1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

BÀI thu hoạch cải cách hành chính huyện thăng binh (LHai)

23 367 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 154,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài: Đảng và Nhà nước ta xem việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩakhông chỉ là một trong những nội dung thể hiện bản chất của xã hội mà còn là quyluật hình thành phát

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Đảng và Nhà nước ta xem việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩakhông chỉ là một trong những nội dung thể hiện bản chất của xã hội mà còn là quyluật hình thành phát triển và tự hoàn thiện của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa.Theo đó dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng củaĐảng và nhân dân ta xây dựng Từ lâu, Đảng ta rất coi trọng và phát huy quyền làmchủ của nhân dân, dựa vào dân nên đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đếnthắng lợi khác Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hộichủ nghĩa, dân chủ hóa đời sống xã hội đã được Đảng cộng sản Việt Nam xác định

là một trong những nội dung cốt lõi, trọng tâm, đặc biệt là dân chủ hóa đời sống xãhội từ cơ sở

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ” Với ý

nghĩa đó, dân là tất cả, bắt đầu từ dân, mọi việc do dân, kết thúc vì dân, dân vừa làđiểm xuất phát, vừa là mục tiêu cuối cùng 82 năm qua, vận dụng những quan điểmcủa Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, Đảng cộng sảnViệt Nam đã phát huy dân chủ nhất là dân chủ trong đời sống xã hội

Chính vì vậy, ngày 18 tháng 2 năm 1998, Bộ chính trị đã ra chỉ thị số

30/CT-TW về “xây dựng quy chế dân chủ ở cơ sở”, tiếp theo để cụ thể hóa Chỉ thị này,

Thủ tướng chính phủ ra các nghị định 29/1998/NĐ-CP ngày 7/8/1998/; Nghị định

số 71/1998/NĐ-CP ngày 7/8/1998; Nghị định số 79/2003/NĐ-CP, ngày 7/7/2003

và các văn bản hướng dẫn về “Ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã”, nhằm

phát huy sức sáng tạo của nhân dân trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xãhội, tăng cường đoàn kết toàn dân, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, xây dựng

Đảng, chính quyền, đoàn thể vững mạnh góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” Qua quá trình triển khai thực

hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, thực tế đã cho thấy kết quả bước đầu là quan trọng.Tuy vậy, vẫn còn những thiếu sót, yếu kém như: quyền làm chủ của nhân dân còn

bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực Tệ quan liêu, cửa quyền, hách dịch,mệnh lệnh, tham nhũng, gây phiền hà cho dân vẫn còn khá phổ biến và nghiêm

trọng mà chưa đẩy lùi được Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chậm đi vào cuộc sống.

Do vây, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác định “Tiếp tục hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân; mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nuớc đều vì lợi ích của nhân dân, cán bộ, công chức phái hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, tôn trọng dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân Có cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp và quyền làm chủ thông qua các cơ quan đại diện của mình Phát huy dân chủ phải đi liền với tăng

Trang 2

cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, những hành vi lợi dụng dân chủ làm tổn hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội”.

Quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đặc biệt là thực hiện theo pháplệnh 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20 tháng 4 năm 2007 của Ủy ban thường vụQuốc hội đã làm chuyển biến đáng kể nhận thức của cấp ủy, chính quyền và đoànthể, phát huy được quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân, nâng cao chất lượng độingũ cán bộ, đảng viên, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, góp phần thúc đẩykinh tế - xã hội phát triển, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tronggiai đoạn hiện nay

Để không ngừng tăng cường việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và gópphần xem xét, đánh giá vấn đề một cách khách quan, khoa học, việc đi sâu nghiêncứu, tổng kết, đánh giá quá trình thực hiện ở địa phương có ý nghĩa lý luận và thựctiễn sâu sắc

Với những lý do đó, tôi xin chọn đề tài “Thực trạng việc triển khai thực hiện quy chế dân chủ trên địa bàn xã Đại Quang giai đoạn 2007-2012” để làm bài tiểu

luận tốt nghiệp

Trang 3

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DÂN CHỦ, DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

1 Quan điểm của Mác – Lênin về dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa:

V.I.Lênin quan niệm: Dân chủ là sự thống trị của đa số

Với nghĩa này có thể hiểu dân chủ được nhìn nhận như một quyền lực mà tất

cả quyền lực thuộc về đa số người dân chứ không phải của một nhóm người, quyềnlực này được nhân dân giao cho nhà nước của mình, là người đại diện cho mình.Theo V.I.Lênin, dân chủ được nhìn nhận như là một hình thức tổ chức nhà nước,một hình thái nhà nước, trong đó thừa nhận sự tham gia của đông đảo quần chúngnhân dân vào công việc quản lý nhà nước để thực hiện sự thống trị đối với thiểu sốnhững kẻ vi phạm dân chủ của nhân dân Mức độ, phạm vi tham gia thật sự củaquần chúng nhân dân vào công việc quản lý nhà nước phản ánh trình độ phát triểncủa nền dân chủ, phản ánh những vấn đề cốt lõi nhất của dân chủ

Với tư cách là một nhà nước, một chế độ chính trị thì trong lịch sử có ba chế

độ (nền) dân chủ Đó là: nền dân chủ chủ nô, gắn với chế độ chiếm hữu nô lệ; nềndân chủ tư sản, gắn với chế độ tư bản chủ nghĩa; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, gắnvới chế độ xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, muốn biết một nhà nước dân chủ có thực

sự dân chủ hay không phải xem trong nhà nước ấy dân là ai và bản chất của chế độ

xã hội ấy như thế nào

Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, giai cấp chủ nô dùng pháp luật để lập ra nhànước thông qua bầu cử và họ gọi đó là nhà nước dân chủ (cuối thế kỷ VIII đến thế

kỷ VI tr.CN ở Aten và Hy Lạp cổ) Giai cấp chủ nô quy định trong luật: chỉ ai làdân mới được tham gia bầu ra nhà nước “Dân” theo quan niệm của chủ nô gồmgiai cấp chủ nô, tăng lữ, thương gia, một số tri thức và người tự do Đa số còn lạikhông phải là “dân” mà là “nô lệ” nên không được tham gia vào việc bầu ra nhànước

Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, nhà nước dân chủ tư sản được thành lập và

đã đạt đuợc những thành tựu to lớn trong việc thực thi dân chủ Tuy nhiên, trongchủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản vẫn duy trì chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệusản xuất để bảo vệ lợi ích chủ yếu của giai cấp tư sản Do vậy, xét về bản chất, nhànuớc tư sản vẫn không là nhà nước thực hiện quyền lực thực sự của nhân dân

Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) thắng lợi bắt đầu một thời đại mới,trong đó, nhân dân lao động trở thành người làm chủ xã hội và lập ra nhà nước dânchủ xã hội chủ nghĩa để thực hiện quyền lợi của dân – tức là xây dựng nhà nướcdân chủ thực sự

Như vậy, thuật ngữ dân chủ chỉ xuất hiện khi trước đó đã tồn tại ba yếu tố:nhân dân, quyền lực công cộng và mối quan hệ giữa chúng Thực ra, các yếu tố cấu

Trang 4

thành nội dung của khái niệm dân chủ đã tồn tại suốt chiều dài lịch sử (trừ chế độnguyên thuỷ), nhưng bản chất của dân chủ không nằm trong các yếu tố đó mà nằmtrong mối quan hệ xác định giữa chúng: quan hệ sở hữu và chi phối quyền lực côngcộng từ phía nhân dân.

Dân chủ xã hội chủ nghĩa là một hiện tượng hợp quy luật, là bước phát triểncao hơn về chất so với các kiểu dân chủ khác và bản chất của dân chủ xã hội chủnghĩa là giải phóng con người để con người có thể thực hiện những quyền tự nhiêncủa mình, tự làm chủ vận mệnh và quyết định những vấn đề của xã hội Dân chủ xã

hội chủ nghĩa thực chất là chế độ “do nhân dân tự quy định Nhà nước”, nhân dân là

chủ thể tối cao của quyền lực Nhà nước, nhân dân tự tổ chức quyền lực Nhà nướcqua bầu cử, tham gia quản lý và quyết định những vấn đề quan trọng, kiểm tra,giám sát các hoạt động của Nhà nước thông qua các hình thức dân chủ trực tiếp vàdân chủ đại diện

2 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa:

Đối với Hồ Chí Minh, tất cả mọi việc dù khó khăn đến mấy nhưng biết dựavào sức dân thì bao giờ cũng thành công Đó là tư tưởng xuyên suốt trong cuộc đờihoạt động cách mạng của Người và được thể hiện qua hai câu ca đơn giản, dễ hiểu:

“Dễ mười lần không dân cũng chịu

Khó trăm lần dân liệu cũng xong ”

Tiếp thu và kế thừa các quan điểm về “dân chủ” của nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh khái niệm “dân chủ” một cách đơn giản, cô đọng và dễ hiểu, dễ thực hiện Người nói: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là dân làm chủ, nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” Người viết:

Nước ta là nước dân chủ

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân

Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra

Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân

Nội dung dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát triển theo hướng triệt để, rằngquyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân và nhà nước chỉ là cơ quan đại diện đượctrao quyền, nghĩa là quyết định cuối cùng vẫn là ở nhân dân Nhân dân trao quyềnlực cho Nhà nước qua bầu cử theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp vàbằng hình thức bỏ phiếu kín Nhưng nhân dân giữ lại quyền quyết định cuối cùng

Trang 5

Điều đó, được thể hiện trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Người đòi hỏi kiên quyết thực

hiện quyền bãi miễn, rằng “nhân dân có quyền bãi nhiễm đại biểu quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”.

Trên cơ sở những quan điểm của các tác giả kinh điển và chủ tịch Hồ ChíMinh về dân chủ xã hội chủ nghĩa, có thể đưa ra một số kết luận sau:

- Dân chủ xã hội chủ nghĩa là “quyền lực của nhân dân” là “chính quyền củanhân dân lao động” Dân chủ xã hội chủ nghĩa là cái thuộc bản chất của chế độ ta,của nhà nước kiểu mới – nhà nước xã hội chủ nghĩa;

- Dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ toàn diện, có nội dung phong phú,được phát triển trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội Nhưng thựcchất của dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự tham gia một cách bình đẳng và ngày càngrộng rãi của những người lao động vào công cuộc quản lý Nhà nước và của xã hội

- Sự tham gia của nhân dân và quản lý nhà nước và xã hội được thực hiệnthông qua các hình thức: dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện Dân chủ đại diện làhình thức mà qua đó nhân dân thực hiện sự “ủy quyền”, giao quyền lực của mìnhcho người, tổ chức mà nhân dân trực tiếp bầu ra Những người và tổ chức ấy đạidiện cho nhân dân, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Dân chủ trực tiếp làhình thức nhân dân tham gia trực tiếp có ý nghĩa quyết định đối với những côngviệc quan trọng của địa phương, cơ quan, đơn vị Do vậy, nó có vai trò rất quantrọng trong quá trình dân chủ hóa nhà nước và xã hội của thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

3 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về dân chủ xã hội chủ nghĩa:

Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạo cách mạng ViệtNam, Đảng ta luôn xác định rõ phát huy dân chủ trong xã hội là một trong nội dunglớn của đường lối cách mạng nhằm phát huy sức mạnh của toàn dân tộc khẳng địnhdân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mớixây dựng và bảo vệ tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng Nhà nước vànhân dân

Đảng ta đã luôn luôn không ngừng giữ gìn và phát huy dân chủ, đề caoquyền làm chủ của nhân dân lao động, coi đây là nhiệm vụ của toàn Đảng toàn dân.Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã nêu và ghi trong Nghị

quyết vấn đề dân chủ là: xây dựng một Nhà nước “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Đại hội X của Đảng chỉ rõ: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa” vừa là mục tiêu

vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mốiquan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Nhà nước là đại diện quyền làmchủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức và thực hiện đường lối chính trị củaĐảng; mọi đường lối, chính sách của Đảng và Pháp luật của Nhà nước đều phải

Trang 6

phản ảnh lợi ích của đại đa số nhân dân Nhân dân không chỉ có quyền mà còn cótrách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng

và Pháp luật của Nhà nước Chúng ta chủ trương xây dựng một xã hội dân chủ,trong đó cán bộ, đảng viên và công chức phải thực sự là công bộc của nhân dân,chịu sự giám sát của nhân dân”

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục xây dựng

và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nướcthuộc về nhân dân; mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật củaNhà nước đều vì lợi ích của nhân dân; cán bộ, công chức phải hoàn thành tốt chứctrách, nhiệm vụ được giao, tôn trọng nhân dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân Nâng cao

ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân, năng lực làm chủ, tham gia quản lý xã hộicủa nhân dân Có cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ

trực tiếp Thực hiện tốt hơn Quy chế dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn Phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm công dân, kỷ luật,

kỷ cương xã hội; phê phán và nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền làm chủ củanhân dân, những hành vi lợi dụng dân chủ để làm mất an ninh, trật tự, an toàn xãhội; chống tập trung quan liêu, khắc phục dân chủ hình thức Quan tâm hơn nữaviệc chăm lo hạnh phúc và sự phát triển tự do, toàn diện của con người, bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc

tế về quyền con người mà Việt Nam ký kết”

Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân tự tổ chức và thực hiện,trước hết và chủ yếu thông qua nhà nước của mình Để có dân chủ thực sự, Đảng takhẳng định: Trong chủ nghĩa xã hội, dân chủ và pháp luật phải đi đôi với nhau,

pháp luật phải là “bà đỡ” của dân chủ, dân chủ và kỷ cương không bài trừ và phủ

định nhau, mà trái lại, chúng nằm trong sự thống nhất biện chứng là điều kiện, tiền

đề để tồn tại và phát triển của nhau

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay luôn gắnliền với việc xây dựng và hoàn thiện không ngừng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.Đảng ta cho rằng, dân chủ xã hội chủ nghĩa là một hình thức chính trị - nhà nướccủa xã hội, thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của công dân, thừa nhận nhân dân làchủ thể của quyền lực, hệ thống chính trị là thiết chế đảm bảo quyền dân chủ củanhân dân Sự lãnh đạo của Đảng là để đảm bảo quyền lực thực sự thuộc về nhândân Vì vậy, mức độ thực hiện quyền dân chủ của nhân dân phải được xem là thước

đo đánh giá tính đúng đắn trong sự lãnh đạo của Đảng Sứ mệnh lịch sử của Đảngcộng sản cầm quyền là lãnh đạo làm sao để nhân dân làm chủ ngày càng tốt hơn,dân chủ của nhân dân ngày càng được mở rộng và sâu sắc Dưới sự lãnh đạo củaĐảng, trong công cuộc đổi mới hiện nay dân chủ và chủ nghĩa xã hội ngày cànggắn bó chặt chẽ với nhau

Trang 7

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN

CHỦ Ở XÃ ĐẠI QUANG GIAI ĐOẠN 2007-2012

1 Khái quát đặc điểm tình hình địa phương:

1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên:

Đại Quang là một xã miền núi nằm về phía tây của Huyện Đại Lộc, cáchtrung tâm huyện lỵ 7 km, tổng số dân là 10.682 nhân khẩu

Phía đông giáp xã Đại Nghĩa, phía Tây giáp xã Đại Đồng, phía Nam giápsông vu Gia, Phía bắc giáp dãy núi Sơn Gà

Toàn xã có 10 thôn, có Thôn Đồng Me nằm xen kẻ với các thôn của xã ĐạiĐồng là thôn xa nhất cách trung tâm xã gần 02 km

1.2 Đặc điểm điều kiện kinh tế - xã hội:

1.2.1 Về hệ thống chính trị:

Đảng bộ xã Đại Quang có 13 chi bộ trực thuộc, trong đó có 09 chi bộ thôn,

01 chi bộ HTX Nông nghiệp, 01 chi bộ Doanh nghiệp, 01 chi bộ Quân sự, 01 chi

bộ Cơ quan xã

Ban chấp hành Đảng bộ có 11 đồng chí, Ban thường vụ có 03 đồng chí lãnhđạo trên tất cả các lĩnh vực của địa phương.Tổng số đảng viên của Đảng bộ có 173đồng chí, trong đó nữ có 37 đồng chí

Trong những năm qua toàn thể đảng viên trong Đảng bộ luôn đoàn kết nhấttrí một lòng quyết tâm xây dựng xã nhà vượt qua những khó khăn, ổn định về đờisống kinh tế cũng như chính trị, phát triển văn hóa xã hội, quốc phòng an ninh, trật

tự an toàn xã hội được giữ vững Từ những thành tựu đã đạt được Đảng bộ xã Đại

Quang đã nhiều năm liền được công nhận là Đảng bộ “Trong sạch vững mạnh”.

Hiện nay Ban chấp hành Đảng bộ xã đã phát hành lịch sử Đảng bộ xã giai đoạn1930-1975, 1975-2010, và gần đây nhất Đảng bộ xã đã phát hành tập sách ĐạiQuang nhân vật và sự kiện tập 1

Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vàcác tổ chức đoàn thể chính trị xã hội đã không ngừng được củng cố, kiện toàn vàtăng cường phát huy hiệu lực trong việc lãnh đạo, quản lý điều hành xã hội

Cán bộ xã Đại Quang có 40 người Trong đó 23 cán bộ công chức và chuyêntrách và 17 cán bộ không chuyên trách Những cán bộ chuyên trách và công chứccủa xã đều được đào tạo đạt chuẩn quy định (đều có bằng chuyên môn từ trung cấptrở lên và bằng trung cấp chính trị) Còn những cán bộ không chuyên trách là cán

bộ dự nguồn nên vừa làm, vừa học nâng cao trình độ để đảm bảo đạt chuẩn quyđịnh

Trang 8

1.2.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội:

Tổng diện tích tự nhiên 3680,6 ha, diện tích đất Nông nghiệp là 509,26 ha,đất lâm nghiệp là 2299 ha, đất phi nông nghiệp là 559,81 ha, đất chưa sử dụng là312,5 ha

Toàn xã có 2.914 hộ, 10.628 nhân khẩu Trong đó nam: 5311 người, nữ 5371người Tốc độ tăng dân số bình quân hằng năm 1,2% Mât độ dân số: 229người/Km2

Lao động trong độ tuổi: 6270 người Trong đó lao động Nông nghiệp: 4.517

hộ còn lại là lao động ngành nghề và dịch vụ

Những năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và quản lý điều hành củachính quyền, cộng với sự nổ lực phấn đấu của cán bộ và nhân dân trong toàn xã đãđưa nền kinh tế xã nhà tăng trưởng khá cao với tốc độ phát triển kinh tế bình quânhàng năm là 15%, đời sống nhân dân được ổn định và ngày càng cải thiện đáng kể.Văn hóa - xã hội có nhiều khởi sắc Tình hình an ninh chính trị được giữ vững, trật

tự an toàn xã hội luôn đảm bảo, công tác tiếp dân và giải quyết đơn thư khiếu nại,

tố cáo được kịp thời, lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chính quyền ngày càngđược củng cố

Thực hiện theo tinh thần Nghị quyÕt Đại hội Đảng bộ huyện Đại Lộc nhiệm

kỳ 2000- 2005 là phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành huyện công nghiệp vàĐại hội Đảng bộ xã Đại Quang lần thứ XV, XVI đã đề ra là phấn đấu đÕn năm

2015 cơ bản trở thành xã công nghiệp Trên tinh thần ấy, Đảng bộ và nhân dân x·nhà đã không ngừng phấn đấu trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá xã hội, anninh quốc phòng, nhằm tạo tiền đề để thực hiện thành công Nghị quyết Tính đếnnay Đại Quang đã đạt được những thành quả sau:

Về công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, xác định đây là ngành kinh tế mũinhọn, xã chủ trương khai thác tiềm năng của từng ngành, từng thành phần kinh tế

để phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp theo hướng kinh tế hàng hóa nhiều

Trang 9

thành phần, đáp ứng nhu cầu đời sống, giải quyết việc làm, đảm bảo nâng cao đờisống nhân dân, xây dựng nông thôn mới

Về thương mại – dịch vụ đạt, với mục tiêu đưa thương mại – dịch vụ thànhthế mạnh của xã, xã đã chủ trương xây dựng chợ Cầu Chìm thành chợ trung tâmcủa xã, đồng thời phát triển các ngành dịch vụ đáp ứng nhu cầu đời sống cho nhândân

Về nông nghiệp đạt, xã chủ trương phát triển theo hướng sản xuất hàng hóahiệu quả và bền vững trên cơ sở giải quyết tốt nhu cầu lương thực, thực phẩm củanhân dân trên địa bàn Nhằm thực hiện mục tiêu trên, xã đã tiến hành chuyển dịch

cơ cấu cây trồng, con vật nuôi, cơ giới hóa vào trong sản xuất nông nghiệp nhưmua máy gặt đập liên hợp nhằm góp phần vào nông nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp nông thôn

* Trên lĩnh vực văn hoá xã hội:

Đối với công tác phát động phong trào xây dựng thôn văn hóa, gia đình vănhóa đến nay trên địa bàn xã đã có 9/9 thôn được xây dựng cụm văn hóa với nhiềuhạng mục công trình, 85% gia đình đạt văn hóa, 20% tộc họ, 35% tổ đoàn kết đạtdanh hiệu văn hóa,… với những kết quả đạt được như trên kết quả cho đến naytoàn xã đã có 7/10 thôn đạt thôn văn hóa cấp huyện, 2 thôn đạt văn hóa cấp tỉnh

Về công tác giáo dục – y tế:

Toàn xã có 05 trường học: Trong đó trường mầm non có 02 cơ sở bán trú và

07 phòng học ở 07 thôn đang trong giai đoạn chuấn bị các điều kiện để đạt chuẩnquốc gia, có 02 trường tiểu học và 01 trường trung học cơ sở đã được công nhậntrường chuẩn quốc gia, 01 trạm y tế đã được công nhận chuẩn quốc gia vào năm

2008, tỷ lệ người tham gia các hình thức bảo hiểm y tế đạt 45%; 01 đài truyềnthanh phát song FM chuyên thu, phát tin tức từ đài huyện và những tin tức hoạtđộng của địa phương đặt tại Trung tâm nhà văn hóa của xã và một hợp tác xã dịch

vụ sản xuất kinh doanh tổng hợp

Chính sách an sinh xã hội ngày càng đáp ứng nhu cầu của đời sống nhân dân

* Trên lĩnh vực an ninh quốc phòng:

Ban chỉ huy Quân sự xã đã tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng vàcông tác quân sự địa phương: duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, sẵnsàng chiến đấu phòng không bảo vệ tết nguyên đán, ngày thành lập Đảng Cộng SảnViệt Nam và các ngày lễ lớn

Xây dựng lực lượng đảm bảo số lượng và chất lượng theo Nghị định 184/CPcủa Thủ tướng Chính phủ và Thông tư 171/BQP và kế hoạch, chỉ tiêu huyện giao

Trang 10

Tổng lực lượng là: 82đ/c ( Trong đó: 08 nữ); lực lượng DQCĐ: 27 đ/c (Trong đó

04 nữ), lực lượng DQBC: 15 đ/c; lực lượng CĐTC: 40 đ/c (trong đó: 03 nữ)

Tham gia tốt công tác tập huấn tại trường quân sự tỉnh Quảng Nam, huấnluyện chính trị quân sự do Huyện đội tổ chức, tham gia huấn luyện lực lượng dânquân; hoàn thành tốt công tác diễn tập chiến đấu trị an trên địa bàn Ngoài ra cáccông tác như: hậu cần- kỷ thuật; công tác Đảng, Đoàn, công tác chính trị đảm bảothực hiện thường xuyên, liên tục Thực hiện tốt công tác đăng ký độ tuổi 17 hằngnăm đạt chỉ tiêu huyện giao Thực hiện tốt công tác tuyển quân, giao quân

2 Quá trình triển khai thực hiện quy chế dân chủ cơ sở:

2.1 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình triển khai quy chế dân chủ

ở cơ sở:

2.1.1 Thuận lợi:

Trong quá trình triển khai quy chế dân chủ ở xã có những thuận lợi sau:

- Sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phươngtrong việc triển khai pháp lệnh 34/2007/PL-UBTVQH11

- Công tác phối hợp giữa Mặt trận với các ban, ngành, đoàn thể về tuyêntruyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, phápluật của Nhà nước có sự đồng bộ và thống nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho việcthực hiện tốt quy chế dân chủ ở xã

- Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện rõrệt Năng lực quản lý, điều hành của Uỷ ban nhân dân ngày càng có hiệu quả, hiệulực, góp phần tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, chính quyền và nhândân, tạo nên sự phấn khởi, tin tưởng của cán bộ, công chức và nhân dân toàn xã,thúc đẩy thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước vàcác chương trình, kế hoạch của địa phương

- Năng lực điều hành và quản lý Nhà nước còn bất cập, một số vấn đề đặt ratrước mắt, yêu cầu cuộc sống nhân dân chưa được giải quyết kịp thời

- Từ phía tổ chức, công dân một số do chưa nắm rõ quy trình thủ tục nên

thực hiện chưa đúng hoặc bỏ qua bộ phận “một cửa” trực tiếp gặp lãnh đạo để yêu

cầu giải quyết công việc

Trang 11

- Một bộ phận cán bộ chưa nhận thức đúng và chưa coi trọng thực hiện quychế dân chủ ở cơ sở, lấy ý kiến đóng góp của nhân dân chưa chất lượng, hiệu quả,thiếu sự tham gia đóng góp ý kiến của nhân dân,…

- Một số chính sách bảo trợ xã hội, bình xét hộ nghèo,….vẫn còn chưa dânchủ, công khai, minh bạch nên vẫn còn gây bất bình trong nhân dân

- Việc thực hiện công khai nội dung các loại văn bản liên quan đến quyền vàlợi ích của nhân dân chưa kịp thời

2.2 Những thành tựu đạt được và hạn chế trong quá trình thực hiện quy chế dân chủ trên địa bàn xã Đại Quang giai đoạn 2007-2012:

2.2.1 Thành tựu:

Sau khi có Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 18 tháng 2 năm 1998 của Bộ Chínhtrị (khóa VIII), các Nghị định của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn, chỉ đạocủa Trung ương, tỉnh, huyện về việc triển khai thực hiện Quy chế dân chủ Đặc biệt

là sự ban hành Pháp lệnh 34/PL-UBTVQH11 vào năm 2004 về việc thực hiện quychế dân chủ ở xã , phường, thị trấn Các đồng chí lãnh đạo của xã được học tập,quán triệt tại huyện sau đó về xây dựng kế hoạch, chương trình hành động triểnkhai trong Ban chấp hành Đảng bộ xã mở rộng đến các Bí thư chi bộ Ban Thường

vụ Đảng ủy xã tổ chức sinh hoạt Đảng bộ xã, mời báo cáo viên Ban tuyên giáohuyện ủy về truyền đạt chỉ thị 30-CT/TW cho đảng viên nắm Đồng thời Thườngtrực Đảng ủy đã chỉ đạo chính quyền, mặt trận và các ban, ngành, đoàn thể xâydựng chương trình hành động cụ thể tổ chức cho nhân dân học tập Trên cơ sở đóUBND xã ra quyết định thành lập Ban chỉ đạo triển khai thực hiện quy chế dân chủ

ở cơ sở của xã do đồng chí Bí thư, chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban Để Quychế dân chủ sớm đi vào cộc sống , Ban chỉ đạo của xã đã ban hành kế hoạch triểnkhai thực hiện, tổ chức họp và phân công các thành viên trong Ban chỉ đạo, cácĐảng ủy viên đứng cánh ở từng thôn phối hợp với Ban Tuyên giáo xã triển khaicho nhân dân học tập thực hiện Kết quả bước đầu đã được nhân dân hưởng ứngnhiệt tình

- Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã tăng cường vai trò của Nhà nước vàtạo môi trường thông thoáng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, nhiều quy trình, thủtục hành chính đã được đơn giản và công khai hóa, thời gian giải quyết được rútngắn, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức cá nhân trong giao dịch hànhchính đối với cơ quan Nhà nước Hệ thống tổ chức bộ máy tiếp tục được kiện toàntăng cường hơn về năng lực, hiệu lực hoạt động, quy chế tổ chức và hoạt động củaUBND được bổ sung hoàn thiện Kết quả giải quyết hồ sơ hành chính cho các tổchức, cá nhân đúng hẹn đạt tỷ lệ cao

- Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tạo điều kiện cho nhân dân pháthuy quyền làm chủ của mình, tham gia các công việc quản lý ở địa phương, thamgia bầu cử đúng luật bầu đúng, bầu đủ, kiểm soát và đấu tranh chống tệ quan liêu,

Ngày đăng: 06/10/2017, 21:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w