1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

thuyết trình maclenin Kinh tế nông nghiệp việt nam điểm mạng và điểm yếu

11 167 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 22,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á. Vùng Đông Nam châu Á này bao gồm miền chân núi Himalaya và Thiên Sơn. Các dòng sông lớn của khu vực đều bắt nguồn từ hai dãy núi này. Hạ lưu của các dòng sông ấy Dương Tử, sông Hồng, MêCông, Chaophaya… đều là những vùng đồng bằng màu mỡ, đầy phù sa. Đặc trưng tiêu biểu của vùng này là sự chênh lệch khá lớn giữa bình nguyên và núi rừng, sự chênh lệch tương đối nhỏ giữa bình nguyên và mặt biển. Chính nét đặc trưng này cùng với điều kiện khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều và có gió mùa là cơ sở thuận lợi cho việc phát sinh nghề nông trồng lúa nước từ rất sớm với văn hoá Hoà Bình, văn hoá Bắc Sơn. Nông dân Việt Nam có câu “nhứt nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Giả sử rằng trong tương lai gần nông dân VN vẫn chuyên cần, thông minh, cấp tiến và đủ khả năng tài chính để sử dụng phân bón hợp lý và nhiều kỷ thuật tân tiến khác, hai yếu tố “giống” và những yếu tố liên quan đến “nước” sẽ là những thử thách lớn cho các nhà khoa học nông nghiệp và hoạch định chiến lược nông nghiệp ở Việt Nam.Việt Nam là vùng đất quot;rừng vàng biểm bạcquot; được thiên nhiên ban tặng.Sau đây là bài

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á Vùng Đông Nam châu Á này bao gồm miền chân núi Himalaya và Thiên Sơn Các dòng sông lớn của khu vực đều bắt nguồn từ hai dãy núi này Hạ lưu của các dòng sông ấy

Dương Tử, sông Hồng, MêCông, Chaophaya… đều là những vùng đồng bằng màu

mỡ, đầy phù sa Đặc trưng tiêu biểu của vùng này là sự chênh lệch khá lớn giữa bình nguyên và núi rừng, sự chênh lệch tương đối nhỏ giữa bình nguyên và mặt biển Chính nét đặc trưng này cùng với điều kiện khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều và

có gió mùa là cơ sở thuận lợi cho việc phát sinh nghề nông trồng lúa nước từ rất sớm với văn hoá Hoà Bình, văn hoá Bắc Sơn

Nông dân Việt Nam có câu “nhứt nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” Giả sử rằng trong tương lai gần nông dân VN vẫn chuyên cần, thông minh, cấp tiến và đủ khả năng tài chính để sử dụng phân bón hợp lý và nhiều kỷ thuật tân tiến khác, hai yếu

tố “giống” và những yếu tố liên quan đến “nước” sẽ là những thử thách lớn cho các nhà khoa học nông nghiệp và hoạch định chiến lược nông nghiệp ở Việt Nam.Việt Nam là vùng đất "rừng vàng biểm bạc" được thiên nhiên ban tặng.Sau đây là bài

phân tích về điều kiện tự nhiên nước ta,mong được sự góp ý và chỉ bảo của Thầy

để bài làm của em được hoàn chỉnh hơn!

I, Khái quát Nông nghiệp Việt Nam:

Nông nghiệp luôn là vấn đề trọng yếu của mỗi quốc gia, kể cả những nước đã đạt

Trang 2

đến trình độ phát triển cao.Nó là một trong hai ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế, là khu vực sản xuất chủ yếu, đảm bảo việc làm và đời sống cho xã hội, là thị trường rộng lớn cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm của nền kinh

tế, là nguồn nhân lực và tích lũy cho công nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn còn là một nước sản xuất chủ yếu về nông nghiệp với trên 75% dân số cả nước sống tập trung ở các vùng nông thôn Lao động nông nghiệp chiếm trên 80% lao động nông thôn và trên 70% lao động trong toàn xã hội Trong nhiều năm qua, sản xuất nông nghiệp ở nông thôn ch iếm từ 25 - 40% tổng sản phẩm trong nước và đạt trên 40% tổng giá trị giá trị xuất khẩu cho cả nước.Vì vậy phát triển nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay luôn là một yêu cầu cấp thiết của nước ta Để nông nghiệp có thể hoà nhịp cùng đất nước phát triển trong thời kỳ hội nhập Trong những năm qua nông nghiệp Việt Nam đã có những bước tiến lớn Từ một nước nông nghiệp lạc hậu nghèo đói, thiếu lương thực,thực phẩm đã ngày một phát triển trở thành nước xuất khẩu nhiều sản phẩm nông nghiệp thu về nhiều ngoại tệ cho ngân sách nh à nước Đó là nhờ sự nổ lực của nông dân , đảng, nhà nước với các cơ chế chinh sách phát triển nông nghiệp thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông

nghiệp Trong quá trình phát triển thì nông nghiệp thì luôn tồn tại những thuận lợi

và khó và thách thức Tuy nhiên đến ngày nay, qua một thời gian dài phát triển đã

có thể khẳng định ngành nông nghiệp Việt Nam đã và đang làm tốt vai trò của mình trong trong việc xây dựng và phát triển nền nông nghiệp hiện đại bền vững, đảm bảo an ninh lương thực và dự trữ quốc gia

Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam Trải qua hơn 65 năm hình thành và phát triển từ ngày 14/11/1945 đến nay với những tên gọi khác nhau ở

Trang 3

từng thời kỳ cách mạng, d ưới sự lãnh đạo của đảng, nhà nư ớc, ngành nông n ghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn , thử thách, đấu tranh với đói nghèo, thiên tai, địch họa Con đường đi dù có nhiều khó khăn, thách thức bởi mang trên mình trọng trách lớn lao song ngành nông nghiệp ngày càng khẳng định được vị trí của m ình trong nền kinh tế Đặc biệt là liên tiếp trong hai thập kỷ gần đây, trước những khó khăn về kinh tế thậm chí là khủng hoảng kinh tế( điển hình là khủng hoảng tài chính năm 1994 và khủng hoảng lương thực năm 2008) nông nghiệp luôn trở thành yếu tố quan trọng, là ưu thế nâng đỡ và còn được coi là “cứu cánh” cho nền kinh tế Việt Nam Trong 5 năm qua (2005

-2010), ngành nông nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, cả nước xuất khẩu gần 25 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch trên 10 tỷ USD, vượt chỉ tiêu kế hoạch 5 năm bình quân một triệu tấn và 1,1 tỷ USD/năm Giá trị gia tăng ngành nông nghiệp bình quân đ ạt khoảng 3,7-4%/năm, an ninh lương thực quốc gia được đảm bảo Đặc biệt trong năm 2 010, giá trị sản lượng nông lâm ngiệp và thủy sản theo giá so sánh năm 1994, ước đạt 232,65 nghìn tỷ đồng, cao hơn 3% so với năm 2009.Trong con số kể trên, giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt 168,39 n ghìn tỷ đồng, tăng 4,2

%, thủy sản ước đạt 56,9 nghìn tỷ đồng tăng 6,1% và lâm n ghiệp đạt 7,37 nghìn tỷ đồng tăng 4,6% Cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn đã từng bước đ ược đổi m ới theo hướng hiệu quả hơn nh ằm phát huy thế mạnh của từng vùng, gắn kết hơn với thị trường tiêu thụ nông sản thị trường Các ngành nghề phi nông nghiệp cũng đ ã từng bước được khôi phục và phát triển đã tạo việc làm và tăng thu nhập cho dân cư Với truyền thống vượt khó đi lên, mong rằng trong thời gian

Trang 4

tới cùng với nhũng nổ lực của người nông dân cả nước, đội ngũ cán bộ ngành nông nghiệp Việt Nam sẽ tiếp tục chung tay, đoàn kết đẩy mạnh xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại,bền vững, sản xuật h àng hóa lớn,

có năng suất, chất lượng và hiệu quả cạnh tranh cao Phát huy, khai thác những thuận lợi và h ạn chế khắc phục những khó khăn còn tồn tại trong quá trình phát triển nông nghiệp giai đoạn hội nhập kinh tế thế giới, để nông nghiệp Việt Nam với các sản phẩm của nó có th ể đứng vững trước sự cạnh tranh của mặt hàng nông sản của các nước khác

II, Thuận lợi,Khó khăn của nông nghệp nước ta:

1, Thuận lợi:

Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên cho phép nước ta phát triển một nền nông nghiệp nhiệt đới

Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có sự phân hóa rất rõ rệt theo chiều Bắc-Nam và theo chiều cao của địa hình, nên có ảnh hưởng rất căn bản đến cơ cấu mùa vụ và cơ cấu sản phẩm nông nghiệp

Sự phân hóa của các điều kiện địa hình, đất trồng cho phép và đồng thời đòi hỏi phải áp dụng các hệ thống canh tác khác nhau giữa các vùng Ở trung du và miền núi, thế mạnh là các cây lâu năm và chăn nuôi gia súc lớn Ở đồng bằng, thế mạnh

là các cây trồng ngắn ngày, thâm canh, tăng vụ và nuôi trồng thủy sản

Tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa của thiên nhiên nước ta làm tăng thêm tính bấp bênh vốn có của nông nghiệp Việc phòng chống thiên tai, sâu bệnh hại cây trồng, dịch bệnh đối với vật nuôi luôn là nhiệm vụ quan trọng

Trang 5

Nước ta đang khai thác ngày càng có hiệu quả nền nông nghiệp nhiệt đới

-Các tập đoàn cây, con được phân bố phù hợp với các vùng sinh thái nông nghiệp -Cơ cấu mùa vụ có những thay đổi quan trọng, với các giống cây ngắn ngày, chịu được sâu bệnh và có thể thu hoạch trước mùa bão, lụt hay hạn hán

-Tính mùa vụ được khai thác tốt hơn nhờ đẩy mạnh hoạt động vận tải, áp dụng rộng rãi công nghiệp chế biến và bảo quản nông sản Việc trao đổi nông sản giữa các vùng, nhất là giữa các tỉnh phía bắc và các tỉnh phía nam nhờ thế mà ngày càng

mở rộng và có hiệu quả

2, Khó khăn:

Nông nghiệp Việt Nam là một trong 5 nước sẽ chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng

-Tình trạng ngập lụt do nước biển dâng sẽ làm mất đất canh tác trong nông

nghiệp Nếu mực nước biển dâng thêm 1m, ước tính khoảng 40% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, 11% diện tích đồng bằng sông Hồng và 3% diện tích của các tỉnh khác thuộc vùng ven biển sẽ bị ngập Ngập lụt sẽ làm mất đất canh tác ở hai khu vực nông nghiệp quan trọng nhất của Việt Nam là đồng bằng sông Cửu Long

và đồng bằng sông Hồng vì khoảng 80% diện tích đồng bằng sông Cửu Long và 30% diện tích đồng bằng sông Hồng có độ cao dưới 2,5 m so với mực nước biển Hiện tại, diện tích đất gieo trồng của Việt Nam là khoảng 9,4 triệu ha (trong đó có

4 triệu ha đất trồng lúa) Tính trên phạm vi cả nước, Việt Nam sẽ bị mất đi khoảng hơn 2 triệu ha đất trồng lúa (khoảng 50%) nếu mực nước biển dâng thêm 1m

- Tình trạng xâm nhập mặn ở khu vực ven biển cũng sẽ làm thu hẹp diện tích đất nông nghiệp Một phần diện tích đáng kể đất trồng trọt ở vùng đồng bằng sông

Trang 6

Hồng và đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị nhiễm mặn vì 2 đồng bằng này đều là những vùng đất thấp so với mực nước biển Xâm nhập mặn làm cho diện tích đất canh tác giảm, từ đó hệ số sử dụng đất có thể giảm từ 3-4 lần/năm xuống còn 1-1,5 lần/năm Ngập mặn sẽ đặc biệt nghiêm trọng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Nếu nước biển dâng cao thêm 1m thì khoảng 1,77 triệu ha đất sẽ bị nhiễm mặn, chiếm 45% diện tích đất ở đồng bằng sông Cửu Long và ước tính rằng, có khoảng 85% người dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long cần được hỗ trợ về nông nghiệp

-Nhiệt độ tăng, hạn hán (và thiếu nước tưới) sẽ ảnh hưởng đến sự phân bố của cây trồng, đặc biệt làm giảm năng suất, cụ thể là năng suất lúa của vụ xuân có xu

hướng giảm mạnh hơn so với năng suất lúa của vụ mùa; năng suất ngô vụ đông có

xu hướng tăng ở đồng bằng Bắc Bộ và giảm ở Trung Bộ và Nam Bộ Ước tính rằng, năng suất lúa xuân ở vùng đồng bằng sông Hồng có thể giảm 3,7% vào năm

2020 và giảm tới 16,5% vào năm 2070; năng suất lúa mùa sẽ giảm 1% vào năm

2020 và giảm 5% vào năm 2070 nếu không có các biện pháp ứng phó kịp thời và hiệu quả

- Nhiều loại dịch bệnh như dịch rầy nâu, đạo ôn trên lúa đang gây nhiều khó khăn cho việc sản xuất lúa ở nước ta vì hậu quả mà nó mang lại là rất nặng nề Hiện nay theo khuyến cáo của các chuyên gia nông nghiệp, nếu 10% diện tích sản xuất lúa chính bị nhiễm bệnh thì Việt Nam sẽ phải ngưng xuất khẩu gạo để đảm bảo an ninh lương th ực và nếu tỷ lệ đó vượt quá 30% thì chúng ta sẽ phải nhập khẩu gạo Không chỉ ngành trồng trọt mà ngành chăn nuôi cũng gặp không ít các khó khăn như b ệnh lở mồm long móng, heo tai xanh, cúm gia cầm liên tục bùng phát gây

Trang 7

thiệt hại cho người chăn nuôi, chính vì vậy m à nông nghiệp Việt Nam luôn đứng trước những thách thức vô cùng lớn.Tính chất nhiệt đới gió mùa của nước ta làm tăng thêm tính chất bấp b ênh vốn có của nông nghiệp Trong thời gian qua trên kh

ắp các vùng sản xuất nông n ghiệp phía Bắc của nước ta đ ã trải qua những đợt rét gây ảnh hưởng không nhỏ cho ngành nông nghiệp như: Tại Lai Châu trong thời gian qua ngành chăn nuôi đ ã gặp nhiều khó khăn do các đợt rét đậm, rét hại làm cho số trâu, bò, dê, ngựa, lợn chết lên đến 1.456 con hay tại Hải Dương cũng các đợt rét này đ ã gây ảnh h ưởng không chỉ đến tiến độ gieo trồng m à còn gây ra các bệnh như táp lá, vàng lá, rễ kém phát triển và làm cho mạ chết tập trung

-Tình trạng sử dụng hóa chất tràn lan trong nông nghiệp hiện nay cũng rất đáng báo động đẫn đến nguy cơ đất nông nghiệp bị thoái hóa, bạc màu Trong khi đó, các công ty trong lĩnh vực chế phẩm sinh học của ta lại rất yếu, nhiều sản phẩm nhập từ nước ngoài về đã quá hạn sử dụng hoặc đã bị cấm sử dụng trên thế

giới,chính vì vậy mà gây khó khăn thêm cho phát triển nông nghiệp Không những vậy diện tích đất canh tác nông nghiệp mỗi năm mỗi giảm, trong khi đó năng suất lao động nông nghiệp rất thấp, cơ cấu kinh tế nông thôn tuy có thay đổi nh ưng chưa đáng kể Diện tích đất nông nghiệp b ình quân trên đầu người của nước ta khá thấp chỉ có 0,1 ha/ ngư ời, chỉ bằng 1/3 mức binh quân của thế giới Bên cạnh đó thì các nguồn lực về sinh học đa dạng, phong phú chưa được khai thác

- Mất đất canh tác trong nông nghiệp và năng suất cây trồng suy giảm sẽ đặt ra những thách thức và đe dọa đến đời sống của nông dân, vấn đề xuất khẩu gạo và an ninh lương thực quốc gia đối với một quốc gia mà nông nghiệp đóng vai vai trò

Trang 8

quan trọng trong nền kinh tế quốc dân như Việt Nam: nông nghiệp chiếm 52,6% lực lượng lao động và 20% GDP của cả nước Dự báo đến năm 2100, nếu mực nước biển dâng 1m, vựa lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long và TP Hồ Chí Minh có nguy cơ bị mất đi khoảng 7,6 triệu tấn lúa/năm, tương đương với 40,5% sản lượng lúa của cả vùng Do đó, Việt Nam sẽ có nguy cơ đối mặt với tình trạng thiếu lương thực trầm trọng vào năm 2100 vì mất đi khoảng 21,39% sản lượng lúa (mới tính riêng cho vùng đồng bằng sông Cửu Long) Trong một tương lai gần hơn, dự báo đến năm 2020, dân số Việt Nam sẽ đạt khoảng 120 triệu người Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng thì mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực cho

120 triệu người sẽ bị đe dọa nghiêm trọng

Cộng hưởng với hiện tượng hâm nóng toàn cầu, hiện tượng El-Nĩno đã và đang mang đến khô hạn và nạn cháy rừng trầm trọng, La-Nina mang bảo tố lủ lụt, đồng thời việc biến đổi thuỷ tính và lưu lượng các dòng sông Mekong, sông Hồng, v.v., đang và sẽ đưa đến nhiều hậu quả tai hại hơn lên nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam

-Khả năng bị nước biển tràn ngập vào năm 2075 khi nước biển dâng cao thêm 50

cm Vùng duyên hải Bắc Phần và duyên hải đồng bằng Cửu Long sẽ bị ảnh hưởng trầm trọng, nhất là nhiều vùng ở Cà Mau, chỉ cao hơn mặt nước biển 0.5 m, trong lúc thuỷ triều cao là 4m Đồng bằng Cửu Long chỉ cao hơn mực nước biển trung bình từ 0 đến 4m, nên khả năng chìm dưới mặt biển khá lớn, nhất là vùng rừng ngập mặn (mangrove) hiện nay, và coi như một phần lớn đồng bằng bị đe doạ bởi triều cường từ phía biển hay nước lủ phía thượng lưu sông Cửu Long Tuy nhiên, nhờ số lượng phù sa do sông Cửu Long mang vào địa phận Việt Nam hàng năm

Trang 9

khoảng 240 triệu tấn, một phần lắng tụ trên đồng bằng làm phì nhiêu đất đai, một phần bồi đắp lấn ra biển dọc duyên hải, nhờ rừng ngập mặn, hàng năm đất lấn ra biển từ 6 m đến 80 m (tại Mủi Cà Mau) Vì vậy diện tích mất đất vì nước biển dâng cao sẽ không nhiều ở Đồng bằng Cửu Long như đã tưởng tượng (nếu rừng ngập mặn không bị tàn phá) Vì nạn phá rừng trầm trọng trong lưu vực, đất bị xoi mòn theo dòng nước làm cạn dần đáy Biển Hồ, sức chứa giảm, vì vậy một khối lượng lớn nước, thay vì tràn vào Biển Hồ như trước kia, nay chảy thẳng vào Hậu Giang

và Tiền Giang, gây nên lụt lớn ở phần đất Việt Nam Ngược lại, trong mùa khô hạn, nước sông Mekong cạn kiệt Tháng 3/2004, sông Cửu Long cạn nhất trong vòng 40 năm qua: Tại Chiang Rai (Thái Lan) nước chỉ còn sâu 90 cm, tại Châu

Đốc ngày 18/3/2004 nước sâu 80 cm tại mốc đo, chỉ còn sâu 40 cm vào ngày

25/3/2004 Tiên đoán cho biết ẩm độ không khí có khuynh hướng giảm, và vủ lượng giảm trong mùa khô ở đồng bằng Cửu Long, nên hạn hán sẽ trầm trọng hơn

và kéo dài hơn ở các tỉnh Miền Nam trong tương lai

-Vấn đề nước mặn xâm nhập Vì mực nước biển dâng cao, ảnh hưởng triều cường,

và lưu lượng dòng sông xuống thấp trong mùa khô hạn, nên nước biển xâm nhập sâu vào nội địa Riêng năm hạn hán 1993 và 1998, nước ngọt sông Cửu Long

xuống rất thấp ở vùng Cà Mau, nên khoảng 1/3 diện tích Cà Mau bị nhiểm mặn 4% muối, không canh tác được Năm 1999, riêng tại các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Tiển Giang và Cà Mau khoảng 100,000 ha đất canh tác bị nhiểm mặn Ngay cả đầu năm

2001, khi bắt đầu mùa mưa vào tháng 5, một số tỉnh đồng bằng Cửu Long vẫn bị nước mặn xâm nhập trầm trọng Cũng vào thời điểm này, vùng Bình Trị Thiên Đà

Trang 10

Nẳng cũng bị nước mặn xâm nhập Độ nhiểm mặn có khuynh hương gia tăng hàng năm Chẳng hạn, độ nhiểm mặn đo cùng một địa diểm ở vùng Long An gia tăng từ

300 mg muối/lít vào tháng 3/2002 lên 1800 mg/l vào tháng 3/2004 Tại cống Cái

Xe (ranh Mỷ Xuyên và thị xả Sóc Trăng) ngày 20/2/2005 độ mặn trong nước là 5,900 mg/lít

Đó là những thách đố to lớn dành cho các nhà khoa học nông nghiệp và hoạch định chiến lược nông nghiệp tại Việt Nam

III, Kết luận:

Sự đa dạng của môi trường sinh thái, điều kiện tự nhiên là yếu tố góp phần tạo nên

sự đa dạng văn hoá Trong vô vàn yếu tố tác động đến cuộc sống hàng ngày từ góc

độ tự nhiên, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước hầu như đều nêu bật hai tính trội của văn hoá Việt Nam truyền thống: sông nước và thực vật Văn minhViệt Nam,nền văn minh thực hay văn minh thôn dã, văn hoá lúa nước tính chất thực vật (mà cốt lõi là cây lúa) in dấu ấn đạm nét trong đời sống hàng ngày của người Việt Nam như ở, đi lại, mặc và ăn Bữa ăn (bữa cơm) được mô hình hoá Cơm – Rau –

Cá cộng với không có thói quen ăn sữa và các sản phẩm từ sữa động vật, không có truyền thống chăn nuôi đại gia súc lấy thịt – chăn nuôi gắn liền với trồng trọt, phục

vụ trồng trọt Tính chất thực vật còn được thể hiện trong đời sống tâm linh mà điển hình là tục thờ cây Môi trường sông - nước được coi là yếu tố đặc biệt quan trọng khi xem xét những vấn đề văn hoá, con người Việt Nam Có thể nói đặc trưng

nước chính là kết quả tổng thể của những đặc điểm về địa lí, địa hình cũng như khí hậu Yếu tố nước mang tính phổ quát và đặc thù này đã tạo nên sắc thái riêng biệt

Ngày đăng: 08/10/2017, 12:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w