Nếu hiểu truyền thống là thóiquen đã hình thành từ lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, đượctruyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác, thì đương nhiên, truyềnthống Quảng Nam mang sâu sắc
Trang 1Bài 1 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SỐ, LAO ĐỘNG VÀ TRUYỀN
THỐNG QUẢNG NAM
I.Đặc điểm điều kiện tự nhiên, dân số, lao động
1.Điều kiện tự nhiên
a.Vị trí địa lý
Quảng Nam là tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, nằm ở trung độ cả nước,
có tọa độ địa lý từ 14057’10’’ đến 16o03’50” vĩ độ bắc, từ 107o12’40” đến 108o44’20” kinh
độ đông Phía bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng, phía nam giáp tỉnh QuảngNgãi, phía tây giáp tỉnh Xê Kông (Lào) và tỉnh Kon Tum, phía đông giáp Biển Đông
Tỉnh Quảng Nam có 02 thành phố và 16 huyện, với 244 đơn vị hành chính cấp xã(210 xã, 20 phường và 14 thị trấn) 02 thành phố, gồm Tam Kỳ và Hội An; 07 huyệntrung du, đồng bằng, gồm Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên, Quế Sơn, Thăng Bình, NúiThành và Phú Ninh; 09 huyện miền núi, gồm Hiệp Đức, Tiên Phước, Phước Sơn, NamGiang, Đông Giang, Tây Giang, Bắc Trà My, Nam Trà My và Nông Sơn
Tổng diện tích tự nhiên tỉnh Quảng Nam là 1.040.837,6 ha, chiếm 3,16% tổngdiện tích tự nhiên cả nước; trong đó diện tích vùng núi là 8.743,57 km2, chiếm 84,01%diện tích tự nhiên toàn tỉnh; diện tích vùng trung du là 294,08 km2, chiếm 2,83% diệntích tự nhiên toàn tỉnh; diện tích vùng đồng bằng là 1.369,82 km2, chiếm 13,16% diệntích tự nhiên toàn tỉnh Ðiểm cao nhất là núi Ngọc Linh cao 2.598 m, điểm thấp nhất là 0m; độ cao trung bình là 50 m so với mặt nước biển
Tỉnh Quảng Nam có 425.921 ha rừng, tỷ lệ che phủ đạt trên 42%; trữ lượng gỗ đạtkhoảng 30 triệu m3 Diện tích rừng tự nhiên là 388.803 ha, rừng trồng là 37.118 ha Rừnggiàu ở Quảng Nam hiện có khoảng 10 nghìn ha, phân bố ở các đỉnh núi cao, diện tíchrừng còn lại chủ yếu là rừng nghèo, rừng trung bình và rừng tái sinh, có trữ lượng gỗkhoảng 69 m3/ha
- Bờ biển Quảng Nam chạy dài từ Điện Ngọc (giáp Đà Nẵng) đến vịnh Dung Quất(Quảng Ngãi) dài trên 125km, có 3 cửa biển thông ra bên ngoài (cửa Đại, cửa Lở, cửa
An Hòa) và vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn hơn 40.000 km2, hình thành nhiều ngưtrường với nguồn lợi hải sản ước khoảng 90 ngàn tấn, khả năng cho phép khai thác hàngnăm từ 42-45 ngàn tấn, với 30% sản lượng có thể đưa vào chế biến xuất khẩu Lực lượnglao động ngành khai thác thủy sản dồi dào với hơn 25.000 người
Quảng Nam nằm trong vùng trọng điểm kinh tế Miền Trung, (phía bắc giáp thànhphố Đà Nẵng, phía nam giáp khu kinh tế Dung Quất, có sân bay (Chu Lai), cảng biển (KỳHà), đường Xuyên Á nên rất thuận lợi cho việc giao lưu phát triển kinh tế - xã hội và cótầm quan trọng trong quốc phòng, an ninh Quảng Nam có 2 di sản văn hóa thế giới (phố
cổ Hội An, khu di tích Mỹ Sơn), khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm, khu baotồn thiên nhiên Sông Thanh và trên 260 di tích văn hóa, lịch sử, trong đó có gần 20 di tích
Trang 2xếp hạng cấp quốc gia Đặc biệt, bờ biển kéo dài với nhiều bãi tắm đẹp lý tưởng như Hà
My (huyện Điện Bàn), Cửa Đại (thành phố Hội An), Bình Minh (huyện Thăng Bình), TamThanh (thành phố Tam Kỳ), Kỳ Hà, Bãi Rạng (huyện Núi Thành) Hầu hết các bãi tắm ởQuảng Nam đều có bãi cát trắng, mực nước nông, có độ mặn vừa phải và quanh nămtrong xanh
b.Địa hình, địa chất
Quảng Nam có dải đồng bằng hẹp với độ cao trung bình
từ 8 đến 10m, những nơi thấp nhất khoảng 2m so với mặt biển.Nhìn toàn bộ địa hình, ta thấy độ nghiêng theo hướng tây –đông
Địa hình Quảng Nam đa dạng, có đủ các vùng thượng du trùng điệp núi non,
trung du với đồi gò và thung lũng nối tiếp, xen kẽ nhau, đồng bằng và vùng cồn bãi cátven biển
Ở phía tây, rừng núi và đồi gò tập trung ở các huyện miền núi của tỉnh: ĐôngGiang, Tây Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiên Phước vàHiệp Đức
Địa hình phức tạp, mức độ chia cắt mạnh, có hình dạng lượnsóng Độ cao trung bình từ 700 m - 800 m, độ dốc lớn 25 - 300, có nơitrên 450, hướng thấp dần từ tây sang đông Vùng đồi gò Quảng Namnằm chuyển tiếp giữa vùng núi phía tây và vùng đồng bằng ven biển, độcao trung bình từ 100-200 m, độ dốc trung bình 15 - 200, địa hình đặctrưng có dạng bát úp và lượn sóng, mức độ chia cắt trung bình
Vùng trung du với độ cao trung bình 100 m, địa hình đồi bát úp xen kẽ các dảiđồng bằng, thuộc phía tây của các huyện Thăng Bình, Duy Xuyên, Đại Lộc, Quế Sơn
Hầu hết diện tích này được khai phá khá sớm, biến thànhnhững vườn trồng cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả nốitiếp từ sườn đồi này sang sườn đồi khác, còn ruộng lúa trải dọc theocác thung lũng
Vùng đồng bằng Quảng Nam có địa hình tương đối bằng phẳng, nhiều nơi xen lẫncác vùng gò đồi thấp
Thổ nhưỡng chủ yếu ở đây là đất phù sa được bồi hàng năm vàtương đối phì nhiêu ở miền Trung, trong đó một diện tích đáng kể đãđược khai thác sớm từ thời Chămpa, trước khi có người Việt đến định
cư Theo Lê Bá Thảo, "đồng bằng Quảng Nam – Đà Nẵng là mộtvụng biển cũ (trong thực tế là một đới địa máng cũ) cắm sâu vào giữahai khối núi Hải Vân và Ngọc Linh như một cái nêm lớn Sau khinước biến rút, do vận động nâng lên của Trường Sơn Nam, sông ThuBồn và các nhánh của nó đã bồi nên một vùng đất rộng 540 km2, diệntích này bao gồm cả vùng cửa sông Hội An, nằm dịch về phía biển.Đồng bằng này thu hẹp lại ở huyện Thăng Bình rồi mở rộng ra – tuy
Trang 3vẫn giữ dạng một dải đất phù sa chạy dọc sông Tam Kỳ - ở đồngbằng cũng mang tên ấy rộng 510 km2"1.
Đồng bằng Quảng Nam là vùng tập trung sớm nhất và đôngnhất qua nhiều thế kỷ Nhưng do phương thức canh tác lạc hậu lại trảiqua nhiều thập niên chiến tranh tàn phá, nên nhiều nơi trở thành đấtbạc màu, năng suất cây trồng thấp Từ sau ngày giải phóng (3-1975),công tác thủy lợi và thâm canh, cải tạo đất được chú ý, do đó hiệuquả năng suất cây trồng và hoa lợi đem lại tương đối cao
Dọc theo duyên hải là những cồn cát, bãi cát trắng, phía bên trong những dải cồnrộng lớn này bao giờ cũng có những đầm hồ dài và hẹp, nguyên là di tích những vụngbiển cũ
Rìa phía sau những dải cồn cát từ cửa Đại đi về phía nam,những đầm hồ được cải tạo và nối lại thành con đường giao thôngthủy nội địa Mặc dù là dải đất nằm một bên là sông, một bên là biển,
mà chủ yếu là đất cát, nhưng nhờ những bàu, hồ và sông, nên ngườidân đến định cư, tạo dựng nên những làng mạc đông đúc, đặc biệt lànhững làng chài lưới, đánh cá vừa ở sông, vửa ở biển và nuôi trồngthủy hải sản
Theo thống kê năm 2010, tỉnh Quảng Nam có diện tích đất nông nghiệp là111.187,8 ha (chiếm 10,65% diện tích đất tự nhiên), bao gồm: đất trồng cây hàng năm86.590,2 ha, đất trồng cây lâu năm 24.597,5 ha, đất nuôi trồng thủy sản 7.000 ha; đấtlâm nghiệp 537.618,6 ha (chiếm 51,5% diện tích tự nhiên), đất đồi núi chưa sử dụng gần286.000 ha, đất bằng chưa sử dụng hơn 20.000 ha
Đây là tiềm năng quan trọng để phát triển kinh tế vùng gắn vớiquản lý và khai thác lợi thế về đất đai là giải pháp căn bản đối vớimột tỉnh nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao
Các quá trình địa chất nội sinh và ngoại sinh đã mang lại cho tỉnh Quảng Namnguồn tài nguyên khá đa dạng và phong phú, đã phát hiện 186 mỏ và điểm khoáng củagần 45 loại khoáng sản Trong đó, khoáng sản tiềm năng và giá trị đáng kể là than đá,vàng, uran, fenspat, kaolin, cát thủy tinh, titan, khoáng sản làm vật liệu xây dựng, nướckhoáng – nước nóng nhưng trữ lượng của từng loại khoáng sản không lớn, nên việckhai thác không đem lại hiệu quả kinh tế cao
c Khí hậu, thủy văn
Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 2 mùa rõ rệt,mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 Nhiệt độ trung bìnhhàng năm 25,7oC, nhiệt độ cao nhất 39,5oC, nhiệt độ thấp nhất là 10oC Lượng mưa trungbình hàng năm 2.850 mm, mưa tập trung vào các tháng 9 - 12, chiếm 80% lượng mưa cảnăm Độ ẩm không khí trung bình 86%, cao nhất là 92% (tháng 11 và tháng 12), thấp
1 Lê Bá Thảo, Thiên nhiên Việt Nam, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, 1990, tr.227.
Trang 4nhất là 68% (từ tháng 4 đến tháng 7) Lượng bốc hơi hàng năm từ 600 mm đến 1.000
mm, cao nhất vào các tháng 5, 6, 7
Hướng gió thịnh hành, về mùa đông theo hướng tây bắc, đôngbắc và bắc; về mùa hè theo hướng tây nam (gió Lào) Bão thườngxuất hiện vào tháng 9-12, tốc độ gió có khi đạt trên 30m/s Ở QuảngNam, số liệu quan trắc được trong vòng 40 năm gần đây, có 76 cơnbão hoạt động và đi qua địa bàn tỉnh, trung bình có 2 cơn/năm Mùamưa trùng với mùa bão, nên các cơn bão đổ vào miền Trung thườnggây ra lở đất, lũ quét ở các huyện trung du miền núi và gây ngập lụt ởcác vùng ven sông Lũ lụt thường xuất hiện vào tháng 9, 10, 11 vàthường kèm theo các đợt gió mùa đông bắc
Sông suối Quảng Nam phát nguyên từ vùng rừng núi phía tây, chảy qua vùng đồi
trung du và đồng bằng rồi đổ ra biển Đông
Do núi gần biển, nên hầu hết các dòng sông đều ngắn, có độdốc lớn, có nhiều thác ghềnh, lòng sông tương đối hẹp và thườngquanh co uốn khúc Lưu vực các sông tương đối rộng, có dạng hìnhnan quạt; các sông nhánh có dạng hình cành cây, nên khả năng tậptrung dòng chảy lớn, với độ dốc cao, thường gây nên lũ lụt nhanh vàmạnh Nước sông chỉ đục vào mùa mưa lũ, sau đó thì trở lại trong,nhất là vào mùa khô; điều này chứng tỏ nghèo phù sa
Hệ thống sông ngòi khá dày, tạo nên một mạng lưới giao thông thủy nội địa cả haichiều đông – tây và cả bắc – nam
Tỉnh Quảng Nam là tỉnh duy nhất ở miền Trung có thể đithuyền từ đầu tỉnh đến cuối tỉnh bằng đường thủy nội địa qua sôngHàn, sông Vĩnh Điện, sông Thu Bồn, sông Trường Giang đến vũng
An Hòa, ngược lên thị trấn An Tân, hoặc ra cửa Kỳ Hà đến DungQuất (Quảng Ngãi)
Sông suối cũng đã được người dân khai thác, biến thành nguồn lợi có hiệu quả caotrong sản xuất nông nghiệp Sông ngòi Quảng Nam có tổng chiều dài trên 900 km, baogồm 3 hệ thống sông chính là Thu Bồn - Vu Gia, Tam Kỳ và Trường Giang với hàngchục nhánh sông khác nhau
-Hệ thống sông Thu Bồn – Vu Gia gồm 78 sông có chiều dài từ
10 km trở lên, là con sông lớn của tỉnh, đổ ra cửa Đại và cửa Hàn (ĐàNẵng) Tổng chiều dài của sông từ nguồn ra đến cửa biển khoảng 200
km, diện tích lưu vực 8.850 km2, lưu lượng bình quân 232 m3/s
-Hệ thống sông Tam Kỳ bắt nguồn từ các dãy núi phía tây đổ ra cửa
Lỡ và cửa An Hòa (cửa Đại Áp cũ) Diện tích lưu vực 1.040 km2, lưu lượngđỉnh lũ của dòng chính là 4.000 - 5.000 m3/s
-Hệ thống sông Trường Giang là sông không có đầu nguồn,chảy song song theo bờ biển nối của Đại ở phía bắc và cửa An Hòa ở
Trang 5phía nam, được ngăn cách với biển bởi dải cồn cát rộng lớn, tạo nên
con đường giao thông thủy nội địa cho ghe thuyền đi lại
Trong hệ thống các con sông xứ Quảng thì dòng sông Thu Bồn được coi là độngmạch chủ, nối liền hai miền xuôi ngược tây – đông và đoạn Trường Giang ở gần cuốidòng là gạch nối kết liền cả hai chiều vận chuyển bắc – nam, tạo nên một bản đồ giaothông thủy nội địa rất thuận lợi trong giao lưu kinh tế và văn hóa giữa các vùng trongtỉnh
Ngoài hệ thống sông Thu Bồn, các con sông trong tỉnh đềungắn, vì núi gần biển, dải đất đồng bằng hẹp, địa hình dốc Về mùamưa, nước từ phía đông dãy Trường Sơn đổ dồn về với cường độ cao,
do đó thường gây ngập lụt lớn, làm thiệt hại mùa màng, đường sá,các công trình xây dựng khác Lũ lên nhanh nhưng rút cũng nhanh,
do độ dốc và gần các cửa biển Lũ lụt xảy ra còn do tổng lượng mưatrong tỉnh lớn (từ 2.000 đến 4.000mm), nhưng lại tập trung trong mộtthời gian ngắn, từ tháng 9 đến tháng 12 Đặc biệt, hầu hết các sôngđều chạy qua các vùng đá mẹ giàu thạch anh (granit, sa thạch, cuộikết…) nên phù sa của các sông Quảng Nam thường hạt thô, nghèodinh dưỡng
Về hệ thống các hồ chứa, toàn tỉnh có khoảng 80 hồ chứa nước lớn nhỏ khác nhauvới tổng lượng nước trữ khoảng 500 triệu m3 Các hồ lớn như Phú Ninh, Khe Tân, Việt
An, Vĩnh Trinh và Thái Xuân; hệ thống các hồ nhỏ như Cao Ngạn, Phước Hà, Đông Tiễn(Thăng Bình), Bàu Vàng (Núi Thành), Hố Giang, Suối Tiên (Quế Sơn) phục vụ tướicho hơn 70.000 ha gieo trồng hàng năm Ngoài việc cung cấp nước cho sản xuất nôngnghiệp, sinh hoạt còn có tác dụng điều tiết chế độ thủy văn và cân bằng hệ sinh thái của
vùng
2.Dân số, lao động
a.Dân số
-Từ ngày sau giải phóng 30-4-1975 đến năm 1996
Sau ngày giải phóng, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng đã gấp rút
tổ chức đưa số dân ngoại tỉnh trở về quê quán cũ đồng thời cũng tổchức đưa số dân tập trung ở các khu dồn tại các đô thị, nhất làthành phố Đà Nẵng về làng cũ, giúp đỡ họ tranh thủ sản xuất nhằmgiải quyết cái ăn trước mắt, nhanh chóng ổn định đời sống Chínhnhờ thực hiện chính sách này một cách khẩn trương và tích cực,nên quy mô dân số của Quảng Nam – Đà Nẵng đã giảm đột biến từ2,1 triệu người khi vừa giải phóng xuống còn 1,32 triệu người vàocuối năm 1975 Mức gia tăng dân số bình quân của Quảng Nam –
Đà Nẵng trong 20 năm (1976-1996) là 1,19%
Ở Quảng Nam – Đà Nẵng, năm 1995, dân cư tập trung sinhsống chủ yếu ở khu vực đô thị và đồng bằng ven biển Khu vực
Trang 6thành thị chỉ chiếm 4,48% diện tích tự nhiên, nhưng chiếm 34,41%dân số Vùng đồng bằng chiếm 40,61% diện tích tự nhiên, nhưngchỉ có 11,1% dân số Trong kế hoạch điều chỉnh và phân bố dân
cư, chính quyền tỉnh cũng đã cố gắng đề xuất một số giải pháp,nhưng xem ra kết quả cải thiện tình hình không đáng kể
Năm 1976, các dân tộc miền núi chiếm 2,7% dân số, thì đếnnăm 1996 tăng lên 4,48% Tốc độ phát triển bình quân hàng năm vềdân số toàn tỉnh là 1,18%, trong khi đó dân tộc Cơ tu là 4,6%, Xơđăng là 4,21% Đó là kết quả của việc thực hiện các chính sách củaNhà nước, quan tâm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần đối vớicác dân tộc ít người, đặc biệt là sự chăm sóc về y tế đã giảm tỷ lệ tửvong khá lớn nhất là đối với trẻ em
-Từ sau ngày chia tách tỉnh năm 1-1-1997 đến nay
Theo kết quả Tổng điều tra dân số 01-4-2009, tỉnh Quảng Nam có diện tích tựnhiên là 10.438,3km2, dân số là 1.421.117 người, tăng thêm 45.816 người so với ngày01-4-1999 So với 63 tỉnh, thành phố trong cả nước, thì Quảng Nam đứng hàng thứ 7
về diện tích, hàng thứ 19 về số dân
Về kết cấu dân số theo độ tuổi, Quảng Nam là tỉnh có dân số trẻ Kết quả Tổngđiều tra 2009 cho thấy số người trong độ tuổi lao động chiếm 62,1% so với dân số; cơcấu dân số theo nhóm tuổi: nhóm dân số trẻ (0 – 14 tuổi) có xu hướng giảm từ 34,4%năm 1999 còn 25,7% năm 2009, trong khi đó nhóm dân số già có xu hướng tăng từ7,4% năm 1999 lên 8,9% năm 2009
Về kết cấu dân số theo giới tính, dân số nữ có 727.138 người, chiếm 51,22%dân số cả tỉnh Dân số thành thị có 264.256 người, chiếm 18,62%; nông thôn có1.155.247 người, chiếm 81,38%
Về kết cấu dân số theo dân tộc, người Kinh chiếm 91,78%, các dân tộc chiếm8,22% (116.590 người; trong đó Cơ tu: 46.709 người, Xơ đăng: 38.271 người, Giẻ-Triêng: 19.622 người, Cor: 5.241 người)
Mật độ dân số của tỉnh năm 1997 là 130 người/km2, năm 2009 là 136người/km2; đứng hàng thứ 45 trong cả nước Dân cư tỉnh phân bố không đều, có sựchênh lệch khá lớn giữa các vùng: giữa miền núi và đồng bằng ven biển, giữa cáchuyện và thành thị với nông thôn; theo mô hình thưa dần từ đông sang tây, phụ thuộclớn vào địa hình Mật độ dân số ở miền núi chỉ khoảng 15-20 người/km2, trong khi đó
ở đồng bằng ven biển là 250 người/km2 Mật độ dân số thưa thớt nhất ở miền núi làhuyện Nam Giang với 12,5 người/km2
Qua 3 kỳ điều tra, dân số tăng bình quân năm giảm dần, từ1,96% (1979-1989) còn 1,26% (1989-1999) và 0,33% (1999-2009); trong khi đó tỷ lệ tăng dân số bình quân hằng năm ở khuvực Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung là 0,41%/năm, bìnhquân cả nước là 1,2% Nguyên nhân cơ bản dẫn đến tỷ lệ tăng dân
Trang 7số bình quân của Quảng Nam thấp hơn cả nước là do một bộ phậnlực lượng trẻ đã rời bỏ ruộng đồng ở quê vào thành phố Hồ ChíMinh và các nơi khác để làm ăn Đây là vấn đề xã hội rất đángquan tâm Ruộng đất ở quê ít, lại bị thu hẹp dần, sản xuất nôngnghiệp bị hạn chế, việc thu hồi đất nông nghiệp ở các vùng dự ánnên số đông người trẻ ly hương vì mưu sinh.
Theo thống kê, mỗi năm dân số Quảng Nam di cư sang các tỉnh khác khoảng8.000 người, trong khi đó số nhập cư chỉ khoảng 2.000-2.500 người Hiện tượng “xuấtnhiều nhập ít” còn tập trung ở số học sinh, sinh viên nhập học ở các trường ngoại tỉnh,khoảng 4.000 người mỗi năm Trong khi lượng sinh viên ra trường về lại tỉnh làm việcchỉ nằm ở con số 1.500 người
Tỷ suất sinh thô đã giảm từ 21,06‰ (năm 1999) xuống17,15‰ (năm 2005) và 16,35‰ (năm 2009), bình quân giảm0,47‰/năm Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm dần qua các năm, từ22,5% (năm 2001) xuống còn 17,84% (năm 2010)
Chỉ số già hóa: thể hiện sự thay đổi cấu trúc dân số từ trẻsang già (được tính bằng tỷ lệ dân số già trên dân số trẻ) Theo kếtquả điều tra năm 2009, chỉ số này của tỉnh có sự biến đổi lớn, từ21,70% năm 1999 lên 34,72% vào năm 2009 (tăng 13,02%); khuvực thành thị là 32,51%, tăng 11,32% và khu vực nông thôn là35,17% tăng 13,39% so với năm 1999 Điều này cho thấy dân sốtỉnh có xu hướng già hóa, phản ánh việc thực hiện tốt sinh để có kếhoạch và nâng cao chất lượng dân số của tỉnh trong những nămqua
Bảng: DIỆN TÍCH, DÂN SỐ, MẬT ĐỘ DÂN SỐ THEO ĐƠN VỊ HÀNH
CHÍNH NĂM 2009 Quận, huyện Diện tích (km 2 ) Dân số (người) Mật độ
Trang 8Huyện Nam Giang 1.842,89 22.486 12
Tỷ lệ phụ thuộc: biểu thị ở người trẻ em (dưới 14 tuổi) và sốngười già (60 tuổi trở lên) mà một người lao động (tuổi 15-60)phải nuôi dưỡng; được tính bằng số trẻ em và người già chia cho
số người trong độ tuổi 15-59 Khi tỷ lệ này đạt 0,5 người đượcxem là dân số vàng
Sự gia tăng về người lao động của tỉnh trong 10 năm 2009) đã làm cho tỷ lệ phụ thuộc của tỉnh chỉ còn 59,92%, giảm20,85% so với năm 1999 (80,76%), bình quân mỗi năm giảm2%/năm Như vậy, dân số của tỉnh đang tiếp cận và dự kiến sẽ đạtđược dân số vàng vào giữa những năm thập niên 2010
(1999-Đáng chú ý là tỷ lệ phụ thuộc trẻ giảm rất nhanh từ 62,65%năm 1999 xuống còn 41,76% năm 2009 (giảm 20,49%), trong khi
tỷ lệ phụ thuộc gia chỉ tăng 0,36% Sự chênh lệch này sẽ tạo ranguồn lao động rất lớn cho tỉnh trong những năm qua
Lực lượng lao động của Quảng Nam trong nền kinh tế nông nghiệp truyềnthống có hơn 90% dân số là lao động nông nghiệp Từ khi tái lập tỉnh đến nay, cùngvới việc đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, lao độngQuảng Nam từng bước được đào tạo Trong 10 năm (1997-2007), Quảng Nam đã đàotạo hơn 1 vạn lao động có trình độ trung cấp và trên 3.000 lao động có trình độ caođẳng Năm 2010, tỉ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 30%; riêng khu vực công nghiệp
và dịch vụ đạt 40%
Tổng số lao động năm 2007 có 206.057 người tăng 56,42% so với năm 2002,
bình quân tăng 9,36% năm Khu vực sản xuất kinh doanh có 160.538 lao động, tăng72,10% và bình quân tăng 11,47%/năm Khu vực hành chính sự nghiệp có 45.519 lao
Trang 9động, tăng 18,39% và bình quân tăng 3,43%/năm Cơ cấu lao động: khu vực sản xuấtkinh doanh chiếm 77,91%, khu vực hành chính sự nghiệp chiếm 22,09%; phát triểntheo hướng tăng nhanh tỷ trọng lao động khu vực kinh tế, giảm tỷ trọng lao động hànhchính sự nghiệp (năm 2002, số liệu tương ứng là 70,81% và 29,19%).
Trong những năm qua, cùng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng côngnghiệp - dịch vụ - nông nghiệp, thì lao động có tay nghề, được đào tạo cũng dần pháttriển theo hướng lao động nông nghiệp nông thôn giảm dần và lao động công nghiệpdịch vụ tăng dần Tuy nhiên năm 2010, tỉ lệ lao động nông – lâm nghiệp – thủy sản vẫncòn chiếm khá cao 59,24%, lao động công nghiệp và xây dựng là 19,32%, dịch vụ là21,44%; năm 2012, số liệu tương ứng là 56,03%, 20,73% và 23,24% Cùng với chuyểndịch cơ cấu kinh tế thì tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị vẫn còn cao: năm 2010 là4,79%, năm 2011 là 4,05%, năm 2012 là 3,58% Số lao động được đào tạo nghề nhưngchưa có việc làm hoặc việc làm không phù hợp vẫn còn chiếm tỷ lệ lớn
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XX đã đề ra nhóm chỉ tiêu
về văn hóa – xã hội, trong đó giải quyết việc làm trong 5 năm (2010-2015) trên 200.000lao động; phấn đấu đến năm 2015, đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt trên 45%, tỷtrọng lao động nông nghiệp còn dưới 42% - 43%, tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch
vụ đạt trên 58%
II.Lịch sử và truyền thống Quảng Nam
1.Lịch sử Quảng Nam
a.Từ thời tiền sử đến trước khi danh xưng Quảng Nam ra đời năm 1471
Về phương diện địa lý – địa chất, mảnh đất Quảng Nam cólịch sử tạo thành từ lâu đời, từ thời Tiền Cambri cho đến kỷ Đệ tứ
và chúng hình thành nên 5 vùng cảnh quan chính là vùng núi, vùngtrung du, vùng đồng bằng, vùng bờ biển và vùng biển – hải đảo
Qua các phát hiện khảo cổ học, nhất là tại di tích Bàu Dũ (xãTam Xuân 1, huyện Núi Thành) thuộc thời đại đá mới cho phépnhận định con người có mặt ở đây ít ra đã 6000 nghìn năm trước.Người cổ Bàu Dũ sống chủ yếu bằng hái lượm, săn bắt và cư trúngoài trời Bàu Dũ là một phát hiện khảo cổ học quan trọng khôngchỉ đối với Quảng Nam mà đối với cả khu vực Nam Trung Bộ
Kế tiếp Bàu Dũ, tại các di chỉ khảo cổ học mộ chum tìmđược ở Núi Thành, Đại Lộc cho thấy sự phát triển liên tục quacác giai đoạn sơ, trung và hậu kỳ đồng thau của một nhóm cư dânnông nghiệp, biết sử dụng các công cụ sản xuất bằng kim loại và
đã tiến đến sơ kỳ đồ sắt: đó là giai đoạn chuyển tiếp từ "tiền SaHuỳnh" sang "Sa Huỳnh" của cư dân ở ven biển miền Trung
Từ những hiện vật đã khai quật được trong các di tích SaHuỳnh ở Quảng Nam, có thể thấy vào giai đoạn sơ kỳ thời đại sắt,
xã hội Sa Huỳnh đã có sự phân hoá giàu nghèo Tầng lớp thống trị
Trang 10chi phối các hoạt động của cộng đồng đã xuất hiện Những tài liệukhảo cổ học tìm thấy ở đây cũng đã góp phần chứng minh được sựphát triển tuần tự từ văn hoá Sa Huỳnh lên văn hoá Champa, ghinhận từ Sa Huỳnh đến Champa là sự liên tục, tiếp nối văn hoá.Người Sa Huỳnh đã bản địa hoá những giá trị văn hoá Ấn Độ đểtrở thành văn hoá Chămpa nổi tiếng về sau.
Đến đầu Công nguyên, vào thế kỷ II, đất Quảng Nam đã thuộc về tiểu quốcLâm Ấp do Khu Liên thành lập và đến giữa thế kỷ IV vùng đất này được hợp nhất vớitiểu quốc Nam Chăm để hình thành nên Vương quốc Chămpa
Kinh đô đầu tiên của Vương quốc Chămpa được xây dựngtrên đất Trà Kiệu (huyện Duy Xuyên), đó là kinh đô Sinhapura(Kinh thành Sư tử) Nhiều cứ liệu cho thấy sự phồn vinh của kinh
đô này mà tiếng tăm của nó đã có thời lừng lẫy trong vùng MãLai và vùng Đông Nam Á Đến thế kỷ IX, một kinh đô khác củaVương quốc Chămpa cũng được xây dựng trên đất Quảng Nam
là kinh đô Indrapura (kinh thành mang tên thần Indra, thần đứngđầu các thần), được đặt tại làng Đồng Dương (huyện ThăngBình) Đây là di tích Phật giáo Đại thừa lớn nhất của Vương quốcChămpa và cũng là một di tích Phật giáo quan trọng ở Đông Nam
Á Ngoài ra, từ thế kỷ IV đến thế kỷ thứ XIII, giai cấp thống trịChămpa còn cho xây dựng một khu thánh địa Bàlamôn giáo lớntại Mỹ Sơn (huyện Duy Xuyên), nằm về phía tây của Kinh đô TràKiệu, với trên 70 công trình kiến trúc đền tháp Mỗi năm vuaChăm, sau khi lên ngôi đều đến đây làm lễ cúng thần linh hoặcxây dựng thêm nhiều đền đài hiến dâng lên thần SrisanaBhadresvara – đấng tối cao bảo hộ vương quyền
Năm 1306, quốc vương của Chămpa là Chế Mân đem dâng cho nhà Trần haichâu Ô – Lý, gồm đất từ nam Quảng Trị đến bắc Quảng Nam làm sính lễ, xin cướicông chúa Huyền Trân, con gái vua Trần Nhân Tông Năm sau (1307), vua Trần AnhTông sai Hành khiển Đoàn Nhữ Hài đến vùng đất mới tuyên bố ý đức của triều đình,đổi hai châu ấy thành châu Thuận và châu Hoá
Sự gia nhập vào bản đồ Đại Việt của vùng đất Amaravati củaChămpa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ đối với riêngQuảng Nam mà đối với cả lịch sử dân tộc Rẻo đất không lớn đó
có đến hai cửa biển quan trọng là Đại Chiêm và Đà Nẵng - mànhư lịch sử còn ghi rõ, tất cả các cuộc tiến công của Chămpađánh ra Đại Việt đều đi đường biển, xuất phát từ những cửa biểnlớn này Chiếm hai cửa biển quan trọng này là đẩy xa hẳn mối uyhiếp quấy nhiễu của Chămpa Hơn nữa, tràn qua được phía namđèo Hải Vân, thiết lập ở đó một bàn đạp, một căn cứ xuất phát tiến
Trang 11công, là điều kiện số một để Đại Việt tiến tới chiếm hết cả vùngđất Quảng Nam, vùng đất quan trọng và quyết định nhất trênđường mở nước của Đại Việt.
Bước sang nửa sau thế kỷ XIV, quan hệ Chămpa – Đại Việt trở nên căng thẳng,nhất là từ sau ngày Chế Bồng Nga lên ngôi (năm 1360) Vị vua này liên tiếp đem quântấn công Đại Việt, nhiều lần kéo quân ra cướp phá kinh thành Thăng Long Năm 1390,Chế Bồng Nga tử trận, quan hệ Chăm – Việt trở lại hòa dịu Năm 1400, Hồ Quý Lychiếm ngôi nhà Trần, lập ra triều Hồ Nhà Hồ ra sức củng cố chủ quyền của Đại Việt ởphía Nam (Năm 1402, Hồ Quý Ly dùng biện pháp quân sự, mở rộng đất Chiêm Động
và Cổ Lũy Động, lập ra 4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa để dân đi khai thác.)
Nhà Hồ tồn tại không được bao lâu thì bị nhà Minh(Trung Quốc) sang xâm lược và đặt ách thống trị lên Đại Việt Dophải đối phó hết sức vất vả với phong trào giải phóng dân tộc củanhân dân ta, nhà Minh không thể với tay đến tận những miền biênviễn, do đó, thực tế đất Quảng trở lại chịu sự quản lý của nhà nướcChămpa Trong hoàn cảnh đó, nhiều lưu dân Việt phải bỏ chạy vềvùng Hoá Châu, hoặc phân tán lên vùng Tân Ninh ở phía thượngnguồn sông Thu Bồn, ẩn tránh để chờ cơ hội Số còn lại cũng hoàntoàn bị cách ly với quê hương phía Bắc của họ Phải mất vài thập
kỷ sau, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi chống quân xâm lượcMinh thắng lợi (1427), dưới thời trị vì của nhà Hậu Lê, chủ quyềncủa Đại Việt đối với đất Quảng Nam mới dần dần được khôi phục
Trang 12b Từ 1471 đến trước khi nhà Nguyễn được thành lập năm 1802
Tháng 8-1470, vua Chămpa là Trà Toàn đem hơn 10 vạn quân thủy bộ đánhchiếm Hóa Châu Trước tình hình đó, vua Lê Thánh Tông quyết định đánh đồn tối hậu
để giải quyết tận gốc vấn đề biên giới phía nam, lấy lại bốn châu Thăng, Hoa, Tư,Nghĩa đã mất từ thời thuộc Minh
Chính vì vậy, cuộc xuất quân lần này được chuẩn bị cực kỳchu đáo Cuộc xuất quân bắt đầu từ ngày 7 tháng giêng năm TânMão (1471) Đến ngày 1 tháng 3, quân Đại Việt vây hãm thành TràBàn, tiêu diệt số lớn quân địch, bắt sống được vua Chăm là TràToàn cùng 50 người trong hoàng tộc cùng ba vạn tù binh
Địa danh Tư Nghĩa xuất hiện lần đầu tiên vàonăm 1471, khi vua Lê Thánh Tông thành lập đạo thừatuyên Quảng Nam Đạo thừa tuyên Quảng Nam có 3phủ là Thăng Hoa (tương đương với tỉnh Quảng Nam
và thành phố Đà Nẵng ngày nay), Tư Nghĩa (tươngđương với tỉnh Quảng Ngãi), Hoài Nhơn (tương đươngvới tỉnh Bình Định) Huyện Nghĩa Giang nằm trong phủ
Tư Nghĩa lúc bấy giờ chính là địa bàn huyện Tư Nghĩa
và thành phố Quảng Ngãi ngày nay
Chiến thắng lớn lao này không những giúp ta giữ yên được Hóa Châu, khôiphục lại bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa bị quân Chămpa chiếm thời thuộc Minh(1407-1427), mà còn mở rộng bờ cõi Đại Việt đến đèo Cù Mông (tức tỉnh Bình Địnhngày nay)
Tháng 6-1471, vua Lê Thánh Tông quyết định lấy đất vừa chiếm được lập thừa
tiếng Quảng Nam hàm chứa một ý nghĩa trọng đại trong quá trình phát triển lịch sửlâu dài của dân tộc Quảng có nghĩa là mở và rộng; Nam là hướng nam, đi về
phương Nam: một lựa chọn có tính chiến lược, quyết định vận mệnh sống còn của quốc gia Đại Việt.
Nhận rõ tầm quan trọng của vùng đất này, nên trướckhi xuống chiếu rút quân về, Thánh Tông đã phân công tướnglĩnh cùng với quân sĩ ở lại để quản trị vùng đất mới chiếm Đây
là những người thuộc diện "tòng binh lập nghiệp" Nhiều ngườidân "gốc lính" này đã liên lạc với gia đình, bà con thân thuộc,đồng hương tổ chức di dân vào sinh cơ lập nghiệp nơi vùng đấtmới Nhiều người trong số này về sau trở thành tiền hiền củalàng, được thờ tự ở đình
Kể từ chiến thắng Trà Bàn cho đến khi Nguyễn Hoàngđược nhà Lê cho kiêm lãnh Tổng trấn Quảng Nam, vùng đất
Trang 13này đã được lưu dân Việt đến định cư, khai phá tròn 100 năm(1471-1570), bộ mặt đời sống vật chất và tinh thần có những
thay đổi lớn lao Sách Ô châu cận lục miêu tả đời sống của
nhân dân Điện Bàn (hiểu là nửa tỉnh phía bắc Quảng Nam) vàogiữa thế kỷ XVI như sau: "Dân lấy thóc làm giàu, nhà nôngdùng trâu đạp lúa; xe tiện chuyên chở đường bộ, ghe thuyềnthuận lợi đường sông Vườn Mạc Xuyên trồng lắm hoa hồng,người Lang Châu dệt nhiều lụa trắng Phụ nữ mặc quần vảiChăm, đàn ông tay cầm quạt Tàu "1 Sách này cũng nêu radanh sách 66 làng thời ấy của huyện Điện Bàn, mà gần 50% têngọi các làng lưu truyền đến ngày nay
Năm 1558, Nguyễn Hoàng được vua Lê cử vào trấn thủ đất Thuận Hoá Đếnnăm 1570, kiêm lãnh cả trấn Quảng Nam Mười hai năm sau (1570), ông được vua Lêcho kiêm lãnh Tổng trấn Quảng Nam
Sách Đại Việt sử ký toàn thư đánh giá: "Nguyễn
Hoàng vỗ trị mấy chục năm, chính lệnh khoan hòa, thườngban ân huệ, dùng phép công bằng, chấn chỉnh khuyên răntướng sĩ bản bộ chợ búa không nói thách, dân chúng khônglàm giặc, cổng ngoài không đóng"2
Trong chuyến vượt biển trở về Thuận Hóa sau 8năm bị Trịnh Tùng "giữ lỏng" tại Thăng Long, cái ý tưởng
"rạch đôi sơn hà" càng thôi thúc và trở thành quyết tâm không
gì lay chuyển được Năm 1602, Nguyễn Hoàng vượt núi HảiVân thị sát vùng đất hai phủ Điện Bàn và Thăng Hoa Về
chuyến đi này, Đại Nam thực lục tiền biên ghi là chúa "đi chơi
núi Hải Vân, thấy một dải núi cao dăng dài mấy trăm dặm
nằm ngang đến bờ biển, chúa khen rằng: chỗ này là đất yết
hầu của miền Thuận - Quảng Liền vượt qua núi, xem xét tình
thế, dựng dinh trấn ở xã Cần Húc (thuộc huyện Duy Xuyên)xây kho tàng, chứa lương thực, sai hoàng tử thứ sáu đến trấngiữ"3
Không đầy hai năm sau (1604), Nguyễn Hoàng raquyết định tách huyện Điện Bàn ra khỏi phủ Triệu Phong(thuộc trấn Thuận Hóa), thăng làm phủ, rồi cho lệ vào trấnQuảng Nam để tạo thành một vùng lãnh thổ thống nhất, hoànchỉnh về mặt địa lý hành chính ở phía nam Hải Vân nhằm
1 Dương Văn An, Ô Châu cận lục, Nxb.Thuận Hóa, 2001, tr.72.
2 Đại Việt sử ký toàn thư, tập III, Bản in Nội các quan bản, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.147.
3 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên, Nxb Sử học, Hà Nội, 1962, tr.44.
Trang 14phục vụ cho ý đồ xây dựng một thực lực kinh tế và quốcphòng đủ sức đương đầu với họ Trịnh.
Một vấn đề lớn đặt ra cho chúa Nguyễn lúc bấy giờ làphải tìm ra một phương cách để tăng tốc trong việc xây dựnglực lượng Quảng Nam có những cửa sông lớn, nhiều cửa biểntốt, tài nguyên thiên nhiên dồi dào, tình hình sản xuất pháttriển khá, đó là những tiền đề thuận lợi cho việc mở rộng giaothương Việc chọn đặt dinh trấn Thanh Chiêm tại ThanhChiêm bên bờ sông Thu Bồn, nằm ngay bên cạnh đường thiên
lý bắc – nam, cách thương cảng Hội An không đầy chụckilômét vào năm 1602 và việc tách Điện Bàn sáp nhập vàotrấn này năm 1604 được coi là cột mốc lịch sử quan trọng,một bước đột phá đầy ý nghĩa mở đường cho một chủ trươngphát triển kinh tế mới
Thị cảng Hội An (Faifo) ra đời từ chủ trương của cácchúa Nguyễn đã nhanh chóng trở thành thương cảng có tầm
cỡ ở khu vực Đông Nam Á suốt từ cuối thế kỷ XVI đến nửađầu thế kỷ XVIII Hội An được xem là hội chợ bán buôntrên "con đường gốm sứ", "con đường hương liệu" Đông –Tây lúc bấy giờ, thực sự đã trở thành một điểm “kinh tế mở”tấp nập và thịnh vượng, tạo ra “chất lượng của sự phát triển”kinh tế - văn hóa Quảng Nam
Bước sang thế kỷ XVIII, Quảng Nam không chỉ là nơi tiếp nhận lưu dân, mà đãtrở thành địa bàn trung chuyển của công cuộc di dân vào nam
Nhiều người "dân có vật lực" ở đây lại tiếp tục cuộchành trình về phương Nam khai phá trên vùng đất Đồng Naitrù phú theo quy luật "đất lành chim đậu" Bằng chứng là khiNguyễn Hữu Kính vào thiết lập bộ máy quản lý hành chính
ở đây, thì số người Việt đã có trên bốn vạn hộ Nếu đemnhân con số này với hệ số 5 (mỗi hộ 5 người), thì đã có200.000 dân từ miền Thuận - Quảng di cư tự do đến sinhsống trên đất thuở ấy về danh nghĩa còn thuộc chủ quyềncủa Chân Lạp
Nhưng rồi những mâu thuẫn của chế độ phong kiếnnhanh chóng xô đẩy cơ đồ của chúa Nguyễn nhanh chóng đivào chỗ suy sụp
Năm 1771, một cuộc khởi nghĩa bùng lên từ đất Tây Sơn, thuộc huyện Phù Ly,phủ Qui Nhơn, do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ khởi xướng kéodài đến 1802 Thời gian 30 năm ấy, địa bàn của phủ Điện Bàn và phủ Thăng Hoa trở
Trang 15thành nơi tranh chấp quyết liệt giữa ba lực lượng: phong trào Tây Sơn, lực lượng củachúa Nguyễn, lực lượng của chúa Trịnh.
c.Từ năm 1802 đến trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời 1930
Khi phong trào Tây Sơn bị thất bại, Nguyễn Ánh tái chiếm lại đất Quảng Nam
và lấy hai phủ Thăng Hoa, Điện Bàn lập thành dinh Quảng Nam Trải qua những têngọi khác nhau, đến năm 1832, vua Minh Mệnh lại quyết định đổi trấn Quảng Namthành tỉnh Quảng Nam
Dưới thời nhà Nguyễn, Quảng Nam mất dần vai trò đầu tàu, trung tâm kinh tếĐàng Trong như thời các chúa Nguyễn và suy yếu khi các vua nhà Nguyễn thực hiệnchính sách "đóng cửa", "bế quan tỏa cảng", "quay lại cắm cúi với thuần nông" trênphạm vi cả nước
Trong thời kỳ đất nước đứng trước nguy cơ bị xâm lược của chủ nghĩa tư bảnphương Tây, Phạm Phú Thứ (sau khi đi châu Âu về) đã cùng với các trí thức tiến bộcùng thời tích cực dâng lên vua nhiều đề nghị cải cách về các mặt giáo dục, kinh tế,quốc phòng, nội chính, đối ngoại Đáng tiếc là những đề nghị canh tân của ông đãkhông được vua tôi triều Nguyễn chấp nhận
Năm Nhâm Dần (1842), ông thi Hương, đậu Giải Nguyên; năm Quý Mão (1843), thi Hội đậu Hội Nguyên đệ tam giáp đồng tiến sĩ, được bổ làm tri phủ Lạng Giang Năm Tự Đức thứ 2 (1849), ông được đề bạt về làm ở Viện Tập hiền rồi ở tòa Kính diên (phòng giảng sách cho vua) Tại đây, vì thấy nhà vua còn trẻ, ham vui chơi
lơ là việc triều chính, ông mạnh dạn dâng sớ can gián nhà vua với lời lẽ thiết tha và thẳng thắn nên ông bị cách chức và bị đày làm lính cắt cỏ ngựa ở trạm Thừa Nông (phía nam kinh thành Huế), vì tội phạm thượng Vậy mà ông vẫn tự tin vào việc làm của mình: Lúc rảnh rỗi đi câu cá, ngắm cảnh, làm thơ nên có biệt hiệu là “Nông giang điếu đồ” (Người câu cá trên sông Nông) và sáng tác tập thơ “Nông giang thi lục” Chuyện này đến tai Thái hậu Từ Dũ Bà hỏi con (vua Tự Đức):
- Ông Phạm dâng sớ khuyên can con, ông ấy được cái gì?
Nhà vua đáp:
- Dạ, ông không được cái gì cả! Nhưng làm bề tôi mà trách cứ vua như thế là quá đáng.
- Thế thì lúc làm lính, ông ta có oán hận gì không?
- Dạ, con không nghe nói gì.
- Thế thì người ấy đáng trọng lắm! Dâng sớ là muốn cho vua làm việc tốt Bị nạn cứ chịu đựng mà không oán hờn Theo mẹ, đó là người chính trực và trung thành Vua Tự Đức nghe ra liền hạ chiếu ân xá, triệu ông về kinh giao cho trọng trách Năm 1854, ông được cử làm tri phủ Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi
Ông khẩn khoản xin vua lựa chọn những thanh niên tuấn túcho xuất dương du học, càng đông càng tốt, học nhiều học gấpkhoa học kỹ thuật tiên tiến của phương Tây để có thể đương đầuvới sự đe dọa của thời cuộc, làm cho dân giàu nước mạnh nhanhchóng Ngày 31-8-1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha nổ súng vàobán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), mở đầu cuộc chiến tranh xâm lượcnước ta Sát cánh cùng với quân đội chính qui của triều đình, là
Trang 16những đội "thân biền binh dõng" của nhân dân xứ Quảng, trong đótiêu biểu là đội Nghĩa dũng hơn 500 người của huyện Hà Đông docựu đề đốc Phạm Gia Vĩnh kêu gọi thành lập, tham chiến tại mặttrận Đà Nẵng, đánh nhiều trận xuất sắc ở Thạc Gián, Thạch Thang,Hải Châu , góp phần đánh bại kế hoạch "đánh nhanh thắng nhanhcủa thực dân Pháp" Trong chiến công to lớn ấy, nhân dân QuảngNam có quyền tự hào là mảnh đất đi đầu trong trận tuyến chốngngoại xâm của dân tộc, là biểu tượng sáng ngời về ý chí bất khuấtcủa nhân dân Quảng Nam anh hùng
Không thể chiếm được Đà Nẵng, quân Pháp kéo vào Gia Định sau đó ra đánhchiếm Hà Nội Triều Nguyễn bất lực không thể lãnh đạo nhân dân tổ chức cuộc chiếnđấu bảo vệ chủ quyền dân tộc Cuối cùng phải ký hiệp ước đầu hàng (1883), chấp nhận
sự thống trị của thực dân Pháp Từ đây, xứ Quảng trở thành trung tâm nóng bỏng củacông cuộc tìm đường cứu nước vô cùng quẫn bách và thống thiết dân tộc Các sĩ phuNguyễn Duy Hiệu, Trần Văn Dư, Phan Bá Phiến bí mật thành lập Nghĩa hội QuảngNam, ra Cáo thị kêu gọi nhân dân đoàn kết chống Pháp, tạo thành một phong tràoquần chúng rầm rộ trong suốt 3 năm (1885-1887)
Bước sang thế kỷ XX, xứ Quảng trở thành nơi gặp gỡ, "liên kết đồng chí" trêncon đường vận động cứu nước của Phan Bội Châu với các danh sĩ Quảng Nam nhưTiểu La Nguyễn Thành, Châu Thượng Văn, Đỗ Đăng Tuyển , để rồi tháng 5-1904,Hội Duy tân chính thức ra đời, dấy lên một phong trào Đông Du nổi tiếng (1904-1908)
Cũng trong thời gian này, bộ ba Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, TrầnQuí Cáp đã khởi xướng phong trào Duy Tân – một học thuyết cứu nước hoàn toànmới mẻ, dựa trên ba trụ cột chính là "Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh" TạiQuảng Nam, nơi khởi xướng và là chiếc nôi của phong trào đã thực hành một cuộc đổimới giáo dục, khơi dậy tinh thần dân tộc, khuyến khích kinh doanh trong mọi tầng lớpnhân dân Từ Quảng Nam, phong trào Duy Tân phát triển rộng ra các tỉnh phía Nam
và lan tỏa đến cả Thăng Long – Hà Nội, trung tâm chính trị - văn hóa của đất nước.Điều đáng lưu ý ở đây là tính phổ cập, tính quần chúng của phong trào xuất phát từtầm nhìn của những người sáng lập với mục đích nâng cao dân trí Nếu như Hà Nội cótrường Đông Kinh nghĩa thục nổi tiếng, thì Quảng Nam có trên 40 trường dân lập, mà
đa số đặt ở nông thôn; nổi tiếng nhất là các trường Diên Phong, Phước Bình, PhúLâm
Và, cũng chính hoạt động của Hội Duy Tân và đặc biệt là phong trào Duy Tân
đã châm ngòi cho phong trào kháng thuế, cự sưu diễn ra vào năm 1908 bắt đầu nhânmột đám giỗ ở làng Phiếm Ái (Đại Lộc), sau đó đã nhanh chóng lan rộng ra khắp tỉnh
và cả 10 tỉnh Trung Kỳ Phong trào kéo dài hơn một tháng trời trên đất Quảng Nam làmột đòn đánh thẳng vào chính sách cai trị thực dân, một phong trào đấu tranh quần
Trang 17chúng đông đảo, quyết liệt nhất trong thời cận đại nước ta, làm lung lay tận gốc chế độthống trị của Pháp ở Đông Dương Tiếp đó, năm 1916, cuộc khởi nghĩa Duy Tân do tổchức Việt Nam Quang phục hội khởi xướng, nhưng linh hồn thực sự của cuộc khởinghĩa là Thái Phiên và Trần Cao Vân
Các phong trào yêu nước của nhân dân Quảng Nam vào cuối thế kỷ XIX và haithập niên đầu của thế kỷ XX kết cục đi đến thất bại, nhưng đó là những viên đá tảngrắn chắc của truyền thống anh hùng, bất khuất trên hành trinh đi đến độc lập, tự do củađất nước và dân tộc
2 Truyền thống Quảng Nam
a Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các giá trị truyền thống Quảng Nam
Quảng Nam - mảnh đất mang ơn dày nghĩa nặng của tổ tiênnhững ngày đi mở cõi Đất và Người Quảng Nam gắn liền vớinhiều giá trị truyền thống tốt đẹp Nếu hiểu truyền thống là thóiquen đã hình thành từ lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, đượctruyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác, thì đương nhiên, truyềnthống Quảng Nam mang sâu sắc trong mình truyền thống cộinguồn dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng mang những đặc tínhriêng do những điều kiện tự nhiên và lịch sử riêng biệt không hoàntoàn giống với cả nước, với các vùng khác, trong đó có những điềukiện rất đặc thù, tác động suốt hàng trăm năm Vì vậy, ngoài nhữnggiá trị truyền thống chung, người Quảng còn tự hào với những đặctính truyền thống riêng Đúng hơn là ở nơi này những truyền thốngchung của người Việt, do những điều kiện riêng, có những sắc thái,giá trị riêng nào đó, những phần đậm nhạt khác nhau với nhữngnơi khác
Các giá trị truyền thống không phải là một cái gì cố định, cósẵn và đứng im, mà hình thành, biến đổi, thăng trầm do những biếnđộng của môi trường và lịch sử Điều ấy càng đúng trong trườnghợp truyền thống con người xứ Quảng, một vùng đất thật sự cómột vị trí tự nhiên độc đáo và một vai trò đặc biệt trong sự pháttriển lâu dài của đất nước và dân tộc Do đó, tìm hiểu những điềukiện lịch sử và tự nhiên tác động đến sự hình thành và phát triểncác giá trị truyền thống Quảng Nam, có thể nhấn mạnh đến 4 yếutố:
*Điều kiện tự nhiên thông qua các quan hệ xã hội hình thành nên một đức tính tương ứng của con người để có thể sống trên vùng đất Quảng Nam.,
là một vùng đất mà sử cũ gọi là "sơn lam chương khí", "ô châu ác địa"
Trang 18Từ phía nam đèo Hải Vân đến Dối Sỏi (Núi Thành) vẫn màuxanh sắc biếc biển trời một vùng duyên hải, lưng dựa vào dãy núidằng dặc như tự thuở nào, nhưng trong chiều sâu của cái dáng vẻ
tự nhiên ấy đã ẩn chứa bao nhiêu biến thiên của lịch sử, vừa có nétriêng, vừa gần gũi trong mối tương quan với các địa phương trong
sự chở che của đất nước
Vị trí của mảnh đất này, về cơ bản không có đồng bằng, cáccon sông quá ngắn và quá dốc không tạo nên những châu thổ đángkể; sông lại ít phù sa khiến đồng ruộng nhanh chóng bị bạc màukhông kịp phục hồi độ phì nhiêu Đất đai canh tác chỉ là một dảiđất hẹp, dài, chạy dọc ven biển, bị biển và núi ép chặt, lại thườngxuyên bị bão tố ác liệt uy hiếp
Ruộng đất ít phù sa, nhanh chóng bạc màu, bão lụt thường xuyên xảy ra Vung đấtnắng lắm mưa nhiều
Khi người Việt vào đây khai phá, gặp ở vùng đất Amaravatinày một thiên nhiên phong phú nhưng hung dữ Rừng rậm đầy thú
dữ bây giờ còn vây kín lấy con người Núi cao, sông gấp, biển đầybão tố, nắng lửa và mưa dầm Lao động lúc bấy giờ là một cuộcchiến đấu thực sự, nhiều khi đẫm máu Thiên nhiên mênh mông,bịt bùng, cưỡng lại, quật trả Lại thêm người Chăm mất đất liên tụcphản kích Người cày ruộng với người lính gần như là một Khắcphục một thiên nhiên như vậy, quả thật mỗi tấc đất khai phá đềuđược thấm mồ hôi và máu con người
Chính điều kiện tự nhiên như vậy đã làm cho con người xứ Quảng vốn cónhiều khó khăn lại càng khó khăn hơn Bởi thế, để sinh tồn và phát triển, họ phải cómột ý chí và nghị lực phi thường để vượt qua thử thách Và, cũng chính điều ấy đã tôirèn, hình thành, quy định nên tính cách, truyền thống của người dân xứ Quảng
*Quảng Nam giữ một vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng trong quá trình mở
nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam
Hẳn là cần nhắc đến lời căn dặn tha thiết năm 1613 củaNguyễn Hoàng trước lúc lâm chung với người con kế nghiệp: "Đây
là đất yết hầu của miền Thuận - Quảng", là "đất dụng võ của kẻanh hùng" Vì chính ông, năm 1602 đã đặt Dinh trấn Thanh Chiêm– thủ phủ kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự ở Đàng Trong và từ
đó suốt thời các chúa Nguyễn, Quảng Nam trở thành vùng đất bản
lề, thành cái đầu cầu vững chắc, trạm trung chuyển chiến lượccung cấp nhân tài, vật lực trong quá trình Nam tiến vào cho đến hếtdải đất hình chữ S của dân tộc
Trước đó, sau đại thắng Trà Bàn của Lê Thánh Tông năm
1471, phần đất được gọi là thừa tuyên Quảng Nam đã trở thành
Trang 19một bộ phận vững chắc của lãnh thổ Việt Nam Tuy vậy, nhiều thậpniên sau đó, nhân dân ở đất này vẫn phải thường xuyên "đươngđầu với rất nhiều hiểm họa, thử thách và rất nhiều thế lực thùnghịch" Đến khi Nguyễn Hoàng dứt khoát "rạch đôi sơn hà", thìquá trình Nam tiến luôn diễn ra đồng thời với quá trình chốngTrịnh Đó là chưa kể đến các cuộc chiến không phải không ác liệtgiữa các Chúa Nguyễn và quân Tây Sơn cũng nhiều lần diễn ratrên đất này Bước vào thời cận hiện đại, xứ Quảng là địa đoạn hội
đủ các yếu tố để thực hành chia cắt chiến lược ngay từ đầu đối vớiđất nước ta và cũng hội đủ những yếu tố để nhanh chóng hìnhthành những căn cứ quân sự liên hợp lớn nhằm duy trì và phát triểnthế chia cắt đó Cho nên, như một tất yếu lịch sử, xứ Quảng đã hailần đứng ra gánh vác vai trò đi đầu đánh giặc và là địa bàn màcường độ ác liệt của cuộc chiến thường bị đẩy lên đến tột độ Do
đó, có thể nói trong suốt nhiều thế kỷ từ ngày hình thành, xứQuảng ít có thời gian nào không có binh đao loạn lạc
Như vậy, trong lịch sử phát triển của đất nước, Quảng Nam đóng vai trò phêndậu ở chốn đầu sóng ngọn gió, là nguồn cung cấp nhân tài vật lực, trạm trung chuyển
và là bàn đạp vững chắc cho công cuộc Nam tiến của dân tộc; là nơi tương tranh giữacác thế lực phong kiến; là trung tâm nóng bỏng của công cuộc tìm đường cứu nước vôcùng quẫn bách, thống thiết; là nơi mở đầu cho những cuộc đụng đầu lịch sử của cảdân tộc với chủ nghĩa thực dân và đế quốc Vị thế đó đã xác lập cho nhân dân xứQuảng những đức tính cần phải có, những giá trị tinh thần không thể thiếu được nhằmbảo vệ sự trường tồn của một vùng đất, độc lập tự chủ của quốc gia dân tộc
*Quảng Nam suốt một thời đoạn dài là nơi tiếp biến các luồng văn hóa để làm sinh nở, phát triển hoặc lắng đọng những chất lượng tinh thần mới, bồi bổ cho chất lượng tinh thần vốn có tự bao giờ
Trước khi trở thành là một đơn vị hành chính của nước Đại Việt, xứ Quảng đã
là địa bàn cư trú xa xưa và là đế đô của nhiều triều đại trong nhiều thế kỷ của Vươngquốc Chămpa Và, dĩ nhiên đây cũng là nơi tập trung tiêu biểu nhất những tinh hoavăn hóa, thành tựu kinh tế cùng nhiều mặt khác nữa của xã hội Chămpa Do đó, trongcuộc đi dài về phía nam, người gốc Quảng Nam đã khám phá ra một nền văn hóa lớnkhác với văn hóa truyền thống mà họ mang theo và chăm chút gìn giữ – văn hóaChămpa Ngay ở buổi đầu khai hoang lập địa đã diễn ra quá trình tụ cư, hỗn cư và hợp
cư của các thành phần nhân chủng khác nhau, có những đặc điểm văn hóa khác nhau;
đó cũng là quá trình giao thoa, tiếp biến văn hóa Việt – Chăm, góp phần tạo nênnhững đặc trưng văn hóa và đặc tính phẩm chất của con người xứ Quảng
Đặc biệt, Đàng Trong, với xứ Quảng, mà Hội An là trung tâm đã lĩnh ấn tiênphong trong việc mở cửa với các nước ngoài, lần này không chỉ là thương mại quốc tếphương Đông mà đã có giao lưu kinh tế văn hóa với phương Tây Ở thế kỷ XVI-
Trang 20XVIII, xứ Quảng thực sự "cận thị, cận giang" hơn hẳn mọi nơi ở miền Trung; kinh tếphát triển, nội – ngoại thương được đẩy mạnh và nhu cầu giao thương của con ngườicàng trở nên bức thiết Tất cả tạo nên một động lực lịch sử chưa từng có, không nhữngđưa đến sự phát triển kinh ngạc về kinh tế mà còn là văn hóa Xã hội xứ Quảng lúcnày thực sự trở thành một xã hội đa sắc tộc, đa văn hóa, với nhân tố nổi bật là khảnăng tiếp nhận, đồng hóa, Việt hóa mạnh mẽ của văn hóa Việt đối với văn hóa ngoạilai Trong lần "mở cửa", "toàn cầu hóa" hết sức sinh động và thành công này, lưu dânđất Việt trên đất này đã biết mở rộng cửa trí và cửa lòng mình để dung nạp, giao thoathay vì bài xích, triệt tiêu văn hóa khác để góp phần hun đúc nên bản lĩnh văn hóa, đểlại dấu ấn sâu sắc trong cách hành xử, ứng biến của con người xứ Quảng
*Con người từ buổi khai phá vùng đất mới.
Hai cuộc chuyển cư lớn vào đất Quảng tập trung nhất là những năm 1470 sauchiến thắng quyết định của Lê Thánh Tông, và sau năm 1600 thời Nguyễn Hoàng vàcác chúa Nguyễn nối tiếp Nhà văn Nguyên Ngọc đã có một nhận xét sâu sắc rằng:quá trình chuyển cư về phía nam của người Việt xuất phát từ động cơ phản ứng xã hội,càng về sau càng trở nên rõ rệt, mạnh mẽ hơn Vào cao điểm của động cơ phản ứng xãhội ấy là đúng vào hai đợt chuyển cư quan trọng nhất của người Việt vào xứ Quảng.Thời Lê Thánh Tông, như một ánh lóe sáng rực rỡ cuối cùng của chế độ phong kiếnBắc Hà trước khi lâm vào rối loạn và suy sụp chưa từng có; và thời Nguyễn Hoàng,hành động ra đi vào Nam là một thứ tuyên bố ly khai xã hội, chính trị, văn hóa côngkhai và quyết liệt Như vậy, những tiên dân đất Quảng đi vào vùng đất mới, nói theocách nào đó, chính là những người đi xây dựng nền văn hóa mới, bao giờ cũng gồmhai mặt: vừa khôi phục những giá trị truyền thống đã bị biến dạng, suy thoái, vừa bổsung thêm những nhân tố mới mẻ do những điều kiện mới đem lại
Trong trạng thái tâm lý bất ổn của di dân người Việt sau khi bỏ lại phía sau quêcha đất tổ ở phía Bắc, vừa bị cuốn hút bởi văn hóa Chămpa, thì các nhà lãnh đạo họNguyễn đã khôn khéo chối bỏ Khổng Giáo (vì những khẳng định của Khổng Giáo cơbản trực tiếp mâu thuẫn với vị trí của họ Nguyễn bị coi là một chế độ ly khai và nổiloạn đối với triều đình) bằng cách sử dụng Phật giáo Đại Thừa – một tôn giáo đa thần.Phật giáo, một mặt đẩy mạnh bản sắc dân tộc của người Việt, mặt khác lại làm lắngđọng các mối lo âu của người di dân, đồng thời thể hiện sự phản ứng mạnh mẽ chốnglại sự suy thoái của xã hội phong kiến Bắc Hà Điều này có giá trị như một cuộc giảiphóng; và chính đây là cơ sở để họ có thái độ tiếp nhận cởi mở, hòa hợp (chứ khôngphải là đồng hóa) với những thành tựu văn hóa khác, nhất là của người Chăm
Thành phần chuyển cư vào đất Quảng rất đa dạng, phức tạp nhưng tuyệt đại đa
số vốn có gốc Thanh Nghệ Tĩnh Đó là người tị nạn tìm nơi trú ẩn sau thất bại chốngxâm lược, các phạm nhân của triều đình nhà Lê, các quan lại, hương khúc, nghĩa dũng
đi cùng với gia đình Nguyễn Hoàng, những trung thần nhà Lê; có người là binh lính,
có kẻ là tù binh hoặc dân bị lùa đi khỏi quê cũ đưa đến vùng đất mới trong chiến tranh
Trang 21Trịnh – Nguyễn Như vậy, một cấu thành nổi bật của tiên dân Quảng Nam là mangrất đậm chất "bình dân", "ương ngạnh", họ chủ yếu gồm những tầng lớp dưới của xãhội cũ, những người lao động nghèo khổ và có số phận hèn kém nhất trong xã hội đó.
Cả những người lãnh đạo và cai trị họ cũng nhiều người có thân phận khá gần với họ,hoặc ít nhất chịu ảnh hưởng của họ
Mỗi giá trị tinh thần được cấu thành và xây dựng nên không chỉ chịu sự chiphối của hoàn cảnh địa lý – tự nhiên mà còn là tâm lý – tập tục các thế hệ người nốitiếp theo dòng lịch sử, sự vận động của phương thức sản xuất và điều kiện phát huytiềm lực dân trí, dân khí, gắn liền với địa danh Nếu hiểu như vậy, thì gốc gác, "tâmthế văn hóa" của người thủy tổ xứ Quảng cũng là nhân tố tác động đến sự hình thànhcác giá trị truyền thống Quảng Nam
b.Giá trị truyền thống Quảng Nam
* Yêu nước
Truyền thống yêu nước của con người xứ Quảng thể hiệnđặc trưng của tư tưởng và hành động yêu nước của Việt Nam.Các đặc trưng ấy, xét cho kỹ, đều là nét phổ biến nhất, tốt đẹpnhất, cao quý nhất của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam nói chung.Tuy nhiên, tình cảm và tư tưởng yêu nước người Quảng sinh nở
và phát triển trong những điều kiện cụ thể riêng của mình, mangđường nét, thực chất và tác dụng đặc sắc
Truyền thống yêu nước Quảng Nam được củng cố bởi vô số những cuộc khởinghĩa chống đô hộ và nhiều cuộc kháng chiến chống ngoại xâm Ở mảnh đất này, chủnghĩa yêu nước được phát huy đến mức cao độ, trở thành sức mạnh vật chất, một thứ
vũ khí tinh thần cực kỳ sắc bén đưa họ vượt lên những thử thách toàn diện và ghê gớmnhất để đánh thắng kẻ thù Tiêu biểu nhất đó là những cuộc đối đầu không cân sức với
kẻ thù Chỉ có ghe ô, ghe chu, trang bị nhiều lần thua kém địch, người Thuận Quảngbằng tinh thần quyết chiến mạnh mẽ đã lao vào đốt cháy tàu De Wijdenes, buộc haicon tàu phải tháo chạy năm 1643 Hay ngay trong cuộc chiến hồi đầu thế kỷ XIX, trậntiến công Đà Nẵng là trận duy nhất liên quân Pháp – Tây Ban Nha đã sử dụng toàn bộ
2350 quân có ở Phương Đông, cùng 16 chiến hạm, 2 tàu vận tải, trong đó riêng chiếnhạm Memedit trang bị đến 50 đại bác nhưng sau 5 tháng vẫn không tiến lên được; vàđây là trận thắng duy nhất, trước nhất trong cuộc chống trả của triều đình hồi đó Đặcbiệt, trong chống Mỹ, sau năm 1954, xứ Quảng là một trong những địa bàn hoạt độnghung dữ nhất của bọn Quốc dân đảng phản động, nơi thể nghiệm trước tiên, quyết liệt
và để lại hậu quả nghiêm trọng của chính sách "tố cộng, diệt cộng" của kẻ thù; trongchiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", nơi đây trở thành trọng điểm đánh phá vớimức cao nhất cả về mật độ và cường độ Đứng trước nhiệm vụ lịch sử nặng nề tưởngchừng như quá sức gánh vác của mình, thì, bởi sẵn lòng yêu nước nồng nàn, bởi biếtchung sức với nhau, bởi mưu trí sáng tạo mà họ đã vươn lên mau chóng cho kịp nhậnlãnh nhiệm vụ gánh vác và trấn giữ Cũng có lẽ vì thế mà sự hi sinh của con người xứ
Trang 22Quảng trong chiến trận thường nhuốm màu bi tráng, đó là những cái chết tiến công,làm lịch sử dân tộc những giờ phút trầm luân vẫn tràn đầy chính khí Những con số:một tỉnh có đến 64.000 liệt sĩ và 7.289 Bà mẹ Việt Nam anh hùng (riêng huyện ĐiệnBàn là 14.836 liệt sĩ và 1.618 Mẹ); huyện Điện Bàn có 97/144 thôn bị cày ủi, tàn phágần như sạch; một xã Bình Dương (huyện Thăng Bình) có 4.700 người chết, chiếm6/10 dân số xã; một xã Điện Nam (huyện Điện Bàn) có “nhiều cái nhất nước”: 198 Bà
cả đã nói lên phẩm chất, truyền thống của Quảng Nam, đồng thời cũng phản ánh tínhchất khốc liệt của chiến trường này trong cuộc trường chinh ròng rã suốt 30 năm
Một chủ nghĩa yêu nước hết sức rắn rỏi, kiên trì ngấm rất sâu, rất lâu trên đấtnày đã tạo lập ý thức chính trị hết sức đặc biệt từ hàng sất phu đến kẻ dân thường Hếtthảy họ đều có ý thức trách nhiệm cao đối với cộng đồng, đối với đất nước, dân tộc.Coi vận mệnh đất nước cao hơn cuộc đời của chính mình, của gia đình vợ con mình,
đó là lẽ sống dứt khoát trở thành đương nhiên ở đây Cho nên trong cuộc đấu tranhgiải phóng ở đây luôn có sự tham gia đông đảo, khẳng định vai trò tích cực của nhândân Cuộc kháng sưu thuế năm 1908 là một minh chứng hùng hồn: nếu như Bắc Kỳ,phong trào và tư tưởng Duy tân chủ yếu ảnh hưởng trong tầng lớp sĩ phu, thì cũng tưtưởng ấy khi cấy vào lòng dân Quảng Nam nó lập tức trở thành một cuộc bạo độngchính trị của dân nghèo, vượt ngoài dự kiến của những người chủ xướng duy tân, pháttriển hầu như hoàn toàn độc lập theo quy luật riêng của nó Trong chống Pháp, khiquân Pháp giáp mặt với thế trận thiên la địa võng với các làng kháng chiến liên kếtnhau một cách tự nhiên rất đặc thù trên đất này đã phải kinh ngạc thốt lên rằng "ở đâymỗi người dân là một bức tường, thậm chí đến đứa trẻ cũng là một cái mắc lưới đángsợ" Thời chống Mỹ, thế trận lòng dân được hình thành khắp địa bàn nông thôn xứQuảng, từ "căn cứ lõm" ở vùng địch, "vành đai diệt Mỹ" ở vùng ven đến "bốn bám" ởvùng giải phóng, tồn tại xuyên suốt bất chấp sự đánh phá thâm độc tàn ác của kẻ thù,tạo nên một hiện tượng lạ lùng: trên đất này khi hầu như mỗi người dân đều trở thànhmột người lính thiện chiến lão luyện đang "ém" sẵn để tiêu diệt đối phương
Một môi trường nhân dân như vậy quả thật đã tạo nên đất dụng văn võ lý tưởngcủa những "nhân kiệt" Hoàng Diệu, Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu, Trần Quý Cáp,Nguyễn Thành, Châu Thượng Văn, Trần Cao Vân, Phan Châu Trinh, Huỳnh ThúcKháng, Lê Cơ, Võ Chí Công, Nguyễn Văn Trỗi, Phạm Tứ, Hồ Nghinh Họ là tinhhoa của đất Quảng, đồng thời cũng là tinh hoa của dân tộc Tôn vinh cuộc đời và sựnghiệp của họ cũng chính là tôn vinh một chủ nghĩa yêu nước hoàn toàn trong trắngkhông gợn một hạt bụi danh vị và tư lợi nào; là xưng tụng một tinh thần phục vụ vôđiều kiện cho Tổ quốc và đồng bào mình Tấm lòng yêu nước đạt đến mức nồng nhiệtđáng quý ấy, thật hiếm thấy!
* Hiếu học và học giỏi
Khi nói tới truyền thống Quảng Nam, thì chuyện học là một trong những đề tàiluôn được nhắc đến Trong lịch sử giáo dục và khoa cử Việt Nam dưới thời nhà
Trang 23Nguyễn, sĩ phong Quảng Nam đã xác lập được cho quê hương một truyền thống họchành và đỗ đạt không thua kém các nôi học hành khác trong cả nước Chỉ tính từ khoathi Hương đầu tiên của nhà Nguyễn được tổ chức vào năm 1807 cho đến khoa thiHương cuối cùng của triều đại này vào năm 1918, Quảng Nam đã đỗ được 253/5.244
cử nhân của cả nước và khoảng 400 tú tài Về thi Hội, trong 39 khoa thi của triềuNguyễn, Quảng Nam có 39 vị đỗ đại khoa gồm 1 hoàng giáp, 14 tiến sĩ và 24 phóbảng Bước qua thời hiện đại, vùng đất này tiếp tục sản sinh cho cả nước nhiều trí thứcnổi tiếng, luôn dấn thân, đồng hành cùng dân tộc: Phan Thanh, Phan Bôi, Hoàng Tụy,
thống hiếu học và học giỏi ấy đã kết tinh và được học giới cả nước ghi nhận quanhững danh xưng như "địa linh nhân kiệt", "đất học", "ngũ tử đăng khoa", "ngũ phụng
tề phi", "tứ hổ", "tứ kiệt", "phụ tử đăng khoa"…
Nhà nghiên cứu Nguyễn Q.Thắng ghi lại:
“ “Khoa Mậu Tuất 1898 tỉnh Quảng Nam có 5 thí sinh đều trúng kỳ thi Hội và thi Đình nên được vua Thành Thái (1979–1854) ban tấm biển ghi 4 chữ "Ngũ phụng tề
phi" (Năm con phụng cùng bay) nhằm chúc, tặng cho các sĩ tử nói chung và học trò đất Quảng thuở ấy học giỏi”.
5 Người Phạm Liệu, Phan Quang, phạm Tuấn, Ngô Chuân , Dương Hiển Tiến
Ngoài ra, đất Quảng Nam còn có TỨ KIỆT và TỨ HỔ
1._ Khoa Tân Sửu (1901) 4 vị đỗ Phó bảng đồng khoa và đồng hương là ông Nguyễn Ðình Hiến (Trung Lộc,Quế Sơn), Ông Nguyễn Mậu Hoán (Phú Cốc,Quế Sơn), Ông Võ Vỹ (An phước,Thăng Bình), Ông Phan Châu Trinh (Tây Lộc,Tiên Phước) mà dân gian thường mệnh danh là ” TỨ KIỆT “
2._ Trong 4 khoa thi Hương liên tiếp là khoa Ðinh Dậu (1897), khoa Canh Tý (1900), khoa Ất Mão (1903), khoa Mậu Ngọ (1906), có 4 vị đỗ thủ khoa là: ông PhạmLiệu (Trừng Giang, Ðiện Bàn), ông Võ Hoành (Long Phước, Duy Xuyên ), ông
Nguyễn Ðình Hiến (Trung Lộc,Quế Sơn ), ông Huỳnh Hanh tức Huỳnh Thúc Kháng (Thanh Bình,Tiên Phước) mà dân gian thường mệnh danh là ” TỨ HỔ “ Như vậy:
* Ông Phạm Liệu vừa là “Ngũ Phụng Tề Phi” vừa là ” Tứ Hổ “
* Ông Nguyễn Ðình Hiến vừa là ” Tứ Kiệt ” vừa là ” Tứ Hổ
Hiếu học là truyền thống, nền nếp xưa nay của đất Quảng, đã thấm vào từng tếbào làng, xã Cách đây hơn một thế kỷ, sử triều Nguyễn đã nhận xét Quảng Nam làmột vùng đất "học trò chăm học hành, quân tử giữ phận mà hổ thẹn việc bôn cạnh" và
"núi sông thanh tú nên nhiều người có tư chất thông minh dễ học" (Đại Nam nhấtthống chí) Trong sự học của người Quảng cũng có điều rất đáng chú ý: họ học vì lòngham chiếm lính cái mới, chiếm lĩnh tri thức Bởi, ở một vùng đất mới, một thế giới là
lạ với quê cũ nên họ phải ham học, có cái nhu cầu đòi học Học trở thành bổn phận màmỗi thành viên tự ý thức rõ, luôn nỗ lực vươn lên và đó gần như là con đường duy
Trang 24nhất để thoát nghèo trên mảnh đất này Nên dù nghèo khó đến mấy người nông dânQuảng Nam vẫn cố gắng cho con đi học, ít ra là "học dăm ba chữ để làm người" Vìvậy, xét đến cùng, việc học là biểu hiện cụ thể của ý chí, nghị lực, nhu cầu con ngườimuốn vượt qua khó khăn đói nghèo để vươn lên làm chủ cuộc sống của mình Mặtkhác, hiếu học còn là một trong những đức tính cần thiết của con người để có điềukiện hiểu biết, khám phá và sáng tạo Được sự quan tâm chu đáo của gia đình, dòng
họ, làng xóm nên việc học, khuyến học trên vùng đất này phát triển rất mạnh; từ xaxưa đã có nhiều làng khoa bảng nổi tiếng ở khắp vùng trong tỉnh như Bảo Châu, MãChâu, Xuân Đài, Đông Bàn, Minh Hương, Hà Lam, Trà Kiệu, Chiên Đàn…
Nhiều nhà khoa bảng Quảng Nam dù "công thành danh toại" vẫn trọn đời giữđược nhân cách, tiết tháo của kẻ sĩ Đối với họ, mục đích của việc học không phải là
để vinh thân phì gia, mà là để thi thố tài năng, giúp nước, cứu đời Ngược lại, một khichính sự nhiễu nhương, thì hơn ai hết họ ý thức rất rõ "quan trường chỉ là nô lệ trongđám nô lệ nên lại càng nô lệ hơn" Do vậy, cho dù đỗ đạt họ vẫn sẵn sàng từ chối việclàm quan như các tiến sĩ Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quí Cáp; phó bảng Nguyễn VănDục; tú tài Nguyễn Đạo; các cử nhân Nguyễn Doãn Thành, Phan Thúc Duyện,Nguyễn Khải, Lê Bá Trinh, Phan Thành Tài Còn những vị đang làm quan thì lấy lý
do về quê nuôi cha mẹ già để xin từ quan, như Tổng đốc Hà Nội Lê Đỉnh Trác, Hànhtẩu Bộ Lễ Phan Châu Trinh Và, phần lớn họ đi với nhân dân chống giặc, sẵn sàngchấp nhận sự tù đày, chết chóc và ngời sáng cùng sử xanh Người đậu cao nhất trong
số nho sĩ đất Quảng là Hoàng giáp Phạm Như Xương (dưới triều Nguyễn không cóhọc vị Trạng nguyên), vì yêu nước mà tên ông trên bia đá bị đục sạch Phó bảngNguyễn Duy Hiệu dựng cờ Cần Vương tại quê nhà với lời hịch văn thân hào sảng cổ
võ sĩ dân, để tránh sự tổn thất không cần thiết của phong trào đã tự nộp mình cho giặc,dứt khoát không chịu đầu hàng giặc Phó bảng Hoàng Diệu cầm quân chống cự vàtuẫn tiết với thành Hà Nội, khiến giặc Pháp run sợ và sĩ tử Hà thành nghiêng mìnhkính phục Tiến sĩ Trần Quý Cáp tuổi trẻ, thông minh, nổi danh chốn khoa trường,nhưng không ra làm quan mà dốc lòng canh tân đất nước để đuổi giặc thì bị thực dân
và tay sai khép vào tội "đại phản nghịch", chẳng cần biết có hay không có chứng cứ,
đã mang ông đi chém ngang lưng Tiến sĩ Huỳnh Thúc Kháng dứt khoát không ra làmquan mà tham chính theo cánh riêng mình để tiếng nói có trọng lượng trên báo TiếngDân, Viện dân biểu làm phên dậu cho dân chúng nung nấu lòng yêu nước chờ thờichống giặc Phó bảng Phan Châu Trinh uyên thâm Hán học, tinh thông tri thức Á – Âuđương thời, là một "nhà cách mạng đầu tiên" (đánh giá của tiến sĩ Huỳnh ThúcKháng) của Việt Nam…
* Sáng tạo, nhanh nhạy trong tiếp thu cái mới
Phải khẳng định rằng bản chất, nguồn gốc của con người xứ Quảng là đổi mới,
đi tìm cái mới Bởi con người Quảng Nam sinh ra từ sự thay đổi – mà là thay đổi rấtlớn, hoàn toàn ở vùng đất mới Khi những lưu dân đi vào đất này, họ bắt đầu chuyểnđổi môi trường sống, cách sống và cả số phận mình Cho nên khả năng thích ứng được
Trang 25rèn luyện nhiều, họ phải luôn trong tâm thế đón nhận cái bất ngờ, khống chế và làmchủ nó Hơn thế nữa, ngay từ đầu và liên tục sau đó, xứ Quảng còn là cánh cửa tiếpxúc chủ yếu của đất nước với thế giới Đó là văn hóa Chămpa bản địa, với "văn hóangoại thương" Trung Hoa, Đông Nam Á, Ấn Độ và cả với "một nhân loại khác"phương Tây Đặc biệt, suốt thế kỷ XVII-XVIII, thương nghiệp trở thành nhân tố chủyếu thúc đẩy kinh tế phát triển, làm thay đổi cả quán tính lịch sử và tập tính con ngườitrên vùng đất này Tất cả nó hun đúc nên một truyền thống sáng tạo, cập nhật, hay nóicách khác là một tư duy rất động ở con người Quảng Nam.
Người Quảng nhạy cảm với cái mới, dám thay đổi, không ngại và thường mởđầu, khai phá, cách mạng "Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm" (hay "đà thắm") rất
có thể là nói về tính nhạy cảm với cái mới của người Quảng Khát khao cái mới nhưđất hạn khát mưa, háo hứt hút ngay từ giọt nước đầu tiên Thậm chí là khi chưa thật sự
có giọt nước nào, chưa thật sự mưa, đã háo hức hóng về mưa, cảm nhận ra nó rất sớm,chờ đón nó nồng nhiệt Họ tham cái mới, muốn biết ngay lập tức cái mới, tháo mở nó
ra, xem xét, khám phá, chiếm lĩnh Hãy nhìn kỹ lại, trong tiếp nhận các luồng văn hóakhác, người Quảng luôn lắng đọng lại những lớp trầm tích riêng biệt; họ đã học vănhóa, kinh nghiệm sống, sản xuất và chiến đấu từ người Chăm, học buôn bán của ngườiTàu, học khoa học kỹ thuật, văn hóa của phương Tây
Nhạy cảm tiếp thu cái mới, người Quảng cũng thường là người có gan dám làmcái mới Hay nói khác hơn là có những con người và hành động phá cách; tức là làmngược lại, làm trái, làm ra ngoài cái đã thành thói quen, quy cũ Phạm Phú Thứ làngười đầu tiên thấy rõ nhất yêu cầu sống còn phải học khoa học kỹ thuật hiện đại củathế giới, và vô cùng tha thiết đem những hiểu biết mới mẻ, thiết thực ấy đến cho đồngbào mình Nguyễn Duy Hiệu lập riêng hẳn một triều đình, một Tân Tỉnh mà ngay bọnthực dân đánh giá như "lập một nước" Phan Châu Trinh và những đồng chí của ôngdứt khoát "đặt dân quyền lên ngai vàng" (chữ Nguyễn Văn Xuân), thực hành cuộc
"cách mạng tân văn hóa" (chữ Hoàng Xuân Hãn) một cách triệt để, mang tính mới lạ,cập nhật nhất và theo đuổi chủ kiến đó đến cùng Võ Chí Công và các đồng chí củamình nhạy bén thay đổi phương pháp khởi nghĩa sát hợp với Quảng Nam trong Cáchmạng Tháng Tám năm 1945, kiên quyết ủng hộ khởi nghĩa Trà Bồng năm 1959, quyếtđoán về việc đánh ngay giải phóng Đà Nẵng năm 1975, dũng cảm tán thành "khoánchui" vào "đêm trước đổi mới" Phan Khôi với "Tình già" phá cách và là người đầutiên tạo nên Thơ Mới Hồ Nghinh mạnh dạn sáng tạo làm thủy lợi hóa trước khi phảihợp tác hóa (tức giải quyết quan hệ sản xuất) Đó là những con người và những hànhđộng dám phá cách, sáng tạo tiêu biểu nhất ở vùng đất mở Có được những điều ấy,đương nhiên họ là những người am hiểu thực tế, có dũng khí và hơn hết là lòng trongsáng vô tư, tâm huyết lớn đối với lợi ích của nhân dân và dân tộc
Chính đặc tính sáng tạo ấy mà phải chăng Quảng Nam không chỉ cống hiến chođất nước những hào kiệt và anh hùng, mà còn có cả những chiến sĩ tiên phong, nhữngtrí tuệ lớn, mang tính khai mở, những nhà giáo dục, nhà báo đặc sắc Trước kia, đó là
Trang 26nhiều ông thầy được giao trọng trách dạy những người sẽ làm vua (Trần Văn Dư,Nguyễn Duy Hiệu, Nguyễn Đình Tựu ); gần hơn, là những người đả phá kịch liệtnhất lối học từ chương, khoa cử, giáo điều cũ kỹ và đề xướng lối học mới (Phạm PhúThứ, Phan Châu Trinh, Lê Cơ ); gần hơn nữa, là những nhà canh tân thực hành (VõDiễn, Lê Văn Căn ), là những nhà báo tinh tế mà phóng khoáng (Huỳnh Thúc Kháng,Bùi Thế Mỹ, Phan Khôi )
* Cần cù
Trong hành trình vươn dài lãnh thổ về phương Nam, tiên dân xứ Quảng khôngphải chỉ mang gươm mà chủ yếu là mang cuốc cày đi mở cõi Cách thức khai phánhững vùng đất mới trong thời kỳ này là theo phương thức bán quân sự: các điểm khaiphá được tổ chức thành các tiền đồn di dân, thành viên ở đây là các nông binh, lúc yênthì vỡ đất cày ruộng, khi động thì trở thành chiến binh cầm vũ khí chiến đấu Đầu đội,vai gánh, lưng cõng, tay súng tay bừa, vừa làm ruộng vừa chống giặc, chống thú dữ,đối phó với thời tiết ác nghiệt Tất cả không thể không dồn tụ trong tính cách conngười nơi đây đậm đặc một truyền thống cần cù Tất nhiên khí chất cần cù vốn là đặcđiểm của lao động tiểu nông, của dân tộc Việt Nam nhưng xứ Quảng càng "tiểu nông"hơn nữa vì phải sống trên một vùng đất khá nghèo
Một biểu hiện trong khí chất cần cù trong con người xứ Quảng là sự gan lì vượtkhó khăn, tinh thần độc đảm rất cao, ý chí tiến thủ mạnh mẽ Đối với những con ngườinhư vậy, gian khổ, trở ngại không khiến họ sợ hãi, thoái chí hay rối ren, trái lại càngkích thích sự can trường và trí sáng tạo của họ, tạo nên sức mạnh hoàn thành những kỳtích lao động lắm khi lạ lùng Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đất Quảng
là một trong những nơi bị địch đánh phá nặng nề nhất miền Nam nhưng họ vẫn xâydựng được nền kinh tế tự túc, phục vụ tốt cho kháng chiến đến ngày thắng lợi Hòabình lập lại, xứ Quảng đã không một ngày ngưng nghỉ, lao vào cuộc chiến đấu nghèođói với một khí thế bừng bừng và đã làm nên những kỳ tích thật phi thường: đưa diệntích canh tác trong toàn tỉnh lên gấp 2 lần, từ 57.000 ha lên 122.000 ha và trong banăm đưa sản lượng lương thực tăng gấp 3 lần, từ 15 vạn lên 45 vận tấn Vẫn với khíthế anh hùng, chỉ trong một thời gian rất ngắn, hàng chục vạn lao động được huy động
và tổ chức rất tốt, xây dựng thành công trên 30 công trình thủy lợi lớn và vừa, trong
đó nổi bật là công trình Phú Ninh, cho đến nay vẫn được coi là một trong những côngtrình đại thủy nông có hiệu quả nhất trong cả nước
Truyền thống cần cù, xét ở mặt nào đó còn thể hiện ở việc dư thừa sự quyết liệttrong tư tưởng, cứng cỏi trong hành động Họ luôn quyết thực hiện cho bằng đượcviệc đã định, sự nghiệp đã quyết, đi đến cùng ý hướng đã chọn; thậm chí họ còn có xuhướng thích nhận những việc khó, chưa có giải pháp, khó khăn, hiểm nguy để ra taytháo gỡ, thi thố tài năng Đồng thời, ở đất này, gắn với sự chăm chỉ, bền gan là thóiquen giản dị, thiết thực, tiết kiệm, ăn chắc mặc bền Đến tình yêu của người Quảngcũng là tình yêu chất phát, đằm thắm mà mạnh mẽ, "muối mặn gừng cay" Giữa sự tằn
Trang 27tiện, có khi đến hà tiện, keo kiệt, với sự hết mình trong tình thương, tình yêu, là chẳng
có gì mâu thuẫn
* Nhân nghĩa
Trên ngọn giáo của những tiên dân "tòng binh lập nghiệp" ở vùng đất mớikhông phải lúc nào cũng đằng đằng sát khí, cường lực của quân chinh phạt mà ắt đòihỏi một cách ứng xử mới với một nền văn hóa hoàn toàn "dị văn" của những người "dịchủng", ít nhất là qua những cái nhìn đầu tiên Sử sách và đặc biệt là văn học dân gian,kiểu lịch sử hồn nhiên và trung thực nhất, không hề nói đến một cuộc đàn áp hay xungđột đẫm máu nào Những người Việt từ phía Bắc chuyển cư vào đất Quảng chungsống hòa mục rất đặc biệt với người Chăm bản địa Có thể tìm thấy nhiều bằng chứng
cụ thể về sự hỗn dung tín ngưỡng Việt - Chăm Ở đình làng Hương Quế (xã Quế Phú,huyện Quế Sơn), người Việt xây miếu trùm lên các tượng "Bà Vú" (tức tượng nữ thầnAspara có bộ ngực lớn) và tượng Bò thần Nandin của một di tích Chăm, biến thầnChăm thành thần Việt để thờ Ảnh hưởng văn hoá Chămpa cũng được biểu hiện trong
âm nhạc qua các điệu Bài Chòi, Bá Trạo, điệu Lý, điệu Hò Điều đó cũng góp phần
lý giải vì sao, người Chăm dễ dàng chấp nhận những mất mát mà lịch sử gây ra với
họ Như vậy, ngày từ đầu vào vùng đất này với tư thế là người chiến thắng, nhưng tiêndân xứ Quảng đã có một mô thức ứng xử văn hóa tối ưu và nhân nghĩa
Nói theo cách nói của người xưa, thì nhân là lòng người, nghĩa là đường đi củalòng người Nghĩa ở đây là lẽ phải, đấu tranh cho lẽ phải, lấy lợi ích chung trên lợi íchriêng, vì đại nghĩa mà dám hy sinh cá nhân cho đất nước Ở mảnh đất này, truyềnthống nhân nghĩa không chỉ được biểu đạt đầy đủ theo nội dung ấy mà còn nổi bật lênvới quan điểm vì dân đậm đà, sâu xa Lòng thương dân là một động cơ tinh thần thúcđẩy người lãnh đạo, người đứng đầu hành động theo nguyện vọng chung của nhândân Họ gần gũi, gắn bó, hiểu sức mạnh của nhân dân, tin nhân dân Nhân nghĩa vớingười Quảng gắn liền với thương dân, trọng dân, gần dân Hãy soi nhìn lại một sốtrong những nhà chính trị lớn: Vị đại tướng kinh bang tế thế Thoại Ngọc Hầu dù đã làquan bảo hộ cao nhất đại diện triều đình Việt trên đất Cao Miên vẫn quan tâm đến việcnhỏ cho dân ở làng Hà Thân bên bờ sông Hàn; Phan Châu Trinh dựng cờ dân quyền,gióng trống tân dân và là người đi đến với tư tưởng về Dân nhanh nhất, sớm nhất, kiênquyết dứt khoát nhất; Huỳnh Thúc Kháng tham chính trên tờ báo mang tên "TiếngDân" làm phên dậu cho dân chúng nung nấu lòng yêu nước; Lê Cơ thực hành canh tântheo cơ chế dân chủ theo kiểu "Dân ước" của Rousseau ngay tại làng quê mình; HồNghinh, Bí thư Đặc khu ủy Quảng Đà thời "Việt Nam hóa chiến tranh" đã xem "bíquyết" sống còn của cách mạng lúc này là đi vào dân, tin dân và phải kiên quyết bámdân; Lưu Ban dưới "ánh điện lòng dân" đã luôn chăm lo quyền lợi thiết thực củangười dân trên đất Công giáo lâu đời nhất xứ Quảng Lòng thương dân, tin dân chânthành, sâu sắc ấy để lại bài học nhắc nhớ chúng ta trong bối cảnh hôm nay: "việc nhânnghĩa cốt ở an dân"
Trang 28Rất khó để có thể trình bày hết các giá trị truyền thống (mặt tốt đẹp, ưu điểm)
cũng như mọi khía cạnh trong từng giá trị truyền thống của con người xứ Quảng.Song, nội dung được trình bày trên đây có thể được xem là những nét nổi bật, nhữngsắc thái, những giá trị riêng tiêu biểu nhất của truyền thống con người Quảng Nam
Và, cũng có thể xem đây là những lời bàn, ngỏ hầu góp thêm một tiếng nói, một cáchnghĩ về truyền thống của một vùng đất, để hôm nay giữ gìn, tiếp nối và sống sao choxứng đáng với truyền thống cha ông mình
Bài 2 LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ QUẢNG NAM (1930-2005) I.ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NAM RA ĐỜI VÀ LÃNH ĐẠO
ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG (1930-1945)
1.Sự ra đời của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Nam
Các cuộc khởi nghĩa vũ trang, các phong trào đấu tranh yêu nước, đòi dân sinh,dân chủ, các cuộc vận động cải cách xã hội xảy ra trong tỉnh vào những năm cuối thế
kỷ XIX và hai thập kỷ đầu thế kỷ XX đều thất bại Cũng như tình hình chung của cảnước, sự thất bại của các phong trào yêu nước của nhân dân Quảng Nam phản ánh sựkhủng hoảng về vai trò lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến đối với xã hội nước ta
Trong bối cảnh đó, ở Quảng Nam bắt đầu xuất hiện một số tổ chức quần chúngyêu nước, tập hợp lực lượng trẻ như Hội trí thức thể thao ở Tam Kỳ (1925), Hội ái hữulái xe miền Trung (1926)… Các cuộc vận động cách mạng trên địa bàn tỉnh tiếp tụcbùng nổ với một ý chí, khát khao độc lập tự do mãnh liệt Phong trào đòi thực dânPháp thả cụ Phan Bội Châu (1925), phong trào để tang cụ Phan Châu Trinh (1926),các cuộc bãi khoá của học sinh Đà Nẵng (1926), Hội An (8-1927); các cuộc đấu tranhđòi tăng lương của công nhân mỏ vàng Bồng Miêu, đồn điền lúa An Hòa (1920), côngnhân làm đường Phước Hội (4-1925)… càng hâm nóng bầu không khí chính trị trongtoàn tỉnh
Với sự trưởng thành của các lực lượng xã hội mới, bên cạnh lực lượng côngnhân tập trung ở các đô thị lớn là tầng lớp trí thức tiểu tư sản Họ là tầng lớp nhạy bén,
có khả năng và điều kiện tiếp thu các luồng tư tưởng mới Vào những năm 1925-1927,các sách báo tiến bộ lưu hành ngày một nhiều như: Chuông rè, An Nam, Thực nghiệpdân báo, Hữu Thanh, Tiếng Dân, Pháp Việt nhất gia Các tác phẩm nổi tiếng như
Trang 29Chiêu hồn nước của Phạm Tất Đắc, Tiếng quốc kêu của Việt Quyên, Một bầu tâm sựcủa Trần Huy Liệu đã phần nào phản ánh khát vọng tự do, dân chủ và yêu nước củanhân dân, được đông đảo thanh niên ham mộ, tìm đọc Sách báo cùng những hoạtđộng văn hóa tiến bộ đã trở thành chất men, một động lực quan trọng thúc đẩy caotrào đấu tranh yêu nước, đòi tự do dân chủ trong những năm 1925-1927 ở nước ta.
Khi phong trào yêu nước trong tỉnh có bước phát triển, yêu cầu phải hình thànhmột tổ chức cách mạng, không chỉ hoạt động yêu nước mà phải là tổ chức chính trị cóđường lối cứu nước rõ ràng được đặt ra một cách bức thiết Đáp ứng yêu cầu chính trị
đó, các tổ chức tiền thân của Đảng xuất hiện ở Quảng Nam
Hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên
Khi nói về sự ra đời của tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở QuảngNam, phải nhắc đến Nhà hội Quảng Nam ở Huế Học sinh đất Quảng học bậc trunghọc tại Huế thường ăn ở tại Nhà hội Quảng Nam Ngày 7-4-1927, lần đầu tiên tại Huế
đã bùng nổ phong trào bãi khóa của học sinh toàn miền Trung, học sinh Quảng Namđang học Quốc học Huế tích cực tham gia bãi khóa để chống lại sự phản động củanền giáo dục thực dân Nhà hội Quảng Nam trở thành trung tâm chỉ huy và lãnh đạocuộc bãi khóa Truyền đơn đòi “nhà nước phải sửa đổi chương trình giáo dục nhồi sọ”,
“thả ngay học sinh Quốc học bị bắt”, “không được đánh đập học sinh” được rải khắpnơi trong thành phố
Thực dân Pháp đàn áp, bắt bớ nhiều học sinh Nhà hội phải giải tán Học sinhQuảng Nam mỗi người đi mỗi ngả Một số người như Đỗ Quỳ (Quế Sơn), Lê QuangSung (Duy Xuyên) còn ở lại để thanh toán sổ sách tiền nong Chính vào thời gian này,
Sung đã tự nguyện tham gia tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên
Từ sau khi Đỗ Quỳ và Lê Quang Sung được kết nạp vào Hội Việt Nam Cáchmạng Thanh niên ở Nhà hội Quảng Nam tại Huế, Ban vận động thành lập Hội ViệtNam Cách mạng thanh niên Chi hội Quảng Nam chính thức được thành lập, gồm ĐỗQuang, Đỗ Quỳ, Lê Quang Sung, Phan Long, Thái Thị Bôi
Cùng với việc tổ chức in và phổ biến tuyên truyền cuốn Đường cách mệnh củaNguyễn Ái Quốc, việc phát triển hội viên diễn ra khá nhanh Đến tháng 9-1927, ở ĐàNẵng Chi hội Việt Nam Cách mạng thanh niên đã được thành lập do Đỗ Quang làm Bíthư Ngoài ra, còn có một tổ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên do Nguyễn Tường
1 Người "gieo hạt giống đỏ" - Đỗ Quang sinh năm 1901 tại làng Lộc Thượng, tồng Thuận An, nay là
xã Quế Long, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam Thuở nhỏ, đồng chí học ở trường tỉnh, ra Hà Nội học ở trường Cao đằng Thú y Sau khi tham gia tổ chức cách mạng, Đỗ Quang được cử sang Quảng Châu (Trung Quốc) vào cuối năm 1926, dự lớp huấn luyện chính trị của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc chủ trì Đầu năm 1927, Đỗ Quang trở về nước để vận động thành lập tổ chức Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở tỉnh nhà Năm 1929, ông bị bắt và bị đày đi nhiều nơi Ra tù, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, sau đó công tác ở Nông hội tỉnh Quảng Nam Năm 1968, đồng chí hy sinh trong một trận oanh kích của máy bay Mỹ.
Trang 30làm tổ trưởng Tại Hội An, tháng 10-1927, Chi bộ của Hội Việt Nam Cách mạng thanhniên cũng được thành lập do Phan Thêm làm Bí thư Chi bộ
Từ 3 đầu mối trên, tháng 4-1928, Tỉnh bộ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niênQuảng Nam được thành lập, do Đỗ Quang làm Bí thư Đến tháng 3-1929, Kỳ bộ HộiViệt Nam Cách mạng thanh niên chủ trương tách Đà Nẵng ra khỏi Tỉnh bộ QuảngNam nhằm hướng mạnh việc phát triển hội viên các phủ huyện nông thôn Ban Chấphành Tỉnh bộ Quảng Nam được cấp trên chỉ định lại do Trần Văn Tăng làm Bí thư Tổchức Hội ở Đà Nẵng do Đỗ Quang phụ trách, trực thuộc sự lãnh đạo của Kỳ bộ
Sau khi phát triển ra nông thôn, số lượng hội viên, cơ sở của hội tăng lên nhanhchóng (tháng 5-1929, có 4 chi bộ với 50 hội viên) và nhanh chóng trở thành một tổchức chính trị có ảnh hưởng lớn trong tỉnh với nhiều hình thức hoạt động, đấu tranhsôi nổi, phong phú; các tổ chức quần chúng của hội ra đời và phát triển
Hoạt động của Đảng Tân Việt
Đảng Tân Việt là một tổ chức yêu nước - địa bàn hoạt động chủ yếu là ở miềnTrung Lúc mới thành lập chưa có đường lối chính trị và chương trình hoạt động rõràng Về sau đường lối của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên có ảnh hưởng đếnTân Việt Ở Quảng Nam vào tháng 12-1926, tổ Tân Việt đầu tiên đã ra đời ở Đà Nẵng.Đến năm 1927, tổ phát triển thêm hội viên, lập ra chi bộ Đảng do Bùi Châu làm Bíthư Đến năm 1929, Quảng Nam đã có 14 đảng viên Tân Việt với các nhóm đọc sáchbáo, cứu tế, học nghề nhằm tập họp quần chúng yêu nước
Cũng như ở các tỉnh Bắc Trung Kỳ, tổ chức Tân Việt ở Quảng Nam đã phân hóa
do tác động bởi ảnh hưởng của tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và củachủ nghĩa Mác - Lênin đang được phổ biến rộng rãi ở Việt Nam Khi Tổng bộ TânViệt ở Huế bị vỡ, các đảng viên Tân Việt ở Quảng Nam cũng phân tán đi các nơi Một
số về sau đã tham gia Đông Dương Cộng sản Liên đoàn rồi cuối cùng cũng gia nhậpĐảng Cộng sản Việt Nam
Ở Quảng Nam, ảnh hưởng của Đảng Tân Việt không được sâu rộng như HộiViệt Nam Cách mạng thanh niên
Tháng 5-1929, tại Đại hội toàn quốc lần thứ nhất của Hội Việt Nam Cách mạngThanh niên, kiến nghị của đoàn đại biểu Kỳ bộ Bắc Kỳ về giải tán Hội để thành lậpĐảng Cộng sản không được chấp nhận Đoàn đại biểu Kỳ bộ Bắc Kỳ đã bỏ hội nghị
về nước, thành lập Đông Dương Cộng sản đảng (6-1929) Sau khi thành lập, ĐôngDương Cộng sản đảng đã phân công một số cán bộ lãnh đạo vào miền Trung và miềnNam để xây dựng tổ chức đảng trong cả nước Tháng 6-1929, Xứ ủy Trung Kỳ lâmthời được thành lập Nguyễn Phong Sắc được cử vào phía Nam hoạt động, lập ra cơquan phân Xứ uỷ ở Đà Nẵng
Trước tình hình mới, được sự chỉ đạo của Xứ ủy Trung Kỳ Đông Dương Cộngsản đảng, trên cơ sở của Tỉnh hội Việt Nam Cách mạng thanh niên Quảng Nam, Đảng
bộ Đông Dương Cộng sản đảng Quảng Nam được chính thức thành lập vào tháng
9-1929 Tỉnh ủy lâm thời gồm có Phan Văn Định, Phạm Thâm, Nguyễn Thái do Phan
Trang 31Văn Định làm Bí thư và Phạm Thâm - Phó Bí thư chuyên lo phát triển phong trào racác phủ, huyện.
Ngày 3-2-1930, dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, các tổ chức cộng sản trên
cả nước đã nhất trí, hợp nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam Hội nghị thành lập Đảngtại Hương Cảng cũng nhất trí thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng doNguyễn Ái Quốc soạn thảo
Sau khi nghe phái viên của Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phong Sắc báotin thắng lợi về sự ra đời của Đảng, Tỉnh bộ lâm thời Đông Dương Cộng sản đảngQuảng Nam nhất trí thực hiện chủ trương hợp nhất của Trung ương
Ngày 28-3-1930, Ban Chấp hành lâm thời Tỉnh Đảng bộ Quảng Nam của ĐảngCộng sản Việt Nam ra thông cáo về việc thành lập Đảng bộ và công bố từ nay chỉ cómột Đảng Cộng sản duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng cảnước Thông cáo chỉ rõ: “Phong trào cộng sản nước ta phát triển qua một con đườngmới, tức là Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập (…) Phong trào cộng sản tỉnhQuảng Nam ta cùng xu hướng chung với cả nước, nó phát triển trên cơ sở tranh đấucủa vô sản, dân cày và những người bị áp bức trong toàn tỉnh”
Ban Chấp hành lâm thời của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Quảng Nam gồmcác đồng chí Phan Văn Định, Phạm Thâm, Nguyễn Thái do Phan Văn Định làm Bí thư
Về sau, khi Xứ ủy tăng cường thêm 3 cán bộ cho tỉnh, đồng chí Phạm Thâm làm Bí thưTỉnh ủy, thay thế đồng chí Phan Văn Định
Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Nam từ khi ra đời đến cuối năm
1930, phát triển được 70 đảng viên Nếu tính cả Đà Nẵng thì có tất cả 80 đảng viên.Hàng trăm quần chúng trung kiên được kết nạp vào công hội đỏ, nông hội đỏ, cứu tế
đỏ Ngoài ra, còn lôi kéo được nhiều lực lượng quần chúng khác, cả những ngườiphục vụ trong tòa Công sứ Pháp tại Hội An
Ngày 28-3-1930, ngày chính thức thành lập Đảng bộ tỉnh, đánh dấu mốc lịch sửcủa nhân dân Quảng Nam bước vào thời kỳ mới - thời kỳ đấu tranh dân tộc, dân chủtheo ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng; tạo ranhững tiền đề và nhấn tố quyết định đưa cách mạng Quảng Nam đi từ thắng lợi nàyđến thắng lợi khác
2.Đảng bộ đấu tranh giành chính quyền cách mạng (1930-1945)
Mở đầu cao trào cách mạng 1930-1931, ngày 1-5-1930, lần đầu tiên nhân dânlao động Quảng Nam cùng với nhân dân lao động cả nước kỷ niệm ngày Quốc tế laođộng Cờ đỏ búa liềm và truyền đơn cách mạng xuất hiện khắp trên địa bàn tỉnh đãlàm cho bọn thực dân thống trị bất ngờ và thổi một khí thế mới trong lòng nhân dânđang sôi sục lòng căm thù đế quốc - phong kiến
Để ủng hộ nhân dân Nghệ - Tĩnh và kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga, Tỉnh
ủy Quảng Nam đã tổ chức các cuộc diễn thuyết, mít tinh ở Hội An, Chiêm Sơn Động(Duy Xuyên), Khe Muôn (Quế Sơn) Các tờ báo Bẻ xiềng của Xứ ủy Trung kỳ, Lưỡicày của Tỉnh ủy Quảng Nam, Còi nhà máy của Thị ủy Đà Nẵng được bí mật lưu hành