1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

TỔNG QUAN VỀ TÁI CƠ CẤU KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG Ở VIỆT NAM

25 248 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 426,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận rõ những yếu kém nội tại của nền kinh tế, Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định “phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên

Trang 1

TỔNG QUAN VỀ TÁI CƠ CẤU KINH TẾ

VÀ ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG Ở VIỆT NAM

PGS.TS Lê Xuân Bá

Viện trưởng Viện Nghiên cứu QLKTTW

Từ khi đổi mới, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn được trong và ngoài nước thừa nhận Tuy vậy, nền kinh tế nước ta còn nhiều yếu kém và sự yếu kém này thể hiện rõ trong những năm gần đây Nhận

rõ những yếu kém nội tại của nền kinh tế, Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định “phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược” là quan điểm phát triển cơ bản; và “đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế” là định hướng tổng quát của phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2011-2020 Hội nghị Trung ương 3 khoá XI (tháng 10/2011) đã quyết định tái cơ cấu kinh tế trong đó tập trung ưu tiên tái cơ cấu 3 lĩnh vực quan trọng nhất Đó là, tái cơ cấu đầu tư với trọng tâm là đầu tư công; tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước mà trọng là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; và cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác Thực hiện chủ trương nói trên, Chính phủ đã chỉ đạo soạn thảo Đề án tổng thể tái

cơ cấu kinh tế và các đề án tái cơ cấu đầu tư, tái cơ cấu DNNN và tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng Bài viết này nhằm góp thêm tiếng nói

về việc tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng Bài viết gồm 3 phần: phần I trình bày khái quát sự cần thiết hay lý do phải tiến hành; phần II trình bày mục tiêu và các nguyên tắc chủ yếu; và phần III

đề cập đến các định hướng giải pháp cần thực hiện trong quá trình trình tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng

Trang 2

I SỰ CẦN THIẾT CỦA TÁI CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG

Thành công của cải cách kinh tế và hội nhập của nước ta trong hơn

25 năm qua đã được thừa nhận một cách rộng rãi ở cả trong và ngoài nước Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm trong giai đoạn 2000-2010 là 7,26%; GDP theo giá thực tế năm 2011 đã gấp hơn 3,8 lần so với năm 2000; từ năm 2010, nước ta đã trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp theo xếp hạng của Ngân hàng thế giới Đã đạt được thành tích vượt bậc về xóa đói giảm nghèo; năm 2011 số hộ nghèo giảm xuống còn khoảng hơn 8% Cơ cấu kinh tế đã từng bước chuyển đổi tích cực theo hướng hiện đại; cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội

đã được cải thiện đáng kể cả về số lượng và chất lượng; một số ngành công nghiệp mới, công nghệ cao đã hình thành và phát triển

Bên cạnh những thành công nêu trên, thời gian gần đây, nền kinh

tế nước ta đang phải đối mặt với không ít khó khăn và thách thức Cụ thể là, tăng trưởng GDP tuy vẫn ở mức tương đối cao nhưng đang có

xu hướng giảm dần20 Ngược lại, lạm phát luôn ở mức cao hơn nhiều so với mức lạm phát bình quân của các nền kinh tế khu vực và kinh tế thế giới; mấy tháng gần đây lạm phát đang có xu hướng giảm, nhưng vẫn ở mức cao21 Các cân đối vĩ mô (gồm thâm hụt cán cân vãng lại, thâm hụt tài khóa, chênh lệch tiết kiệm trong nước và đầu tư xã hội, dữ trự ngoại

tệ quốc gia v.v ) chưa vững chắc đã nhiều năm; sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, thách thức; số doanh nghiệp phải giải thể, tạm ngừng sản xuất hoặc thu hẹp quy mô sản xuất tăng lên đáng kể; nợ xấu của các tổ chức tín dụng gia tăng, một số tổ chức tín dụng đã gặp khó khăn về thanh khoản, tốc độ giảm nghèo có phần giảm

20 Tốc độ tăng GDP bình quân năm cho giai đoạn 2000-2005 là 7,5%, cho 2006-2010 là 7%; nếu chỉ tính cho giai đoạn năm 2008-2010 chỉ khoảng 6%; năm 2011, ước tính tăng trưởng GDP chỉ khoảng từ 5,89%, v.v Tăng trưởng GDP của nước ta không còn ở mức cao nhất trong khu vực, năm 2010 về tăng trưởng GDP, nước ta đứng thứ 5 trong khu vực, đứng thứ 26 trên thế giới, năm 2011 đứng thứ 4 trong khu vực và đứng thứ 28 trên thế giới; trong các năm gần đây, tăng trưởng GDP của nước ta luôn thấp hơn mức bình quân của các nước đang phát triển

21 Lạm phát trung bình giai đoạn 2000-2005 là 5,1%/năm, và trung bình cho giai đoạn

2006-2010 là 11,4%/ năm Năm 2011 tỷ lệ lạm phát hơn 18% so với năm 2006-2010 Từ năm 2007, lạm phát luôn ở mức hai con số (trừ năm 2009), cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng và thuộc vào một trong số các nền kinh tế có lạm phát cao trên thế giới.

Trang 3

sút, thấp hơn mục tiêu kế hoạch và tốc độ trung bình về giảm nghèo của các năm trước đây v.v

Thực tế nói trên do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, nguyên nhân dài hạn và ngắn hạn, nhưng chủ yếu là do các vấn đề thuộc

về cơ cấu và mô hình tăng trưởng Những đặc điểm yếu kém của cơ cấu kinh tế và mô hình tăng trưởng hiện hành bao gồm:

- Tăng trưởng theo chiều rộng: động lực tăng trưởng tốc độ cao phụ thuộc vào gia tăng vốn đầu tư và gia tăng số lượng lao động Tỷ lệ đầu tư toàn xã hội quá lớn (trong nhiều năm là 40% - 42% GDP) Năm

2008, tổng đầu tư trên GDP của Việt Nam cao thứ 2 thế giới (trong số

145 nước được xếp hạng)22 Đóng góp của đầu tư cho tăng trưởng GDP tăng rất nhanh (từ 5% vào năm 1990 lên trên 60% năm 2010) Đồng thời, đóng góp của nhân tố năng suất tổng hợp cho tăng trưởng giảm rất nhanh (từ gần 50% vào năm 1990 xuống 40% năm 2000 và khoảng 16% năm 2010)

- Nhà nước tham gia quá trực tiếp và quá chi phối hoạt động đầu

tư, kinh doanh, trong khi chưa thực hiện tốt các chức năng quan trọng thuộc về nhà nước như quy hoạch, kế hoạch, giám sát và điều hành kinh

tế vĩ mô Nền kinh tế lấy doanh nghiệp nhà nước (DNNN) làm động lực trung tâm: Trong giai đoạn 2006-2009, DNNN chiếm 45% tổng đầu tư của khu vực doanh nghiệp, nhưng chỉ đóng góp 28% cho GDP và 19% cho tăng trưởng GDP; 24% việc làm và âm 22% cho việc làm mới; 20% giá trị sản xuất công nghiệp (GTSXCN) và 8% tăng trưởng GTSXCN Chính phủ Việt Nam chi khoảng 1/3 ngân sách cho đầu tư phát triển Xét về tỷ lệ vốn đầu tư công so với GDP thì Chính phủ Việt Nam là nhà đầu tư lớn nhất so với Chính phủ các nước trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á23

- Hoạt động đầu tư nhìn chung kém hiệu quả Xét tương quan với tốc độ tăng trưởng kinh tế (hệ số ICOR), hiệu quả đầu tư của Việt Nam

ở mức rất thấp Trong đó, đầu tư công kém hiệu quả nghiêm trọng: ICOR của khu vực công hiện cao gấp rưỡi ICOR chung của nền kinh tế

và gấp đôi ICOR của khu vực dân doanh

22 CIA World Fact Book, List of countries by gross fixed investment as percentage of GDP, 2009.

23 Vũ Tuấn Anh (2010), Tình hình đầu tư công trong 10 năm qua và giải pháp tái cơ cấu.

Trang 4

- Mở rộng tín dụng một cách mạo hiểm: Nếu như năm 1995, tổng đầu tư tích lũy mới chỉ khoảng 100% GDP thì năm 2010, tỷ lệ này lên tới gần 400% GDP Để đáp ứng lượng đầu tư khổng lồ này, tổng dư nợ tín dụng tăng từ 25% GDP năm 1995 lên 50% năm 2003 và 135% năm 2010

- Điều hành vĩ mô bất cập: Tiếp tục sử dụng “hệ điều hành cũ” cho một nền kinh tế mới Trong nền kinh tế mới này, khu vực nhà nước chỉ còn chiếm khoảng 1/4 GDP, Việt Nam đã gia nhập WTO, nền kinh tế rất

mở với kim ngạch xuất nhập khẩu tương đương 150% - 160% GDP, dư địa can thiệp trực tiếp của “hệ điều hành” đã bị thu hẹp rất nhiều

Hệ quả là bất ổn vĩ mô lặp đi lặp lại với tần suất ngày càng dày, mức độ ngày càng nghiêm trọng Tín dụng nhiều, tiết kiệm giảm, đầu tư cao, nhưng hiệu quả thấp, dẫn đến: lạm phát cao (vì nhiều tiền nhưng ít hàng); lãi suất cao và đồng tiền chịu sức ép giảm giá (do lạm phát cao); thâm hụt ngân sách lớn (vì chi tiêu quá nhiều); thâm hụt thương mại lớn (vì cầu trong nước quá cao nhưng năng lực sản xuất kém); bong bóng tài sản (vì quá nhiều tiền nhưng lợi nhuận của hoạt động sản xuất thấp)

Từ những phân tích ở trên, có thể rút ra hai kết luận sau:

Một là, các yếu tố của mô hình trưởng theo chiều rộng (trước hết là gia tăng quy mô vốn đầu tư và lao động) đã đến mức tới hạn; động lực tăng trưởng phụ thuộc vào gia tăng vốn đầu tư, gia tăng số lượng lao động v.v đã yếu và đang giảm dần

Đặc biệt, yếu tố nhân khẩu học thuận lợi từng đóng góp tới 1/3 mức tăng trưởng GDP của Việt Nam trong quá khứ, nhưng hiện đang suy yếu dần Một số doanh nghiệp đã thông báo tình trạng thiếu hụt lao động tại các thành phố lớn Theo dự báo, tỷ trọng dân số nằm trong độ tuổi 5-19 sẽ giảm dần từ mức 34% vào năm 1999 xuống còn 27% vào năm 2010 và chỉ còn 22% vào năm 2020 Theo dự báo của Chính phủ, lực lượng lao động Việt Nam có thể sẽ chỉ tăng 0,6%/năm trong thập niên tới, nghĩa là chỉ bằng gần 1/4 mức tăng 2,8%/năm trong những năm 2000-2010 Sự gia tăng lực lượng lao động vẫn sẽ tiếp tục đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế nhưng mức độ đóng góp sẽ thấp hơn nhiều so với thập niên trước

Trong khi dư địa và động lực tăng trưởng theo chiều rộng của nền kinh tế đang giảm và yếu dần, thì các động lực của tăng trưởng theo

Trang 5

chiều sâu (gồm năng suất và hiệu quả sử dụng nguồn lực) chưa được cải thiện để bù đắp những thiếu hụt của tăng trưởng theo chiều rộng Hệ quả là, tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế đang giảm, và bản thân nền kinh tế nước ta hiện nay tự nó không còn có khả năng duy trì mức tăng trưởng cao như những năm trước đây

Để giữ nhịp tăng trưởng đã đạt được trong thời gian qua, Việt Nam cần bù đắp sự suy giảm lợi thế cơ cấu dân số vàng bằng cách tăng năng suất của nền kinh tế Muốn kinh tế tăng trưởng bình quân 7%/năm, tốc

độ tăng năng suất lao động của Việt Nam cần đẩy nhanh 1,5 lần để đạt mức khoảng 6,4%/năm so với mức bình quân 4,1%/năm trước đây24 Đây là một thách thức vô cùng lớn bởi khả năng nâng cao năng suất nhờ tái phân bổ lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ tất yếu

sẽ suy giảm theo thời gian Vì vậy, để đạt được mục tiêu trên, Việt Nam

sẽ cần đến sự đóng góp mạnh mẽ hơn nữa của yếu tố tăng trưởng năng suất trong từng ngành kinh tế

Từ năm 2000, mức đầu tư toàn xã hội của Việt Nam đã vượt 30% GDP, thậm chí đạt 40% vào năm 2007 Điều này nói lên rằng khả năng tiếp cận nguồn vốn đầu tư không thể coi là một trở ngại cho tăng trưởng kinh tế trong thời gian trước mắt Thay vào đó, thách thức đối với Việt Nam là phải làm thế nào để đảm bảo nguồn vốn đó được phân bổ cho nền kinh tế thông qua những khoản đầu tư hiệu quả nhất Điều đó có nghĩa là Việt Nam cần giảm đầu tư vào các doanh nghiệp không tạo ra lợi nhuận, kể cả các DNNN, đồng thời cần tăng cường giám sát ngành tài chính để đảm bảo đồng vốn đầu tư được rót một cách đúng đắn vào những mục đích sử dụng đem lại hiệu quả và lợi nhuận cao nhất Hiện tại, các DNNN, mặc dù có hiệu quả sử dụng vốn thấp hơn, song lại dễ dàng tiếp cận vốn hơn so với các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân Với vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, việc nâng cao năng suất của các DNNN Việt Nam có ý nghĩa sống còn, song, đồng thời với việc nâng cao năng suất, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cũng phải được nâng cao

Hai là, cùng với duy trì quá lâu mô hình tăng trưởng theo chiều

rộng không còn phù hợp, thì chủ trương, chính sách và cách thức quản

24 McKinsey (2012), Giữ nhịp tăng trưởng bền vững tại Việt Nam: thách thức về năng suất.

Trang 6

lý, điều hành nền kinh tế ở các cấp, các ngành chưa thay đổi kịp thời; chậm khắc phục các điểm nghẽn (về hạ tầng, về thể chế và nguồn lực lao động có trình độ cao) kìm hãm gia tăng năng suất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và của doanh nghiệp Gia tăng vốn đầu tư dưới các hình thức và kênh khác nhau vẫn là công cụ chủ yếu để thúc đẩy tăng trưởng Để đáp ứng yêu cầu nói trên, chính sách tài khoá và tiền

tệ mở rộng đã phải liên tục duy trì trong nhiều năm; và đó là một trong các nguyên nhân quan trọng của lạm phát cao và bất ổn kinh tế vĩ mô ở nước ta trong thời gian gần đây

Những lý do trên đây buộc chúng ta phải tiến hành tái cơ cấu kinh

tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng

II MỤC TIÊU VÀ NGUYÊN TẮC TÁI CƠ CẤU KINH TẾ GẮN VỚI ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG

Thứ hai, từ chiều cạnh vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế, tái

cơ cấu kinh tế được hiểu là sự thoái lui của Nhà nước trong vai trò chủ đầu tư và chủ sở hữu doanh nghiệp, và tăng cường vai trò định hướng

và quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước

Thứ ba, từ chiều cạnh động lực tăng trưởng, chuyển đổi mô hình tăng trưởng là thay đổi động lực của tăng trưởng kinh tế từ chủ yếu dựa

Trang 7

vào tăng quy mô các yếu tố đầu vào sang chủ yếu dựa vào tăng hiệu quả, tăng năng suất lao động và năng suất các yếu tố tổng hợp, đồng thời, đảm bảo lợi ích của tăng trưởng được phân phối hợp lý và công bằng hơn giữa các vùng và các tầng lớp dân cư

Như vậy, mô hình tăng trưởng mà chúng ta hướng đến là mô hình

mà trong đó tăng trưởng sẽ dựa chủ yếu vào hiệu quả sử dụng nguồn lực

và năng suất lao động, người dân có việc làm ổn định, chất lượng hơn với thu nhập ngày càng được cải thiện phù hợp với tốc độ tăng năng suất lao động, và tạo ra nguồn lực cần thiết để mang lại khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc y tế và giáo dục một cách đại trà và bền vững

Do đó, tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng cho thời

kỳ 5 năm 2011-2015 và thời kỳ 10 năm 2011-2020 đạt được các mục tiêu cụ thể sau đây:

Một là, từng bước và liên tục nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực xã hội, nâng cao năng suất lao động, năng suất các yếu tố tổng hợp

và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế để năng suất lao động, năng suất các yếu tố tổng hợp và hiệu quả sử dụng nguồn lực sẽ dần trở thành các động chủ yếu của tăng trưởng kinh tế với tốc độ hợp lý cho thời kỳ 2013-2015 và tốc độ cao hơn cho giai đoạn tiếp theo

Hai là, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô một cách vững chắc với lạm phát thấp và các nền tảng vĩ mô vững mạnh

Ba là, thiết lập phát triển cân đối hợp lý giữa các địa phương, vùng miền trên cơ sở phát huy lợi thế của từng địa phương, từng vùng, sự kết hợp, phối hợp và bổ sung giữa các địa phương trong vùng và sự hỗ trợ

có chọn lọc và hiệu quả của Trung ương

Bốn là, Nhà nước cần giảm vai trò là nhà đầu tư và người kinh doanh trực tiếp Cụ thể, cần đẩy mạnh chương trình cải cách doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt cần đẩy nhanh việc bán 100% các doanh nghiệp nhà nước không thuộc các lĩnh vực chiến lược và giảm dần tỷ trọng đầu tư công trong nền kinh tế

Năm là, từng bước và liên tục cải thiện, nâng cấp trình độ phát triển các ngành kinh tế nói riêng và nền kinh tế nói chung; qua đó, các ngành

sử dụng công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao từng bước thay thế các

Trang 8

ngành công nghệ thấp, thâm dụng lao động và giá trị gia tăng thấp để trở thành những ngành kinh tế chủ lực của nền kinh tế.

Sáu là, tiếp tục tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP, và đến năm 2020 hai ngành này chiếm ít nhất 85% GDP; sản xuất nông nghiệp chuyển đổi theo hướng hiện đại, tổ chức sản xuất theo kiểu công nghiệp, có năng suất cao, chất lượng cao

Cuối cùng là, góp phần xây dựng và cũng cố vị thế quốc gia trong quan hệ quốc tế, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia, trật

tự an toàn xã hội Tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

2 Các nguyên tắc chủ yếu

Tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyên đổi mô hình tăng trưởng là nhiệm vụ lớn, khó khăn và phức tạp, đòi hỏi phải được triển khai đồng

bộ ở tất cả các ngành, các cấp, các lĩnh vực trên phạm vi cả nước và ở từng địa phương, đơn vị cơ sở trong thời gian dài nhiều năm Do đó, trong chỉ đạo và thực hiện tái cơ cấu kinh tế, cần tuân thủ các nguyên tắc sau đây

Một là, thực hiện tăng trưởng hợp lý, bền vững và ưu tiên chất lượng tăng trưởng Không ngừng nâng cao thu nhập và mức sống vật chất, tinh thần của người dân là mục tiêu cao nhất trong các chính sách của Đảng và Nhà nước Tăng trưởng hợp lý và liên tục là công cụ quan trọng hàng đầu để đạt được mục tiêu nói trên Vì vậy, quan điểm chỉ đạo đầu tiên là tăng trưởng kinh tế cao hợp lý là quan trọng, nhưng không phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng bằng mọi giá và ngắn hạn, mà là tăng trưởng kinh tế phải kèm với các tiêu chí sau đây:

- Lạm phát giảm dần xuống dưới 2 con số vào năm 2012, tiếp tục giảm trong các năm tiếp theo đến mức khoảng dưới 5% hàng năm

- Tăng trưởng trong cân đối, nghĩa là tăng trưởng đi kèm với các cân đối vĩ mô vững chắc

- Tăng trưởng mang lại lợi ích cho tất cả tầng lớp dân cư, mà cụ thể là tăng trưởng phải đi liền với giảm bất bình đẳng về thu nhập, xóa

Trang 9

đói, giảm nghèo bền vững, nhất là giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số và các nhóm dân cư dễ bị tổn thương khác.

- Tăng trưởng phải chủ yếu nhờ tăng hiệu quả, tăng năng suất lao động, tăng giá trị gia do kiến thức và kỹ năng của người lao động tạo ra

- Cuối cùng là tăng trưởng thân thiện với môi trường, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn năng lượng

Trong quản lý và điều hành nền kinh tế, luôn nỗ lực để đạt được kết quả toàn diện Tuy vậy, trong trường hợp phải lựa chon, thì ưu tiên chất lượng tăng trưởng, mà trước hết là tăng trưởng với lạm phát thấp, cân đối vĩ mô vững chắc, tăng trưởng đi kèm với tiếp tục xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội và thân thiện với môi trường

Hai là, thực hiện đồng bộ và thống nhất hệ thống các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tái cơ cấu kinh tế và bảo đảm

an sinh xã hội Trong điều kiện hiện nay, chúng ta không chỉ thực hiện tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, mà còn phải kiềm lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội Tất cả các nội dung nói trên phải được thực hiện đồng thời, gắn với nhau và bổ sung cho nhau Do đó, các giải pháp về chống lạm phát, ổn định kinh tế

vĩ mô, về tái cơ cấu kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội phải lồng ghép và thống nhất với nhau, bổ sung và phối hợp với nhau cả trước mắt cũng như trung và dài hạn

Ba là, tiếp tục đổi mới, mở cửa, tích cực và chủ động hội nhập kinh

tế quốc tế Tái cơ cấu kinh tế sẽ thành công, đạt được mục tiêu như dự kiến, nếu thu hút sự hưởng ứng và tham gia tích cực của người dân và các thành phần kinh tế, nhất là tư nhân trong nước và nước ngoài, qua

đó, huy động được tối đa và sử dụng ngày càng hiệu quả hơn các nguồn lực xã hội Vì vậy, cần phải tiếp tục đổi mới tư duy, phân định rõ vai trò của Nhà nước và thị trường; tiếp tục đổi mới mở rộng quy mô và hiệu quả hoạt động của các loại thị trường, đảm bảo ngày càng đầy đủ hơn quyền tự do và cơ hội kinh doanh của người dân và doanh nghiệp, các nhân tố sản xuất dịch chuyển và phân bố chủ yếu theo tín hiệu của thị trường Cùng với việc nâng cao năng lực và hiệu lực quản trị quốc gia, Nhà nước chuyển mạnh sang vai trò kiến tạo và hỗ trợ phát triển thông

Trang 10

qua cơ chế, chính sách và các đòn bẩy kinh tế, hạn chế dần đầu tư kinh doanh; can thiệp hành chính vào thị trường, nếu có, phải có thời hạn và chỉ trong trường hợp thực sự cần thiết

Bốn là, tiến hành tuần tự, từng bước vững chắc và có hệ thống dựa trên khai thác các lợi thế cạnh tranh hiện có, vừa có thể tăng tốc nhảy vọt trên một số ngành và lĩnh vực nhất định Tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng là một quá trình phức tạp, lâu dài với nhiều khó khăn và thách thức; phải tiến hành đồng thời và đồng bộ trên nhiều lĩnh vực của nền kinh tế và ở tất cả các ngành, các cấp trên cả nước, có đột phá, nếu xét thấy cần thiết Vì vậy, các giải pháp tái cơ cấu kinh tế phải được sắp xếp hệ thống và tuần tự theo thời gian, theo tính chất của từng vấn đề và mối liên kết giữa các vấn đề cần giải quyết Theo đó, việc triển khai thực hiện phải tuần tự, từng bước, vững chắc có thứ tự

ưu tiên và đột phá; vừa triển khai, vừa đánh giá và rút các kinh nghiệm

để điều chỉnh, nếu xét thấy cần thiết

III ĐỊNH HƯỚNG GIẢI PHÁP TÁI CƠ CẤU KINH TẾ GẮN VỚI ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG

1 Kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô

Kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô vẫn tiếp tục là nhiệm

vụ ưu tiên cả trước mắt và trong suốt kế hoạch 5 năm 2011-2015; bởi vì đây chính là tiền đề cho quá trình tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng Định hướng giải pháp chủ yếu trước mắt là tiếp tục thực hiện nhất quán và đầy đủ nội dung, tinh thần Kết luận số 02/KL-TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 11 của Chính phủ về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội Đồng thời với tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính, trong

đó, cần lưu ý thêm một số điểm sau đây:

Một là, tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, kiểm soát

mức tăng tổng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán với quy mô và hình thức thích hợp Thực hiện điều hành cung ứng tiền tệ và tín dụng một cách chủ động và linh hoạt tuỳ theo diễn biến của thị trường; đồng thời, có chính sách hợp lý ưu tiên phân bố tín dụng cho sản xuất nông nghiệp và các ngành liên quan phục vụ sản xuất nông nghiệp, cho sản

Trang 11

xuất hàng xuất khẩu, các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các lĩnh vực ưu tiên phát triển khác

Hai là, thực hiện các công cụ của chính sách tiền tệ một cách chủ

động và linh hoạt theo diễn biến cụ thể của thị trường; điều chỉnh mặt bằng lãi suất huy động và cho vay giảm theo kỳ vọng của thị trường về lạm phát với lãi suất hợp lý đảm bảo hài hòa lợi ích của người tiết kiệm, người đầu tư và các tổ chức tín dụng, đồng thời, góp phần tích cực vào kiềm chế lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền;

Ba là, giảm dần mức độ đô la hoá của nền kinh tế và sự phụ thuộc vào đồng USD trong thanh toán quốc tế; thực hiện chính sách tỷ giá ổn định linh hoạt và chủ động theo hướng ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, giảm nhập siêu và bảo đảm an toàn cán cân thành toán quốc tế

Bốn là, tăng cường và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với thị trường vàng theo hướng: (i) thừa nhận và bảo đảm quyền sở hữu vàng của cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật; (ii) thừa nhận và bảo đảm vàng như một phương tiện cất trữ; (iii) hạn chế, tiến tới cấm

sử dụng vàng làm phương tiện trao đổi và thanh toán trên lãnh thổ Việt Nam, hạn chế có hiệu quả quy mô và mức độ “vàng hoá” nền kinh tế; (iv) kết nối thị trường vàng trong nước với thị trường quốc tế đảm bảo giá vàng ở trong nước hài hoà hợp lý với giá vàng thế giới và mức lợi tức của các tài sản khác; và (v) huy động tốt hơn số dự trữ vàng trong dân cư phục vụ cho đầu tư phát triển

Năm là, thực hiện thắt chặt tài khoá để kiểm soát tổng cầu, giảm

áp lực gia tăng lạm phát; đồng thời thực hiện nghiêm kỷ luật tài khoá (dự toán ngân sách, mức thâm hụt ngân sách, quy mô, tốc độ gia tăng

và mức trần nợ công), tăng cường quản lý chi và nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản chi ngân sách

Sáu là, phối hợp chặt chẽ và hiệu quả chính sách tiền tệ và chính

sách tài khóa; chính sách tài khóa phải bổ sung và hỗ trợ nhiều hơn cho chính sách tiền tệ trong chống lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô

Về trung và dài hạn, vẫn tiếp tục kiên trì và nhất quán kiềm chế lạm phát, từng bước giảm tỷ lệ lạm phát để mức lạm phát trung bình hàng năm thời kỳ 2011-2015 khoảng dưới 7%/năm, và dưới 5%/năm cho

Trang 12

thời kỳ 2016-2020; tăng cường tính bền vững của các cân đối vĩ mô; xem xét giảm mức thu ngân sách, khoan sức dân, hỗ trợ doanh nghiệp

và nâng cao tính cạnh tranh của môi trường kinh doanh; giảm thu để giảm chi ngân sách, giảm bội chi ngân sách xuống dưới 4,5% GDP cho thời kỳ 2011-2015 và dưới 3% GDP cho thời kỳ 2016-2020, đảm bảo

an toàn nợ quốc gia cả về số lượng và chất lượng; giảm thâm hụt tài khoản vãng lai xuống khoảng 4% GDP năm 2015 và tiến tới thặng dư tài khoản vãng lai vào năm 2020; tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia v.v Lạm phát chỉ được kiềm chế và giảm xuống mức thấp, giá trị đồng nội tệ được cũng cố và gia tăng, các cân đối vĩ mô sẽ ổn định chắc chắn, khi các biện pháp tái cơ cấu kinh tế được triển khai thực hiện có kết quả

2 Tái cơ cấu đầu tư với trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư công

2.1 Các giải pháp tái cơ cấu, nâng cao hiệu quả đầu tư công

- Thực hiện đầy đủ và nhất quán nội dung Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý vốn đầu tư từ ngân sách và vốn trái phiếu chính phủ, trong đó, đặc biệt nhấn mạnh đến các biện pháp quản lý liên quan đến phê duyệt dự án và bố trí vốn đầu tư, đảm bảo vốn đầu tư phải được bố trí tập trung để hoàn thành dự án trong thời gian sớm nhất, qua đó, giảm thất thoát lãng phí

và nâng cao hiệu quả đầu tư

- Đối với vốn trái phiếu chính phủ, trong giai đoạn 2012-2015 không bổ sung thêm dự án mới, đồng thời, tiếp tục rà soát, lựa chọn và sắp xếp lại dự án đã có trong danh mục sử dụng trái phiếu chính phủ trong giai đoạn 2011-2015 và kế hoạch năm 2012; tập trung vốn cho các dự án đã hoàn thành và đã bàn giao đưa vào sử dụng, các dự án dự kiến hoàn thành trong năm 2012-2013 Còn lại các dự án không bố trí được vốn, thì chuyển sang thực hiện đầu tư theo hình thức khác, hoặc huy động vốn đầu tư hợp pháp từ các nguồn khác để thực hiện hoặc tạm thời đình hoãn, chuyển sang giai đoạn sau năm 2015

- Đưa toàn bộ vốn đầu tư nhà nước, gồm cả vốn trái phiếu chính phủ và vốn đầu tư nhà nước ngoài ngân sách khác vào khuôn khổ chi tiêu trung hạn, đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước phản ánh đầy đủ

Ngày đăng: 08/10/2017, 09:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w