1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sự tiến triển trong quan hệ Mỹ ASEAN từ năm 1977 đến năm 2015 (LA tiến sĩ)

200 354 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 200
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự tiến triển trong quan hệ Mỹ ASEAN từ năm 1977 đến năm 2015 (LA tiến sĩ)Sự tiến triển trong quan hệ Mỹ ASEAN từ năm 1977 đến năm 2015 (LA tiến sĩ)Sự tiến triển trong quan hệ Mỹ ASEAN từ năm 1977 đến năm 2015 (LA tiến sĩ)Sự tiến triển trong quan hệ Mỹ ASEAN từ năm 1977 đến năm 2015 (LA tiến sĩ)Sự tiến triển trong quan hệ Mỹ ASEAN từ năm 1977 đến năm 2015 (LA tiến sĩ)Sự tiến triển trong quan hệ Mỹ ASEAN từ năm 1977 đến năm 2015 (LA tiến sĩ)Sự tiến triển trong quan hệ Mỹ ASEAN từ năm 1977 đến năm 2015 (LA tiến sĩ)Sự tiến triển trong quan hệ Mỹ ASEAN từ năm 1977 đến năm 2015 (LA tiến sĩ)Sự tiến triển trong quan hệ Mỹ ASEAN từ năm 1977 đến năm 2015 (LA tiến sĩ)Sự tiến triển trong quan hệ Mỹ ASEAN từ năm 1977 đến năm 2015 (LA tiến sĩ)Sự tiến triển trong quan hệ Mỹ ASEAN từ năm 1977 đến năm 2015 (LA tiến sĩ)Sự tiến triển trong quan hệ Mỹ ASEAN từ năm 1977 đến năm 2015 (LA tiến sĩ)Sự tiến triển trong quan hệ Mỹ ASEAN từ năm 1977 đến năm 2015 (LA tiến sĩ)Sự tiến triển trong quan hệ Mỹ ASEAN từ năm 1977 đến năm 2015 (LA tiến sĩ)Sự tiến triển trong quan hệ Mỹ ASEAN từ năm 1977 đến năm 2015 (LA tiến sĩ)

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN LÊ MINH TRANG

SỰ TIẾN TRIỂN TRONG QUAN HỆ MỸ-ASEAN

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN LÊ MINH TRANG

SỰ TIẾN TRIỂN TRONG QUAN HỆ MỸ-ASEAN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả và số liệu nghiên cứu đƣợc trình bày trong Luận án là trung thực, khách quan Những kết luận của Luận án chƣa đƣợc công bố trong bất

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, động viên, hỗ trợ rất quý báu từ các thầy cô, đồng nghiệp và gia đình Nhân đây, tôi muốn dành lời cảm ơn tới những người mà tôi vô cùng biết ơn và yêu quý nhất

Xin được gửi lời cảm ơn đặc biệt tới PGS.TSKH Trần Khánh, người thầy đã định hướng cho tôi con đường nghiên cứu khoa học, cho tôi cơ hội học hỏi, tìm tòi và thực hiện luận án này Thầy không chỉ tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận án, mà còn cho tôi những lời khuyên tận tình, những kiến thức mang tính học thuật cao, những nguồn tài liệu bổ ích Thầy đã giúp đỡ tôi hoàn thiện khả năng nghiên cứu khoa học, tiếp cận khoa học một cách khách quan và toàn diện đối với một vấn đề nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy, cô giáo của Học viện Khoa học xã hội, Viện Sử học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Học viện Ngoại giao Việt Nam, các đồng nghiệp ở Viện nghiên cứu Đông Nam Á

đã giúp tôi mở rộng kiến thức chuyên ngành, truyền đạt và chia sẻ cho tôi những kiến thức nền tảng cơ bản và nâng cao trong suốt chặng đường nghiên cứu sinh của tôi

Tôi xin trân trọng cảm ơn Quỹ Gerda Henkel Stiftung và Chương trình học bổng Lisa Maskell đã cho tôi cơ hội được tiếp cận nguồn tư liệu của trường Đại học Cologne - Cộng hoà Liên bang Đức Cảm ơn thầy Jens, cô Sandra và cô Nalomba đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong thời gian tôi tìm kiếm tư liệu để hoàn thành luận án /

Trang 5

MỤC LỤC

Trang TRANG PHỤ BÌA

1.1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến quan hệ Mỹ-ASEAN 11

1.1.2 Các công trình nghiên cứu có đề cập đến quan hệ Mỹ -ASEAN 13

1.2.1 Các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến quan hệ Mỹ-ASEAN 17

1.2.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến quan hệ Mỹ -ASEAN 21

1.3 Một số nhận xét về tình hình nghiên cứu đề tài và những vấn đề đặt ra cần

giải quyết

24

1.3.2 Những vấn đề luận án sẽ tập trung nghiên cứu 25

Chương 2 Sự thiết lập và tiến triển của quan hệ đối thoại Mỹ- ASEAN dưới

thời Chiến tranh Lạnh (giai đoạn 1977-1991)

27

2.1 Sự thiết lập quan hệ đối thoại Mỹ-ASEAN 27 2.1.1 Bối cảnh của sự thiết lập quan hệ đối thoại Mỹ-ASEAN 27

2.2 Tiến triển của quan hệ Mỹ-ASEAN từ 1977 đến 1991 39 2.2.1 Bối cảnh của sự tiến triển quan hệ Mỹ-ASEAN từ 1977-1991 39

Trang 6

2.2.2 Sự tiến triển của quan hệ Mỹ-ASEAN 45

Chương 3 Sự vận động của quan hệ Mỹ- ASEAN trong thập niên đầu sau

Chiến tranh Lạnh (từ 1991 đến năm 2001)

53

3.1 Bối cảnh quốc tế, nước Mỹ, Đông Nam Á và ASEAN 53 3.1.1 Bối cảnh thế giới và khu vực châu Á-Thái Bình Dương 53 3.1.2 Tình hình nước Mỹ và sự điều chỉnh chiến lược đối ngoại của Mỹ 57

3.2 Thực tiễn quan hệ Mỹ-ASEAN trong thập niên 90 65 3.2.1 Quan điểm, lợi ích của Mỹ và ASEAN trong quan hệ với nhau 65 3.2.2 Thực tiễn quan hệ Mỹ-ASEAN trong thập niên 90 70

Chương 4 Bước phát triển mới của quan hệ Mỹ- ASEAN (từ 2001 đến 2015) 79

4.1 Bối cảnh mới của tình hình quốc tế, nước Mỹ và ASEAN 79

4.1.2 Tình hình nước Mỹ, lợi ích và nhu cầu thúc đẩy quan hệ của Mỹ với

4.1.3 Tình hình của ASEAN và nhu cầu thúc đẩy quan hệ của ASEAN với Mỹ 91

4.2 Bước phát triển mới trong cơ chế và nội dung quan hệ Mỹ-ASEAN 94

4.2.2 Mở rộng nội dung và lĩnh vực quan hệ giữa Mỹ với ASEAN 99

Chương 5 Nhận xét về sự tiến triển của mối quan hệ Mỹ- ASEAN từ năm

Trang 7

nhưng vẫn chịu tác động lớn từ chính sách khu vực của Mỹ và luôn bị chi phối

bởi lợi ích cốt lõi của Mỹ và ASEAN

5.1.3 Nhân tố Trung Quốc luôn tác động mạnh mẽ đến sự tiến triển của quan hệ

5.1.4 Trong quan hệ của Mỹ với ASEAN, hợp tác an ninh chiến lược luôn là yếu

tố quan trọng, đi đầu, tạo nền tảng cho thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược

Mỹ-ASEAN

129

5.1.5 Quan hệ Mỹ- ASEAN bước vào thế kỷ XXI có những bước tiến mới cả về

cơ chế và nội dung hợp tác, nhưng chưa thực sự hoàn thiện và đang đối diện

không ít thách thức

131

5.2.1 Tác động đến môi trường địa chính trị và tầm ảnh hưởng của Mỹ, vị thế của

PHỤ LỤC

Trang 8

Hiệp định ASEAN về Quản lý Thảm hoạ và Ứng phó Khẩn cấp

APEC Asia - Pacific Economic Cooperation Diễn đàn hợp tác kinh tế châu

Hiệp định Hợp tác Kinh tế Toàn diện

Chương trình ưu đãi thuế quan

Trang 9

FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

IAJBC India- ASEAN Joint Business

NAFTA The North American Free Trade

SEATO Southeast Asia Treaty Organization Tổ chức Hiệp ước Đông Nam

Á

SEANWEZ Southeast Asian

Nuclear-Weapon-Free Zone Treaty

Hiệp ước Đông Nam Á phi vũ khí hạt nhân

Trang 10

TNC Transnational Cooperation Công ty xuyên quốc gia

Agreement

Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

UNCLOS United Nations Convention on the

Law of the Sea

Công ước của Liên Hiệp Quốc

Ngân hàng Thế giới Diễn đàn kinh tế thế giới

ZOPFAN Zone of Peace, Freedom and

Neutrality

Khu vực hoà bình, Tự do và Trung lập

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Là khu vực địa chiến lược, Đông Nam Á đã từ lâu trở thành đối tượng tranh giành ảnh hưởng giữa các nước lớn, trong đó có Mỹ Nếu như dưới thời Chiến tranh Lạnh, Đông Nam Á là một trong những điểm nóng gay gắt của cuộc đối đầu ý thức hệ tư tưởng chính trị, quân sự giữa hai siêu cường Liên Xô và Mỹ, cũng như sự tranh đua của Tam giác chiến lược Mỹ- Xô- Trung, thì từ thập niên 90 của thế kỷ XX, nhất là những năm đầu của thế kỷ XXI, nơi đây lại tái diễn cuộc tranh giành quyền lực giữa một siêu cường đã được xác lập là Mỹ và một đại cường đang tìm kiếm địa vị siêu cường là Trung Quốc Sự tranh đua ý thức hệ tư tưởng và giành ưu thế địa chính trị đã làm tăng tầm quan trọng của ASEAN với tư cách là một tổ chức khu vực Tuy nhiên, tầm quan trọng của ASEAN trong chiến lược khu vực và toàn cầu của

Mỹ cũng như sự tiến triển trong quan hệ giữa Mỹ và ASEAN không chỉ phụ thuộc vào chính sách, vị thế luôn thay đổi của hai thực thể này, mà còn bị tác động bởi môi trường địa chính trị, kinh tế quốc tế, nhất là ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương Nếu như dưới thời Chiến tranh Lạnh, Mỹ đã coi trọng nhưng chưa đánh giá cao vai trò của ASEAN trong các vấn đề quốc tế ở khu vực, thì sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, nhất là thập niên đầu của thế kỷ XXI, Mỹ trở nên quan tâm nhiều hơn đến việc mở rộng quan hệ với tổ chức này, coi ASEAN là một cơ chế hợp tác quan trọng, một trong những trụ cột chính trong chính sách đối ngoại đa phương của Mỹ ở châu Á- Thái Bình Dương nhằm duy trì lợi ích vốn có của Mỹ trước sự trỗi dậy của Trung Quốc

1.2 Phản ứng trước sự gia tăng của Chiến tranh Lạnh, nhất là cuộc chiến do Mỹ phát động ở Việt Nam leo đến đỉnh điểm và Trung Quốc gia tăng xuất khẩu chủ nghĩa Mao-it xuống Đông Nam Á, 5 nước Đông Nam Á là

Trang 12

các quốc gia Đông Nam Á (gọi tắt là ASEAN) vào năm 1967 Ngoài mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, phát triển văn hoá, các nước ASEAN muốn hợp tác với nhau để củng cố hoà bình, ổn định cho mỗi thành viên trước sự can thiệp từ bên ngoài, nhất là từ các nước lớn Sự tồn tại và phát triển của ASEAN, nhất là trong việc xây dựng lòng tin, tìm kiếm phương thức hoà giải các vấn đề nội bộ và tạo ra nền tảng chính trị- pháp lý cho hoạt

động của mình bằng việc cho ra đời "Hiệp ước thân thiện và Hợp tác ở Đông

Nam Á" (TAC) năm 1976 đã làm tăng uy tín của tổ chức này trong giai đoạn

đầu (1967-1976) Bên cạnh đó, những phối hợp khá nhịp nhàng và hiệu quả trên mặt trận chính trị- ngoại giao trong các vấn đề an ninh- chính trị khu vực, nhất là vấn đề Campuchia trong những năm 80 của thế kỷ XX và nỗ lực mới trong liên kết khu vực thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh đã làm tăng vai trò, vị thế của ASEAN trong các vấn đề quốc tế, buộc các nước lớn, trong đó có Mỹ trở nên quan tâm, mong muốn mở rộng quan hệ với ASEAN Bản thân ASEAN cũng nhận thức được tầm quan trọng của hợp tác quốc tế, nhất là với các nước lớn để thực hiện được các mục tiêu của mình Điều này đã làm cho mối quan

hệ của ASEAN với các đối tác bên ngoài, trong đó có Mỹ, trở nên quan trọng

và sống động hơn theo tiến trình của lịch sử

1.3 Sự tiến triển của quan hệ Mỹ- ASEAN qua các giai đoạn phụ thuộc nhiều vào mục tiêu, vị thế của từng đối tác và sự chi phối của bối cảnh quốc

tế Những bước tiến mới trong cặp quan hệ này được thể hiện rõ nét từ thập niên đầu thế kỷ XXI, nhưng quy mô, tốc độ và sự hình thành các thể chế hợp tác giữa hai bên diễn ra từ từ trên từng lĩnh vực khác nhau mà không đồng bộ

và ồ ạt như quan hệ Trung Quốc- ASEAN Tuy nhiên, kể từ khi Tổng thống Barack Obama lên cầm quyền, sự tiến triển trong quan hệ hai bên đã có những bước tiến về chất, trong đó có việc nâng cấp quan hệ lên tầm đối tác chiến lược vào cuối năm 2015 Lần đầu tiên, Hội nghị đặc biệt Cấp cao giữa

Mỹ và ASEAN được tổ chức tại Mỹ hồi tháng 2 năm 2016 với một nội dung

Trang 13

hợp tác sâu rộng và toàn diện Mặc dù hiện nay, mối quan hệ Mỹ- ASEAN đang bị thách thức bởi sự điều chỉnh chính sách của Tổng thống Donald Trump, tuy nhiên lợi ích của Mỹ và ASEAN vẫn có những ràng buộc, đan xen lẫn nhau dẫn đến khó có thể phá vỡ mối quan hệ này Đây là một trong những vấn đề đặt ra đối với nghiên cứu về xu hướng tiến triển của quan hệ Mỹ- ASEAN trong thời gian tới

1.4 Việt Nam là thành viên của ASEAN, nằm ở vị trí kết nối giữa Đông Bắc Á và Đông Nam Á, khu vực biển và đất liền, nơi có sự đan xen lợi ích chiến lược của các nước lớn, trong đó có Mỹ Việt Nam đang ẩn chứa trong mình cả những cơ hội và thách thức của thời đại Mâu thuẫn về ý thức

hệ giai cấp, trong quan hệ với Mỹ, sự khác nhau về lợi ích quốc gia- dân tộc trong quan hệ với các nước thành viên ASEAN và sự lỏng lẻo về thể chế liên kết của ASEAN vẫn là những vấn đề khá nhạy cảm trong các mối bang giao quốc tế của Việt Nam Mọi tác động của quan hệ Mỹ- ASEAN đã, đang và sẽ tác động lớn đến Việt Nam

Như vậy, nhiều câu hỏi lớn đang đặt ra như tại sao Mỹ lại chần chừ trong việc thiết lập quan hệ đối thoại với ASEAN trong thập niên đầu khi tổ chức này ra đời? Yếu tố nào thúc đẩy Mỹ và ASEAN hợp tác với nhau? Tại sao quan hệ giữa hai thực thể này kém phần sôi động trong thập niên đầu sau Chiến tranh Lạnh và được đẩy mạnh hơn từ những năm đầu của thế kỷ XXI? Tác động của quá trình trên đến các thực thể liên quan, trong đó có Việt Nam như thế nào? Những thách thức nào đang cản trở quan hệ Mỹ-ASEAN tiến về phía trước? Đây là những vấn đề cần làm rõ

Việc nghiên cứu quan hệ Mỹ- ASEAN tuy đã được các học giả trong

và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, nhưng chủ yếu dừng lại từng mảng, từng vấn đề cụ thể Vẫn còn thiếu những công trình chuyên sâu mang tính toàn

Trang 14

sự tiến triển qua từng giai đoạn trên các mặt khác nhau, nhất là về thể chế và

nội dung hợp tác Vì vậy, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài “Sự tiến triển trong quan hệ Mỹ- ASEAN từ năm 1977 đến năm 2015” làm Luận án Tiến sỹ

chuyên ngành Lịch sử Thế giới, nhằm đánh giá, so sánh quá trình vận động, thực chất và tác động của mối quan hệ này qua các giai đoạn khác nhau, từ đó rút ra những đặc điểm, bản chất nổi bật của quá trình này trong bối cảnh luôn biến động của môi trường địa chính trị, kinh tế thế giới ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương trong gần nửa thế kỷ qua, đặc biệt là trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 M c đ ch nghi n cứu

Mục đích chính của nghiên cứu này là phân tích, làm rõ quá trình vận động của mối quan hệ Mỹ- ASEAN từ 1977 đến 2015 qua 3 giai đoạn (1977-1991; 1991-2001 và 2001-2015) trên các phương diện khác nhau, nhất là sự tiến triển về thể chế, nội dung hợp tác, từ đó đánh giá thực chất, rút ra đặc điểm, bản chất cũng như tác động của mối quan hệ này

2.2 Nhiệm v nghi n cứu

Thứ nhất, phân tích những nhân tố tác động đến sự thiết lập quan hệ và

quá trình vận động của mối quan hệ Mỹ- ASEAN từ năm 1977 đến 2015 như bối cảnh quốc tế, tình hình Mỹ, Đông Nam Á/ASEAN theo 3 giai đoạn khác nhau: từ 1977 đến 1991, từ 1991 đến 2001 và từ 2001 đến 2015;

Thứ hai, làm rõ sự tiến triển của mối quan hệ này trên các mặt khác

nhau, nhất là về thể chế và nội dung hợp tác theo tiến trình lịch sử của 3 giai đoạn 1977 – 1991 và 1991 – 2001, 2001-2015;

Thứ ba, đưa ra nhận xét về thực chất, đặc điểm, bản chất quá trình vận

động và tác động của mối quan hệ này kể từ khi Mỹ- ASEAN thiết lập quan

Trang 15

hệ đối thoại vào năm 1977 cho đến thời điểm hai thực thể này nâng cấp lên quan hệ đối tác chiến lược vào năm 2015

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghi n cứu

Như tên đề tài của luận án đã xác định, đối tượng nghiên cứu của luận

án là nghiên cứu sự vận động, tiến triển của quan hệ Mỹ- ASEAN, ở đó Mỹ với tư cách là một siêu cường, còn ASEAN là một tổ chức liên kết khu vực ở Đông Nam Á từ năm 1977 đến năm 2015 Nói một cách khác là đề tài chủ yếu đề cập quan hệ giữa Mỹ với ASEAN Còn quan hệ song phương giữa Mỹ với các nước thành viên của ASEAN không phải là đối tượng chính Tuy nhiên, trong công trình này có đề cập đến quan hệ song phương này nhằm làm

rõ hơn quan hệ giữa Mỹ với tổ chức ASEAN (quan hệ đa phương của Mỹ) Cách tiếp cận trong mối quan hệ này được nhìn từ phía Mỹ nhiều hơn

Sự vận động của mối quan hệ Mỹ-ASEAN từ 1977 đến 2015 không hoàn toàn đi lên, có lúc trầm lắng nhưng chưa bao giờ bị đứt đoạn hay hay có những đột biến lớn cả về cơ chế cũng như nội dung hợp tác Hơn nữa mối quan hệ này diễn ra với nhiều nhịp độ, cung bực, thời kỳ, giai đoạn khác nhau

cả trước và sau Chiến tranh Lạnh Chính vì vậy chúng tôi ưu dùng từ “tiến triển” trong quan hệ Mỹ-ASEAN để góp phần làm rõ và nhấn mạnh hơn tiến trình vận động và đặc điểm của mối quan hệ giữa hai thực thế này trong lịch

sử

3.2 Phạm vi nghi n cứu

Về mặt không gian, đề tài nghiên cứu sự tiến triển của quan hệ giữa hai

chủ thể ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương là Mỹ và ASEAN Tuy nhiên,

sự vận động của mối quan hệ này không thể nằm ngoài xu hướng biến đổi của thế giới, nhất là sự thay đổi cục diện chính trị- an ninh và kinh tế toàn cầu cả

Trang 16

cũng như sự thay đổi vị thế, chính sách đối ngoại và đường hướng phát triển của ASEAN

Về mặt thời gian, đề tài tập trung nghiên cứu xu hướng tiến triển của

quan hệ Mỹ- ASEAN trong giai đoạn từ 1977 đến 2015 theo ba giai đoạn:

1977 – 1991 và 1991 – 2001, 2001-2015, bắt đầu từ khi hai thực thể này thiết lập quan hệ đối thoại (1977) cho đến khi Mỹ- ASEAN nâng cấp quan hệ thành đối tác chiến lược vào cuối năm 2015 Năm 2015 cũng là thời điểm ASEAN tuyên bố hình thành Cộng đồng ASEAN Tuy nhiên, thời gian trước

1977 và sau 2015 cũng được đề cập, nhằm làm rõ hơn sự vận động của tiến trình trên

Năm 1991 là mốc thời gian đánh dấu sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh Đây còn là thời điểm Mỹ và ASEAN có những điều chỉnh chiến lược khu vực

và toàn cầu của mình, nhất là việc Mỹ dành ưu tiên nhiều hơn cho chiến lược

"diễn biến hoà bình", mở rộng quan hệ với Đông Âu, Trung Quốc và có phần xao nhãng với ASEAN, trong đó có việc rút các căn cứ quân sự lớn của Mỹ ở khu vực này, đồng thời cắt giảm ưu tiên thương mại đối với nhiều nước thành viên Về phía ASEAN, từ thời điểm này đã trở nên độc lập hơn với Mỹ, chủ động đưa ra các chương trình, kế hoạch lớn nhằm thúc đẩy liên kết ASEAN, hình thành nên các thể chế hợp tác an ninh đa phương mới cũng như mở rộng quan hệ với các nước đối tác khác, nhất là với Trung Quốc Còn mốc năm

2001 không chỉ đánh dấu bước ngoặt trong cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu của Mỹ, mà quan trọng hơn, Mỹ trở nên cụ thể hoá từng phần đến hợp tác toàn diện với ASEAN Từ thời điểm này, ASEAN cũng có những nỗ lực mới trong xây dựng Cộng đồng ASEAN Vị thế của tổ chức này trở nên độc lập, bình đẳng trong quan hệ với các nước lớn

Về nội dung, luận án tập trung làm rõ sự vận động và tiến triển của

quan hệ đa phương Mỹ- ASEAN qua các giai đoạn và trên các lĩnh vực khác

Trang 17

nhau, phân tích sự tiến triển của thể chế và nội dung hợp tác của mối quan hệ này Tuy nhiên, quan hệ của Mỹ với nhiều nước thành viên của ASEAN và các đối tác khác, đặc biệt là Trung Quốc, cũng được đề cập một phần để làm

rõ hơn sự tiến triển của cặp quan hệ Mỹ- ASEAN

4 Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu tham khảo của luận án

Cơ sở phương pháp luận của luận án dựa trên những quan điểm của

Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về đường lối đối ngoại, hợp tác quốc tế Luận án sử dụng một cách có chọn lọc cách tiếp cận nghiên cứu và quan điểm lịch sử từ các lý thuyết về quan hệ quốc tế đương đại, trong đó có Thuyết Hiện thực (Realism), Thuyết Tự do (Liberalism) hay thường gọi là Thuyết Thể chế (Institutionalism), Thuyết Kiến tạo (Constructivism), từ đó phân tích sự vận động, biến đổi trong quan

hệ Mỹ- ASEAN Đề tài cũng vận dụng luận thuyết về địa chính trị, địa chiến lược với tư cách là một trong những biến thể của Chủ nghĩa hiện thực, nhấn mạnh yếu tố địa lý, sức mạnh kinh tế, quân sự và sự tương tác của các mối quan hệ quốc tế để quyết định, chi phối chính sách đối ngoại và trật tự quyền lực trong quan hệ quốc tế Thuyết Thể chế cho rằng, hợp tác thông qua khuôn khổ thể chế và hợp tác sâu rộng giữa các quốc gia với nhau, (đặc biệt là các quốc gia dân chủ), về lâu dài sẽ giúp đạt được hoà bình và ổn định hoá quan

hệ giữa các nước và trong khu vực Trong khi đó, Thuyết Kiến tạo cho rằng, mọi xung đột giữa các quốc gia đều có thể được giải quyết thông qua các biện pháp hoà bình, thông qua việc tạo nên một tri thức đồng thuận, trong đó vai trò của các cơ chế đối thoại đa phương, xây dựng và chia sẻ một bản sắc văn hoá, luật lệ chung, đóng vai trò chủ chốt cho hợp tác và phát triển Ngoài ra, yếu tố truyền thống trong văn hoá đối ngoại, lợi ích khu vực, quốc gia cũng

là một trong những vấn đề được xem xét khi luận giải xu hướng vận động của

Trang 18

Phương pháp nghiên cứu chính của đề tài này là phương pháp lịch sử,

trong đó xem xét sự vận động, tiến triển của quan hệ Mỹ-ASEAN dựa trên những bối cảnh, điều kiện, sự kiện lịch sử cụ thể theo trình tự không gian, thời gian Bên cạnh đó, phương pháp phân tích, so sánh, phân loại lịch sử kết hợp logic cũng như các phương pháp nghiên cứu liên ngành khác của khoa học xã hội và nhân văn như quan hệ quốc tế, khu vực học, đất nước học cũng được sử dụng nhằm làm rõ hơn quá trình vận động, bản chất của quan hệ Mỹ-ASEAN từ năm 1977 đến năm 2015

Nguồn tài liệu sử dụng trong luận án hết sức phong phú, bao gồm

những văn bản chính thức như Thông cáo, Tuyên bố chung, các Hiệp định, Thoả thuận đã ký kết giữa Mỹ và ASEAN kể từ khi hai bên thiết lập quan hệ đối thoại vào năm 1977 đến nay Tài liệu tham khảo từ các phương tiện thông tin đại chúng, các trang thông tin chính thống của Chính phủ, Quốc hội, Bộ Ngoại giao Mỹ, ASEAN và các nước thành viên (tài liệu sơ cấp); các công trình nghiên cứu đã công bố, bảo vệ và nhiều tham luận của các nhà khoa học (tài liệu thứ cấp)

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Tác giả hy vọng rằng, bản luận án này là một công trình khoa học đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu toàn diện và hệ thống về sự vận động và biến đổi của quan hệ Mỹ- ASEAN, sự tiến triển của thể chế, nội dung và thực tiễn hợp tác từ năm 1977 đến năm 2015

- Từ nghiên cứu quá trình tiến triển của mối quan hệ này, tác giả rút ra những đặc điểm, đánh giá thực chất, bản chất và tác động của quan hệ Mỹ- ASEAN Từ đó đưa ra một vài gợi ý cho ASEAN và Việt Nam trong quan hệ ứng xử với Mỹ

Trang 19

- Bổ sung thêm vào hệ thống tư liệu và lập luận khoa học cho nghiên cứu và giảng dạy về quan hệ quốc tế ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương nói chung và quan hệ Mỹ- Đông Nam Á nói riêng

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong Luận án có thể góp phần cung cấp những luận điểm khoa học cho việc nghiên cứu, hoạch định chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của Việt Nam với Mỹ trong bối cảnh chính sách đối ngoại của Mỹ có nhiều thay đổi, tình hình ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương cũng như trên thế giới có nhiều diễn biến khó đoán định, có thể ảnh hưởng đến sự ổn định của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á Luận

án còn góp phần làm rõ hơn tính logic và bản chất của ASEAN trong quan hệ đối ngoại, nhất là với các nước lớn, từ đó cung cấp thêm những luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện và đổi mới Cộng đồng ASEAN

- Đóng góp quan trọng nhất là Luận án có thể trở thành nguồn tài liệu tham khảo đối với cán bộ công tác trong lĩnh vực đối ngoại, quốc phòng an ninh, là nguồn tư liệu cần thiết phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập chuyên ngành Lịch sử thế giới, Chính trị học và Quan hệ quốc tế ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương thời hiện đại

7 Cơ cấu của luận án

Luận án tập trung nghiên cứu sự tiến triển của mối quan hệ Mỹ- ASEAN từ khi hai thực thể này thiết lập quan hệ đối thoại chính thức (năm 1977) cho đến năm 2015 Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo

và Phụ lục, luận án được cấu tạo theo 5 chương như sau:

- Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

- Chương 2 Sự thiết lập và tiến triển của quan hệ đối thoại Mỹ-

Trang 20

- Chương 3 Sự vận động của quan hệ Mỹ- ASEAN trong thập niên đầu

sau Chiến tranh Lạnh (từ 1991 đến năm 2001)

- Chương 4 Bước phát triển mới của quan hệ Mỹ- ASEAN từ 2001 đến

2015

- Chương 5 Nhận xét về sự tiến triển của mối quan hệ Mỹ- ASEAN từ

1977 đến 2015

Trang 21

Chương I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.1.1 Các công trình nghi n cứu li n quan trực tiếp đến quan hệ Mỹ-ASEAN

Do tầm quan trọng của Mỹ và ASEAN trong các vấn đề quốc tế, các vấn đề của Đông Nam Á và Việt Nam, quan hệ Mỹ-ASEAN nhận được sự quan tâm lớn của nhiều học giả trong nước Trong số các công trình đã công

bố, phải kể đến cuốn “Quan hệ Mỹ- ASEAN (1967-1997), Lịch sử và Triển

vọng” của Lê Văn Anh do Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa ấn hành năm

2009 Trong cuốn sách này, tác giả đã diễn giải tiến trình của 30 năm quan hệ giữa hai thực thể này trên các mặt khác nhau, nhất là những phản ứng của Mỹ đối với việc mở rộng ASEAN 6 thành ASEAN 9 Tác giả đề cập đến mối quan hệ lịch sử của Mỹ với các nước Đông Nam Á thời cận đại, so sánh vai trò, vị trí của các nước lớn trong việc dàn xếp, duy trì an ninh và hợp tác của ASEAN cũng như triển vọng của quan hệ Mỹ-ASEAN trong bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tại Đông Nam Á Tác giả phân chia các giai đoạn khác nhau: từ 1967 đến 1977, từ

1977 đến 1991 và từ 1991 đến 1997 là hợp lý, phản ánh đúng bối cảnh và sự dịch chuyển của mối quan hệ này theo thời gian Tuy nhiên, mối quan hệ trên chỉ dừng lại vào năm 1997, và phản ứng của ASEAN trong quan hệ với Mỹ chưa được nghiên cứu sâu

Tiếp đến là cuốn "Quan hệ Mỹ- ASEAN 2001-2020” của Nguyễn Thiết

Sơn (Nxb Từ điển Bách Khoa, 2012) Cuốn sách tập trung phân tích thực trạng quan hệ Mỹ-ASEAN từ sau sự kiện 11 tháng 9 năm 2001 đến năm

2011, đưa ra dự báo về tác động và triển vọng của mối quan hệ này tới năm

Trang 22

Mỹ-ASEAN đã thúc đẩy nhanh hơn tiến trình bình thường hóa toàn diện quan

hệ Mỹ-Việt Các luận giải trong công trình này giúp nghiên cứu sinh có thêm

cơ sở để so sánh sự tiến triển của quan hệ Mỹ-ASEAN trước và sau cuộc chiến chống khủng bố do Mỹ phát động Tuy nhiên, đối tác ASEAN trong công trình này chưa được đề cập đúng mức, nhất là về nỗ lực mới của ASEAN trong xây dựng Cộng đồng ASEAN và vai trò kiến tạo một cấu trúc

an ninh mới với ASEAN làm trung tâm

Cùng với chủ đề trên, có cuốn sách "Chính sách của Mỹ đối với ASEAN

trong và sau Chiến tranh Lạnh" của Lê Khương Thùy do Nxb Khoa học Xã

hội ấn hành vào năm 2003 Trong công trình này, tác giả đề cập đến sự tiến triển trong chính sách của Mỹ đối với ASEAN từ khi tổ chức này thành lập vào năm 1967 đến giai đoạn cuối thập niên 90 của thế kỷ XX; phân tích mối quan hệ song phương của Mỹ với một số quốc gia ASEAN Tuy nhiên, sự phân chia lịch sử quan hệ Mỹ-ASEAN từ 1967 đến 1995 thành 3 giai đoạn nhỏ là 1967-1975, 1975-1991 và 1991-1995 là chưa hợp lý Chiến thắng của cách mạng 3 nước Đông Dương, đặc biệt là của Việt Nam năm 1975 đã tác động sâu sắc đến quan hệ quốc tế, đến vị thế của Mỹ ở Đông Nam Á, nhưng chưa tác động mạnh mẽ đến sự dịch chuyển trong quan hệ Mỹ-ASEAN Tuy nhiên, so với hai công trình vừa đề cập ở trên, Lê Khương Thùy nghiêng về phân tích chính sách đối ngoại của Mỹ mà chưa phân tích nhiều đến quan hệ giữa hai thực thể này, nhất là về sự hình thành các cơ chế hợp tác

Đáng chú ý nữa là công trình "Những điều chỉnh của ASEAN trong

quan hệ với Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh" của Nguyễn Phú Tân Hương (Luận

án Tiến sỹ chuyên ngành Quan hệ quốc tế, bảo vệ năm 2016 tại Học viện Ngoại giao) Từ góc độ của ASEAN, tác giả đã phân tích, đánh giá sự điều chỉnh đường hướng, mục tiêu, cách tiếp cận vấn đề, lĩnh vực và thực tiễn hợp tác của ASEAN trong quan hệ với Mỹ ở 15 năm đầu sau Chiến tranh Lạnh Tác giả dự báo xu hướng vận động của mối quan hệ này đến năm 2020, cũng

Trang 23

như gợi ý một số chính sách của Việt Nam trong quan hệ với ASEAN và Mỹ Điểm nổi trội trong công trình này là tác giả phân tích rõ sự uyển chuyển, linh hoạt của ASEAN (với tư cách là một hiệp hội còn liên kết khá lỏng lẻo, chưa

có chính sách đối ngoại chung) trong việc lôi kéo sự can dự, hợp tác của các nước lớn để tăng thêm vị thế của mình Kết quả là, vị thế của ASEAN dần dần được cải thiện, từ phụ thuộc, bị động đến chủ động, độc lập và bình đẳng trong quan hệ với Mỹ Việc tác giả phân chia các giai đoạn điều chỉnh của ASEAN trong quan hệ với Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh thành 3 giai đoạn nhỏ như: 1991-1999; 1999-2008 và từ 2008 đến nay là khá hợp lý Tuy nhiên cách phân chia này chủ yếu nhìn từ góc độ biến đổi thế và lực của ASEAN Mốc năm 1999 là thời điểm ASEAN trở thành ASEAN 10 với tư cách là tổ chức của toàn khu vực Đông Nam Á; còn mốc năm 2008 là thời điểm Hiến chương ASEAN có hiệu lực Nếu nhìn từ góc độ điều chỉnh chính sách của Mỹ với ASEAN, việc lấy mốc năm 2001 và 2009 sẽ hợp lý hơn, vì từ năm 2001, Mỹ trở nên quan tâm hơn đến ASEAN do sự kiện 11/9/2001, và năm 2009 Mỹ ký Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) Tuy nhiên, sự điều chỉnh trong quan hệ ASEAN-Mỹ, Mỹ-ASEAN là một quá trình, có sự kế thừa

và nối tiếp giữa các giai đoạn trước và sau đó Đây là một trong những nhiệm

vụ mà chúng tôi tiếp tục làm rõ trong luận án này

1.1.2 Các công trình nghiên cứu có đề cập đến quan hệ Mỹ -ASEAN

Ngoài các công trình liên quan trực tiếp đến quan hệ Mỹ-ASEAN, có một khối lượng các bài viết, sách chuyên khảo bàn về chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á, về chính sách đối ngoại của ASEAN, về môi trường hợp tác, cạnh tranh quốc tế ở khu vực Đông Nam Á và có liên quan mật thiết đến hai thực thể này

Trước hết là công trình “Nhân tố địa chính trị trong chiến lược toàn

Trang 24

biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2007) Các tác giả đã chỉ ra rằng, Mỹ chưa và không bao giờ từ bỏ lợi ích của mình ở Đông Nam Á, bởi khu vực này có một vị trí chiến lược trong việc duy trì địa vị siêu cường của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, trong củng cố quan hệ đồng minh chiến lược

và mở rộng quan hệ quan hệ kinh tế, hợp tác an ninh với các đối tác, thể chế mới tại khu vực này, trong đó có tổ chức ASEAN

Tiếp đến là Luận án "Chính sách đối với Đông Nam Á của chính quyền

Tổng thống Barack Obama (2009-2016)" của Phạm Hoàng Tú Linh (bảo vệ

năm 2016) và luận án "Quá trình xây dựng quan hệ đối tác chiến lược

ASEAN-Trung Quốc từ 1991 đến 2010" của Đàm Huy Hoàng (bảo vệ năm

2015) Cả hai công trình này đề cập khá nhiều đến quan hệ Mỹ-ASEAN, ASEAN-Mỹ trong chính sách của các nước lớn đối với Đông Nam Á từ sau Chiến tranh Lạnh

Cùng liên quan đến quan hệ Mỹ-ASEAN từ sau Chiến tranh Lạnh, có

cuốn "Hợp tác và cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung ở Đông Nam Á ba thập

niên đầu sau Chiến tranh Lạnh" do Trần Khánh làm chủ biên (Nxb Thế Giới,

2014) Nội dung của cuốn sách này đề cập đến nhiều vấn đề, trong đó nhấn mạnh đến nhu cầu, khả năng và tầm với của Mỹ trong tái cân bằng chiến lược

ở Đông Nam Á trước sự trỗi dậy của Trung Quốc và sự gia tăng vai trò của ASEAN trong các vấn đề quốc tế Các tác giả chỉ ra rằng, cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung gia tăng đã và đang tác động sâu sắc đến môi trường hợp tác

và an ninh của Đông Nam Á/ASEAN Một trong những cách thức mà ASEAN thực hiện nhằm duy trì và củng cố vị thế của mình là thúc đẩy tính

mở của mình, trong đó mở rộng quan hệ với Mỹ trên các mặt, coi Mỹ như một nhân tố quan trọng trọng việc đảm bảo an ninh tại Đông Nam Á

Bên cạnh những công trình vừa kể trên, có rất nhiều bài báo khoa học khác có liên quan đến quan hệ Mỹ-ASEAN qua các giai đoạn khác nhau, thật

Trang 25

khó thống kê và khảo sát hết các công trình này Trong số đó phải kể đến: “Sự

điều chỉnh chiến lược của Mỹ và tác động của nó đến khu vực Đông Nam Á”

của Phạm Đức Thành (Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 11/2003); “Chính sách

đối ngoại của Mỹ đối với Đông Nam Á từ sau sự kiện 11/9” của Phạm Cao

Cường, (Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 6/ 2005); “Một số điều chỉnh trong

chính sách an ninh của Mỹ đối với khu vực Đông Á giai đoạn từ 2001 đến nay” của Đặng Thanh Minh (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á tháng

6/2008); Điều chỉnh chính sách đối ngoại của chính quyền Obama hiện nay” của Trần Nguyên Tuyên (Tạp chí nghiên cứu quốc tế, 3/2010); “Sự suy giảm

tương đối vị thế của Mỹ trong thập niên đầu thế kỷ XXI” của Trần Khánh

(Tạp chí Cộng sản, 5/2010);“Chính sách đối ngoại của Mỹ dưới thời Tổng

thống G.W Bush” của Trần Bá Khoa (Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số

8-10/2001); “Can dự và cạnh tranh chiến lược Mỹ- Trung ở Đông Nam Á thập

niên đầu thế kỷ XXI” của Trần Khánh (Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á

6/2008); "Đông Nam Á trong chiến lược Châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ

(từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II đến năm 2011)" của Trần Thị Vinh

(Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số (01)142 năm 2012 ); "Tác động của sự

điều chỉnh chiến lược toàn cầu mới của Mỹ đến Đông Nam Á" của Nguyễn

Hoàng Giáp (Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6/2005), "Việt Nam và

tính toán chiến lược mới của Mỹ tại khu vực Đông Nam Á" của Nguyễn Thái

Yên Hương (Tạp chí Lý luận Chính trị, Số 4/2011); "Chính sách của Mỹ đối

với khu vực châu Á-Thái Bình Dương và những hàm ý đối với Việt Nam" của

Cù Chí Lợi (Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 7/2012); "Điều chỉnh chính sách

của Mỹ đối với Trung Quốc và tác động đến Đông Nam Á/ASEAN" của Lê

Khương Thùy (Châu Mỹ ngày nay, số 9/2014) v.v Những bài báo này phản ánh một cách đa diện chiến lược/chính sách trên phạm vi toàn cầu và khu vực châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ giai đoạn trước và sau Chiến tranh Lạnh;

Trang 26

trường địa chính trị ở Đông Á/Đông Nam Á, trong đó có sự dịch chuyển vị thế, vai trò của ASEAN trong các vấn đề quốc tế Cùng đó, tác động điều chỉnh chính sách của Mỹ đối với ASEAN và Việt Nam, cũng như thích ứng của ASEAN và Việt Nam với quá trình trên cũng được nhiều học giả đề cập đến Đây là nguồn tư liệu quý để lý giải tiến trình quan hệ Mỹ-ASEAN từ khi hai thực thể này thiết lập quan hệ đối thoại cho đến hiện nay

Ngoài các bài viết trên, còn có nhiều cuốn sách, bài báo dành cho chủ

đề ASEAN, trong đó có đề cập đến quan hệ ASEAN-Mỹ như cuốn "Liên kết

ASEAN trong bối cảnh toàn cầu hoá" do Trần Khánh chủ biên (Nxb KHXH,

2002); “Liên kết ASEAN trong thập niên đầu thế kỷ XXI” do Phạm Đức Thành chủ biên (Nxb KHXH, 2006); "ASEAN từ Hiệp hội đến Cộng đồng"

do Nguyễn Duy Dũng chủ biên (Nxb KHXH, 2012); “Hiện thực hoá Cộng

đồng ASEAN- Bối cảnh tác động và những vấn đề đặt ra” do Trương Duy

Hoà chủ biên (Nxb KHXH, 2013) v.v Trong các công trình này, ngoài việc phân tích sự tiến triển của ASEAN từ Hiệp hội đến Cộng đồng, các tác giả còn đề cập đến quan hệ quốc tế của ASEAN, trong đó có quan hệ ASEAN-

Mỹ Đây là nguồn tài liệu quý cho việc phân tích, luận giải về phản ứng của ASEAN trước những điều chỉnh chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á, cũng như đánh giá về vị thế của ASEAN trong tiến trình phát triển quan hệ giữa hai bên

Ngoài các công trình trên, nghiên cứu sinh đã tiếp cận khá nhiều công trình cấp Bộ, cấp Nhà nước đã được bảo vệ hay nghiệm thu Tiêu biểu trong

số này có công trình cấp Nhà nước "Sự biến động địa chính trị Đông Á hai

thập niên đầu thế kỷ XXI; Những vấn đề đặt ra và đối sách của Việt Nam" do

Trần Khánh làm chủ nhiệm, bảo vệ năm 2010; công trình cấp Nhà nước

"Quan hệ Mỹ-Trung và tác động cúa nó đối với Việt Nam (2011-2020)" do

Nguyễn Tâm Chiến làm chủ nhiệm, bảo vệ năm 2015 Quan hệ Mỹ-ASEAN trong các công trình này cũng được đề cập, nhất là giai đoạn từ thập niên đầu

Trang 27

thế kỷ XXI Đây là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích không chỉ cung cấp các luận cứ, thông tin khoa học, mà còn giúp NCS có cách tiếp cận và phân tích các sự kiện, giai đoạn biến đổi của quan hệ Mỹ-ASEAN trong một không gian, thời gian, vấn đề được xác định

1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.2.1 Các công trình nghi n cứu li n quan trực tiếp đến quan hệ Mỹ-ASEAN

Do tầm quan trọng của chính sách đối ngoại Mỹ và sự nổi lên của ASEAN như một thực thể có uy tín và quyền lực trong quan hệ quốc tế, nhất

là ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, việc nghiên cứu về quan hệ ASEAN đã thu hút nhiều học giả trên thế giới Một trong những công trình

Mỹ-tiêu biểu về quan hệ Mỹ- ASEAN phải kể đến bài viết "US- ASEAN relations

under the Obama Administration 2009-2011" (Quan hệ Mỹ- ASEAN dưới thời của Tổng thống Obama 2009-2011) của học giả Carmia Colette Carrol, xuất

bản tại Đại học Georgetown, Washington, D.C năm 2012 Công trình này đã phân tích những điều chỉnh chiến lược, chính sách của B Obama trong nhiệm

kỳ đầu từ năm 2009 đến năm 2011 Nếu như dưới thời của Tổng thống G Bush, quan hệ Mỹ- ASEAN chủ yếu tập trung vào lĩnh vực an ninh, tập trung chống lại các mối đe dọa khủng bố cả trên biển và đất liền, thì đến thời Tổng thống Obama, cặp quan hệ này được cải thiện nhiều hơn và đồng bộ hơn, không chỉ ở lĩnh vực chính trị-an ninh, mà cả trên lĩnh vực kinh tế và văn hoá-

xã hội Với nghiên cứu này, tác giả Carmia đã đưa ra được góc nhìn so sánh những thay đổi trong quan hệ với ASEAN dưới hai đời Tổng thống Mỹ

Tiếp đến là các công trình "ASEAN into the 1990s" (ASEAN bước vào

thập niên 90) do Alison Broinowski chủ biên (Nxb.St Martins Press, New

York, 1990) và cuốn "The ASEAN Reader" (Tuyển tập về ASEAN) do Sandhu

Trang 28

Á của Singapore năm 1992 Ngoài việc phân tích sự hình thành, nội dung hợp tác, cơ cấu tổ chức của ASEAN, hai công trình trên đã đề cập đến chính sách đối ngoại của tổ chức này, trong đó có quan hệ với Mỹ Các học giả tập trung nhiều vào mối quan hệ của ASEAN với Mỹ từ cuối những năm 70, trong đó nhấn mạnh đến sự tập hợp lực lượng của Mỹ khi phối hợp với ASEAN, Trung Quốc trong vấn đề Campuchia Hơn nữa, mối quan tâm được ưu tiên hàng đầu của Mỹ trong quan hệ với ASEAN là hợp tác an ninh Tuy nhiên hai công trình này chỉ đề cập các vấn đề của ASEAN và Mỹ đến giai đoạn cuối thập niên 80 của thế kỷ XX

Ngoài ra còn có cuốn sách "ASEAN Centrality and ASEAN- US

Economic Relationship" (Vai trò Trung tâm của ASEAN và Quan hệ Kinh tế ASEAN- Mỹ) của hai tác giả là Peter A Petri và Michael G Plummer, được

xuất bản tại Trung tâm Đông Tây Hawaii (Mỹ) năm 2013 Cuốn sách phân tích vai trò của ASEAN trong việc kiến tạo một cấu trúc an ninh mới với ASEAN làm trung tâm trong đàm phán, thông qua Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) với 4 nước thành viên của ASEAN là Việt Nam, Singapore, Malaysia và Brunei; phân tích ý nghĩa kinh tế, an ninh và ảnh hưởng đối với Mỹ tại châu Á-Thái Bình Dương và vị thế của Đông Nam Á/ASEAN trong các vấn đề quốc tế, đặc biệt là trong dịch chuyển cán cân quyền lực ở khu vực này trước sự trỗi dậy của Trung Quốc

Cùng với các cuốn sách trên, có nhiều bài báo bàn về chính sách đối ngoại của Mỹ liên quan đến ASEAN trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI như

"US Strategy for ASEAN" (Chiến lược của Mỹ với ASEAN) đăng trên tờ

Globalist ngày 26 tháng 5 năm 2010 của Ernest Bower; và "Analysis: Budget

Woes could hurt outreach to Asia" (Phân tích: Nhân tố gây trở ngại cho chính sách trở lại Châu Á của Mỹ) đăng trên tờ Business Mirror ngày

19/1/2013 Hai bài viết này đề cập nhiều đến chính sách của Tổng thống B Obama đối với Đông Nam Á/ASEAN, nhấn mạnh những lợi ích chiến lược

Trang 29

về kinh tế và an ninh của Mỹ ở Biển Đông và các vùng biển khác của Đông Nam Á, đồng thời cũng chỉ ra những thách thức, khó khăn của Mỹ khi xoay trục "trở lại châu Á" Đây là nguồn tài liệu bổ ích khi phân tích bước chuyển mới trong chính sách đối ngoại của Mỹ cũng như sự thích ứng của ASEAN và

nỗ lực mở rộng quan hệ với các nước lớn, trong đó có Mỹ

Cùng với chủ đề trên có bài viết "U.S Seeks to Strengthen Relations

with ASEAN" (Mỹ tìm kiếm sự thắt chặt quan hệ với ASEAN) của Jane Morse

do Đại sứ quán Mỹ ấn hành vào ngày 1 tháng 7 năm 2013; bài viết "US

Policy in Southeast Asia: Limited Reengagement after Years of Benign Neglect" (Chính sách của Mỹ tại Đông Nam Á: Tái can dự giới hạn sau những năm tháng sao nhãng) của hai tác giả Mauzy và Job xuất bản năm

2007 và bài "ASEAN Matters for America" (Vai trò của ASEAN với Mỹ) do

East-West Center ấn hành vào năm 2014 Các tác giả trên đã đề cập đến sự thay đổi của môi trường địa chính trị, kinh tế ở Đông Nam Á và cho rằng Mỹ cần cam kết rõ ràng hơn trong việc đảm bảo hòa bình, ổn định và thịnh vượng

ở khu vực này Mỹ đã củng cố vai trò của mình thông qua việc tăng cường quan hệ với ASEAN trong hợp tác về an ninh truyền thống và phi truyền thống, là những vấn đề đang nổi lên tại khu vực này Đây là những nguồn tài liệu có giá trị để nghiên cứu sự vận động và chiều hướng phát triển của quan

hệ Mỹ-ASEAN trên các khía cạnh khác nhau trong thập niên đầu thế kỷ XXI

Ngoài các công trình bằng tiếng Anh, còn có khá nhiều tài liệu bằng

tiếng Nga, trong đó có các công trình tiêu biểu như: "ASEAN: Ba thập niên

(1967-1997)", Tập 1, xuất bản tại Viện Quan hệ Quốc tế Matxcơva năm 1997;

và "ASEAN: Ba thập kỷ của chính sách đối ngoại", Tập 2, xuất bản tại Viện

Quan hệ Quốc tế Matxcơva năm 1999 của Giáo sư Maletin N.P Nếu như trong tập 1, tác giả tập trung phân tích sự tiến triển của ASEAN, nhất là về cơ cấu tổ chức, nội dung hợp tác nội khối qua 3 giai đoạn 1967-1976, 1977-1991

Trang 30

đề đối ngoại của ASEAN, trong đó có quan hệ của ASEAN với Mỹ Tác giả cho rằng, sự tiến triển trong quan hệ của ASEAN với các cường quốc, nhất là

Mỹ, gắn liền với biến động của tình hình khu vực từ nửa sau thập niên 70, đó

là sự gia tăng nhanh chóng ảnh hưởng của Liên Xô và Việt Nam ở Đông Dương sau năm 1975 đã trở thành một trong những nhân tố chính làm Mỹ quan tâm nhiều hơn đến ASEAN Quan hệ của Mỹ với ASEAN và các nước thành viên từ năm 1978 đến năm 1991, chủ yếu dựa trên việc cung cấp viện trợ phát triển và duy trì an ninh Trong thập niên 90, Mỹ có phần hạ thấp tầm quan trọng của ASEAN vì lúc bấy giờ tại khu vực này chưa xuất hiện đối thủ cạnh tranh với Mỹ Tác giả cho rằng, quan hệ của Mỹ với ASEAN về thể chế

và nội dung ở giai đoạn này còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực

an ninh (nhất là quân sự) và duy trì các mối quan hệ song phương với các nước thành viên Những nhận định, ý kiến của học giả này là nguồn tham khảo đáng nghi nhận và chất lượng cho việc nghiên cứu sự tiến triển trong quan hệ Mỹ-ASEAN giai đoạn cuối những năm 90 của thế kỷ XX

Một công trình khác bằng tiếng Nga là "ASEAN ở đầu thế kỷ XXI" của

Viện Viễn Đông, Viện Hàn Lâm Nga, xuất bản tại Matxcơva năm 2010 Ở chương 2 của phần II, trong mục có tiêu đề "Quan hệ ASEAN-Mỹ", tác giả Senhin R A đã tập trung phân tích sự tiến triển của quan hệ ASEAN-Mỹ sau

sự kiện 11/9/2001 và tập trung phân tích giai đoạn từ năm 2005 đến năm

2008 Tác giả cho rằng, quan hệ của ASEAN với Mỹ từ thời gian này trở nên cân bằng và toàn diện hơn, kể cả về thể chế và nội dung hợp tác Đây là một trong những nguồn tài liệu quý để tiếp tục nghiên cứu, so sánh sự tiến triển của quan hệ Mỹ-ASEAN trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI

1.2.2 Các công trình nghi n cứu có li n quan đến quan hệ ASEAN

Trang 31

Mỹ-Có rất nhiều công trình của học giả nước ngoài bàn về chính sách và vai trò của Mỹ, của ASEAN, về bối cảnh chính trị, kinh tế ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương liên quan đến quan hệ Mỹ-Đông Nam Á/ASEAN qua các giai đoạn khác nhau Trong số các tác phẩm viết về giai đoạn trước và sau

những năm 90 của thế kỷ XX, có công trình "Assessing U.S Bilateral

Security Alliances in the Asia Pacific’s Southern Rim- Why the San Francisco System Endures" (Đánh giá các đồng minh an ninh song phương của Mỹ tại Vòng cung Phía Nam khu vực Châu Á – Thái Bình Dương: Vì sao Hệ thống San Francisco vẫn hiện hữu) của tác giả Tow, xuất bản năm 1999 Trọng tâm

của nghiên cứu này tập trung vào giai đoạn những năm 1990, khi quan hệ đồng minh của Mỹ đã hình thành nên một “vòng cung phía Nam” tại châu Á – Thái Bình Dương từ thời Chiến tranh Lạnh Tuy nhiên, trong bối cảnh hậu Chiến tranh Lạnh và xu thế toàn cầu hóa, các nước đồng minh thân cận của

Mỹ trong khối ASEAN tỏ ra ngại ngần với các mục tiêu chiến lược toàn cầu của Mỹ Trong khi đó, Trung Quốc nổi lên như một bạn hàng chủ chốt của ASEAN Thái độ thờ ơ của Mỹ trong việc giải quyết vấn đề khủng hoảng tài chính ở châu Á năm 1997 đã làm cho nhiều nước ASEAN lo lắng, hoài nghi

về vai trò của Mỹ tại khu vực này và đây đã trở thành cơ hội cho Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng của họ xuống Đông Nam Á

Tiếp đến có cuốn sách "American Foreign Policy: The Dynamics of

Choice in the 21 st Century" (Chính sách đối ngoại của Mỹ- Động cơ của sự lựa chọn trong thế kỷ XXI) được tái bản nhiều lần và lần gần nhất là vào năm

2013 của tác giả Bruce W Jentleson; và cuốn "US Foreign Policy after the

Cold War" (Chính sách đối ngoại của Mỹ sau Chiến tranh Lạnh) của Randall

B Ripley và James M Lindsay (chủ biên), do NXB Chính trị quốc gia dịch

và xuất bản năm 2002 Hai công trình này đã phân tích tình hình quốc tế, vị thế của Mỹ, cũng như đưa ra chương trình hành động trong chính sách đối

Trang 32

Mỹ với Đông Nam Á/ASEAN Mặc dù hai cuốn sách chỉ đề cập chính sách đối ngoại từ thời Tổng thống Bill Clinton trở về trước, nhưng là nguồn tư liệu rất quan trọng khi cung cấp cho độc giả cái nhìn tổng thể, hệ thống và toàn diện về những vấn đề và xu hướng tiến triển trong chính sách đối ngoại của

Mỹ, trong đó có quan hệ với ASEAN

Về chính sách của Mỹ dưới thời Tổng thống B Obama đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương nói chung, Đông Nam Á/ASEAN nói riêng, có

công trình khá đồ sộ "Balancing Acts: The U.S Rebalance and Asia- Pacific

Stability" (Chiến lược tái cân bằng của Mỹ tại châu Á- Thái Bình Dương) do

nhóm tác giả Robert G Sutter, Michael E Brown và Timothy J A Adamson công bố năm 2013 tại Đại học George Washington Cuốn sách này đã phân tích chính sách "xoay trục" hay còn gọi là "tái cân bằng" sang khu vực châu Á- Thái Bình Dương của chính quyền Obama; phân tích những nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi này cùng các sáng kiến mới trong chính sách của Mỹ đối với khu vực và triển vọng trong quan hệ với châu Á- Thái Bình Dương Đây

là tài liệu quan trọng để luận giải tại sao Mỹ lại quan tâm nhiều hơn đến Đông Nam Á/ASEAN từ nửa thập niên đầu thế kỷ XXI

Ngoài ra, còn có một loạt bài viết với chủ đề trên như “The United

States and Southeast Asia, American's Role in Asia: Asian and American Views”, (Mỹ và Đông Nam Á, Vai trò của Mỹ ở châu Á: Quan điểm của châu

Á và Mỹ) của Koh Tommy, do Quỹ Asia Foundation xuất bản năm 2008;

“The Obama Administration and US Policy in Asia” (Chính quyền Obama và chính sách của Mỹ ở châu Á) của Stutter Robert G đăng tải ở Tạp chí

Contemporary Southeast Asia, năm 2009; "Complex Patchworks: US

Alliances as Part of Asia’s Regional Architecture" (Những mảnh ghép phức tạp: Đồng minh của Mỹ như một bộ phận của cấu trúc khu vực Châu Á) của

tác giả Victor Cha, đăng ở Tạp chí Asian Policy năm 2011 v.v Các tác giả đề

cập nhiều đến quan hệ của Mỹ với các đồng minh tại châu Á sau Chiến tranh

Trang 33

Lạnh và cho rằng, Mỹ ngày càng coi trọng hơn một cấu trúc khu vực đang định hình tại Châu Á-Thái Bình Dương với ASEAN làm trọng tâm Tuy nhiên, Mỹ vẫn ưu tiên hơn đến quan hệ đồng minh và hợp tác song phương với từng nước thành viên của Hiệp hội này

Bên cạnh các công trình nghiên cứu, còn có các báo cáo đặc biệt của

Hội đồng đối ngoại quốc gia Mỹ như: "The United States in the New Asia" (Nước Mỹ bên trong một châu Á mới) của hai tác giả Evan A Feigenbaum và Robert A Manning công bố năm 2013, và báo cáo "Asia- Pacific Maritime

Security Strategy" (Chiến lược An ninh Hàng hải Châu Á- Thái Bình Dương)

công bố vào tháng 8 năm 2015 của Bộ Quốc phòng Mỹ Hai báo cáo này đã nêu lên mục tiêu, bối cảnh quốc tế và trong nước, cũng như các giải pháp nhằm triển khai, bảo vệ quyền tự do trên biển, trong đó có Biển Đông theo luật pháp quốc tế, bao gồm quyền tự do lưu thông, quyền sử dụng vùng biển

và vùng trời cho tàu và máy bay thương mại, quân sự được công nhận theo luật pháp quốc tế, ngăn chặn xung đột và cưỡng ép trên biển, thúc đẩy sự tuân thủ luật pháp và các tiêu chuẩn quốc tế Đây là những tài liệu tốt để luận giải việc Mỹ đã có những nỗ lực mới trong hợp tác an ninh với ASEAN và các nước thành viên trên các vùng biển ở Đông Nam Á

Nói tóm lại, các học giả nước ngoài đã dành sự quan tâm lớn nghiên

cứu sự tiến triển của quan hệ Mỹ-ASEAN, ASEAN-Mỹ, nhất là giai đoạn từ thập niên đầu thế kỷ XXI đến nay Các tác giả lý giải tại sao Mỹ lại quan tâm nhiều hơn đến ASEAN và ASEAN có thể trở thành đối tác chiến lược quan trọng của Mỹ Tuy nhiên, những nghiên cứu về sự hình thành quan hệ đối tác của Mỹ với ASEAN, cũng như sự tiến triển, nhất là về thể chế hợp tác của mối quan hệ này cả trước và sau Chiến tranh Lạnh vẫn chưa được quan tâm đúng mức Hơn nữa, những phản ứng của ASEAN trước các điều chỉnh chính sách của Mỹ cũng chưa được nghiên cứu nhiều

Trang 34

1.3 Một số nhận xét về tình hình nghiên cứu đề tài và những vấn

đề đặt ra cần giải quyết

1.3.1 Nhận xét về nguồn tài liệu nghi n cứu

Trên cơ sở khảo cứu nguồn tài liệu đã công bố liên quan đến nghiên cứu quan hệ Mỹ-ASEAN, có thể đưa ra một số nhận xét sau:

Thứ nhất, những tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến

quan hệ Mỹ-ASEAN là hết sức đồ sộ và tương đối cập nhật, phản ảnh khá đa diện về quá trình vận động của mối quan hệ này trên các mặt khác nhau, nhất

là về chính trị-ngoại giao, an ninh-quân sự và kinh tế qua các thời gian khác nhau Cùng với đó, các nhân tố tác động đến sự dịch chuyển chính sách đối ngoại của Mỹ, phản ứng của ASEAN và tổng thể của cặp quan hệ này cũng được phân tích, mổ xẻ những tác động từ sự biến động của môi trường địa chính trị, kinh tế thế giới và khu vực châu Á-Thái Bình Dương Đó là sự tranh đua ý thức hệ chính trị-tư tưởng và quân sự dưới thời Chiến tranh Lạnh, sự gia tăng của toàn cầu hóa, sự nổi lên của Trung Quốc, sự suy giảm tương đối

vị thế của Mỹ, Nhật Bản, sự nổi lên của các vấn đề an ninh và vị thế ngày càng quan trọng của ASEAN trong quan hệ quốc tế ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương kể từ sau Chiến tranh Lạnh Tuy nhiên, các công trình chưa đi sâu vào phân tích một cách có hệ thống và so sánh các giai đoạn tiến triển, đặc biệt là tiến triển về thể chế và nội dung hợp tác giữa Mỹ và ASEAN, nhất

là ở giai đoạn đầu của thiết lập quan hệ đối thoại (1977-1991) và sự thiết lập quan hệ đối tác chiến lược Mỹ- ASEAN vào cuối 2015

Thứ hai, đa phần các công trình nghiên cứu nghiêng về phân tích chính

sách, chiến lược đối ngoại của Mỹ với Đông Nam Á, mà chưa thực sự dành trọng tâm làm rõ chính sách đối với ASEAN với tư cách là một tổ chức khu vực, nhất là trong hai giai đoạn đầu (1977-1991, 1991-2001) của tiến trình phát triển quan hệ Mỹ-ASEAN

Trang 35

Thứ ba, trong các nghiên cứu chưa phân tích sâu những cơ hội và thách

thức, thành tựu và hạn chế của mối quan hệ này, tác động từ sự chia rẽ trong ASEAN và sự suy giảm tương đối vị thế của Mỹ trong cán cân quyền lực ở Đông Nam Á trong thập niên gần đây Những đặc điểm và bản chất của mối quan hệ Mỹ-ASEAN cũng chưa được khái quát một cách sâu sắc và có hệ thống

Thứ tư, một số công trình chưa đánh giá đúng mức vị thế, vai trò của

Mỹ và ASEAN cũng như tác động của mối quan hệ này đối với an ninh và phát triển của Đông Nam Á Có người quá đề cao mối quan hệ trên Ngược lại một số khác lại đánh giá thấp, tính kém hiệu quả của quan hệ Mỹ-ASEAN, trong khi đó lại đề cao các quan hệ song phương của Mỹ với các nước thành viên

Thứ năm, Trong khi phân tích sự vận động của mối quan hệ

ASEAN-Mỹ, Mỹ-ASEAN, nhiều học giả, nhất là các tác giả trong nước dành khá nhiều thời lượng đánh giá tác động và dự báo triển vọng, cũng như gợi ý chính sách cho Việt Nam và ASEAN trong việc thúc đẩy quan hệ kinh tế, an ninh với Mỹ Tuy nhiên, những gợi ý và dự báo còn nặng về định tính, thiếu định lượng

1.3.2 Những vấn đề luận án sẽ tập trung nghi n cứu

Như đã đề cập ở trên, có rất nhiều công trình nghiên cứu về xu hướng vận động và thực chất của mối quan hệ Mỹ-ASEAN trên các mặt khác nhau trước và sau Chiến tranh Lạnh, đặc biệt là trong thập niên gần đây Tuy nhiên, theo chúng tôi cho tới nay vẫn còn khá nhiều vấn đề chưa được nghiên cứu sâu và toàn diện về mối quan hệ này Những vấn đề đó là:

- Mối quan hệ này được xây dựng dựa trên những nền tảng nào? Vì sao

Mỹ ủng hộ sự ra đời của ASEAN nhưng không vội vàng thiết lập quan hệ với

Trang 36

1974) hay Nhật Bản (năm 1976), mà mãi tới năm 1977 mới thực hiện? Tại sao trong hai giai đoạn đầu (1977-1991 và 1991-2001), quan hệ Mỹ-ASEAN tiến triển chậm chạp, trong khi đó ASEAN lại luôn có mong muốn củng cố và phát triển quan hệ với Mỹ? Tại sao mãi đến cuối năm 2015 quan hệ Mỹ-ASEAN mới nâng cấp lên tầm quan hệ Đối tác chiến lược?

- Tiến trình quan hệ Mỹ-ASEAN diễn ra như thế nào theo thời gian, không gian và từng lĩnh vực? Nội dung và bản chất của mỗi giai đoạn và của

cả quá trình là gì? Có những đặc điểm nào đáng chú ý ?

- Quan hệ Mỹ-ASEAN đã tác động như thế nào đối với ASEAN và các nước thành viên, trong đó có Việt Nam ? Đâu là những lợi ích từ các phía ?

- Những vấn đề gì mới nảy sinh trong quá trình xây dựng quan hệ ASEAN, nhất là từ khi hai thực thể này nâng cấp thành quan hệ đối tác chiến lược và triển vọng ra sao? Nguyên nhân nào dẫn tới những vấn đề đó? Việc tìm lời giải cho những vấn đề khoa học trên chính là nhiệm vụ nghiên cứu của luận

Mỹ-án này

Trang 37

Chương II

SỰ THIẾT LẬP VÀ TIẾN TRIỂN CỦA QUAN HỆ ĐỐI THOẠI MỸ-ASEAN DƯỚI THỜI CHIẾN TRANH LẠNH (1977-1991) 2.1 Sự thiết lập quan hệ đối thoại Mỹ-ASEAN

2.1.1 Bối cảnh của sự thiết lập quan hệ đối thoại Mỹ-ASEAN

2.1.1.1 Bối cảnh quốc tế và nước Mỹ

Thế giới bước vào thập niên 70 của thế kỷ XX, có những chuyển động lớn về địa chính trị và kinh tế Mặc dù sự đối đầu Đông -Tây, nhất là đối đầu

về ý thức hệ tư tưởng và quân sự giữa Liên Xô và Mỹ vẫn diễn ra, nhưng các nước lớn như Mỹ, Liên Xô và Trung Quốc bắt đầu điều chỉnh luật chơi của họ bằng việc hòa hoãn, tìm kiếm đối tác mới để liên minh, liên kết, tập hợp lực lượng cho một cuộc tranh đua mới Từ thời điểm này, mâu thuẫn và cạnh tranh của Tam giác chiến lược Mỹ-Trung-Xô được biểu hiện rõ nét nhất ở Đông Nam Á Đặc biệt, sự sa lầy của Mỹ ở Việt Nam từ nửa sau những năm

60, cùng với chiến thắng của cách mạng 3 nước Đông Dương năm 1975, đã tác động sâu sắc đến cục diện của Đông Nam Á, trước hết là chính trị và an ninh - quân sự Điều này khiến các bên liên quan, trong đó có các nước lớn, đặc biệt là Mỹ, đã tiến hành điều chỉnh cuộc chơi của mình ở Đông Nam Á, trong đó có việc đi đến chính thức thiết lập quan hệ đối thoại với tổ chức ASEAN

Trước hết là sự phát triển mạnh mẽ của Liên Xô và gia tăng ảnh hưởng ngày càng lớn của quốc gia này ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Đông Nam Á, và sự thất bại của Mỹ trong cuộc chiến ở Việt Nam đã buộc Mỹ phải

điều chỉnh cuộc chơi quyền lực của mình, trong đó có việc thỏa hiệp, bắt tay với Trung Quốc, thiết lập quan hệ với ASEAN nhằm gây sức ép với Liên Xô

Trang 38

ra rằng, để giải quyết sự sa lầy trong cuộc chiến ở Việt Nam và rút khỏi cuộc chiến này một cách "danh dự" cũng như cân bằng chiến lược quân sự-an ninh toàn cầu, Mỹ không chỉ cần bắt tay với Liên Xô mà còn phải dùng tới "con bài Trung Quốc" để “nhốt con Gấu Bắc cực vào chuồng” [34, tr.161] Việc Henry Kissinger đến Bắc Kinh vào tháng 7 năm 1971, đặc biệt là chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Richard Nixon tới Trung Quốc từ ngày 21 đến 28/2/1972 cùng việc ký kết bản Thông cáo chung hay còn gọi là “Thông cáo Thượng Hải 1972” đã chuyển đến thế giới một thông điệp rằng, thời kỳ thù địch, đối đầu Mỹ-Trung đã qua Hai cường quốc này đã tiến tới một hợp tác mang tính chiến lược, cùng nhau chống lại Liên Xô với mục đích muốn nâng cao địa vị của họ trên bản đồ địa chính trị thế giới Tuy nhiên, trong khoảng

từ năm 1975 đến năm 1977, quan hệ Mỹ-Trung lâm vào tình trạng trì trệ, cho

dù các cuộc viếng thăm khá thường xuyên Nguyên nhân chính là do bất đồng giữa Mỹ và Trung Quốc về chính sách của Mỹ đối với Liên Xô, sự bế tắc trong việc tìm một giải pháp chung cho vấn đề Đài Loan (Mỹ vẫn giữ liên minh quân sự với Đài Loan), và do những khó khăn nảy sinh từ nội bộ bên trong của mỗi nước (sự kiện Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông qua đời vào năm 1976) Bên cạnh đó, quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam xấu đi, quan

hệ đồng minh giữa Liên Xô và Việt Nam đã có những tiến triển mạnh mẽ Vì vậy, Mỹ và Trung Quốc bắt đầu nhận ra rằng, cần phải sử dụng "con bài ASEAN" để kiềm chế Liên Xô và Việt Nam Đây cũng là một nguyên nhân đưa đến việc thiết lập quan hệ đối thoại giữa Mỹ và ASEAN vào năm 1977

Tình hình ở những nơi khác cũng có những dịch chuyển lớn Tại Tây

Âu, Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) được thành lập từ 1957 đã phát triển lên thành Cộng đồng Châu Âu (EC) vào năm 1967 với sự tăng trưởng nền kinh tế vô cùng mạnh mẽ Cùng với sự lớn mạnh của châu Âu, đặc biệt là của Tây Âu, Nhật Bản cũng có những bước phát triển thần kỳ khi đến giữa những năm 70 của thế kỷ XX đã vươn lên trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới Từ

Trang 39

tháng 8/1977, Nhật Bản đưa ra học thuyết mới về Đông Nam Á (gọi là Học

thuyết Fukuda), trong đó cam kết đóng góp cho hòa bình, thịnh vượng của

khu vực, nỗ lực trở thành một đối tác bình đẳng, đáng tin cậy của Đông Nam

Á [62, tr 258-259] Kết quả của quá trình trên làm cho thế giới thập niên 70 hình thành ba trung tâm kinh tế- tài chính lớn Điều này làm cho cạnh tranh kinh tế giữa Mỹ- Tây Âu và Nhật Bản trở nên quyết liệt Thế độc quyền, vị trí đứng đầu thế giới tư bản của Mỹ bị thách thức Bên cạnh đó, cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới bùng nổ vào giữa những năm 1970 đã lan rộng ra toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng sang các lĩnh vực chính trị- xã hội Mỹ cũng

bị ảnh hưởng lớn từ cuộc khủng hoảng này

Tình hình nước Mỹ: Sự sa lầy của Mỹ trong cuộc chiến ở Đông Dương,

trước hết là ở Việt Nam từ nửa sau những năm 60 và thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Lào, Campuchia năm 1975 đã khiến cho vị thế của nước Mỹ bị suy

giảm Về kinh tế, từ sau năm 1975 đến đầu những năm 80, nước Mỹ bước vào

thời kỳ suy thoái nghiêm trọng, thất nghiệp tăng cao, lạm phát tăng 2 con số Nếu như nửa đầu những năm 70 của thế kỷ XX, lạm phát ở nước Mỹ bình quân khoảng 8% một năm, thì đến năm 1976 tăng lên trên 12% Trong khi đó, năng suất lao động giảm đi hai lần so với đầu những năm 60 Tổng thống Jimmy Carter sau khi nhận chức (năm 1977) đã thừa nhận rằng "Nền kinh tế của chúng ta không ổn định, lao vào cuộc suy thoái tệ hại nhất trong vòng 40 năm qua Những vấn đề mà chúng ta đang gặp hiện nay phức tạp và khó khăn hơn nhiều so với những vấn đề của thời kỳ trước đây", "Chúng ta phải vật lộn với những hậu quả của một cuộc chiến tranh kéo dài đẫm máu ở Đông Nam Á

mà không được nhân dân ủng hộ" [23, tr 101 - 110]

Đây là hậu quả của một cuộc chiến hao người, tốn của mà Mỹ gây ra trong chiến tranh ở Việt Nam Theo đánh giá vào năm 2004, Mỹ đã tiêu tốn tới 676 tỷ USD cho cuộc chiến này Còn tính theo thời giá năm 2011, Mỹ đã

Trang 40

chi tới 950 tỷ USD chiến phí tại Việt Nam Con số này chỉ đứng sau chi phí của Mỹ trong Chiến tranh Thế giới lần thứ II [188]

Về tình hình chính trị-xã hội, "hội chứng Việt Nam" đã ám ảnh nước

Mỹ không chỉ bằng con số 58.000 quân Mỹ tử trận và khoảng 304.000 quân lính bị thương, mà quan trọng hơn, điều đó đã khiến cho xã hội Mỹ rạn nứt, chao đảo niềm tin của nhân dân với chính quyền Tổng thống Jimmy Carter

đã cay đắng thú nhận rằng: "Trong thời gian qua, nhân dân Mỹ đã thấy Nhà nước ngày càng xa rời họ Đối với một số công dân Mỹ, chính quyền Mỹ đã trở nên chẳng khác gì chính quyền của nước nào đó bên ngoài, xa lạ và khó tiếp xúc " Đại tướng Maxwel D Taylor, nguyên Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn đã thốt lên khi Sài Gòn thất thủ vào năm 1975 rằng "Trong cuộc chiến tranh này, chúng ta không hề có một anh hùng nào cả mà chỉ có toàn là một lũ ngu xuẩn Chính tôi cũng nằm trong số đó" [23, tr 100 và tr 109-110] Điều này một phần đã nói lên tâm trạng bi quan, sự chia rẽ sâu sâu sắc trong xã hội Mỹ giữa những năm 70 của thế kỷ XX

Về uy tín của nước Mỹ trên trường quốc tế, sự sa lầy và thất bại của

Mỹ trong chiến tranh ở Việt Nam đã làm cho sức mạnh tổng thể và uy tín của nước Mỹ trên trường quốc tế suy giảm Về quan hệ kinh tế quốc tế, việc in tiền liên tục để chi phí cho chiến tranh, cũng như sự chuyển đổi nhiều nhà máy sản xuất hàng tiêu dùng sang cung cấp thiết bị cho quân đội đã làm giảm

đi sức cạnh tranh hàng hóa của Mỹ trên thị trường quốc tế Lạm phát và đồng USD mất giá đã đưa đến sự sụp đổ của Hệ thống Bretton Woods (hệ thống tỷ giá cố định mà ngân hàng Trung ương Mỹ ấn định cho đồng USD Mỹ từ năm

1944, theo đó một ounce vàng có giá trị 35 USD) Điều này làm cho sức mạnh của đồng USD yếu đi, ảnh hưởng mạnh đến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Mỹ Trong khi đó, các nước Tây Âu, nhất là Đức và đồng minh của

Mỹ ở phương Đông là Nhật Bản đã tăng cường đầu tư vào Mỹ Xu hướng này góp phần xói mòn quyền lực kinh tế của Mỹ trên thế giới [188] Bên cạnh đó,

Ngày đăng: 06/10/2017, 17:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Văn Anh (2009), Quan hệ Mỹ - ASEAN 1967-1997: Lịch sử và Triển vọng, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nọ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Mỹ - ASEAN 1967-1997: Lịch sử và Triển vọng
Tác giả: Lê Văn Anh
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa
Năm: 2009
2. Triệu Anh Ba, Quốc Thiều (2008), Barack Obama- Tương lai nước Mỹ, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Barack Obama- Tương lai nước Mỹ
Tác giả: Triệu Anh Ba, Quốc Thiều
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 2008
3. Trần Kim Bảng (2011), Cạnh tranh chiến lu ợc Mỹ - Trung ở Đông Nam Á, NXB Quân đọ i nhân dân, Hà Nọ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cạnh tranh chiến luợc Mỹ - Trung ở Đông Nam Á
Tác giả: Trần Kim Bảng
Nhà XB: NXB Quân đọ i nhân dân
Năm: 2011
5. Khổng Thị Bình, Nguyễn Vũ Tùng (2009), Chính sách đối ngoại của Mỹ và hệ luỵ đối với khu vực châu Á- Thái Bình Dương: Các góc nhìn từ giới học giả khu vực, Tạp chí nghiên cứu quốc tế (2), tr. 37-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đối ngoại của Mỹ và hệ luỵ đối với khu vực châu Á- Thái Bình Dương: Các góc nhìn từ giới học giả khu vực
Tác giả: Khổng Thị Bình, Nguyễn Vũ Tùng
Năm: 2009
6. Kurt M. Campbell (2010), Nguyên tắc can dự của Mỹ tại khu vực châu Á- Thái Bình Dương, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 5, tr. 25-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc can dự của Mỹ tại khu vực châu Á- Thái Bình Dương
Tác giả: Kurt M. Campbell
Năm: 2010
7. Lý Thực Cốc (1996), Mỹ thay đổi lớn chiến lu ợc toàn cầu, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nọ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thay đổi lớn chiến luợc toàn cầu
Tác giả: Lý Thực Cốc
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
8. Lê Va n Cu o ng - Tạ Quang Chuyên (2012), Mỹ trở lại châu Á và tác đọ ng của nó đến an ninh khu vực, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, ngày 13/9, http://tapchiqptd.vn/vi/quoc-phong-quan-su-nuoc-ngoai/my-tro-lai-chau-a-va-tac-dong-cua-no-den-an-ninh-khu-vuc/1459.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ trở lại châu Á và tác đọng của nó đến an ninh khu vực
Tác giả: Lê Va n Cu o ng - Tạ Quang Chuyên
Năm: 2012
9. Lê Va n Cu o ng (2013), Vài nét về chính sách đối ngoại của Tổng thống Mỹ Barack Obama trong nhiệm kỳ II (2012-2016), Tạp chí cộng sản (846), tr. 32- 42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về chính sách đối ngoại của Tổng thống Mỹ Barack Obama trong nhiệm kỳ II (2012-2016)
Tác giả: Lê Va n Cu o ng
Năm: 2013
10. Nguyễn Anh Cường (2011), Chính sách của Mỹ ở Biển Đông, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 8, tr. 23-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách của Mỹ ở Biển Đông
Tác giả: Nguyễn Anh Cường
Năm: 2011
12. Nguyễn Anh Dũng (2010), Chính sách đối ngoại của Mỹ hiện nay, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 1, tr.37-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đối ngoại của Mỹ hiện nay
Tác giả: Nguyễn Anh Dũng
Năm: 2010
13. Luạ n Thùy Du o ng (2010), Chính sách của Mỹ đối với khu vực Đông Nam Á, Tạp chí Cọ ng sản, ngày 7/1/2010. http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/The-gioi-van-de-su-kien/2010/487/Chinh-sach-cua-My-doi-voi-khu-vuc-Dong-Nam-A.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách của Mỹ đối với khu vực Đông Nam Á
Tác giả: Luạ n Thùy Du o ng
Năm: 2010
14. Đinh Quý Đọ (2000), Chính sách kinh tế của Mỹ đối với khu vực châu Á – Thái Bình Du o ng kể từ sau Chiến tranh Lạnh, NXB Khoa học Xã họ i, Hà Nọ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách kinh tế của Mỹ đối với khu vực châu Á – Thái Bình Duong kể từ sau Chiến tranh Lạnh
Tác giả: Đinh Quý Đọ
Nhà XB: NXB Khoa học Xã họ i
Năm: 2000
15. Phan Huy Đường (2009), Hệ luỵ của khủng hoảng thị trường tài chính Mỹ, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 3, tr.3-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ luỵ của khủng hoảng thị trường tài chính Mỹ
Tác giả: Phan Huy Đường
Năm: 2009
16. Nguyễn Hoàng Giáp (2005), Tác động của sự điều chỉnh chiến lược toàn cầu mới của Mỹ đến Đông Nam Á, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6, tr.56-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của sự điều chỉnh chiến lược toàn cầu mới của Mỹ đến Đông Nam Á
Tác giả: Nguyễn Hoàng Giáp
Năm: 2005
17. E. Grebentsicop (1992), Đối thoại Mỹ - ASEAN trong bối cảnh mới của khu vực châu Á – Thái Bình Du o ng, Thông tin lý luạ n, Hà Nọ i, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối thoại Mỹ - ASEAN trong bối cảnh mới của khu vực châu Á – Thái Bình Duong
Tác giả: E. Grebentsicop
Năm: 1992
18. Đỗ Sơn Hải (2013), Khả năng thay đổi chính sách xoay trục của Mỹ, Tạp chí Thế giới toàn cảnh, số 18, tr. 35-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng thay đổi chính sách xoay trục của Mỹ
Tác giả: Đỗ Sơn Hải
Năm: 2013
19. Hà Hồng Hải (2014), Những điều chính gần đây trong chính sách Biển Đông của Mỹ, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 2, tr. 71-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều chính gần đây trong chính sách Biển Đông của Mỹ
Tác giả: Hà Hồng Hải
Năm: 2014
20. Học viẹ n Quan hẹ Quốc tế (2003), Quan h của Mỹ với các nu ớc lớn ở khu vực châu Á – Thái Bình Du o ng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nọ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan h của Mỹ với các nuớc lớn ở khuvực châu Á – Thái Bình Duong
Tác giả: Học viẹ n Quan hẹ Quốc tế
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2003
21. Học viẹ n Quan hẹ Quốc tế (2004), Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay
Tác giả: Học viẹ n Quan hẹ Quốc tế
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
22. Đàm Huy Hoàng (2015), Quá trình xây dựng quan hệ đối tác chiến lược ASEAN-Trung Quốc từ 1991 đén 2010, Luận án Tiến sỹ Sử học, Học viện KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình xây dựng quan hệ đối tác chiến lược ASEAN-Trung Quốc từ 1991 đén 2010
Tác giả: Đàm Huy Hoàng
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w