và khẳng định: “Đặc điểm chủyếu của thời đại chúng ta là hệ thống XHCN đang trở thành nhân tố quyết định sự phát triểncủa xã hội loài người”

Những thành tựu của CNXH hiện thực

- Lần đầu tiên trong lịch sử loài người đã đưa nhân dân lao động từ những người nô lệ,

làm thuê, trở thành những người làm chủ đất nước Đời sống vật chất, tinh thần của nhândân không ngừng được cải thiện Trong chiến tranh thế giới thứ hai Liên Xô đã giữ vai trò

Trang 7

quan trọng cứu loài người khỏi thảm họa phát xít

- Về kinh tế các nước đã giành được nhiều thành tựu to lớn làm thay đổi bộ mặt của hệ

thống xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô đã từ một nước nông nghiệp trong một thời gian

ngắn đã trở thành một nước “siêu cường” của thế giới.

- Cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng lớn mạnh, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã

trở thành chỗ dựa vững chắc cho phong trào đấu tranh vì hoà bình, tiến bộ trên thế giới, đẩylùi nguy cơ chiến tranh của những thế lực phản động

3 CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN TỪ 1924 ĐẾN NAY

3.1 Vận dụng và phát triển lý luận xây dựng CNXH (1924 - 1991)

Từ năm 1924 đến nay, Chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết lý luận với vai trò là nềntảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của các Đảng cộng sản trên thế giới trong đấutranh cách mạng và xây dựng CNXH

Các hội nghị quốc tế và các cuộc gặp gỡ của lãnh tụ các Đảng cộng sản các nước đãthường xuyên trao đổi kinh nghiệm vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin vào xâydựng CNXH và đấu tranh cách mạng trong điều kiện đặc thù của từng nước

Trên cơ sở những nguyên lý lý luận phổ biến và cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin,các Đảng cộng sản và công nhân từng nước vận dụng sáng tạo và cụ thể hóa những quy luậtchung và đặc thù, đề ra những nhiệm vụ cụ thể của cách mạng nước mình để bổ sung và làmphong phú, phát triển lý luận mới Đó là biểu hiện sáng tạo và sức sống mới về mặt thựctiễn của Chủ nghĩa Mác – Lênin

Qua hai mươi năm xây dựng CNXH (1921 - 1941), Liên Xô đã đạt được những thànhtựu hết sức to lớn Nền kinh tế Liên Xô vững mạnh, trở thành một cường quốc trên thế giới.Những thắng lợi đó làm cho Liên Xô thành một cường quốc, văn hóa, khoa học tiên tiến,quốc phòng vững mạnh là trụ cột của các lực lượng cách mạng và thành trì của hòa bình thếgiới

Từ sau Chiến tranh thế giới lần II, lý luận và kinh nghiệm xây dựng CNXH đã đượcvận dụng ở tất cả các nước XHCN Hệ thống XHCN trên thế giới phát triển mạnh Tác độngmạnh mẽ của hệ thống XHCN và phong trào cách mạng thế giới góp phần vào thắng lợi củaphong trào giải phóng dân tộc ở Châu Á, Phi, Mỹ Latinh những năm 60 và cuộc khángchiến chống Mỹ cứu nước ở Việt Nam năm 1975

Bắt đầu từ cuối những năm 60 của thế kỷ XX, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩaĐông Âu đi vào thời kỳ khủng hoảng Từ tháng 4 năm 1989 trở đi, sự đổ vỡ diễn ra liên tiếp

ở các nước Đông Âu Chỉ trong vòng 2 năm, đến tháng 9 năm 1991, chế độ xã hội chủ nghĩa

ở Liên Xô và sáu nước Đông Âu đã bị sụp đổ hoàn toàn Sự đổ vỡ cũng diễn ra ở Mông Cổ,Anbani, Nam tư

Nguyên nhân sâu xa là những sai lầm thuộc về mô hình phát triển của chủ nghĩa xã hộiXôviết Nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp dẫn đến sự sụp đổ

Một là, trong cải tổ Đảng Cộng sản Liên Xô đã mắc những sai lầm rất nghiêm trọng về

đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức Đó là đường lối hữu khuynh, cơ hội và xét lại, thểhiện trước hết ở những người lãnh đạo cao nhất

Hai là, chủ nghĩa đế quốc đã can thiệp toàn diện, vừa tinh vi, vừa trắng trợn, thực hiện

được “diễn biến hòa bình” trong nội bộ Liên Xô và các nước Đông Âu

3.2 Đổi mới xây dựng CNXH từ sau năm 1991

a Tình hình đổi mới và bài học từ công cuộc đổi mới xây dựng CNXH

Sau khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ CNXH thế giới không còn tồntại với tư cách một hệ thống Các nước XHCN còn lại đã tiến hành đổi mới

Ở Trung Quốc, sau một thời gian dài hiện đại hoá không ổn định, đã từng bước gây ra

Trang 8

những hậu quả tiêu cực, làm chậm bước tiến của Trung Quốc mà sau này, khi tiến hành cảicách và mở cửa, ĐCS Trung Quốc đã đánh giá lại với tinh thần phê phán Cải cách và mởcửa đã thu được thành tựu, đảm bảo cho CNXH tồn tại và phát triển.

Việt Nam, sau khi đất nước thống nhất, cả nước đi lên CNXH, những sai lầm chủ quanduy ý chí, không tôn trọng quy luật khách quan, duy trì quá lâu mô hình và cơ chế cũ đã đưađến khủng hoảng kinh tế - xã hội, lạm phát nghiêm trọng Để đưa nước ta thoát khỏi tìnhtrạng đó, Đảng và nhân dân ta tiến hành công cuộc đổi mới nhằm xây dựng CNXH mộtcách có hiệu quả hơn Thành công trong sự nghiệp cải cách và đổi mới đã khẳng định tính

uư việt và sức sống của CNXH, tính đúng đắn của đuờng lối đổi mới

Trong số các nước Mỹ Latinh hiện nay, nhiều nước tuyên bố đi lên CNXH Sự xuấthiện của “chủ nghĩa xã hội Mỹ Latinh thế kỷ XXI” còn điểm này, điểm khác phải tiếp tụcnghiên cứu và theo dõi, nhưng rõ ràng những biểu hiện đó đã và đang thể hiện sự tác độngsâu xa và sức sống mãnh liệt của CNXH hiện thực đối với các dân tộc Mỹ Latinh, thể hiệnbước tiến mới của CNXH trên thế giới Đó là một thực tế lịch sử chứng minh cho sức sống

và khả năng phát triển của CNXH, củng cố niềm tin vào lý tuởng cộng sản chủ nghĩa

Bài học từ công cuộc đổi mới xây dựng CNXH:

- Về lý luận và hệ tư tưởng: phải thấm nhuần sâu sắc bản chất cách mạng và khoa họccủa chủ nghĩa Mác - Lênin; vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận Mác - Lênin phù hợp vớiđiều kiện, hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước, với xu thế và yêu cầu của thời đại

- Về xây dựng Đảng: phải làm cho Đảng cộng sản luôn luôn xứng đáng là một Đảngcách mạng chân chính, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, có kinh nghiệm vàbản lĩnh, không phạm sai lầm về đường lối, không phân liệt về tư tưởng và tổ chức, gắn bóvới nhân dân, đoàn kết và kỷ luật, xứng đáng là Đảng cầm quyền

- Xây dựng Nhà nước: Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự củanhân dân, do nhân dân và vì nhân dân;

- Về kinh tế - xã hội: xây dựng và phát triển văn hoá theo đúng quy luật khách quan,chăm lo đến nhu cầu, lợi ích vật chất và tinh thần của con người

- Về đoàn kết dân tộc: không ngừng chăm lo và phát triển mọi mặt cho khối đại đoànkết đó mà nòng cốt là liên minh công - nông - trí thức

Nhìn chung, CNXH đang ở giai đoạn khó khăn, gay go chưa từng có Cuộc đấu tranh

để bảo vệ và phát triển CNXH đang diễn ra quyết liệt Nhưng CNXH nhất định sẽ vượt quađược thử thách, tiếp tục tíên lên theo quy luật vận động và phát triển của lịch sử

b Nhu cầu nghiên cứu và học tập CN Mác – Lênin trong giai đoạn hiện nay

Ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa nhu cầu học tập và nghiên cứu phát triển chủ nghĩaMác - Lênin vẫn là một nhu cầu cấp thiết trong quá trình xây dựng và phát triển xã hội chủnghĩa trong thời đại mới (nhằm xây dựng đường lối phát triển nền kinh tế-xã hội, xây dựng

và bồi dưỡng nhân sinh quan cách mạng, rèn luyện và tu dưỡng đạo đức của con ngườitrong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa …)

Ở các nước tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân và các đảng cộng sản các nước vẫnkiên trì việc học tập, nghiên cứu và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin như là một vũ khí lýluận nhằm chống lại chủ nghĩa tư bản

Trong những năm gần đây, ở một số quốc gia tư bản chủ nghĩa thuộc các nước đangphát triển như Vênêzuêla, Bôlôvia,… việc học tập và nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lêninđang trở thành một nhu cầu cần thiết trong việc xác định đường lối phát triển theo khuynhhướng xã hội chủ nghĩa của mình

Ở Việt Nam, Chủ nghĩa Mác – Lênin cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò là nềntảng tư tưởng khoa học của toàn bộ quá trình cách mạng Việt Nam Trong giai đoạn hiện

Trang 9

nay, ĐCSVN tiếp tục khẳng định: “phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trênnền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”; phải “vận dụng và phát triểnsáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động của Đảng Thườngxuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận, giải quyết đúng đắn những vấn đề docuộc sống đặt ra”.

Trang 10

Bài 2 NHỮNG NGUYÊN LÝ VÀ QUI LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG

DUY VẬT

1 CHỦ NGHĨA DUY VẬT KHOA HỌC

1.1 Vấn đề cơ bản của triết học, chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

a Vấn đề cơ bản của triết học và ý nghĩa của nó

Theo Ăngghen: "Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại"; bởi vì việc giải quyết vấn đề này là cơ sở và xuất

phát điểm để giải quyết các vấn đề khác của triết học Đồng thời sẽ là tiêu chuẩn để xác địnhlập trường thế giới quan của các triết gia và các học thuyết của họ

Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:

Mặt thứ nhất: Giữa vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết

định cái nào?

Mặt thứ hai: ý thức con người có thể phản ánh trung thực thế giới khách quan hay

không? Nghĩa là con ngời có khả năng nhận thức hay không?

Đây là vấn đề cơ bản của triết học vì: Vì nó tồn tại xuyên suốt lịch sử triết học; khigiải quyết nó mới có thể giải quyết được các vấn đề khác, đồng thời cách giải quyết nó chiphối cách giải quyết các vấn đề còn lại

Việc giải quyết vấn đề này là cơ sở để giải quyết các vấn đề triết học khác và là cơ sở

để phân chia các nhà triết học thành các trường phái, trào lưu triết học khác nhau Trong lịch

sử tư tưởng triết học của nhân loại từ thời cổ đại đến nay đã có những lời giải đáp khác nhau

và đối lập nhau đối với hai câu hỏi đó Đây là xuất phát điểm của sự khác biệt và đối lậpgiữa các trường phái triết học lớn trong lịch sử

b Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

- Chủ nghĩa duy vật (nhất nguyên duy vật) là một trong những trường phái triết học

lớn trong lịch sử, bao gồm trong đó toàn bộ các học thuyết triết học được xây dựng trên lậptrường duy vật trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học: cho rằng tồn tại (tự nhiên,vật chất) có trước tư duy (tinh thần, ý thức), và quyết định ý thức

Chủ nghĩa duy vật bao gồm: chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại, chủ nghĩa duyvật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng Trong đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng đãcung cấp công cụ vĩ đại cho hoạt động nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng

Đây là khuynh hướng triết học mà sự tồn tại, phát triển của nó có nguồn gốc từ sựphát triển của khoa học và thực tiễn, đồng thời thường gắn với lợi ích của giai cấp và lựclượng tiến bộ trong lịch sử, vừa định hướng cho các lực lượng xã hội tiến bộ trong hoạtđộng trên nền tảng của những thành tựu ấy

- Chủ nghĩa duy tâm (nhất nguyên duy tâm) là trào lưu triết học cho rằng tư duy, ý

thức có trước vật chất, sinh ra và quyết định vật chất Chủ nghĩa duy tâm bao gồm:

+ Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con người Trongkhi phủ nhận sự tồn tại khách quan của hiện thực, chủ nghĩa duy tâm chủ quan khẳng địnhmọi sự vật, hiện tượng chỉ là phức hợp những cảm giác của cá nhân, của chủ thể

+ Chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức nhưng theo

họ đấy là là thứ tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc lập với con người Thực thểtinh thần khách quan này thường mang những tên gọi khác nhau như ý niệm, tinh thần tuyệtđối, lý tính thế giới

Trong lịch sử triết học cũng có những nhà triết học xem vật chất và tinh thần là hai

Trang 11

nguyên thể tồn tại độc lập, tạo thành hai nguồn gốc của thế giới; học thuyết triết học của họ

là nhị nguyên luận Quan điểm này cho rằng: Vật chất và ý thức là 2 nguyên thể đầu tiên,

cùng song song tồn tại, không có cái nào có trước, không có cái nào có sau, không cái nàoquyết định cái nào Yếu tố vật chất tạo nên thế giới vật chất và yếu tố tinh thần tạo nên yếu

tố tinh thần Thực chất quan điểm nhị nguyên là một dạng của CNDT chủ quan, cho rằng ýthức tồn tại không phụ thuộc vào vật chất Mục đích là điều hoà cuộc đấu tranh giữa CNDV

và CNDT trong lịch sử triết học Song cuối cùng, khi giải quyết các vấn đề xã hội, các nhànhị nguyên thường rơi vào lập trường duy tâm

Lại có nhà triết học cho rằng vạn vật trong thế giới là do vô số nguyên thể độc lập tạo

nên; đó là đa nguyên luận trong triết học (phân biệt với thuyết đa nguyên chính trị) Song

đó chỉ là biểu hiện tính không triệt để về lập trường thế giới quan; rốt cuộc chúng thường savào chủ nghĩa duy tâm

Như vậy, trong lịch sử tuy những quan điểm triết học biểu hiện đa dạng nhưng suy chocùng, triết học chia thành hai trường phái chính: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.Lịch sử triết học cũng là lịch sử đấu tranh của hai trường phái này

Như vậy, quan điểm của chủ nghĩa duy vật là đúng đắn, khoa học Nó đã đem lại chocon người niềm tin vào sức mạnh của mình, trong việc nhận thức thế giới và cải tạo thế giới

1.2 Vật chất và phương thức, hình thức tồn tại của nó

Trong thời cổ đại, quan niệm về vật mang tính trực quan cảm tính, thể hiện ở chỗ họ đãđồng nhất vật chất với những vật thể cụ thể, coi đó là cơ sở đầu tiên của mọi tồn tại ỞTrung Quốc, các nhà triết học cho rằng, vật chất sinh ra là âm dương, ngũ hành; ở Ấn Độ,vật chất sinh ra do tứ đại: Địa, Thuỷ, Hoả, Phong; ở Hi Lạp đồng nhất vật chất với nhữngdạng cụ thể Tiếp nối truyền thống của thời kỳ cổ đại, các nhà triết học cận đại đồng nhất vậtchất với nguyên tử (hạt) và khối lượng (m)

Quan niệm của Ăngghen về vật chất: K.Marx và F.Engels cho rằng, vật chất là cái tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người Thế giới vật chất luôn luôn vận động, biến đổi không ngừng, ở đâu có vật chất là có vận động và vận động không ngừng Trong tác phẩm

“Biện chứng của tự nhiên”, Ăngghen cho rằng, vật chất là tổng số các vật thể mà từ đóngười ta rút ra khái niệm bằng con đường trừu tượng hoá

Quan điểm của Lênin về vật chất:

Cuối thế kỷ XIX, đầu XX, khoa học tự nhiên phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là vật lýhọc Trong vật lý học đã có nhiều phát minh làm đảo lộn quan niệm cũ về vật chất Cụ thểlà: 1895, Rơnghen (Đức) phát hiện ra tia X; 1896, Beccơren (Pháp) phát hiện ra hiện tượngphóng xạ; 1897, Tômxơn(Anh) phát hiện ra điện tử; 1901,Kauphman phát hiện ra hiệntượng rất quan trọng là trong quá trình vận động, khối lượng của điện tử tăng khi vận tốccủa nó tăng; 1905 thuyết tương đối của Anhxtanh

Lợi dụng những thành tựu của khoa học tự nhiên, các nhà triết học tư sản tấn công chủnghĩa Mác, cho rằng các dạng vật chất tiêu tan, tức vật chất mất đi vì thế cơ sở tồn tại của

Trang 12

chủ nghĩa duy vật không còn nữa Trong hoàn cảnh đó, Lênin xuất hiện, bằng việc khái quáttoàn bộ những thành tựu của triết học và khoa học tự nhiên về vật chất trong lịch sử, cùngvới thiên tài của mình, Lênin đã đưa ra định nghĩa kinh điển nhằm khắc phục tình trạng trên.Phương pháp định nghĩa: Trong khoa học thông thường dùng phương pháp bìnhthường, tức là phương pháp đem khái niệm được định nghĩa vào trong khái niệm rộng hơn

nó để tìm ra đặc trưng cơ bản Ở đây, Lênin dùng phương pháp đặc biệt là đem vật chất đốilập với ý thức để chỉ ra thuộc tính cơ bản phân biệt vật chất với ý thức (thực tại khách quanđem lại cho con người trong cảm giác)

Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, Lênin đã

định nghĩa vật chất như sau: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”

Lưu ý: Vật chất được hiểu là một phạm trù triết học, phạm trù rộng và khái quát nhất,không thể hiểu như các khái niệm vật chất thường dùng trong các lĩnh vực khoa học cụ thểhoặc đời sống sinh hoạt hằng ngày Thuật ngữ “cảm giác” được hiểu và đồng nghĩa với ýthức

“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” Tất cả những gì tồn tại khách quan không phụ thuộc vào cảm

giác thì là vật chất Lưu ý, có những cái tồn tại thực nhưng lại phụ thuộc vào ý muốn chủquan của con người như tư tưởng tiểu tư sản, tình yêu, lòng căm thù

“Vật chất…đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh…”, Thế giới vật chất là thế giới hiện thực sinh động, “thực tại khách

quan đem lại cho con người trong cảm giác”, nghĩa là vật chất là nguồn gốc sinh ra ý thức.Vật chất không chỉ có trước, quyết định mà còn là cơ chế tác động hình thành nên ý thức

con người vì vậy, con người hoàn toàn có khả năng nhận thức được thế giới.

Ý nghĩa của nó với việc phát triển thế giới quan duy vật:

- Đã giải quyết được cả hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học theo lập trường của chủnghĩa duy vật biện chứng;

- Chống lại mọi quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và thuyết bất khả tri Khắc phụcđược hạn chế của quan điểm duy vật siêu hình

- Mở đường cho khoa học phát triển, nhất là những ngành nghiên cứu cấu trúc vi mô

về vật chất; góp phần khắc phục cuộc khủng hoảng vật lý học cuối XIX, đầu XX

- Chỉ ra vật chất trong lĩnh vực xã hội đó là tồn tại xã hội

- Đưa ra phương pháp định nghĩa đặc biệt

b Vận động là phương thức tồn tại của vật chất

Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất tức được hiểu là một phương thức tồn tại củavật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, - thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọiquá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy

- Vận động là phương thức tồn tại của vật chất: Vật chất chỉ tồn tại trong vận động,bằng cách vận động, nghĩa là thông qua vận động, vật chất biểu thị sự tồn tại của mình

- Vận động của vật chất là vận động tự thân, do nguồn gốc bên trong nó quy định Vậnđộng của vật chất không bao giờ bị mất đi chỉ chuyển từ hình thức này sang hình thức khác

- Vận động bao gồm năm hình thức: cơ học, vật lí, hóa học, sinh học và vận động xãhội Trong đó vận động xã hội là hình thức vận đông cao nhất

- Vận động gắn liền với đứng im, đứng im là vận động trong thăng bằng, trong sự ổnđịnh tương đối Vận động là tuyệt đối, đứng im là tương đối bởi vì: Đứng im chỉ xảy ratrong một hình thức vận động nhất định (vận động cơ giới), trong một thời gian xác định,

Trang 13

trong một hệ quy chiếu cụ thể Ngay trong trạng thái đứng im đó cũng có những nhân tố phá

c Không gian và thời gian là hình thức tồn tại của vật chất

CNDVBC cho rằng: không gian, thời gian thống nhất với nhau và với vật chất vận động ; không gian và thời gian là thuộc tính cố hữu, là hình thức tồn tại của vật chất vận động Trong thế giới, không có không gian và thời gian bên ngoài vật chất vận động, và

cũng không có vật chất vận động bên ngoài không gian và thời gian

Không gian là hình thức tồn tại của vật chất xét về mặt quảng tính (tính ba chiều: chiềudài, chiều rộng và chiều cao) nhất định và tồn tại trong các mối tương quan nhất định (truớc

và sau, trên hay dưới, bên phải hay bên trái,…) với những dạng vật chất khác

Thời gian là hình thức tồn tại của vật chất xét về mặt “trường tính” - thể hiện ở quátrình biến đổi nhanh hay chậm, kế tiếp và chuyển hóa, biểu hiện trình tự xuất hiện, mất đicủa sự vật (quá khứ, hiện tại và tương lai)

Không gian và thời gian có tính khách quan, tính vĩnh cữu và tính vô tận Tính vô tậncủa vật chất quy định tính vô cùng, vô tận của không gian và thời gian

Ý nghĩa phương pháp luận: Không gian, thời gian là vấn đề có ý nghĩa phương pháp

luận quan trọng, muốn nhận thức đúng đắn các sự vật, hiện tượng nhất thiết phải xem xét nótrong không gian, thời gian nhất định, phải có quan điểm lịch sử cụ thể Phải tính đến cả quákhứ, hiện tại và tương lai nhưng hiện tại là cái cơ bản

Tóm lại, các dạng cụ thể của vật chất tồn tại trong không gian, thời gian và thông qua

sự vận động mà biểu hiện sự tồn tại của mình

d Tính thống nhất vật chất của thế giới

Các quan điểm duy tâm giải thích sự thống nhất của thế giới ở một thực thể tinh thầnđầu tiên (Thượng đế) hoặc từ cảm giác của con người Bản chất của thế giới là tinh thần,nên thế giới thống nhất ở tính tinh thần Hêghen cho đó là “”ý niệm tuyệt đối”; Đuy-ring(nhà triết học Đức, cùng thời với Mác) cho thế giới thống nhất ở “tồn tại”

Mác và Ăngghen đã phê phán và chỉ ra: nếu thế giới thống nhất ở “tồn tại” thì vẫnchưa phân biệt được sự khác nhau giữa các sự vật và hiện tượng Vẫn chưa phân biệt đượcngười duy vật với người duy tâm vì “Thượng đế”, “chúa” cũng tồn tại

Triết học duy vật cổ đại: thế giới thống nhất là thống nhất ở một dạng vật thể cụ thểnào đó, nhưng những vật thể cụ thể này không bao quát hết được sự phong phú, đa dạng củathế giới, như vật chất biểu hiện dưới dạng “trường”, dạng “hạt” và dạng xã hội

Chủ nghĩa duy vật biện chứng chứng minh rằng, bản chất của thế giới là vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất Theo đó:

- Chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất Thế giới vật chất tồntại khách quan, có trước và độc lập với ý thức con người Trong thế giới không có gì khác

Trang 14

hơn ngoài vật chất đang vận động Tinh thần chỉ có trong đầu óc con người và là thuộc tínhcủa một dạng vật chất có tổ chức cao Không có bằng chứng về thế giới tinh thần tồn tại bênngoài thế giới vật chất (Thiên đường, địa ngục, niết bàn).

- Mọi bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất với nhau, biểu hiện ởchỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật chất, hoặc có nguồngốc vật chất, do vật chất sinh ra và cùng chịu sự chi phối của những quy luật khách quanphổ biến của thế giới vật chất

- Thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô hạn và vô tận, không được sinh ra và không bịmất đi Trong thế giới không có gì khác ngoài những quá trình vật chất đang biến đổi vàchuyển hóa lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhân và kết quả của nhau

Ý thức tinh thần cũng chỉ là thuộc tính của bộ não người, do đó cũng bị chi phối bởiquy luật của thế giới vật chất

Ý nghĩa:

- Quan điểm về sự thống nhất của thế giới ở tính vật chất có vai trò hết sức to lớn trong

việc nhận thức thế giới và khám phá những bí mật của nó Nó đòi hỏi phải xuất phát từ hiện thực khách quan, lấy đó làm cơ sở, điều kiện cho hoạt động của mình

- Những mục đích, chủ trương, kế hoạch và cả những biện pháp tổ chức thực hiệnkhông thể rút ra từ nguyện vọng chủ quan mà phải được xây dựng từ hiện thực khách quanphản ánh những nhu cầu chín muồi và tất yếu của đời sống xã hội, mới có khả năng trởthành hiện thực

- Làm sáng tỏ thêm nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, chỉ ra sai lầm của phương phápsiêu hình về sự bất động, tĩnh tại của các sự vật, hiện tượng trong thế giới

1.3 Nguồn gốc và bản chất của ý thức

a Ý thức là gì?

Ý thức là một hiện tượng phức tạp vì thế có nhiều quan điểm khác nhau:

- CNDT xuất phát từ quan điểm cho rằng, ý thức là cái có trước nên họ khẳng địnhrằng ý thức đã sản sinh ra vật chất và là nguồn gốc của mọi sự vật, hiện tượng trong thếgiới Ví dụ, Beccoly, “sự vật là tổng hợp của cảm giác” , Hêghen cho rằng “ý niệm tuyệtđối” là cái có trước “tiên thiên”

- CNDV siêu hình xuất phát từ tính chất máy móc, siêu hình nên họ khẳng định rằng, ýthức là thuộc tính của mọi dạng vật chất Jacob Moleschott (1822 - 1893), nhà triết học, sinh

lý học Đức, nói: “Não tiết ra tư tưởng cũng giống như gan tiết ra mật” Như vậy, CNDVsiêu hình chưa chỉ ra được đặc trưng riêng biệt của ý thức

- CNDVBC phê phán những sai lầm trên đây và khẳng định:

+ Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não con người

+ Ý thức là toàn bộ những hoạt động tinh thần của con người, bao gồm những tri thức,kinh nghiệm, những trạng thái tình cảm, ước muốn, hy vọng, ý chí niềm tin… của conngười trong cuộc sống, phản ánh đời sống tin thần của mỗi cá nhân và được biểu thị bằngngôn ngữ và khái niệm

+ Ý thức là sản phẩm của quá trình phát triển của tự nhiên và lịch sử - xã hội, là kếtquả của quá trình phản ánh thế giới hiện thực khách quan vào trong đầu óc của con người + Ý thức là sự phản ánh sáng tạo hiện thực khách quan vào bộ não người

+ Ý thức bao gồm nhiều yếu tố như tri thức, tình cảm, niềm tin, ý chí, tưởng tượng

Trong đó, tri thức là quan trọng nhất Không có tri thức thì tình cảm, niềm tin chỉ là mù

quáng, ý chí chỉ là sự liều lĩnh Tuy nhiên, nếu không có tình cảm, niềm tin, ý chí thì tri thứckhông thể biến thành hành động được Tri thức có nhiều loại như tri thức về tự nhiên, về xãhội, về con người và có nhiều cấp độ khác nhau như tri thức kinh nghiệm, tri thức lý luận

Trang 15

Theo chiều dọc, đời sống tinh thần con người từ trong ra ngoài: vô thức, tiềm thức, ýthức và tự ý thức.

b Nguồn gốc của ý thức

Khác với các quan điểm duy tâm đi tìm nguồn gốc của ý thức từ một lực lượng siêu tựnhiên (ý niệm, brahman, Thượng đế, Trời …), quan điểm duy tâm chủ quan coi ý thức là cáivốn có của con người; quan điểm duy vật tầm thường, duy vật máy móc coi ý thức như làsản phẩm trực tiếp của các quá trình sinh lý; quan điểm duy vật biện chứng về ý thức: ý thức

là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên và xã hội

● Nguồn gốc tự nhiên: Ý thức là năng lục và hoạt động phản ánh của não người Não

người cùng năng lực phản ánh của não người là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài của tựnhiên

Phản ánh là thuộc tính chung của mọi dạng vật chất Đó là năng lực giữ lại và tái hiệnlại ở hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất khác khi hai hệ thống vậtchất đó tác động lẫn nhau

Bộ não của động vật chỉ đạt đến trình độ phản xạ, bản năng, tâm lý động vật Bộ nãongười có trăm tỷ tế bào thần kinh, là khí quan vật chất của sự phản ánh ý thức Não người

có khả năng phản ánh thế giới bằng tư duy trừu tượng (bằng khái niệm, phán đoán, suyluận)

Phản ánh chưa phải là ý thức Các dạng vật chất đều có thuộc tính chung là phản ánh.Cùng với sự phát triển của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của chúng cũng phát triển

từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp (phản ánh vật lý, phản ánh sinh vật với các hìnhthức như kích thích, cảm ứng; phản ánh tâm lý động vật; phản ánh ý thức của con người).Phản ánh ý thức của con người là hình thức phản ánh cao nhất

Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất, chỉ có ở não người Bời vì, ý thức gắn liền vớimột trình độ tổ chức cao của bộ não Não động vật còn ở trình độ thấp chỉ có bản năng, tâm

lý động vật Não người, một cấu trúc vật chất đạt đến trình độ tổ chức cao mới có khả năngthực hiện những thao tác nhất định của tư duy trừu tượng, như phân tích và tổng hợp, trừutượng khoá, khái quát hoá

Ý thức là phạm trù triết học dùng để chỉ một thuộc tính của dạng vật chất có tổ chức

cao của bộ não người; là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc người Bộ não người là

cơ quan phản ánh thế giới xung quanh cùng sự tác động của thế giới vật chất vào bộ não người là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.

● Nguồn gốc xã hội:

Ý thức không thể tồn tại ngoài não người; tuy nhiên, ý thức không phải do não sinh ra.Não chỉ là cơ quan thực hiện chức năng phản ánh Để có ý thức phải có não người và thếgiới khách quan Ngoài ra còn phải có những điều kiện xã hội nữa: lao động, ngôn ngữ,quan hệ giao tiếp

- Vai trò của lao động (Lao động làm cho con người có tri thức):

+ Biến vượn thành người (hoàn thiện bộ óc, giác quan, chức năng)

+ Tác động, biến đổi tự nhiên làm cho các đối tượng tự nhiên bộc lộ ra những thuộctính và những mối liên hệ bên trong và được phản ánh vào óc người

+ Trong lao động con người phải suy nghĩ, tính toán đề ra mục đích, tìm kiếm phươngpháp và phương tiện thực hiện mục đích, đúc rút kinh nghiệm thành công và thất bại Đóchính là phương pháp phát triển của ý thức

+ Lao động tạo ra quan hệ xã hội, quan hệ giáo tiếp Trong lao động, con người phải cóquan hệ hợp tác, trao đổi (lao động, sản phẩm lao động) Quan hệ sản xuất là cơ sở của tất

cả các quan hệ khác

Trang 16

+ Lao động tạo ra ngôn ngữ Do nhu cầu trao đổi hoạt động, con người cần phải nóivới nhau, cần phải sử dụng những khái niệm ngôn ngữ để biểu đạt sự vật, hiện tượng liênquan đến lao động nên ngôn ngữ ra đời và phát triển.

- Vai trò của ngôn ngữ: Ngôn ngữ xuất hiện nhằm giải quyết nhu cầu trao đổi thôngtin, diễn đạt tư tưởng, suy nghĩ; lưu trữ tri thức cho con người trong quá trình lao độngmang tính xã hội của họ

Lao động và ngôn ngữ là hai nguồn gốc xã hội quyết định trực tiếp đến sự hình thành

và phát triển của ý thức Chính lao động đóng vai trò quyết định trong việc chuyển biếnvượn thành người; giúp bộ não phát triển, làm nảy sinh ngôn ngữ Trên cơ sở đó thúc đẩy tư

duy trừu tượng phát triển Như vậy, nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra

đời và phát triển của ý thức là lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ

c Bản chất của ý thức

- Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động và sáng tạo trên cơ sở hoạt động thực tiễn, không phải là sự sao chép đơn giản, máy móc Điều này phân biệt hình thức phản ánh ý thức với các hình thức phản ánh sự vật,

như bản năng, tâm lý động vật

Tính sáng tạo của phản ánh ý thức được thể hiện:

+ Ý thức có khả năng từ phản ánh hiện tượng đi đến sự hiểu biết về bản chất của đốitượng, từ những hiện tượng ngẫy nhiên tìm ra cái tất nhiên, qui luật của đối tượng, tạo ranhững giả thuyết, học thuyết khoa học Tuy nhiên, tính sáng tạo của ý thức có mặt trái của

nó là có khả năng phản ánh xuyên tạc, hư ảo hiện thực, tạo ra những ảo tưởng, huyền thoại

Sự phát triển của ý thức là quá trình con người khắc phục ảo tưởng, thay thế huyền thoạibằng tri thức khoa học

+ Ý thức con người có khả năng tư duy lôgíc, từ những tri thức đã có tạo ra tri thứcmới, có khả năng phản ánh được quá khứ, có khả năng phản ánh vượt trước, dự báo được sựphát triển trong tương lai

+ Ý thức con người có khả năng mô hình hoá đối tượng trong đầu óc của mình (dướidạng hình ảnh cảm tính và lý tính), biến đổi mô hình, tạo ra mô hình mới của sự vật để từ đóbiến đổi sự vật trong hoạt động thực tiễn

- Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan có nghĩa là: ý thức là hình ảnh

về thế giới khách quan, hình ảnh ấy bị thế giới khách quan qui định cả về nội dung, cả vềhình thức biểu hiện nhưng nó không còn y nguyên như thế giới khách quan mà đã cải biếnthông qua lăng kính chủ quan (tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, kinh nghiệm, tri thức, nhucầu ) của con người

- Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội

+ Ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên, bản năng sinh vật Con vật khi sinh ra

đã có những bản năng nhất định Qúa trình phát triển của động vật là phát triển, rèn luyệnnhững bản năng đã có sẵn

+ Ý thức chỉ được hình thành trong môi trường xã hội thông qua quá trình nhận thức,quá trình học tập và hoạt động thực tiễn, quan hệ giao tiếp của cá nhân và cộng đồng xã hội

1.4 Quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

Hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người là sự thống nhất giữa những nhân tốvật chất và nhân tố ý thức

+ Nhân tố vật chất gồm: những điều kiện khách quan, quy luật khách quan, không phụ

thuộc ý thức

+ Nhân tố ý thức gồm: tri thức, kinh nghiệm, tình cảm, niềm tin, ý chí

a Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức

Trang 17

- Vật chất có trước, ý thức có sau Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức, là nguồngốc của ý thức Não người là cơ quan phản ánh để hình thành ý thức, không có não người khôngthể có ý thức.

- Ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh thếkhách quan

Thế giới khách quan quyết định nguồn gốc, nội dung của ý thức

b Ý thức có vai trò rất to lớn trong sự tác động trở lại vật chất

- Ý thức có tính năng động, sáng tạo, cho nên thông qua hoạt động thực tiễn của conngười có thể tác động trở lại vật chất bằng cách thúc đẩy hoặc kìm hãm ở một mức độ nào

đó các điều kiện vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan

- Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất dù đến đâu chăng nữa vẫn phụ thuộcvào các điều kiện vật chất Cho nên xét đến cùng, vật chất luôn quyết định ý thức

c Ý nghĩa phương pháp luận của việc nắm vững quan hệ giữa vật chất và ý thức

- Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn phải tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát

từ thực tế khách quan, hành động tuân theo quy luật khách quan

- Phải thấy được vai trò tích cực của ý thức, tinh thần để sử dụng có hiệu quả các điềukiện vật chất hiện có

- Tránh không rơi vào “chủ nghĩa khách quan” – tuyệt đối hoá điều kiện vật chất.Chống lại bệnh chủ quan duy ý chí, tuyệt đối hoá vai trò của ý thức

2 NHỮNG NGUYÊN LÝ VÀ QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

2.1 Phép biện chứng và phép biện chứng duy vật

Phép biện chứng là khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất của mọi sự vận

động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người Phép biện chứng là lý luận, làkhoa học nghiên cứu cả biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan Mục đích của phépbiện chứng là đảm bảo cho tư duy con người phản ánh đúng đắn biện chứng khách quan

b Các hình thức cơ bản của phép biện chứng

+ Phép biện chứng cổ đại mang tính ngây thơ, chất phác (đơn giản, hồn nhiên, trong sáng vì khoa học chưa phát triển, kinh nghiệm còn hạn chế), đại biểu là Hêraclit Không giảithích được nguyên nhân vận động và phát triển của thế giới vật chất Mô tả sự vận động mộtcách máy móc, xem sự vận động là một quá trình ngẫu nhiên

+ Phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức do Hêghen sáng lập Hêghen

là người xây dựng phép biện chứng tương đối hoàn chỉnh với một hệ thống khái niệm, phạmtrù, quy luật Tuy nhiên, phép biện chứng Hêghen là phép biện chứng duy tâm, ngược đầu,

vì ông xuất phát từ quan niệm cho rằng biện chứng của ý niệm sinh ra biện chứng của sự vật, chứ không phải ngược lại

+ Phép biện chứng duy vật do Mác và Ăngghen sáng lập vào những năm 40 của thế kỷXIX, trên cơ sở kế thừa có phê phán hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng Hêghen, sau đóLênin phát triển trong điều kiện, hoàn cành mới và chúng ta kế thừa Đây là hình thức cao

Trang 18

nhất của phép biện chứng Nó dựa trên những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên và

là hình thức cao nhất của tư duy khoa học hiện đại

b Phép biện chứng duy vật

Đặc trưng cơ bản của phép biện chứng duy vật:

- Thứ nhất, thế giới được xem như một chỉnh thể thống nhất và duy nhất, trong đó các

sự vật phụ thuộc và chế ước lẫn nhau, tất cả chúng đều liên hệ và tác động lẫn nhau

- Thứ hai, thế giới luôn trong trạng thái vận động, biến đổi và phát triển không ngừng.Tất cả chúng đều trong dòng chảy vận động và biến hóa

- Thứ ba, phát triển của các sự vật trong thế giới là quá trình vận động tiến lên (từ thấpđến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn) theo đường "xoáyốc" Trong đó nguồn gốc, động lực của sự phát triển là thống nhất và đấu tranh của các mặtđối lập; phương thức và trạng thái của sự phát triển là sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thayđổi về chất và ngược lại; khuyng hướng phát triển là tiến lên qua nhiều lần phủ định theođường "xoáy ốc"

- Thứ tư, phép biện chứng duy vật mácxít còn thể hiện thông qua những cặp phạm trù

cơ bản như: cái riêng - cái chung, nguyên nhân - kết quả, bản chất - hiện tượng,

Thứ năm, phép biện chứng duy vật mácxít đồng thời là nhận thức luận, là lôgic học học thuyết về tính biện chứng của các khái niệm, phạm trù, quy luật và của các hình thái tưduy

-Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật bao gồm hai nguyên lý cơ bản, ba quyluật cơ bản và sáu cặp phạm trù cơ bản

Giá trị khoa học và thực tiễn của phép biện chứng duy vật: Khắc phục được những hạnchế vốn có của phép biện chứng tự phát thời cổ đại cũng như những sai lầm của phép biệnchứng duy tâm khách quan cổ điển Đức, làm cho phép biện chứng duy vật trở thành mộtkhoa học; Trở thành công cụ để con người nhận thức và cải tạo thực tiễn

2.2 Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật

a Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

- Định nghĩa:

+ Liên hệ là khái niệm chỉ sự phụ thuộc lẫn nhau, sự ảnh hưởng, sự tương tác vàchuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của mộthiện tượng trong thế giới

+ Liên hệ phổ biến là khái niệm nói lên rằng mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới (cả

tự nhiên, xã hội và tư duy) dù đa dạng, phong phú,nhưng đều nằm trong mối liên hệ với các

sự vật, hiện tượng khác

+ Cơ sở của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới

- Các tính chất của mối liên hệ phổ biến:

+ Tính khách quan – nghĩa là không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người.Mọi mối liên hệ đều là vốn có của sự vật, hiện tượng

+ Tính phổ biến - nghĩa là mối liên hệ tồn tại cả trong tự nhiên, xã hội và tư duy, cómọi nơi mọi lúc

+ Tính đa dạng: sự vật khác nhau, hiện tượng khác nhau, không gian khác nhau, thờigian khác nhau thì các mối liên hệ thể hiện khác nhau Chẳng hạn mối liên hệ bên trong –bên ngoài, tất yếu – ngẫu nhiên, trực tiếp – gián tiếp, chủ yếu – thứ yếu …

c Ý nghĩa phương pháp luận

- Đây là cơ sở lí luận của quan điểm toàn diện trong hoạt động nhận thức và thực tiễn

- Quan điểm này yêu cầu, phải xem xét tất cả các mặt, các mối liên hệ và các khâutrung gian của sự vật; đồng thời phải nắm được và đánh giá đúng vị trí, vai trò của từng mặt,

Trang 19

từng mối liên hệ trong quá trình hình thành, vận động, phát triển và diệt vong của sự vật

- Để cải tạo sự vật trên thực tế phải sử dụng đồng bộ nhiều giải pháp

- Phải biết phân loại đúng các mối liên hệ, trên cơ sở đó nhận thức đúng và giải quyếtthúc đẩy sự vật tiến lên

b Nguyên lý về sự phát triển

- Định nghĩa:

+ Sự phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từthấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật

+ Khái niệm “phát triển” và khái niệm “vận động” có sự khác nhau Vận động là mọi

biến đổi nói chung, chưa nói lên khuynh hướng cụ thể: đi lên hay đi xuống, tiến bộ hay lạchậu Còn phát triển là sự vận động theo khuynh hướng đi lên

- Tính chất của sự phát triển:

+ Tính khách quan, nghĩa là phát triển của sự vật là tự thân, nguồn gốc của sự pháttriển nằm ngay trong bản thân sự vật, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người+ Tính phổ biến: phát triển diễn ra trong tự nhiên, xã hội và tư duy của con người Mọi

sự vật đều nằm trong những quá trình phát triển, chịu sự chi phối của các quá trình pháttriển

+ Tính đa dạng: Tuỳ thuộc vào hình thức tồn tại cụ thể của các dạng vật chất mà pháttriển diễn ra cụ thế khác nhau

- Ý nghĩa phương pháp luận:

+ Từ nguyên lý này rút ra quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử - cụ thể trong

nhận thức sự vật

+ Quan điểm phát triển yêu cầu: khi xem xét sự vật, hiện tượng phải nhận thức sự vậttrong sự vận động, phát triển; phải nhìn thấy khuynh hướng phát triển trong tương lai củachúng; cái cũ, cái lạc hậu sẽ mất đi; cái mới, cái tiến bộ sẽ ra đời thay thế cái cũ, cái lạc hậu.+ Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu: phải xem xét sự vật, hiện tượng trong quá trìnhvận động phát triển; nó ra đời trong hoàn cảnh như thế nào? Trải qua những giai đoạn pháttriển như thế nào? Mỗi giai đoạn có tính tất yếu và đặc điểm như thế nào? Bởi vì có xem xéttrong quá trình lịch sử - cụ thể như vậy, chúng ta mới phát hiện ra cái lôgic phát triển kháchquan của sự vật

2.3 Những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật

a Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

Đây là một trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật duy vật Nó nói lên

nguồn gốc, động lực của sự phát triển Quy luật này là hạt nhân của phép biện chứng

Mặt đối lập là những mặt có thuộc tính, khuynh hướng vận động trái ngược nhau, bài

trừ, gạt bỏ, chống đối lẫn nhau, nhưng tồn tại gắn bó với nhau trong một thể thống nhất hợpthành một mâu thuẫn

Mặt đối lập biện chứng là phạm trù triết học chỉ những mặt có thuộc tính, khuynh

hướng vận động trái ngược nhau, bài trừ, gạt bỏ, chống đối lẫn nhau, nhưng tồn tại gắn bóvới nhau trong một thể thống nhất Ví dụ: Đồng hóa và dị hóa

Mâu thuẫn biện chứng là sự liên hệ tác động qua lại lẫn nhau của hai mặt đối lập biện

chứng

Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập:

- Sự thống nhất giữa các mặt đối lập được hiểu theo ba nghĩa:

Sự nương tựa vào nhau, làm điều kiện, tiền đề tồn tại cho nhau của các mặt đối lập Giữa các mặt đối lập có những mặt đồng nhất, giống nhau, tương đồng nhau.

Trang 20

Giữa hai mặt đối lập có trạng thái cân bằng, tác động ngang nhau Lý luận về sự

thống nhất của các mặt đối lập là hạt nhân của phép biện chứng

- Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động lẫn nhau, bài trừ gạt bỏ, phủ định,

chống đối lẫn nhau của các mặt đối lập

Đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối Thống nhất của các mặt đối lập là tương đối

Sự đấu tranh của các mặt đối lập có quá trình phát triển từ thấp đến cao Lúc đầu chỉ là sự khácnhau của các mặt Về sau sự khác nhau biến thành sự đối lập Sự đấu tranh của các mặt đối lập từchỗ chưa gay gắt đến chỗ gay gắt hơn

- Sự giải quyết mâu thuẫn: Trong quá trình đấu tranh của các mặt đối lập, mâu thuẫn thường

xuyên được giải quyết, nhưng đó chỉ là sự giải quyết cục bộ; mâu thuẫn được giải quyết nhưngđược tái tạo trên cơ sở mới

Cho đến khi mâu thuẫn phát triển đến trình độ chín muồi thì nó mới có thể được giải quyếttriệt để hoàn toàn Sự giải quyết mâu thuẫn không chỉ phụ thuộc vào bản chất và trình độ chínmuồi của mâu thuẫn, mà còn phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể nhất định của sự tồn tại củanó

Vai trò của mâu thuẫn trong quá trình vận động, phát triển của sự vật Mâu thuẫn là nguồngốc, động lực của sự vận động, phát triển

- Đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự phát triển Nó phá vởthể thống nhất cũ, xác lập thể thống nhất mới với những mặt đối lập mới - sự vật phát triển

Sự liên tục vận động và biến đổi đó diễn ra cả trong tự nhiên và xã hội

- Khi hai mặt đối lập tác động lẫn nhau, cả hai mặt đối lập đều biến đổi, mâu thuẫn biến đổi

và được giải quyết thì mâu thuẫn cũ mất đi làm cho sự vật không còn là nó Sự vật mới ra đời,mâu thuẫn mới lại xuất hiện Cứ như vậy sự vật vận động, phát triển

Như vậy, mâu thuẫn và việc giải quyết mâu thuẫn chính là nguồn gốc và động lực của

sự vận động và phát triển

Một số loại mâu thuẫn:

- Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài:

+ Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lậpnhau của cùng một sự vật

+ Mâu thuẫn bên ngoài là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lậpnhau của các sự vật khác nhau Sự phân chia mâu thuẫn bên trong và bên ngoài chỉ mangtính tương đối Mâu thuẫn bên trong đóng vai trò quyết định đối với sự vận động phát triểncủa sự vật Mâu thuẫn bên ngoài đóng vai trò quan trọng nhưng chỉ phát huy tác dụng thôngqua mâu thuẫn bên trong

- Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản:

+ Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn qui định bản chất của sự vật và tồn tại trong suốt quátrình tồn tại của sự vật

+ Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn đặc trưng cho một phương diện nào đó của sựvật và qui định sự vận động, phát triển của phương diện đó của sự vật

- Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn không chủ yếu:

+ Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát triển nhấtđịnh của sự vật, hiện tượng; giữ vai trò quyết định sự vận động, phát triển của sự vật, hiệntượng trong giai đoạn đó

+ Mâu thuẫn không chủ yếu là mâu thuẫn mà việc giải quyết nó không quyết định việcgiải quyết các mâu thuẫn khác ở giai đoạn đó của sự vật

- Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng:

Trang 21

+ Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, tập đoàn người, nhữngnhóm xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhay không thể điều hoà Đó là mâu thuẫn giữa giaicấp bị bóc lột với giai cấp bóc lột; giữa các dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa đế quốc

+ Mâu thuẫn không đối kháng là là mâu thuẫn giữa những lực lượng, khuynh hướng xãhội có đối lập về lợi ích nhưng đó không phải là lợi ích căn bản, mà chỉ là lợi ích cục bộ,tạm thời Ví dụ: mâu thuẫn giữa công nhân và nông dân về những lợi ích tạm thời nào đó

Ý nghĩa phương pháp luận:

Thấy được động lực phát triển của sự vật không phải ở ngoài sự vật mà là những mâuthuẫn trong bản thân sự vật

Mâu thuẫn là khách quan, phổ biến nên nhận thức mâu thuẫn là cần thiết và phải kháchquan

Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi có đủ điều kiện chín muồi cho nên không được giảiquyết nóng vội khi chưa có điều kiện chín muồi, nhưng cũng không được để việc giải quyếtmâu thuẫn diễn ra tự phát

Trong hoạt động thực tiễn, khi xem xét một vấn đề hay một quá trình nào đó của thếgiới phải đặt nó trong những quan hệ và tình huống đối lập nhau

b Quy luật những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại (gọi tắt là quy luật lượng chất)

Quy lụât này nói lên cách thức của sự phát triển

Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật,

hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho nó là nó chứ không phải là cáikhác

Chất là khái niệm triết học, là khái niệm rộng nhất, không đồng nhất với khái niệmchất của các ngành khoa học cụ thể Như vậy, khái niệm chất trong triết học khác với kháiniệm chất thông thường

Chất cũng có nhiều cấp độ: chất toàn bộ, chất bộ phận

Chất xuất phát từ cấu trúc bên trong của sự vật và biểu hiện ra thông qua các thuộctính của sự vật

Chất biểu hiện thông qua tổng hợp các thuộc tính, trong đó có thuộc tính cơ bản và

thuộc tính không cơ bản Để phân biệt chất, người ta thường căn cứ vào một số thuộc tính

cơ bản của sự vật

Sự phân biệt giữa thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản chỉ có tính tương đối

tuỳ theo mối quan hệ của sự vật Sự phân biệt chất dựa trên một số thuộc tính cơ bản chỉ làbước đầu; đối với những sự vật phức tạp thì cần phải phân tích cụ thể, tỉ mỉ căn cứ vào cấutrúc bên trong của sự vật thì mới có được một sự đánh giá thật sự chính xác

Chất của sự vật là khách quan, tương đối ổn định, được biểu hiện thông qua cácthuộc tính và tùy thuộc vào các quan hệ cụ thể Sự phân biệt giữa chất và thuộc tính chỉmang tính tương đối

Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật,

biểu thị số lượng, quy mô (to nhỏ, nhiều ít ), cường độ (màu sắc đậm nhạt, âm thanh tonhỏ, ánh sáng tỏ mờ ), trình độ (trình độ học vấn, trình độ chuyên môn của một người,trình độ phát triển của một quốc gia ), tốc độ, nhịp điệu (nhanh chậm ) của sự vận động

và phát triển của sự vật cũng như các thuộc tính của sự vật

Lượng có thể đo được bằng con số Tuy nhiên, sự vật phức tạp thì thông số về lượngcủa nó cũng phức tạp; do đó để nhận thức được lượng của nó, phải sử dụng nhiều con sốthống kê và phải thông qua sự phán đoán, đánh giá của tư duy Ví dụ: lòng tốt, tình yêu

Trang 22

Chât và lượng là hai mặt thống nhất với nhau trong mỗi sự vật, hiện tượng Chất vàlượng là hai mặt gắn bó, không tách rời nhau Chất nào có lượng đó, lượng nào có chất đó.Chất và lượng có sự phù hợp với nhau Sự phù hợp này diễn ra trong một phạm vi, giới hạnnhất định gọi là “độ”.

Lượng đổi dẫn tới chất đổi:

+ Chất và lượng là hai mặt thống nhất hữu cơ với nhau, chúng thay đổi trong quan hệchặt chẽ với nhau Lượng thay đổi trước chất, nhưng không phải mọi sự thay đổi của lượngđều ngay lập tức làm thay đổi căn bản chất của nó

+ Sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi về chất chỉ trong giới hạn nhất định Vượtquá giới hạn đó sẽ làm cho sự vật không còn là nó, chất cũ mất đi, chất mới ra đời

+ Giới hạn mà trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi về chất được gọi là

độ (là phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, là giới hạn trong đó

sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật).

+ Những điểm giới hạn mà khi sự thay đổi về lượng đạt tới đó sẽ làm cho sự thay đổi

về chất của vật diễn ra được gọi là điểm nút.

+ Sự thay đổi về chất do những thay đổi về lượng trước đó gây ra gọi là bước nhảy.

- Khi chất mới ra đời nó sẽ tác động trở lại đối với sự biến đổi của lượng trong quátrình phát triển của sự vật (làm thay đổi quy mô, nhịp điệu, tốc độ phát triển của sự vật) Các hình thức của bước nhảy:

+ Bước nhảy đột biến (chất của sự vật biến đổi một cách nhanh chóng ở tất cả các bộphận cơ bản, cấu thành sự vật)

+ Bước nhảy dần dần (là quá trình thay đổi về chất diễn ra bằng con đường tích lũydần dần những nhân tố của chất mới và mất đi dần dần những nhân tố của chất cũ)

+ Bước nhảy toàn bộ là bước nhảy làm thay đổi về chất tất cả các mặt, các bộ phận,các yếu tố cấu thành sự vật

+ Bước nhảy cục bộ là bước nhảy làm thay đổi một số mặt, một số bộ phận, yếu tố cấuthành sự vật

+ Trong lĩnh vực xã hội, thay đổi về lượng được gọi là “tiến hóa”, thay đổi về chấtđược gọi là “cách mạng”

* Ý nghĩa phương pháp luận:

- Muốn có thay đổi về chất phải tích luỹ về lượng, không được nóng vội chủ quan

- Khi tích luỹ đủ về lượng cần thực hiện bước nhảy, tránh bảo thủ, trì trệ, ngại khó

- Phân biệt và vận dụng sáng tạo bước nhảy

- Để sự vật còn là nó phải nhận thức được độ của nó và không để cho lượng thay đổivượt quá giới hạn độ

c Quy luật phủ định của phủ định

Sự phủ định là tất yếu đối với mọi sự vận động và phát triển – đó là sự bài trừ, bác bỏ

sự vật nhất định nào đó Nói cách khác, phủ định là một quá trình vận động trong đó sự vật,

hiện tượng này được thay thế bởi sự vật, hiện tượng khác (đây là sự biến đổi nói chung).

Có hai loại phủ định: siêu hình và biện chứng

Phủ định siêu hình là sự phủ định sạch trơn, sự phủ định không tạo tiền đề cho sự

phát triển tiếp theo, lực lượng phủ định ở bên ngoài sự vật

Phủ định biện chứng là quá trình tự phủ định, tự phát triển, là mắt khâu trên con

đường dẫn tới sự ra đời của cái mới, cái tiến bộ hơn so với cái tự phủ định

+ Đặc điểm của phủ định biện chứng

Tính khách quan: là sự tự thân phủ định, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của

con người

Trang 23

Tính kế thừa: cái mới phủ định cái cũ không loại bỏ hoàn toàn cái cũ mà kế thừa

những yếu tố tích cực của cái cũ để từ đó phát triển lên

Phủ định của phủ định Hình thức xoáy ốc của sự phát triển.

- Phủ định của phủ định là khái niệm nói lên rằng, sự vận động, phát triển của sự vậtthông qua hai lần phủ định biện chứng, dường như quay lại cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn

- Phủ định lần thứ nhất chuyển cái xuất phát thành cái đối lập mình; phủ định lần thứhai chuyển cái trung gian thành cái đối lập với nó, sự vật dường như lặp lại cái xuất phátnhưng trên cơ sở mới cao hơn

- Sự phủ định của phủ định là giai đoạn kết thúc một chu kỳ phát triển, đồng thời lại làđiểm xuất phát của một chu kỳ phát triển tiếp theo, tạo ra đường xoáy ốc của sự phát triển.Mỗi đường mới của đường xoáy ốc thể hiện một trình độ cao hơn của sự phát triển Sự tiếpnối nhau của các vòng xoáy ốc thể hiện tính vô tận của sự phát triển

- Số lần phủ định đối với mỗi chu kỳ của từng sự vật, hiện tượng cụ thể là khác nhau.Thông thường một sự vật, hiện tượng phải trải qua ít nhất hai lần phủ định mới kết thúc mộtchu kỳ phát triển, tuy nhiên đối với những sự vật phức tạp số lần phủ định có thể nhiều hơn

- Vận động, phát triển đi lên là xu hướng chung của thế giới, nhưng không diễn ra theo

đường thẳng mà theo đường “xoáy ốc” quanh co, phúc tạp, do cái mới ra đời, còn non nớtchưa đủ khả năng thắng cái cũ và bị cái cũ tác động trở lại gây khó khăn, cản trở nên tạmthời thụt lùi

Ý nghĩa phương pháp luận

- Cho ta cơ sở để hiểu sự ra đời của cái mới, mối liên hệ giữa cái cũ và cái mới

- Chống thái độ phủ định sạch trơn

- Phải biết sàng lọc những gì tích cực của cái cũ

- Chống thái hư vô chủ nghĩa đồng thời chống bảo thủ khư khư ôm lấy những gì đã lỗithời lạc hậu, không chịu đổi mới

- Phải hiểu phát triển không phải là đường thẳng

3 NHẬN THỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN

3.1 Bản chất của nhận thức

a Các quan điểm về nhận thức của một số trào lưu triết học trước Mác

- Thuyết bất khả tri phủ nhận khả năng nhận thức thế giới của con người; cho rằng con

người chỉ nhận thức được hiện tượng, không nhận thức được bản chất của sự vật

- Chủ nghĩa duy tâm khách quan: Platon: nhận thức là sự hồi tưởng về thế giới ý niệm

có trước thế giới vật chất Hêghen: nhận thức là sự tự nhận thức của ý niệm tuyệt đối có trước thế giới tự nhiên Tôn giáo: Nhận thức nhờ sự mặc khải (revelation: sự tiết lộ) của

Thượng đế

- Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: (Beccli, Hium) Nhận thức chỉ là sự phản ánh những

trạng thái chủ quan bên trong con người (cảm giác, tâm lý, xúc cảm ) của chủ thể Nhậnthức chỉ là sự phức hợp những cảm giác của con người Còn chủ nghĩa duy tâm khách quanlại coi nhận thức là sự “hồi tưởng lại” của linh hồn bất tử về “thế giới các ý niệm”

- Chủ nghĩa duy vật trước Mác: Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan.

Nhận thức bắt nguồn từ cảm giác Nhận thức đi từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính

(tư duy) Tuy nhiên, họ coi nhận thức chỉ là sự sao chép đơn giản, máy móc; không thấy tính sáng tạo của phản ánh Cho rằng nhận thức chỉ một lần là đạt được chân lý; không thấy

nhận thức là quá trình biện chứng Không thấy vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhậnthức

Tóm lại, tất cả các trào lưu triết học trước Mác đều quan niệm sai lầm hoặc phiến diện

về nhận thức, những vấn đề về lý luận nhận thức chưa được giải quyết một cách khoa học,

Trang 24

đặc biệt là chưa thấy được đầy đủ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.

b Quan điểm duy vật biện chứng về nhận thức

Bản chất của nhận thức

- Nhận thức là sự phản ánh thế giới hiện thực khách quan vào trong bộ não người Đó

là sự phản ánh năng động, sáng tạo, dựa trên hoạt động tích cực của chủ thể trong mối quan

hệ với khách thể

- Khẳng định khả năng nhận thức thế giới của con người

- Nhận thức là quá trình biện chứng, có vận động biến đổi, phát triển, đi từ chưa biếtđến biết, từ biết ít đến biết nhiều hơn nhưng không có giới hạn cuối cùng

- Nhận thức phải dựa trên cơ sở thực tiễn, lấy thực tiễn làm mục đích nhận thức, tiêuchuẩn kiểm tra chân lý

Chủ thể và khách thể nhận thức

- Con người là chủ thể nhận thức (có thể là một cá nhân, một giai cấp, một dân tộc, cảloài người) với những điều kiện lịch sử cụ thể

- Khách thể nhận thức trả lời cho câu hỏi cái gì được nhận thức Khách thể nhận thức

là một bộ phận, một lĩnh vực của hiện thực khách quan, nằm trong miền hoạt động nhậnthức và trở thành đối tượng nhận thức của chủ thể nhận thức Do đó, khách thể nhận thức cóthể là thế giới vật chất, hoặc tư duy, tình cảm, tâm lý Như vậy, khách thể nhận thức luônthay đổi cùng với sự phát triển của nhận thức và thực tiễn của con người

3.2 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

a Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

- Đặc trưng của thực tiễn:

+ Là hoạt động vật chất cảm tính Đó là hoạt động mà con người phải dùng công cụ vậtchất, lực lượng vật chất tác động vào đối tượng vật chất để làm thay đổi chúng Ví dụ: càyruộng, đào đất, xây nhà…

+ Có tính lịch sử - xã hội Nghĩa là hoạt động thực tiễn là hoạt động của con người,diễn ra trong xã hội với sự tham gia của đông đảo người và trải qua những giai đoạn lịch sửnhất định

+ Có tính mục đích – nhằm trực tiếp cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ con người

- Các hình thức cơ bản của thực tiễn:

+ Hoạt động sản xuất vật chất: Đây là hình thức cơ bản của hoạt động thực tiễn, có vaitrò quyết định và là cơ sở cho các hoạt động khác của thực tiễn

+ Hoạt động làm biến đổi các quan hệ xã hội: Đây là hình thức cao nhất của hoạt độngthực tiễn Bao gồm những hoạt động của con người trong các lĩnh vực chính trị - xã hội

+ Quan sát và thực nghiệm khoa học là một hình thức đặc biệt của hoạt động thực tiễn.

b Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

- Thực tiễn là cơ sở của nhận thức:

+ Chỉ thông qua hoạt động thực tiễn, các sự vật, hiện tượng mới bộc lộ những thuộctính vốn có của nó, nhờ vậy chúng ta mới nhận thức được sự vật hiện tượng Mọi tri thứccủa con người đều bắt nguồn từ thực tiễn

Trang 25

+ Tri thức của thế hệ này có được phần lớn là do kế thừa từ thế hệ trước nhưng suy chocùng mọi tri thức của thế hệ trước được hình thành nên đều dựa vào thực tiễn.

- Thực tiễn là động lực của nhận thức:

+ Thông qua hoạt động thực tiễn đặt ra nhu cầu nhờ đó thúc đẩy nhận thức của conngười, hình thành hệ thống các ngành khoa học, kể cả các ngành khoa học xã hội nhân văn.Mặt khác, thông qua hoạt động thực tiễn các giác quan của con người, đặc biệt là bộ nãohình thành và ngày càng hoàn thiện, nhờ đó mới mở rộng khả năng nhận thức của conngười

+ Cùng với quá trình hoạt động thực tiễn con người đã tạo ra được những phương tiện,công cụ nhận thức tăng cường nhằm mở rộng khả năng nhận thức cho con người Do đó,các giác quan của con người được “nối dài” ra

- Thực tiễn là mục đích của quá trình nhận thức:

+ Nhận thức của con người bị chi phối bởi nhu cầu sống, nhu cầu tồn tại Ngay từ thủamông muội, để sống con người phải tìm hiểu thế giới xung quanh

+ Những tri thức, kết quả nhận thức chỉ có ý nghĩa đích thực khi được vận dụng vàothực tiễn phục vụ con người

- Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý: Vì nhận thức của con người có thể đúng, có thể sai, cóthể chân thật hay giả dối Vì vậy, muốn đo được tính chất và độ đáng tin cậy của nhận thức đòi hỏicon người phải quay về với thực tiễn, lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn của chân lý

Phải hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý một cách biện chứng, nghĩa là nó vừa có tínhtuyệt đối, vừa có tính tương đối :

+ Tính tuyệt đối thể hiện ở chỗ, thực tiễn ở những giai đoạn lịch sử cụ thể là tiêu chuẩn kháchquan duy nhất có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm

+ Tính tương đối thể hiện ở chỗ, bản thân thực tiễn luôn vận động, biến đổi phát triển Chonên, khi thực tiễn thay đổi thì nhận thức cũng phải thay đổi theo cho phù hợp Nghĩa là những trithức đã đạt được trước đây hiện nay vẫn phải được kiểm nghiệm thông qua thực tiễn

Ý nghĩa phương pháp luận: Khi nhận thức sự vật, hiện tượng phải gắn nó với nhu cầu thựctiễn, lấy thực tiễn để kiểm tra chân lý Vì thực tiễn luôn luôn thay đổi nên nhận thức cũng phảiluôn thay đổi theo Trong quá trình học tập và rèn luyện phải luôn gắn liền lý luận với thực tiễn,học luôn đi đôi với hành

3.3 Con đường biện chứng của quá trình nhận thức

Theo Lênin, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đếnthực tiễn là con đường biện chứng của quá trình nhận thức

a Trực quan sinh động (nhận thức cảm tính)

Trực quan sinh động hay nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận

thức được biểu hiện dưới ba hình thức: cảm giác, tri giác và biểu tượng

Con người có năm cơ quan cảm giác, mỗi cảm giác giúp ta nhận biết một thuộc tính

nào đó của sự vật, hiện tượng Khi tiếp xúc với sự vật, với những cảm giác khác nhau chúng

ta cảm nhận nhiều thuộc tính của nó Sự tổng hợp nhiều thuộc tính khác nhau của sự vật donhững cảm giác đem lại được gọi là tri giác

So với cảm giác, tri giác đem lại cho chúng ta tri thức về sự vật đầy đủ hơn, và hoàn

chỉnh hơn Trên cơ sở cảm giác và tri giác trong óc con người xuất hiện một hình thức cao

hơn, đó là biểu tượng Biểu tượng là hình ảnh được tái hiện, được hình dung lại với những

thuộc tính nổi bật của sự vật

Giai đoạn nhận thức cảm tính đem lại cho ta những hiểu biết còn dừng lại ở cái bềngoài, cái hiện tượng, cái đơn nhất mà ở đó chưa thể khám phá được những thuộc tính bản

Trang 26

chất, những quy luật vận động của sự vật, hiện tượng Nhận thức chỉ khám phá được nhữngthông tin sâu sắc đó trong giai đoạn kế tiếp là tư duy trừu tượng.

b Tư duy trừu tượng (nhận thức lý tính)

Tư duy trừu tượng hay nhận thức lý tính được đặt nền móng từ nhận thức cảm tính,

nhưng phản ánh hiện thực sâu sắc hơn, rõ nét hơn Tư duy trừu tượng bao gồm ba hình thức

cơ bản: khái niệm, phán đoán, suy luận

Khái niệm phản ánh những thuộc tính bản chất và chung của một sự vật hay một nhóm

sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Khái niệm là kết quả của sự tổng hợp, kháiquát biện chứng những tài liệu do nhận thức cảm tính đem lại Ngoài ra, mối liên hệ giữacác khái niệm trong quá trình nhận thức cũng dẫn đến sự hình thành khái niệm mới, có khảnăng phản ánh sâu sắc hơn về bản chất thế giới

Phán đoán là hình thức liên hệ giữa các khái niệm đã có lại với nhau nhằm khẳng định

hoặc phủ định một thuộc tính, quan hệ nào đó của sự vật, hiện tượng Phán đoán phản ánhnhững mối quan hệ, liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng và các mặt của chúng Phán đoán làhình thức biểu đạt các quy luật khách quan

Suy luận là sự liên kết một số phán đoán đã biết lại với nhau để tạo ra một phán đoán

mới Trong suy luận, ta nhận thức thế giới một cách gián tiếp, thể hiện quá trình vận độngcủa tư duy từ những tri thức đã đạt được để suy ra tri thức mới

c Phép biện chứng của quá trình phát triển nhận thức

Trước thế giới vật chất vô cùng tận và vận động phát triển không ngừng, con ngườiphải luôn tìm kiếm, khám phá tri thức về thế giới Nhận thức là một quá trình vận động biệnchứng Đó là quá trình đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừutượng đến thực tiễn, từ cái đơn giản đến phức tạp, từ bộ phận đến toàn thể,…từ số lượngđến chất lượng ; đó là quá trình mâu thuẫn giữa cái không biết đến biết, từ hiểu biết kém sâusắc cho đến sâu sắc hơn, giữa chủ thể và khách thể…; là quá trình chọn lọc và kế thừa tíchcực tri thức cũ để có những hiểu biết mới hơn, làm cho nhận thức của con người ngày càngsâu sắc hơn, nắm bắt được bản chất và các quy luật của thế giới khách quan phục vụ chohoạt động thực tiễn của con người

Trang 27

Bài 3 NHỮNG QUY LUẬT CƠ BẢN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

1 SẢN XUẤT VÀ PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT

1.1 Sự biến đổi của Phương thức sản xuất

a Sản xuất và vai trò của sản xuất vật chất

- Khái niệm sản xuất vật chất:

+ Khác với các nhà tư tưởng tiền bối, điểm xuất phát của C Mác, đó là những cá nhânhiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ Với cách tiếpcận đúng đắn này, C Mác đã tìm thấy chiếc chìa khoá để giải mã những vấn đề phức tạpcủa xã hội mà trước ông chưa ai làm đuợc

+ Sản xuất vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động (tác động trực tiếphoặc gián tiếp) vào tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của giới tự nhiên, tạo ra của cải xãhội nhằm thoả mãn nhu cầu tồn tại và phát triển, nhu cầu phong phú và vô tận của conngười

- Vai trò của sản xuất vật chất đối với đời sống xã hội :

+ Sản xuất vật chất là yêu cầu khách quan của sự sinh tồn xã hội Mọi người trong xãhội đều có nhu cầu tiêu dùng (thức ăn, quần áo, nhà ở và các đồ dùng khác) Muốn vậy, phảisản xuất vật chất, bởi lẽ chính sản xuất vật chất càng phát triển thì mức tiêu dùng của conngười và xã hội càng cao và ngược lại

+ Sản xuất vật chất là cơ sở để hình thành các quan hệ xã hội khác như: quan hệ chínhtrị, pháp quyền, đạo đức

+ Sản xuất vật chất là cơ sở cho sự tiến bộ xã hội, là điều kiện để phát triển đời sốngtinh thần của con người và xã hội

b Sự biến đổi của Phương thức sản xuất trong lịch sử

- Vai trò của phương thức sản xuất:

+ Phương thức sản xuất quyết định tính chất, kết cấu của xã hội

+ Khi phương thức sản xuất mới ra đời thay thế phương thức sản xuất cũ lỗi thời thìsớm hay muộn sẽ có sự thay đổi cơ bản từ kết cấu kinh tế đến kết cấu giai cấp; từ các quanđiểm chính trị xã hội đến các tổ chức xã hội

- Kết cẩu của phương thức sản xuất: Mỗi phương thức sản xuất bao gồm hai mặt cấuthành là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

+ Lực lượng sản xuất: Là thể thống nhất hữu cơ giữa tư liệu sản xuất (trước hết là công

cụ lao động) và con người với kinh nghiệm, kỹ năng, tri thức lao động của họ

LLSX do con người tạo ra nhưng mang tính khách quan Nó biểu hiện mối quan hệgiữa con người với tự nhiên LLSX nói lên năng lực thực tiễn của con người trong quá trìnhchinh phục tự nhiên Nó là sản phẩm của sự kết hợp giữa lao động sống và lao động quákhứ

Trang 28

LLSX là tiêu chí quan trọng để chỉ ra những nấc thang của sự tiến bộ xã hội vì các chế

độ kinh tế khác nhau ở chỗ nó sản xuất bằng cách nào, với công cụ lao động nào Các yếu tốtrong LLSX không thể tách rời nhau, chúng có quan hệ hữu cơ với nhau trong đó yếu tố conngười giữ vị trí hàng đầu, TLSX đóng vai trò rất quan trọng và khoa học kỹ thuật ngày càngtrở thành LLSX trực tiếp của xã hội

+ Quan hệ sản xuất: là những quan hệ cơ bản giữa người với người trong quá trình sản

xuất thể hiện ở quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức quản lý sản xuất và quan

hệ trong phân phối sản phẩm Trong đó quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất đóng vai tròquyết định

QHSX mang tính khách quan, nó được hình thành trong quá trình phát triển lịch sử.QHSX là quan hệ cơ bản quyết định tất cả các quan hệ xã hội khác của con người

QHSX là tiêu chí quan trọng để phân biệt các hình thái KT – XH trong lịch sử

- Các phương thức sản xuất trong lịch sử:

+ Mỗi hình thái kinh tế - xã hội có một phương thức sản xuất đặc trưng nhất định vàtheo đó có một phương thức sinh hoạt xã hội nhất định

+ Các phương thức sản xuất trong lịch sử thay thế lẫn nhau một cách tất yếu kháchquan bằng các cuộc cách mạng xã hội Lịch sử phát triển của PTSX trong xã hội loài người

là lịch sử phát triển rất phong phú, đa dạng, sinh động qua các thời kỳ, các giai đoạn Lịch

sử phát triển PTSX của các xã hội khác nhau đều mang những dấu ấn, những bước pháttriển quanh co, phức tạp khác nhau Cụ thể bao gồm: PTSX cộng sản nguyên thuỷ, chiếmhữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa Sự biến đổi các PTSX trong lịch

sử do tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất quy định

1.2 Những quy luật xã hội cơ bản

a Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất

- LLSX và QHSX là hai phương diện cơ bản, tất yếu của mỗi PTSX, LLSX là nội dungvật chất, kỹ thuật, công nghệ của quá trình này, còn QHSX đóng vai trò là hình thức kinh tếcủa quá trình đó Cho nên mối quan hệ giữa LLSX và QHSX là mối quan hệ tất yếu giữanội dung và hình thức của cùng một quá trình sản xuất khách quan của xã hội

- Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất:

+ Xu hướng của sản xuất vật chất là không ngừng biến đổi và phát triển Sự biến đổi

đó bao giờ cũng bắt đầu bằng sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất mà trước hết

là công cụ lao động

+ Lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất, cách mạng nhất, nó luôn luôn vận động và

biến đổi trong quá trình lịch sử

+ Lực lượng sản xuất là nội dung, còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quátrình sản xuất Sự biến đổi trong lực lượng sản xuất sớm muộn cũng kéo theo sự biến đổitrong quan hệ sản xuất

+ Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất tất yếu dẫn đến đấu tranhgiai cấp mà đỉnh cao của nó là cách mạng xã hội nhằm xoá bỏ xiềng xích trói buộc lựclượng sản xuất để xác lập quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ của lựclượng sản xuất

- Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với trình độ phát triển và tính chất củalực lượng sản xuất:

Thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình

độ lực lượng sản xuất; Kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, nếu quan hệ sản xuấtkhông phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất Tác dụng kìm hãm của lực lượng sản xuất

Trang 29

không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu so với trình độ lực lượng sản xuất, mà

cả trong trường hợp có những yếu tố của quan hệ sản xuất vượt trước trình độ phát triển củalực lượng sản xuất

- Mối quan hệ giữa LLSX và QHSX là mối quan hệ mâu thuẫn biện chứng, tức là mốiquan hệ thống nhất của hai xu hướng có khả năng vận động trái ngược nhau Sở dĩ quan hệgiữa LLSX và QHSX là biện chứng vì tính chất biến đổi của LLSX và QHSX là khác nhau:LLSX có xu hướng “động”, còn QHSX lại có xu hướng “tĩnh” Hai xu hướng này củaLLSX và QHSX đều tồn tại khách quan

- Tiêu chí của sự phù hợp được biểu hiện thông qua sự tác động biện chứng giữa lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất mà năng suất lao động tăng, người lao động hăng háisản xuất, lực lượng sản xuất phát triển

- Biểu hiện của quy luật trong lịch sử:

+ Đây là quy luật chung nhất chi phối toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại

+ Đây là quy luật xã hội phổ biến, cơ bản của mọi hình thái kinh tế - xã hội, cùng vớicác quy luật xã hội khác, nó quy định sự vận động phát triển của tiến trình lịch sử nhân loại.+ Quy luật này làm cho lịch sử là một dòng chảy liên tục song mang tính gián đoạn.+ Trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, quy luật này có những biểu hiện đặc thù của nó

b Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa Cơ sở hạ tầng và Kiến trúc thượng tầng

- Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

+ Cơ sở hạ tầng (CSHT) là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tếcủa một hình thái kinh tế - xã hội nhất định

Đặc trưng của CSHT là do quan hệ sản xuất thống trị quy định Điều đó chứng tỏ mộtCSHT có nhiều thành phần kinh tế, nhiều quan hệ sản xuất (QHSX thống trị, tàn dư và mầmmống), QHSX thống trị sẽ giữ địa vị chi phối các quan hệ sản xuất khác

+ Kiến trúc thượng tầng (KTTT) là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền,

triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật v.v… cùng với các thiết chế xã hội tương ứng nhưnhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội … hình thành trên một cơ sở xã hội nhấtđịnh

Các yếu tố cơ bản hợp thành KTTT có đặc điểm riêng, có qui luật phát triển riêngnhưng đều liên hệ với nhau, đều nảy sinh trên CSHT nhất định

Trong xã hội có giai cấp đối kháng, KTTT cũng mang tính giai cấp Nhà nước – công

cụ của giai cấp thống trị, bộ phận có quyền lực đặc biệt nhất trong KTTT

- Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

* Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng.

+ CSHT nào thì nảy sinh ra KTTT ấy, qui định tính chất của KTTT

+ CSHT thay đổi thì sớm hay muộn KTTT cũng phải thay đổi theo Sự thay đổi đókhông chỉ diễn ra trong giai đoạn thay đổi từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình tháikinh tế - xã hội khác, mà còn diễn ra ngay trong bản thân mỗi hình thái kinh tế - xã hội.+ Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào chiếm vị trí thống trị về kinh tế thì cũng chiếmđịa vị thống trị về đời sống chính trị Mâu thuẫn trong lĩnh vực kinh tế, xét đến cùng nó sẽquyết định mâu thuẫn trong lĩnh vực chính trị, tư tưởng

* Vai trò tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng.

+ Chức năng xã hội của KTTT là bảo vệ, duy trì, củng cố và phát triển CSHT sinh ra

nó, chống lại mọi nguy cơ làm suy yếu hoặc phá hoại chế độ kinh tế đó

+ Trong các yếu tố cấu thành KTTT thì nhà nước là yếu tố có tác động mạnh mẽ nhấtđối với CSHT, vì đó là bộ máy bạo lực, tập trung quyền lực của giai cấp thống trị về kinh tế

Trang 30

Các yếu tố khác của KTTT như triết học, đạo đức, nghệ thuật cũng đều tác động đếnCSHT bằng những cách khác nhau Thường những tác động đó phải thông qua nhà nước,pháp quyền thì mới phát huy được hiệu lực đối với CSHT, cũng như đối với toàn xã hội

Các yếu tố của KTTT không chỉ tác động đến CSHT mà chúng còn tác động lẫn nhau

(sự tác động đó thông qua nhà nước với những luật pháp tương ứng, có được hiệu lực mạnh

mẽ với CSHT)

+ Sự tác động của KTTT đối với CSHT diễn ra theo hai hướng:

Nếu KTTT phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan thì nó là động lực mạnh mẽthúc đẩy kinh tế phát triển Còn ngược lại thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của kinh tế, kìmhãm sự phát triển của xã hội Nhưng sự kìm hãm đó chỉ là tạm thời, sớm hay muộn, bằngcách này hay cách khác, KTTT cũ sẽ được thay thế bằng KTTT mới phù hợp với yêu cầucủa CSHT

+ Trong bản thân KTTT cũng diễn ra quá trình biến đổi, phát triển có tính chất tươngđối Qúa trình đó càng phù hợp với CSHT thì sự tác động của nó đối với CSHT càng cóhiệu quả

Do nhận thức được những quy luật kinh tế - xã hội khách quan, kiến trúc thượng tầngchính trị có vai trò định hướng những hoạt động thực tiễn đưa lại phương án phát triển tối

ưu cho kinh tế - xã hội

2 ĐẤU TRANH GIAI CẤP, NHÀ NƯỚC VÀ DÂN TỘC, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI 2.1 Giai cấp và đấu tranh giai cấp

a Vấn đề giai cấp

- Định nghĩa giai cấp của Lênin

“Người ta gọi là giai cấp những tập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vịcủa họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của

họ (thường thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với tưliệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội và như vậy là khác nhau vềcách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng Giai cấp lànhững tập đoàn người, mà tập đoàn này thì có thể chiếm đọat lao động của tập đoàn khác,

do chỗ tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế-xã hội nhất định”

- Theo Lênin, giai cấp có các đặc trưng sau

+ Là những tập đoàn người to lớn trong xã hội, khác nhau về địa vị kinh tế

+ Các giai cấp có quan hệ đối khác nhau đối với tư liệu sản xuất

+ Các giai cấp có vai trò khác nhau trong tổ chức lao động xã hội, tổ chức quản lý sảnxuất

+ Các giai cấp có cách thức và quy mô hưởng thụ (thu nhập) khác nhau

Trong đó, khác nhau về quan hệ đối với tư liệu sản xuất là sự khác nhau cơ bản nhất.Trong định nghĩa, Lênin chỉ ra thực chất của tình trạng xã hội phân chia giai cấp là do tậpđoàn này có thể chiếm đoạt sản phẩm lao động của tập đoàn khác

- Nguồn gốc giai cấp

+ Sự xuất hiện giai cấp gắn liền với lịch sử của nền sản xuất xã hội

Nguồn gốc sâu xa của sự ra đời giai cấp là do sự phát triển của LLSX, còn nguồn gốctrực tiếp của nó là do chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất

Sự hình thành giai cấp diễn ra bằng hai con đường:

+ Sự phân hóa trong nội bộ thị tộc, bộ lạc thành kẻ giàu – người nghèo; giai cấp bóclột thống trị và giai cấp bị bóc lột, bị thống trị

+ Chiến tranh cướp bóc là tăng thêm sự giàu có của giai cấp thống trị Tù binh bị bắttrong chiến tranh bị biến thành nô lệ Những người đứng đầu công xã do có địa vị xã hội

Trang 31

thâu tóm sức mạnh kinh tế, ngày càng giàu lên.

- Kết cấu giai cấp:

+ Kết cấu giai cấp gắn với một PTSX nhất định

+ Trong một hình thái kinh tế - xã hội dựa trên chế độ tư hữu có một kết cấu giai cấpnhất định Khi hình thái kinh tế - xã hội này thay đổi thì kết cấu giai cấp cũng thay đổi theo.+ Trong mỗi kết cấu giai cấp có những giai cấp cơ bản (do phương thức sản xuất thốngtrị sinh ra) và những giai cấp và thành phần không cơ bản (tàn dư của phương thức sản xuất

cũ, mầm mống của phương thức sản xuất mới)

Giai cấp cơ bản và không cơ bản có thể có sự chuyển hóa khi có một PTSX mới thaythế một PTSX trước nó

Định nghĩa giai cấp của Lênin là một định nghĩa khoa học có giá trị cả về lý luận vàthực tiễn Việc vận dụng lý luận trên đây để xem xét các giai cấp trong lịch sử cũng cầntránh giản đơn, bởi các quan hệ giai cấp biểu hiện thông qua nhiều hiện tượng phức tạp

b Đấu tranh giai cấp và vai trò của đấu tranh giai cấp đối với sự vận động, phát triển của xã hội có đối kháng giai cấp

Đấu tranh giai cấp là đấu tranh của một bộ phận nhân dân này chống một bộ phận

khác, là đấu tranh của những giai cấp có lợi ích cơ bản đối lập nhau, không thể điều hòađược Đó là cuộc đấu tranh của quần chúng bị thống trị, áp bức, bóc lột chống lại giai cấpthống trị, áp bức, bóc lột; là đấu tranh của giai cấp nô lệ chống giai cấp chủ nô, của giai cấpnông nô chống giai cấp địa chủ quý tộc phong kiến, đấu tranh của giai cấp vô sản chống giaicấp tư sản

- Đấu tranh giai cấp thực chất là cuộc đấu tranh giữa những giai cấp có lợi ích cơ bảnđối lập nhau

- Liên minh giai cấp là một tất yếu trong đấu tranh giai cấp

- Đấu tranh giai cấp là một trong những động lực phát triển của xã hội có giai cấp:+ Giải quyết được sự xung đột giữa LLSX mới và QHSX lạc hậu, thực hiện bước quá

độ từ xã hội lỗi thời sang chế độ xã hội mới cao hơn

+ Đấu tranh giai cấp dẫn đến đỉnh cao là cách mạng xã hội, thì mọi mặt của đời sống

xã hội phát triển với một nhịp độ chưa từng thấy “một ngày bằng 20 năm”

+ ĐTGC còn góp phần cải tạo giai cấp cách mạng, phát triển trên các lĩnh vực văn hoá,

tư tưởng, nghệ thuật

- Vấn đề đấu tranh giai cấp ở Việt Nam hiện nay:

+ Do những biến đổi của thời đại, vấn đề giai cấp, đấu tranh giai cấp diễn ra phức tạptrong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

+ Thực chất của đấu tranh giai cấp ở Việt Nam hiện nay là đấu tranh chống khuynhhướng tự phát tư bản chủ nghĩa và các thế lực thù địch với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xãhội

+ Nội dung chủ yếu là “thực hiện thắng lợi CNH – HĐH theo định hướng XHCN, khắcphục tình trạng nước nghèo, kém phát triển, thực hiện công bằng xã hội … Đấu tranh làmthất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ độc lập dântộc, xây dựng nước ta thành một nước XHCN phồn vinh, nhân dân hạnh phúc”

2.2 Nhà nước và dân tộc

a Nguồn gốc, bản chất, đặc trưng và chức năng của nhà nước

- Nhà nước là sản phẩm của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được

Nguyên nhân sâu xa của việc xuất hiện nhà nước là do nguyên nhân kinh tế Việc xuấthiện chế độ tư hữu đã làm nảy sinh các giai cấp có lợi ích đối lập nhau Do mâu thuẫn lợiích, nhất là lợi ích kinh tế các giai cấp đấu tranh với nhau

Trang 32

- Bản chất của Nhà nước:

+ Nhà nước là công cụ chuyên chính của giai cấp thống trị trong kinh tế nhằm bảo vệ

địa vị và lợi ích (trước hết là lợi ích kinh tế) của giai cấp đó

+ Nhà nước là một tổ chức chính trị - xã hội, một bộ phận quan trọng nhất của kiến

trúc thượng tầng có chức năng bảo vệ, duy trì QHSX thống trị

+ Nhà nước là một tổ chức cai trị thông qua giai cấp thống trị thực hiện quyền thống trịcủa mình trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

- Các đặc trưng cơ bản của nhà nước:

+ Quản lý dân cư trên một vùng lãnh thổ nhất định

+ Nhà nước có một bộ máy quyền lực công cộng mang tính cưỡng chế đối với mọi thành viên trong xã hội

+ Nhà nước hình thành hệ thống thuế khóa để duy trì và tăng cường bộ máy cai trị.

- Chức năng cơ bản của nhà nước :

Chức năng thống trị về chính trị và chức năng xã hội :

Chức năng thống trị về chính trị: Bất kỳ Nhà nước nào cũng là công cụ chuyên chínhcủa giai cấp thống trị, nó sẵn sàng sử dụng mọi công cụ, mọi biện pháp để trấn áp các giaicấp khác nhằm bảo vệ sự thống trị của giai cấp thống trị

Chức năng xã hội của Nhà nước: là chức năng Nhà nước thực hiện sự quản lý nhữnghoạt động chung vì sự tồn tại của xã hội

Hai chức năng đó có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó chức năng thống trị về chínhtrị quy định chức năng xã hội Khi xã hội không còn giai cấp thì những nội dung thuộc chứcnăng xã hội sẽ do xã hội tự đảm nhiệm; khi đó, chế độ tự quản của nhân dân được xác lập

Chức năng đối nội và chức năng đối ngoại.

+ Chức năng đối nội: Duy trì sự thống trị giai cấp đối với toàn xã hội Tổ chức quản lý

xã hội

+ Chức năng đối ngoại: thực hiện quan hệ về mặt nhà nước với các nhà nước khác, mởrộng quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục với các nước khác nhằm tăng cường sứcmạnh của nhà nước về mọi mặt và mở rộng ảnh hưởng của nước mình đối với các nướckhác

- Các kiểu và hình thức Nhà nước:

Căn cứ để phân biệt nhà nước này với nhà nước khác là dựa trên quan hệ giai cấp,quan hệ kinh tế, tương ứng với một hình thái kinh tế - xã hội nhất định Mỗi hình thái KT –

XH (khi XH có giai cấp) có một kiểu Nhà nước Trong lịch sử đã có các kiểu nhà nước: Chủ

nô, Phong kiến, tư sản và Nhà nước XHCN

Các hình thức Nhà nước: hình thức cai trị, cầm quyền, quân chủ hay cộng hoà

Trong các hình thức quân chủ và cộng hoà lại có nhiều hình thức, chẳng hạn: quân chủchuyên chế và quân chủ lập hiến Cũng hình thức cộng hoà nhưng có cộng hoà quí tộc,cộng hoà đại nghị, cộng hoà dân chủ

b Dân tộc

Dân tộc là một hình thức tổ chức cộng đồng người có tính chất ổn định được hình

thành trong lịch sử, là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của lịch sử xã hội Trước khidân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc,

bộ lạc, bộ tộc

Khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được

dùng phổ biến nhất: Thứ nhất, dân tộc là cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hoá đặc thù; Thứ hai,

dân tộc là một cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ, quốc

Trang 33

gia, nền kinh tế thống nhất, sử dụng ngôn ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc giacủa mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hoá và truyềnthống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước

Như vậy, dân tộc là một cộng đồng dân cư gồm có những đặc điểm chung thống nhất

chặt chẽ: Thứ nhất, cộng đồng về lãnh thổ, Thứ hai, cộng đồng về kinh tế, Thứ ba, cộng đồng về ngôn ngữ, Thứ tư, cộng đồng về văn hoá về tâm lý, tính cách Trong đó, đặc trưng

cộng đồng về kinh tế là quan trọng nhất

- Qúa trình hình thành dân tộc

Con người từ khi ra đời luôn luôn sống trong những cộng đồng khác nhau như thị tộc,

bộ lạc, bộ tộc Phải đến một giai đoạn nhất định thì dân tộc mới ra đời trên cơ sở phát triểncủa những cộng đồng nguyên thuỷ đó Sự hình thành dân tộc diễn ra không đồng đều giữacác vùng khác nhau

Ở Phương Tây, dân tộc ra đời cùng với sự ra đời của phương thức sản xuất TBCN Ởnhiều nước phương Đông, dân tộc xuất hiện sớm hơn do những nguyên nhân chính trị, vănhóa là chủ yếu

Dân tộc Việt Nam được hình thành sớm trong lịch sử, do nhu cầu đấu tranh cải tạo tựnhiên, chống ngoại xâm, giữ gìn độc lập, phát triển đất nước

- Quan hệ giai cấp với dân tộc:

+ Giai cấp và dân tộc không đồng nhất với nhau Giai cấp có trước dân tộc Sau nàygiai cấp mất đi nhưng dân tộc vẫn còn tồn tại lâu dài

+ Giai cấp giữ vai trò quyết định sự hình thành dân tộc, xu hương phát triển của dântộc, qui định bản chất xã hội của dân tộc, qui định tính chất của mối quan hệ giữa các dântộc

+ Bản chất xã hội của một dân tộc do PTSX thống trị và giai cấp đại diện cho PTSX ấyqui định

+ Áp bức giai cấp là nguyên nhân sâu xa của áp bức dân tộc Áp bức dân tộc nuôidưỡng, làm sâu sắc thêm áp bức giai cấp Do đó, muốn xoá bỏ cảnh áp bức dân tộc, thựchiện quan hệ bình đẳng dân tộc thì phải xoá bỏ sự thống trị của giai cấp bóc lột

+ Nhân tố giai cấp là nguyên nhân căn bản, hàng đầu trong phong trào đấu tranh giảiphóng dân tộc, chống chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc

Vấn đề dân tộc có nội dung toàn diện, nhạy cảm, mang tính chiến lược của mọi quốcgia Nhưng đặc điểm của vấn đề dân tộc trong những giai đoạn khác nhau có sự khác nhau,luôn biến động do điều kiện lịch sử và nhân loại Vì vậy, cần có quan điểm lịch sử, biệnchứng khi nghiên cứu về vấn đề này

3.3 Gia đình và xã hội

Gia đình là một cộng đồng xã hội đặc biệt gắn bó những con người với nhau bằng quan

hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi sản xuất ra của cảivật chất và sản sinh ra con người

Gia đình là tổ ấm đem lại hạnh phúc cho mỗi con người Trong gia đình, mọi thànhviên được chăm lo chu đáo với trách nhiệm và tình yêu thương, được an toàn, nghỉ ngơi, cânbằng tâm lý, sinh lý; là nơi sinh đẻ và nuôi dạy con cái làm cho xã hội tồn tại và phát triểnlâu dài Có con người thì có gia đình, còn tồn tại con người thì còn gia đình, xã hội càngphát triển thì gia đình càng hoàn thiện

Dưới chủ nghĩa xã hội, nhà nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo đã đề ranhững chính sách nhằm thủ tiêu những mọi quan niệm và hủ tục lạc hậu về gia đình

Đặc điểm của gia đình xã hội chủ nghĩa là gia đình một vợ một chồng, được xây dựng

trên cơ sở tình yêu chân chính Ngoài hai chức năng của gia đình nói chung, gia đình mới xã

Trang 34

hội chủ nghĩa có nhiệm vụ làm cho gia đình trở thành môi trường tốt để nuôi, dạy thế hệ trẻthành người lao động có đức, trí, thể, mỹ phát triển cao; tổ chức tốt đời sống vật chất và vănhóa tinh thần cho mọi thành viên có đời sống vật chất ngày càng đầy đủ, đời sống văn hóatinh thần phong phú.

Nhận thức rõ vấn đề gia đình Đảng ta chủ trương phát huy những giá trị truyền thốngtốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa,

hiện đại hóa “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách”.

3 Ý THỨC XÃ HỘI

3.1 Tính chất của ý thức xã hội

Ý thức xã hội là khái niệm chỉ các hiện tượng thuộc đời sống tinh thần của xã hội, phản

ánh tồn tại xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định

Ý thức xã hội là cái phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển khác nhaucủa xã hội, bao gồm những trạng thái tâm lý xã hội, những quan điểm chính trị, tư tưởng,đạo đức, triết học Ý thức xã hội phát triển cùng với sự phát triển xã hội trong lĩnh vực sảnxuất vật chất

Theo quan điểm duy vật lịch sử, tồn tại xã hội giữ vai trò quyết định ý thức xã hội Đây

là kết luận tất yếu của sự vận dụng nguyên lý vật chất quyết định ý thức vào việc phân tíchlĩnh vực đời sống xã hội Đồng thời, chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng khẳng định tính độc lậptương đối của ý thức xã hội

Kết cấu của ý thức xã hội

Ý thức xã hội là hiện tượng phức tạp, có thể xem xét, phân loại thành những cấp độkhác nhau:

Có thể phân ý thức xã hội thành hai cấp độ: ý thức xã hội thông thường và ý thức lýluận; tâm lý xã hội và hệ tư tưởng

- Tâm lý xã hội là một bộ phận của ý thức sinh hoạt đời thường, nó là biểu hiện của

những hoạt động và cử chỉ của con người Tâm lý xã bao gồm: tình cảm, tâm trạng, truyềnthống, thói quen, nguyện vọng, ý thích, thị hiếu riêng của mỗi người trong một hoàn cảnhnào đó

Hệ tư tưởng là nhận thức lý luận về tồn tại xã hội, là hệ thống những quan điểm, tư

tưởng (chính trị, triết học, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo) kết quả của sự khái quát hoá nhữngkinh nghiệm xã hội Hệ tư tưởng được hình thành một các tự giác bởi các nhà tư tưởng củanhững giai cấp nhất định

Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng có sự khác nhau nhưng giữa chúng đều có điểm giốngnhau Cả tâm lý xã hội và hệ tư tưởng đều có nguồn gốc chung đó là phản ánh tồn tại xã hội.Mặc dù đều có nguồn gốc chung nhưng sự phân biệt rạch ròi giữa tâm lý xã hội và hệ

tư tưởng là rất cần thiết Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng là hai phạm trù khác nhau về chất.Tâm lý xã hội ở trình độ thấp, còn hệ tư tưởng ở trình độ cao Tuy nhiên, tâm lý xã hộikhông thể trở thành hệ tư tưởng được Tình cảm xã hội và lý tưởng xã hội là cầu nối chomối quan hệ giữa tâm lý xã hội và hệ tư tưởng Tình cảm xã hội và tâm lý xã hội luôn luôngắn bó mật thiết với nhau

Trang 35

- Tính giai cấp của ý thức xã hội:

Các giai cấp trong xã hội có địa vị xã hội khác nhau, vai trò xã hội khác nhau, điềukiện sống và hoạt động khác nhau, nên ý thức xã hội mang tính giai cấp Tính giai cấp của ýthức xã hội thể hiện cả trong hiện tượng tâm lý và hệ tư tưởng

Cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp tronglĩnh vực kinh tế Giai cấp cấp nào thống trị trong lĩnh vực kinh tế thì cũng thống trị tronglĩnh vực tư tưởng Khi địa vị kinh tế lung lay thì ý thức của nó không còn thống trị đượcnữa Ý thức giai cấp cách mạng sẽ được truyền bá rộng rãi chống lại ý thức của giai cấpthống trị Việc khẳng định tính giai cấp của YTXH không phủ nhận những đặc điểm của ýthức cá nhân

Ý thức xã hội vừa mang tính giai cấp vừa mang đặc điểm của dân tộc và tính nhân loại

- Ý thức dân tộc

Mỗi dân tộc có một ý thức riêng do sự khác nhau về kinh tế, địa lý, ngôn ngữ, văn hoá

và truyền thống dân tộc được kết tinh lâu dài trong lịch sử

Trong xã hội có giai cấp thì ý thức dân tộc và ý thức giai cấp có quan hệ hữu cơ, tácđộng qua lại nhau Khi giai cấp thống trị ở thời kỳ tiến bộ, ý thức giai cấp của họ khôngnhững phản ánh, bảo vệ lợi ích của giai cấp của mình mà còn phản ánh và bảo vệ lợi ích củadân tộc Khi giai cấp thống trị đã trở thành lạc hậu, lỗi thời thì ý thức giai cấp của họ thườngmâu thuẫn với ý thức dân tộc và có thể dẫn tới phản lại lợi ích dân tộc

3.2 Một số hình thái ý thức xã hội

Ý thức chính trị là bộ phận của ý thức xã hội, phản ánh đời sống chính trị - xã hội

như: quan hệ giai cấp, đảng phái, dân tộc, quốc gia, quốc tế trong đó nòng cốt là quan hệgiai cấp

Trong hiện thực xã hội, hệ tư tưởng chính trị của giai cấp thống trị chi phối toàn bộhoạt động, đời sống chính trị - tinh thần của xã hội

Ý thức pháp quyền ra đời gắn với xã hội có giai cấp.

- Ý thức pháp quyền là hệ thống các quan niệm về quyền hạn, nghĩa vụ của các thànhviên trong xã hội trên cơ sở những quy tắc đã được xã hội chấp nhận, thể hiện về tính hợppháp hay không hợp pháp của hành vi con người

- Trong xã hội có giai cấp đối kháng, ý thức, tư tưởng pháp quyền của giai cấp thốngtrị được thể chế hóa thành các điều luật, các quy định ; trở thành những nguyên tắc bắt buộcmọi thành viên trong xã hội phải tuân theo Pháp luật thể hiện rõ rệt ý chí, mục đích của giaicấp thống trị

Ý thức đạo đức là hiện tượng của đời sống tinh thần xã hội, nó hình thành rất sớm

cùng với tồn tại xã hội loài người Ý thức đạo đức là ý thức về hệ thống những quy tắc,chuẩn mực, hành vi phù hợp với những quan hệ đạo đức đã và đang tồn tại Mặt khác nócòn bao hàm cả những cảm xúc, những tình càm đạo đức của con người

Những giá trị phổ biến, chung của ý thức đạo đức thể hiện trong các khái niệm: thiện

và ác, lẽ sống, hạnh phúc, lương tâm, danh dự, nghĩa vụ, trách nhiệm

Ý thức tôn giáo.

Bản chất của ý thức tôn giáo là sự phản ánh thế giới hiện thực một cách hư ảo, ý thứctôn giáo phản ánh “lộn ngược” tồn tại xã hội tức là phản ánh sai lầm, xuyên tạc hiện thực,dẫn con người tới lòng tin mù quáng vào những ảo tưởng của các lực lượng bên ngoài nhưchúa, thượng đế, thần thánh Thực chất của quan niệm tôn giáo là người ta thần thánh hoácác lực lượng tự nhiên, quan hệ xã hội thành cái siêu nhiên, thần thánh

Tôn giáo trong hình thức phát triển của nó bao gồm: Niềm tin tôn giáo Tín điều tôngiáo Tổ chức tôn giáo (giáo hội)

Trang 36

Trong đó niềm tin tôn giáo là cơ sở của ý thức tôn giáo Giải quyết vấn đề tôn giáo(niềm tin tôn giáo) là một quá trình, thậm chí rất lâu dài, trên cơ sở phát triển kinh tế - xãhội, khoa học – kỹ thuật và đời sống tinh thần xã hội.

Ý thức xã hội còn thể hiện ở ý thức thẫm mỹ, khoa học

Trang 37

Bài 4 BẢN CHẤT VÀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA CHỦ NGHĨA TƯ

BẢN

I CHỦ NGHĨA TƯ BẢN TỰ DO CẠNH TRANH

1.1 Các tiền đề hình thành Chủ nghĩa tư bản

a Sản xuất hàng hóa và sự ra đời của chủ nghĩa tư bản

- Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế

- xã hội, đó là sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hoá

Sản xuất tự cấp tự túc (kinh tế tự nhiên) là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm do lao

động tạo ra nhằm thoả mãn trực tiếp nhu cầu của người sản xuất

Sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra để bán,

trao đổi trên thị trường

- Sản xuất hàng hoá chỉ ra đời, khi có đủ hai điều kiện sau đây:

+ Phân công lao động xã hội (điều kiện cần): Phân công lao động xã hội là sự phânchia lực lượng lao động xã hội ra thành các ngành, nghề chuyên môn khác nhau, sản xuất ranhững sản phẩm khác nhau

Do phân công lao động xã hội, dẫn đến chuyên môn hoá, mỗi người sản xuất chỉ tạo ramột hoặc một vài loại sản phẩm nhất định hay chi tiết sản phẩm Song, cuộc sống của mỗingười lại cần đến rất nhiều loại sản phẩm khác nhau Để thoả mãn nhu cầu đòi hỏi họ phải

có mối liên hệ phụ thuộc vào nhau, trao đổi sản phẩm cho nhau

+ Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất (điều kiện đủ)Chính sự tồn tại những quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, nên những chủthể độc lập hình thành, họ phải tự quyết định việc sản xuất và tái sản xuất Và do đó, cácchủ thể kinh tế muốn tiêu dùng sản phẩm của nhau họ phải thông qua trao đổi, mua bán, do

đó kinh tế hàng hoá ra đời

So với kinh tế tự nhiên, kinh tế hàng hoá có ưu thế hơn hăn Tuy nhiên, gắn liền vớiquá trình phát triển kinh tế hàng hoá là vô số những tiêu cực cả trong sản xuất và trong đờisống xã hội Các hiện tượng như: khủng hoảng, lạm phát, thất nghiệp, phá hoại môi trườngsống, hiện tượng phân hoá thu nhập, lối sống thực dụng, sùng bái tiền tệ, những mặt tráitrong quan hệ con người

- Hàng hoá: Hàng hóa là sản phẩm của lao động, thoả mãn được nhu cầu nào đó của

con người thông qua trao đổi, mua bán Bao gồm hàng hoá vật thể (sắt, thép, lương thực, thực phẩm) và hàng hoá phi vật thể (dịch vụ thương mại, vận tải hay dịch vụ của giáo viên, bác sĩ và nghệ sĩ).

Đặc điểm của hàng hoá vô hình:

+ Qúa trình sản xuất cũng đồng thời là quá trình tiêu dùng, hai quá trình thống nhấtlàm một

+ Gía trị và giá trị sử dụng của hàng hoá dịch vụ không thể để dành hoặc đem cất trữ.+ Vai trò của hàng hoá dịch vụ đối với sự phát triển sản xuất và đời sống: Hàng hoádịch vụ làm tăng quy mô và cơ cấu của tổng sản phẩm xã hội

Hàng hóa có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị

+ Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của hàng hóa có thể thoả mãn nhu cầu

nào đó của con người

Đặc trưng giá trị sử dụng của hàng hoá:

Giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn, là mối quan tâm của người tiêu dùng (Cơ sở

Trang 38

của giá trị sử dụng của hàng hóa là do những thuộc tính tự nhiên (lý, hoá học) của thực thểhàng hóa đó quyết định nên giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn vì nó tồn tại trong mọiphương thức hay kiểu tổ chức sản xuất)

Giá trị sử dụng của hàng hoá được thể hiện khi tiêu dùng (Tiêu dùng cho sản xuất thìgọi là tư liệu sản xuất, tiêu dùng cho cá nhân thì gọi là tư liệu tiêu dùng)

Hàng hoá có thể có một hay nhiều công dụng Chính công dụng đó (tính có ích đó) làmcho hàng hóa có giá trị sử dụng Ví dụ, công dụng của gạo là để ăn, vậy giá trị sử dụng củagạo là để ăn

Hàng hoá ngày càng phong phú, đa dạng, hiện đại và thuận tiện là do nhu cầu đòi hỏi

và khoa học công nghệ ngày càng phát triển

Giá trị sử dụng của hàng hóa tạo thành nội dung của cải vật chất và là vật mang giá trịtrao đổi

+ Giá trị của hàng hóa

Muốn hiểu được giá trị của hàng hoá phải đi từ giá trị trao đổi Giá trị trao đổi trước hết là một quan hệ về số lượng giữa những giá trị sử dụng khác nhau trao đổi với nhau , là

tỷ lệ theo đó một giá trị sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác Thí dụ: 1m vải = 5 kg thóc

Tức là 1 mét vải có giá trị trao đổi bằng 5 kg thóc

Vấn đề là, tại sao vải và thóc lại có thể trao đổi được với nhau, và hơn nữa chúng lạitrao đổi với nhau theo một tỷ lệ nhất định (1 : 5)?

Hai hàng hóa khác nhau (vải và thóc) có thể trao đổi được với nhau thì giữa chúngphải có một cơ sở chung nào đó Cái chung đó không phải là giá trị sử dụng của chúng, bởi

vì, giá trị sử dụng của vải là để mặc, hoàn toàn khác với giá trị sử dụng của thóc là để ăn.Cái chung đó là: cả vải và thóc đều là sản phẩm của lao động, đều có lao động kết tinh trong

đó Nhờ có cơ sở chung đó mà các hàng hóa có thể trao đổi được với nhau Vì vậy, người tatrao đổi hàng hóa cho nhau chẳng qua là trao đổi lao động của mình ẩn giấu trong nhữnghàng hóa ấy

Giá trị hàng hoá là lao động của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá Vì vậy chất của giá trị là lao động.

Đặc trưng của giá trị hàng hoá:

Gía trị là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại khi có sản xuất và trao đổi hàng hoá, là mốiquan tâm của người sản xuất

Gía trị hàng hoá biểu hiện quan hệ sản xuất xã hội, tức là những quan hệ kinh tế giữanhững người sản xuất hàng hoá Trong nền kinh tế hàng hoá dựa trên chế độ tư hữu về tưliệu sản xuất, quan hệ kinh tế giữa người với người biểu hiện thành quan hệ giữa vật với vật.Hiện tượng vật thống trị người gọi là sự sùng bái hàng hoá, khi tiền tệ xuất hiện thì đỉnh caocủa sự sùng bái hàng hoá là sự sùng bái tiền tệ

Gía trị trao đổi cũng là hình thức biểu hiện của giá trị; giá trị là nội dung, là cơ sở củagiá trị trao đổi Gía trị thay đổi thì giá trị trao đổi cũng thay đổi theo

+ Trong kinh tế hàng hoá mọi hàng hoá sản xuất ra có thể bán được có thể không bánđược Nêu hàng hoá bán được mâu thuẫn giữa hai thuộc tính được giải quyết và ngược lại

- Tiền tệ:

Tiền tệ ra đời là kết quả phát triển tất yếu và lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hoá.Lịch sử của tiền tệ chính là lịch sử phát triển các hình thái giá trị từ thấp đến cao, từ hìnhthái giản đơn đến hình thái đầy đủ nhất là tiền tệ Vì thế, nghiên cứu nguồn gốc của tiền tệchính là sự phân tích các hình thái giá trị trong trao đổi

Trang 39

Vậy tiền tệ là một hàng hoá đặc biệt được tách ra từ trong thế giới hàng hoá làm vậtngang giá chung cho tất cả các hàng hoá đem trao đổi; nó thể hiện lao động xã hội và biểuhiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá

Tiền tệ là một hàng hoá đặc biệt vì nó cũng có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng.Gía trị của tiền tệ cũng do thời gian lao động xã hội cần thiết sản xuất ra vàng (bạc) quyết

định Gía trị sử dụng của tiền tệ làm môi giới trong mua bán và làm chức năng tư bản Là một hàng hoá đặc biệt vì tiền tệ làm vật ngang giá chung trong trao đổi.

- Quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa là quy luật giá trị

Quy luật giá trị là quy luật căn bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá Ở đâu có sảnxuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự tồn tại và phát huy tác dụng của quy luật giá trị

Nội dung cơ bản của quy luật giá trị là: sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên

cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết

Tác động của quy luật giá trị:

+ Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá

+ Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động

+ Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hóa người lao động thành kẻ giàu, người

nghèo

b Các cuộc phát kiến địa lý và quá trình tích lũy tư bản nguyên thủy

- Các cuộc phát kiến địa lý đã đem về cho châu Âu và giai cấp tư sản nguồn hươngliệu, gia vị, vàng bạc, hàng hoá Đó là những nguồn vốn đầu tiên cho quá trình tích luỹ tưbản nguyên thuỷ Vì thế, quý tộc và thương nhân châu Âu không ngừng ra sức bóc lột củacải, tài nguyên vàng bạc của các nước châu Phi và châu Á

- Tích luỹ tư bản nguyên thuỷ là quá trình tạo ra vốn đầu tiên trong giai đoạn đầu củachủ nghĩa tư bản Cùng với vốn (tư bản), quá trình tích luỹ nguyên thuỷ còn đòi hỏi có lựclượng lao động làm thuê (nhân công)

Như vậy, quá trình tích luỹ vốn ban đầu là quá trình tập trung vốn vào tay một số ítngười, đồng thơi cũng là quá trình tước đoạt tư liệu sản xuất của nhân dân lao động, chủ yếu

là nông dân, biến họ thành những người làm thuê Công cuộc tích luỹ tư bản nguyên thuỷđược tiến hành bằng lối phá hoại tàn nhẫn

c Tiền đề chính trị - tư tưởng

- Nền văn hóa mới – Văn hóa Phục Hưng và Phong trào cải cách tôn giáo ra đời, đốilập gay gắt và muốn xóa bỏ hệ tư tưởng văn hóa phong kiến Thực chất đây là mặt trận tưtưởng của cuộc đấu tranh chống phong kiến của giai cấp tư sản

- Những tiền đề cho sự hình thành CNTB đã xuất hiện trong lòng chế độ phong kiến,

đó là: Châu Âu chuẩn bị bước vào thời kỳ cách mạng tư sản và xác lập CNTB Các cuộccách mạng tư sản thành công cùng với cách mạng công nghiệp phát triển mạnh trong thế kỷXVIII làm cho CNTB hình thành và nhanh chóng trở thành hệ thống thế giới

1.2 Bản chất của Chủ nghĩa tư bản

a Sự chuyển hoá tiền thành tư bản

- CNTB ra đời khi có hai điều kiện sau:

+ Trong xã hội có một lớp người lao động tự do và không có tư liệu sản xuất

+ Phải có số tiền lớn, của cải khá lớn trong tay một số người để lập ra các xí nghiệp.Tiền là sản vật cuối cùng của lưu thông hàng hoá, đồng thời là hình thức biểu hiện đầutiên của tư bản Mọi tư bản lúc đầu đều biểu hiện dưới hình thái một số tiền nhất định.Nhưng bản thân tiền không phải là tư bản, tiền chỉ biến thành tư bản trong những điều kiệnnhất định, khi chúng được sử dụng để bóc lột lao động của người khác

Trang 40

Tiền với tư cách là tiền tiền thông thường vận động theo công thức: H - T – H Tiềnvới tư cách là tư bản thì vận động theo công thức: T - H – T’ Bất cứ tiền nào vận động theocông thức T - H – T’ đều chuyển hoá thành tư bản

Vậy tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư Mục đích lưu thông tư bản là sự lớn lên

của giá trị, là giá trị thặng dư, nên sự vận động của tư bản là không có giới hạn, vì sự lớn lêncủa giá trị là không có giới hạn

C.Mác gọi công thức T - H - T' là công thức chung của tư bản, vì sự vận động của mọi

tư bản đều biểu hiện trong lưu thông dưới dạng khái quát đó, dù là tư bản thương nghiệp, tưbản công nghiệp hay tư bản cho vay

- Xem xét công thức chung của tư bản ta thấy sự chuyển hoá của tiền thành tư bảnkhông thể phát sinh từ bản thân số tiền đó vì trong việc mua bán tiền chỉ là phương tiện lưuthông để thực hiện giá cả hàng hoá, nên trước sau giá trị của nó vẫn không thay đổi Sựchuyển hoá đó phải xảy ra ở hàng hoá nhưng không phải ở giá trị trao đổi của hàng hoá màchỉ có thể ở giá trị sử dụng của hàng hoá Do đó, hàng hoá đó không thể là hàng hoá thôngthường mà phải là một thứ hàng hoá đặc biệt mà giá trị sử dụng của nó có đặc tính là nguồngốc sinh ra giá trị, hơn nữa sinh ra một giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó Thứ hàng hoáđặc biệt đó là sức lao động mà nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường Sức lao động biếnthành hàng hoá là điều kiện quyết định để tiền biến thành tư bản

Sức lao động là tổng hợp sức thân thể và sức tinh thần có sẵn trong con người và con người vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất.

- Sức lao động trở thành hàng hóa khi có hai điều kiện:

+ Người có sức lao động phải được tự do về thân thể (điều kiện cần), có quyền sở

hữu sức lao động của mình, và chỉ bán sức lao động ấy trong một thời gian nhất định.Người nô lệ chỉ là một “công cụ biết nói” của chủ nô, người nông nô bị cột chặt vàođất đai của chúa phong kiến, vì thế họ không được tự do về thân thể Còn người công nhândưới chế độ TBCN, thì đã được giải phóng khỏi chế độ nông nô, và được tự do về thân thể,

do đó họ tha hồ đi khắp đó đây để bán sức lao động

+ Người có sức lao động bị tách rời khỏi tư liệu sản xuất (điều kiện đủ) Nếu người

lao động tự do mà có tư liệu sản xuất, thì anh ta sẽ không đi làm thuê Sở dĩ anh ta phảibán sức lao động, chính là vì anh ta không có tư liệu sản xuất

Qúa trình giải phóng người lao động và tước đoạt của cải đã biến người lao động thànhngười vô sản làm thuê và sức lao động trở thành hàng hoá sức lao động

- Hàng hoá sức lao động cũng có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng

Giá trị của hàng hoá sức lao động: do số lượng lao động cần thiết để sản xuất và tái

sản xuất ra nó quyết định Giá trị hàng hóa sức lao động bao hàm cả yếu tố lịch sử, tinhthần, bao gồm:

- Giá trị của toàn bộ các tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sứclao động để duy trì đời sống của công nhân

- Chi phí đào tạo công nhân

- Giá trị các tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết cho gia đình công nhân.Giá trị hàng hoá sức lao động biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả sức lao động hay còngọi là tiền lương

Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động: thể hiện ở quá trình tiêu dùng sức lao

động, chính là quá trình tiến hành lao động để sản xuất ra hàng hoá, dịch vụ

Các nhà kinh tế học tư sản cho rằng, mọi công cụ lao động, tư liệu sản xuất đều là tưbản Thực ra, bản thân tư liệu sản xuất không phải là tư bản, nó chỉ là yếu tố cơ bản của sản

Ngày đăng: 08/10/2017, 15:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w