ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM MAI THỊ THÚY QUAN NIỆM NHÂN SINH CỦA NHÂN VẬT THÚY KIỀU TRONG ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH NHÌN TỪ LÍ THUYẾT DIỄN NGÔN LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN N
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
MAI THỊ THÚY
QUAN NIỆM NHÂN SINH CỦA NHÂN VẬT
THÚY KIỀU TRONG ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH
NHÌN TỪ LÍ THUYẾT DIỄN NGÔN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thái Nguyên - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
MAI THỊ THÚY
QUAN NIỆM NHÂN SINH CỦA NHÂN VẬT
THÚY KIỀU TRONG ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH
NHÌN TỪ LÍ THUYẾT DIỄN NGÔN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Dương Thu Hằng
Thái Nguyên - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Quan niệm nhân sinh của nhân vật Thúy
Kiều trong Đoạn trường tân thanh nhìn từ lí thuyết diễn ngôn” là kết quả
nghiên cứu của riêng tôi không sao chép của ai Các kết quả của đề tài là trung thực
và chưa được công bố ở các công trình khác
Nội dung của luận văn có sử dụng tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí, các trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2017
Tác giả luận văn
Mai Thị Thúy
Trang 4Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Ban Giám hiệu, khoa Sau Đại học, khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu
Em cũng xin chân thành cảm ơn bạn bè và những người thân đã động viên và nhiệt tình giúp đỡ em trong thời gian hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2017
Tác giả luận văn
Mai Thị Thúy
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 9
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
6 Phương pháp nghiên cứu 10
7 Bố cục của đề tài 11
NỘI DUNG 12
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 12
1.1 Diễn ngôn và các mã cơ bản của diễn ngôn trong tiếp cận văn học 12
1.1.1 Khái niệm diễn ngôn 12
1.1.2 Khái niệm về mã và mã hệ tư tưởng, mã thể loại của lí thuyết diễn ngôn 14
1.2 Quan niệm về nhân sinh trong văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX 20
1.2.1 Quan niệm nhân sinh 20
1.2.2 Quan niệm nhân sinh trong văn học thế kỉ X đến thế kỉ XVII 22
1.2.3 Quan niệm nhân sinh trong văn học cuối thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX 25
1.3 Đôi nét về Nguyễn Du và các phát ngôn của nhân vật Thúy Kiều trong Đoạn trường tân thanh 28
Trang 61.3.1 Đôi nét về Nguyễn Du 28
1.3.2 Thống kê phát ngôn của nhân vật Thúy Kiều trong Đoạn trường tân thanh 31
*Tiểu kết chương 1: 32
Chương 2: QUAN NIỆM NHÂN SINH CỦA NHÂN VẬT THÚY KIỀU QUA CÁC ĐỐI THOẠI 33
2.1 Đối thoại chịu sự chi phối của tư tưởng phong kiến chính thống 33
2.1.1 Quan niệm sống tròn chữ hiếu 33
2.1.2 Quan niệm sống giữ gìn trinh tiết 38
2.2 Đặc điểm của các đối thoại chịu sự chi phối của thể loại truyện Nôm 41
2.2.1 Số lượng 42
2.2.2 Đối tượng, hoàn cảnh thoại 43
2.2.3 Vị thế phát ngôn 55
*Tiểu kết chương 2: 60
Chương 3: QUAN NIỆM NHÂN SINH CỦA NHÂN VẬT THÚY KIỀU QUA ĐỘC THOẠI NỘI TÂM 61
3.1 Độc thoại nội tâm chịu sự chi phối của quan điểm nhân văn thời đại 61
3.1.1 Quan niệm sống hướng tới sự trong sạch, lương thiện 61
3.1.2 Quan niệm sống phù hợp với hoàn cảnh 68
3.2 Đặc điểm độc thoại nội tâm trong sự chi phối của thể loại truyện Nôm 75
3.2.1 Số lượng 75
3.2.2 Hoàn cảnh chi phối độc thoại nội tâm 77
3.2.3 Ưu thế của độc thoại nội tâm trong việc thể hiện quan niệm sống mới mẻ của nhân vật Thúy Kiều 79
*Tiểu kết chương 3 81
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 89
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong văn học Việt Nam, ít có tác phẩm văn học từ khi ra đời cho đến nay, trải qua khoảng thời gian rất dài vẫn luôn được người đọc yêu thích, tôn
vinh như Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du Tác phẩm đi sâu vào lòng
người Việt Nam như một yếu tố tinh thần không thể thiếu Nguyễn Du viết
Đoạn trường tân thanh dựa theo cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh
Tâm Tài Nhân Trên cơ sở cốt truyện, nhân vật có sẵn, Nguyễn Du đã có những
sáng tạo cả về nội dung và nghệ thuật Đoạn trường tân thanh là “một tập đại
thành” được nghiên cứu chi tiết và phong phú từ lâu Trong đó quan niệm nhân
sinh của Đoạn trường tân thanh được khá nhiều các tác giả nghiên cứu dưới
những góc độ tiếp cận khác nhau Tuy nhiên nghiên cứu quan niệm nhân sinh của nhân vật Thúy Kiều từ lí thuyết diễn ngôn hiện đại chưa có công trình nào
đề cập đến
So với các nhân vật truyện Nôm khác Thúy Kiều là nhân vật rất đặc
biệt ở nhiều phương diện Nếu so với nguyên tác Kim Vân Kiều truyện thì
nhân vật Thúy Kiều đã được làm mới, đặc biệt phải kể đến những phát ngôn của nhân vật Theo lí thuyết diễn ngôn thì lời nói của nhân vật tồn tại ở cả hai dạng đối thoại và độc thoại đều hàm chứa trong đó nhiều mã, nhiều tầng, bậc
ẩn ý sâu xa và đó cũng chính là một trong mối quan tâm của lí thuyết diễn ngôn hiện đại Với sự yêu quý di sản văn hóa của dân tộc, chúng tôi tiếp thu những ý kiến đi trước và tiếp cận nhân vật Thúy Kiều từ lí thuyết diễn ngôn Với cách tiếp cận đó, chúng tôi hi vọng sẽ đem đến một góc nhìn mới trước một tác phẩm rất quen thuộc có bề dày nghiên cứu lâu nay
Bên cạnh đó, có thể thấy tác phẩm Đoạn trường tân thanh được đưa
vào giảng dạy chính thức trong nhà trường Vì vậy khi lựa chọn đề tài này chúng tôi mong muốn hi vọng trau dồi thêm tri thức, góp phần nâng cao nghiên cứu giảng dạy trong nhà trường
Trang 8Với những lí do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “Quan niệm nhân sinh
của nhân vật Thúy Kiều trong Đoạn trường tân thanh nhìn từ lí thuyết diễn ngôn” làm đề tài luận văn của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc nghiên cứu lí thuyết diễn ngôn vào trong các tác phẩm văn học những năm gần đây ở Việt Nam đang trên đà phát triển và được giới chuyên môn, những nhà khoa học rất quan tâm Những cuộc luận bàn, hội thảo về vấn
đề này diễn ra ngày càng nhiều và có quy mô lớn, thu hút nhiều người tham gia Phải kể đến một số bài nghiên cứu về diễn ngôn của các nhà phê bình lí
luận văn học, tiêu biểu như: Lí thuyết văn học hậu hiện đại của Phương Lựu [23], Khái niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học hôm nay của Trần Đình
Sử [43], Về diễn ngôn trong truyện ngắn của Trang Thế Hy của Lâm Thị Thiên Lan [16], Diễn ngôn về giới tính và thi pháp nhân vật của Trần Văn Toàn [45], Ba cách tiếp cận khái niệm diễn ngôn Nguyễn Thị Ngọc Minh [24], Diễn ngôn trong giao tiếp văn học Nguyễn Duy Bình [3] Tuy nhiên
nhìn nhận một cách tổng thể các bài nghiên cứu diễn ngôn về cơ bản chỉ đưa
ra nhận định và phân tích lí thuyết, ít có những công trình nghiên cứu vận dụng kỹ, sâu trong tác phẩm văn học cụ thể đứng trên góc độ của lí thuyết văn học Vì vậy việc nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này cần được quan tâm và đẩy mạnh hơn nữa
Ngay từ khi ra đời, Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du đã khẳng
định được vị thế của mình trong tâm hồn dân tộc Việt Nam Tác phẩm đã trở thành mảnh đất lí tưởng cho bao nhà nghiên cứu tìm tòi, “đào xới” Có thể kể đến các công trình tiêu biểu sau:
Năm 1949, Hoài Thanh với công trình Quyền sống của con người trong
Truyện Kiều của Nguyễn Du Đây được coi là công trình nghiên cứu sớm nhất
về Đoạn trường tân thanh theo quan điểm cách mạng Theo Hoài Thanh, lí do
để ông viết cuốn sách này bởi vì trong xã hội hiện đại có nhiều đổi mới sẽ có
Trang 9những giá trị xưa cũ không còn phù hợp với thực tại nữa Vậy nên cần nhìn nhận lại những giá trị cũ xem cái nào cần giữ lại, cái nào cần vứt bỏ và cái nào để xem xét tiếp Với hơn một trăm năm kể từ khi ra đời cho đến nay,
Truyện Kiều vẫn tiếp tục được khẳng định và biết đến trong lòng người dân
Việt Nam không chỉ học Kiều, thuộc Kiều, ngâm Kiều mà còn cả bói Kiều
Nhưng Truyện Kiều được hoan nghênh nhiều mà cũng bị bài xích nhiều Số phận Truyện Kiều cũng long đong như số phận nàng Kiều Kể từ khi nó ra
đời, nó chưa bao giờ được ngồi một chỗ yên ổn Người khen khen hết mực, người chê chê cũng hết lời Vì vậy, cần phải có một sự nhìn nhận cho đúng,
cho đủ để trả Truyện Kiều về đúng giá trị của nó [48, tr.22] Tác giả nhận
thấy rằng tác phẩm này cần được xem xét trên rất nhiều phương diện Tuy nhiên ông không có tham vọng để tìm hiểu hết tất cả mà chỉ xét riêng về một
vấn đề căn bản - đó là quyền sống của con người
Trong cuốn này, tác giả đã đi sâu phân tích hai nhân vật Thúy Kiều và
Từ Hải Với Thúy Kiều tác giả nhận xét: “Khi tạo ra nhân vật Thúy Kiều,
Nguyễn Du đã gián tiếp và có lẽ cũng là vô tình đòi quyền sống cho con người trong xã hội phong kiến Nhưng Nguyễn Du thiếu một ý thức rõ rệt, một
ý chí cương quyết Nguyễn Du đã không dám theo cho đến cùng cái khuynh hướng phản phong, Nguyễn Du đã nửa đường lùi bước” [48, tr.22] Ngoài
việc phân tích nhân vật, tác giả Hoài Thanh cũng đi vào phân tích xã hội
phong kiến trong Đoạn trường tân thanh, thời đại và thân thế nguyễn Du Cuối cùng, ông cũng bàn qua về “Truyện Kiều đối với các lớp người qua các
thời đại” Nhà nghiên cứu đã phân tích khá sâu sắc về giá trị nội dung xã hội Đoạn trường tân thanh Lần đầu tiên từ khi ra đời nội dung ý nghĩa xã hội
mới được khám phá và lí giải một cách đúng đắn
Năm 1956, Trương Tửu viết Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du Tác giả cho rằng Truyện Kiều là một tác phẩm văn học cổ điển tiêu biểu cho văn hóa Việt Nam vì bốn lí do: Thứ nhất, vì Truyện Kiều là một tác phẩm dân tộc
Trang 10Thứ hai vì Truyện Kiều có tính đại chúng Thứ ba vì Truyện Kiều đạt đến nghệ thuật tính cao độ Thứ tư vì Truyện Kiều còn có tác dụng trong hiện tại
Những lí do ông đề cập ông chú trọng đến việc trong Truyện Kiều cách
sáng tạo và kết cấu những nhân vật, cách xây dựng những hình ảnh, cách miêu tả những cảnh vật vừa có tính cách tạo hình vừa súc tích, tình cảm, cách vận dụng của âm thanh ngôn ngữ và nhịp điệu của lời nói, cách phô diễn trong sáng, gọn gàng, điều độ và chính xác, cách Việt hóa những điển tích mượn của nước ngoài đều đã chứng tỏ Nguyễn Du am hiểu đến ngọn ngành lối cảm nghĩ, phô diễn của nhân dân còn lưu lại trong kho tàng văn thơ truyền
thống Thêm nữa vì Truyện Kiều còn có tác dụng trong hiện tại Nên ngày nay, Truyện Kiều vẫn là món ăn tinh thần bổ ích của đại chúng Đọc Truyện
Kiều, chúng ta vẫn học tập lòng căm thù của Nguyễn Du đối với những chế
độ xã hội bóc lột và đè nén con người Nhà thơ vẫn truyền được cho chúng ta lòng khao khát, tự do, công bằng và nhân đạo [47, tr.210 - 212] Theo tác giả,
với bốn yếu tố trên, Truyện Kiều thật xứng đáng được mệnh danh là tác phẩm
cổ điển tiêu biểu của văn học Việt Nam Nó kết tinh được truyền thống văn học tiến bộ của dân tộc đã được biểu hiện trong văn chương truyền khẩu của nhân dân Nó tập hợp một cách sáng tạo những nét tinh hoa của các tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam xuất hiện trước đó [47, tr.213]
Trần Đình Sử trong cuốn Những thế giới nghệ thuật thơ, ông đã bàn về mấy khía cạnh thi pháp Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du, ông khẳng
định: “Sáng tạo của Nguyễn Du bắt đầu từ chủ đề tư tưởng mới, cái nhìn nghệ thuật mới về con người, đến các đặc trưng về không gian nghệ thuật, thời gian
nghệ thuật, chân dung tác giả và màu sắc nghệ thuật Truyện Kiều mới và
độc đáo hoàn toàn không phải chỉ biết thêm vào các chi tiết này, lược bớt các chi tiết kia, biết dùng những từ đắt, viết được những câu hay, tả tình khéo, tả cảnh hệt mà còn chủ yếu vì Nguyễn Du đã đặt vào đó một tư tưởng mới, một quan niệm khác về con người và thế giới ” [39, tr.295 – 296]
Trang 11Phan Ngọc trong cuốn Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện
Kiều, ông đã định hướng: “Phải tìm những cống hiến nghệ thuật của riêng nhà thơ Nguyễn Du mà trước đó không ai làm được và sau đó cũng khó ai làm được”
[30, tr.8] Đây là một cuốn sách đã để cho người đọc nhiều dư âm về cách
cảm, cách nghĩ mới về Truyện Kiều Trong công trình này, Phan Ngọc đã cố gắng làm rõ phong cách riêng hoàn toàn của Nguyễn Du khi viết Truyện Kiều Trong đó, có nhiều phần so sánh với nguyên tác rất kĩ Ông cho rằng: “Nguyễn
Du đã đổi mới hoàn toàn bố cục của Kim Vân Kiều truyện Truyện Kiều của Nguyễn Du được nhà nghiên cứu coi như “một tiểu thuyết phân tâm lí” và “nó được bố cục như một vở bi kịch lớn” [30, tr.183] Phan Ngọc đã chứng minh
rằng Truyện Kiều không chỉ biểu cảm bằng cảm nhận truyền thống mà còn
được khai thác ở nhiều tầng bậc mới
Trong cuốn Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa của Lê Nguyên Cẩn Tác giả cho rằng “Truyện Kiều” không chỉ đơn thuần là một câu chuyện
về một con người, một cuộc đời, một số phận mà nó trải rộng ra với một tấm
lòng, một cốt cách, một tinh thần Việt Nam Truyện Kiều tạo ra cách nhìn dân
tộc, làm toát lên vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Nam, làm đắm say lòng người độc giả mỗi thời đại [5,tr.3] Tác giả đã “xác lập các mô hình thế giới được tạo ra trong tác phẩm để từ đó làm nổi bật thân phận và diện mạo nhân vật Thúy Kiều Từ đó điểm lại những thăng trầm chìm nổi của nhân vật trong
bể trầm luân suốt mười lăm năm Rồi từ đó đưa ra nhận xét về một tấm lòng nhân hậu mang vẻ đẹp vị tha, thuần Việt xuyên suốt chiều dài tác phẩm”
[5,tr.4] Tác giả cũng cho rằng Truyện Kiều là sự tổng hợp của bốn mạch truyện
gồm: Mạch thứ nhất là câu chuyện tình yêu đầy éo le, trắc trở giữa Thúy Kiều
và Kim Trọng Mạch thứ hai là cuộc chiến giữa tài sắc và xã hội, giữa thế giới các mĩ nhân và thế giới các tiện nhân Kiều nổi lên trước hết là sắc đành đòi một tài đành họa hai mà hại thay mang lấy sắc tài làm chi Mạch thứ ba là xung đột giữa tài và mệnh Mạch thứ tư liên quan đến thân mệnh tương đố đi
Trang 12liền với thân Các mạch truyện này đan lồng vào nhau, tạo ra tính chất tầng tầng lớp lớp, tạo ra tính chất phức tạp cho tác phẩm này [5,tr.258]
Thông qua những công trình này, chúng tôi phần nào nắm được thân thế, sự nghiệp và thời đại Nguyễn Du sống Đồng thời chúng tôi hiểu được
nội dung Đoạn trường tân thanh cũng như những đánh giá khác nhau về tác
phẩm và xã hội phong kiến đương thời Bên cạnh đó, còn nổi lên những nghiên cứu về ngôn ngữ nhân vật có thể kể đến một số bài viết như:
Trong bài viết Về ngôn ngữ nhân vật trong Truyện Kiều của Nguyễn Lộc đăng trên Tạp chí Văn học (tháng 11/1965), tác giả đã đề cập đến hai vấn
đề chủ yếu của ngôn ngữ nhân vật đó là đặc điểm ngôn ngữ nhân vật và chức
năng biểu hiện tính cách của ngôn ngữ nhân vật trong Đoạn trường tân thanh
Về đặc điểm, ông đã chỉ ra: ngôn ngữ nhân vật Truyện Kiều một mặt có "yếu
tố hiện thực chủ nghĩa", mặt khác, "có khá nhiều yếu tố có tính ước lệ" [21, tr.62] - một đặc điểm phổ biến của ngôn ngữ văn học thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX Từ thực tiễn tác phẩm, tác giả rút ra nhận xét: nhân vật chính diện thiên về tính chất lý tưởng hóa, thuộc phạm trù cao cả, nên thường sử dụng ngôn ngữ ước lệ Nhân vật phản diện khi ra vẻ chính diện cũng dùng nó Đối với thành phần ngôn ngữ có tính chất hiện thực chủ nghĩa, ông chủ yếu phân tích về đặc điểm sử dụng: nó phần lớn được dùng cho nhân vật phản diện Nhân vật chính diện lúc rơi vào những mâu thuẫn gay gắt, những biến cố phức tạp của cuộc đời, ngôn ngữ cũng tăng cường yếu tố này - khi mà những phương tiện nghệ thuật mang tính ước lệ không đủ sức dung nạp, biểu hiện Tuy nhiên, tác giả chưa chú trọng đi sâu vào những nhân tố làm nên tính chất hiện thực này
Qua sự phân tích các đối tượng: Thuý Kiều, Tú Bà, Hoạn Thư, Thúc
Sinh Nguyễn Lộc đã chứng minh: ngôn ngữ nhân vật là một phương tiện vô
cùng quan trọng để bộc lộ tính cách, góp phần cá thể hóa nhân vật, thể hiện
Trang 13phát huy truyền thống của thể loại truyện thơ Nôm, vừa là một bước phát triển cao so với truyện Nôm đương thời [21, tr.67]
Đặng Thanh Lê trong cuốn Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm, tác giả
đã nói đến ngôn ngữ đối thoại và độc thoại Đặt ngôn ngữ đối thoại của
Truyện Kiều trong cái nền ngôn ngữ đối thoại của truyện Nôm nói chung, tác
giả khẳng định: nó đóng vai trò quan trọng trong "biểu hiện cảm nghĩ và quyết định hành động của nhân vật đứng trước một tình huống, một mâu thuẫn", và trong "trình bày bước phát triển của sự kiện, tình tiết" [18, tr.232]
Theo tác giả, ngôn ngữ đối thoại Truyện Kiều có hai đặc điểm lớn Sự
thống nhất cao giữa nội dung tư duy cảm xúc với hình thức ngôn ngữ là đặc điểm chi phối chủ thể sử dụng ngôn ngữ (nhân vật chính diện hay phản diện)
và tính chất ngôn ngữ hội thoại (ngôn ngữ quý tộc hay ngôn ngữ nhân dân, ngôn ngữ công thức ước lệ hay ngôn ngữ có màu sắc hiện thực chủ nghĩa) Đặc điểm thứ hai là tính nhân dân trong ngôn ngữ nhân vật Tính chất này được hình thành từ ngôn ngữ hàng ngày và ngôn ngữ văn học dân gian Nó có
mặt trong lời nói của hầu hết các nhân vật Truyện Kiều
Về ngôn ngữ độc thoại miêu tả nội tâm nhân vật, Đặng Thanh Lê xem đây là một yếu tố quan trọng để xây dựng tính cách, là nguyên nhân sự phát triển hành động của nhân vật, phát triển tình tiết diễn biến cốt truyện Nó thường được Nguyễn Du sử dụng "ở những chặng đường có ý nghĩa bước ngoặt đối với vận mệnh nhân vật, ở những trường hợp kịch tính cao của tình huống, của sự bộc lộ tính cách" [18, tr.251] Có thể thấy, ngôn ngữ nhân vật
trong Đoạn trường tân thanh là tâm trạng biểu lộ thái độ của nhân vật Nó
xuất hiện như một kiểu lựa chọn, có cấu trúc nghệ thuật, lớp từ vựng và kiểu
cú pháp riêng, ngoài sự giao tiếp thực tiễn còn là phương tiện bộc lộ tính cách Như vậy, tìm hiểu cụ thể ngôn ngữ nhân vật Thúy Kiều chưa có một công trình nào tìm hiểu, nghiên cứu một cách kĩ lưỡng
Trang 14Từ những công trình nghiên cứu về Đoạn trường tân thanh của Nguyễn
Du thì cũng đã có những công trình nghiên cứu nhân sinh nhìn nhận dưới góc nhìn Phật giáo
Tác giả Huyễn Ý trong Truyện Kiều qua cách nhìn của người học Phật cho rằng: “Nguyễn Du đã mượn những vần thơ để nói về những vấn đề của con
người trong cuộc sống, cùng cách thoát khỏi vòng luẩn quẩn khổ đau để cõi lòng được trong lặng, thong dong” [57, tr.6] Với kinh nghiệm sống, tình
thương, sự thấu đạt Phật lí, Nguyễn Du đã chuyển Kim Vân Kiều truyện – một tập truyện bình thường của Thanh Tâm Tài Nhân – thành một Đoạn trường
tân thanh mang đậm tính dân tộc Việt Nam Ngoài tính dân tộc ra, theo tác
giả, Đoạn trường tân thanh còn có nghĩa thâm sâu của Phật pháp Bên cạnh
đó, tác giả đưa ra lời nhận xét: “Thúy Kiều được Nguyễn Du xây dựng với hình
ảnh con người tài sắc tuyệt vời, hiện thân những tinh hoa con người - đó chính là cách mà Nguyễn Du muốn ám chỉ đến cái tâm chân thật” [57, tr.32]
Tác giả cũng tập trung nhiều về những hình thức biểu hiện của sự khổ đau
cũng như những phương tiện để giải thoát những khổ đau ấy trong Đoạn
trường tân thanh Để rồi, tác giả đi đến kết luận: Truyện Kiều quả là một kiệt
tác, từ hình thức thi văn đến nội dung ý nghĩa tác giả khéo léo mượn nhân vật Thúy Kiều trong từng tình tiết để diễn đạt sự chuyển hóa tâm linh Theo
đó, mọi sự hình thành đời sống đều nằm trong quy luật nhân quả, nghiệp báo
và luân hồi Con người tự cột trói thì phải tự tháo cởi chứ không có thể làm thay mình được Tất cả hình thức, phương tiện và tri thức chỉ trợ duyên đánh thức để nội tâm ta bừng tỉnh, là điều kiện thiết yếu gợi cho ta tỉnh giấc Có thức tỉnh rồi mới cảm thương những ai mê muội đắm chìm trong đêm tối –
đoạn trường ai có qua cầu mới hay [57, tr.283 - 284]
Trong cuốn Thả một bè lau của tác giả Thích Nhất Hạnh nhận xét: “Khi
viết Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du đã sống trong da thịt của nhân vật Thúy Kiều,
đã trở thành một với Kiều, cụ đã nói tâm sự của chính mình” [11, tr.5] Tác giả
Trang 15cũng đưa ý kiến về sự bàn luận Đoạn trường tân thanh “Trong quá khứ, đã
có rất nhiều ý kiến đánh giá khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau về nội dung
của Truyện Kiều Có nhà Nho đã liệt Truyện Kiều vào loại dâm thư, vì trong
truyện có tả đời sống của một cô gái bán dâm Những nhà Nho ấy có thể đúng
về đạo đức của Nho giáo nhưng nếu dùng con mắt quán chiếu của một thiền
sư mà nhìn vào cuộc đời của Thúy Kiều, chúng ta có thể học từ một cuốn kinh
Và Truyện Kiều sẽ không phải là dâm thư mà là kinh điển, đọc Truyện Kiều với
con mắt quán chiếu tức là chúng ta đang tu tập” [11, tr.5 - 6]
Nhìn chung, những công trình này dưới góc nhìn của Phật giáo để tiếp cận ở những góc độ chung: quan niệm về sự đau khổ, nguồn gốc của sự đau khổ, giải thoát nhưng chưa đưa ra quan niệm rõ nét về nhân vật cụ thể
Có thể thấy, quan niệm nhân sinh trong Đoạn trường tân thanh được
rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở nhiều phương diện, góc độ khác nhau Nhưng khai thác quan niệm nhân sinh trên phương diện lí thuyết diễn ngôn thì chưa có một công trình nào đề cập đến
3 Mục đích nghiên cứu
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi đi sâu tìm hiểu quan niệm
nhân sinh của nhân vật Thúy Kiều trong Đoạn trường tân thanh nhìn từ lí
thuyết diễn ngôn hiện đại với mong muốn góp thêm một góc nhìn mới về kiệt tác của dân tộc
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề lí luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài như: Quan niệm nhân sinh, khái niệm diễn ngôn như một công cụ lí thuyết trong nghiên cứu tác phẩm văn học, thân thế, thời đại của Nguyễn Du và nhân vật
Thúy Kiều trong Đoạn trường tân thanh
- Khảo sát thống kê những phát ngôn đối thoại và độc thoại về quan
niệm nhân sinh của nhân vật Thúy Kiều trong Đoạn trường tân thanh của
Nguyễn Du
Trang 16- Phân tích, luận giải quan niệm nhân sinh của nhân vật Thúy Kiều theo
lí thuyết diễn ngôn hiện đại Từ đó chỉ ra tính chất mới mẻ trong ngòi bút nhân đạo của Nguyễn Du
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện luận văn này, chúng tôi tập trung tìm hiểu quan niệm nhân sinh của nhân vật Thúy Kiều từ góc nhìn lí thuyết diễn ngôn hiện đại
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Đoạn trường tân thanh có nhiều văn bản ra đời, khi thực hiện đề tài này
chúng tôi dùng văn bản Nguyễn Du – Truyện Kiều, Nguyễn Thạch Giang
khảo đính và chú thích, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp (1973)
Bên cạnh đó, chúng tôi mở rộng phạm vi tìm hiểu tác phẩm Kim Vân
Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân để so sánh đối chiếu Ngoài ra, chúng
tôi cũng tiến hành tìm hiểu một số tài liệu nghiên cứu về diễn ngôn, về quan niệm nhân sinh của các nhà nghiên cứu, phê bình
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau:
6.1 Phương pháp khảo sát, thống kê
Đây là phương pháp chúng tôi sử dụng để cung cấp những số liệu thống kê chính xác về diễn ngôn tạo cơ sở thực tế đáng tin cậy để từ đó đưa ra những nghiên cứu tiếp theo Sử dụng phương pháp nghiên cứu này chúng tôi đưa ra những con số thống kê về độc thoại và đối thoại của nhân vật Thúy
Kiều trong Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du
6.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm tìm hiểu các tài liệu có liên quan đến đề tài Phân tích các lời đối thoại nhân vật Thúy Kiều với các nhân vật khác để thấy mối quan hệ giữa các nhân vật và nhận ra quan niệm nhân
Trang 17sinh, tính cách của Kiều Phân tích độc thoại nội tâm để thấy được đời sống tinh thần phong phú, phức tạp của nhân vật
6.3 Phương pháp tiếp cận liên ngành
Để làm rõ quan niệm nhân sinh của nhân vật Thúy Kiều chúng tôi đã sử dụng phương pháp liên ngành Kết hợp khai thác các tri thức văn học với các tri thức thuộc nhiều lĩnh vực khác như: văn hóa, xã hội, Nho giáo, trên cơ sở
kế thừa và khai thác thế mạnh của các ngành khoa học khác, tìm hiểu mối quan hệ giữa các yếu tố đó và văn học
7 Bố cục của đề tài
Luận văn của chúng tôi ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham
khảo và Phụ lục, phần Nội dung được triển khai trong 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài
Chương 2: Quan niệm nhân sinh của nhân vật Thúy Kiều qua các đối thoại Chương 3: Quan niệm nhân sinh của nhân vật Thúy Kiều qua độc
thoại nội tâm
Trang 18NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Diễn ngôn và các mã cơ bản của diễn ngôn trong tiếp cận văn học 1.1.1 Khái niệm diễn ngôn
“Diễn ngôn” là thuật ngữ mới của lý luận phương Tây, có tính liên ngành, đa nghĩa và đang đóng vai trò nổi bật hiện nay trong ngôn ngữ học và khoa học nhân văn Thực chất, khái niệm diễn ngôn ra đời từ rất sớm Sở dĩ
nó mới vì phải cho đến những năm gần đây giới nghiên cứu mới thực sự quan tâm tìm hiểu một cách thấu đáo Đặc biệt, trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn “diễn ngôn” trở thành một trong những thuật ngữ mang tính chất chìa khóa
Nhìn nhận một cách tổng quát, diễn ngôn nhấn mạnh thực tiễn giao tiếp
xã hội để phân biệt với lời nói cá nhân Hoạt động diễn ngôn xã hội thể hiện một trạng thái ngôn ngữ, tri thức, quyền lực trong xã hội của diễn ngôn đó mà các cá nhân đều phụ thuộc vào Khái niệm “diễn ngôn”, theo cách hiểu của chúng ta ngày nay, lần đầu tiên xuất hiện trong tác phẩm của các nhà tư tưởng Marxist Liên Xô (như Bakhtin, Voloshinov, Medvedev…) trước khi được phát triển và hoàn thiện, dưới những tên gọi khác nhau, bởi các tác giả tiền
1968 và hậu 1968 như Barthes, Althusser, Foucault, Derrida… mà đa số là những trí thức theo chủ nghĩa bình dân, một số thực sự là Marxist Ba nhà tư tưởng lớn của thế kỉ XX đó là F De Saussure, M Bakhtin và M Foucault là những người đặt nền cho những hàm nghĩa mới của “diễn ngôn” Vấn đề này
đã được tổng thuật một cách chi tiết trong công trình “Ba cách tiếp cận khái
niệm diễn ngôn” [24]
Đầu tiên, theo hướng tiếp cận về mặt cấu trúc, các nhà cấu trúc chủ nghĩa cho rằng, “diễn ngôn” chính là cấu trúc của ngôn ngữ, cụ thể nhìn nhận trong từng phát ngôn của con người, tức lời nói Cấu trúc ở đây được hiểu là
Trang 19cần tuân theo những nguyên tắc nhất định về việc tổ chức, sắp xếp logic hệ thống ngôn từ theo một hệ chuẩn những quy tắc nhất định khi sử dụng ngôn ngữ
Nhìn nhận “diễn ngôn” theo hướng tiếp cận phong cách học, nhà
nghiên cứu M Bakhtin cho rằng diễn ngôn luôn thấm đẫm tư tưởng, cảm xúc,
thái độ chủ quan của người nói, hay nói cách khác, luôn tồn tại dưới dạng kép
lời nói- tư tưởng hệ Từ cách nhìn nhận này, có thể thấy “diễn ngôn” có bản
chất là đối thoại
Theo hướng xã hội học, nhà tư tưởng M Foucault đã chỉ ra diễn ngôn
có thể vừa là một công cụ, vừa là hệ quả của quyền lực; đồng thời, cũng là
một vật cản, một khối chướng ngại vật, một mũi kháng cự và một điểm bắt đầu cho chiến lược đấu tranh Diễn ngôn làm lan truyền và sản sinh quyền lực, nó củng cố chính nó, nhưng cũng hủy hoại nó và phơi bày nó, làm cho nó yếu đi và khiến nó có thể gây trở ngại cho chính nó Foucault cho rằng tri thức là sản phẩm được tạo ra bởi các diễn ngôn Và bởi đằng sau diễn ngôn là quyền lực, cho nên, tri thức mà chúng ta có là kết quả của các mâu thuẫn về quyền lực Toàn bộ tri thức mà chúng ta có, thực chất là kết quả của quá trình chinh phục các đối tượng, dùng quyền lực để áp đặt thước đo chuẩn mực lên đối tượng
Từ ba tư tưởng này, người ta không chỉ thấy được sự phát triển và phân nhánh phức tạp của khái niệm diễn ngôn, mà còn quan sát được những bước chuyển lớn trong tư duy lý luận văn học nói riêng và khoa học xã hội nhân văn nói chung Từ việc tóm lược những cách tiếp cận chính đối với diễn ngôn,
có thể thấy các cách tiếp cận khái niệm tuy có khác nhau, song vẫn có một số những luận điểm chung như sau:
Diễn ngôn là một ngôn ngữ/ lời nói trong giao tiếp Vì là ngôn ngữ/ lời
nói trong giao tiếp (theo Bakhtin, diễn ngôn là nơi diễn ra sự tranh biện của tư tưởng, theo Foucault, diễn ngôn là nơi xảy ra cuộc xung đột giữa các quyền lực), nên nó có vai trò thiết lập nên mối quan hệ giữa người nói và người nghe, giữa thông tin và kí hiệu Do đó, muốn quá trình giao tiếp được thông
Trang 20suốt, người ta phải nắm được mã diễn ngôn, một hệ thống những đơn vị và
cấu trúc chi phối việc vận hành của diễn ngôn đó
Muốn giải mã diễn ngôn, phải tìm ra những cấu trúc bề sâu bên trong
các diễn ngôn Tuy nhiên, mỗi học giả lại có một cách lí giải khác nhau về cấu trúc này Các nhà cấu trúc chủ nghĩa như G Genette, R Barthes, T Todorov,
Greimas cho rằng, cấu trúc bề sâu của các diễn ngôn là một cấu trúc ngôn
ngữ trừu tượng, khái quát, có thể phân tích thành các yếu tố như ngôi, thời,
thể, thức, giọng (giống như các yếu tố ngôn ngữ trong một câu), và vì thế, họ dùng bộ mã này để phân tích các diễn ngôn Theo Bakhtin, đơn vị cấu trúc nên các diễn ngôn (lời nói) là các phát ngôn Các phát ngôn này lại được tập
hợp và tổ chức một cách chặt chẽ trong cái mà ông gọi là thể loại lời nói
Theo M Foucault, có những cấu trúc bên trong và cấu trúc bên ngoài chi phối
việc tạo lập và vận hành diễn ngôn Cấu trúc bên trong gồm có: tri thức hệ, nhân định, diễn ngôn/các diễn ngôn, thư khố, sự loại trừ bên trong diễn ngôn
Các cấu trúc bên ngoài của diễn ngôn bao gồm: bình luận, những nghi thức, tác giả
Trên cơ sở sự tổng hợp các quan niệm khác nhau của các học giả trong nghiên cứu diễn ngôn, dễ thấy có ít nhất hai mã chi phối việc tạo lập và vận
hành các diễn ngôn: mã hệ tư tưởng, mã thể loại
Vận dụng diễn ngôn - công cụ lý thuyết để nghiên cứu văn học, chúng
tôi coi diễn ngôn như một phương tiện văn học để phân tích quan niệm nhân sinh của nhân vật Thúy Kiều Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi sử dụng lí thuyết diễn ngôn để nghiên cứu các phát ngôn bao gồm có lời đối thoại trực tiếp, lời độc thoại nội tâm của nhân vật Thúy Kiều dựa trên mã hệ
tư tưởng và mã thể loại
1.1.2 Khái niệm về mã và mã hệ tư tưởng, mã thể loại của lí thuyết diễn ngôn 1.1.2.1 Khái niệm về mã
“Mã” có thể được hiểu là sự ẩn chứa những bí mật chuyên dụng thuộc một lĩnh vực nào đó mà nếu không có phương tiện, cách thức giải mã thì chúng ta không thể nào tiếp nhận một cách thấu đáo về lĩnh vực ấy
Trang 21“Mã” là một khái niệm được sử dụng trong nhiều trong lĩnh vực của cuộc sống như: ngôn ngữ học, công nghệ thông tin, kí hiệu học, nghiên cứu
văn học Theo nghĩa thông thường nhất, mã là nguyên tắc xây dựng mối
quan hệ giữa thông tin và kí hiệu
Tìm hiểu sâu trong lĩnh vực ngôn ngữ học, người đầu tiên sử dụng khái niệm mã là Saussure Ông cho rằng lời nói là một phức hợp các phương tiện
mà chủ nói sử dụng mã của ngôn ngữ nhằm diễn tả suy nghĩ cá nhân Tiếp đó, tác giả R Jacobson (gồm người phát, người nhận, thông điệp, tiếp xúc, mã, ngữ cảnh), mã có vai trò rất quan trọng, giúp người tham gia giao tiếp có thể hiểu được thông điệp và nhờ đó mà quá trình giao tiếp được thông suốt Từ những quan niệm được đưa ra về mã, có thể thấy những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, trong quá trình giao tiếp, người nhận muốn hiểu được thông
điệp của người gửi thì cần thông qua một sự quy ước ngầm hiểu của cả đôi bên Vì vậy có thể nói, “mã” có vai trò quan trọng trong việc hình thành mối
quan hệ giao tiếp Tức là, nó là yếu tố xác lập nên mối quan hệ giữa người
phát tín hiệu và người nhận, giữa thông điệp và ý nghĩa thông điệp (nếu
không hiểu được mã văn hóa của một bộ tộc, chắc chắn khó có thể giao tiếp với người dân của bộ tộc ấy, cũng như không hiểu được tiếng nước ngoài, ta không thể giao tiếp với người ngoại quốc)
Thứ hai, trong lĩnh vực truyền tin, mã là một hệ thống ngôn ngữ đặc biệt, bởi nó có những đơn vị và quy tắc tổ chức các đơn vị ấy thành một hệ
thống, giúp truyền đạt thông tin Nó biến những tín hiệu ngôn ngữ từ định dạng thông thường sang dạng thức mà chỉ một nhóm có cách “giải mã” mới hiểu được
Từ đó có thể suy ra, văn bản cũng có mã của nó Đó là khi muốn tạo lập văn bản cần có một hệ thống ngữ pháp tạo thành một chỉnh thể hợp lý về nội dung và hình thức Hệ thống ngữ pháp ấy chính là chìa khóa để giải mã thông điệp giữa người gửi và người nhận trong giao tiếp Tất nhiên, ngôn ngữ cũng
Trang 22được coi là một mã Bởi lẽ nó là nguyên tắc xác lập quan hệ giữa thông tin và
kí hiệu dạng lời nói hoặc chữ viết Phải nắm được những qui tắc của ngôn ngữ, người ta mới có thể giao tiếp Văn hóa, văn học đều có một hệ thống mã,
mà dựa vào đó, người ta có thể tiếp cận được các tác phẩm và thích nghi với một nền văn hóa Văn hóa là yếu tố hệ thống, văn học là yếu tố bộ phận Vì thế muốn hiểu mã văn học cần nắm vững mã văn hóa
1.1.2.2 Khái niệm mã hệ tư tưởng
"Hệ tư tưởng" là khái niệm có nhiều cách lý giải khác nhau và chưa đi đến thống nhất Nhà tâm lý học người Mĩ McCLelland đã từng khẳng định rằng: “Hệ tư tưởng” là khái niệm khó nắm bắt nhất trong toàn bộ khoa học xã hội” Hệ tư tưởng có nội hàm, đặc trưng và chức năng không giống nhau khi
nó được tiếp nhận, đánh giá từ lập trường, góc độ phân tích hay từ các quốc gia khác nhau Và để có thể định nghĩa và giải thích khái niệm “Hệ tư tưởng” điều tất yếu chúng ta cần tìm hiểu về nguồn gốc xuất hiện và làm sáng tỏ nội hàm của khái niệm
Về mặt cấu tạo từ, trong tiếng Pháp, thuật ngữ “Hệ tư tưởng” (ideologie)
do hai bộ phận là ideo và hậu tố - logie hợp thành Trong tiếng Hi Lạp ideo có nghĩa là tư tưởng hoặc quan niệm, hậu tố - logie chính là lý luận, lý tính (hậu
tố đứng sau tiền tố có tác dụng chỉ một ngành khoa học, một học thuyết) Từ
sự phân tích cấu tạo từ vựng, có thể thấy nét nghĩa sơ khai của “Hệ tư tưởng” chính là “quan điểm luận về tư tưởng”
Trong “Tân từ điển xã hội học” do D.K Mitchell chủ biên [25, tr.168],
ta thấy các kết quả nghiên cứu về “Hệ tư tưởng” đều cho rằng người sử dụng khái niệm này sớm nhất chính là nhà triết học thời kỳ đại cách mạng Pháp Antoine Destutt De Tracly (1754 – 1836) Vào những năm 1790, ông hình thành lên thuật ngữ này để chỉ “khoa học về tư tưởng”, đối lập với siêu hình học Đến năm 1801, thuật ngữ này được ông chính thức sử dụng trong tiếng
phẩm gây tiếng vang “Những thành phần của hệ tư tưởng” để nhằm biểu đạt
Trang 23học thuyết về các nguyên tắc phổ biến và các quy luật phát sinh của tư tưởng,
được gọi là Ideology Tuy nhiên, Napoleon, đã gọi Tracy là “nhà không tưởng”
với quan niệm hư cấu sau khi nước Pháp thất bại trong cuộc chiến tranh với nước Nga (1812), khác hẳn với những gì ông từng ca ngợi Tracy trước đó Từ
đó hàm nghĩa về “Hệ tư tưởng” đã có sự đổi khác từ nghĩa “lành mạnh” sang
“không lành mạnh”
Sau này thuật ngữ “Hệ tư tưởng” được sử dụng khá rộng rãi ở các nước như Pháp, Đức, Anh, Italia Nổi bật nó được nhắc đến, lí giải tập trung trong
hai tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” và “Lời tựa góp phần phê phán khoa học kinh
tế chính trị” của K Marx và F Engels vào thập kỷ 1840 Qua hai tác phẩm
này, chúng ta hiểu “Hệ tư tưởng” được đề cập chính là lý thuyết những quan điểm về hệ thống tư tưởng Nó phản ánh đời sống của con người thông qua những mối quan hệ của những nhóm trong xã hội phân theo từng tầng bậc, với thế giới thượng tầng trong tổng hòa quan hệ xã hội Tức là hệ tư tưởng không thuộc về một cá nhân, một thành phần giai cấp nào cả mà nó cần được nhìn nhận ở quy mô rộng lớn, bao gồm tất cả những vấn đề của toàn xã hội –
là sản phẩm chung của cả nhóm cộng đồng Trên thế giới có thể kể đến những
hệ tư tưởng lớn như hệ tư tưởng mẫu hệ, hệ tư tưởng phong kiến…
Như vậy có thể thấy “Hệ tư tưởng” có xu hướng thể hiện ra bên ngoài
trong hình thái của một bức tranh thế giới mang tính chất khuôn mẫu, thể
hiện cách thức quan sát và miêu tả thế giới chung cho cộng đồng Ví dụ như
hệ tư tưởng chủ nghĩa thực dân thể hiện trong bức tranh thế giới thuộc địa như một xứ sở mông muội, tăm tối, lạc hậu cần được khai hóa, cần được cải tạo Tư tưởng nam quyền trong thời kì phong kiến Việt Nam lại thể hiện trong cách miêu tả người phụ nữ như một đối tượng thụ động, yếu đuối, dễ sai khiến…
Bên cạnh đó, tư tưởng hệ có xu hướng loại bỏ những khám phá mang
tính chất cá nhân bằng cách tạo ra những khuôn mẫu của chủ thể, và khiến
cho những khuôn mẫu này được công nhận là hợp thức Ví dụ: Hệ tư tưởng
Trang 24nam quyền đã chi phối đến nền văn hóa trung đại Việt Nam, chỉ có những bậc quân vương, danh thần mới được phát ngôn Cũng như vậy, hệ tư tưởng thực dân khiến cho dân bản xứ bị tước mất tiếng nói, chỉ những kẻ đi khai hóa, chinh phục mới được phát ngôn
Tiếp theo là sự chi phối của tư tưởng hệ đã khiến cho trong mọi kí hiệu,
bao giờ cũng xuất hiện một lớp nghĩa bóng, nghĩa mở rộng, nghĩa phái
sinh-những lớp nghĩa dôi ra khỏi nghĩa đen, nghĩa chỉ vật, nghĩa nguyên sinh Đó
có thể coi là lớp nghĩa văn hóa nằm chìm sâu trong các kí hiệu và thường được kích hoạt trong những ngữ cảnh văn hóa nhất định
Ngoài ra, bên trong tư tưởng hệ là những quyền lực có tham vọng trấn
áp và đồng hóa Vì thế, sự đối lập giữa các hệ tư tưởng thực chất là cuộc xung
đột, va chạm giữa những quyền lực khác nhau trong một thiết chế xã hội
Có thể thấy, văn học nghệ thuật tự bản thân nó là diễn ngôn hệ tư tưởng
vì văn học cũng là một diễn ngôn, mà mọi diễn ngôn, theo Bakhtin, đều tồn
tại dưới dạng kép: lời nói – hệ tư tưởng Nghiên cứu những phát ngôn/ lời nói (đối thoại, độc thoại nội tâm) về nhân sinh của Thúy Kiều trong Đoạn trường
tân thanh có thể nhận ra hệ tư tưởng chi phối tính cách nhân vật cũng như tư
tưởng của đại thi hào dân tộc
1.1.2.3 Khái niệm mã thể loại
Nội dung của mỗi một tác phẩm văn học được bao chứa bởi một hình thức nhất định mà quan trọng phải có sự kết dính về nội dung - hình thức Từ
đó có thể suy ra việc vận dụng đúng thể loại chính là yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công của tác phẩm
Có rất nhiều tài liệu đưa ra những khái niệm khác nhau về thể loại văn
học: Trong Từ điển thuật ngữ văn học, định nghĩa thể loại văn học là “dạng thức
của tác phẩm văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển lịch sử của văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được
Trang 25miêu tả và về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các hiện tượng đời sống ấy” [10, tr.299]
Theo Trần Đình Sử trong cuốn Lí luận văn học - tập II, thể loại văn học được định nghĩa như sau:“Thể loại tác phẩm văn học là khái niệm chỉ quy luật
loại hình của tác phẩm, trong đó ứng với một loại nội dung nhất định có một loại hình thức nhất định, tạo cho các tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể” [42, tr.220]
Như vậy, nói đến thể loại văn học là nói đến phương thức tái hiện cuộc sống và thể thức tái tạo tác phẩm hay thể loại là hình thức chỉnh thể của tác phẩm văn học, trong đó có sự thống nhất và quy định lẫn nhau của các loại đề tài, chủ đề, cảm hứng, hình thức nhân vật, kết cấu, lời văn
Trong mỗi thể loại luôn có một cấu trúc tương đối ổn định và vững chắc, làm thành bộ khung bất biến của thể loại, đóng vai trò chi phối việc tổ chức các văn bản cụ thể Cấu trúc ấy là sự khái quát hóa các thông tin thành
một hệ thống các đơn vị, qui tắc nhất định, gọi là mã thể loại Ví dụ, mã thể
loại truyện truyền kì bao gồm yếu tố kỳ ảo từ không gian, thời gian cho tới các nhân vật… Các đơn vị này được tổ chức để làm nổi bật yếu tố kì ảo và yếu tố hiện thực Mã thể loại của tiểu thuyết bao gồm hàng loạt các đơn vị như sự kiện, nhân vật, cốt truyện, chi tiết… Tất cả các yếu tố ấy được tổ chức
để làm nổi bật một thế giới đang vận động, chưa hoàn kết
Ngoài ra, mã thể loại còn gọi là ngôn ngữ thể loại, là yếu tố trung gian
trong cuộc giao tiếp nghệ thuật giữa người viết và người đọc, giúp cho cuộc
giao tiếp ấy được thuận lợi, thông suốt Khi sáng tác một tác phẩm, bao giờ nhà văn cũng phải lựa chọn và sử dụng một số mã thể loại nhất định, và khi tiếp nhận, người đọc cũng cần dựa vào mã thể loại để lí giải tác phẩm Như vậy, để đọc – hiểu một tác phẩm văn học, trước hết chúng ta phải nắm vững được đặc trưng thể loại của tác phẩm đó
Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du được viết theo thể truyện Nôm
Tức là sử dụng thể loại tự sự nhưng không phải tự sự chính thống mà pha yếu
Trang 26tố trữ tình: viết truyện bằng thơ Mà đặc biệt ở đây tác giả vận dụng thể thơ dân tộc đó là thơ lục bát với vần nhịp du dương, dễ đi sâu vào lòng người Thế nên, việc vận dụng các yếu tố nghệ thuật của mã thể loại này trong nghiên cứu nhân vật là việc làm cần thiết Trong khi xây dựng truyện Nôm tác giả đã kết hợp các bút pháp khác nhau để thể hiện những nội dung khác nhau của nhân vật - bút pháp tự sự mô tả diện mạo, hành động và những biểu hiện bên ngoài nhân vật Với nhà văn Nguyễn Du, việc sử dụng truyện Nôm là bước đệm cần thiết để bộc lộ quan niệm nhân sinh tiến bộ, xây dựng nhân vật độc đáo Bởi vậy, muốn lí giải nội dung ý nghĩa của tác phẩm người đọc không thể tách rời mối quan hệ giữa mã tư tưởng chung của thời đại, tư tưởng riêng của tác giả và mã thể loại truyện Nôm của tác phẩm này
1.2 Quan niệm về nhân sinh trong văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế
kỉ XIX
1.2.1 Quan niệm nhân sinh
Quan niệm về nhân sinh hiện diện từ rất lâu trong lịch sử và có sự cải đổi qua từng thời kỳ Bởi quan niệm về nhân sinh bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố, trong đó “hệ tư tưởng” là yếu tố chi phối sâu sắc nhất Thế nên có những quan niệm nhân sinh truyền thống lưu truyền ngàn đời, song có những quan niệm nhân sinh chỉ có giá trị tại thời điểm lịch sử nhất định
Có nhiều cách đánh giá về quan niệm nhân sinh theo những góc nhìn
khác nhau Theo Từ điển văn học thì “nhân” là người, “sinh” là sống, “quan
niệm” là cách nhìn nhận, cách hiểu của mình đối với một sự vật, một vấn đề
Từ đó có thể hiểu quan niệm nhân sinh gồm những quan niệm về cuộc sống của con người, lẽ sống , mục đích, ý nghĩa, giá trị đích thực hướng con người đến những điều tốt đẹp, tạo nên sự kỳ diệu của cuộc sống
Có rất nhiều lĩnh vực bàn về tư tưởng nhân sinh dựa trên những tài liệu nghiên cứu qua nhiều thời kì lịch sử khác nhau Phải khẳng định rằng trong số
những lĩnh vực ấy, văn học phản ánh quan niệm nhân sinh một cách thấu đáo,
Trang 27Theo quan điểm Triết học :“Thế giới quan bao gồm nhân sinh quan,
tức là toàn bộ những quan niệm về cuộc sống của con người” Đó là những vấn đề: Con người là gì? Bản tính, bản chất con người? Mối quan hệ giữa con người và thế giới? Con người có thể làm làm gì để giải phóng mình, đạt tới tự do?” [28, tr.201] Tức là quan niệm nhân sinh là lẽ tất yếu nảy sinh khi
tồn tại cuộc sống của con người, đây là yếu tố cốt lõi duy trì những mối quan
hệ tốt đẹp trong xã hội loài người
Quan tâm đến “nhân sinh quan” trong tư tưởng Nho giáo có thể thấy: Nhân sinh không chỉ bao gồm cuộc sống của con người và sinh mệnh của con người mà còn cả nhân tính Nhân sinh được biểu hiện ở khía cạnh sau:
Thứ nhất, về mặt sinh mệnh của con người Đó chính là yếu tố cơ bản
duy trì sự sinh tồn của con người
Thứ hai, cuộc sống của con người Mục đích của cuộc sống con người
không chỉ là làm tốt cho mình mà còn làm cho cả nhân loại sống tốt hơn Cuộc sống ở đây là cuộc sống nội tâm và cuộc sống ngoại tâm, cũng có thể gọi là đời sống tinh thần và đời sống vật chất
Thứ ba, phương hướng của con người, hướng về mục tiêu nhất định
Nho giáo là một hệ thống giáo lí của nhà Nho nhằm tổ chức xã hội có hiệu quả Để đạt được mục đích đó, Nho giáo đặt ra kiểu mẫu người “quân tử” để cai trị xã hội Để trở thành người quân tử trước hết phải tu thân sau đó mới hành động Điều này được phản ánh rõ nét trong văn học, đặc biệt văn học trung đại với những sáng tác của các nhà trí thức ảnh hưởng sâu sắc của
hệ tư tưởng Nho giáo
Có thể thấy, quan niệm nhân sinh hướng con người vào cái thiện và mong muốn cuộc sống con người ngày càng tốt đẹp hơn Trong văn học
“phạm trù nghệ thuật về con người” rất được coi trọng Bởi lẽ “văn học là nhân học”, con người là trung tâm của vũ trụ, là hình tượng chủ yếu được văn học tiếp nhận và phản ánh Dù miêu tả thần linh, ma quỷ, đồ vật,… thì mục
Trang 28đích chính vẫn nhằm miêu tả và thể hiện con người, bày tỏ quan điểm của con người về cuộc sống
Có thể hiểu quan niệm nghệ thuật về con người là cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách cắt nghĩa lí giải về con người của nhà văn Con người chính là đối tượng thẩm mĩ thể hiện quan niệm của tác giả về cuộc sống Vậy “quan niệm nhân sinh” trong văn học chính là tư tưởng để hiểu về con người, tạo chiều sâu lí tưởng và tính độc đáo hình tượng, từ đó thấy được giá trị con người và quan niệm của tác giả trước nhân tình thế thái
Trong văn học trung đại, quan niệm nhân sinh rất phong phú và có điểm khác biệt với văn học dân gian Mỗi một thể loại sẽ có cách quan niệm
và biểu hiện con người riêng trên cơ sở những cái chung Những quan điểm
chung chi phối văn học trung đại kể đến các quan niệm“con người vũ trụ”,
“Con người đạo đức”,“con người đấng bậc” Vận dụng vào Đoạn trường tân thanh, Nguyễn Du đã chọn cho mình một hệ thống tư tưởng lớn của xã hội
phong kiến lúc bấy giờ để giải thích những phức tạp trong đời sống của con người, để giải quyết số phận chung của xã hội, của dân tộc trong một thời kì lịch sử đầy biến động Nguyễn Du đã xuất phát từ quan niệm “đời là bể khổ”
để đi đến những nhận định về nhân sinh trên nền tảng tâm thế Việt – lấy tình cảm, tình yêu thương làm chỗ dựa Đối với ông, một mặt, sự đối lập giữa tài năng và số phận tư tưởng “tài mệnh tương đố” là sự bất công cơ bản và lớn nhất; mặt khác, con người vẫn có thể cải hoá được số phận nếu nỗ lực tu tâm, hành thiện Quan niệm về số phận con người là sự cụ thể hoá nhân sinh quan
ấy Nguyễn Du cho rằng, thân phận mỗi người là sự tồn tại theo duyên cảnh,
là tất nhiên và mang tính tiền định Khi xem xét thân phận con người, Nguyễn
Du đặc biệt chú ý đến người tài và phụ nữ Quan niệm về cuộc đời và thân phận con người của Nguyễn Du đã góp một sắc thái đặc biệt trong hệ thống triết lý nhân sinh Việt Nam
1.2.2 Quan niệm nhân sinh trong văn học thế kỉ X đến thế kỉ XVII
Văn học từ thế kỉ X – XIV là giai đoạn lịch sử dân tộc ta vừa thoát khỏi ách thống trị ngoại bang sau gần ngàn năm nô lệ Cho nên, văn học giai đoạn
Trang 29này là khúc ca khải hoàn của chiến thắng, là tiếng nói ngợi ca lòng yêu nước
và chí khí anh hùng của các bậc quân vương, quân tử mang đậm cảm hứng tôn giáo, hào khí Đông A Lực lượng sáng tác giai đoạn này thuộc tầng lớp các bậc quân vương, quan tướng, thiền sư, các nam nhi, quân tử có công với đất nước Chính vì thế, đề tài văn học liên quan đến các vấn đề mang tầm quốc gia đại sự, có tính chất chính trị, gắn liền với vận mệnh dân tộc
Quan niệm nhân sinh về con người vẫn còn mang nặng tính giai cấp, của lễ giáo phong kiến Giai đoạn này do đặc điểm lịch sử - xã hội đề cao
Nho, Đạo, Phật Vì thế, như tác giả Trần Đình Sử đã từng nhận xét:“Con
người trong văn học Lí – Trần vừa có mặt yêu nước, thượng võ, vừa có sự cảm nhận sâu sắc về tính chất hư huyễn của cuộc đời, trước hết là thân con người ” Ví dụ trong bài Thị đệ tử của Thiền sư Vạn Hạnh:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô, Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố uý, Thịnh suy như lộ thảo đầu phô
(Thân như bóng chớp, có rồi không, Cây cối xuân tươi, thu não nùng
Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi, Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông)
Bốn câu thơ nói về lẽ sinh hóa, về quá trình biến đổi của muôn vật Tác giả ví đời người như ánh chớp, như cảnh cây tươi héo của cây cối, như giọt sương khi đọng khi tan trên ngọn cỏ Đời người cùng sự thịnh suy rất ngắn ngủi, mong manh
Quan niệm nhân sinh trong giai đoạn này còn là sự bày tỏ ý chí khẳng
định cái bản ngã với khát vọng cứu nước Phạm Ngũ Lão đã viết bài Thuật
hoài (Tỏ lòng) Bài thơ thể hiện ý chí và khí thế hùng mạnh, xây dựng hình
ảnh con người với tư thế chủ động, vững chãi, hiên ngang mang tầm vóc vũ
Trang 30trụ đã tạc vào không gian và thời gian của người chiến sĩ, để bảo vệ non sông
gấm vóc Không chỉ có vậy mà còn được thể hiện ở cái chí và cái tâm của người anh hùng: mang lí tưởng phò vua cứu nước
Có thể thấy rằng, văn học từ thế kỉ X – XIV là giai đoạn mở đầu cho văn học viết dân tộc, các sáng tác chủ yếu mang cảm hứng tôn giáo, cảm hứng thiên nhiên và cảm hứng yêu nước Quan niệm nhân sinh giai đoạn này nghiêng về con người cộng đồng, con người bổn phận với khát vọng cống hiến và chưa chú ý đề cập đến con người cá nhân, con người đời thường với đời sống tâm sinh lí thực tế
Tiếp đó, giai đoạn văn học từ thế kỉ XV – XVII đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của văn học dân tộc Từ việc tiếp tục phát huy thành tựu đã đạt được ở giai đoạn trước và nâng lên bước phát triển mới, mặt khác, trên cơ sở những thành tựu đã đạt được, ở giai đoạn này sáng tạo ra một số thể loại mang rõ dấu ấn thời đại dân tộc Hơn nữa, cùng với văn học có tính giáo huấn, “ngôn chí”, “tải đạo” lần đầu tiên con người với tư cách là những số phận cá nhân đã bước vào tác phẩm văn học Một số nhà văn ở giai đoạn này
đã dùng ngòi bút thử nghiệm về những giải pháp xã hội, tìm hạnh phúc cho con người
Nếu như ở giai đoạn thế kỉ X – XIV, các tác giả lấy thần thánh, lấy những nhân vật truyền thuyết hoặc các cao tăng, đạo sỹ làm nhân vật trung tâm cho các tác phẩm của mình thì ở giai đoạn này người thực, việc thực, đặc biệt là những con người có số phận bất hạnh được lựa chọn làm đối tượng phản ánh chủ yếu
Trong Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ đứng trên lập trường đạo đức để
phản ánh số phận con người Những người phụ nữ được Nguyễn Dữ xây dựng
là những con người được Nho giáo ca ngợi tiết hạnh, nết na hiền thục, tuân thủ đạo “tam tòng tứ đức” Tiêu biểu cho mẫu hình này là Nhị Khanh và Vũ Thị Thiết với lòng thủy chung, sự ý thức nâng niu, gìn giữ hạnh phúc gia đình
Trang 31và sự tự tôn về phẩm giá con người Bên cạnh đó Nguyễn Dữ còn xây dựng những hồn ma bóng quỷ trên nền yếu tố kì ảo để dễ dàng bộc lộ quan điểm nhân sinh tiến bộ nhân văn với hệ tư tưởng truyền thống Từ mã thể loại truyền kì tác giả đã tự do miêu tả những hạnh phúc đời thường của con người
Nhân vật Nhị Khanh, Đào, Liễu (Chuyện kỳ ngộ ở Trại Tây) hiện lên rất sống
động không chỉ đẹp mà còn tài năng và có cá tính mạnh mẽ dám sống thật với bản thân – đó là mong ước tự do, khao khát tình yêu tự do và được đắm chìm trong hạnh phúc ái ân
Văn học giai đoạn này có sự chuyển biến mạnh từ văn học chức năng sang văn học hình tượng Quan niệm về con người đã tách dần khỏi tư duy triết học, sử học và ngày càng đậm nét hơn Số phận con người được đề cập nhiều hơn, tuy nhiên đó mới chỉ là những viên gạch sơ khai đặt nền móng cho
tư tưởng nhân sinh sâu sắc gắn bó với đời sống con người của giai đoạn văn học sau này
1.2.3 Quan niệm nhân sinh trong văn học cuối thế kỉ XVIII đến hết thế
kỉ XIX
Văn học cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX là thời kỳ trải qua nhiều biến động Đất nước rối ren và đi vào bế tắc, kéo theo đó là sự tranh giành quyền lực của nhà nước phong kiến, dẫn đến cuộc sống của người dân vô cùng cực khổ Những mâu thuẫn chất chứa trong lòng xã hội phong kiến đến giai đoạn này bộc lộ gay gắt và bùng nổ thành những cuộc đấu tranh xã hội quyết liệt làm cho nhà nước phong kiến không còn khả năng tạo ra sự thống nhất trong nội bộ, quần chúng bị áp bức ngày càng đối lập sâu sắc với nhà nước phong kiến
Chính vì thế, nhiều tác giả trong giai đoạn này đã có sự chuyển biến trong quan niệm sáng tác, đặc biệt là Nguyễn Du Tấn bi kịch đã dội mạnh vào trái tim nhạy cảm của Nguyễn Du Ông là người chứng kiến đầy đủ “một cuộc bể dâu” của xã hội, mang trong mình những suy nghĩ về những đổi thay
Trang 32ấy Sự thất bại của những người khởi nghĩa ấy đã gieo vào Nguyễn Du một triết lí bi quan nhất là khi giai cấp phong kiến lại thiết lập một ách cai trị tàn bạo, đen tối nhất trong lịch sử dân tộc Bi kịch nảy sinh khi không biến đổi được hoàn cảnh, con người cũng không thể hòa giải hoàn cảnh nếu không biến đổi chính bản thân mình và không phủ nhận chính mình Từ những suy nghĩ về thời đại như vậy Nguyễn Du đã rung động sâu sắc trước cuộc đời cô Kiều cũng đang bị chèn ép trong đau khổ Nguyễn Du dường như thấy hình
ảnh mình trong Kim vân Kiều truyện, ông đã đưa vào tác phẩm Đoạn trường
tân thanh của mình một chủ đề khá nổi bật – tài mệnh tương đố
Nhiều tác phẩm đã phản ánh sức mạnh quật khởi của con người, của thời đại, của dân tộc, phơi bày những mặt trái của xã hội, phản ánh số phận
“đoạn trường” của những kiếp người thấp cổ bé họng, của những thân phận nhỏ nhoi không bằng “con ong cái kiến”, phá bỏ những hủ tục lạc hậu, bất công để vươn tới giải thoát con người về tình cảm, hạnh phúc, tự do, công lí
Trong giai đoạn này quan niệm nhân sinh được đề cập sâu và đặc biệt
có giá trị to lớn phản ánh những khát vọng về quyền sống, khát khao hạnh phúc không chỉ của những bậc chính nhân quân tử mà còn là của những phận
“hồng nhan” Người phụ nữ đã được khắc họa sâu sắc và đi vào văn chương với những tiếng lòng, góp phần tạo nên sự thành công rực rỡ cho văn học giai đoạn này Hình ảnh người phụ nữ một mặt là đau khổ, nhưng mặt khác lại là những người có tài, có tình, có ý chí và có nghị lực Các tác giả đã nói hộ tâm tình người phụ nữ - những con người không những đẹp mà còn tài năng và mang nhiều khát khao hạnh phúc ái ân Hơn thế các tác giả thể hiện lòng thương cảm và đặc biệt ca ngợi phẩm chất con người của họ, những con người chưa bao giờ có cuộc sống bình yên trọn vẹn
Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn là minh chứng điển hình Tác
phẩm là tiếng nói khát vọng hạnh phúc lứa đôi gắn liền với thái độ oán ghét
Trang 33chiến tranh phong kiến phi nghĩa Tác giả đã hư cấu giọng nữ của người chinh phụ để dễ phát biểu quan niệm có tính chất đổi mới về tình yêu, tình vợ chồng Dưới dạng các diễn ngôn tâm sự của người chinh phụ, ông có toàn quyền trình bày mối tình vợ chồng không những tràn đầy những cảm xúc thiết tha, sôi nổi mà còn tràn trề khát vọng ân ái, không bị dư luận đạo đức phong kiến nam quyền lên án Ở đó tác giả một nho gia – một người đàn ông nhưng
đã đứng trên điểm nhìn của người phụ nữ đã giãi bày tâm tư nguyện vọng, nỗi niềm sâu kín của người phụ nữ xa chồng, khao khát chung sống trong tình yêu, hạnh phúc lứa đôi, kể cả niềm hạnh phúc có màu sắc thân xác rõ nét:
Duy còn hồn mộng được gần Đêm đêm thường đến giang tân tìm người Tìm chàng thuở Dương Đài lối cũ
Gặp chàng nơi Tương Phố bến xưa Sum vầy mấy lúc tình cờ
Chẳng qua trên gối một giờ mộng xuân Được gần chàng bến Lũng, thành Quan Khi mơ những tiếc khi tàn
Tình trong giấc mộng, muôn vàn cũng không!
Tác giả sử dụng mô típ gặp chồng trong giấc mộng càng đượm ý nhục thể Đó là giấc mộng ân ái – một sự giải thoát duy nhất cho nỗi nhớ của người
vợ Sự hòa quyện tình cảm thương nhớ với dục tính thân xác, hai phần không thể chia cắt tình cảm vợ chồng Quan niệm nhân sinh trong tác phẩm đã khẳng định được quyền sống và quyền hưởng hạnh phúc chính đáng của con người
Có thể thấy, đây là giai đoạn văn học Việt Nam phát triển rực rỡ nhất,
là giai đoạn thuần thục của nền văn học viết dưới chế độ phong kiến Quan niệm nhân sinh rõ nét nhất trong giai đoạn này đó là văn học đặt ra vấn đề con người và hạnh phúc của con người, nhất là người phụ nữ với một quan niệm mới mẻ mà các thế kỉ trước chưa thấy có Con người giờ đây được quan niệm như một thực thể xã hội riêng biệt và yêu cầu tự do giải phóng cá tính trở nên
Trang 34cấp bách Tiếng nói trong văn học của họ đã “vƣợt ra ngoài quy phạm thi
pháp văn học trung đại, xích gần tới chủ nghĩa hiện thực” [29,tr 18]
Giai đoạn văn học nửa cuối thế kỉ XIX ra đời trong hoàn cảnh lịch sử
xã hội bắt đầu bằng sự kiện thực dân Pháp xâm lược nước ta và nhân dân ta tiến hành cuộc chiến đấu của nhân dân ta chống xâm lược tạm thời bị thất bại, thực dân Pháp bắt đầu cuộc khai thác thuộc địa của chúng Cho nên văn học giai đoạn này gắn với chính trị và phục vụ cho cuộc đấu tranh chính trị Với yêu cầu cấp thiết đó văn học đã phản ánh những vấn đề rất thời sự và tập trung, đó là chủ đề yêu nước chống Pháp và phê phán chế độ thực dân nửa phong kiến Về cơ bản, quan niệm nhân sinh quay về với giai đoạn 1: đề cao lối sống vì nước, vì dân, vì đạo nghĩa
Từ những giá trị truyền thống của dân tộc, văn học thời kì này đã đặt ra các quan niệm nhân sinh mới mẻ, gắn với đời sống xã hội Nói đến nhân sinh quan là quan tâm đến việc con người tồn tại để làm gì và cần phải sống như thế nào, thái độ của con người trước sự sống và cái chết Qua đó khẳng định rằng, thời kì văn học này là thời kì mà quan niệm nhân sinh đi vào những khúc quanh của đời sống con người một cách tự nhiên mà sâu sắc Từ đó chúng ta có thể hình dung ra hình thái xã hội, cuộc sống của con người, đặc biệt cách con người đối mặt và vượt qua “thiên mệnh” thời kì đó
1.3 Đôi nét về Nguyễn Du và các phát ngôn của nhân vật Thúy Kiều
trong Đoạn trường tân thanh
1.3.1 Đôi nét về Nguyễn Du
Nguyễn Du tự là Tố Như, hiệu Thanh Hiên, còn có biệt hiệu là Hồng Sơn Liệp Hộ Ông sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu (1765) Nguyễn Du vốn quê gốc ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Thân phụ ông
là Nguyễn Nghiễm, làm quan đến chức Tể tướng đương triều Mẹ ông là bà Trần Thị Tấn, vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, quê ở xứ Kinh Bắc nổi tiếng là một người phụ nữ xinh đẹp, lại thuộc dòng quyền quý cao sang, mang trong
Trang 35mình tâm hồn của con gái quan họ nên bà đã có ảnh hưởng khá lớn đến hồn thơ Nguyễn Du
Thời thơ ấu và niên thiếu, Nguyễn Du sống tại Thăng Long trong một gia đình phong kiến quyền quý Nhưng mới mười tuổi đã mồ côi cha, hai năm sau mồ côi mẹ Nguyễn Du phải đến ở với người anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản Nguyễn Khản từng làm quan tới chức Tham tụng, nổi tiếng phong lưu một thời, thân với chúa Trịnh Sâm và là người rất mê hát xướng Trong thời gian này Nguyễn Du có nhiều điều kiện thuận lợi để dùi mài kinh
sử, có dịp hiểu biết về cuộc sống phong lưu, xa hoa của giới quý tộc phong kiến – những điều đó đã để lại dấu ấn trong sáng tác văn học của ông sau này
Sự xuất hiện khá đậm nét hình tượng những người ca nhi, kĩ nữ với tiếng đàn giọng hát và thân phận đau khổ của họ trong sáng tác của Nguyễn Du có thể
là sự ám ảnh từ những gì ông đã chứng kiến trong gia đình người anh
Năm 1783, Nguyễn Du thi Hương đỗ tam trường (tú tài) Ông lấy vợ là con gái Đoàn Nguyễn Thục và ông được tập ấm chức Chánh thủ hiệu quân Hùng hậu của cha nuôi họ Hà ở Thái Nguyên
Nhưng cuộc đời yên ả không kéo dài được bao lâu Do nhiều biến cố lịch sử, từ năm 1789, Nguyễn Du đã rơi vào cuộc sống đầy khó khăn gian khổ hơn chục năm trước khi ra làm quan cho nhà Nguyễn Những trải nghiệm trong môi trường quý tộc và cuộc sống phong trần đem lại cho Nguyễn Du một vốn sống thực tế phong phú đã thôi thúc ông suy ngẫm nhiều về xã hội,
về thân phận con người, tạo tiền đề quan trọng cho sự hình thành tài năng và bản lĩnh sáng tạo `văn chương Hơn mười năm lăn lộn chật vật ở các vùng nông thôn khác nhau cũng là dịp để Nguyễn Du học hỏi, nắm vững ngôn ngữ nghệ thuật dân gian
Sau nhiều năm sống hết sức khó khăn chật vật ở các vùng quê khác nhau, đến năm 1802, Nguyễn Du được triều đình vua Gia Long bổ làm tri
Trang 36huyện Phù Dung (nay là tỉnh Hưng Yên) Tháng 11 năm ấy, thăng Tri phủ Thường Tín (Hà Tây) Năm 1805, Nguyễn Du được thăng Đông các Điện học
sĩ Năm 1809, ông được bổ làm Cai bạ dinh Quảng Bình Năm 1813, ông được thăng Cần chánh điện học sĩ và được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh Năm 1814 ông đi sứ về, được thăng Hữu tham chi bộ Lễ (hàm Tam phẩm) Chuyến đi sứ để lại những dấu ấn sâu đậm trong thơ văn, đặc biệt góp phần nâng tầm khái quát của những tư tưởng về xã hội và thân phận con người trong sáng tác của ông Năm 1820, Nguyễn Du lại được cử làm Chánh Sứ đi Trung Quốc nhưng lần này chưa kịp lên đường thì ông đã mất vào ngày 16 tháng 9 năm 1820 (tức ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn)
Năm 1965, Hội đồng Hòa bình thế giới đã công nhận Nguyễn Du là danh nhân văn hóa thế giới và ra quyết định kỉ niệm trọng thể nhân dịp 200 năm năm sinh của ông
Với những cống hiến to lớn của ông cho nền văn học Việt Nam cũng như sự phát triển văn hóa của nhân loại, ngày 25/10/2013, Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn học của Liên hiệp quốc (UNESCO) đã chính thức ban hành Nghị quyết số 37C/15 vinh danh Đại thi hào Nguyễn Du
là Danh nhân văn hóa thế giới
Có thể nói, cuộc đời làm quan của Nguyễn Du dưới triều Nguyễn không có trở ngại gì, thậm chí được thăng chức rất nhanh Thế nhưng, nhà thơ không lấy đó làm vui mà luôn có những tâm sự u uẩn Những tâm sự đó được Nguyễn Du gửi gắm vào thi ca, đặc biệt là nhân vật Thúy Kiều trong tác
phẩm Đoạn trường tân thanh
Đoạn trường tân thanh được sáng tác trên cơ sở cốt truyện của tiểu
thuyết chương hồi Trung Quốc Kim Vân Kiều truyện Tuy nhiên, Nguyễn Du
đã sáng tạo nên một tác phẩm mới, với cảm hứng mới, nhận thức lí giải nhân
Trang 37Kiều truyện là tác phẩm tự sự văn xuôi Trên một nền tảng nhân đạo chủ
nghĩa vững chãi, với tài năng điêu luyện, với sự lựa chọn thể loại truyện thơ kết hợp nhuần nhuyễn cả chất tự sự và chất trữ tình, với sự am hiểu đồng thời
cả ngôn ngữ bình dân cũng như ngôn ngữ văn học bác học, Nguyễn Du đã sáng tạo nên một kiệt tác độc nhất vô nhị của văn học trung đại Việt Nam
1.3.2 Thống kê phát ngôn của nhân vật Thúy Kiều trong Đoạn trường
tân thanh
Thúy Kiều là nhân vật được Nguyễn Du thể hiện thông qua đối thoại
nhiều nhất và nhiều lượt lời nhất so với tất cả các nhân vật còn lại trong Đoạn
trường tân thanh Theo như thống kê thì Thúy Kiều đối thoại tới 71 lượt lời
với các nhân vật khác nhau, tổng số 512 câu thơ (Phụ lục 1) Khi đối thoại có
những lượt lời ngắn, lượt lời dài Trong từng cuộc đối thoại cụ thể Thúy Kiều luôn có những cách đối thoại khác nhau Khi đối thoại với người yêu, với những người ruột thịt Kiều biểu hiện mình là con người tình cảm, trong quan
hệ với “lũ đầu trâu mặt ngựa”, “buôn thịt bán người” Kiều biểu hiện là một
con người nạn nhân Nhân vật được Thúy Kiều đối thoại nhiều nhất là Kim Trọng Đối thoại giữa Kim Trọng và Thúy Kiều là những lượt lời có ý nghĩa đặc biệt đối với tình yêu nồng nàn mà e ấp của đôi trai tài gái sắc
Nguyễn Du đã để cho nhân vật Thúy Kiều độc thoại nội tâm để thể hiện những phương diện rộng lớn, bao quát trong cảm xúc của mình Với 31 lần
độc thoại nội tâm chiếm tổng số 238 câu thơ (Phụ lục 2) Trong tiếng nói về
tình yêu, Thúy Kiều độc thoại nội tâm khi nhớ về người yêu, từ Kim Trọng, Thúc Sinh đến Từ Hải nhưng sâu sắc nhất vẫn là tình cảm nàng dành cho Kim Trọng Suốt quãng đời lưu lạc mười lăm năm, chưa bao giờ Thúy Kiều thôi nhớ về gia đình Những đoạn độc thoại nội tâm như nhắc nhở chính mình nhớ
về công ơn cha mẹ mà nàng chưa thể báo hiếu cho trọn vẹn Đồng thời, mười lăm năm chìm nổi với bao đắng cay, tủi nhục đã khiến Kiều không biết bao
Trang 38nhiêu lần thổn thức với những suy ngẫm nội tâm cay đắng về tương lai, số phận, cuộc đời
*Tiểu kết chương 1:
Trong chương 1, chúng tôi đã tìm hiểu những nét cơ bản về lí thuyết diễn ngôn, mã hệ tư tưởng và mã thể loại Diễn ngôn được hiểu theo nghĩa là lời nói trong giao tiếp, cụ thể trong đề tài này là những lời đối thoại, độc thoại của nhân vật Thúy Kiều Trong đó có hai mã cơ bản chi phối các diễn ngôn này là mã hệ tư tưởng và mã thể loại truyện Nôm
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tiến hành tìm hiểu các quan niệm nhân sinh Cụ thể chúng tôi tiến hành tìm hiểu quan niệm nhân sinh trong hai giai đoạn văn học: từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVII và văn học từ thế kỉ XVIII đến nửa cuối thế kỉ XIX Mỗi giai đoạn văn học đều có những quan niệm về con người khác nhau
Chúng tôi đã trình bày những nét khái quát nhất về tác giả làm cơ sở nghiên cứu quan niệm nhân sinh của nhân vật Thúy Kiều nhìn từ lí thuyết diễn ngôn ở những chương sau Đặc biệt, chúng tôi tiến hành khảo sát, thống
kê phát ngôn của nhân vật Thúy Kiều đó là những lời đối thoại trực tiếp với tổng 512 câu thơ trong 71 lần đối thoại và độc thoại nội tâm với 238 câu thơ trong 31 lần độc thoại Đây là cơ sở quan trọng để chúng tôi tiến hành nghiên cứu chương 2, chương 3 của đề tài
Trang 39Chương 2: QUAN NIỆM NHÂN SINH CỦA NHÂN VẬT THÚY KIỀU
QUA CÁC ĐỐI THOẠI 2.1 Đối thoại chịu sự chi phối của tư tưởng phong kiến chính thống
2.1.1 Quan niệm sống tròn chữ hiếu
Theo Nho giáo, hiếu là cái gốc của mọi vấn đề về đạo đức, là nền tảng cốt lõi xây dựng lên nhân cách con người Trong xã hội phong kiến Việt Nam luôn lấy “Hiếu” làm chuẩn mực, đó là “nết đầu trong trăm nết” Trong tác
phẩm “Hiếu kinh”, nói về đạo hiếu mở đầu rằng: “Hiếu là gốc của đức, là
nguồn của giáo… thân thể tóc da, nhận từ cha mẹ, không dám tổn thương đó
là khởi đầu của hiếu Lập thân hành đạo, dương danh với hậu thế, để làm rạng rỡ cha mẹ, đó là kết cục của hiếu Xét về hiếu, khởi đầu là lo việc song thân, kế đến là việc vua tôi, sau cùng mới đến việc lập thân” [50] Bản kinh
này cũng dẫn lời của đức Khổng Tử về đạo hiếu rằng: “Người con hiếu phụng
dưỡng cha mẹ, ăn ở phải hết sức cung kính, cung dưỡng cha mẹ phải hết mực vui vẻ, khi mới lo cho mình Đối với cha mẹ, lòng hiếu thảo của người con phải được thể hiện trên cả hai phương diện vật chất lẫn tinh thần Về phương diện đầu, người con phải thực hiện ba điều căn bản: chăm sóc cha mẹ chu đáo, luôn ý thức rằng thân thể mình được tạo thành từ máu thịt cha mẹ nên phải biết quí trọng, cha mẹ đau ốm phải lo lắng hết lòng, khi lo việc tang lễ phải cực kỳ thương xót, khi cúng tế cha mẹ phải vô cùng trang nghiêm" [50]
Như vậy, có thể nói trong xã hội phong kiến, chữ hiếu là tôn chỉ đánh giá một con người đức hạnh
Có nhà nghiên cứu về Đoạn trường tân thanh đã viết: “Truyện Kiều là
truyện của nàng hiếu nữ họ Vương” Quả không sai, chữ hiếu với Thúy Kiều
là điều thiêng liêng theo nàng cả cuộc đời Ngay từ khi mối tình Kim – Kiều chớm nở, nàng cũng đã thể hiện rõ sự coi trọng chữ hiếu của mình, theo nếp gia giáo, không buông thả:
Trang 40“Thói nhà băng tuyết, chất hằng phỉ phong,
Dù khi lá thắm, chỉ hồng, Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha
Nặng lòng xót liễu vì hoa, Trẻ thơ đã biết đâu mà dám thƣa…”
Trong đối thoại trực tiếp với Kim Trọng, Kiều từ chối chuyện tình cảm
vì mình còn nhỏ và phải theo đạo lí gia đình cũng là một biểu hiện cho việc đặt chữ hiếu, chữ đạo lên hàng đầu Nhưng có thể đó cũng là một cách mượn
cớ lại vẹn cả đôi đường để nàng e thẹn từ chối Phải đến khi gia đình có tai biến, chữ hiếu mới thực được nàng thể hiện Dù đã lựa chọn hi sinh cả tấm thân mình cứu cha và em nhưng suốt quãng đời lưu lạc, nàng vẫn không nguôi nỗi nhớ và dằn vặt vì chưa đền đáp, chưa báo hiếu được cho cha mẹ
Kiều là một người con gái đa cảm, sắc sảo và tinh tế, vì thế những phát ngôn thể hiện chữ hiếu của nàng cũng có những nét riêng Trước cảnh cha và
em bị bọn quan lại sai nha đánh đập hành hạ, Kiều đã phải đưa ra quyết định
bán mình chuộc cha Mối tình sâu nặng với Kim Trọng vừa bắt đầu, lòng còn
nặng lời hẹn biển thề non, Kiều biết bán mình chuộc cha ắt phải lỗi hẹn với tình yêu, trọn đời phụ tình với Kim Trọng Trước cảnh gia biến của gia đình, nàng phải đối mặt trước một sự chọn lựa quá khắc nghiệt giữa chữ Tình và
chữ Hiếu để rồi phải quyết định:
“Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha.”
Một người con gái vừa đến tuổi “cập kê”, đang sống trong cảnh “êm đềm trướng rủ màn che”, lại vừa ước hẹn một mối tình đầu nồng nàn tươi đẹp trong niềm tin trao thân gửi phận sau này, bỗng dưng phải có một quyết định táo bạo và đau lòng, để thấy lòng hiếu của Kiều lớn biết dường nào Khi đã nói đến hai chữ “bán mình”, hẳn Kiều đã đoán trước được con đường phía trước của cuộc đời nàng sẽ ra sao! Trong tình cảnh bi đát của gia đình, Kiều không còn nghĩ đến thân mình nữa, chỉ mong cứu được cha Nàng đã can ngăn cha không tự tử, bớt đau lòng trước quyết định của nàng: