Bản chất của tự do hóa tài chính là hoạt động tài chính theo cơ chế nội tại vốn cócủa thị trường và chuyển vai trò điều tiết tài chính từ chính phủ sang thị trường, mục tiêu là tìm ra sự
Trang 1CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT1.1 Tự do hóa tài chính
1.1.1 Tự do hóa tài chính là gì?
Tự do hóa tài chính là quá trình giảm thiểu và cuối cùng là hủy bỏ sự kiểm soátcủa Nhà nước đối với hoạt động của hệ thống tài chính quốc gia, làm cho hệ thống nàyhoạt động tự do hơn và hiệu quả hơn theo quy luật thị trường
Tự do hóa tài chính được chia làm hai cấp độ:
− Tự do hóa tài chính nội địa: Bằng cách xóa bỏ sự kiểm soát lãi suất và phân bổ tíndụng
− Tự do hóa tài chính quốc tế: Loại bỏ kiểm soát vốn và các hạn chế trong quản lýngoại hối
Bản chất của tự do hóa tài chính là hoạt động tài chính theo cơ chế nội tại vốn cócủa thị trường và chuyển vai trò điều tiết tài chính từ chính phủ sang thị trường, mục tiêu
là tìm ra sự phối hợp có hiệu quả giữa Nhà nước và thị trường trong việc thực hiện cácmục tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội
1.1.2 Lợi ích của tự do hóa tài chính
Nhìn từ góc độ kinh tế, hoạt động tài chính cũng giống như các hoạt động trao đổimua bán các hàng hoá và dịch vụ khác, có thể có những tác động tích cực đến thu nhập
và sự tăng trưởng của tất cả các đối tác tham gia Lợi ích của việc tự do hoá các hoạtđộng thương mại trong lĩnh vực dịch vụ tài chính có thể có được nhìn nhận trên một sốkhía cạnh sau:
− Tự do hoá tài chính sẽ tăng thêm áp lực cạnh tranh làm cho khu vực dịch vụ tàichính hoạt động có hiệu quả và ổn định hơn, đồng thời giúp các tổ chức tài chính nội địa
có điều kiện cải thiện năng lực quản lý
− Tự do hoá tài chính sẽ làm tăng thêm chất lượng các dịch vụ tài chính được cungcấp (do sự độc quyền bị loại bỏ) Người tiêu dùng có thể được hưởng những sản phẩmdịch vụ mới, đa dạng, tiện ích với chi phí và thời gian ít nhất
− Tự do hoá các dịch vụ tài chính đem đến nhiều cơ hội cho việc chuyển giao côngnghệ và làm giảm thiểu những rủi ro có tính hệ thống
− Tự do hoá các dịch vụ tài chính tạo điều kiện cho việc thiết lập một chính sáchkinh tế vĩ mô có hiệu quả hơn phù hợp với những điều kiện trong một nền kinh tế mở,trên cơ sở đó thực hiện phân phối nguồn lực một cách có hiệu quả trên cơ sở khai thác tối
Trang 2đa lợi thế kinh tế trong nước và thế giới
1.1.3 Mặt trái của tự do hóa tài chính
Tiềm năng lợi ích của tự do hoá tài chính là rất lớn, tuy nhiên tự do hoá tài chínhcũng cố những mặt trái nhất thiết phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, đặc biệt trong điềukiện xu thế tự do hoá tài chính cũng mới chỉ dừng lại ở những bước đi ban dầu Nhữnghạn chế của tự do hoá tài chính thông thường được nhìn nhận trên hai gốc độ:
− Thứ nhất: Tự do hoá tài chính có thể làm tăng thêm khả năng gây ra khủng hoảngtài chính nếu tiến trình tự do hoá được thực hiện một cách nôn nóng, sai trình tự hoặcthiếu đồng bộ trong các biện pháp quản lý vĩ mô ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế
− Thứ hai: Tài chính thường được coi là công cụ quản lý chiến lược và là lĩnh vựcđặc biệt cần được nắm giữ bởi Nhà nước để tập trung thực hiện những mục đích quantrọng của một quốc gia Việc mở cửa thị trường tài chính có thể có nguy cơ làm xaonhãng hoặc thiếu tập trung trong việc điều hành thực hiện những mục tiêu của nhà nước
vì các tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài sẽ không quan tâm đến một mục đích nào kháchơn là mục đích lợi nhuận Đặc biệt, trong điều kiện hệ thống tài chính nội địa có khảnăng cạnh tranh kém, nền tài chính có nguy cơ bị thống trị bởi các tổ chức, doanh nghiệptài chính nước ngoài thì quyền lực kiểm soát, khống chế và điều khiển thị trường tàichính của Nhà nước sẽ dần bị thu hẹp lại, và do đó có thể phương hại đến mục tiêu chiếnlược của quốc gia Hơn nữa, việc mở cửa thị trường tài chính nếu không được chuẩn bị
kỹ lưỡng có thể sẽ dẫn đến nhiều hiện tượng tiêu cực, thiếu lành mạnh như lừa đảo, phásản, đổ vỡ gây thiệt hại đến lợi ích của người tiêu dùng
2 Lộ trình tự do hóa tài chính
Tự do hóa tài chính được tiến hành sau tự do hóa thương mại Lộ trình tự do hóatài chính trải qua những bước sau:
Bước 1: Cải tiến và hiện đại hóa ngân hàng, đây là điều kiện cần thiết để phát triển
cơ sở hạ tầng trên thị trường tài chính
Bước 2: Tự do hóa hoàn toàn lãi suất và thực hiện chính sách tỷ giá thả nổi có sựquản lý của nhà nước
− Tự do hóa lãi suất là một phần quan trọng của tự do hóa tài chính, bản chất của tự
do hóa lãi suất chính là cơ chế điều hành lãi suất hoàn toàn để cho cung cầu vốn trên thịtrường xác định lãi suất cân bằng Ngân hàng trung ương chỉ can thiệp bằng các công cụ
để điều hành theo định hướng
− Tự do hóa lãi suất gắn liền với cải cách cơ cấu, bao gồm: Cơ cấu lại các khoản nợ
Trang 3khó đòi, tiến hành tư nhân hóa một số ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước, áp dụng cácchính sách kích thích cạnh tranh lành mạnh trong khu vực ngân hàng.
− Chính sách tỷ giá thả nổi có quản lý là xây dựng một hành lang tỷ giá cho phép tỷgiá giao động trong một khoảng giới hạn nhất định xung quanh tỷ giá chính thức củangân hàng trung ương
Bước 3: Tự do hóa các giao dịch trên tài khoản vãng lai, xóa bỏ hoàn toàn cơ chếphân bổ quota và những rào cản khác trong giao dịch vãng lai
Bước 4: Từng bước tự do hóa các giao dịch trên tài khoản vốn
− Tự do hóa giao dịch vốn là quá trình dỡ bỏ dần những hạn chế đối với các giaodịch này như xóa bỏ hoàn toàn những quy định hạn chế tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu của cácnhà đầu tư nước ngoài Cho phép các nhà đầu tư nước ngoài chuyển vốn về nước với cáckhoản đầu tư dài hạn-ngắn hạn thông qua hệ thống ngân hàng Việt Nam Cho các doanhnghiệp trong nước tự do tiếp cận với các nguồn vốn quốc tế thông qua phát hành cổ phiếu– trái phiếu
− Đối với người dân tự do hóa nguồn vốn cho phép họ thực hiện các hoạt động ởnước ngoài như mở tài khoản ngân hàng, tham gia các hoạt động đầu tư nhằm đạt lợinhuận cao
− Các doanh nghiệp được phép đầu tư và sở hưu các công ty khác nhau, các dòngvốn được tự do di chuyển từ nơi có tỷ suất sinh lợi thấp sang những nơi có tỷ suất sinh lợicao
2.1.1 Điều kiện để cho tự do hóa tài chính thành công
Cải cách tài chính ở Việt Nam, hội nhập tài chính bằng cách mở cửa dần từngbước các giao dịch thương mại trên lĩnh vực tài chính là một xu hướng tất yếu ViệtNam muốn hội nhập tài chính thì chính sách tài chính và chính sách tiền tệ phải linh hoạt
- ổn định đáng tin cậy Những điều kiện cho việc tự do hóa tài chính thành công là:
− Quản lý kinh tế vĩ mô vững chắc và tiết kiệm quốc gia cao
− Thực hiện đúng lộ trình tự do hóa kinh tế
− Hệ thống tài chính hoạt động hiệu quả
− Hệ thống giám sát ngân hàng hợp lý và việc thi hành có hiệu quả
− Không có khoản cho vay mang tính chất chính trị và lạm dụng hệ thống tài chính
− Một Chính Phủ triệt để chống tham nhũng và lãng phí
− Tính minh bạch trong công bố thông tin
Trang 4CHƯƠNG 2 TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH Ở CÁC NƯỚC
TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1 Tự do hóa tài chính các nước trên thế giới:
Kinh nghiệm tự do hóa tài khoản vốn ở các nước trên thế giới và quá trình tự dohóa đang diễn ra ở Trung Quốc, nước láng giềng với nhiều điểm tương đồng về thể chếchính trị và kinh tế với Việt Nam:
− Cuộc khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997 : xem xét lại những vấn đề liênquan đến tự do hóa tài khoản vốn với vai trò trọng yếu của hệ thống tài chính được chếtài tốt, quản lý tốt, và tư bản hóa tốt càng được coi trọng hơn Các nhà làm chính sách đãnhìn nhận đúng đắn hơn rằng tự do hóa tài khoản vốn phụ thuộc vào một loạt các chínhsách hữu hiệu
− Tự do hóa tài khoản vốn thường xuyên gây ra các cuộc khủng hoảng ở cả các nềnkinh tế phát triển và đang phát triển (ở khu vực Scandinavia, Mỹ Latinh, và Đông á), tự
do hóa tài khoản vốn đã hấp thu một lượng vốn chảy vào nền kinh tế quá lớn so với khảnăng hấp thụ của chúng một cách an toàn Thời gian trôi qua, vốn chảy vào biến thànhvốn chảy ra, để lộ ra một hệ thống tài chính què quặt
− Nhờ có tăng trưởng nhanh hơn và/hoặc lạm phát cao hơn, lãi suất có xu hướng caohơn ở nước có tài khoản được tự do hóa so với mức quốc tế Lãi suất cao hơn này, kếthợp với sự hiện diện của nhiều cơ hội mới nảy sinh từ việc tự do hóa, dẫn đến dòng vốnchảy vào tăng lên mạnh
− Tăng trưởng tiền tệ nhanh, và thậm chí tăng trưởng tín dụng nhanh hơn, giá cácloại tài sản tăng kiểu bong bóng, và cơn sốt đầu tư và tiêu dùng
− Khi tính cạnh tranh bị giảm sút, tài khoản vãng lai thâm hụt, và nợ xấu tăng lên,làm xói mòn lòng tin của các nhà đầu tư Sự tăng giá của bản tệ, hoặc là do sự lên giá vềdanh nghĩa, hoặc là do lạm phát cao hơn, làm giảm tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu,
và do đó làm tăng thêm thâm hụt tài khoản vãng lai
− Sau giai đoạn giá các loại tài sản đạt đỉnh điểm, lượng tín dụng cho vay đầu tư bấtđộng sản và chứng khoán trở nên khó thu hồi, trong khi đó các khoản đầu tư kinh doanhkhông còn mang lại mấy lợi nhuận Mất cân đối trong cán cân vãng lai và sự mong manh
dễ vỡ của hệ thống tài chính là dấu hiệu của rủi ro và thúc đẩy vốn chảy ngược ra ngoài
Sự đổ ngược vốn ra ngoài như vậy gây áp lực lên tỷ giá và thị trường tài sản nội địa vàđặt các cơ quan quản lý vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan giữa một bên là nâng lãi suất,
và một bên là để cho bản tệ bị mất giá
Trang 5− Bản tệ mất giá sẽ làm tăng gánh nặng nghĩa vụ tài chính cho những doanh nghiệpvay vốn bằng ngoại tệ, đặc biệt khi sự phá giá diễn ra sau giai đoạn tỷ giá được ấn định.Trong trường hợp xấu nhất thì sự chảy ngược vốn ra bất thình lình sẽ châm ngòi cho cáccuộc khủng hoảng ngân hàng và tiền tệ nghiêm trọng ở Scandinavia, Mỹ La tinh và Đông
á, mặc dầu giữa chúng có những khác biệt đáng kể
Tổng kết và liên hệ có thể rút ra từ những kinh nghiệm quốc tế này:
− Thứ nhất, phải theo đuổi các chính sách thương mại và vĩ mô lành mạnh để giảmthiểu rủi ro của việc tự do hóa tài khoản vốn
− Thứ hai, các nền kinh tế phải củng cố hệ thống tài chính và hạ tầng cơ sở giám sátcủa mình trước khi mở cửa tài khoản vốn
− Thứ ba, một khu vực doanh nghiệp với công tác tài chính yếu ớt và sự quản trịkém có thể lạm dụng một cách có hệ thống những cơ hội đem lại bởi tự do hóa tài khoảnvốn
− Thứ tư, nhiều người ủng hộ quan điểm rằng cơ chế tỷ giá linh hoạt là một điềukiện quan trọng để hạn chế sự tích đọng những rủi ro trên bảng cân đối tài sản liên quanđến sự lệch khớp về tiền tệ (currency mismatches) và để ngăn chặn áp lực trên thị trườngngoại hối căng thẳng quá mức biến thành khủng hoảng tài chính trên diện rộng
− Cuối cùng, một số thiên về kết luận rằng vốn chảy vào cần được quản lý hay đổihướng bằng những phương pháp như dự trữ bắt buộc đối với các khoản vốn ngắn hạntheo kiểu ở Chile
Mặc dù còn nhiều bất đồng nhưng người ta thống nhất với nhau rằng tự do hóa tàikhoản vốn chỉ thành công ở những nền kinh tế có môi trường kinh tế vĩ mô lành mạnh, và
tự do hóa tài khoản vốn là một phần khăng khít của chương trình cải cách Thiếu sót ởcác lĩnh vực khác cũng có thể dẫn đến những kết quả đáng tiếc từ việc tự do hóa tàikhoản vốn
Một số đặc điểm chính của nền kinh tế Trung Quốc Tình trạng kinh tế của TrungQuốc có khác biệt lớn so với của các nước ở Mỹ Latinh và Châu Á:
− Trước tiên, dù Trung Quốc đang thực thi việc kiểm soát ngoại hối chặt chẽ, TrungQuốc đã mở rộng cửa cho các dòng vốn nước ngoài Thậm chí người ta có thể nói rằngTrung Quốc đã mở cửa cho FDI còn rộng hơn cả nhiều nước OECD Đặc biệt, TrungQuốc gần đây đã khuyến khích FDI ra nước ngoài, vào các dự án về năng lượng và kỹthuật
− Ngoài ra, đồng CNY được sử dụng khá phổ biến ở những nước láng giềng, đôi khi
Trang 6có thể coi như một ngoại tệ mạnh Có lẽ bằng chứng về độ mở rộng rãi về tài chính củaTrung Quốc có thể thấy qua tốc độ phát triển của tiền gửi ngoại tệ trong hệ thống ngânhàng Trung Quốc, một phần vì chính phủ cho phép duy trì lãi suất tiền gửi ngoại tệ ởTrung Quốc khá gần với mức trên thị trường quốc tế Sự biến động tiền gửi ngoại tệ hàngtháng theo sát những biến động về biên độ lãi suất và dự đoán về tỷ giá Những yếu tố về
mở cửa tài chính này sẽ tạo thuận lợi cho việc tự do hóa tài khoản vốn vì nhiều điềuchỉnh lớn cần thực hiện khi tự do hóa đã được thực hiện
− Nhưng do tiền gửi bằng ngoại tệ tăng nhanh, kết hợp với xu hướng giảm cho vaybằng ngoại tệ của các ngân hàng Trung Quốc, hệ thống ngân hàng Trung Quốc đã dư thừavốn thanh khoản bằng ngoại tệ Nguồn vốn này, tăng nhanh hơn cả tốc độ tăng dự trữngoại hối, đã góp thêm vào luồng vốn ngoại tệ đổ ra khỏi Trung Quốc lên đến 140 tỷUSD trong thời kỳ 1999 - 2001 Bởi vậy, câu hỏi liên quan đến việc tự do hóa tài khoảnvốn của Trung Quốc không còn là câu hỏi liệu có cho phép vốn ngoại tệ chảy ra nướcngoài hay không, mà là câu hỏi liệu có phải tạo ra thêm các kênh dẫn để vốn ngoại tệ đổ
ra nước ngoài nhiều hơn, và làm thế nào để quá trình này được dễ dàng hơn
− Thứ hai, và có lẽ là yếu tố tích cực và quan trọng nhất cho việc tự do hóa tài khoảnvốn, nền kinh tế Trung Quốc đang tăng trưởng với tốc độ rất nhanh trong thập kỷ qua, lêntới trên 9%/năm Là một nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới với tỷ lệ tiết kiệmtrong dân cư lên tới 40% GDP, Trung Quốc dễ dàng đa dạng hóa các hạng mục tài sảntrong nước và tạo ra một môi trường thuận lợi cho các thể chế nội địa
− Thứ ba, lãi suất nội địa Trung Quốc không vượt xa mức trên thị trường tiền tệquốc tế Vào đầu năm 1990, Trung Quốc có mức lạm phát tương đối cao, nhưng sau đógiảm được xuống mức thấp nhờ thắt chặt chính sách tiền tệ Trong những năm gần đây,giá cả ở Trung Quốc lại giảm xuống ở mức nhẹ Lãi suất nội địa, về cơ bản vẫn do nhànước thiết lập, giảm xuống thấp theo lạm phát, bằng hoặc thậm chí thấp hơn mức quốc tế
− Thứ tư, đồng CNY đã được tự do chuyển đổi trên tài khoản vãng lai năm 1996, vàđược neo với USD từ năm 1994 Trong nhiều năm, Trung Quốc có thặng dư tài khoảnvãng lai vừa phải và có lượng vốn ngoại tệ đổ vào trung bình lớn hơn luồng vốn đổ ra.Luồng vốn FDI khá ổn định chiếm một khoản lớn trong tài khoản vốn, bên cạnh dự trữngoại hối khổng lồ lên đến nhiều trăm tỷ USD Kết quả là Trung Quốc là chủ nợ ròng củathế giới Và trong mọi trường hợp, qũy dự trữ ngoại tệ khổng lồ này đủ sức khắc phụcmọi biến động gây ra từ các tài sản nợ ngắn hạn Sau gia nhập WTO, luồng FDI chảy vàocàng lớn hơn nữa Vì vậy, có thể nói là sự phụ thuộc của Trung Quốc vào nguồn FDI ổn
Trang 7định và cán cân đối ngoại của họ tạo thuận lợi cho tự do hóa tài khoản vốn.
− Thứ năm, ngược lại, chính sách tài chính của Trung Quốc lại là một điểm bất lợicho tự do hóa tài khoản vốn Đầu tư của chính phủ vào cơ sở hạ tầng từ nguồn vốn đi vay
đã diễn ra từ nhiều năm nay, nhưng tỷ trọng nợ trên GDP mà chính phủ công bố thì vẫn ởtrong mức kiểm soát được Tuy nhiên, hệ thống hưu trí đói vốn và hệ thống ngân hàng có
tỷ trọng vốn an toàn ở mức thấp là một điều đáng lo ngại Những khoản vốn cần thiết nàycho thấy gánh nặng về nợ thực tế lớn hơn nhiều mức công bố
− Thứ sáu, và là hiểm họa lớn nhất khi tự do hóa tài khoản vốn, hệ thống tài chínhcủa Trung Quốc bị chi phối chủ yếu bởi hệ thống ngân hàng tuy lớn và có lượng thanhkhoản lớn nhưng lại không mạnh Tỷ trọng tiền M2/GDP đã đạt đến 165% GDP gần đây,
là mức rất cao so với bất kỳ một tiêu chuẩn nào Các ngân hàng Trung Quốc cũng có khảnăng thanh khoản lớn: tỷ lệ dư nợ cho vay/tiền gửi, khoảng trên 80% Nhưng hệ thốngngân hàng này bị coi là yếu về mặt năng lực chi trả, vì tỷ lệ nợ xấu vẫn còn cao, trên10%, mặc dù chính phủ đã có những nỗ lực lớn để giảm nợ xấu từ mức trên 30%
Điều khác biệt về tình trạng kinh tế giữa Trung Quốc và các nước khác có liên quan
Trung Quốc có 2 điểm khác biệt cơ bản về điều kiện ban đầu khi tự do hóa tàikhoản vốn so với các nước nói ở phần trên Một là, Trung Quốc đang trải qua thời kỳ giá
ổn định, thậm chí hơi giảm, lãi suất danh nghĩa thấp, và giá trị các tài sản (cổ phiếu, tráiphiếu ) cao Trong khi đó, ở các nước tự do hóa tài khoản vốn và bị khủng hoảng,thường có lạm phát tương đối cao, lãi suất bản tệ cao, và giá trị các tài sản thấp Hai là,Trung Quốc hấp thu được một luồng vốn FDI lớn, dự trữ ngoại tệ lớn, và là một chủ nợcủa thế giới, thay vì phải phụ thuộc vào vốn ngắn hạn mang tính đầu cơ, dự trữ ngoại tệhạn hẹp và nợ nước ngoài lớn như ở các nước khác nói ở đây
Nói chung, những điều kiện ban đầu của một nền kinh tế quyết định mức rủi rotrong việc tự do hóa tài khoản vốn Có thể dự đoán rằng sau khi mở tài khoản vốn ởTrung Quốc, chỉ có FDI sẽ tăng lên mạnh mẽ, và rủi ro đi kèm với nó không phải là đáng
lo ngại
Thách thức chính cho Trung Quốc có lẽ nằm ở việc quản lý thành công tự do hóatài khoản vốn thông qua nhiều kênh khác nhau, ngoài các kênh truyền thống như gửi tiềnbằng ngoại tệ vào ngân hàng, trả trước các khoản nợ bằng USD, và đầu tư vào thị trườngchứng khoán Hong Kong
Trang 8Tình trạng kinh tế hiện tại của Trung Quốc, với vốn bắt đầu chảy ra khỏi lãnh thổ,đặt ra những câu hỏi thú vị về chính sách Về sự tồn tại lẫn lộn cả tiền gửi ngoại tệ và bản
tệ, kinh nghiệm thế giới cho thấy tỷ giá linh động hơn nữa và quá trình tự do hóa lãi suấtđang diễn ra tại Trung Quốc sẽ làm thay đổi đáng kể cơ cấu tiền gửi và cho vay bằngngoại tệ và bản tệ, có lẽ đôi lúc sẽ thúc đẩy mạnh dòng vốn chảy ra Trong khi có thểnâng lãi suất để ngăn chặn dòng vốn chảy ra này, nhưng lãi suất tăng xảy ra trùng hợp vớigiá tài sản giảm sẽ đặt ra một tình thoái lưỡng nan về chính sách tiền tệ Để giải quyếtvấn đề này, liệu có nên áp dụng một mức dự trữ bắt buộc trên tài khỏan tiền gửi bằngngoại tệ (ở trong nước) khác với mức áp dụng trên tài khoản tiền gửi bản tệ không (đểhạn chế việc chuyển đổi từ bản tệ sang ngoại tệ), như đã được thực hiện ở những nướckhác? Tất nhiên, câu trả lời phải tính đến thực tế rằng tiền gửi ở nước ngoài thì không bị
áp dụng dự trữ bắt buộc Do đó, biện pháp áp dụng dự trữ bắt buộc này sẽ trở nên vô hiệutrừ khi áp dụng trở lại các biện pháp kiểm soát lưu chuyển ngoại hối để hạn chế việcchuyển đổi CNY thành ngoại tệ của dân chúng sống ở Trung Quốc
Về tự do hóa dần dần dòng lưu chuyển 2 chiều của vốn đầu tư vào các hạng mụctài sản, Trung Quốc nên làm thế nào để thiết lập thăng bằng giữa kiểm soát và khuyếnkhích vốn đầu tư gián tiếp vào nước này? Ví dụ, một mặt, Trung Quốc có nên xem xétthiết lập một chương trình chỉ cho phép các nhà đầu tư là tổ chức nước ngoài đủ tư cáchđược đầu tư vào các loại tài sản nội địa, và, mặt khác, chỉ cho phép các nhà đầu tư là tổchức nội địa đủ tư cách được đầu tư vốn gián tiếp ra nước ngoài? Nếu dòng vốn đầu tưgián tiếp chảy ra lớn quá mức thì có nên áp dụng phí ở dưới dạng nào đó, có thể liên quanđến độ dài thời gian nắm giữ nguồn vốn này, và được điều chỉnh thích hợp để tác độngđến dòng chảy này, theo cùng cách thức mà các quỹ đầu tư sử dụng để điều chỉnh hành vicủa cổ đông? Hiển nhiên, câu trả lời cho những câu hỏi này không chỉ phụ thuộc vàonhững điều kiện ban đầu mà còn dựa vào tầm quan trọng tương đối của nhiều mục tiêuchính sách và mức độ tự do hóa tài khoản vốn cần phải đạt được
2 Quá trình tự do hóa tài chính ở Việt Nam
So sánh với Trung Quốc và các nước khác nêu ở trên thì rõ ràng Việt Nam nằmđâu đó giữa hai thái cực Một mặt, Việt Nam chia xẻ một số điểm tương đồng với TrungQuốc như có một nguồn vốn FDI đổ vào khá dồi dào (tính theo tỷ trọng GDP thì thậm chícòn lớn hơn của Trung Quốc); giá trị các tài sản tài chính (cổ phiếu, trái phiếu) đang lêncao, theo sát diễn biến lạc quan của tăng trưởng kinh tế cao (khoảng 8%/năm); sự phụ
Trang 9thuộc vào và tỷ trọng vốn đầu tư gián tiếp trong tổng các nguồn tài trợ từ nước ngoài cònthấp; vai trò can thiệp và tham gia vào nền kinh tế của chính phủ rất lớn, thông qua đầu tưnhà nước và khối doanh nghiệp nhà nước, làm cho thâm hụt ngân sách luôn ở mức khácao và luôn cần bổ sung thêm vốn
Mặt khác, Việt Nam cũng có nhiều điểm giống các nước bị khủng hoảng tài chínhkhi tự do hóa tài khoản vốn, như có lạm phát tương đối cao (gần 8% trong mấy năm gầnđây), lãi suất danh nghĩa VND cao, dự trữ ngoại hối còn hạn hẹp, thâm hụt tài khoảnvãng lai kinh niên, và nợ nước ngoài tương đối lớn Ngoài ra, Việt Nam giống tất cả cácnước có liên quan ở điểm là hệ thống tài chính còn rất yếu kém, với tỷ lệ nợ xấu cao, rủi
ro hệ thống lớn, thông lệ cho vay bất cẩn, chế độ quản trị ngân hàng còn yếu kém, và cơchế tỷ giá còn cứng nhắc
Với những đặc điểm này, có thể thấy rằng các điều kiện tiền đề cho tự do hóa tàikhoản vốn ở Việt Nam một cách an toàn là chưa tồn tại hoặc chưa đầy đủ, nhất là nhữngđiều kiện tiền đề về nền kinh tế vĩ mô lành mạnh, cũng như một hệ thống tài chính và hạtầng cơ sở giám sát vững chắc Cũng không kém phần quan trọng là chính phủ và ngườidân Việt Nam có quá ít kinh nghiệm bước đầu với việc tự do hóa tài khoản vốn (như chophép đầu tư trực tiếp/gián tiếp ra nước ngoài - một hiện tượng mới được đề cập đến gầnđây)
Về giải pháp thúc đẩy hình thành các điều kiện tiền đề này, có lẽ không gì thíchhợp hơn việc nghiên cứu mô hình tự do hóa của các nước trên thế giới, đặc biệt TrungQuốc, như nêu ở trên, tập trung vào những lợi thế, thách thức, và những khó xử trongchính sách liên quan đến quá trình tự do hóa của họ để làm bài học cho Việt Nam Có thểthấy trước rằng việc tự do hóa tài khoản vốn ở Việt Nam cũng đồng nghĩa với một cuộccải cách sâu rộng và đồng bộ trên nhiều mặt của nền kinh tế vĩ mô mà một trục trặc trongquá trình này cũng sẽ làm cái giá phải trả cho việc tự do hóa trở nên đắt hơn nhiều
a Giai đoạn 1991 - 2007
Từ năm 1991 – 2007, tăng trưởng kinh tế Việt Nam có thể được chia thành 3 giaiđoạn: tăng trưởng cao (1991 - 1996), suy thoái (1997 - 2001), phục hồi (2002 - 2007).Như vậy, từ năm 1991 đến năm 2007, nền kinh tế đã trải qua giai đoạn suy thoái vàChính phủ đã sử dụng biện pháp kích thích bằng chính sách tài khóa
Kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, Chính phủ đã thực hiện nhiềuchính sách năng động khác nhau để kích thích kinh tế, như cải cách thể chế kinh tế vận
Trang 10hành theo cơ chế thị trường, mở cửa thu hút vốn đầu tư và thúc đẩy thương mại quốc tế,đẩy mạnh tự do hóa hệ thống tài chính và phát triển thị trường tài chính năng động Nhưvậy, vấn đề tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ năm 1997 đến nay không thể chỉ giải thích ởbiến số chính sách tài khóa duy nhất Có điều cần lưu ý, sự thay đổi tỷ lệ tăng trưởng từnăm “đáy” của suy thoái đến năm sau đó là lớn hơn khi có những thay đổi cơ bản củachính sách tài khóa như: giảm mức huy động nguồn thu thuế thông qua chương trình cảicách thuế bước 2 và 3, đặc biệt gia tăng chi đầu tư công thông qua các chương trình kíchcầu từ nguồn vốn ngân sách và phát hành trái phiếu chính phủ Tuy vậy, điều này cũngchưa đủ cơ sở khoa học để khẳng định, chính sách tài khóa có hiệu ứng tốt đến ổn địnhchu kỳ và khắc phục suy thoái kinh tế, mà cần có sự đo lường bằng phương pháp địnhlượng
b Giai đoạn 2007 – 2008
Từ cuối năm 2007 đến tháng 3-2008, chính sách kinh tế được chi phối bởi mụctiêu tăng trưởng GDP 9%, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kế hoạch năm năm sớm (chỉtrong ba năm), vượt ngưỡng nước có thu nhập trung bình ngay trong năm 2008
Mặc dù đã có những cảnh báo sớm từ cuối năm 2007 về chất lượng tăng trưởngthấp, chất lượng cuộc sống của người dân bị giảm sút, song quyết tâm của Chính phủ rõràng là phải đạt được những thành tựu ấn tượng, vượt lên trên tất cả các thời kỳ trướcđây
Ý chí và mục tiêu đó được sự ủng hộ của các tổ chức quốc tế và các nhà ngoạigiao qua những lời ca tụng không ngớt về những thành tựu nổi bật của Việt Nam, về vịthế mới của Việt Nam trên trường quốc tế (thành viên WTO, lần đầu tiên được bầu làthành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc ) và về dòng vốn nướcngoài đầu tư trực tiếp và gián tiếp ào ạt đổ vào trong nước
Trước những thay đổi mạnh mẽ về luồng vốn, tác động từ bên ngoài như vậy, lẽ raphải thực hiện ngay những cải cách cơ cấu và thể chế cần thiết để nâng cao năng lựcgiám sát, quản lý các lĩnh vực trọng yếu như ngân hàng, thị trường chứng khoán, thịtrường bất động sản, cải cách doanh nghiệp nhà nước, cải cách hành chính theo hướng
mở rộng công khai minh bạch, mở rộng sự tham gia giám sát của các nhà khoa học, hiệphội chuyên môn trong quá trình chuẩn bị quyết định, soạn thảo chính sách
Song, trên thực tế Chính phủ đã dồn dập triển khai các biện pháp và các công trình
để đạt các mục tiêu đề ra: việc phân cấp (về nguyên tắc là đúng đắn và cần thiết) quá mức
Trang 11cho chính quyền địa phương cấp tỉnh về đầu tư (trong nước và ngoài nước), việc cấp đất,
mở khu công nghiệp đã tạo ra những chồng chéo và dư thừa đáng lo ngại về quá nhiềucông trình đầu tư vào sân golf, bất động sản, nhà máy thép, nhà máy lọc dầu lớn nhỏ
Hệ quả là bên cạnh sự năng động và tăng nhanh về số lượng, các quyết định hàng
tỉ đô la Mỹ ở các địa phương, tập đoàn kinh tế, liên quan đến năng lượng, kết cấu hạtầng, nguồn nhân lực ở tầm kinh tế quốc dân, rất hệ trọng cho quốc kế dân sinh đã đượcquyết định một cách nhanh chóng, thiếu sự thẩm định cần thiết của các chuyên gia, hộiđồng thẩm định có chuyên môn ở các bộ, ngành và thiếu sự tham gia của các tổ chứcquần chúng
c Giai đoạn từ năm 2009 đến nay
Chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới , kinh tế trong nước đangđối mặt với nhiều khó khăn Thị trường xuất khẩu và đầu tư thế giới giảm sút đột ngột,nền kinh tế Việt Nam đã lập tức rơi vào suy giảm, từ mức tăng trưởng trên 7% (năm2008) xuống còn 3,1% vào quý I-2009 Giá một số mặt hàng xuất khẩu chính giảm mạnh,như giá gạo trong tháng 10-2009 giảm tới 20%, cà phê giảm tới 34,5%, cao su giảm gần50%
Trước tình hình đó, Chính phủ đã thực hiện các biện pháp điều hành quyết liệtnhằm chặn đà suy giảm kinh tế, ổn định vĩ mô và hướng tới tăng trưởng bền vững Mộttrong những giải pháp chủ yếu là Chính sách tài khóa mở rộng, gồm các gói kích cầu.Gói kích cầu thứ nhất đã được triển khai nhằm hỗ trợ lãi suất khoảng 17.000 tỉ đồng, góikích cầu thứ hai, với tổng nguồn vốn khoảng 8 tỉ USD, hỗ trợ lãi suất trong trung và dàihạn nhằm kích cầu đầu tư, phát triển sản xuất
Cùng với đó, đối tượng được tạm hoàn thuế giá trị gia tăng là các tổ chức sản xuất,kinh doanh hàng hóa xuất khẩu có hàng hóa đang trong thời gian chưa được phía nướcngoài thanh toán qua ngân hàng theo hợp đồng Ngoài ra, các đối tượng DN khác, nếu cơquan thuế xác định đủ điều kiện được hoàn thuế thì vẫn được giải quyết, không cần chờkiểm tra, xác minh rồi mới hoàn thuế như thông lệ
Ngoài ra, chính sách giãn và miễn nộp thuế thu nhập cá nhân đối với một số loạithu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công, từ bản quyền, chuyển nhượng thương mại,đầu tư vốn, thừa kế và quà tặng, được các nhà chính sách đánh giá sẽ giúp tăng thu nhậpkhả dụng, nhờ đó tăng chi tiêu của người tiêu dùng
Việc thực hiện một cách linh hoạt và đồng bộ các chính sách tài khóa và các chính
Trang 12sách vĩ mô khác đã giúp nền kinh tế Việt Nam vượt qua khủng hoảng và tốc độ tăngtrưởng kinh tế năm 2009 đạt 5,3%, tỷ lệ lạm phát đã giảm còn 6,88% (từ 23% năm 2008),thị trường chứng khoán và các hoạt động dịch vụ tài chính, ngân hàng được phục hồitừng bước.
Năm 2010, kinh tế nước ta đã khắc phục được đà suy thoái nhưng vẫn tiềm ẩnnhiều yếu tố gây bất ổn vĩ mô Yếu tố bất ổn dễ nhận thấy nhất là nguy cơ lạm phát caoquay trở lại do độ trễ của lượng cung tiền khá lớn được Nhà nước bơm vào thị trườngtrong các năm 2008 - 2009 để thực hiện các giải pháp phục hồi tăng trưởng kinh tế Tiếpđến là nguy cơ thâm hụt cán cân thanh toán, mà một trong những nguyên nhân chủ yếu là
do tình trạng nhập siêu Trong năm 2008, quy mô nhập siêu của nước ta lên tới 17,5 tỉUSD, và năm 2009 nhập siêu khoảng 12 tỉ USD Cùng với nguy cơ tái lạm phát cao, nếu
tỷ lệ nhập siêu tiếp tục tăng cao trong năm nay sẽ dẫn đến tình trạng lạm phát kép, tức làvừa lạm phát trong nước, vừa nhập khẩu lạm phát Một rủi ro tiềm ẩn khác trong chínhsách tiền tệ là tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại thời điểm này đangđược cho là có vấn đề, do các ngân hàng thương mại có thể chạy đua nâng cao lãi suất đểhuy động vốn
Vì vậy, trong thời gian tới, Chính phủ thực hiện 6 nhóm giải pháp đồng bộ cùngvới gói kích cầu thứ hai để nâng cao hiệu quả đầu tư, trong đó, tập trung vốn đầu tư chophát triển các dự án, công trình có hiệu quả, có khả năng hoàn thành đưa vào sử dụngsớm trong năm 2010 - 2011, thay vì mở rộng đầu tư trong bối cảnh khan hiếm vốn, tỷ lệvốn đầu tư trên GDP cao và hệ số ICOR cao Để thực hiện tốt các mục tiêu này, cần chọnlọc hơn khi triển khai gói kích thích kinh tế bổ sung, chỉ ưu tiên hỗ trợ những ngành, lĩnhvực trực tiếp sản xuất tiêu thụ trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu Ngoài ra, gói kíchthích kinh tế bổ sung đặt trọng tâm vào chính sách tài khóa (chính sách thuế, tài chính,ngân sách ) và cải cách hành chính nhằm làm cho chính sách dễ đi vào hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp
d Sự phát triển của hệ thống ngân hàng
Ngân hàng là lĩnh vực hoàn toàn mở trong cam kết gia nhập Tổ chức Thương mạiThế giới (WTO) của Việt Nam với lộ trình 7 năm Chính vì vậy trong bối cảnh Việt Namgia nhập WTO, hơn bất cứ ngành nào, lĩnh vực ngân hàng cần phải tăng tốc cải cáchnhằm nâng cao năng lực cạnh tranh để không bị thua thiệt ngay trên chính "sân nhà"
Đứng trước tình hình đó, Chính phủ Việt Nam đã có những nỗ lực đáng kể trong