1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao năng lực cạnh tranh của cảng VICT trong bối cảnh Việt Nam hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN

102 156 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Aldington Report 1985: “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nư

Trang 1

BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM

HỌ VÀ TÊN HỌC VIÊN PHẠM TUẤN ANH

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CẢNG VICT TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM HỘI

NHẬP CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

HẢI PHÒNG - 2016

Trang 2

BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM

HỌ VÀ TÊN HỌC VIÊN : PHẠM TUẤN ANH

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CẢNG VICT TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Nâng cao năng lực cạnh tranh của cảng VICT

trong bối cảnh Việt Nam hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN” là công trình nghiên

cứu của tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hồ Thị Thu Hòa

Các thông tin, số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu nào khác

TP HCM, ngày tháng năm 2016

Tác giả

Phạm Tuấn Anh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

LỜI MỞ ĐẦU ix

1 Tính cấp thiết của đề tài ix

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài x

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài x

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài xi

5 Kết cấu của đề tài xi

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1

1.1 Khái niệm về cạnh tranh và vai trò của cạnh tranh đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 1

1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh 1

1.1.2 Các loại hình cạnh tranh 2

1.1.3 Vai trò của cạnh tranh đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 2 1.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 4

1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh 4

1.2.2 Các cấp độ của năng lực cạnh tranh 7

Trang 6

1.2.3 Ý nghĩa của việc nâng cao năng lực cạnh tranh 9

1.2.4 Ma trận hình ảnh cạnh tranh (Competitive Profile Matrix) 9

1.3 Năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực khai thác Cảng 11

1.3.1 Các dịch vụ chủ yếu của Cảng 11

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ Cảng 13

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh 18

1.4.1 Môi trường bên ngoài 18

1.4.2 Môi trường nội bộ 21

1.5 Cơ sở pháp lý của hoạt động kinh doanh dịch vụ Cảng 23

1.6 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của một số Cảng ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh 24

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC CẢNG CỦA CÔNG TY FLDC (CẢNG VICT) 27

2.1 Giới thiệu khái quát về Công ty FLDC (Cảng VICT) 27

2.1.1 Giới thiệu khái quát về công ty FLDC 27

2.1.2 Giới thiệu khái quát về Cảng VICT 27

2.1.4 Các dịch vụ, Khách hàng và thị trường 36

2.1.5 Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động SXKD của công ty 38

2.1.6 Đánh giá chung kết quả hoạt động kinh doanh của Cảng VICT giai đoạn 2012-2014 41

2.2 Thực trạng kinh doanh dịch vụ Cảng của công ty giai đoạn 2012-2014 43

2.2.1 Các sản phẩm dịch vụ về Cảng của công ty 43

2.2.2 Đánh giá tình hình thực hiện sản lượng 44

2.2.3 Đánh giá tình hình thực hiện doanh thu 46

Trang 7

2.2.4 Đánh giá tình hình thực hiện chi phí 47

2.2.5 Đánh giá tình hình thực hiện lợi nhuận 48

2.3 Đánh giá năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ Cảng của công ty 49

2.3.1 Phân tích các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ cảng của công ty FLDC 49

2.3.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực Cảng của công ty FLDC 56

2.3.3 Xây dựng ma trận hình ảnh cạnh tranh (Competitive Profile Matrix) 62

2.3.4 Các biện pháp công ty đang thực hiện để nâng cao năng lực cạnh tranh 70

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC CẢNG CỦA CÔNG TY FLDC (CẢNG VICT) TRONG GIAI ĐOẠN VIỆT NAM GIA NHẬP CỘNG ĐỒNG ASEAN 74

3.1 Cơ sở thực hiện các giải pháp 74

3.1.1 Định hướng phát triển của ngành trong quá trình hội nhập 74

3.1.2 Định hướng phát triển của công ty FLDC (Cảng VICT) trong quá trình hội nhập 75

3.2 Mục tiêu của các giải pháp 77

3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực Cảng của công ty FLDC (Cảng VICT) trong giai đoạn hội nhập 77

3.3.1 Giải pháp về nguồn nhân lực 77

3.3.2 Giải pháp về hoạt động marketing 78

3.3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư cơ sở hạ tầng cảng 79

3.3.4 Giải pháp về thị trường 81

3.3.5 Giải pháp về tổ chức công ty 82

Trang 8

 Một số kiến nghị với nhà nước 85

+/ Hoàn chỉnh hệ thống luật pháp và cũng như quy định có liên quan 85

+/ Xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ logistics 85

+/ Tư vấn, thông tin cho doanh nghiệp 86

+/ Khuyến khích liên kết các doanh nghiệp trong ngành 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt

DEVELOPMENT COMPANY

Công ty liên doanh phát triển tiếp vận số 1

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

5 Bảng 2.4 Bảng báo cáo tình hình thực hiện sản lƣợng của cảng

VICT

44

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang 11

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam (VN) đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu

và rộng với việc hoàn tất ký kết 10 Hiệp định Thương mại Tự do (FTA), trong đó

có FTA với Hàn Quốc và FTA với Liên minh Kinh tế Á-Âu (bao gồm: Nga, Belarus, Kazakhstan, Armenia, Kyrgyzstan) được ký trong tháng 5 vừa qua VN cũng đã kết thúc cơ bản đàm phán FTA VN-EU (EVFTA) và gần đây nhất là hoàn tất đàm phán Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) tại Atlanta vào ngày 5/10/2015 Đồng thời , cùng với việc gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối năm 2015, VN đang tích cực đàm phán các FTA khác như Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) (ASEAN+6), FTA giữa VN và Khối Thương mại Tự do châu Âu - EFTA (gồm các nước Thu ̣y Sỹ , Na-uy, Ireland và Liechstentein)

Việc VN tham gia vào các FTA được dự báo sẽ tác động lớn đến sự phát triển của nền kinh tế Đó không chỉ là tác động đối với công cuộc cải cách nền kinh

tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và hoàn thiện thể chế mà còn đòi hỏi các doanh nghiệp (DN) cần phải nỗ lực cải thiện và tăng cường năng lực cạnh tranh

Chúng ta đã được nghe nói rất nhiều về tính tiến bộ và đòi hỏi cao của những FTA thế hệ mới, đi kèm với đó là những cơ hội và thách thức lớn hơn Chắc chắn là dịch vụ khai thác cảng cũng sẽ không nằm ngoài xu hướng này Thậm chí, các các Cảng càng cần phải trang bị tốt hơn, bởi dịch vụ khai thác cảng đóng vai trò quan trọng tạo nên lợi thế cạnh tranh cho nhiều ngành khác của nền kinh tế khi gia nhập thị trường thế giới

Cảng biển là một bộ phận không thể thiếu của hệ thống giao thông vận tải thuỷ trong thương mại quốc tế, 80% hàng hoá được vận chuyển bằng đường biển Cảng không những phục vụ cho nhu cầu đi lại cho con người mà còn là nơi trao đổi hàng hoá cho nhu cầu nội địa và cho nhu cầu xuất nhập khẩu góp phần không

Trang 12

Trước tình hình chung của nền kinh tế cả nước, Công Ty Liên Doanh Phát Triển Tiếp Vận Số 1, Cảng VICT cũng đang từng bước tham gia vào tiến trình hội nhập kinh tế thế giới; VICT được đầu tư và khai thác bởi công ty liên doanh Phát Triển Tiếp Vận Số 1 (FLDC), hoạt động trên cơ sở luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Đây là dự án xây dựng cảng container chuyên dụng đầu tiên ở Việt Nam, với sự tham gia của phía đối tác nước ngoài

Trong giai đoạn hiện nay, cạnh tranh là một điều tất yếu không chỉ riêng trong lĩnh vực cảng mà nó còn bao hàm tất cả các nền kinh tế Chính vì thế em đã

chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của cảng VICT trong bối cảnh Việt

Nam hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN” cho luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu các yếu tố làm ảnh hưởng đến năng lực canh trạnh của Cảng VICT, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp nâng cao tính cạnh tranh

Đánh giá năng lực cạnh tranh của Cảng VICT trong bối cảnh Việt Nam hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN

Thông qua việc phân tích các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh, các yếu

tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong hoạt động cảng biển, đề tài đưa ra các nhóm giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của cảng VICT trong bối cảnh Việt Nam hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của cảng VICT trong bối cảnh Việt Nam hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN

- Phạm vi nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của cảng VICT trong giai đoạn

2013 – 2015

Trang 13

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Luận văn sử dụng các phương pháp thống kê, mô tả, phân tích, so sánh, tổng hợp… Luận văn có sự kết hợp giữa nghiên cứu lý luận và điều tra thực tế thông qua phỏng vấn chuyên gia và khảo sát khách hàng để đánh giá năng lực cạnh tranh của Sotrans Focus trong hoạt động cung cấp dịch vụ cảng biển

Luận văn còn sử dụng phương pháp thu thập số liệu Nguồn dữ liệu của phương pháp thu thập số liệu gồm có 2 nguồn : sử dụng dữ liệu từ nguồn thứ cấp

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục các bảng biểu, tài liệu tham khảo Kết cấu của luận văn gồm ba chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

- Chương 2: Thực trạng và đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty FLDC (Cảng VICT)

- Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Cảng VICT

Trang 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG

LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 Khái niệm về cạnh tranh và vai trò của cạnh tranh đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh

“Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất” [1, tr.12]

Theo Nguyễn Hữu Thắng (2008), “cạnh tranh là một hiện tượng phổ biến trong tự nhiên, kinh tế và xã hội Cạnh tranh của doanh nghiệp là một loại hình cạnh tranh trong kinh tế” [9, tr.21]

Trong cuốn Thị Trường Chiến Lược và Cơ Cấu, tác giả Tôn Thất Nguyễn Nghiêm cho rằng, “cạnh tranh trên thương trường không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc/và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn các đối thủ cạnh tranh của mình Nói chính xác, sự khác biệt giữa cạnh tranh không lành mạnh

và cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh là một bên có mục đích tiêu diệt đối thủ bằng mọi cách hầu giữ hoặc tạo thế độc quyền, một bên lại có cứu cánh là phục vụ khách hàng tốt nhất để khách hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn các đối thủ của mình” [10, tr.33]

Nhà kinh tế nổi tiếng của Trường Kinh Doanh Havard (Mỹ), Michael Porter, người được xem là cha đẻ của Thuyết Chiến Lược Cạnh Tranh , đưa ra khái niệm:

“cạnh tranh, hiểu theo cấp độ doanh nghiệp là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là

Trang 15

hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh” [12, tr.26]

Trong khi các tổ chức OECD lại định nghĩa: “Cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và các vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”

Trên thực tế th́ có nhiều quan niệm về cạnh tranh khác nhau tuy nhiên đều thống nhất: “Cạnh tranh được hiểu là sự đấu tranh gay gắt quyết liệt giữa các đối thủ trên thị trường nhằm giành giật điều kiện sản xuất và nơi tiêu thụ hàng hóa dịch

vụ có lợi nhất Đồng thời cạnh tranh tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển ”

Như vậy có thể thấy cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản và tất yếu không thể không có trong nền kinh tế thị trường, phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể của nền kinh tế cùng theo đuổi mục đích lợi nhuận tối đa Và theo thời gian, tính chất cạnh tranh trong nền kinh tế sẽ ngày càng quyết liệt

1.1.2 Các loại hình cạnh tranh

Có nhiều hình thức được dùng để phân loại cạnh tranh bao gồm: căn cứ vào chủ thể tham gia, phạm vi ngành kinh tế và tính chất của cạnh tranh

- Căn cứ vào chủ thể tham gia

+ Cạnh tranh giữa người mua và người bán

+ Cạnh tranh giữa những người mua với nhau

+ Cạnh tranh giữa người bán với nhau

- Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế

+ Cạnh tranh trong nội bộ ngành

+ Cạnh tranh giữa các ngành

- Căn cứ vào tính chất của cạnh tranh trên thị trường

+ Cạnh tranh hoàn hảo:

+ Cạnh tranh không hoàn hảo

1.1.3 Vai trò của cạnh tranh đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

- Vai trò của cạnh tranh đối với nền kinh tế quốc dân:

Canh tranh là động lực phát triển kinh tế nâng cao năng suất lao động xã hội

Trang 16

triển có khả năng cạnh tranh cao Tuy nhiên ở đây cạnh tranh phải là cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh lành mạnh, các doanh nghiệp cạnh tranh nhau để cùng phát triển, cùng đi lên thì mới làm cho nền kinh tế phát triển bền vững Còn cạnh tranh độc quyền sẽ ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế, nó tạo ra môi trường kinh doanh không bình đẳng dẫn đến mâu thuẫn về quyền lợi và lợi ích kinh tế trong xã hội, làm cho nền kinh tế không ổn định Vì vậy, Chính phủ cần ban hành lệnh chống độc quyền trong cạnh tranh, trong kinh doanh để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh Cạnh tranh hoàn hảo sẽ đào thải các doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả Do đó buộc các doanh nghiệp phải lựa chọn phương án kinh doanh có chi phí thấp nhất, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất Như vậy cạnh tranh tạo ra sự đổi mới mang lại sự tăng trưởng kinh tế

- Vai trò của cạnh tranh đối với người tiêu dùng:

Trên thị trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng diễn ra gay gắt thì người được lợi nhất là khách hàng Khi có cạnh tranh thì người tiêu dùng không phải chịu một sức ép nào mà còn được hưởng những thành quả do cạnh tranh mang lại như: chất lượng sản phẩm tốt hơn, giá bán thấp hơn, chất lượng phục vụ cao hơn Đồng thời khách hàng cũng tác động trở lại đối với cạnh tranh bằng những yêu cầu về chất lượng hàng hoá, về giá cả, về chất lượng phục vụ Khi đòi hỏi của người tiêu dùng càng cao làm cho cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt hơn để giành được nhiều khách hàng hơn

- Vai trò của cạnh tranh đối với doanh nghiệp:

Cạnh tranh là điều bất khả kháng đối với mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Cạnh tranh có thể được coi là cuộc chạy đua khốc liệt mà các doanh nghiệp không thể tránh khỏi mà phải tìm mọi cách vươn nên để chiếm ưu thế và chiến thắng Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp luôn tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, thay đổi kiểu dáng mẫu mã đáp ứng nhu cầu của khách hàng Cạnh tranh khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng các công nghệ mới, hiện đại , tạo sức ép buộc các doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của

Trang 17

mình để giảm giá thành, nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, tạo ra các sản phẩm mới khác biệt có sức cạnh tranh cao

1.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh

Khái niệm năng lực cạnh tranh được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 1990 Theo Aldington Report (1985): “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh

là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp” Định nghĩa này cũng được nhắc lại trong “Sách trắng về năng lực cạnh tranh của Vương quốc Anh” (1994) Năm

1998, Bộ thương mại và Công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa “Đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác” [3, tr.42]

Tuy nhiên, khái niệm năng lực cạnh tranh đến nay vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất Theo Buckley (1988), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần được gắn kết với việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp với 3 yếu tố: các giá trị chủ yếu của doanh nghiệp, mục đích chính của doanh nghiệp và các mục tiêu giúp các doanh nghiệp thực hiện chức năng của mình

Điểm lại các tài liệu trong và ngoài nước, có nhiều cách quan niệm về năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Dưới đây là một số cách quan niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đáng chú ý

Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ

so với các đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp

Trang 18

Hai là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước

sự tấn công của doanh nghiệp khác Chẳng hạn, Hội đồng Chính sách năng lực cạnh tranh của Mỹ đưa ra định nghĩa: năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ trên thị trường thế giới…Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế

có trích dẫn khái niệm năng lực cạnh tranh theo Từ điển Thuật Ngữ chính sách thương mại (1997), theo đó, năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp

“không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế” Quan niệm về năng lực cạnh tranh như vậy mang tính chất định tính, khó có thể định lượng

Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc

tế Theo M.Porter (1990), năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, các quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu

và nhiệm vụ của doanh nghiệp

Bốn là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh Chẳng hạn, tác giá Vũ Trọng Lâm (2006) cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, tác giả Trần Sửu (2005) cũng có ý kiến tương tự:

“Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững” [11, tr.8]

Theo tác giả Tôn Thất Nguyễn Thiêm: trong tác phẩm Thị trường, chiến lược, cơ cấu nêu lên tầm quan trọng của việc gia tăng giá trị nội sinh và ngoại sinh của doanh nghiệp, đây chính là năng lực cạnh tranh mà mỗi doanh nghiệp cố gắng đạt được, là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện các chiến lược kinh doanh của mình.[2, tr.22]

Theo tác giả Lê Đăng Doanh trong tác phẩm Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thời hôi nhập: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo

Trang 19

bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước”.[1, tr.28]

Ngoài ra, không ít ý kiến đồng nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với năng lực kinh doanh

Như vậy, cho đến nay quan niệm về năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu thống nhất Để có thể đưa ra quan niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phù hợp, cần lưu ý những đặc thù khái niệm này như Henricsson và các cộng sự (2004) chỉ ra: đó là tính đa nghĩa (có nhiều định nghĩa), đa trị (có nhiều cách đo lường), đa cấp (với các cấp độ khác nhau), phụ thuộc, có tính quan hệ qua lại, tính chất động

và là một quá trình [15, tr.9]

Ngoài ra, khi đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, cần lưu ý thêm một số vấn đề sau đây:

Một là, quan niệm năng lực cạnh tranh cần phù hợp với điều kiện, bối cảnh

và trình độ phát triển trong từng thời kỳ Chẳng hạn, trong nền kinh tế thị trường tự

do trước đây, cạnh tranh chủ yếu trong lĩnh vực bán hàng và năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với việc bán được nhiều hàng hóa hơn đối thủ cạnh tranh Trong điều kiên thị trường cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh trên cơ sở tối đa hóa số lượng hàng hóa nên năng lực cạnh tranh thể hiện ở thị phần Còn trong điều kiện kinh tế tri thức hiện nay, cạnh tranh đồng nghĩa với mở rộng “không gian sinh tồn”, doanh nghiệp phải cạnh tranh không gian, cạnh tranh thị trường, cạnh tranh tư bản và do vậy quan niệm về năng lực cạnh tranh cũng phải phù hợp với điều kiện mới

Đối với Việt Nam hiện nay, với trình độ phát triển kinh tế còn thấp, nhưng lại đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh gay gắt, việc đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh cho phù hợp với bối cảnh hiện nay là không đơn giản

Hai là, năng lực cạnh tranh cần thể hiện khả năng đua tranh, tranh giành giữa các doanh nghiệp không chỉ về năng lực thu hút và sử dụng các yếu tố sản xuất, khả năng tiêu thụ hàng hóa, mà cả khả năng mở rộng không gian sinh tồn của sản phẩm, khả năng sáng tạo sản phẩm mới

Trang 20

Ba là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần thể hiện được phương thức cạnh tranh phù hợp, bao gồm cả những phương thức truyền thống và các phương thức hiện đại – không chỉ dựa trên lợi thế so sánh mà dựa vào lợi thế cạnh tranh, dựa vào quy chế

Từ những yêu cầu trên, có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như sau:

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và

sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững

Như vậy, năng lực cạnh tranh không phải là chỉ tiêu đơn nhất mà mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được cho nhóm doanh nghiệp (ngành) và từng doanh nghiệp

1.2.2 Các cấp độ của năng lực cạnh tranh

- Năng lực cạnh tranh quốc gia

Năng lực cạnh tranh quốc gia có thể hiểu là việc xây dựng một môi trường kinh tế chung, đảm bảo phân bố hiệu quả các nguồn lực, đạt và duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững Môi trường cạnh tranh kinh tế chung có ý nghĩa rất lớn đối với việc thúc đẩy quá trình tự điều chỉnh, lựa chọn của các nhà kinh doanh và các doanh nghiệp theo các tín hiệu thị trường được thông tin đầy đủ Ngược lại, sự dịch chuyển cơ cấu ngành theo hướng ngày càng có hiệu quả hơn, tốc độ tăng trưởng, sự phồn thịnh kinh tế lại phụ thuộc vào sự phát triển năng động của doanh nghiệp

- Năng lực cạnh tranh ngành

Như đã định nghĩa trong phần phân loại cạnh tranh, cạnh tranh giữa các ngành là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn Kết quả của cuộc cạnh tranh này là hình thành nên tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá trị hàng hóa thành giá trị sản xuất

- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Trang 21

Một doanh nghiệp muốn có một vị trí vững chắc và thị trường ngày càng được mở rộng thì cần có một tiềm lực đủ mạnh để có thể cạnh tranh trên thị trường Đó chính là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Do vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tổng hợp năng lực nắm giữ và nâng cao thị phần của chủ thể trong sản xuất kinh doanh hàng hoá, là trình độ sản xuất ra sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của thị trường Để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, người ta dựa vào nhiều tiêu chí: thị phần, doanh thu, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận, thu nhập bình quân, phương pháp quản lý, bảo vệ môi trường, uy tín của doanh nghiệp đối với xã hội, tài sản của doanh nghiệp nhất là tài sản vô hình, tỷ lệ công nhân lành nghề, tỷ lệ đội ngũ quản lý giỏi, nghiên cứu và sáng tạo Những yếu tố

đó tạo cho doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh, tức là tạo cho doanh nghiệp có khả năng triển khai các hoạt động với hiệu suất cao hơn các đối thủ cạnh tranh, tạo ra giá trị cho khách hàng dựa trên sự khác biệt hoá trong các yếu tố của chất lượng hoặc chi phí thấp, hoặc cả hai

- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ

Khi nói tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ không thể không bàn tới năng lực cạnh tranh của các sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất cung cấp Vì doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh thì một trong những yếu tố quan trọng là các hàng hóa dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp phải có năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ thể hiện năng lực của sản phẩm, dịch vụ đó thay thế một sản phẩm, dịch vụ khác đồng nhất hoặc khác biệt, có thể do đặc tính, chất lượng hoặc giá cả sản phẩm, dịch vụ Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ là một trong những yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Như vậy, người ta thường phân biệt năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ Nhưng nếu trên cùng một thị trường, có thể nói, năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là hai khai niệm rất gần với nhau

Trang 22

1.2.3 Ý nghĩa của việc nâng cao năng lực cạnh tranh

Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường Ở đâu có nền kinh tế thị trường thì ở đó có nền kinh tế cạnh tranh Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào kinh doanh trên thị trường muốn doanh nghiệp ḿnh tồn tại và đứng vững th́ phải chấp nhận cạnh tranh Trong giai đoạn hiện nay do tác động của khoa học kỹ thuật và công nghệ, nền kinh tế nước ta đang ngày càng phát triển, nhu cầu cuộc sống của con người được nâng lên ở mức cao hơn rất nhiều Để đáp ứng kịp thời nhu cầu đó, doanh nghiệp phải không ngừng điều tra nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp nào bắt kịp và đáp ứng đầy đủ nhu cầu đó thì sẽ chiến thắng trong cạnh tranh Chính vì vậy cạnh tranh là rất cần thiết, nó giúp cho doanh nghiệp:

- Tồn tại và đứng vững trên thị trường

- Cạnh tranh để phát triển

- Cạnh tranh để thực hiện các mục tiêu

1.2.4 Ma trận hình ảnh cạnh tranh (Competitive Profile Matrix)

Để đánh giá năng lực cạnh tranh của một sản phẩm, cần phải xác định được các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ những lĩnh vực hoạt động khác nhau và cần thực hiện việc đánh giá bằng cả định tính và định lượng

Ma trận hình ảnh cạnh tranh sản phẩm cho ta nhận diện những đối thủ cạnh tranh chủ yếu cùng những ưu thế và nhược điểm sản phẩm của họ Các bước cụ thể

để xây dựng công cụ ma trận đánh giá các yếu tố của sản phẩm, gồm:

Bước 1: Lập danh mục các yếu tố có vai trò quyết định đến năng lực cạnh

tranh cho sản phẩm trong một ngành kinh doanh (thông thường là khoảng từ 10 đến 20 yếu tố)

Bước 2: Ấn định tầm quan trọng bằng cách phân loại từ 0,0 (không quan

trọng) đến 1,0 (quan trọng nhất) cho mỗi yếu tố Cần lưu ý, tầm quan trọng được

ấn định cho các yếu tố cho thấy tầm quan trọng tương đối của yếu tố đó với thành công của các sản phẩm của doanh nghiệp trong ngành kinh doanh Như thế, đối với các sản phẩm trong ngành thì tầm quan trọng của các yếu tố Đýợc liệt kê trong

Trang 23

Bước 3: Phân loại từ 1 đến 5 cho mỗi yếu tố đại diện (có thể định khoảng

điểm rộng hơn) Cho điểm yếu lớn nhất khi phân loại bằng 1, điểm yếu ít lớn hơn phân loại bằng 2, điểm trung bình phân loại bằng 3, điểm khá mạnh phân loại bằng

4 và điểm mạnh nhất phân loại bằng 5 Như vậy, đây là điểm số phản ánh năng lực cạnh tranh của từng yếu tố sản phẩm của doanh nghiệp so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh trong ngành

Bước 4: Tính điểm cho từng yếu tố bằng cách nhân mức độ quan trọng của

yếu tố đó với điểm số phân loại tương ứng

Bước 5: Tính tổng điểm cho toàn bộ các yếu tố được đưa ra trong ma trận

bằng cách cộng điểm số các yếu tố thành phần tương ứng của mỗi sản phẩm Tổng

số điểm này cho thấy đây là năng lực cạnh tranh cho sản phẩm, theo đó:

- Nếu tổng số điểm của toàn bộ danh mục các yếu tố được đưa vào ma trận

từ 3.0 trở lên, thì sản phẩm của doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh trên mức trung bình

- Nếu tổng số điểm của toàn bộ danh mục các yếu tố được đưa vào ma trận nhỏ hơn 3.0 thì sản phẩm của doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh thấp hơn mức trung bình

Bảng 1.1: Ma trận hình ảnh cạnh tranh

Các yếu tố

Mức độ quan trọng

Sản phẩm của Công ty cạnh tranh mẫu

Sản phẩm của Công ty cạnh tranh 1

Sản phẩm của Công ty cạnh tranh 2

Phân loại

Điểm quan trọng

Phân loại

Điểm quan trọng

Phân loại

Điểm quan trọng

Nguồn : Nguyễn Trọng Hoài, Phùng Thanh Bình, Nguyễn Khánh Duy (2009), Dự

báo và phân tích dữ liệu trong kinh tế và tài chính Nhà xuất bản thống kê

Trang 24

1.3 Năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực khai thác Cảng

1.3.1 Các dịch vụ chủ yếu của Cảng

Những năm từ năm 1990 trở về trước, trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, các hoạt động dịch vụ kinh doanh chính đều do Nhà nước thực hiện và giám sát Khi đó, hàng hải được coi là ngành tiếp xúc nhiều với người nước ngoài nên càng được giám sát chặt chẽ Mọi hoạt động liên quan đến dịch vụ cảng biển như bốc xếp, lưu kho lưu bãi,… và dịch vụ khác đều do các doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ, chẳng hạn như dịch vụ bốc xếp đều do các cảng thực hiện Trong thời kỳ

đó, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp dịch vụ tại cảng biển không có cạnh tranh vì mỗi doanh nghiệp thực hiện một dịch vụ độc lập theo kế hoạch của Nhà nước Nhiệm vụ của các doanh nghiệp là thực hiện kế hoạch mà Nhà nước giao cho

Nhằm tạo điều kiện cho các loại hình dịch vụ tai cảng phát triển, có các hình thức kinh doanh dịch vụ tại cảng biển sau đây:

Dịch vụ đại lý tầu biển:

Đại lý tàu biển là một dịch vụ mà người đại lý nhân danh chủ tàu hoặc người khai thác tàu tiến hành dịch vụ liên quan đến tàu biển, hoạt động tại cảng gồm:

- Thực hiện các thủ tục tàu biển vào rời cảng

- Ủy thác ký kết các hợp đồng vận chuyển, hợp đồng bảo hiểm hàng hải, hợp đồng xếp dỡ hàng hóa, hợp đồng thuê thuyền viên

- Ký phát các vận đơn và các chứng từ liên quan

- Thu xếp việc cung ứng vật tư, nhiên liệu, lương thực, nước ngọt cho tàu

- Trình kháng nghị hàng hải

- Giải quyết các tranh chấp liên quan đến tàu hoặc thuyền viên

- Thông tin liên lạc với chủ tàu hoặc người khai thác tàu

+ Người đại lý tàu biển là người được ủy thác chỉ định làm đại diện tiến hành các dịch vụ liên quan đến tàu tại cảng

Trang 25

+ Người đại lý tàu biển có thể thực hiện dịch vụ đại lý cho người thuê vận chuyển, cho chủ tàu, cho người khai thác tàu hoặc những người khác có quan hệ với chủ tàu nếu được chủ tàu đồng ý

Dịch vụ đại lý vận tải đường biển:

Là nhân danh người ủy thác thu xếp việc vận tải, giao nhận hàng hóa mà không đóng vai trò là người vận tải Bản chất của người đại lý vận tải là cầu nối giữa người gửi hàng và người vận chuyển Đại lý vận tải có thể thực hiện cùng lúc

2 hợp đồng vận tải Hợp đồng với chủ tàu (với tư cách là người gửi hàng) và hợp đồng với chủ hàng (với tư cách là người vận chuyển)

Dịch vụ môi giới hàng hải:

Là người làm trung gian trong việc kí kết hợp đồng cho thuê tàu, hợp đồng mua bán tàu, hợp đồng lai dắt và các hợp đồng khác liên quan đến hoạt động hàng hải theo sự uỷ thác từng vụ việc của người uỷ thác

Môi giới hàng hải có thể làm dịch vụ cho các bên liên quan không cần sự đồng ý của bên nào chỉ với điều kiện là thông báo cho các bên cùng biết, doanh thu của người môi giới tính theo phần % của giá trị hợp đồng làm môi giới

Dịch vụ cung ứng tầu biển: là dịch vụ thực hiện các công việc sau đây liên

quan đến tầu biển:

- Cung cấp cho tầu biển lương thực, thực phẩm, vật tư, thiết bị, nhiên liệu, dầu nhờn, vật liệu chèn, lót, ngăn cách hàng

- Cung cấp các dịch vụ phục vụ nhu cầu về đời sống, chăm sóc y tế, vui chơi, giải trí của hành khách và thuyền viên, tổ chức đưa đón, xuất nhập cảnh, chuyển đổi thuyền viên

 Dịch vụ kiểm đếm hàng hóa là dịch vụ thực hiện kiểm đếm số lượng hàng hóa thực tế khi giao hoặc nhận với tàu biển hoặc các phương tiện khác theo

ủy thác của người giao hàng, người nhận hàng hoặc người vận chuyển

Dịch vụ lai dắt tầu biển:

Trang 26

Lai dắt tàu biển là việc lai, kéo, đẩy hoặc túc trực bên cạnh tàu biển, các phương tiện nổi khác trên biển và trong vùng nước cảng biển bằng tàu lai Lai dắt tàu biển bao gồm lai dắt trên biển và lai dắt hỗ trợ trong vùng nước cảng biển

Dịch vụ sửa chữa tầu biển tại cảng:

Dịch vụ sửa chữa tàu tại cảng là dịch vụ thực hiện các công việc sửa chữa và bảo dưỡng tàu biển khi tàu đỗ tại cảng

Dịch vụ vệ sinh tàu biển

Dịch vụ vệ sinh tàu biển là dịch vụ thực hiện các công việc thu gom và xử lý rác thải, dầu thài, chất thải khác từ tàu biển khi neo đậu tại cảng

Dịch vụ bốc dỡ hàng hóa tại cảng biển

Dịch vụ bốc dỡ hàng hóa tại cảng biển là dịch vụ thực hiện các công việc bốc dỡ hàng hóa tại cảng theo quy trình công nghệ bốc dỡ từng loại hàng

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ Cảng

*/ Giá cước dịch vụ Cảng

Giá cả sản phẩm, dịch vụ là biểu hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm, dịch vụ

mà người bán hay doanh nghiệp bán dự định có thể nhận được từ người mua thông qua việc trao đổi hàng hoá đó trên thị trường Giá cả của sản phẩm, dịch vụ phụ thuộc vào các yếu tố sau:

- Các yếu tố kiểm soát được: Chi phí cung cấp dịch vụ, chi phí bán hàng, chi phí lưu động và chi phí yểm trợ xúc tiến bán hàng

- Các yếu tố không kiểm soát được: Quan hệ cung cầu cường độ cạnh tranh trên thị trường, chính sách điều tiết thị trường của Nhà nước

*/ Chất lượng dịch vụ Cảng

Chất lượng dịch vụ được nhìn nhận từ hai phía là từ nội bộ doanh nghiệp và

từ phía khách hàng, nhưng điều quan trọng ở đây là chất lượng phải được cảm nhận từ phía khách hàng chứ không phải từ nội bộ doanh nghiệp hay từ ban giám đốc công ty Chất lượng dịch vụ không chỉ cấu thành từ chất lượng của dịch vụ

Trang 27

chính mà còn cấu thành từ chất lượng của cơ sở hạ tầng, năng lực của nhân viên, thời điểm và không gian của sản phẩm dịch vụ…

Để tăng cường chất lượng dịch vụ những nhà nghiên cứu đưa ra rất nhiều biện pháp, trong đó hai kỹ thuật quan trọng nhất là tạo ra những đặc trưng từ lợi thế cạnh tranh và kỹ thuật phân tích, thiết kế và kế hoạch hóa dịch vụ Kỹ thuật nâng cao chất lượng dịch vụ bằng cách tạo ra lợi thế cạnh tranh là ta tìm kiếm các cách thức tốt nhất để đạt được lợi thế cạnh tranh Sản phẩm dịch vụ của ta phải luôn được so sánh với các tiêu chuẩn của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất và thậm chí

là những công ty dẫn đầu trong ngành Thông qua việc quan sát và xác định những cái tốt nhất ở trong và ngoài ngành, doanh nghiệp có thể tăng cường khả năng hoạt động của mình nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp của mình

*/ Sự đa dạng của dịch vụ Cảng

Một sản phẩm, dịch vụ dù tốt đến đâu cũng không thể đáp ứng được tốt nhất tất cả các nhu cầu, mong muốn của các khách hàng Vì vậy, doanh nghiệp phải sản xuất nhiều chủng loại sản phẩm, cung cấp nhiều loại dịch vụ nhằm đáp ứng tốt nhất từng nhu cầu nhỏ nhất của khách hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty so với đối thủ

Thực tế cho thấy rằng, bất cứ doanh nghiệp nào dù chỉ tập trung sản xuất kinh doanh hay cung cấp dịch vụ ở một lĩnh vực thì cũng luôn có rất nhiều chủng loại và mẫu mã sản phẩm, dịch vụ để khách hàng lựa chọn, đáp ứng được nhu cầu của nhiều kiểu khách hàng

*/ Dịch vụ khách hàng

Hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp không dừng lại sau lúc bán hàng thu tiền của khách hàng mà để nâng cao uy tín và trách nhiệm đến cùng đối với người tiêu dùng về sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp thì doanh nghiệp cần phải làm tốt các dịch vụ sau bán hàng

Nội dung của hoạt động dịch vụ sau bán hàng:

Trang 28

- Cam kết thu lại sản phẩm, dịch vụ và hoàn trả tiền cho khách hoặc đổi lại hàng nếu như sản phẩm, dịch vụ không theo đúng yêu cầu ban đầu của khách hàng

- Cam kết bảo hành trong thời gian nhất định

Qua các dịch vụ sau bán hàng, doanh nghiệp sẽ lắm bắt được sản phẩm của mình có đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng hay không (Trần Văn Tùng

2009, tr 12-13)

* Khả năng kết nối với hạ tầng giao thông

Công tác quy hoạch hệ thống giao thông trong cảng nếu hợp lí sẽ tạo thuận lợi và dễ dàng thực hiện các hoạt động dịch chuyển các trang thiết bị, phương tiện vận chuyển; ngược lại nó sẽ gây cản trở, làm gián đoạn các quy trình dịch chuyển hàng hóa, giảm năng suất phục vụ Có thể phân chia hệ thống giao thông của cảng thành 2 loại: giao thông đường thủy và giao thông đường bộ

+ Giao thông đường thủy: cho phép các loại tàu thủy bao gồm tàu biển,

ven biển, tàu sông đến cảng, tuy nhiên tùy thuộc vào độ sâu của luồng ra vào và độ sâu trước bến mà cảng có thể tiếp nhận loại tàu cỡ nào

+ Giao thông đường bộ: bao gồm hệ thống đường ô tô và đường sắt phục

vụ dòng phương tiện vận chuyển hàng tới và từ miền hậu phương của cảng

Hệ thống đường sắt trong cảng được thiết lập nối liền giao thông từ cảng đến các ga đường sắt thuộc miền hậu phương của cảng, cho phép giảm giá cước vận chuyển trong nhiều trường hợp do sức chở của vận tải đường sắt lớn hơn so với ôtô Đồng thời, hệ thống đường sắt cũng có thể thiết lập trong nội bộ cảng khi khoảng cách vận chuyển từ vị trí thiết bị xếp dỡ tuyến tiền phương đến các kho hoặc bãi tuyến hậu phương lớn

Hệ thống giao thông đường bộ trong cảng được thiết lập với các mục đích sau:

- Để vận chuyển hàng hóa từ tàu về bãi và ngược lại

- Dịch chuyển phương tiện vận chuyển và trang thiết bị xếp dỡ trong phạm

vi bãi hoặc di chuyển hàng hóa giữa các khu vực

Trang 29

*/ Kênh phân phối và marketing

Đối với mỗi doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường, sản xuất tốt chưa đủ để khẳng định khả năng tồn tại và phát triển của mình, mà còn phải biết tổ chức mạng lýới bán hàng, Đó là tập hợp các kênh Đýa sản phẩm hàng hoá, dịch vụ

từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng sản phẩm ấy Thông thường kênh tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp được chia thành 4 loại sau:

A: Kênh trực tiếp ngắn, từ doanh nghiệp đưa sản phẩm, dịch vụ đến tay người tiêu dùng (NTD)

B: Kênh trực tiếp dài (từ DN tới người bán lẻ, sau đó đến tay NTD)

C: Kênh gián tiếp ngắn từ DN tới các đại lý, tiếp đó phân tới các người bán

lẻ và sau cùng đến tay NTD)

Bên cạnh đó, để thúc đẩy quá trình bán hàng doanh nghiệp có thể tiến hành một loạt các hoạt động hỗ trợ như: Tiếp thị, quảng cáo, hỗ trợ bán hàng, tổ chức hội nghị khách hàng, tham gia các tổ chức liên kết kinh tế

Ngày nay, nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đóng vai trò vô cùng quan trọng, thậm chí quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp trên thị trường bởi vì

nó tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên các khía cạnh sau:

+ Tăng khả năng tiêu thụ hàng hoá thông qua việc thu hút sự quan tâm của khách hàng tới sản phẩm của doanh nghiệp

+ Cải thiện vị trí hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường (thương hiệu, chữ tín của doanh nghiệp)

+ Mở rộng quan hệ làm ăn với các đối tác trên thị trường, phối hợp với các chủ thể trong việc chi phối thị trường, chống hàng giả (Lê Danh Vĩnh 2009, tr.5)

*/ Kinh nghiệm hoạt động

Đối với bất cứ doanh nghiệp nào việc có được chỗ đứng trên thị trường đã khó nhưng việc có được hình ảnh tốt đẹp trên thị trường và quảng bá hình ảnh đó lại càng khó hơn càng khó hơn Việc duy trì và quảng bá hình ảnh của doanh nghiệp là một quá trình lâu dài tốn nhiều công sức Khi doanh nghiệp đã có uy tín

Trang 30

với các đối thủ Do vậy, mỗi doanh nghiệp cần phải gìn giữ và quảng bá uy tín hình ảnh của mình để nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường

*/ Sự trung thành của khách hàng

Khách hàng là những người đang mua và sẽ mua hàng của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp khách hàng là yếu tố quan trọng nhất, quyết định nhất đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Chính vì vậy sự trung thành của khách hàng chính là một trong những yếu tố nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

*/ Thị phần

Doanh thu là số tiền mà doanh nghiệp thu được khi bán hàng hoá hoặc dịch

vụ Bởi vậy mà doanh thu có thể được coi là một chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh Hơn khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và tăng thêm lợi nhuận Căn cứ vào chỉ tiêu doanh thu qua từng thời kỳ hoặc qua các năm ta có thể đánh giá được kết quả hoạt động kinh doanh là tăng hay giảm, theo chiều hướng tốt hay xấu Nhưng để đánh giá được hoạt động kinh doanh đó có mang lại được hiệu quả hay không ta phải xét đến những chi phí đã hình thành nên doanh thu đó

*/ Hệ thống thông tin

Cảng biển là mắt xích quan trọng trong vận tải đường biển nói chung Nó là nơi chuyển tiếp hàng hóa từ phương thức vận tải này sang phương thức vận tải khác Sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa các cảng đòi hỏi các cảng khai thác hiệu quả hơn tức là vận tải và xếp dỡ nhiều hàng hóa hơn trong khoảng thời gian ít hơn, chất lượng dịch vụ cảng cung cấp cho khách hàng ngày càng tốt hơn Những đòi hỏi này sẽ trở nên dễ dàng được đáp ứng khi các cảng áp dụng hiệu quả những thành tựu phát triển của công nghệ thông tin trong khai thác cảng

Cơ sở hạ tầng thông tin được sử dụng trong quản lí và khai thác cảng biển bao gồm: hệ thống máy tính được kết nối, các cơ sở dữ liệu , các thiết bị điện tử để

Trang 31

cảng, tổ chức giao nhận, các nhà kinh doanh vận tải Thông qua hạ tầng thông tin của các cảng biển, cho phép cảng hiện đại hóa công tác quán lí và khai thác, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh

1.4.1 Môi trường bên ngoài

1.4.1.1 Môi trường vĩ mô

Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô có ảnh hưởng lớn tới khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ Nó có thể ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tạo ra những cơ hội, tiềm năng cũng như những khó khăn thách thức cho các sản phẩm cạnh tranh trên thị trường

Môi trường kinh tế:

Thực trạng nền kinh tế và xu hướng trong tương lai có ảnh hưởng đến sự thành công của DN Các nhân tố chủ yếu mà các DN thường phân tích là: tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, lãi suất, lạm phát… là kinh doanh chúng ta không thể không quan tâm với những gì đang diễn ra hàng ngày trên thị trường Nắm bắt được những thông tin này sẽ có thể giúp DN nắm bắt được những cơ hội nhất định hoặc có thể loại bỏ những rủi ro có thể gặp phải

Môi trường văn hóa - xã hội:

Trang 32

Môi trường văn hóa xã hội có ảnh hưởng lớn tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm, thể hiện ở các khía cạnh như tập quán và thị hiếu tiêu dùng, truyền thống văn hóa dân tộc, các chuẩn mực đạo đức Chính vì vậy các yếu tố văn hóa xã hội không những có những tác động đáng kể tới nhu cầu sử dụng và tiêu dùng sản phẩm của khách hàng mà còn ảnh hưởng tới tư tưởng chủ đạo từ đó quyết định đến tính năng, kiểu dáng, biểu tượng logo, mẫu mã sản phẩm

Môi trường toàn cầu

Khu vực hóa, toàn cầu hóa đã, đang và sẽ là một xu hướng, do đó đòi hỏi các DN phải thích ứng tìm cách hòa nhập nếu không sẽ bị đào thải và bị loại ra khỏi quỹ đạo hoạt động Trước bối cảnh đó các DN phải sáng suốt nhận biết đâu là thời cơ đâu là thách thức của mình

1.4.1.2 Môi trường vi mô

M Porter đã đưa ra mô hình 5 tác lực như sau:

Trang 33

Hình 1.1: Mô hình 5 tác lực của M Porter

Nguồn: Michael E.Porter (2009)

Phân tích đối thủ cạnh tranh hiện tại

Cạnh tranh giữa các DN trong một ngành thường bao gồm các nội dung chủ yếu như: cơ cấu cạnh tranh ngành, thực trạng cơ cấu của ngành và hàng rào lối ra

Cơ cấu cạnh tranh của ngành dựa vào số liệu và khả năng phân phối sản phẩm của DN trong ngành sản xuất tập trung Cơ cấu cạnh tranh thay đổi từ ngành sản xuất phân tán tới ngành sản xuất tập trung Thông thường ngành riêng lẻ bao gồm một số các DN vừa và nhỏ, không có một DN nào trong số đó có vị trí thống trị ngành Trong khi đó một ngành tập trung có sự chi phối bởi một số ít các DN lớn thậm chí chỉ một DN duy nhất gọi là độc quyền Bản chất và mức độ cạnh tranh đối với các ngành tập trung rất khó phân tích và dự đoán

Phân tích đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn

Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các DN hiện tại chưa cạnh tranh trong cùng một ngành sản xuất, nhưng có khả năng cạnh tranh nếu họ lựa chọn và quyết định gia nhập ngành Đây là đe dọa cho các DN hiện tại và mức độ cạnh tranh sẽ trở nên khốc liệt hơn Do đó, các DN hiện tại trong cùng ngành sẽ tạo ra hàng rào cản trở

sự gia nhập, thường thì nó bao gồm:

- Những ưu thế tuyệt đối về chi phí: về công nghệ, nguồn nguyên vật liệu, nguồn nhân lực…

Trang 34

- Sử dụng ưu thế về quy mô nhằm giảm chi phí đơn vị sản phẩm

- Duy trì, củng cố các kênh phân phối

Sản phẩm thay thế

Sản phẩm thay thế là sản phẩm khác có thể thỏa mãn cùng nhu cầu của người tiêu dùng Đặc điểm cơ bản của nó thường có các ưu thế sản phẩm bị thay thế ở các đặc trưng riêng biệt Ngày nay, sản phẩm của các DN cạnh tranh với nhau thông qua việc sáng tạo ra các giá trị mới, giá trị tăng thêm, giá trị cảm nhận hơn là giá trị hữu dụng vốn có của nó và người mua, khách hàng cũng bỏ tiền ra để mua những giá trị đó

1.4.2 Môi trường nội bộ

Năng lực marketing của đội ngũ cán bộ phụ trách

Năng lực marketing của doanh nghiệp là khả năng nắm bắt nhu cầu thị

trường, khả năng thực hiện chiến lược marketing hỗn hợp (chiến lược marketing 7P đối vớ i di ̣ch vu ̣ là Product , Price, Place, Promotion, People, Process, Philosophy) trong hoạt động marketing Khả năng marketing tác động trực tiếp tới

Trang 35

sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, góp phần làm tăng doanh thu, tăng thị phần tiêu thụ sản phẩm, nâng cao vị thế của doanh nghiệp Đây

là nhóm nhân tố rất quan trọng tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Tiềm lực nghiên cứu và phát triển sản phẩm, dịch vụ của công ty

Nghiên cứu và phát triển là hoạt động có mục đích sáng tạo sản phẩm mới

và khác biệt hóa sản phẩm, dịch vụ; sáng tạo, cải tiến và (hoặc) áp dụng công nghệ, trang bị kỹ thuât; sáng tạo vật liệu mới… Khả năng nghiên cứu và phát triển là điều kiện cơ bản để doanh nghiệp có thể tạo ra sản phẩm, dịch vụ luôn đáp ứng nhu cầu thị trường, đẩy nhanh tốc độ đổi mới cũng như khác biệt hóa sản phẩm, dịch vụ từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp (Nguyễn Hồng Thái 2010, tr.2-3)

- Tính đồng bộ: Thiết bị đồng bộ là điều kiện đảm bảo sự phù hợp giữa thiết

bị, công nghệ với phương pháp sản xuất, với chất lượng và độ phức tạp của sản phẩm do công nghệ đó sản xuất ra

- Tính hiệu quả: Thể hiện trình độ sử dụng máy móc thiết bị sẵn có để phục

vụ mục tiêu cạnh tranh của doanh nghiệp

- Tính đổi mới: Hoạt động sản xuất kinh doanh luôn có nhiều biến động, máy móc thiết bị phải thích ứng được với yêu cầu sản xuất kinh doanh của từng giai đoạn, từng phương án sản xuất kinh doanh, nếu máy móc thiết bị không thể sử dụng linh hoạt và chậm đổi mới thì sẽ không đảm bảo năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

Năng lực tài chính để phát triển sản phẩm

Nguồn lực tài chính là vấn đề không thể không nhắc đến bởi nó có vai trò

Trang 36

chính được thể hiện ở quy mô vốn tự có, khả năng huy động các nguồn vốn phục

vụ sản xuất kinh doanh và hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đó Quy mô vốn tự có phụ thuộc quá trình tích lũy của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp hoạt Động có hiệu quả, lợi nhuận hàng nãm cao, phần lợi nhuận Để lại tái Đầu tý cho sản xuất kinh doanh sẽ lớn và quy mô vốn tự có sẽ tãng Doanh nghiệp có quy mô vốn tự có lớn cho thấy khả nãng tự chủ về tài chính và chiếm Đýợc lòng tin của nhà cung cấp, chủ đầu tư và khách hàng… Doanh nghiệp nên phấn đấu tăng vốn tự có lên một mức nhất định đủ đảm bảo khả năng thanh toán nhưng vẫn đủ kích thích để doanh nghiệp tận dụng đòn bẩy tài chính làm tăng lợi nhuận (Hà Văn Lê 2005, tr.3)

Một doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh sẽ có điều kiện thuận lợi trong đổi mới công nghệ, đầu tư trang thiết bị, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, giữ vững được sức cạnh tranh và củng cố vị thế của mình trên thị trường (Nguyễn Quốc Dũng 2008, tr.34-35)

1.5 Cơ sở pháp lý của hoạt động kinh doanh dịch vụ Cảng

Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư Mục 1, Điều 37 Dự án do Thủ tướng cấp thuận chủ trương đầu tư Các dự án đầu tư không phân biệt nguồn vốn, quy mô đầu

tư trong lĩnh vực Xây dựng và kinh doanh cảng biển quốc gia Lĩnh vực Xây dựng, cải tạo cầu, đường bộ, cảng hàng không, sân bay, bến cảng, nhà ga, bến xe, nơi đỗ xe; mở thêm các tuyến đường sắt nằm trong Danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư

Nghị định số 21/2012/NĐ-CP ngày 21 tháng 3 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý cảng biển và luồng hàng hải Nghị định này áp dụng đối với

tổ chức, cá nhân, tàu thuyền Việt Nam và nước ngoài, các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành có liên quan đến đầu tư xây dựng, khai thác cảng biển, luồng hàng hải và quản lý hoạt động hàng hải tại cảng biển và trong vùng biển Việt Nam

Nghị định số 140/2007/NĐ-CP ngày 5/9/2007 Quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc và giới hạn trách nhiệm đối

Trang 37

với thương nhân kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc Nghị định này áp dụng đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc tại Việt Nam và các tổ chức, cá nhân khác hoạt động liên quan đến dịch vụ Logistics

Nghị định số 30/2014/NĐ-CP ngày 01/7/2014 Về điều kiện kinh doanh vận tải biển và dịch vụ hỗ trợ vận tải biển Nghị định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài liên quan đến kinh đoanh vận tải biển và dịch vụ đại lý tàu biển, dịch vụ lai dắt tàu biển tại Việt Nam

Nghị định số 87/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về vận tải đa phương thức Nghị định này áp dụng đối với các tổ chức đăng ký kinh doanh vận tải đa phương thức bao gồm: doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về đầu tư và hợp tác xã được thành lập theo quy định của pháp luật về hợp tác xã của Việt Nam; các tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động kinh doanh vận tải đa phương thức

1.6 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của một số Cảng ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh

Cảng Sài Gòn

Từ khi giao quyền chủ động sản xuất kinh doanh, nhất là bước vào giai đoạn hội nhập kinh tế toàn cầu, lãnh đạo Cảng Sài Gòn đã nhận thức được một hướng phát triển mới Đó là từng bước đầu tư chiều sâu kết hợp với đầu tư mở rộng và chọn cho mình một mô hình sản xuất kinh doanh thích hợp.Để không ngừng phát triển sản xuất kinh doanh có hiệu quả, nhờ sự giúp đỡ của ngành hàng hải, ban lãnh đạo cảng đã chủ động tìm nguồn vốn đầu tư bằng hình thức vay vốn của các công

ty Nhật Bản, Pháp, Singapore, v.v để từng bước đổi mới kỹ thuật, thay thế dần các thiết bị cũ, nâng cao năng lực sản xuất Mặc dù tình hình khủng hoảng tài chính thế giới khiến cho lượng hàng hóa lưu thông biến động mạnh, đột ngột; sự cạnh tranh trong lĩnh vực khai thác dịch vụ cảng biển, dịch vụ hàng hải ngày càng nóng, phức tạp Cảng Sài Gòn luôn hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch cơ bản, nhất là tốc độ

Trang 38

ảnh hưởng của việc thi công đường hầm Thủ Thiêm nên Cảng Sài Gòn phải ngừng khai thác một số cầu cảng, bến phà và số lượng tàu cỡ lớn ra vào cảng cũng bị sút giảm hẳn; ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính thế giới cũng đã làm giảm lượng hàng container xuất nhập khẩu Vượt qua những khó khăn trên, cảng đã chủ động thay đổi chiến lược kết cấu nguồn hàng, mặt hàng, loại hàng và tăng cường ứng dụng công nghệ tiên tiến, nâng cấp quy trình điều hành, khai thác đối với các loại hàng, mặt hàng chiến lược như công-ten-nơ nội địa, kim khí, hàng rời đóng bao, nên đã bảo đảm hoàn thành được các chỉ tiêu kế hoạch cấp trên giao, giúp cho cảng

ổn định việc làm và nâng cao mức thu nhập người lao động

Cảng Cát Lái

Công ty Cổ phần Cảng Cát Lái được thành lập trên cơ sở hợp tác giữa Công

ty Đầu tư và Xây dựng Thanh niên xung phong (CINCO), nay là Công ty TNHH MTV Dịch vụ công ích TNXP và Công ty Tân Cảng Sài Gòn, nay là Công ty TNHH MTV Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn Trải qua 8 năm hoạt động Công ty

cổ phần Cảng Cát Lái không ngừng phát triển lớn mạnh Giai đoạn từ khi thành lập đến cuối năm 2008, Công ty triển khai đầu tư xây dựng toàn diện hệ thống cầu cảng, bến bãi, máy móc thiết bị hiện đại và đồng thời tuyển dụng, đào tạo CB-CNV, hoàn thiện bộ máy tổ chức, chuẩn bị nguồn lực cho chiến lược phát triển lâu dài Kể từ khi chính thức đưa dự án cầu cảng B7 vào kinh doanh khai thác đầu năm

2009, hiệu quả hoạt động về doanh thu và lợi nhuận của Công ty không ngừng nâng cao Hiện nay với quy mô 216 mét cầu cảng container chuyên dụng (cầu cảng B7) có khả năng tiếp nhận tàu có tải trọng toàn phần 30.000 DWT tương đương với sức chở 2.500 TEU cập cảng làm hàng, bến tàu B7 80 mét tiếp nhận tàu có tải trọng 2.200 DWT chủ yếu khai thác cho dịch vụ trung chuyển nội thủy và 6,2 ha bãi hàng container cùng với các thiết bị xếp dỡ phục vụ cho hoạt Động khai thác cảng biển hiện Đại bao gồm: 02 cẩu bờ K.E, 01 cẩu bờ Kocks, 01cẩu bờ Liebhherr,

02 cẩu khung Kalmar 6+1, 04 cẩu Mijack 3+1 họat động liên tục 24/24 giờ mỗi ngày có thể đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng Với hệ thống cầu cảng và trang

Trang 39

thiết bị hiện đại, sản lượng xếp dỡ trung bình đạt 40.500 cont/tháng bao gồm container hàng và container rỗng …

Nhằm mở rộng hoạt động kinh doanh sang lĩnh vực cung ứng dịch vụ vận tải quốc tế, Công ty đã đầu tư mua xe đầu kéo và bắt đầu đưa vào khai thác cuối tháng 04/2013 trên quan điểm từng bước ổn định sản xuất, nâng cao hiệu quả đồng thời tạo mối liên kết bền vững với các đối tác trong lĩnh vực này Trước những kết quả

đã đạt được, Ban lãnh đạo Công ty tiếp tục đề ra những phương hướng nhiệm vụ cho chiến lược phát triển trong tương lai, cụ thể như sau: Tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị hiện đại cho hoạt động kinh doanh khai thác cảng , phấn đấu trở thành Công ty cung ứng các dịch vụ cảng biển chuyên nghiê ̣p , hiện đại, có uy tín trong nước và khu vực; Tận dụng tối đa nguồn lực và các lợi thế nhằm tăng lợi nhuận, mở rộng hoạt động kinh doanh phát triển các ngành nghề liên quan đến hoạt động của Cảng như: Dịch vụ Logistics, Vận tải hàng hoá đa phương thức quốc tế, Xuất nhập khẩu, Du lịch Cảng, …; Mở rộng lĩnh vực đầu tư và hợp tác kinh doanh khi có điều kiện thích hợp nhằm tăng doanh thu và tối đa hoá lợi nhuận cho cổ đông; Với chiến lược phát triển lâu dài, công ty không ngừng đào tạo phát triển nguồn nhân lực, tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ tăng sức cạnh tranh trước yêu cầu ngày càng tăng của khách hàng Công ty cổ phần Cảng Cát Lái luôn cam kết mang đến cho khách hàng những giá trị tốt nhất trên con đường phát triển của mình

Trang 40

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC CẢNG CỦA CÔNG TY FLDC

(CẢNG VICT)

2.1 Giới thiệu khái quát về Công ty FLDC (Cảng VICT)

2.1.1 Giới thiệu khái quát về công ty FLDC

Công ty LD phát triển tiếp vận số 1 (FLDC) là Công ty Liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài, đã được cấp giấy phép đầu tư xây dựng và khai thác Cảng Container Quốc Tế (VICT) chuyên dụng hàng đầu tại Việt Nam

2.1.2 Giới thiệu khái quát về Cảng VICT

2.1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển

- Tên cảng: CẢNG CONTAINER QUỐC TẾ VN

- Trực thuộc: Cty Liên doanh Phát triển Tiếp vận Số 1

- Vùng quản lý hàng hải : Cảng vụ Hàng hải Tp HCM

- Mã cảng: VNVIC

- Vị trí cảng: 10°46'N - 106°44'E

- Điểm đón trả hoa tiêu: 10°20'N - 107°03'E

- Địa chỉ: Đường A5, Khu phố 5, P Tân Thuận Đông, Quận 7, Tp HCM

- ĐT (Tel): (84.8) 38729999

- Fax (Fax): (84.8) 38724888

- E-mail: info@vict-vn.com

- Website: www.vict-vn.com

VICT được đầu tư và khai thác bởi công ty liên doanh Phát Triển Tiếp Vận

Số 1 (FLDC), hoạt động trên cơ sở luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Đây là dự

án xây dựng cảng container chuyên dụng đầu tiên ở Việt Nam, với sự tham gia của phía đối tác nước ngoài

Năm 1994, Công ty Liên doanh Phát triển Tiếp vận số 1 (FLDC) đã đầu tư

54 triệu USD để xây dựng cảng container chuyên dụng đầu tiên tại Việt Nam

Ngày đăng: 07/10/2017, 09:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng (2004), “Giáo trình Kinh tế quốc tế”, NXB Lao động và Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế quốc tế
Tác giả: Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng
Nhà XB: NXB Lao động và Xã hội
Năm: 2004
7. Lê Đăng Doanh (2010), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thời hôi nhập”, NXB Thanh niên, Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thời hôi nhập
Tác giả: Lê Đăng Doanh
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2010
19. Ngô Kim Thanh (2011), “Giáo trình Quản trị chiến lược (tái bản lần 3 có sửa đổi bổ sung)”, NXB Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình Quản trị chiến lược (tái bản lần 3 có sửa đổi bổ sung)
Tác giả: Ngô Kim Thanh
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2011
10. Trần Quang Huy (2004), Góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, http://www.irv.moi.gov.vn, 07/04/2004 Link
16. Internet, Đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bằng ma trận - Nghiên cứu trao đổi, http://www.irv.moi.gov.vn; 11/11/2006 Link
17. Internet, Nâng cao năng lực cạnh tranh ngành, nhìn từ mô hình cạnh tranh hệ thống, http://www.irv.moi.gov.vn, 08/03/2004 Link
1. Phạm Tú Anh (2006), Thử thách đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics trước thềm Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, Hội thảo phát triển dịch vụ logistics: Cơ hội và thách thức, tháng 07/2006, TPHCM Khác
3. Hoàng Thị Chỉnh, Phan Thu Hiền (2006), Vào WTO, Việt Nam đƣợc gì, thách thức gì, và phải làm gì, Tạp chí Phát triển Kinh tế, tháng 12/2006 Khác
4. Hoàng Lâm Cường (2005), Phát triển Logistics nhằm tăng sức cạnh tranh của các công ty giao nhận vận tải Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế, Tạp chí Phát triển Kinh tế, tháng 09/2005 Khác
5. Fred R David (2000), Khái luận về quản trị chiến lƣợc, NXB Thống kê Khác
6. Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam (2003), Chiến lƣợc và chính sách kinh doanh, NXB Thống kê Khác
8. Phạm Thúy Hồng (2004), Chiến lƣợc cạnh tranh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
9. Đào Duy Huân (2007), Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong tiến trình thực hiện các cam kết WTO, Tạp chí Phát triển Kinh tế, tháng 02/2007 Khác
11. Bùi Thanh Lam (2006), Khía cạnh pháp lý của dịch vụ logistics, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số 52/2006 (836) Khác
12. Vũ Tiến Lộc (2003), Kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế - Làm gì để nâng cao sức cạnh tranh, Báo Đầu tƣ, 24/03/2003 Khác
13. Nguyễn Anh Ngọc, Doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập và phát triển, Tạp chí Phát triển Kinh tế, tháng 02/2007 Khác
14. Đỗ Xuân Quang, Thực trạng và định hướng phát triển nguồn nhân lực trong ngành dịch vụ logistics tại Việt Nam, Hội thảo phát triển dịch vụ logistics: Cơ hội và thách thức, tháng 07/2006, TPHCM Khác
15. Huỳnh Văn Sáu, Đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành cao su Việt Nam theo quan điểm của Michael Porter, Tạp chí Phát triển Kinh tế, tháng 11/2006 Khác
18. Nguyễn Vĩnh Thanh(2005), Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội Khác
20. Phan Ngọc Thảo (2005), Nâng cao năng lực cạnh tranh bằng sự khác biệt, Tạp chí Phát triển Kinh tế, tháng 08/2005 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm