Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lí luận về tài chính, QLTC tại các CSĐT đại học đáp ứng yêu cầu đổi mới, đánh giá làm rõ thực trạng QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện C
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ HỒNG MẾN
QUẢN LÍ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO THUỘC HỆ THỐNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 62 14 01 14
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIỄN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
NĂM 2017
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS TS Lê Phước Minh
vào hồi giờ ngày tháng năm 2017
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
- Phòng Tư liệu Trường Đại học Giáo dục
Trang 3QLTC tại CSĐT là một bộ phận cấu thành trong hoạt động QLGD tại các CSĐT và gắn bó mật thiết với các họat động quản lí khác như: đội ngũ, chương trình ĐT, nghiên cứu khoa học, tổ chức các hoạt động phục vụ cộng đồng, tài chính Nó có chức năng đảm bảo cho các hoạt động của các CSĐT thực hiện theo đúng nhiệm vụ nhưng cũng chịu sự quy định bởi chính nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và quy mô, loại hình ĐT Đồng thời QLTC còn bị tác động bởi cơ chế tài chính, nguồn lực tài chính (NSNN và ngoài NSNN), dự toán chi tiêu, và cùng các yếu tố khách quan khác Trong một thời gian dài, công tác tài chính của các CSĐT bị bó buộc trong cơ chế quản lí tập trung, phải tuân thủ nghiêm ngặt các văn bản pháp quy về tài chính Do đó, việc điều tiết các khoản mục chi tiêu khó khăn, chỗ thừa, chỗ thiếu dẫn đến tình trạng ừa thiếu tiền vừa phải “chạy” kinh phí để không bị cắt giảm khi kết thúc năm tài chính
Xuất phát từ thực tiễn và những yêu cầu cụ thể của những vấn đề nói trên, luận án đã lựa chọn
vấn đề nghiên cứu: “Quản lí tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận về tài chính, QLTC tại các CSĐT đại học đáp ứng yêu cầu đổi mới, đánh giá làm rõ thực trạng QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM, luận án đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM đáp ứng yêu cầu đổi mới theo hướng TC-TCTN
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động tài chính cơ sở đào tạo đại học
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM đáp
ứng yêu cầu đổi mới theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm
4 Câu hỏi nghiên cứu: Cơ sở khoa học và thực tiễn của QLTC tại các CSĐT đại học đáp ứng bối cảnh
đổi mới? Thực trạng QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM có những điểm mạnh, điểm yếu nào? Có những vận hội và cản trở nào cho hoạt động tài chính của các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM? Dựa trên những cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp quản lí nào để hoạt động QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM đáp ứng yêu cầu đổi mới theo hướng TC-TCTN?
5 Giả thuyết khoa học: Để đạt được những mục đích nghiên cứu trên, luận án xác định những nhiệm
vụ nghiên cứu sau: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về QLTC tại các CSĐT đại học đáp ứng yêu cầu đổi mới
Đề xuất hệ thống các nội dung liên quan đến QLTC tại các CSĐT đại học theo hướng TC-TCTN Khảo sát, điều tra, phân tích thực trạng tài chính, đổi mới hoạt động tài chính và QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM trong những năm gần đây; đánh giá thực trạng QLTC theo các chức năng quản lí Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả của QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM đáp ứng yêu cầu đổi mới theo hướng TC-TCTN Tổ chức khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của giải pháp QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM đáp ứng yêu cầu đổi mới Luận án tiến hành thực nghiệm 01 giải pháp tại Học viện BC&TT
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích nghiên cứu trên, luận án xác định những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về QLTC CSĐT đại học Đề xuất hệ thống các nội dung QLTC tại các
Trang 42
CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM; Khảo sát, điều tra, phân tích thực trạng QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM trong những năm gần đây; đánh giá theo các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo; Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả của QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM đáp ứng yêu cầu đổi mới; Tổ chức khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM đáp ứng yêu cầu đổi mới Luận án cũng tiến hành thực nghiệm 01 giải pháp tại Học viện BC&TT
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM đáp ứng yêu cầu đổi mới Giới hạn phạm vi khảo sát: Đề tài nghiên cứu khảo sát các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM bao gồm: Trung tâm Học viện, Học viện Chính trị khu vực II và Học viện BC&TT Giới hạn về đối tượng và thời gian khảo sát: Liên quan đến QLTC bao gồm: Cán bộ chuyên trách làm công tác tài chính (CBQL, viên chức), CBQLGD, GV tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM Thời gian khảo sát từ 01/2016 đến 05/2016 Giới hạn thực nghiệm giải pháp: Do điều kiện không cho phép, luận án đã tiến hành thực nghiệm 01 giải pháp đề xuất tại Học viện BC&TT
8 Điểm mới của vấn đề nghiên cứu
- Hoạt động QLTC của một hệ thống ĐT cán bộ lý luận chính trị - vốn có truyền thống được
bao cấp toàn diện - theo hướng tiếp cận mới: Tự chủ, tự chịu trách nhiệm, năng động, sáng tạo, hiệu quả, trách nhiệm đối với xã hội bảo đảm mục tiêu chính trị trong QLTC của các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM; đề xuất các nội dung liên quan QLTC tại các CSĐT đại học (mối quan hệ tài chính với các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo, đổi mới giáo dục đại học (GDĐH) và những vấn đề đặt ra cho tài chính và quản lí tài chính tại các CSĐT đại học, quản lí tài chính tại các CSĐT đáp ứng yêu cầu đổi mới, yếu tố ảnh hưởng và kinh nghiệm quốc tế, bài học cho Việt Nam về QLTC tại các CSĐT đại học)
- Đánh giá đúng thực trạng QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM và
đánh giá các nội dung liên quan đến QLTC theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm
- Trên cơ sở lí luận về nội dung quản lí đã đề xuất; nêu rõ thực trạng hạn chế và nguyên nhân
trên từng nội dung thực trạng; xây dựng các giải pháp QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện
CTQG HCM đáp ứng yêu cầu đổi mới (theo tiếp cận mới: tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính)
9 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu của đề tài, luận án sử dụng các phương pháp tiếp cận và các phương pháp nghiên cứu sau: (1) Các phương pháp tiếp cận: Tiếp cận duy vật biện chứn, tiếp cận hệ thống, tiếp cận tổng hợp và tiếp cận quản lí sự thay đổi (2) Phương pháp nghiên cứu lý luận: Dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng HCM, tiếp cận hệ thống, lịch sử Phân tích, tổng hợp, so sánh và khái quát hóa các công trình khoa học, các văn bản pháp quy như: Luật, Nghị định, Thông tư, Hướng dẫn về tài chính, QLTC, QLTC CSĐT đại học (3) Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: sử dụng phần mền xử lí và phân tích mô tả dữ liệu SPSS Khảo sát bằng phiếu hỏi, thu thập số liệu, nghiên cứu sản phẩm; Phỏng vấn cán bộ trực tiếp và cán bộ lãnh đạo, viên chức làm công tác QLTC trong hệ thống Học viện CTQG HCM; Sử dụng nguồn số liệu thứ cấp, Sử dụng các phần mềm hỗ trợ Tổ chức thựcnghiệm 01giải pháp nghiên cứu của luận án
10 Những luận điểm cần bảo vệ
Luận điểm 1: QLTC tại các CSĐT đại học đáp ứng yêu cầu đổi mới là vấn đề có tính cấp thiết
trong hoạt động QLGD tại các CSĐT đại học, có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động quản lí GD- ĐT của các đơn vị đó Do đó, cần đổi mới QLTC tại các CSĐT theo hướng TC-TCTN đáp ứng yêu cầu đổi mới
Luận điểm 2: QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM chưa thực sự đồng
bộ về mọi mặt, vẫn còn tồn tại những hạn chế (về năng lực đội ngũ CBQL, GV; phân cấp quản lí, cơ chế chính sách, cơ chế kiểm tra giám sát, công khai tài chính ) và được giải quyết trên cơ sở các giải
Trang 53
pháp luận án đưa ra Cùng với việc nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác QLTC tại các CSĐT thuộc
hệ thống Học viện CTQG HCM đáp ứng yêu cầu đổi mới là yêu cầu mang tính khách quan, cần thiết, đảm bảo theo xu hướng phát triển chung trong công tác QLGD và phù hợp với đặc thù của các đơn vị
Luận điểm 3: Tăng quyền TC-TCTN về tài chính tại các CSĐTthuộc hệ thống Học viện CTQG
HCM là giải pháp có hiệu quả, phù hợp trong bối cảnh đổi mới hiện nay
Luận điểm 4: Tăng nguồn thu sự nghiệp tại các CSĐT đại học thuộc hệ thống Học viện CTQG
HCM, giảm gánh nặng NSNN đối với các đơn vị này; nâng cao thu nhập cho CBQL, GV, nhân viên
Luận điểm 5: Bồi dưỡng tốt về năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ QLTC; thực hiện
tốt cơ chế kiểm tra, giám sát, công khai minh bạch sẽ tác động tích cực trong QLTC tại CSĐT đại học
theo hướng TC-TCTN đáp ứng yêu cầu đổi mới
11 Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các công trình khoa học nghiên cứu sinh đã công bố liên quan đến luận án Luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về QLTC CSĐT đại học đáp ứng yêu cầu đổi mới
Chương 2: Thực trạng QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM Chương 3: Giải pháp QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM đáp ứng yêu cầu đổi mới
Trang 64
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CƠ SỞ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC
1.1 Tổng quan về nghiên cứu quản lí tài chính cơ sở đào tạo đại học
1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước
Hiện nay, vấn đề tự chủ đại học đang được bàn luận sôi nổi, trong đó các nghiên cứu tập trung vào các hướng chính là TC-TCTN, cơ chế phân cấp tài chính, cơ chế mô hình QLTC Do đó, luận án
đề cập khái quát những hướng nghiên cứu như sau:
1.1.1 Những nghiên cứu theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính
TC-TCTNvề tài chính là một đặc điểm quan trọng của tổ chức CSĐT đại học Trên thế giới
đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này đã nảy sinh từ những năm đầu của thế kỷ XIX, cụ thể như sau:
Năm 1810, tác giả Wilhelm Von Humboldt đã nghiên cứu hình thành nên nguyên lý về tự chủ, với những nguyên lý tác giả đưa ra tiền đề về tự do giảng dạy và tự do học tập; tức là GDĐH không cần có
sự can thiệp của nhà nước [99, tr 74] Năm 2009, tác giả Salmi, J cho rằng: “Khái niệm, bản chất, nội dung tự chủ được quy định rõ ràng, mọi cơ sở giáo dục đều có thể thực hiện” Nhà nước luôn tạo mọi hành lang pháp lý để mọi cơ sở giáo dục đều thực hiện tốt quyền tự chủ Tự chủ tạo cho nhà trường có một môi trường quản lý thuận lợi để phát triển tự do học thuật, tập trung nhân tài và huy động mọi nguồn lực tài chính [106] Các trường đại học tại châu Âu đã có nhiều nghiên cứu đã quan tâm, sôi nổi với vấn đề QLTC thể hiện ở việc được trao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm từ nửa đầu thế kỷ XXI như: Theo Sursock & H Smidt Trends (2010): “Một thập kỷ của sự thay đổi trong giáo dục châu Âu, Hiệp hội đại học Châu Âu”chỉ ra một tiền đề cho những nghiên cứu về quyền tự chủ là chất lượng của các đại học công lập và các viện nghiên cứu, chất lượng có thể được cải tiến một cách tuyến tính so với mức độ tự chủ được trao [71, tr.214] Nghiên cứu của Tom Christensen về “Cải cách quản trị đại học: Khả năng tự chủ nhiều hơn?” Tác giả bàn về những xu hướng cải cách quản lí công trong ĐT qua các giai đoạn khác nhau Tự chủ đại học hiện nay được chuyển từ tự chủ hình thức ở cấp độ thấp sang tự chủ thực sự ở mức cao hơn Vấn đề này dựa trên hai yếu tố, một là thay đổi những quan điểm về tổ chức, văn hóa và môi trường nội tại, hai là phác thảo xu hướng cải cách nhà trường Nhiều CSĐT đại học đã chủ động tìm kiếm khai thác các nguồn lực tài chính thay vì sự bảo trợ từ tài chính công như trước đây [107, tr 503] Ở nước ta hiện nay, đầu tư GD-ĐT luôn được Đảng và Nhà nước rất quan tâm
và coi là quốc sách hàng đầu Từ sự quan tâm đó nên trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề QLTC Các công trình nghiên cứu này đã đề cập đến công tác QLTC theo hướng tự chủ tài chính, cơ chế đổi mới quan lí tài chính, đảm bảo chất lượng GD-ĐT như: thực hiện tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính theo hướng TC-TCTN, quản lí nhà nước và tự chủ tài chính của các trường đại học, bàn về quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở GDĐH, giải pháp tự chủ tài chính tại các trường đại học công lập [46, tr 88-91; 57, tr 83-90; 58].Một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề tự chủ và TNXH ở Việt Nam như: Hayden và Thiep (2006, 2007) trong “A
2020 vision for Vietnam” và “Institutional autonomy for HE in Vietnam” cho rằng sự đổi mới GDĐH Việt Nam gắn với đổi mới quản lí và đảm bảo tự chủ cho đại học Nghiên cứu chỉ rõ tự chủ đại học chịu thách thức không chỉ do sự miễn cưỡng đối với việc từ bỏ sự kiểm soát trực tiếp của một bộ phận quản
lí GDĐH mà còn do sự nhận thức chưa đầy đủ bản chất thực sự của tự chủ, cả những đòi hỏi liên quan đến trách nhiệm xã hội cũng như cơ chế quản lí hiệu quả trong điều kiện nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, cho cơ quan quản lí còn hạn chế Nghiên cứu này đã chỉ ra một số khiếm khuyết trong quản lí dẫn tới sự thiếu tự chủ thực chất, nhưng chưa đưa ra cách khắc phục tháo gỡ cơ chế đối với cơ quan chủ quản [97, tr 11-13; 98, tr 73-85] Các công trình nghiên cứu áp dụng cơ chế thực hiện TC-TCTN
được khái quát theo các vấn đề sau: Thứ nhất: các nghiên cứu đã đưa ra cơ sở lí luận, kinh nghiệm tự
chủ và tự chịu trách nhiệm ở các nước trên thế giới như Mỹ, Anh, Trung Quốc, Pháp, Đức, Singapo, Ấn độ với các nội dung như: TC-TCTN, các điều kiện, tiêu chí, nội dung để thực hiện tự chủ, đưa ra các
mối quan hệ tài chính với các yếu tố tác động Thứ hai, đáp ứng yêu cầu đổi mới, GDĐH Việt Nam đã
đặt ra nhiều mục tiêu: hiệu quả, chất lượng, số lượng và sự công bằng, chuẩn hóa Để đạt các mục tiêu
Trang 75
đó, đòi hỏi nhà nước phải phân cấp quản lí, hoàn thiện cơ chế QLTC cho các CSĐT đại học
Thứ ba, đánh giá thực trạng về tình hình thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của một số trường đại học Từ những vấn đề nghiên cứu trên, cho thấy rằng để giải quyết tốt vấn đề TC-TCTN tài chính thì đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ giữa các văn bản pháp quy được ban hành, các CSĐT phải có nhiều quyền trên thực tế, việc phân bổ ngân sách cần có tính linh hoạt để tạo điều kiện các CSĐT đại học năng động hơn trong quá trình xây dựng kế hoạch trung, dài hạn về tài chính
1.1.2 Những nghiên cứu theo cơ chế phân cấp quản lí tài chính
Phân cấp QLTC trong GDĐH là xu thế tất yếu trong quản lí nhà nước Trong những thập kỷ gần đây phân cấp QLTC trong GDĐH có nhiều tác động tích cực đến chất lượng giáo dục Do đó, đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập tới vấn đề phân cấp QLTC trong giáo dục nói chung và CSĐT đại học nói riêng như sau: Theo nghiên cứu của Clive A J Dimmock (1993) thì phân cấp QLTC cho giáo dục có ảnh hưởng và tác động không nhỏ đến chất lượng giáo dục Tuy nhiên yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến chất lượng và công bằng trong giáo dục không phải là tổng số tiền có bao nhiêu và
cơ sở vật chất như thế nào mà nằm ở cách thức và hiệu quả sử dụng ngân sách đầu tư cho giáo dục ở mỗi CSĐT Cách thức sử dụng các nguồn lực tài chính của CSĐT phụ thuộc vào cơ chế tài chính và chính sách tài chính của nhà nước, CSĐT, và phụ thuộc vào khả năng của những người thực hiện các chính sách đó [92] Phân cấp QLTC giáo dục còn có tác dung như sau: (1) Tạo điều kiện cho nhiều đối tượng (các bên liên quan: GV, SV, đội ngũ cán bộ CSĐT, đại diện nhà tuyển dụng, doanh nghiệp ) tham gia giám sát hệ thống giáo dục thông qua việc tham gia vào các tiểu ban: tiểu ban tài chính, tiểu ban chương trình và chỉ đạo quá trình giảng dạy Nhờ đó hiệu quả được thực hiện, huy động được nhiều nguồn lực, các thông tin trong CSĐT và từ CSĐT tới các cấp trên được minh bạch hơn (2) Việc CSĐT
tự phân bổ kinh phí đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của SV vì các quyết định về kinh phí do những người gần gũi nhất với SV đưa ra Mặt khác tham gia vào việc quyết định các vấn đề về phân bổ làm cho mọi người thấy được sự tự chủ của mình đối với công tác QLGD có nhiều cơ hội hơn để phát triển các năng lực quản lí nói chung và năng lực QLTC nói riêng (3) Khi được tự chủ phân bổ và sử dụng kinh phí, CSĐT sẽ được lựa chọn các ưu tiên, tính toán giá thành và hiệu suất của đồng tiền sử dụng, được sáng tạo và đổi mới các hình thức chi tiêu tài chính Đây là động thái làm cho hiệu suất sử dụng các nguồn lực gia tăng [39] Tác giả Lê Toàn Thắng với luận án Tiến sĩ “Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay”, đã phân tích và chỉ rõ cơ sở và thực trạng phân cấp quản lí NSNN
Trong đó, tác giả đã nhấn mạnh phân cấp NSNN còn hạn chế ở một số điểm: Thứ nhất, phân cấp quản lí
NSNN ở Việt Nam vẫn thực hiện theo phương thức quản lí theo các yếu tố đầu vào cho nên làm cho hiệu quả sử dụng NSNN kém hiệu quả (được thể hiện thông qua việc sử dụng hệ thống định mức
NSNN) Thứ hai, những quy định về phân cấp NSNN chưa bao quát hết phạm vị NSNN Thứ ba, thẩm
quyền quản lí NSNN của địa phương tăng lên, nhưng thẩm quyền quyết định NSNN vẫn thuộc về trung
ương Thứ tư, việc phân cấp quản lí nguồn thu và chi NSNN giữ ngân sách TW và ngân sách địa phương còn có điểm chưa phù hợp trên thực tế Thứ năm, tương quan giữa nguồn thu và chi của địa phương chưa tương xứng Thứ sáu, bất cập trong những quy định phân cấp quản lý thực hiện theo chu trình NSNN Thứ bày, công tác giám sát NSNN chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn [67] Từ luận án, luân
án nhận thấy việc phân cấp QLTC tại các còn nhiều bất cập, mà cụ thể là phân cấp NSNN trong bối cảnh đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay Tác giả Đỗ Thị Thu Hằng - Trần Thị Bích Liễu nghiên cứu vấn đề: “Phân cấp QLTC với giáo dục phổ thông ở Việt Nam - Một nghiên cứu tình huống tại Hà Nội”; tác giả đã chỉ ra ảnh hưởng của phân cấp QLTC tới chất lượng giáo dục như ảnh hưởng của quyền tự chủ tài chính và các chính sách phân cấp lên chất lượng giáo dục; những hạn chế trong thực hiện chính sách phân cấp QLTC với giáo dục ở các trường THPT (ngân sách ít, thiếu nguồn lực; thiếu sự tham gia của giáo viên và cha mẹ học sinh vào quá trình lập kế hoạch tài chính, có nhiều khó khăn trong mối quan hệ hợp tác giữa kho bạc, các phòng ban hay sở tài chính với trường học, đồng thời thủ tục hành chính còn phức tạp; thiếu kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động tài chính, thiếu các đơn vị đo
Trang 8bổ về kinh phí tạo tính năng động chủ động hơn trong sử dụng nguồn lực tài chính Đây là điểm mà luận
án tiếp tục nghiên cứu làm rõ hơn trong các phần tiếp theo chương 1, 2, 3
1.1.3 Những nghiên cứu theo mô hình quản lí tài chính
Đầu tiên, luận án khái quát về mô hình quản lí công mới (the New Public Management - NPM)
là một phong cách quản lí được xây dựng trên quan niệm tính hiệu quả trong các tổ chức khu vực công
có thể được tăng cường bằng cách áp dụng phong cách quản lí đang được sử dụng tại các hàng kinh doanh Mô hình này được khởi xướng tức các nước Tây Âu trong thập kỷ 1980 và sau lan rộng ra toàn cầu Việc chuyển sang áp dụng NPM trong các CSĐT đại học xuất phát từ chiến lược mới của chính phủ; nhằm tăng cường quyền tự chủ cho các CSĐT đại học, và phải có trách nhiệm giải trình và chịu kiểm soát về sản phẩm hay kết quả hoạt động Việc áp dụng này ở mỗi nước không giống nhau và có nhiều biểu hiện khác nhau Tuy nhiên, về cơ bản NPM gồm 3 yếu tố chính: (1) Sử dụng các công cụ của
cơ chế thị trường như khích lệ về tài chính, tài trợ dựa trên kết quả hoạt động, hợp đồng công việc và trách nhiệm; (2) Củng cố các thức đo mức độ thực hiện công việc; tăng cường sử dụng kiểm soát, đảm bảo chất lượng, kiểm định để theo dõi và đánh giá của tổ chức; (3) Chuyển giao quyền lực từ các cơ quan trung ương cho người quản lí trong tổ chức với sự nhấn mạnh đến chức năng lãnh đạo và quản lí [90, tr 299-316] Từ mô hình này cho thấy việc áp dụng đều khẳng định vai trò của người đứng đầu tổ chức (hiệu trưởng, giám đốc) các CSĐT đại học; việc huy động triệt để các nhân tố tăng nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, kiểm soát, đảm bảo chất lượng, và đánh giá là các vấn đề mà các nghiên cứu ngày nay đang tiếp tục làm rõ Theo Hauptman (2006) thì có ba nguồn tài chính nhằm duy trì các hoạt động nghiên cứu và giảng dạy của các trường ĐHCL, đó là nguồn ngân sách chính phủ, học phí và đóng góp từ xã hội Trong đó đóng góp từ ngân sách chính phủ là quan trọng và nên kết hợp linh hoạt các nguồn tài chính trên Điều này có nghĩa không thể giảm sự hỗ trợ 100% từ NSNN và để các CSĐT đại học tự tìm nguồn kinh phí hoạt động Theo Hauptman (2007) đã tổng hợp bốn mô hình về tài chính cho CSĐT đại học, trong đó có 3 mô hình tài chính liên quan trực tiếp đến CSĐT đại học: Mô hình 1 : Miễn học phí hoặc áp dụng học phí thấp; Mô hình 2 : Học phí được hoàn trả sau khi tốt nghiệp ; Mô hình 3 : Tăng học phí kết hợp với các chính sách hỗ trợ Theo nghiên cứu của Tony Holloway (2006) luận giải bằng những thách thức đối với CSĐT đại học trong việc đề ra mục tiêu chiến lược và cách xác định cơ cấu sử dụng nguồn lực tài chính trong ngắn hạn, dài hạn Cơ cấu đó có thể được phân bổ theo mô hình, công cụ QLTC hiện đại đang được áp dụng ở những tập đoàn kinh doanh lớn [108] Holloway đã khẳng định yếu tố quyết định của người đứng đầu trong việc QLTC cho các yếu tố đảm bảo chất lượng và tác giả còn nhấn mạnh thành công trong QLTC CSĐT đại học là việc áp dụng mô hình QLTC trong kinh doanh; bởi vì hoạt động tài chính trong khu vực này có kỷ luật rất nghiêm nghặt và minh bạch để hướng tới việc đạt được lợi nhuận Trong báo cáo “Phát huy hiệu quả của GDĐH”, Ngân hàng Thế giới khu vực châu Á Thái Bình Dương (2012) đã đề cập đến vấn đề quản lí các CSĐT đại học qua lăng kính của vấn đề tự chủ và đảm bảo trách nhiệm trong xu thế GDĐH thế giới chuyển sang mô hình thị trường Báo cáo này nói về phạm vi tự chủ thực chất và tự chủ thủ tục Tự chủ thực chất trong báo cáo này lên
là tự chủ về thiết kế chương trình, chính sách nghiên cứu, tiêu chuẩn tuyển sinh; và tự chủ thủ tục là tự chủ về ngân sách, QLTC, phân cấp tài chính, bổ nhiệm cán bộ, viên chức làm tài chính, mua sắm, kí kết hợp đồng [48]
Như vậy, các nghiên cứu nghiên cứu mô hình về tài chính đều hướng tới chuyển sang mô hình thị trường; với mô hình này đáp ứng với bối cảnh thực tiễn phát triển của thế giới hiện nay khi mà có nhiều biến đổi về chính trị, kinh tế, xã hội Đây cũng là tiền đề, cơ sở để tác giả nghiên cứu đánh giá
Trang 97
thực trạng về mô hình QLTC tại các CSĐT đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay; từ đó đưa ra giải pháp QLTC phù hợp
1.2 Các khái niệm công cụ của đề tài
1.2.1 Khái niệm về “Quản lí”: Quản lí là một hoạt động nhằm thực hiện những tác động hướng đích
của chủ thể quản lí nhằm sử dụng có hiệu quả những tiềm năng, các cơ hội của tổ chức nhằm đạt đến mục tiêu của tổ chức đặt ra trong một môi trường luôn luôn thay đổi
1.2.2 Khái niệm về “Tài chính”, “Tài chính cơ sở đào tạo đại học”
Tài chính là quá trình phân phối các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu của các chủ thể kinh tế Hoạt động tài chính luôn gắn liền với sự vận động độc lập tương đối của các luồng giá trị dưới hình thái tiền tệ thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế [48]
Tài chính cơ sở đào tạo là quá trình phản ánh hoạt động các khoản thu chi trong quá trình sử dụng và tạo lập sử dụng quỹ Các mối quan hệ trong tài chính với các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo, nguồn ngân sách nhà nước, nguồn thu ngoài ngân sách để CSĐT đi đúng định hướng chiến lược phát triển GD-ĐT của đơn vị
1.2.3 Khái niệm về “Quản lí tài chính”, “Quản lí tài chính cơ sở đào tạo đại học”: Quản lí tài chính
là quản lí các hoạt động huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính bằng những phương pháp tổng hợp gồm nhiều biện pháp khác nhau được thực hiện trên cơ sở vận dụng các quy luật khách quan về kinh tế-tài chính một cách phù hợp với điều kiện đổi mới, hội nhập quốc tế của đất nước Quản
lí tài chính cơ sở đào tạo là quản lí các hoạt động phân bổ, sử dụng, huy động và tạo lập các nguồn lực tài chính bằng những phương pháp tổng hợp nhiều biện pháp khác nhau được thực hiện trên cơ sở vận dụng các quy luật khách quan về kinh tế - tài chính một cách phù hợp với bối cảnh đổi mới hiện nay
1.3 Tài chính của các cơ sở giáo dục đại học
1.3.1 Mối quan hệ giữa tài chính với các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo đại học
a Các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo đại học: Các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo đại
học gồm có : Chương trình đào tạo; Quản lí hoạt động đào tạo; Quản lí cơ sở vật chất, học liệu; Quản lí đội ngũ giảng viên, cán bộ viên chức, sinh viên
b Chương trình đào tạo và tài chính: Để tạo ra chương trình phù hợp với thực tế xã hội, đặc biệt
các chuyên ngành đào tạo thì chương trình cần phải được cập nhật, bổ sung thường xuyên Do đó, để tạo chương trình đào tạo phù hợp với thực tế xã hội thì cần có chuyên gia giỏi ngoài nhà trường (có kiến thức và năng lực thực tiễn) Mặt khác, cũng cần số lượng kinh phí nhất định để nghiên cứu các chương trình tiên tiến
ở nước ngoài Do đó, vấn đề tự chủ đặt ra ở đây là, các CSĐT cần tự chủ, lập dự toán phù hợp với hoạt động phát triển chương trình đào tạo
c Quản lí hoạt động đào tạo và tài chính: Hoạt động đào tạo bao gồm nhiều nội dung từ hoạt
động tuyển sinh; quá trình hoạt động học tập của SV; hoạt động giảng dạy của GV; đánh giá chất lượng giáo dục và lưu trữ các thông tin hàng năm Do đó, cần dự toán kinh phí cho các trang thiết bị hỗ trợ đào tạo như các phần mền quản lí, đánh giá kết quả học tập của SV; có ý nghĩa hết sức to lớn trong quá trình quản lí đào tạo, giúp nó quản lí linh hoạt và khoa học, tạo điều kiện thuận lợi cho SV học tập cũng như
GV giảng dạy
d Quản lí cơ sở vật chất, học liệu và tài chính: Nguồn chi đầu tư cơ sở vật chất lớn sẽ tạo cho các
trường có điều kiện mở rộng cơ sở hoạt động (số phòng học giảng đường, ký túc xá, phòng chuyên dùng, thí nghiệm phục vụ quá trình học tập và sinh hoạt của sinh viên) thiết bị hiện đại phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu, học tập Quản lí tài chính linh hoạt, thuận lợi sẽ góp phần tăng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và nâng cao đảm bảo chất lượng cơ sở vật chất đảm bảo các yêu cầu hoạt động của nhà trường Điều này, rất cần thiết cho một CSĐT tự chủ
e Quản lí đội ngũ giảng viên, cán bộ viên chức, sinh viên và tài chính: Hoạt động quản lí đội
ngũ GV, cán bộ viên chức thông qua các khâu như xây dựng quy hoạch phát triển, tuyển chọn đội ngũ,
sử dụng, đào tạo - bồi dưỡng, chính sách đãi ngộ cho đội ngũ Do đó, trong việc tự chủ tài chính các
Trang 108
CSĐT đều có thể chủ động trong việc trả thưởng cho GV, trong các hoạt động nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường
1.3.2 Đặc thù của tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học : đặc thù tài chính của CSĐT đại học
có đặc trưng trong hoạt động thu nguồn NSNN là rất lớn; các hoạt động chi cho tài chính tập trung phục
vụ ĐT; và nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp là rất hạn chế, bởi nhiệm vụ tập trung cho công tác
GD-ĐT Một nét khá nổi bật đáp ứng trong bối cảnh đổi mới hiện nay, đó cùng là nhiệm vụ nặng nề đó là TC-TCTN về tài chính của các CSĐT đại học; khi mà văn bản pháp quy chưa phù hợp bối cảnh đổi mới, thực quyền TC-TCTN rất ít; cơ chế chính sách, môi trường, đội ngũ cán bộ, GV còn chưa nhận
thức rõ vấn đề TC-TCTN về tài chính
1.3.3 Nội dung cơ bản của tài chính các cơ sở giáo dục đại học : Trong các cơ sở GDĐH thì hoạt
động của tài chính bao gồm các hoạt động nguồn thu và chi, cân đối tài chính, kinh phí cho hoạt động GD-ĐT, phân phối tài chính và trợ cấp:
1.4 Đổi mới giáo dục đại học và những vấn đề đặt ra cho tài chính và quản lí tài chính tại các
cơ sở đào tạo đại học
1.4.1 Đối mới giáo dục đại học và yêu cầu đổi mới quản lí tài chính tại các cơ sở đào tạo đại
đổi mới về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học đại học, đổi mới phát triển năng lực), Hoạt động thu, chi tài chính tại cơ sở đào tạo ĐH đáp ứng yêu cầu đổi mới (Để đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay, các CSĐT đại học cần thực hiện theo hướng TC-TCTN) Đội ngũ quản lý tài chính đáp ứng yêu cầu đổi mới (Đặc biệt là bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ QLTC thông qua các năng lực: (1) Năng lực lập kế hoạch tài chính; (2) Năng lực tổ chức thực hiện QLTC; (3) Năng lực chỉ đạo, phân tích, đánh giá tài chính; (4) Kỹ năng công nghệ tin học, ngoại ngữ; (5) Năng lực quản lí sự thay đổi giải quyết vấn
đề giám sát phân tích đánh giá tài chính)
1.4.2 Phân cấp quản lý và tự chủ, tự chịu trách nhiệm quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo
1.4.2.1 Mô hình quản lí tài chính: Mô hình QLTC là định hướng cho việc tổ chức, vận hành, quản lý,
kiểm soát tất cả các hoạt động tài chính của nhà trường một cách o họctư theo một quan điểm nhất
quán, xuyên suốt
1.4.2.2 Phân cấp quản lý và quản lý tài chính: Phân cấp quản lí được hiểu là quá trình chuyển giao
quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội (với nguồn lực phù hợp) cho các cấp quản lí thấp hơn và cấp cơ sở
trong việc cung cấp dịch vụ giáo dục
1.4.2.3.Tự chủ và tự chủ tài chính
a Khái niệm về tự chủ và tự chủ tài chính: Tự chủ của các CSĐT là quyền tự quản lý, quyết định của
các CSĐT trên phương diện tổ chức, đào tạo, nghiên cứu và tài chính; trong đó, tự chủ tài chính là nội dung quan trọng góp phần thúc đẩy mọi hoạt động có hiệu quả chất lượng đào tạo hơn nữa Tự chủ tài chính còn là khả năng của một CSĐT đại học tự do quyết định về các vấn đề tài chính nội bộ của mình
b Bản chất và nội dung của tự chủ và tự chủ tài chính: Bản chất của tự chủ là văn hóa quản lí phân
quyền Nội dung của tự chủ bao gồm: Tự chủ về tổ chức, biên chế; Tự chủ về hoạt động của nhà trường Tự chủ về tài chính
1.4.2.4.Tự chủ trách nhiệm tài chính: tự chịu trách nhiệm tài chính trước hết với ý nghĩa là có trách
nhiệm giải trình không chỉ khi có yêu cầu và không có yêu cầu, trước một tổ chức hay cá nhân về hành động của mình tại mọi thời điểm về hoạt động tài chính Tự chịu trách nhiệm về tài chính ở đây, luận
án nhận định việc tự chịu trách không chỉ trước Nhà nước, Bộ GD-ĐT và Bộ chủ quản mà còn có trách nhiệm với xã hội, trách giữa các bên liên quan; tức là có trách nhiệm giải trình về hoạt động tài chính
1.4.2.5 Công khai tài chính: Mỗi CSĐT cần thực hiện nghiêm nguyên tắc “ba công khai”, bởi công
khai là nguyên tắc dân chủ tài chính, đáp ứng với yêu cầu đổi mới hiện nay thì nguyên tắc này cần được
tổ chức triển khai thực hiện Công khai cần thực hiện các nội dung: Công khai về các nguồn thu tài
Trang 11.1.5 Quản lí tài chính tại các cơ sở đào tạo đáp ứng yêu cầu đổi mới
1.5.1 Kế hoạch quản lí nguồn tài chính cơ sở đào tạo: Kế hoạch nguồn tài chính là kế hoạch xác định việc thu chi tại các CSĐT đại học: Thu những nguồn nào? Vào thời gian nào? Thời gian nào chi
cái gì, chi bao nhiêu, thuộc nguồn kinh phí nào? Kế hoạch nguồn tài chính phải phù hợp với nhiệm vụ
năm học và điều kiện của CSĐT, đặc biệt là đảm bảo đúng thời gian để nguồn vốn đạt hiệu quả cao Từ
đó, cho thấy quản lí tài chính tại các CSĐT đại học chính là thực hiện thông qua các kế hoạch tài chính để thực hiện các mục tiêu tài chính trên của nhà quản lí Trong đó, kế hoạch nguồn tài chính bao gồm một số nội dung sau: Xây dựng kế hoạch thu, chi NSNN; Xây dựng kế hoạch thu, chi ngoải NSNN; Lập kế hoạch mua sắm trang thiết bị phục vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học; Kế hoạch đào tạo lại cán bộ công chức theo quy định nhà nước và Học viện; Giao kế hoạch thu, chi ngân sách gắn với chương trình, nhiệm vụ của các khoa giảng dạy; Tổ chức thanh quyết toán tài chính hàng quý, năm theo chế độ hiện hành về QLTC; Sắp xếp, bố trí, cân đối nhu cầu chi tiêu của nhà trường
1.5.2 Tổ chức thực hiện quản lí nguồn tài chính: Để thực hiện các chức năng quản lí nguồn tài chính,
thì các CSĐT sau khi thực hiện chức năng lập kế hoạch phải tổ chức thực hiện quản lí nguồn tài chính Chức năng tổ chức đòi hỏi các nhà quản lí phải: Xác định những hoạt động tài chính cần thiết để đạt được mục tiêu của tổ chức Thiết lập những bộ phận thực hiện các hoạt động theo hướng chuyên môn hóa với những nguyên tắc và quy mô nhất định; Xác định quyền hạn và xác lập các mối quan hệ trong
tổ chức; Sắp đặt những con người cụ thể vào những vị trì thích hợp
1.5.3 Chỉ đạo thực hiện quản lí nguồn tài chính: Để hoạt động tài chính tại các CSĐT thực hiện tốt
việc đảm bảo cho hoạt động đào tạo trong nhà trường Việc chỉ đạo thực hiện quản lí nguồn tài chính thông qua hoạt động như sau: Huy động các nguồn tài chính; Xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ Thực hiện kế hoạch chi tiêu (Chấp hành dự toán); Theo dõi việc cấp phát hạn mức kinh phí; Xây dựng nền nếp làm việc của kế toán
1.5.4 Kiểm tra, đánh giá quản lí nguồn tài chính tại các cơ sở đào tạo: Kiểm tra, đánh giá nguồn tài
chính tại các CSĐT cần thực hiện đúng nguyên tắc và nội dung sau: Các nguyên tắc kiểm tra tài chính: Nguyên tắc tuân thủ pháp luật; Nguyên tắc chính xác – khách quan – công khai; Nguyên tắc hiệu lực
và hiệu quả Và các nội dung kiểm tra tài chính trong nhà trường: Kiểm tra, đánh giá nguồn thu, chi tại các CSĐT đáp ứng với yêu cầu đổi mới (Kiểm tra các chứng tư và sổ sách kế toán; Kiểm tra các báo cáo tài chính); Kiểm tra, đánh giá dự toán ngân sách tại các CSĐT đáp ứng với yêu cầu đổi mới; Kiểm tra, đánh giá mức độ “công khai, tự chịu trách nhiệm”
1.6 Những yếu tố ảnh hưởng tới hoạt độngquản lí tài chính tại các cơ sở đào tạo
1.6.1 Nhóm các yếu tố chủ quan
a Nhận thức của cán bộ, viên chức, giảng viên về quản lí tài chính cơ sở đào tạo: Để thực hiện hoạt
động QLTC CSĐT được hiệu quả, chính xác, minh mạch, khách quan theo hướng tự chủ đòi hỏi mỗi cán bộ, viên chức, GV trong mỗi CSĐT, trước hết phải nhận thức sâu sắc những hiệu quả về hoạt động QLTC CSĐT đại học theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm
b Trình độ tổ chức, năng lực của cán bộ, viên chức, giảng viên trong việc huy động và sử dụng nguồn lực tài chính: Nhà trường cần hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ ĐT và NCKH được giao từ các cấp,
Bộ, Ngành với chất lượng không thấp hơn với chất lượng được giao khoán Xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ đảm bảo sử dụng kinh phí tiết kiệm và phương án bổ sung thu nhập cho cán bộ đảm bảo theo cơ cấu, số lượng, chất lượng lao động, bình đẳng, công khai, minh bạch và dân chủ
Trang 1210
1.6.2 Nhóm các yếu tố khách quan: Quản lí tài chính CSĐTchịu ảnh hưởng khá nhiều từ bộ máy quản
lí Các chính sách, quy chế chi tiêu nội bộ trong các CSĐT đại học liên quan tới tất cả các bộ phận trong
bộ máy quản lí Ngoài ra, các chính sách về thu chi trong nội bộ đơn vị không chỉ do bộ phận tài chính quyết định Các bộ phận khác trong bộ máy quản lí đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát, giám sát và tư vấn cho lãnh đạo đơn vị ra các quyết sách phù hợp Sự yếu kém của một bộ phận sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới hiệu quả thực hiện cơ chế QLTC của các bộ phận khác
1.7 Kinh nghiệm quốc tế về quản lí tài chính tại các cơ sở đào tạo đại học và bài học cho Việt Nam
1.7.1 Kinh nghiệm về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính tại các cơ sở đào tạo đại học
và bài học cho Việt Nam
(1) Các nước có hướng ngày càng tăng quyền tự chủ tài chính cho các CSĐT đại học; (2) Việc tăng quyền tự chủ tài chính không diễn ra đồng nhất, mà trước hết các CSĐT đại học lớn, có uy tín, có năng lực cạnh tranh toàn cầu (3) Trao quyền tự chủ tài chính cho các CSĐT đại học, không có nghĩa là chấm dứt cấp phát kinh phí hoạt động Ngoài ra, nhà nước vẫn đảm nhiệm vai trò đầu tư cơ sở vật chất, các CSĐT đại học có xu hướng xác định mức học phí, hoặc định mức học phí cao hơn học phí chuẩn hàng năm Đi kèm với tự chủ tài chính, một số nước cho phép các CSĐT tự chủ về chi tiêu cán bộ và mức lượng Không có nước nào, cho phép tự chủ tất cả các mặt Đi kèm với việc giao quyền tự chủ là việc tăng trách nhiệm giải trình của CSĐT đại học, tăng cường giám sát của nhà nước và cộng đồng với các trường qua tiêu chí cụ thể và minh bạch
1.7.2 Kinh nghiệm quốc tế về cơ chế phân cấp quản lí tài chính tại các cơ sở đào tạo đại học và bài học cho Việt Nam
Thứ nhất, áp dụng cơ chế phân cấp QLTC hiệu trưởng là người quyết định cao nhất; Thứ hai, cần phân cấp quản lí khoa, bộ môn GV là quyền tự chủ về học thuật, nội dung, tài chính; Thứ ba, Phân
cấp QLTC cần có phân bổ và sử dụng tài chính cho các hướng ưu tiên, tính toán giá thành và hiệu suất của đồng tiền sử dụng, được sang tạo và đổi mới các hình thức chi tiêu tài chính Ngoài ra, Các CSĐT cần thành lập tổ chức độc lập như Hội đồng nhà trương, các tiểu ban liên quan đến quản lí quá trình hoạt động ĐT để khách quan trọng việc đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính và ĐT của các CSĐT này
1.7.3 Kinh nghiệm quốc tế về mô hình quản lí tài chính tại các cơ sở đào tạo đại học và bài học cho Việt Nam
Kinh nghiệm quốc tế về mô hình QLTC trên; các bài học cho CSĐT đại học Việt Nam về
chính sách học phí như sau: Thứ nhất, rất nhiều quốc gia đã thực hiện chính sách các trường đại học tự quyết định về QLTC theo hướng TC-TCTN; Thứ hai, các nước đều có theo hướng chuyển các CSĐT
công lập sang hình thức tư nhân theo tổ chức mô hình thị trường, chịu trách nhiệm báo cáo giải trình;
Thứ ba, Việt Nam có thể cân nhắc mô hình thị trường đáp ứng với bối cảnh đổi mới; đó là trao quyền tự
chủ hoàn toàn cho các CSĐT đại học, chịu trách báo cáo giải trình giữa các bộ, ngành, giữa các bên liên
quan và xã hội Thứ tư, tùy tính đặc thù vào mỗi CSĐT đại học, có thể thương mại hóa các sản phẩm
NCKH để tăng nguồn thu cho CSĐT này
Tiểu kết chương 1
Quản lí tài chính là một vấn đề quan trọng trong quản lí CSĐT đại học nói chung, các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM nói riêng Để căn cứ cơ sở lý luận, luận án đã tập trung vào phân tích những khái niệm về: Quản lí, khái niệm tài chính, QLTC và QLTC CSĐT, tác giả đã đưa ra những vấn đề lý luận về QLTC CSĐT Đặc biệt, luận án đã đưa ra những nội dung về quá trình đổi mới và nguyên tắc thực hiện quá trình đổi mới QLTC CSĐT; QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống HV QGHCM Từ những phân tích, đánh giá tổng quan, cơ sở lý luận về công tác QLTC, sự cần thiết phải đổi mới, yếu tố chủ quan, khách quan ảnh hưởng tới công tác QLTC Từ đó, tạo cơ sở lý thuyết cho việc đánh giá thực trạng (chương 2) theo các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo và đề xuất giải pháp (chương 3) về QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM đáp ứng yêu cầu đổi mới
Trang 1311
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO THUỘC HỆ
THỐNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH 2.1 Giới thiệu chung về Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
a Lịch sử hình thành Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Chủ tịch HCM là người sáng lập, lãnh
đạo và rèn luyện Đảng ta, cũng là người mở đầu sự nghiệp đào tạo cán bộ bằng những lớp huấn luyện đầu tiên vào những năm 1925-1926 tại Quảng Châu (Trung Quốc) Học viện CTQG HCM được thành lập năm 1945; là trung tâm quốc gia đào tạo bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học của Đảng, Nhà nước Việt Nam Qua từng các thời kỳ đến nay được gọi là Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta xây dựng đất nước ta có một hệ thống chính trị ổn định và phát triển
b Chức năng, nhiệm vụ của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Học viện CTQG HCM có vị trí,
chức năng như sau: Học viện là cơ sở đào tạo (còn được gọi là đơn vị sự nghiệp) trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam; đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Học viện à trung tâm quốc gia ĐT, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lí trung, cao cấp, cán bộ khoa học lý luận chính trị của hệ thống chính trị; trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học lý luận Mác - Lênin, tư tưởng HCM, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các khoa học chính trị, khoa học lãnh đạo, quản lí và một số ngành khoa học xã hội, nhân văn khác Học viện sử dụng con dấu hình Quốc huy, là đơn vị tài chính cấp I Học viện có nhiệm vụ chủ yếu sau: Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội; Nghiên cứu khoa học; ; quy chế quản lí ĐT; ĐT, bồi dưỡng giảng viên của các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
c Cơ cấu tổ chức của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Học viện CTQG HCM phối hợp với
Ban Tổ chức Trung ương và các cơ quan chức năng khác trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Chính phủ quyết định việc thay đổi cơ cấu tổ chức của học
d Quy mô đào tạo tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM được nghiên cứu
2.2 Giới thiệu về nghiên cứu khảo sát thực trạng
2.2.1 Mục đích khảo sát: Đánh giá thực trạng theo các nội dung QLTC tại các CSĐT thuộc Học viện
CTQG HCM
2.2.2 Nội dung khảo sát: Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống
Học viện CTQG HCM trong những năm gần đây Luận án tập trung đi sâu vào khảo sát các nội dung trong QLTC tại các CSĐT được nghiên cứu như sau: Thực trạng nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của hoạt động tài chính; Thực trạng phân cấp quản lí và TC-TCTN, công khai về QLTC; Thực trạng mô hình QLTC; Thực trạng hoạt động thu, chi tài chính tại CSĐT; Kết quả đánh giá vè thực trạng quản lí: Kế hoạch, tổ chức, kiểm tra đánh giá về các nguồn tài chính CSĐT và thực trạng các yếu tố ảnh hưởng hoạt động tài chính tại các CSĐT; Khi khảo sát thực trạng của hoạt động, tác giả đi vào tổ chức khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM đáp ứng yêu cầu đổi mới Luận án cũng tiến hành thực nghiệm 01 giải pháp
2.2.3 Phương pháp khảo sát: Các bước tiến hành khảo sát thực trạng theo 3 bước: Bước 1: Xây dựng
phiếu khảo sát; Bước 2: Khảo sát chính thức; Bước 3: Phân tích và xử lý số liệu; Bước 4: Thời gian tiến hành khảo sát và phân tích dữ liệu Để luận án đi sâu vào nghiên cứu thực trạng của QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM, sử dụng phương pháp đánh giá SPSS
2.2.4 Đối tượng khảo sát: Với mục đích khảo sát đã đề xuất, luận án thu thập thông tin trên các đối
tượng chủ thể quản lí trực tiếp và gián tiếp của QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM là CBQL GD và GV (chủ thể quản lí gián tiếp), cán bộ quản lí, viên chức làm công tác QLTC tại các Phòng Kế hoạch - Tài vụ (chủ thể quản lí trực tiếp)
2.3 Thực trạng tài chính và đổi mới hoạt động tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
2.3.1 Thực trạng tài chính
2.3.1.1 Thực trạng nguồn thu
- Nguồn thu ngoài ngân sách còn hạn chế thể hiện như sau: Nguồn thu sự nghiệp của 3 CSĐT chủ yếu là thu từ các loại phí và các khoàn thu khác Các khoản thu: Tại 3 CSĐT các khoản ( Thu từ dịch vụ ĐT; lệ phí, Học phí; các khoản thu khác: NCKH, liên kết ĐT, hoạt động dich vụ ), trong đó chủ yếu vẫn là học phí và nguồn thu từ các loại lệ phí Nguồn thu từ các hoạt động khác: Thu từ liên kết
ĐT cho các đối tượng Quốc tế (Lào - Camphuchia) Kế hoạch tài chính chưa thực sự đồng bộ với hoạt