1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình lý luận phương pháp giảng dạy sinh học

91 211 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc giáo dục thế giới quan này phải được tiến hành trong suốt quá trình hoạt động nhận thức của học sinh bằng cách thông qua các hình thức giảng dạy phong phú mà bồi dưỡng cho họ, tránh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA NÔNG – LÂM – THỦY SẢN

GIÁO TRÌNH (Lưu hành nội bộ)

LÝ LUẬN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY SINH HỌC

(Dánh cho sinh viên ngành Sư phạm Sinh , hệ Đại học chính quy)

Tác giả: Lê Khắc Diễn

Năm 2016

Trang 2

PHẦN I: LÝ THUYẾT ĐẠI CƯƠNG PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY SINH HỌC

Bài mở đầu

I Đối tượng và nhiệm vụ của phương pháp dạy học Sinh học

Phương pháp giảng dạy sinh học là lý luận dạy học sinh học ở trường phổ thông

Vì lí luận dạy học nghiên cứu các qui luật và các nguyên tắc dạy học chung cho tất cả các bộ môn, cho nên phương pháp giảng dạy sinh học có thể coi là sự vận dụng lí luận dạy học vào việc nghiên cứu nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức dạy và

học bộ môn Sinh học Từ đó rút ra các quy luật về việc dạy cụ thể bộ môn Sinh học ở

trường phổ thông

Đối tượng của phương pháp giảng dạy Sinh học là quá trình dạy học và giáo dục

bộ môn đó ở trường phổ thông Vì vậy, các qui luật mà phương pháp giảng dạy sinh học xác lập được là thuộc khoa học giáo dục, không phải của khoa Sinh học Chẳng

hạn, qui luật về liên hệ giữa các khái niệm sinh học và kĩ năng thực hành trong quá

trình tiếp thu kiến thức của học sinh

Nhiệm vụ của phương pháp giảng dạy Sinh học là nghiên cứu, xác định vị trí, chức năng và nhiệm vụ của bộ môn sinh học ở trường phổ thông ; nghiên cứu, xác định những phương pháp và hình thức tổ chức dạy và học bộ môn Nói cách khác, nhiệm vụ của phương pháp giảng dạy học Sinh học là nghiên cứu mối quan hệ có tính chất quy luật giữa bộ môn Sinh học với hoạt động của thầy và trò Trên cơ sớ đó nghiên cứu cải tiến cách dạy và học ở trường phổ thông

II Sự liên hệ giữa phương pháp giảng dạy giữa sinh học với các khoa học khác

Phương pháp giảng dạy Sinh học là một bộ môn của khoa học giáo dục Vì vậy,

nó liên quan mật thiết với nhiều khoa học khác : giáo dục học, tâm lí học, logic học, chủ nghĩa duy vật biện chứng và khoa học Sinh học

Giáo dục học và Tâm lý học là cơ sở lí luận của phương pháp giảng dạy Sinh

học Nhờ các qui luật chung của lí luận dạy học mà phương pháp giảng dạy Sinh học

mới đề ra được các qui luật riêng của việc dạy bộ môn sinh học Chẳng hạn, sự phụ thuộc của các phương pháp vào nội dung các tài liệu giảng dạy Ngược lại, các tài liệu

cụ thể từ các công trình nghiên cứu về phương pháp giảng dạy sinh học lại là những bằng chứng cho lí luận dạy học chung Phương pháp giảng dạy Sinh học còn liên hệ mật thiết với Tâm lý học Bộ môn này nghiên cứu nhiều vấn đề, một trong những vấn

dề có liên quan đến việc dạy học là con người tư duy như thế nào Vì vậy, khi nghiên

cứu vấn đề dạy và học bộ môn sinh học không thể không dựa trên cơ sở phân tích các

trạng thái có liên quan đến hoạt động tư duy của học sinh mà còn nghiên cứu cả tâm lý

người học

III Tầm quan trọng của việc học phương pháp giảng dạy

Như đã nói ở trên, phương pháp giảng dạy sinh học là qui luật dạy học về bộ môn sinh học ở trường phổ thông Không được trang bị lí luận phương pháp giảng dạy,

Trang 3

người giáo viên sinh học khó có thề nâng cao được chất lượng giảng dạy bộ môn, thậm chí còn có thể mắc sai lầm về sư phạm Lí luận giúp người giáo viên tránh được sai làm về phương pháp, làm ta hiểu rõ được mục đích dạy học và giáo dục, nhìn trước được mọi bước đi của quá trình dạy học

Nắm vững lí luận phương pháp giảng dạy, người giáo viên sinh học còn nắm

đư-ợc các phương tiện và phương pháp có hiệu quả và hợp lí nhất của việc giảng dạy, phát huy được tác dụng tích cực của bộ môn mình trong mọi hoạt động của nhà trường và

xã hội, gắn nhà trường hơn nữa với đời sống và sản xuất ở địa phương, tạo điều kiện cho việc vừa học tập vừa tham gia lao động sản xuất của học sinh

Đối với học sinh các trường Sư phạm, việc học tập phương pháp giảng dạy sinh học lại càng có ý nghĩa quan trọng Nó không những nhằm vũ trang cho những người giáo viên tương lai những tri thức cơ sở có tính chất hướng dẫn thực hành nghiệp vụ ở trường phổ thông, mà còn góp phần vào việc bồi dưỡng tình cảm nghề nghiệp, nâng cao lòng yêu thích học tập bộ môn, để từ đó truyền cho học sinh lòng yêu thích học và nghiên cứu sinh học

Trang 4

Chương I CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, CHƯƠNG TRÌNH SINH HỌC Ở NHÀ

TRƯỜNG PHỔ THÔNG

I Vị trí của bộ môn sinh học

Sinh học là một trong những bộ môn cơ sở của nhà trường phổ thông cấp cơ sở,

nó góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục đích giáo dục của nhà trường, nhằm đào tạo những người lao động mới Hiện nay và trong một thời gian dài nữa, phần lớn những người lao dộng mới này sẽ tham gia lao động sản xuất nông nghiệp Do đó, các

bộ môn Sinh học trong nhà trường phổ thông có một vị trí rất quan trọng

II Chức năng của bộ môn sinh học

Chức năng của bộ môn sinh học ở trường phổ thông cấp cơ sở là làm cho học sinh nắm một cách có hệ thống, tự giác và vững chắc những tri thức sinh học phổ thông, cơ bản và hiện đại Trên cơ sở đó mà tiến hành giáo dục thế giới quan Mác - Lênin, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa, những tư tưởng, tình cảm và đạo đức cách mạng cho học sinh, phương pháp nhận thức và hành động khoa học, góp phần tích cực

vào việc thực hiện mục đích giáo dục trong nhà trường phổ thông Chức năng cơ bản

nói trên được thực hiện thông qua các nhiệm vụ cụ thể của bộ môn sinh học ở trường trung học cơ sở

III Nhiệm vụ của bộ môn sinh học

ở trường trung học cơ sở, bộ môn Sinh học có những nhiệm vụ cụ thể dưới đây :

1 Nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục kỹ thuật tổng hợp

a Nhiệm vụ giảng dạy Sinh học

Khoa học sinh học là một khoa học rộng lớn Nhà trường phổ thông không thể nào vũ trang cho học sinh tất cả những hiểu biết về Sinh học Do đó, những kiến thức dạy trong nhà trường phổ thông phải là những kiến thức có lựa chọn, cần thiết làm cho mọi học sinh nắm được những qui luật cơ bản của các sự kiện và hiện tượng của quá trình tự nhiên, đồng thời phát triển tư duy độc lập, tư duy sáng tạo của học sinh Chẳng hạn, mỗi học sinh trong nhà trường phổ thông phải có những hiểu biết cơ bản về cấu trúc tế bào, về cơ thể sống, về sự khác nhau giữa chất sống và chất không sống, về các quá trình dinh dưỡng, hô hấp, trao đổi chất sinh trưởng, phát triển v.v Còn những kiến thức đi sâu vào những ngành khoa học chuyên môn thì không cần thiết phải dạy ở trường phổ thông Vì vậy, nhiệm vụ của nhà trường phổ thông là vũ trang cho học sinh một hệ thống những kiến thức cơ bản, hiện đại về sinh học, gắn liền với thực tiễn Việt Nam Đó là những kiến thức nói lên được bản chất của các sự vật và hiện tượng sinh học

b Nhiệm vụ giáo dục kỹ thuật tổng hợp

Việc thực hiện giáo dục kỹ thuật tổng hợp trong nội dung giảng dạy sinh học ở trường phổ thông xuất phát từ nhiệm vụ cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nư-

ớc ta trong bước đi ban đầu là đưa nền sản xuất nhỏ tiến lên nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Mục đích là chuẩn bị cho học sinh tham gia lao động sản xuất cho xã hội

Trang 5

Việc thực hiện nhiệm vụ này sẽ góp phần làm cho học sinh hiểu biết trên lý thuyết và thực hành các nguyên lí cơ bản của các quá trình sản xuất nông nghiệp và quản lí kinh tế nông nghiệp Vì vậy, trong quá trình giảng dạy sinh học người giáo viên phải biết kết hợp giảng dạy và giáo dục với lao động sản xuất, coi lao động sản xuất là hạt nhân của giáo dục kĩ thuật và là cơ sở cung cấp cho học sinh những kiến thức về cuộc sống, về lao động sản xuất và quản lý kinh tế Trong quá trình giảng dạy

giáo viên còn cần phải biết kết hợp khoa học tiên tiến với tri thức cổ truyền của dân

tộc và kinh nghiệm sáng tạo của nhân dân, truyền thụ cho học sinh những tri thức khoa học gắn liền với thực tế đấu tranh chính trị, thực tế đời sống và sản xuất của xã hội Việt nam, của địa phương nơi trường đóng Có như vậy mới tạo điều kiện thuận lợi

cho học sinh vận dụng tốt những tri thức đã học vào việc giải quyết những nhiệm vụ thực tế của đất nước, của địa phương và của bản thân (vấn đề bảo vệ và tăng cường

sức khỏe, tham gia lao động sản xuất có kỹ thuật để tạo ra của cải vật chất cho xã hội v.v )

Ví dụ : khi giảng dạy bộ môn Thực vật học, song song với việc vũ trang các kiến thức cơ bản về thực vật, giáo viên cần cho học sinh nắm được những nguyên lý cơ bản

về các biện pháp bảo vệ và chăm sóc cây trồng Thông qua công tác thực hành ở vườn trường, những buổi lao động công ích với hợp tác xã mà bồi dưỡng cho học sinh những hiểu biết thông thường về cách quản lý hợp tác xã, những kĩ năng thực hành nông nghiệp như : cách !àm đất, bón phân, chuẩn bị hạt và gieo hạt, ươm và chăm sóc

cây, giâm, chiết, ghép cây, cách phòng trừ cỏ dại vv

Như vậy, giáo dục kỹ thuật tổng hợp không phải là giáo dục về một ngành sản xuất nào đó mà là giáo dục được những nguyên lí chung, những nguyên lí tổng hợp về

các ngành sản xuất chủ yếu, trong đó có ngành sản xuất nông nghiệp

Kinh nghiệm cho hay rằng, để thực hiện tốt tinh thần giáo dục kỹ thuật tổng hợp trong việc giảng dạy sinh học, người giáo viên phải luôn luôn tự bồi dưỡng mình về vốn hiểu biết thực tế, kể cả lí thuyết và kĩ năng thực hành Mặt khác, giáo viên phải cùng với nhà trường đặt quan hệ tốt với địa phương Nhà trường có thể phổ biến khoa học, hoặc tổ chức nghiên cứu sinh vật và kĩ thuật nông nghiệp cho địa phương, tham gia lao động sản xuất trong hợp tác xã; ngược lại, địa phương giúp đỡ nhà trường hoàn thành các nhiệm vụ trên để nâng cao vốn hiểu biết của thầy và trò

2 Nhiệm vụ giáo dục tư tưởng, tình cảm và những phẩm chất đạo đức của con người mới

a Bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng, chống quan niệm duy tâm siêu hình về thiên nhiên

Một trong những nhiệm vụ cơ bản của việc giáo dục tư tưởng trong giảng dạy sinh học là bồi dưỡng cho học sinh thế giới quan duy vật biện chứng Việc giáo dục thế giới quan này phải được tiến hành trong suốt quá trình hoạt động nhận thức của học sinh bằng cách thông qua các hình thức giảng dạy phong phú mà bồi dưỡng cho

họ, tránh thể hiện một cách thô sơ, vụng về qua nội dung bài giảng Chẳng hạn, qua

Trang 6

đặc điểm cấu trúc của châu chấu, của ong mật , giáo viên trình bày cho học sinh thấy được cùng là những loài sâu bọ, nhưng do đời sống khác nhau nên chúng có những bộ phận của cơ thể không giống nhau như cánh châu chấu to khỏe, chân ong có bàn chải, giỏ đựng phấn hoa

Thế giới quan được hình thành và được phát triển từ lớp dưới lên lớp trên trong quá trình tiếp thu các kiến thức sinh học và trong quá trình phát triển tư duy lôgic của học sinh Vì vậy, việc xây dựng thế giới quan khoa học phải được bắt đầu từ đầu cấp Ngay trong quá trình học thực vật, các em đã phải được hướng dẫn để xây dựng một nhận thức đúng đắn về thế giới bên ngoài Muốn vậy, giáo viên cần bảo đảm tính khoa học của các tri thức truyền thụ, tính rõ ràng, chặt chẽ, tính logic của các vấn đề, tính qui luật của các hiện tượng nghiên cứu trong giảng dạy Chẳng hạn, (qui luật nhân - quả, quy luật lượng đổi - chất đổi ) để gây cho học sinh niềm tin trong sự nhìn nhận thế giới bên ngoài Từ đó, làm cơ sở để hình thành thế giới quan khoa học cho

học sinh

Việc bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho học sinh, tức là việc xây dựng cho họ những quan niệm đúng đắn về thế giới bên ngoài, được thể hiện trong bộ môn sinh học ở những quan điểm sau đây :

- Cơ thể sống là một toàn bộ thống nhất Sự thống nhất của cơ thể sống biểu hiện ở chỗ, cơ thể sống tuy cấu tạo bởi nhiều mô và cơ quan khác nhau, nhưng giữa các mô và cơ quan trong cơ thể có mối quan hệ tương hỗ; cùng nhau hoàn thành một nhiệm vụ nhất định Chẳng hạn cơ thể thực vật gồm có ba bộ phận dinh dưỡng, đó là :

rễ, thân, lá có nhiệm vụ khác nhau, nhưng chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau thể hiện thông những qua cấu tạo của mạch dẫn ở rễ, thân, lá là một hệ mạch có mối liên quan với nhau rất mật thiết, mà còn qua hoạt động sinh lí như : sự hút nước và muối khoáng

ở rễ có liên hệ chặt chẽ với sự hô hấp và sự quang hợp ở lá

- Cơ thể sống có liên quan khăng khít với điều kiện sống

Theo quan điểm này thì giữa cơ thể sống với điều kiện sống của môi trường có mối quan hệ chặt chẽ Một khi điều kiện sống thay đổi đến mức độ nào đó thì có thể

làm thay đổi các tính chất và tính trạng của cơ thể sống Như vậy, bằng cách thay đổi điều kiện sống, con người có thể chủ động tác động vào cơ thể sống làm cho chúng biến đổi theo ý muốn

Trong quá trình giảng dạy, giáo viên còn phải giúp học sinh thấy được ảnh hưởng của các điều kiện môi trường đối với các hoạt động sinh lí của cây, hoặc những đặc điểm thích nghi của động vật với môi trường sống Muốn vậy, cần phải trình bày mối

quan hệ của sinh vật với môi trường dưới ánh sáng của những quy luật sinh thái học

- Sự phát triển của sinh vật

Đời sống của sinh vật luôn luôn biến đổi, phát triển Vì vậy, nghiên cứu các cơ quan thực vật và động vật phải nghiên cứu sự phát triển của nó Có nhiều giáo viên thường không chú ý đến vấn đề này, cho nên làm cho học sinh khó tiếp thu kiến thức

Trang 7

Chẳng hạn, nếu các em hiểu được sự phát triển của rễ cây non, các em không thể lầm lẫn rễ cọc với rễ phụ

Động vật cũng phải được nghiên cứu trong sự phát triển của nó Chẳng hạn, sự biến đổi theo mùa của động vật như sự sinh sản, sự trú đông, sự di cư của các loài cá, chim, thú

Học về những ngành, lớp chính của thực vật và động vật, học sinh cũng phải rút

ra được những khái niệm cơ bản về sự tiến hóa của giới hữu cơ, về quan điểm các sinh

vật đều có lịch sử phát triển Hình thức giảng dạy thích hợp nhất để giúp học sinh nắm được quan điểm này là so sánh, đối chiếu Chẳng hạn, so sánh cơ quan tiêu hóa, tuần

hoàn, hô hấp, thần kinh của động vật từ cá đến động vật có vú, hoặc so sánh các lối sinh sản của thực vật từ tảo đến cây hạt kín

- Sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn

Đây là một trong những vấn đề cơ bản của việc giáo dục thế giới quan duy vật

biện chứng cho học sinh Vì vậy, trong quá trình giảng dạy cần phải làm cho học sinh nắm được quan điểm này, không phải bằng cách gán ghép một cách tùy tiện những kiến thức về khoa học nông nghiệp vào trong bài giảng sinh học, mà phải trên cơ sở phân tích những ví dụ điển hình về mối liên hệ giữa khoa sinh học với thực tiễn trồng trọt và chăn nuôi ở nước ta, ở địa phương Có như vậy mới tạo cho học sinh khả năng tập ứng dụng lí luận khoa học trong việc thực hiện các công tác thực hành Vấn đề này

có liên quan đến việc giáo viên ra cho học sinh các bài tập thực hành làm ở nhà và ngoài giờ Những hình thức công tác thực hành trên không những có tác dụng hình thành cho học sinh quan niệm về mối liên hệ giữa lí luận và thực tiễn mà còn về cách nhận biết mối quan hệ ấy

Trong quá trình bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho học sinh, chúng

ta còn phải tích cực đấu tranh chống những quan niệm duy tâm siêu hình về thiên nhiên Cần phải vạch cho học sinh thấy những biểu tượng duy tâm về sự bất biến của các loài sinh vật, về quan niệm cho rằng mọi vật trong thiên nhiên được tạo nên và tồn tại vì lợi ích con người Giáo viên còn phải uốn nắn những sai lầm của học sinh về những quan niệm ấy trong những bài làm và câu trả lời của học sinh Rất nhiều học sinh khi nêu mối quan hệ giữa cấu tạo và chức năng, giữa cơ thể và môi trường, thư-

ờng rơi vào quan điểm mục đích luận Chẳng hạn, nói rễ có lông hút để hút được nước

và muối khoáng, hoặc chim có cánh để bay Nếu thay từ "để" bằng từ "thích nghi" sẽ

đúng với quan điểm duy vật hơn

b Giáo dục học sinh lòng yêu thiên nhiên, yêu đất nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu khoa học, bồi dưỡng tình cảm, thẩm mĩ lành mạnh

Lòng yêu thiên nhiên là một tình cảm lớn lao và phức tạp trong đời sống tinh thần và nhận thức của con người Tình cảm đó rất phù hợp với lòng yêu đất nước Vì vậy, muốn giáo dục học sinh lòng yêu đất nước, thì trước hết phải làm cho học sinh có một lòng yêu thực sự đối với thiên nhiên Dạy cho các em không những biết thưởng thức và sáng tạo cái đẹp trong thiên nhiên, mà còn biết bảo vệ, giữ gìn và sử dụng nó

Trang 8

một cách hợp lí Rồi trên cơ sở lòng yêu thiên nhiên nơi quê hương, hợp tác xã của mình mà phát triển ở các em tình cảm gắn bó với quê hương, hợp tác xã, với đất nước

Từ đó, các em sẽ có những hành động thiết thực: say mê nghiên cứu khoa học và thực hành khoa học, sẵn sàng đem sức lực và trí tuệ của mình góp phần xây dựng quê hư-ơng, xây dựng hợp tác xã

Như vậy, trong việc giáo dục lòng yêu thiên nhiên, yêu đất nước, yêu khoa học

thì những cuộc tham quan thiên nhiên, nghiên cứu sinh vật ở ngoài trời, tìm hiểu các

sinh vật ở địa phương, thôn xóm nơi các em sống có một tác dụng lớn

Để giáo dục lòng yêu chế độ xã hội chủ nghĩa, giáo viên còn phải luôn luôn so sánh thực tế địa phương trong hai chế độ cũ và mới, phân tích cho học sinh thấy được tính chất ưu việt của chế độ ta Những số liệu sưu tầm được ở địa phương là những dẫn chứng hùng hồn cần phải được tận dụng

c Giáo dục lòng yêu lao động và những phẩm chất đạo đức con người mới Nhiệm vụ này có liên hệ mật thiết với các công tác thực hành và lao động có hệ

thống ở vườn trường, ngoài đồng ruộng hợp tác xã, thông qua các hoạt động đó, cần làm cho học sinh biết thể hiện tinh thần và ý thức trách nhiệm trong lao động, yêu quý

lao động, hiểu được các phương pháp thực hành nông nghiệp, có được các kĩ năng lao động cần thiết cho đời sống và sản xuất Đồng thời qua đó rèn luyện cho các em những đức tính tốt của con người lao động mới như:

- Tinh thần dựa vào sức mình là chính, khắc phục khó khăn, phấn đấu bền bỉ, cần

cù ; óc lạc quan, tin tưởng ; tính khiêm tốn, giản dị

- Tinh thần kỉ luật tự giác, ý thức tập thể, tinh thần trách nhiệm trong công tác

- Tập làm việc khoa học, có kế hoạch, có tổ chức

d Giáo dục học sinh có ý thức và thói quen giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể, tăng cường sức khỏe để học tập, lao động và sẵn sàng tham gia chiến đấu bảo vệ tổ quốc

Nội dung các giáo trình sinh học chứa đựng nhiều tài liệu quý báu giúp giáo viên

có điều kiện thuận lợi để hoàn thành tốt nhiệm vụ này

Ví dụ : Khi giảng dạy chương trình Sinh lí, giáo viên cần cho sinh hiểu được ảnh hưởng của lao động, thể dục thể thao đối với sự hoạt động của mỗi cơ quan và của toàn bộ cơ thể ; bước đầu cho các em nắm được cơ sở khoa học của các biện pháp vệ sinh và hình thành tập quán giữ gìn vệ sinh như: vẫy nước trước khi quét nhà, thấm ướt khăn khi lau bảng, không ăn quả xanh, không uống nước lã, chú ý thở sâu khi tập thể dục, thực hiện đều đặn kế hoạch lao động, thể thao trong tuần

3 Nhiệm vụ phát triển óc tìm tòi quan sát và tư duy lôgic của học sinh

a Phát triển óc tìm tòi quan sát của học sinh

Đối tượng của sinh học là các hiện tượng, các sự kiện của quá trình tự nhiên sống Muốn nhận thức được chúng thì phải quan sát Quan sát là một khâu bắt buộc trong việc nhận thức thiên nhiên Vì vậy, trong quá trình giảng dạy sinh học, giáo viên phải chú ý đến việc tổ chức và hướng dẫn học sinh biết cách quan sát, biết tích lũy các

Trang 9

hình ảnh một cách đầy đủ theo yêu cầu của quan sát để rút ra những kết luận đúng đắn

Từ đó, tiến tới xây dựng cho các em thói quen và kĩ năng quan sát đồng thời phát triển

óc tìm tòi quan sát của học sinh Công tác này có liên hệ mật thiết với các phương pháp giảng bài của giáo viên và công tác thực hành: các em tự lực nhận biết và xác định các vật tự nhiên, quan sát các hiện tượng sinh học theo các bài tập thực hành ở nhà hoặc bài tập ngoài giờ Các công tác thực hành đó làm cho việc quan sát được chính xác và có giá trị thực tiễn

b Phát huy tư duy, năng lực nhận thức của học sinh

Trong quá trình giảng dạy sinh học, bất kì sử dụng phương pháp giảng dạy nào, giáo viên cũng cần chú ý phát triển tư duy của học sinh, tức là phát triển óc suy nghĩ đúng đắn, có căn cứ rõ ràng, phát triền năng lực phân tích, tổng hợp, so sánh; năng lực trừu tượng hóa và khái quát hóa, năng lực suy luận theo hướng qui nạp hay suy diễn, năng lực diễn đạt chính xác những vấn đề sinh học

Dưới đây là những phẩm chất chủ yếu của tư duy cần được phát triền đối với học sinh trung học cơ sở:

- Năng lực phân tích, tổng hợp, so sánh

Phân tích, tồng hợp, so sánh là những quá trình tư duy của học sinh thường xuyên tiến hành khi nghiên cứu bất kì sự vật, hiện tượng sinh học nào Do đó, chúng trở thành quá trình tư duy cơ bản nhất

- Năng lực khái quát hóa và trừu tượng hóa

Khái quát hóa và trừu tượng hóa là những quá trình tư duy của học sinh có liên

hệ mật thiết với sự hình thành và phát triển các khái niệm Kiến thức thì bao gồm những khái niệm Vì vậy sự hình thành và phát triển bất kì khái niệm sinh học nào cũng là kết quả của hai quá trình tư duy cơ bản trên

- Năng lực suy luận theo hướng qui nạp hay suy diễn

Suy luận theo hướng qui nạp là suy luận từ những trường hợp riêng đến nguyên

Suy luận theo hướng suy diễn là suy luận từ một nguyên lý chung đến một ường hợp riêng

tr-Ví dụ, qui luật tiến hóa thể hiện trong toàn bộ chương trình thực vật học và động vật học Khi học sinh đã hiểu qui luật đó thì có thể giải thích được tại sao động vật đa bào lại bắt nguồn từ động vật đơn bào Suy luận như thế là suy luận theo hướng suy diễn

- Năng lực diễn đạt chính xác những vấn đề sinh học

Trang 10

Trong qua trình giảng dạy, khi phát triển tư duy chính xác ở học sinh, giáo viên đồng thời cũng phát triển ngôn ngữ chính xác và rõ ràng ở học sinh Như vậy, song song với quá trình bồi dưỡng tư duy, ngôn ngữ của học sinh cũng được nâng cao dần Nhờ đó mà những ý nghĩ sinh học của các em cũng được biểu hiện trong cách diễn đạt hoặc trình bày vấn đề một cách chính xác, rõ ràng

Kết luận chung

Các nhiệm vụ cụ thể về giáo dục của bộ môn sinh học ở trường phổ thông cấp cơ

sở rất to lớn và phù hợp với mục đích nhà trường đào tạo những người lao động mới Thấm nhuần và thực hiện tốt nhiệm vụ đó là công việc của tất cả các giáo viên giảng dạy bộ môn, muốn đem môn học của mình phục vụ tốt thế hệ trẻ, phục vụ đời sống và sản xuất

CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP CHƯƠNG I

1 Vị trí của bộ môn sinh học ở trường phổ thông quan trọng như thế nào? Hãy

lấy dẫn chứng để chứng minh điều đó

2 Chức năng của bộ môn sinh học ở trường trung học cơ sở là gì ?

3 Trình bày những nhiệm vụ của bộ môn sinh học ở trường trung học cơ sở

Dẫn chứng bằng một số bài lấy ở sách giáo khoa phổ thống để minh họa (tùy Sinh viên chọn) Nêu rõ bài đó giáo dục cho học sinh những nhiệm vụ cụ thể nào ? Nhiệm vụ nào là chủ yếu nhất

Trang 11

Chương II NGHIÊN CỨU CHƯƠNG TRÌNH SINH HỌC TRUNG HỌC CƠ SỞ

Thực tế giảng dạy cho thấy rằng muốn nâng cao nghiệp vụ của mình thì người

giáo viên phải nắm vững nội dung và cấu tạo của chương trình học Nhiều giáo viên do chưa nắm vững nội dung và cấu tạo của chương trình học, cũng như những phương hướng và đặc điểm của chương trình học nên không nâng cao được chất lượng dạy

học Trong công tác soạn giảng, có khi còn thiếu lý luận chặt chẽ về tính hệ thống của

kiến thức, chưa nắm được đầy đủ vị trí và yêu cầu của từng chương, mục trong ơng trình học Vì vậy, một số bài giảng có thể chưa sát đối tượng hoặc quá cao hoặc quá thấp, mặt khác những kiến thức sinh học cung cấp cho học sinh còn rời rạc chưa

chư-hệ thống (ví dụ dạy ngành động vật nào chỉ biết ngành động vật đó mà chưa làm cho học sinh thấy được mối quan hệ họ hàng giữa ngành nọ với ngành kia, thậm chí còn

lẫn lộn giữa kiến thức sinh vật với kiến thức kĩ thuật nông nghiệp, giảng một bài sinh

vật chẳng khác gì một bài lý luận nông nghiệp )

Tinh thần của công tác thực hành trong chương trình cũng chưa được nhiều giáo viên quan tâm đúng mức, ảnh hưởng không ít tới việc rèn luyện trí thông minh, phát huy tư duy độc lập và sáng tạo của học sinh Vì vậy, vấn đề nắm vững nội dung và cấu tạo của chương trình học, những phương hướng và đặc điểm của chương trình học, vị trí của từng chương mục trong trật tự sắp xếp các bài giảng của chương trình học sẽ giúp chúng ta giảng dạy đúng hướng

I Nhìn chung cấu tạo chương trình Sinh học Trung học cơ sở

Chương trình sinh học trung học cơ sở gồm có 5 phần: thực vật, động vật, giải phẫu sinh lí người, cơ sở di truyền học và sinh thái môi trường

Phần thực vật được dạy ở lớp VI Chương trình bắt đầu bằng việc nghiên cứu cấu tạo và hoạt động sống của các cơ quan khác nhau của cây xanh có hoa, để nắm được những đặc điểm cơ bản về cấu tạo và hoạt động sống, và sự phát triển cá thể của cơ thể thực vật Trên cơ sở đó học sinh hiểu được cơ sở khoa học của các biện pháp kĩ thuật nông nghiệp Vì vậy, những kiến thức thuộc kĩ thuật nông nghiệp sẽ được tách ra khỏi chương trình sinh học và được dạy trong một chương trình riêng Sau khi học sinh đã

có những kiến thức cơ bản nhất về cây xanh có hoa, các em bắt đầu tìm hiểu các nhóm cây chính Đó là phần sơ lược về phân loại thực vật

Phần động vật có khác với chương trình thực vật học, chương trình động vật học không bắt đầu bằng việc nghiên cứu cấu tạo và hoạt động sống của một cơ thể điển hình chung mà đi ngay vào phần nghiên cứu cấu tạo và hoạt động sống của các nhóm động vật quan trọng sắp xếp theo trình tự tiến hóa Điều đó cũng dễ hiểu, với chương trình này kế thừa ở chương trình thực vật học nhiều khái niệm quan trọng như khái niệm cơ thể sống là một toàn bộ thống nhất và những biểu hiện sống cơ bản của nó,

khái niệm tế bào, mô, cơ quan, khái niệm tiến hóa, khái niệm về sự thích nghi của cơ

thể với môi trường

Trang 12

Chương trình bắt đầu bằng những động vật nguyên sinh và kết thúc bằng những

động vật có xương sống Trình tự sắp xếp đó là hoàn toàn phù hợp với lịch sử tiến hóa của giới động vật Tuy nhiên, sự sắp xếp này cũng gây cho giáo viên một số khó khăn nhất định trong giảng dạy Đó là vấn đề vừa mới bước vào chương trình, học sinh đã phải tiếp xúc ngay với những đối tượng thấp nhất trong bậc thang tiến hoá của giới động vật (các động vật nguyên sinh) Những đối tượng này vừa xa lạ, vừa khó sưu tầm, khó quan sát đối với học sinh, mặc dầu các em đã có một sổ kĩ năng thực hành của bộ môn thực vật học.Vì vậy, ngay từ những bài đầu của chương trình học, đòi hỏi

ở giáo viên nhiều công tác chuẩn bị quan trọng hơn là ở chương trình thực vật học, đặc biệt là về mặt đồ đùng dạy học : gây nuôi vật sống, chuẩn bị mô hình, tranh vẽ

Phần Giải phẫu - sinh lý, vệ sinh người với nội dung phát triển những kiến thức của chương trình động vật học nhưng ở mức độ cao hơn và vào đối tượng con người Phần cơ sở Di truyền học cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản nhất về hiện tượng di truyền, biến dị Đó là những kiến thức cơ bản, được áp dụng vào thực tiễn như chọn giống vật nuôi, cây trồng

Phần Sinh thái và môi trường cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản nhất

về môi trường, mối quan hệ qua lại giữa sinh vật với sinh vật cũng như quan hệ giữa

cơ thể với môi trường

Cách cấu tạo như vậy của chương trình học là hợp lí ở đây lần đầu tiên học sinh được làm quen với giới thực vật Việc nghiên cứu và quan sát chúng trong thiên nhiên

và ngoài đồng ruộng dễ dàng và thuận lợi hơn là so với với các nghiên cứu giới động vật, bởi vì giới thực vật nói chung là tĩnh Vì vậy, học thực vật trước động vật trong chương trình là hoàn toàn phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh Sau khi đã có những kiến thức cần thiết cơ bản, học sinh được nghiên cứu đến đối tượng con người

và ứng dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn

II Một số phương hướng và các đặc điểm của chương trình Sinh học trường Trunh học cơ sở

Xuất phát điểm của việc xây dựng các chương trình trong nhà trường phổ thông nói chung và chương trình sinh học nói riêng là : Giáo dục phải phục vụ đường lối và nhiệm vụ cách mạng của Đảng Giáo dục phải kết hợp với lao động sản xuất và hoạt

động chính trị Nội dung kiến thức sinh học trong chương trình phải phản ánh được thế

giới quan duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin và những nguyên lí của lí thuyết sinh học

hiện đại Quán triệt những tinh thần trên, chương trình sinh học phổ thông được xây

dựng theo những phương hướng với các đặc điểm sau đây :

1 Những phương hướng chính của việc xây dựng chương trình sinh học trung học cơ sở

a Chương trình phải đảm bảo cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức và

kĩ năng phổ thông cơ bản, tương đối hoàn chỉnh và phù hợp với lứa tuổi về bộ môn sinh học, nhằm cùng với bộ môn vệ sinh và kĩ thuật nông nghiệp chuẩn bị cho học sinh có điều kiện sẵn sàng tham gia sản xuất nông nghiệp hoặc tiếp tục học lên Vì

Trang 13

vậy, những kiến thức cơ bản nói trên chỉ là những kiến thức cơ bản về thực vật học và động vật học, những kiến thức thuộc kĩ thuật nông nghiệp sẽ được tách ra khỏi chương trình học

Ví dụ, trong chương trình động vật, bỏ hẳn một mục nói về biện pháp phòng trừ sâu bọ phá hoại nông nghiệp, hoặc các phương pháp phòng chữa bệnh đã có trong nội dung sách giáo khoa Trong mục nói về tằm và ong, cũng chỉ nêu những đặc điểm sinh học chủ yếu của chúng tránh đi quá sâu vào những kiến thức có tính chất kĩ thuật như chăn tằm, nuôi ong v.v

b Những kiến thức và kĩ năng cơ bản qui định trong chương trình phải phản ánh được trình độ phát triển hiện đại của khoa học, nhằm xây dựng cho học sinh một thế giới quan khoa học, một phương pháp nhận thức chính xác, một trình độ khoa học nhất

định phù hợp với sự phát triển của khoa học trên thế giới Ví dụ những kiến thức về

thực vật học và động vật học tuy cung cấp cho học sinh ở mức tế bào và cơ thể, nhưng phải được trình bày theo những lí thuyết và phương pháp nghiên cứu sinh học hiện đại

c Những kiến thức và kĩ năng cơ bản qui định trong chương trình còn phải phản

ánh được thực tế thiên nhiên sinh vật ở nước ta là nước nhiệt đới gió mùa, có các loài động vật, thực vật đa dạng phong phú Phải làm cho các em thấy được hệ sinh vật của đất nước vô cùng đa dạng, có khả năng vận dụng những kiến thức dã học vào phát triển các loài động thực vật có giá trị kinh tế ở địa phương

Ví dụ : Những sinh vật giới thiệu trong chương trình học phải là những sinh vật

phổ biến ở nước ta, ở từng địa phương Vì chương trình hướng chủ yếu vào những

sinh vật ở miền đồng bằng, cho nên đối với những miền khác, khi nghiên cứu có thể thay thế những sinh vật nêu trong chương trình bằng những sinh vật khác phổ biến hơn

ở địa phương

Tóm lại, những phương hướng chính của việc xây dựng chương trình sinh học phổ thông là nhằm giúp học sinh nắm được những qui luật khoa học phổ biến, đồng thời hiểu rõ được hoàn cảnh thiên nhiên sinh vật ở nước ta để có những sáng tạo trong hành động

2 Những đặc điểm chính của chương trình Sinh học trung học cơ sở

a Chương trình được cấu tạo theo đường thẳng, nội dung kiến thức được trình bày không lặp đi lặp lại, nhưng giữa các phần vẫn có một sự quan hệ chặt chẽ và đảm bảo tính chất hệ thống của nó

Ví dụ trong phần thực vật, bao gồm các bài tế bào, hạt, rễ, lá, thân , nội dung kiến thức từng phần khác nhau, nhưng được trình bày theo một quan điểm thống nhất biện chứng của một cơ thể thực vật bậc cao

b Chương trình được cấu tạo từ thấp đến cao, từ gần đến xa Ví dụ các ngành, lớp động vật hoặc thực vật được xếp theo thứ tự từ thấp đến cao như từ động vật nguyên sinh đến động vật có dây sống, hoặc từ vi khuẩn đến hạt kín, và từ gần đến xa

Mỗi ngành, lớp chọn những sinh vật điển hình ở nước ta làm đại diện (thủy tức, giun

đất, tôm đồng, châu chấu ) rồi mới đến các sinh vật nước ta không có (thú mỏ vịt )

Trang 14

c Những kiến thức được giới thiệu trong chương trình quan trọng là phần sinh lí

mà không đi sâu vào cấu tạo của các cơ quan thực vật hoặc động vật Những kiến thức

về mặt cấu tạo sẽ làm cơ sở để học sinh có thể hiểu rõ các chức năng sinh lí Những chức năng này được nghiên cứu chủ yếu dựa trên những biểu hiện bên ngoài, còn thực chất hoạt động của những cơ quan thì chỉ giải thích tới một chừng mực mà học sinh ở

lứa tuổi đó có thể hiểu được, hoặc khi nghiên cứu cấu trúc và chức năng sinh lí của các

động vật tiêu biểu Không nên đi sâu vào tất cả các hệ cơ quan, mà chỉ nên đi vào những cơ quan có ý nghĩa chủ đạo đối với nhóm động vật đó

d Những kiến thức khoa học về thực vật và động vật trong chương trình được liên hệ chặt chẽ với thực tiễn đời sống và sản xuất của con người Vì vậy, tránh biến bài sinh vật thành bài kĩ thuật nông nghiệp Trái lại, không nên vin vào cớ bài sinh vật chỉ cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản mà không gắn với thực tiễn, hướng dẫn học sinh vận dụng những điều đã học để giải quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống, lao động sản xuất và chiến đấu

Ví dụ : Học về giun ăn bám phải gắn liền với việc thực hiện các qui tắc về vệ sinh ăn uống và tiêu diệt các bệnh về giun sán ở bản thân, gia đình và địa phương đồng thời tuyên truyền vận động nhân dân nơi mình ở thực hiện nếp sống mới: ăn sạch, uống sạch, giữ gìn vệ sinh hố xí, chuồng phân trâu bò

III Những yêu cầu chính của việc giảng dạy Sinh học ở trường Trung học

Học sinh phải hiểu được mối quan hệ giữa các bộ phận của cây với môi trường sống, mối tương quan giữa bộ phận lá với toàn bộ cơ thể Quan sát cây trong tự nhiên hoặc trong trồng trọt, học sinh có thể vận dụng được những điều đã học trong lao động sản xuất hoặc giải thích các hiện tượng đã quan sát

Khi học về các nhóm cây chính, học sinh phải hiểu được những đặc điểm chủ yếu nhất của mỗi nhóm cây, phân biệt được nhóm này với nhóm khác Qua đó học sinh hình thành được những khái niệm về sự tiến hoá của giới thực vật

Thấy được tác dụng kinh tế của mỗi nhóm cây đối với đời sống và sản xuất; tham gia phát triển những cây có ích; tiêu diệt các loài thực vật có hại như : vi khuẩn và nấm

có hại

Trang 15

Trong suốt quá trình giảng dạy phần thực vật học, giáo viên cần phải đặc biệt chú

ý đến việc hình thành cho học sinh những khái niệm sinh lí học về dinh dưỡng hô hấp, sinh sản, phát triển cũng như những khái niệm sinh học đại cương về cấu tạo bằng tế bào của thực vật về trao đổi chất ở cây xanh, về mối quan hệ khăng khít của thực vật với điều kiện sống, về cơ thể thực vật là một toàn bộ thống nhất, về sự thống nhất giữa cấu tạo và chức năng các cơ quan thực vật, về sự thích nghi của cơ thể thực vật với môi trường xung quanh, về sự phát triển lịch sử của giới thực vật Những khái niệm trên có tác dụng rất lớn trong việc xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng cho học sinh

- Đặc điểm cấu tạo chung của ngành

- Cấu tạo và hoạt động của một vài con vật quan trọng trong ngành

- Tác dụng của các động vật thuộc ngành ấy đối với con người (sức khỏe, kinh tế); cách phát triển các động vật có lợi và cách phòng trừ các động vật có hại

- Tính đa dạng và tính thích nghi của động vật

- Mối quan hệ giữa động vật với môi trường sống

- Khái niệm chung về phân loại các ngành động vật

ở lớp VII học sinh học về các lớp động vật có xương sống ở đây, điều chủ yếu cần nắm được là :

- Đặc điểm chung của mỗi lớp và đặc điểm riêng của mỗi nhóm động vật trong mỗi lớp (cá, ếch, nhái, bò sát, chim, động vật có vú)

- Cấu tạo và hoạt động của những con vật đại diện

- Sự tiến hoá của một số hệ cơ quan qua các lớp động vật

- Nguồn gốc của mỗi lớp động vật

- Khái niệm về phân loại các lớp và các bộ trong ngành, nhận biết và phân biệt

được chúng trong thiên nhiên

- Sự phát triển của động vật trên mặt đất

- Sự phát triển của giới động vật dưới tác động của con người

Theo chương trình học hiện nay, các kiến thức động vật học (cũng như thực vật

học) ở cấp II không có dịp nhắc lại ở cấp III Hơn nữa, chúng là cơ sở để tiếp thu những kiến thức sinh học đại cương ở cấp III, đồng thời lại là những kiến thức giúp ích rất nhiều cho học sinh học hết cấp II trở về nham gia lao động sản xuất nông nghiệp

Do đó phải đặc biệt chú trọng tính phổ thông cơ bản, tính khoa học chính xác, tính hiện đại trong nội dung giảng dạy

Trang 16

- Có nắm được những kiến thức cơ bản về sinh học, học sinh mới có điều kiện tìm hiểu, giải thích và cải tạo những hiện tượng thông thường trong chăn nuôi, trồng trọt, biết giữ vệ sinh và tiếp thu kiến thức cơ sở kĩ thuật nông nghiệp, nhằm góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp

c Giải phẫu sinh lý người

Học sinh phải hiểu được các kiến thức chủ yếu nhất về cấu tạo và chức năng của các cơ quan, hệ cơ quan của cơ thể con người Những kiến thức được trình bày phải đặt trong mối liên hệ giữa cấu trúc và chức năng Ví dụ, khi học về vệ sinh tiêu hoá, học sinh phải hiểu cơ quan tiêu hoá gồm có những bộ phận nào? dạ dày ở đâu? ruột có

hình dáng như thế nào? răng, dạ dày, ruột có chức năng gì đối với cơ thể? Trên cơ sở

ấy mà tiến hành giáo dục học sinh những qui tắc của việc giữ gìn vệ sinh tiêu hóa

Ví dụ : Học về bệnh truyền nhiễm và vệ sinh xã hội, học sinh không thể chỉ hiểu các nhiệm vụ cần làm hoặc các biện pháp giữ vệ sinh, mà phải hiểu được cơ sở khoa học của mỗi biện pháp ấy

d Cơ sở di truyền học

Trong các phần trước cửa chương trình Sinh học Trường Trung học cơ sở, khi nghiên cứu về thực vật, động vật và con người đều đã đề cập tới quá trình sinh sản Sinh sản là một chức năng bảo tồn nòi giống của cơ thể, của loài nhưng qua đó đã giải đáp được một cách rõ ràng các câu hỏi:

- Vì sao con cái sinh ra lại giống bố mẹ (về đại thể, về những đặc điểm chung)?

- Vì sao gà không thế đẻ ra vịt '?

- Vì sao con cái cùng bố mẹ sinh ra, mà không giống nhau hoàn toàn ? Và cũng không hoàn toàn giống bố mẹ ?

- Vì sao có người giống bố nhiều hơn lại có người giống mẹ nhiều hơn ?

Chính chương trình "Cơ sở di truyền học và chọn giống" sẽ giúp ta giải đáp các câu hỏi trên và nhiều vấn đề khác có liên quan đến đời sống và sản xuất Chẳng hạn, vấn đề "Làm thế nào đề có giống tốt, giống cao sản, giống chống chịu hạn, chống bệnh?" Vấn dề các bệnh tật di truyền bẩm sinh (bệnh Đao, bệnh vô sinh ) Vấn đề

cấm kết hôn gần trong luật hôn nhân gia dình v.v Hơn nữa, cấp Trung học cơ sở

trong bậc Trung học sẽ là cấp học phổ cập và đa số học sinh sau khi tốt nghiệp Trung học cơ sở sẽ vào đời, tham gia sản xuất, không thể không biết những kiến thức Di truyền học - một lĩnh vực mũi nhọn của Sinh học, đang phát triền nhanh và có nhiều ứng dụng trong thực tiễn sản xuất và đời sống

e Sinh thái và môi trường

Học sinh được tìm hiểu các khái niệm về môi trường và các nhân tố sinh thái, bao gồm các nhân tố vô sinh và nhân tố hữu sinh, mối quan hệ qua lại giữa cơ thể với môi trường Từ đó, các em có cái nhìn đúng đắn về sinh giới, có thể hình thành các biện pháp bảo vệ môi trường sống cho sinh vật và cho cả con người

2 Tăng cường công tác thực hành

Trang 17

Để hiểu sâu những điều đã học và để tăng thêm khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn sản xuất, cần tăng cường công tác thực hành bằng ba hình thức :

a Trong giờ lên lớp, bài giảng phải được tiến hành trên cơ sở học sinh được trực tiếp quan sát các đồ dùng dạy học (nhất là các mẫu vật tự nhiên) và các thí nghiệm đã qui định trong chương trình học

b Trong giờ thực hành ở lớp, phải đảm bảo thực hiện tốt việc cung cấp tri thức

về thực hành nghiên cứu khoa học và bước đầu rèn luyện kĩ năng nghiên cứu khoa học cho học sinh

c Trong thời gian ở nhà, học sinh phải làm đầy đủ những bài tập thực hành do giáo viên giao cho, bao gồm bài tập ở nhà và bài tập ngoài giờ hoặc những bài tập thực

hành ở trong sách giáo khoa Giáo viên phải có kế hoạch theo dõi kiểm tra, uốn nắn,

cho điểm những bài tập này, xem đó như là sự phản ánh đúng đắn nhất kết quả học tập

bộ môn của học sinh

Yêu cầu chung của công tác thực hành dưới 3 hình thức nói trên là làm cho học

sinh có được những tri thức và kĩ năng nghiên cứu khoa học đơn giản

3 Gắn bài học hơn nữa với thực tế đời sống, sản xuất và chiến đấu ở địa phương Trên cơ sở đảm bảo yêu cầu kiến thức của chương trình, bài giảng sinh học phải

vừa gần với thực tế sản xuất và đời sống ở địa phương, phải vừa đảm bảo kiến thức cơ bản, hiện đại, có hệ thống Ví dụ bài thực vật và động vật phải liên hệ tới thực tế sản xuất hiện nay, phải nói đến các biện pháp kĩ thuật, các kinh nghiệm sản xuất có liên quan tới các kiến thức cơ bản trong các bài, phải nói tới động vật và thực vật phổ biến

và quan trọng trong nước và ở địa phương

Khi học về các nhóm thực vật, học sinh phải biết được trong địa phương mình có những cây trồng hoặc rau màu nào thuộc nhóm thực vật nào, hoặc thuộc họ nào trong ngành Hạt Kín Học về mỗi động vật, học sinh phải biết được rằng động vật đó có quan hệ gì đối với đời sống và nền kinh tế của địa phương

Phải làm thế nào cho học sinh, sau mỗi bài, thấy rõ bài học này không những

cung cấp cho mình những kiến thức cơ bản có hệ thống, mở mang trí lực, mà còn giúp mình vận dụng những kiến thức cơ bản tìm hiểu và giải quyết những vấn đề cụ thể trong đời sống, sản xuất của địa phương và của gia đình Do đó, các em càng tha thiết yêu và thích học môn sinh học

Kết luận chung

Chương trình của bộ môn là pháp lệnh của Nhà nước trong nhà trường Giáo viên

có nhiệm vụ phải thực hiện nghiêm chỉnh những quy định của chương trình, tạo điều kiện cho việc nâng cao chất lượng dạy của bộ môn mình phụ trách Muốn vậy, việc nghiên cứu chương trình học hằng năm là một vấn đề rất quan trọng và không thể bỏ qua được Khi nghiên cứu chương trình giáo viên phải nắm được cấu tạo và nội dung

của chương trình, yêu cầu và mức độ kiến thức qui định trong chương trình, tính hệ thống, khoa học hiện đại và chính xác của nó, mối quan hệ giữa chương trình sinh lí

học cấp II với chương trình khoa học thường thức ở cấp I Ví dụ như các kiến thức về

Trang 18

nước, không khí và đất rất cần thiết đề hiểu các điều kiện sinh sống của cây và chu trình vật chất trong tự nhiên, lúc giải thích vai trò thực vật trên trái đất và chương trình sinh học ở cấp III Từ đó xác định phương hướng giảng dạy và xây dựng kế hoạch, chuẩn bị đồ dùng dạy học cho toàn năm học tránh bị động lúng túng khi thực hiện

CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP CHƯƠNG II

1 Vì sao phải nghiên cứu chương trình trước khi giảng dạy ? Nêu những thuận lợi và khó khăn khi giáo viên nắm được và không nắm được chương trình trong việc giảng dạy sinh học ở trường Trung học cơ sở

2 Chương trình sinh học trường Trung học cơ sở được xây dựng trên cơ sở

những phương hướng nào ? Nó mang những đặc điểm gì? Nêu những ví dụ minh họa

3 Giảng dạy Sinh học ở trường Trung học cơ sở cần chú ý tới những yêu cầu gì?

Tại sao?

4 Anh (chị) hãy tìm hiểu chương trình sinh học hiện đang áp dụng ở trường Trung học cơ sở, phân tích cấu tạo và nội dung của nó

5 Dựa vào chương trình thực vật học lớp VI, anh (chị) hãy tìm hiểu chương "Lá

Phân tích vị trí, nhiệm vụ và yêu cầu của chương đó trong hệ thống chương trình thực vật học nói chung

6 Tóm tắt nội dung chính của chương trình sinh học của các lớp : Lớp 6,lớp 7, lớp 8, lớp 9 Cho biết mối quan hệ giữa các nội dung đó

Trang 19

Chương III

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KHÁI NIỆM VÀ KỸ NĂNG TRONG GIẢNG DẠY SINH HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

I Sự hình thành và phát triển các khái niệm

1 Tầm quan trọng của việc hình thành và phát triển khái niệm trong giảng dạy sinh học

Khái niệm: Như F ăng-ghen đã nói, là những kết quả, trong đó được khái quát hóa những dữ kiện của thực tế

Khái niệm bao gồm toàn bộ những hiểu biết mà loài người đã tích lũy được, nó phản ánh các thuộc tính chung và bản chất của các sự vật, hiện tượng đã được khái quát hóa

Khái niệm khoa học là các tri thức khái quát về những dấu hiệu và thuộc tính bản chất, cùng những mối liên hệ và tương quan bản chất giữa các sự vật hay hiện tượng của thực tế khách quan

Khái niệm là hình thức tư duy của con người, và chính trong tư duy trừu tượng, bản chất các sự vật, các hiện tượng của hiện thực khách quan được nhận thức đúng nhất và sâu sắc nhất Khái niệm có những nét đặc trưng cơ bản sau :

a Nét đặc trưng thứ nhất của khái niệm, đó là đặc tính chung

Trong quá trình giảng dạy sinh học (cũng như các môn khoa học khác), ta dựa vào những sự kiện đơn nhất, nghiên cứu sự nảy mầm của hạt lúa, hạt đậu, cấu tạo của hoa bưởi, đời sống và cấu tạo của cá chép, của chim bồ câu v v tìm ra cái chung, cái phổ biến, cái bản chất của chúng, trên cơ sở đó mà hình thành khái niệm khoa học (về

sự nảy mầm của hạt về cấu tạo của hoa ngành hạt kín, về sự tiến hóa các hệ cơ quan trong cơ thể động vật có xương sống v.v )

Đồng thời chính nhờ nắm được những cái phổ biến, cái chung, giúp cho việc nhận thức cái đơn nhất, cái riêng, một cách sâu sắc toàn diện hơn

b Nét đặc trưng thú hai của khái niệm là tính bản chất của nó

Dựa vào những nét bản chất đó mà ta phân biệt được những vật thể và hiện tượng thuộc loại này hay thuộc loại khác, ngay cả khi về hình thức chúng có nhiều điểm giống nhau (chẳng hạn, ta phân biệt được thân ngầm và rễ, cây thông và cây phi lao thuộc hai ngành thực vật khác nhau; lươn, chạch thuộc lớp cá chứ không phải bò sát, còn cá voi thì lại thuộc lớp thú v.v )

c Nét đặc trưng thứ ba của khái niệm là tính phát triển biện chứng của nó Con người ngày càng khám phá ra nhiều điều bí mật của thế giới vật chất, càng hiểu rõ hơn

thế giới vật chất, những học thuyết khoa học ngày càng sát gần với chân lý khách

quan; do đó khái niệm khoa học cũng ngày càng hoàn thiện

Mục đích của quá trình dạy học là cung cấp cho học sinh những kiến thức khoa học, chính xác và có hệ thống, phát triển ở họ những năng lực nhận thức và thông qua

đó mà hình thành con người lao động mới Tuy nhiên nhận thức được chân lý khách

Trang 20

quan thường phải trải qua nhiều giai đoạn Trước hết người ta tri giác được sự vật hay hiện tượng là nhờ cảm giác, trên cơ sở của những tri giác mà hình thành biểu tượng Khái niệm là những biểu tượng đã được khái quát hóa Kiến thức chủ yếu bao gồm những khái niệm Vì vậy, sự hình thành và phát triển các khái niệm là động lực căn bản của toàn bộ quá trình giảng dạy và giáo dục học sinh Người giáo viên sinh học trong quá trình giảng dạy cần cung cấp cho học sinh một hệ thống khái niệm phát triển theo một trình tự lôgic chặt chẽ Muốn vậy, trước hết giáo viên cần nắm vững nội dung của các khái niệm cơ bản và sự phát triển của chúng, từ đó mà lựa chọn những biện pháp và phương tiện giảng dạy thích hợp để hình thành và phát triển các khái niệm theo một chương trình định sẵn

2 Các khái niệm sinh học và sự phát triển của chúng

a Sự phát triển của các khái niệm

Sinh học với tính cách là một môn học, chúng bao gồm một hệ thống khái niệm phát triển theo một trình tự lôgic và tương quan với nhau Các khái niệm đó có thể là đơn giản hay phức tạp, song mỗi khái niệm đều được phát triển và phức tạp hóa dần qua các bài, các chương và thậm chí có thể từ giáo trình này sang giáo trình khác

Ví dụ: khái niệm lá ở trong bài đầu của chương còn khá đơn giản, chỉ có một yếu

tố của kiến thức, học sinh mới chỉ nhận biết được cấu tạo bên ngoài của lá gồm một bản mỏng màu lục gọi là phiến, cùng với cuống lá và những đường gân Như vậy, khái niệm lá ở đây chỉ bao gồm loại kiến thức về hình thái Đến cuối chương thì khái niệm

lá trở nên phức tạp và toàn diện hơn Học sinh hiểu biết những dạng lá khác nhau, cấu tạo bên trong của lá, biết được các quá trình sinh lý xảy ra trong lá như sự tạo thành chất hữu cơ, sự hô hấp của lá, sự thoát hơi nước và những đặc điểm thích nghi của lá ở những cây khác nhau Rõ ràng, khái niệm về lá đến đây đã bao gồm nhiều loại kiến thức về hình thái, giải phẫu, sinh lý sinh thái

Các khái niệm về hạt, rễ, thân, hoa v.v cũng có một quá trình phát triển tương

tự

Khái niệm về một cây toàn vẹn, cấu tạo và chức năng các cơ quan của nó, sự phát triển mối liên hệ với các điều kiện sống, vị trí trong phân loại và trong tiến hóa còn phức tạp hơn

Trong quá trình giảng dạy, người giáo viên phải biết tất cả những con đường vận động của khái niệm, những chỗ chồng chéo hay trùng lặp, theo dõi sự vận động của chúng từng chương

b Các loại khái niệm

Trong quá trình giảng dạy sinh học việc sắp xếp các khái niệm thành hệ thống, phân loại các khái niệm và xác định khái niệm trung tâm có một tầm quan trọng đặc biệt Như chúng ta đã biết, có những khái niệm được hình thành và phát triển trong phạm vi một chương hay một giáo trình Song cũng có những khái niệm được phát triển và phức tạp hóa dần từ giáo trình này qua giáo trình khác

Trang 21

Ví dụ: khái niệm về "rễ" chẳng hạn, qua bài đầu học sinh mới chỉ hiểu thế nào là

rễ cái, rễ con, phân biệt rễ cọc với rễ chùm, tức là chỉ có được những khái niệm đơn giản về hình đạng bên ngoài, ở những bài tiếp theo học sinh sẽ có thêm những hiểu biết về cấu tạo các miền của rễ (miền chóp rễ, miền sinh trưởng v.v ), về chức năng sinh lý của rễ như sự hút nước, sự hút muối khoáng sự hô hấp của rễ tác dụng của cày bừa, xới đất, chống úng v.v

Sau khi học xong giáo trình Thực vật học, học sinh sẽ có được những khái niệm

về hình thái (của từng bộ phận của cây hoặc một cây toàn vẹn), về giải phẫu, về hô

hấp, về dinh dưỡng v.v

Đồng thời qua giáo trình Động vật học, học sinh cũng sẽ được hình thành những khái niệm về hình thái, giải phẫu, sinh lý của các hệ cơ quan như tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa, thần kinh v.v

Các khái niệm có tính chất cục bộ, thường chúng được hình thành và phát triển

trong phạm vi một giáo trình hay một chương, người ta gọi đó là những khái niệm chuyên khoa

Trên cơ sở của những khái niệm chuyên khoa được gộp lại khái quát hóa thành

những khái niệm phức tạp và tổng quát hơn người ta gọi đó là những khái niệm đại cương

Ví dụ : khái niệm về cấu tạo tế bào của cơ thể là khái niệm chuyên khoa, khái niệm tiến hóa, thích nghi, trao đổi chất v.v là khái niệm đại cương

Chẳng hạn, khái niệm trao đổi chất ở cây xanh, chỉ có thể hình thành một cách đầy đủ sau khi học sinh đã nắm vững các khái niệm khác như hô hấp, thoát hơi nước, dinh dưỡng, sự tạo thành chất hữu cơ và sự chuyển vận chất dinh dưỡng trong cây Nói tóm lại, các khái niệm sinh học có thể chia ra làm

- Khái niệm chuyên khoa

- Khái niệm đại cương

Trong giáo trình vệ sinh, động vật học và thực vật học có những khái niệm chuyên khoa sau đây (tương ứng với các bộ môn chuyên khoa về sinh học) :

- Khái niệm về hình thái

- Khái niệm về giải phẫu

- Khái niệm về sinh lý

- Khái niệm về sinh thái

- Khái niệm về phân loại

- Khái niệm về phát triển chủng loại

- Khái niệm về kỷ thuật trồng trọt và chăn nuôi

- Khái niệm về vệ sinh và y học

Các khái niệm sinh học đại cương thường là khái niệm về những qui luật sinh học, do đó chúng có một tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình giảng dạy để bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng, rèn luyện trí thông minh và phát huy khả năng tư duy sáng tạo cho học mình Vì vậy, trong quá trình giảng dạy cần đặc biệt lưu

Trang 22

ý đến sự phát triển của các khái niệm này Chúng ta có thể dẫn ra những khái niệm sinh học đại cương cơ bản sau đây :

- Cơ thể là một toàn bộ thống nhất

- Sự liên quan giữa cấu tạo và chức năng của cơ quan

- Sự trao đối chất và năng lượng trong cơ thể

- Mối quan hệ giữa cơ thể và điều kiện sống

- Sự sinh sản

- Sự phát triển của thế giới hữu sinh (tiến hóa)

- Sự phân loại các sinh vật

Nhiệm vụ của giáo viên trong quá trình giảng dạy là phải hình thành và phát triển các khái niệm một cách có kế hoạch cho học sinh Cơ cấu phức tạp và đa dạng của kiến thức sinh học thường gây khó khăn cho giáo viên trong việc lựa chọn các khái niệm cơ bản Tuy nhiên, điều chủ yếu là nhiều giáo viên sinh học hiện nay chưa quán triệt được lý thuyết về sự phát triển các khái niệm, vì vậy chưa dày công nghiên cứu và chú ý đúng mức vấn đề này Mặt khác, không ít học sinh quan niệm rằng học môn sinh học là "rất dễ" chỉ cần "học thuộc lòng", do đó dẫn tới tình trạng học sinh ghi nhớ kiến thức một cách máy móc, chỉ nắm được những hiện tượng riêng lẽ, những dấu hiệu không bản chất của sự vật một cách thiếu chính xác và không có hệ thống Các kiến thức thu nhận như vậy rõ ràng không thể giữ lại được lâu trong trí nhớ của học sinh, và hoàn toàn thiếu cơ sở khoa học cho việc vận dụng tốt những kiến thức sinh học để giải quyết những yêu cầu của thực tiễn

Vì vậy người giáo viên phải dành nhiều sự cố gắng, đòi hỏi một tinh thần làm việc nghiêm túc, một thái độ lao động cần cù, để thực hiện sự phát triển các khái niệm một cách có hệ thống bằng các biện pháp và phương tiện khác nhau trong quá trình giảng dạy

3 Những biện pháp và phương tiện để hình thành và phát triển các khái niệm Muốn đảm bảo được sự hình thành và phát triển các khái niệm một cách chính

xác, vững chắc, trước hết người giáo viên phải nắm chắc yêu cầu của chương trình học, nội dung kiến thức của sách giáo khoa, để xác định, đựợc đâu là những khái niệm

cơ bản, nhìn trước được bước đi của mỗi khái niệm qua từng bài, từng chương, từng

giáo trình Việc đó sẽ giúp người giáo viên đảm bảo tính lôgic của việc trình bày các kiến thức trong sách giáo khoa, phân biệt được các tài liệu chính và các sự kiện phụ, lôi cuốn sự chú ý của học sinh vào việc phân tích và tổng hợp các sự kiện, xác định nguyên nhân, kết quả cùng mối liên hệ giữa các hiện tượng, trên cơ sở đó tổng quát

hóa lại để hoàn chỉnh một khái niệm Đặc biệt là các khái niệm sinh học đại cương, có

khi đòi hỏi một quá trình chuẩn bị lâu dài trong suốt cả năm học hoặc lâu hơn nữa

Ví dụ : khái niệm "cơ thể là một toàn bộ thống nhất" chỉ được hoàn thiện sau khi học sinh đã nắm vững cấu tạo và hoạt động sống của từng cơ quan riêng biệt và mối liên hệ chặt chẽ giữa các hệ cơ quan với nhau trong một cơ thể sống

Trang 23

Khái niệm "về trao đổi chất " cũng vậy, nó chỉ trở thành một kiến thức chính xác sau khi học sinh đã có ý thức đầy đủ về các khái niệm : dinh dưỡng, hô hấp, thoát hơi nước, sự tạo thành chất hữu cơ, sự vận chuyển chất dinh dưỡng v.v Trong phạm vi giáo trình sinh học ở nhà trường Trung học cở sở, khái niệm trao đổi chất được hình thành ngay từ khi nghiên cứu từng cơ quan của cơ thể thực vật, tiếp đó đến các tài liệu

về các nhóm thực vặt chính, và cuối cùng trong giáo trình động vật học qua các đại diện của các ngành động vật không xương sống hoặc đại diện của các lớp động vật có xương sống

Trong việc hình thành và phát triển các khái niệm cho học sinh, đòi hỏi người

giáo viên phải biết lựa chọn những phương pháp và hình thức giảng dạy thích hợp, để

trong giờ giảng phát huy được khả năng tư duy độc lập sáng tạo của học sinh

Bởi vì sự phát triển các khái niệm không thể tách rời sự phát triển tư duy của lọc sinh và sự ham muốn của các em về lao động tri óc Vì vậy, từ lời nói nghệ thuật làm

cho các em chú ý và tự đặt câu hỏi: "Cái gì thế"? (phản ứng này phát huy óc tò mò

khoa học của học sinh), đến việc đặt ra những câu hỏi có tính chất so sánh, phân tích, tổng hợp mới có tác dụng bồi dưỡng khả năng tư duy cho học sinh, đồng thời giúp cho việc hình thành các khái niệm một cách chính xác vững chắc

Ví dụ :

+ Có thể đặt ra những câu hỏi đòi hỏi khi trả lời phải phân tích, rút ra từng phần

trong kiến thức toàn bộ :

- Cây gồm có những cơ quan nào ?

- Phần nào của bộ não được đặc biệt phát triển ở động vật có vú ?

+ Loại câu hỏi trên cũng cần, song phải đặc biệt chú trọng tới các câu hỏi mở

rộng kiến thức, đòi hỏi phải so sánh tổng hợp :

- So sánh hệ tuần hoàn của cá và ếch nhái

- Những đặc điểm nào chứng tỏ bò sát thích nghi với môi trường sống trên cạn ?

- Cấu tạo của lá phù hợp với chức năng quang hợp được thể hiện ở những điểm

nào ?

+ Các câu hỏi để hình thành và phát triển khái niệm có thể bao gồm sự tìm biết

các đối tượng tự nhiên, tháo lắp các sơ đồ trên bảng từ các hình vẽ hay tập mẫu cây Một điều cần chú ý là: Các khái niệm sinh học chỉ có thể đúng đắn trong điều kiện quan niệm rõ ràng và chính xác về sự vật hay hiện tượng dựa trên sự quan sát trực tiếp, vì rằng quan sát trực tiếp và nghiên cứu đối tượng là đặc trưng của quá trình giảng dạy sinh học

Những mẫu vật tự nhiên có tầm quan trọng đặc biệt trong bước đầu hình thành các khái niệm, sau đó là việc sử dụng các loại trực quan hình tượng khác như : sơ đồ, hình vẽ, mô hình, phim ảnh v.v

Vấn đề làm bài tập, ôn tập, kiểm tra kiến thức nhắc lại một cách có kế hoạch các

kiến thức cũ, khi liên hệ với kiến thức mới đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc củng cố, phát triển các khái niệm

Trang 24

Bài tập có thể ra với nhiều dạng khác nhau : lý thuyết, thực hành, thuộc bài tập ở nhà hay bài tập ngoài giờ, tiến hành trong phòng thí nghiệm hoặc ở vườn trường, góc sinh giới v.v ở đây cần đặc biệt lưu ý đến việc xây dựng các sơ đồ và những bài tập dưới dạng thành lập các bảng

Ví dụ : Cuối chương trình thực vật lớp, học sinh có thể vẽ sơ đồ các cơ quan và

sự dinh dưỡng của cây xanh

Trong quá trình giảng dạy, người giáo viên cần có một kế hoạch ôn tập hoàn chỉnh cho mỗi môn học, biết sắp xếp các khái niệm thành hệ thống và xác định khái niệm trọng tâm để học sinh nắm vững những kiến thức cũ, rút ra những điểm cần thiết

có liên quan đến việc tiếp thu kiến thức mới, đó là các dấu hiệu đã có trong những bài trước, chương trước, có khi cả trong các giáo trình từ những năm trước

Ví dụ : Giảng dạy chương "Rễ "

Khi nói về cấu tạo của rễ, sự phân chia của các tế bào tại miền sinh trưởng, sự hô hấp của rễ , không thể thiếu được việc cho học sinh nắm lại các kiến thức về cấu tạo

tế bào, sự hô hấp và điều kiện nảy mầm của hạt

Khi nghiên cứu về các nhóm cây chính ở chương trình thực vật, mới nhìn chúng

ta thấy một khoảng cách khá xa trong sự liên hệ với những hiểu biết mà học sinh thu lượm được trong giáo trình thực vật đã học từ trước Thực ra hoàn toàn không phải nh-

ư vậy, chẳng hạn khi dạy về vi khuẩn, nấm (với sự sinh sản bằng bào tử và lối sống dị dưỡng), tảo, rêu v.v không thể không nắm lại các kiến thức về cấu tạo tế bào thực vật, cấu tạo hạt, sự dinh dưỡng của cây xanh (dinh dưỡng khoáng, dinh dưỡng khí), sự

hô hấp, điều kiện sống của cây, cây là một cơ thể toàn vẹn v.v

Trong giáo trình động vật cũng vậy, sự ôn tập thường xuyên được thể hiện trong việc so sánh với các động vật đã học từ trước về hình dạng bên ngoài, hoặc cấu tạo trong của các hệ cơ quan : cơ, xương, tuần hoàn; thần kinh, hô hấp, tiêu hóa, bài tiết v.v , về sự sinh sản và những đặc điểm thích nghi

Những khái niệm về sự phức tạp hóa của các hệ cơ quan, sự tiến hóa trong giới động vật, mối quan hệ biện chứng giữa cơ thể và môi trường v.v trên cơ sở đó mà được cũng cố và phát triền

Sau cùng, việc xây dựng mối quan hệ gĩưa các môn học khi giáo viên trình bày

tài liệu, khi học sinh trao đổi và trả lời, cũng đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển các khái niệm

Ví dụ : Khi nghiên cứu cấu tạo của đất rừng và đời sống thực vật trong rừng, các loài tảo biển hay những đảo san hô v.v nên liên hệ với những kiến thức mà học sinh được cung cấp trong giáo trình địa lý Từ việc xây dựng và lắp ráp các sơ đồ mô hình sinh vật bởi việc đo đạc, tính toán chính xác về diện tích lá, chiều dài hệ rễ, khối lượng của vật v.v trong các thí nghiệm ở vườn trường hay góc sinh giới có liên quan mật thiết với các kiến thức và thói quen tương ứng ở các bộ môn vật lý và toán học Ngay

cả đến những hiện tượng thực tế về sinh học được nhân dân đúc kết thành các câu ca dao tục ngữ, nếu giáo viên chú ý tận dụng khai thác, cũng có tác dụng làm cho bài

Trang 25

giảng thêm sinh động và góp phần vào việc hình thành và phát triền các khái niệm sinh học cho học sinh Đó là chưa kể đến những bộ môn gần gũi với sinh học như hóa học,

kỹ thuật nông nghiệp v.v Điều đáng chú ý ở đây là việc xây dựng mối liên hệ giữa các tri thức trong các bộ môn khác nhau không phải chỉ do giáo viên làm, mà còn làm cho học sinh có ý thức tự giác, chủ động, làm quen dần trong tất cả các hình thức hoạt động học tập

Như vậy ta có thề nói, trong quá trình dạy học với mục đích cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức hoàn hảo nhất định, được thể hiện trong một hệ thống các khái niệm

Các bài tập, nhất là các bài tập thực hành có liên hệ với quan sát và thí nghiệm đóng vai trò quan trọng giúp học sinh nắm chắc các khái niệm Học sinh chỉ nắm vững các khái niệm, chừng nào họ có thể vận dụng chúng một cách thành thạo trong việc giải quyết các yêu cầu thực tế

Vì vậy, việc phát triển các khái niệm liên hệ chặt chẽ với việc thu nhận và phát triển các kỹ năng thực hành

II Sự hình thành và phát triển các kỹ năng

Bên cạnh những khái niệm cơ bản, nội dung chương trình học còn qui định

học sinh trong quá trình giảng dạy

Các kỹ năng liên hệ với các kiến thức sinh học, có thể xếp thành từng nhóm

phân loại học, sinh thái học v.v

Sự phát triển các kỹ năng cũng phải tiến hành dần dần, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp

Ví dụ : Ngay từ những bài học đầu của giáo trình thực vật học sinh phải tập xác

hai lá mầm và một lá mầm, rồi đến tập xác định các dạng lá, các dạng thân (nhất là các

hoa, xác định các loại quả v.v từ những kỹ năng nhận biết từng bộ phận của cây

của các ngành Tập nhận biết một số cây chính trong những bộ, họ quan trọng của

So sánh, phân biệt, xác định các vật các hiện tượng cũng gặp trong giáo trình động vật học Ví dụ : thông qua các bài tập, các buổi tham quan hoặc nghiên cứu thiên nhiên , cho học sinh thu lượm và xác định các loài động vật tiêu biểu cho các lớp của ngành chân đốt, một số đại diện cho các bộ, họ chính của lớp cá v.v

Trang 26

Sự phát triển có hệ thống những kỹ năng, nghiên cứu các quá trình sinh lý xảy ra trong cơ thể còn phức tạp hơn nhiều, đòi hỏi người giáo viên phải xây dựng cho mình một kế hoạch khoa học, chủ động, vận dụng nhiều biện pháp linh hoạt và sử dụng những phương tiện sáng tạo phù hợp với hoàn cảnh thực tế Việt Nam, thực tế địa phương (đối tượng học sinh, cơ sở vật chất nhà trường, yêu cầu sản xuất của xã hội

v.v ) Giáo viên cần nghiên cứu kỹ yêu cầu của chương trình học, tận dụng các thí

nghiệm đã bước đầu hình thành và dần dần nâng cao kỹ năng nghiên cứu cho học sinh

Ví dụ : Từ thí nghiệm theo dõi sự nảy mầm của hạt trong những điều kiện khác nhau rất đơn giản, đã có thể bước đầu hình thành cho học sinh những kỹ năng đơn giản

về cách tiến hành một thí nghiệm sinh lý, tiếp theo tập cho học sinh đo chính xác sự sinh trưởng của rễ, của thân trong những khoảng thời gian xác định

Thông qua các buổi thí nghiệm, các bài tập thực hành, nghiên cứu, (phải coi trọng cả những đề tài rất đơn giản), hình thành cho học sinh thói quen quan sát, so sánh kết quả thí nghiệm với kết quả đối chứng, tập cân đo chính xác, đồng thời biết ghi chép các kết quả theo dõi v.v từ đó tổng hợp lại rút ra những kết luận cần thiết và sau cùng làm thành bản báo cáo khoa học về kết quả thí nghiệm

Như vậy, rõ ràng rằng sự phái triển các khái niệm đòi hỏi phải có những kỹ năng thực hành nhất định, song ngược lại kỹ năng thực hành càng thành thạo càng đảm bảo kết quả cao của các quá trình quan sát, theo dõi, thí nghiệm Điều đó có ý nghĩa tích cực quyết định tự phát triển nhanh chóng và vững chắc các khái niệm Vì vậy, sự phát triển các khái niệm và kỹ năng thực hành phải được tiến hành song song và có liên quan chặt chẽ với nhau

CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP CHƯƠNG III

1 Cho ví dụ chứng minh sự phát triển và phức tạp hóa dần của các khái niệm

2 Phân biệt khái niệm chuyên khoa và khái niệm đại cương, cho ví dụ và nói lên tầm quan trọng của mỗi loại khái niệm đó

3 Tiến hành phân tích các khái niệm trong một chương ở sách giáo khoa sinh học trường Trung học cơ sở

a Những khái niệm nào cần được hình thành ?

b Những khái niệm cơ bản nào được phát triển trong toàn chương?

4 Nêu những biện pháp và những phương tiện cần thiết cho việc hình thành và phát triển các khái niệm

5 Phân tích tác dụng của việc sử dụng các phương tiện trực quan, thực thành thí nghiệm trong việc hình thành và phát triển các khái niệm Cho ví dụ minh hoạ

6 Trình bày ý nghĩa của việc sử dụng các sơ đồ và lập bảng trong quá trình phát

triển các khái niệm

7 Cho ví dụ nói lên sự liên quan giữa sự phát triển khái niệm và phát triển kỹ

năng thực hành

8 Tầm quan trọng của sự hình thành và phát triển các khái niệm và kỹ năng thực hành trong quá trình dạy học Sinh học

Trang 27

Chương IV NHỮNG PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY SINH HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG

HỌC CƠ SỞ

Bộ sinh học ở trường Trung học cơ sở có những đặc điểm riêng sau đây :

- Đối tượng nghiên cứu của nó là những sinh vật điển hình trong thiên nhiên và trong chăn nuôi, trồng trọt ở nước ta Các đối tượng sống này rất gần gũi với các em, đặc biệt là với học sinh nông thôn, và rất có ý nghĩa đối với thực tiễn đời sống và sản xuất

- Nội dung cơ bản của các tài liệu học tập là những kiến thức cơ bản nhất về đời sống, cấu trúc và chức năng của cơ quan trong một cơ thể sống (mức tế bào và cơ thể), những khái niệm cơ bản nhất về phân loại thực vật và động vật, về sinh thái của một số loài động vật, thực vật, về những đặc điểm trong quá trình phát triển của sinh vật từ thấp đến cao và những quy luật chi phối sự phát triển ấy

- Phương pháp nghiên cứu cơ bản của bộ môn là phương pháp quan sát và thí nghiệm những vật và hiện tượng sinh học cụ thể Trên cơ sở đó học sinh xây đựng các kết luận và rút ra các quy luật về đời sống và sự phát triển của sinh vật

Những đặc điểm nêu trên là cơ sở để xác định đặc trưng của việc giảng dạy sinh học ở trường trung học cơ sở như sau :

Trên cơ sở cho học sinh quan sát, thí nghiệm những vật và hiện tượng sinh học

cụ thể, giáo viên hướng dẫn học sinh so sánh, phân biệt, xếp loại, đi sâu vào bản chất của vật để xây dựng những khái niệm và nắm vững các qui luật về đời sống và sự phát triển của sinh vật Từ đó rút ra những bài học bổ ích về nhận thức tư tưởng và hoạt động thực tiễn nhằm thúc đẩy họ hành động để cải tạo thực tiễn, nhất là thực tiễn đời

sống, sản xuất, góp phần vào việc giáo dục con người mới theo mục tiêu đã quy định

của nhà trường phổ thông

Như vậy, đặc trưng của việc giảng dạy sinh học ở trường phổ thông phản ánh không những phương pháp nghiên cứu của khoa sinh học mà cả những nguyên tắc của việc dạy học và giáo dục nữa Dựa vào đặc điểm đó, ta có thể đi tới kết luận là : trong việc giảng dạy sinh học ở trường trung học cơ sở, giáo viên phải vận dụng nhiều phương pháp và biện pháp giảng dạy khác nhau như : quan sát, thí nghiệm so sánh, phân tích, tổng hợp Những phương pháp và biện pháp ấy phối hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình dạy học, khiến cho công tác dạy học thực sự trở thành một công tác sáng tạo và nghệ thuật

Dưới đây là những phương pháp giảng dạy sinh học chủ yếu thường dùng ở trường trung học cơ sở:

Quá trình dạy học là một quá trình thống nhất gồm hai mặt kết hợp : hoạt động giảng dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh, trong đó mặt giảng dạy giữ vai trò chủ đạo vì giáo viên là người hướng dẫn, tổ chức mọi hoạt động nhận thức của học sinh

Trang 28

Phương pháp giảng dạy là phương thức làm việc của giáo viên và học sinh, nhờ

đó mà học sinh nắm được kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo, hình thành được thế giới quan duy vật biện chứng, nhân sinh quan cách mạng, phát triển được năng lực nhận thức và

óc sáng tạo của các em

Giảng dạy bộ môn sinh học ở trường trung học cơ sở thường dùng ba nhóm

phương pháp chủ yếu dưới đây :

kiện và hiện tượng của sinh giới tìm ra và tích lũy các sự kiện mới Trên cơ sở đó khái

quát, xây dựng các kết luận, rút ra các quy luật Trong việc giảng dạy sinh học ở ờng trung học cơ sở thì phương pháp nghiên cứu theo phương pháp thực nghiệm

trư-không thể bỏ qua được bởi vì chính dựa vào phương pháp đó mà ta có thể phát triển tư duy của học sinh; làm cho học sinh không những nắm vững được tri thức, mà còn hiểu biết trên thực tiễn các nguyên lý của nền sản xuất nông nghiệp Phương pháp giảng dạy bằng thực nghiệm như vậy gọi là phương pháp thực hành

1 Định nghĩa

Phương pháp thực hành là phương pháp giảng dạy dựa trên sự quan sát và thí nghiệm độc lập của học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên (bằng lời nói, câu hỏi hoặc bài tập thực hành) để giúp học sinh tự rút ra được các kết luận khoa học

Ví dụ : Dạy bài "Thủy tức nước ngọt" ở lớp VII, giáo viên chuẩn bị cho học sinh sưu tầm thủy tức Khi dạy, bằng quan sát độc lập trên thủy tức sống, giáo viên hướng dẫn học sinh nghiên cứu để tự xây dựng bài Như vậy, thông qua phương pháp thực hành, học sinh sẽ rút ra được các tri thức, đồng thời còn nắm được các phương pháp và thủ thuật nghiên cứu khoa học đơn giản để áp dụng vào thực tiễn

Phương pháp thực hành ngoài việc giúp học sinh nắm vững kiến thức, còn làm tăng những nhân tố quan sát thí nghiệm giúp cho học sinh trực tiếp tham gia lao động sản xuất nông nghiệp ở vườn trường, ngoài đồng ruộng hợp tác xã Tất cả những cái

đó có tác dụng bồi dưỡng cho hoc sinh những kỹ năng thực hành cần thiết trong đời sống và sản xuất hàng ngày như trồng cây, chăm sóc vật nuôi

2 Các hình thức của phương pháp thực hành

2.1 Nhận biết và xác định các vật tự nhiên

Nhận biết và xác định được các vật trong thiên nhiên và trong chăn nuôi trồng trọt là một hình thức công tác có tính chất hình thái, giải phẫu và phân loại học Thư-ờng là học sinh tiến hành nhận biết về hình thái trên những mẫu vật được phân phối trong giờ học và bao gồm việc cân, đo, phân tích ra từng phần, cố định mẫu nhờ những dụng cụ nghiên cứu đơn giản như kính lúp, dao mổ, kìm Đôi khi việc nhận biết tiến

Trang 29

hành đồng thời với việc giải phẫu cây hay động vật, trường hợp nghiên cứu cấu tạo bên trong của cây hay động vật

Khi tổ chức công tác nhận biết các sinh vật phải nêu mục đích rõ ràng, xác định thứ tự các bước quan sát, đề suất những biện pháp so sánh, đối chiếu Trong khi học sinh độc lập công tác phải có sự hướng dẫn và kiểm tra để bồi dưỡng cho các em những kỹ năng và kỹ xảo thực hành đúng đắn

Việc vẽ hình trong khi quan sát cũng có tác dụng củng cố và chính xác hóa sự hiểu biết của học sinh, giáo viên phải hướng dẫn và yêu cầu học sinh vẽ đúng, chính xác, cần phải chu đáo

Ví dụ : Dạy bài "Hình dạng bên ngoài của lá" trước khi tiến hành bài giảng, giáo viên cần nêu rõ mục đích của công tác là nhận biết các bộ phận của lá, xác định lá đơn,

là kép Sau đó giáo viên giới thiệu thứ tự các bước tiến hành theo nội dung bài học Đầu tiên giáo viên cho học sinh quan sát một lá điển hình (lá bưởi) Các em tập nhận biết các bộ phận của lá

- Lá cây gồm những bộ phận nào? Bộ phận nào là chủ yếu nhất ? Tại sao ?

Sau khi nên vấn đề, giáo viên hướng dẫn học sinh so sánh lá bưởi với lá hành, lá dứa , rút ra nhận xét Tiếp đó giáo viên cho học sinh phân tích lá thành hai phần để quan sát : phiến lá và cuống lá, rồi tiếp theo phân tích phiến lá của nhiều loại lá khác nhau để quan sát các đường gân Cuối cùng học sinh có thể tự rút ra kết luận và xác

định : "lá gồm những bộ phận nào?", "phiến lá có cấu tạo như thế nào ?" Như vậy, kỹ

năng nhận biết được trong lúc so sánh các dạng gân lá khác nhau sẽ phát triển thành kỹ năng xác định cây một lá mầm hay cây hai lá mẩm

Việc xác định lá đơn và lá kép cũng tiến hành tương tự như vậy Trước hết giáo viên cho học sinh dựa theo bảng mẫu hoặc tranh màu xác định nhiều dạng lá đơn khác nhau : lá thông, lá mía, lá chè, lá sen Sau đó hướng dẫn các em so sánh tìm ra cái chung và cái riêng giữa các dạng lá đó Trên cơ sở ấy, giáo viên giúp học sinh xác định tiêu chuẩn của một lá đơn Cuối cùng dựa vào khái niệm lá đơn đã biết giáo viên hư-ớng dẫn học sinh dùng biện pháp so sánh, phân tích để xác định tiêu chuẩn của một lá kép

Công tác nhận biết và xác định các sinh vật có thể tiến hành ở trên lớp, ở vườn trường hoặc khi tham quan thiên nhiên Giáo viên cũng có thể ra cho học sinh các bài tập nhận biết và thu lượm các cây và động vật trong tự nhiên và trong sản xuất như là các bài tập làm ở nhà Chẳng hạn, nhận biết và xác định các bộ phận của nhiều loại lá, của hoa, của quả Điều quan trọng hơn cả là phải hình thành ở học sinh thói quen quan sát trong giờ chơi, lúc đi đường, khi lao động sản xuất, luôn luôn quan sát, tìm hiểu cây cỏ và động vật Tự quan sát ở vườn trường, ở quanh trường, ở các cây cảnh trên đường đi, ngoài đồng ruộng, nơi bán cây, bán cá, bán chim

Tóm lại, việc quan sát của học sinh trong hình thức này của phương pháp thực hành phân biệt một cách cơ bản với việc quan sát của học sinh bằng phương pháp trực

Trang 30

quan Trong trực quan học sinh quan sát các hình vẽ, mô hình, thí nghiệm chứng minh

do giáo viên biểu diễn trên lớp

Trong phương pháp thực hành, trong khi quan sát các em tiến hành công tác độc lập : tập nhận biết và xác định các bộ phận của cây hay động vật, cân, đo, hoặc ghi

chép Do kết quả quan sát mà học sinh hình dung được tài liệu minh họa hiện tượng

mà các em đã quan sát Nhờ đó mà các em không những nắm vững được kiến thức, mà còn rèn luyện được kỹ năng nhận biết các cây và vật đã học trong thiên nhiên và trong chăn nuôi trồng trọt

Tất cả những điều quan sát được sẽ giúp ích rất nhiều cho việc học bộ môn sinh học hiện nay và sau này

2.2 Quan sát và ghi chép các hiện tượng sinh học

Các hiện tượng sinh học thường diễn ra từ từ, trong một thời gian dài Vì vậy việc quan sát và ghi chép các hiện tượng đó không thể tiến hành trong giờ giảng bài Chẳng hạn quan sát và ghi chép các hiện tượng nảy mầm của hạt, sự lớn lên của rễ, sự phát triển của sâu bọ, đời sống và sự phát triển của ếch nhái, của chim thì cần có một thời gian dài Do đó học sinh phải tiến hành công tác trong thời gian ngoài giờ giảng Giáo viên ra bài tập, nêu rõ mục đích và nội dung công tác, hướng dẫn học sinh cách tiến hành, kiểm tra tình hình thực hiện và đánh giá chất lượng công tác của học sinh Trong khi tiến hành công tác độc lập ngoại giờ, học sinh ghi chép và vẽ vào vở những hiện tượng quan sát, đúc kết chỉnh lý các số liệu thu được và có thể thu thập các vật liệu làm bản sưu tập Giáo viên phải yêu cầu học sinh hoàn thành các phần việc dó một cách khoa học, chính xác

Việc chuẩn bị một bài dạy dưới hình thức này phải được tính toán và phổ biến cho học sinh tiến hành sao cho đúng lúc bài giảng cần đến thì có kết quả để chứng minh Vì vậy, giáo viên phải có một kế hoạch định trước phù hợp với kế hoạch bài giảng

Ví dụ : Dạy bài "Các hiện tượng nảy mầm" Để chuẩn bị dạy bài này, giáo viên ra cho học sinh bài tập sau đây :

"Quan sát sự nảy mầm của hạt đậu xanh, hạt đậu Hà lan và hạt lúa":

Trang 31

ngày sau là hạt nảy mầm hết chỉ cần đếm là được Sau đó đem gieo để quan sát cách mọc mầm

- Theo dõi tình hình sinh trưởng của 10 cây non ở mỗi loại hạt Ghi thời gian (ngày, tháng) gieo, nhổ của các cây non đó Tiến hành đo các bộ phận của các cây non,

so sánh độ dài thân của ba loại cây non mọc từ các loại hạt trên Rút ra nhận xét về sự khác nhau giũa hai kiểu nảy mẩm Vẽ hai kiểu nảy mầm Ghi chú các bộ phận

- ép khô mẫu vật Làm bảng sưu tập về các hiện tượng nảy mầm Đến giờ giảng bài, giáo viên dùng các bài tập của học sinh đã tiến hành làm tài liệu để chứng minh, hoặc trên cơ sở tổng kết các bài tập và bằng hình thức hỏi đáp để xây dựng bài

Như vậy giờ học vừa sinh động, vừa hấp dẫn, giáo viên không mất nhiều thì giờ

để giảng bài mà học sinh vẫn nắm chắc được kiến thức, rèn luyện được kỹ năng, kỹ xảo

Tóm lại, việc quan sát, việc ghi chép độc lập các hiện tượng sinh học của học sinh không những có tác dụng làm cho các em nắm vững một cách cụ thể các kiến thức khoa học mà còn phát huy ở các em óc quan sát tìm tỏi, tư duy lôgic và tính tích cực sáng tạo

2.3 Thí nghiệm nghiên cứu các hiện tượng sinh học

Ngoài quan sát, thí nghiệm là một trong những hình thức dạy học mang tính chất nghiên cứu rõ nhất của học sinh Những thí nghiệm do học sinh tự lực tiến hành dưới

sự hướng dẫn những thí nghiệm có bao gồm cả quan sát sẽ giúp học sinh giải thích

được bản chất của các hiện tượng, giải thích được mối liên hệ nhân quả giữa các hiện tượng và hiểu được các qui luật sinh học

Tùy điều kiện từng bài, có những thí nghiệm thầy giáo hướng dẫn học sinh tự lực làm (ví dụ thí nghiệm về sự thải hơi nước của cây, thí nghiệm về bón phân ), hoặc giao cho tổ ngoại khóa làm (ví dụ thí nghiệm về ảnh hưởng của các điều kiện bên ngoài đến quang hợp ) Có thể làm ở trên lớp, ở nhà, trong vườn trường hoặc ngoài đồng ruộng Khi học sinh được tự mình theo dõi các thí nghiệm các em sẽ hiểu và nhớ những bài đó rất lâu

Ví dụ : Dạy bài "ảnh hưởng của các điều kiện bên ngoài đến quang hợp" giáo viên ra cho học sinh làm những bài tập sau:

Nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện bên ngoài đến sự sinh trưởng và phát triển của ngô

Trang 32

Để so sánh, ta trồng thêm một số rãnh nữa, mỗi rãnh chỉ cách nhau một khoảng 30cm và mỗi khóm một khoảng 15cm Chế độ chăm sóc cho ngô ở các rãnh thí nghiệm và đối chứng phải giống nhau : bón phân, làm cỏ: vun gốc, trừ sâu bệnh Khi thu hoạch, tính sản lượng trên đơn vị diện tích Rút ra nhận xét về khoảng cách trồng hợp lý của ngô

Đo độ dài thân và lá ngô của hai rãnh làm thí nghiệm và đối chứng (mỗi rãnh lấy khoảng 40 - 50cây)

Tóm lại, thí nghiệm nghiên cứu là một hình thức học độc lập của học sinh không những có tác dụng làm cho học sinh nắm được những kỹ năng thực hành có tính chất

kỹ thuật tổng hợp đặc biệt là những kỹ năng quan sát và thí nghiệm Những kỹ năng

đó sẽ góp phần quan trọng vào việc hình thành tập quán áp dụng kiến thức sinh học vào sản xuất, chuẩn bị cho học sinh tham gia lao động sản xuất nông nghiệp sau này

3 Các bước tiến hành của mỗi hình thức

Dù sử dụng hình thức nào, mỗi hình thức của phương pháp thực hành (nhận biết

và xác định các vật tự nhiên, quan sát và ghi chép các hiện tượng sinh học, thí nghiệm nghiên cứu) đều trải qua nhiều bước:

Bước 1 Nêu rõ mục đích của công tác

Bước 2 Hướng dẫn kỹ thuật và tổ chức thực hiện Khi cần thiết giáo viên có thể

cụ thể hoá việc hướng dẫn bằng cách biểu diễn trực quan

Bước 3 Tiến hành công tác (quan sát, định tên, đặt thí nghiệm) đồng thời với việc ghi chép các kết quả

Bước 4 Tổng kết công tác: vẽ hình, đúc kết số liệu Trên cơ sở đó, rút ra kết luận trả lời cho vấn đề nêu ra

Bước 5 Làm báo cáo kết quả công tác

4 Kết luận

Phương pháp thực hành có giá trị rất lớn và áp dụng rất phổ biến trong việc giảng dạy sinh học ở trường phổ thông cơ sở, bản thân phương pháp đó không phải nhằm mục đích là rèn luyện kỹ năng và củng cố kiến thức như các bài thực hành qui định trong chương trình học, mà chủ yếu là để giúp học sinh nắm vững kiến thức và phát triển tư duy, đồng thời làm quen với một số yếu tố của phương pháp nghiên cứu khoa học, những kỹ năng và kỹ xảo thực hành Mặt khác, việc sử dụng phương pháp thực

hành còn góp phần giáo dục học sinh lòng yêu thích học và nghiên cứu sinh vật

Vì vậy, không nên nhầm lẫn giữa mục đích của hai công tác (công tác dạy học bằng phương pháp thực hành và công tác thực hành của học sinh) mà bỏ qua mất phương pháp quý báu này Đó là một trong những phương pháp chủ yếu nhất góp phần đắc lực trong nhiệm vụ làm phát triển con người học sinh toàn diện ; con người lao động sản xuất vừa học vừa làm trong thời đại hiện nay

II Phương pháp trực quan

Thực tiễn cho thấy rằng mọi khái niệm sinh học đều xuất phát từ sự quan sát những vật và hiện tượng cụ thể Từ đó tiến tới xây dựng những biểu tượng, để từ

Trang 33

những biểu tượng ấy đi đến phán đoán, suy diễn và hình thành khái niệm một cách có

ý thức Như vậy, trong việc giảng dạy sinh học ở trường Trung học cơ sở không thể bỏ qua bước đầu, bước quan sát, vì chính nhờ vào bước đó mà ta có thể phát triển tư duy của học sinh Phương pháp giảng dạy bằng quan sát như vậy gọi là phương pháp trực quan

1 Định nghĩa

Phương pháp trực quan là phương pháp giảng dạy trong đó, giáo viên hướng dẫn học sinh trực tiếp quan sát trên những vật và hiện tượng cụ thể (hình vẽ, tranh ảnh, mô hình, các mẫu vật hoặc hiện tượng sinh học ) do giáo viên trình bày hoặc biểu diễn ở trên lớp để giúp học sinh nhận thức đúng đắn

Trong lúc quan sát, học sinh thu nhận được các kiến thức mới và đôi khi cả kỹ năng mới nữa (ví dụ: cách mổ các động vật, cách phân tích hoa )

Ví dụ : Dạy bài: "Cấu tạo trong của lá", giáo viên phải chuẩn bị hình vẽ; mô hình, tranh ảnh các bộ phận khác nhau về cấu tạo trong của lá Nếu có điều kiện, giáo viên nên chuẩn bị thêm vài mẫu biểu bì của vảy hành và phiến lá cắt ngang để học sinh quan sát dưới kính hiển vi Qua trực tiếp quan sát trên các vật cụ thể, học sinh sẽ tiếp thu được những tri thức về mặt cấu tạo Đồng thời hiểu sâu sắc hơn khái niệm về "lá" không phải qua sự tiếp thu hình dạng bên ngoài mà còn qua cấu tạo trong của lá Đến đây, khái niệm phức tạp về lá đã được tổng quát hóa từ các khái niệm hình thái, phân loại và giải phẫu, nhờ đó học sinh có cơ sở để hiểu kỹ các chức năng quan trọng của lá trong đời sống của cây

Phương pháp trực quan ngoài việc giúp học sinh tiếp thu kiến thức dễ dàng, còn nêu lên mối liên hệ giữa lý thuyết với thực tiễn, giữa học với hành Kinh nghiệm cho thấy rằng đối với các em nhỏ, khả năng trừu tượng hóa thấp, mọi nhận thức gần như đều phải xây dựng trên sự quan sát các vật và hiện tượng cụ thể

2 Các hình thức của phương pháp trực quan

2.1 Biểu diễn các thí nghiệm chứng minh

Ngoài những thí nghiệm nghiên cứu do học sinh tự lực tiến hành dưới sự hướng dẫn của giáo viên Các thí nghiệm chứng minh do giáo viên biểu diễn trên lớp cũng có tác dụng làm cho học sinh hiểu và nhớ bài sâu, đồng thời còn phát huy ở các em tư duy logic và cách nhìn duy vật biện chứng đối với tự nhiên

Như vậy, sự phối hợp giữa quan sát và tư duy là một trong những yêu cầu quan trọng khi giáo viên tiến hành biểu diễn thí nghiệm chứng minh Trong khi học sinh quan sát thí nghiệm hoặc kết quả của thí nghiệm, giáo viên nên tiến hành hỏi đáp để học sinh nắm bài một cách có ý thức Đồng thời, bằng những thao tác của tư duy, giáo viên phân tích và tổng hợp các bước tiến hành thí nghiệm để hình thành kỹ năng tổng hợp và khái quát hóa cho học sinh

Khi biểu diễn các thí nghiệm chứng minh, giáo viên cần phải theo một trình tự nhất định sau :

a Trình tự biểu diễn một thí nghiệm chứng minh

Trang 34

- Trước khi biểu diễn thí nghiệm, giáo viên cần trình bày cách tiến hành thí nghiệm

Ví dụ : Dạy bài: "Ngoài sáng, cây xanh hút khí cacbonic và nhả ôxy", đầu tiên giáo viên giới thiệu các dụng cụ thí nghiệm và cách làm thí nghiệm : Trước đấy một

ngày lấy phễu thủy tinh úp lên một vài cành rong đuôi chó để sẵn trong chậu thủy tinh

đầy nước Lấy một ống thử đổ đầy nước, bịt miệng ống và úp lên cuống phễu sao cho không khí không lọt vào trong ống Đem cả hệ thống đó ra ngoài ánh sáng gắt Ta sẽ thấy từ cành rong nổi lên nhiều bọt khí Những bọt khí này tụ lại ở đỉnh ống thử và dồn nước xuống dần dần Nếu có điều kiện làm thí nghiệm dưới ánh sáng đến điện 500 oát thì thí nghiệm không cần phải làm trước

- Biểu diễn kết quả của thí nghiệm chứng minh Có thể biểu diễn theo 2 cách :

Cách 1: Giáo viên biểu diến thí nghiệm Học sinh quan sát và sau đó kể lại điều

quan sát

- Chất khí tụ trên ống thử là chất khí gì?

Sau khi nêu vấn đề, giáo viên nhấc ống ra và lấy một que đóm còn tàn đỏ luồn vào miệng ống: que đóm sẽ bùng cháy Dựa trên tính chất của ôxy, học sinh tự rút ra

kết luận : cây xanh nhả oxy ngoài sáng

Cách 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu những kết quả thí nghiệm bằng hỏi đáp Hoạt động của học sinh biểu hiện ở chỗ vừa quan sát, vừa trả lời câu hỏi của giáo viên

- Trong chậu chứa cành rong có hiện tượng gì xảy ra ?

Sau khi nêu vấn đề, giáo viên đưa hệ thống ra ngoài ánh sáng gắt và gọi một em lên quan sát Em đó phát biểu nhận thức của mình về hiện tượng quan sát cho cả lớp nghe

- Nếu che ánh sáng đi thì có bọt khí xuất hiện không ?

Giáo viên lấy miếng bìa đen che ánh sáng và gọi một số em khác lên quan sát Học sinh nhận thấy là bọt khí không thoát ra nữa Giáo viên lại bỏ miếng bìa ra và học sinh lại nhìn thấy bọt khi xuất hiện Sau khi một em phát biểu hiện tượng vừa quan sát, giáo viên hướng dẫn học sinh đi tới kết luận là cây xanh chỉ nhả khí đó ở ngoài ánh sáng

- Vậy khí đó là khí gì ?

Giáo viên nhấc ống nghiệm ra và cho vào đó một que diêm còn tàn đỏ : que diêm bùng cháy Dựa trên tính chất của ôxy, học sinh kết luận không khó khăn rằng cây xanh nhả oxy ngoài sáng

Bằng cách này, học sinh đã được đặt một phần vào địa vị người nghiên cứu, tìm cách giải thích hiện tượng quan sát, tự rút ra kết luận từng phần Như thế, sẽ phát huy được tư duy của học sinh một cách tích cực nên họ sẽ nắm bài học một cách sâu sắc và vững chắc hơn Tùy đối tượng và trình độ của học sinh mà áp dụng linh hoạt cách 1 hoặc cách 2 (song cần coi trọng cách 2 hơn)

Trang 35

Khi làm thí nghiệm cần song song giải thích sơ đồ thí nghiệm lên bảng đen (hoặc đã vẽ trước) Trên sơ đồ phải nêu bật những phần chủ yếu của dụng cụ, điều đó

sẽ làm cho học sinh theo dõi dễ dàng các thời kỳ của hiện tượng quan sát Học sinh ghi những kết luận rút được và vẽ vào vở sơ đồ thí nghiệm trên bảng đen

b Những yêu cầu của thí nghiệm chứng minh

+ Thí nghiệm cần có đối chứng Ví dụ, muốn biểu diễn thí nghiệm chứng minh

ống thử thứ nhất sẽ dùng để thổi không khí vào, ống thứ hai để nguyên dùng làm đối chứng Điều này sẽ làm cho học sinh nắm vững kiến thức hơn

- Theo nguyên tắc thì thí nghiệm bắt buộc phải thành công Để cho thí nghiệm có kết quả chắc chắn, ở trên lớp, giáo viên phải thử trước toàn bộ thí nghiệm? Phải suy nghĩ kỹ về những khó khăn trong khi biểu diễn trên lớp để thí nghiệm thu được kết quả

+ Cần chú ý đến thời gian dành cho việc biểu diễn và chuẩn bị thật chu đáo để thí

nghiệm không bị kéo dài

c Một số điểm cần lưu ý khi biểu diễn thí nghiệm chứng minh

+ Phải nghiên cứu cách trình bày thí nghiệm sao cho rõ ràng, gọn gàng, chính

xác và tiết kiệm thời gian Đồng thời chú ý đến vị trí để các đồ dùng dạy học sao cho

cả lớp nhìn thấy được, học sinh không phải nhấp nhổm, mất trật tự

+ Phải chuẩn bị thí nghiệm thật chu đáo, thấy được hết mọi khó khăn trong quá

trình thí nghiệm, để tránh ngắt đoạn giữa chừng, bỏ đi tìm diêm, cặp, kéo làm cắt đứt

sự chú ý của học sinh Vì vậy cần thận trọng chu đáo trong công tác chuẩn bị thí nghiệm

+ Tránh bày la liệt trên bàn các dụng cụ thí nghiệm hoặc đồ dùng dạy học, như

thế sẽ 1àm phân tán sự chú ý của học sinh Vật nào khi cho học sinh quan sát mới đưa

ra và xong thì cất đi

2 2 Biểu diễn các mẫu vật tự nhiên

Các mẫu vật tự nhiên có ý nghĩa lớn trong việc giảng dạy Sinh học, bởi vì nó giúp học sinh có những biểu tượng cụ thể và sống về các sinh vật Do đó, khi sử dụng những mẫu vật tự nhiên, thì trước hết ta sử dụng các mẫu vật sống sau đó mới đến các vật chết (chẳng hạn, khi nghiên cứu cấu tạo bên ngoài và cấu tạo bên trong của một số động vật) Trong những mẫu vật sống thì cây cối là những vật dễ dàng nghiên cứu hơn

so với động vật Ta có thể biểu diễn chúng trong các bài học thực vật và luôn luôn có thể chuẩn bị trước Trong các bài học động vật, việc biểu diễn các mẫu vật lớn ở lớp

có khó khăn hơn như chim và thú phải nhốt trong lồng và mang đến bàn trong thời gian biểu diễn Các động vật bé hơn như ếch thì giữ trong lọ thủy tinh có đậy bằng vải màn và lúc biểu diễn thì đưa qua khắp lớp Các mẫu vật bé hơn nữa, chẳng hạn sâu bọ

ở các giai đoạn phát triển khác nhau thì để trong các ống nghiệm nút bông Các mẫu vật lớn hơn như bộ xương và mẫu nhồi thì đặt trên các giá gỗ Những mẫu vật sống đó

có tác dụng quan trọng, làm cho học sinh nhận thức càng thêm cụ thể và chính xác

Trang 36

Ví dụ : Dạy bài: Đời sống và cấu tạo bên ngoài của cá chép Nếu có cá chép

sống đang bơi lội trong chậu đem ra cho học sinh quan sát, họ sẽ thấy những đặc điểm

thích nghi với việc bơi lội trong nước như tác dụng của các vây (vây chẵn và vây lẻ) trong việc giữ thăng bằng khi bơi Nếu ta cắt một bên vây cá bơi sẽ mất thăng bằng Học sinh sẽ học tập rất hào hứng với các đồ dùng dạy học như vậy

Khi biểu diễn các mẫu vật tự nhiên, điều quan trọng là cần nắm vững các nguyên tắc của việc trình bày trực quan Có giáo viên thường ít chú ý thực hiện các nguyên tắc này

Giáo viên nên cố gắng để có các mẫu vật phát đến tận tay học sinh Tự mình

đư-ợc quan sát, học sinh sẽ tiếp thu các kiến thức một cách chắc chắn Việc thực hiện yêu cầu này đòi hỏi giáo viên phải chuẩn bị công phu Có thể dùng lực lượng lớn học sinh giúp giáo viên chuẩn bị

Mẫu vật phải sạch sẽ Giáo viên không nên đưa cho học sinh quan sát các mẫu vật bẩn, vì sẽ làm giảm hứng thú nghiên cứu, gây ra tình trạng mất vệ sinh trong lớp Mẫu vật phải đưa ra đúng lúc, đặc biệt mẫu vật sống có sức thu hút mạnh đối với các em Nếu giáo viên đưa ra không đúng lúc, học sinh sẽ bị phân tán tư tưởng Trong trường hợp có nhiều mẫu vật phải để trên bàn, giáo viên nên tìm cách che đậy và chỉ

để học sinh quan sát khi cần thiết Nếu không học sinh sẽ giảm sức chú ý khi giáo viên yêu cầu quan sát chung

Giáo viên cần nghiên cứu tỉ mỉ từng động tác phải làm trong khi quan sát để hướng dẫn học sinh tránh sự hư hỏng, lúng túng Có khi lấy xem phần này thì đồng thời phá hủy các bộ phận khác của vật sống

Tạo điều kiện để cho mẫu vật được cả lớp nhìn rõ Nếu chỉ có một mẫu vật mà cần phải cho cả lớp xem thì :

Mẫu vật phải đủ lớn để cả lớp nhìn rõ Nếu mẫu vật nhỏ như các bản mẫu lá ép thì phải cho học sinh xem gần

Mẫu vật phải để ở một vị trí thích hợp để ánh sáng bên ngoài không làm lóa mắt

học sinh, đồng thời để sao cho các em ở cuối lớp nhìn thấy, khi cần thiết phải chú ý tới cái "phông" để làm nổi bật mẫu vật Ví dụ, vật có màu xanh như lá thì dùng "phông" màu trắng, hoặc bộ xương màu trắng thì dùng phông đen

Việc cho xem mẫu vật phải tiến hành thong thả, không hấp tấp Như vậy, mới tập trung được sự chú ý của học sinh vào những chi tiết quan trọng Nếu cho xem nhanh quá thì không để được dấu vết cần thiết trong nhận thức của học sinh

Các chi tiết của mẫu vật lớn, phải dùng cái thước dài để chỉ một cách chính xác Muốn chỉ rõ chỗ nào thì dùng đầu thước vòng một cái đúng quanh chỗ đó

Trong trường hợp không có đủ kính hiển vi hoặc mẫu vật chỉ có một cái mà lại cần có thời gian để học sinh quan sát thì thường giáo viên để cho học sinh quan sát cuối giờ Sau khi giảng bằng tranh ảnh, giáo viên dành ra 10 đến l5 phút cho lần lượt từng nhóm 2 đến 3 em học sinh xem trong khi các em khác vẽ hình trên bảng hoặc trả

Trang 37

lời một câu hỏi củng cố bài Bên cạnh mẫu quan sát, giáo viên treo tranh hoặc hình vẽ phóng to của vật mẫu để học sinh phân biệt được các bộ phận

Khi học sinh quan sát, giáo viên hướng dẫn cho học sinh cần chú ý vào điểm nào; đồng thời đặt những câu hỏi để phát huy trí lực học sinh Cho họ so sánh, phân biệt, xếp loại, nêu ra bản chất của vật hay hiện tượng, các mối quan hệ giữa cơ thể với điều kiện sống, giữa cấu tạo với chức năng Tránh tình trạng để học sinh quan sát một cách qua loa chiếu lệ, thiếu hướng dẫn

Cũng phải yêu cầu học sinh giữ gìn trật tự và bảo vệ các mẫu vật trong khi quan sát Tránh tình trạng học sinh tự động mày mò, phá hủy mẫu vật trước khi quan sát, hoặc làm hỏng, hoặc vứt bừa bãi làm mất vệ sinh lớp học

Tóm lại, việc biểu diễn các mẫu vật tự nhiên có tầm quan trọng đặc biệt trong bước đầu hình thành các khái niệm Vì vậy, trong quá trình giảng dạy sinh học, chúng

ta nên bắt đầu bằng việc sử dụng các mẫu vật sống để gây cho học sinh những biểu tượng cụ thể, từ đó hướng dẫn học sinh đi đến khái quát, xây dựng các khái niệm Tiếp

đó, để phát triển các khái niệm Bên cạnh các mẫu vật tự nhiên, ta mới dùng các đồ

dạy hình tượng khác: hình vẽ, sơ đồ, tranh ảnh nhiều giáo viên có xu hướng dùng

tranh thay thế cho việc biểu diễn các mẫu vật tự nhiên như tranh về hệ thần kinh, hệ tuần hoàn Những tranh đó không thể thay thế cho việc giải phẫu để quan sát thực về tim, mạch và bộ não Do đó, trong trường hợp có vật thực, ta chỉ coi tranh là đồ dùng dạy học có tác dụng bổ sung mà thôi

2.3 Biếu diễn các đồ dạy hình tượng

Các đồ dạy hình tượng (hình vẽ, tranh ảnh, mô hình ) là những phương tiện trực quan cung cấp cho học sinh những biểu tượng về cấu tạo, hình dạng, màu sắc các vật,

về hoàn cảnh tự nhiên và lối sống của nó

Trong các đồ dạy hình tượng thì hình vẽ và tranh ảnh thường được giáo viên sử dụng để cụ thể hóa sự kiện và hiện tượng mà học sinh không thể quan sát trực tiếp trên lớp được (chẳng hạn, hoàn cảnh tự nhiên và lối sống của các sinh vật )

Dưới đây là nguyên tắc biểu diễn các hình vẽ và tranh ảnh ở trên bảng :

a Biểu diễn hình vẽ ở trên bảng

Hình vẽ trên bảng giúp giáo viên trình bày bài giảng được rõ ràng, mạch lạc, học

sinh cũng dễ dàng theo dõi và tiếp thu bài chỉ khi nào muốn tập trung sự chú ý của học sinh vào việc lĩnh hội một chi tiết nào, thầy giáo mới nói và vẽ thôi

Ví dụ: Khi giảng về "Cấu tạo ngoài của cá", giáo viên nói : thân cá thích nghi với

sự rẽ nước nên có dạng hình thoi nhọn Khi ấy, giáo viên vẽ luôn hai đường cong tạo nên sơ đồ hình dạng của cá Tiếp đó gạch giới hạn của phần thân, đầu và đuôi cá Cứ thế, giáo viên vừa giảng vừa vẽ mà hình thành nên cấu tạo ngoài của cá Như vậy, nguyên tắc đầu tiên của việc biểu diễn các hình vẽ ở trên bảng là giáo viên vừa giảng

vừa vẽ và luyện cho học sinh vừa ghi vừa vẽ vào vỡ) Lối giảng dạy như vậy giúp cho

học sinh tập làm quen với việc vừa trả lời vừa vẽ hình trên bảng, có ý nghĩa hơn cả là việc tập cho từng tập thể nhỏ học sinh lên bảng vẽ khi giáo viên hỏi bài Ví dụ: một

Trang 38

học sinh vẽ sơ đồ bản cắt ngang thân cây, một em vẽ bản cắt dọc, em thứ ba viết các chú thích chỉ rõ sự phân bố các lớp của thân

Đối với những hình vẽ phức tạp, mất nhiều thời gian, giáo viên nên vẽ trước trên bảng con và đưa ra đúng lúc để giảng

Nếu cần sử dụng màu, thì nên chọn màu thích hợp và thống nhất lúc vẽ để hình thêm rõ ràng và đẹp

Giáo viên cũng cần nói rõ tỉ lệ của hình vẽ so với vật thực, vì có trường hợp hình

vẽ được biểu diễn phóng to trên bảng, có trường hợp lại bị thu nhỏ Vì vậy, phải so sánh với các vật tự nhiên hoặc với kích thước các đồ vật quen thuộc với học sinh như

bút chì, sợi tóc, đầu ghim, hạt đậu để giúp cho học sinh có một khái niệm đúng đắn

về mặt đó

Cần phát triển các sơ đồ để minh họa bài giảng

Ví dụ, sơ đồ về vòng tuần hoàn của một động vật, sơ đồ về sự nẩy mầm của hạt,

về sự phát triển của sâu bọ từ trứng Cũng có thể lập những sơ đồ bằng bìa cứng như các hình con về sự biến thái của một loại sâu bọ Khi giảng bài, giáo viên găm từng hình con lên bảng theo một trình tự của nó Điều đó, sẽ làm cho học sinh theo dõi bài một cách chăm chú và hấp dẫn

Nên cho học sinh tham gia tập thể vào việc xây dựng các sơ đồ khi giảng dạy : Chẳng hạn, các em tham gia vào việc vẽ các sơ đồ về phân loại, về sự tiến hóa của giới thực vật và động vật Việc lập các sơ đồ như vậy nhanh hơn nhiều nếu dùng các hình

vẽ chuẩn bị sẵn trên các tấm bìa cứng Học sinh đính các hình theo một thứ tự nhất định trên bảng và ghi chú bằng phấn, nối các hình bằng các đường và vẽ thêm một số chi tiết cần thiết Các sơ đồ lắp ghép như vậy có thể làm khá nhanh và có tính cụ thể,

rõ ràng Khi giáo viên hỏi, học sinh phải nhận ra và trình bày các vật đã vẽ Cả lớp theo dõi việc trình bày sơ đồ và cùng tham gia suy nghĩ trong việc giải đáp câu hỏi đề

ra

b Biểu diễn tranh ảnh ở trên lớp

Tranh ảnh sinh vật là những đồ dạy hình tượng phản ánh các sự vật hay hiện tượng sinh học diễn ra trong đời sống của các thực vật hoặc động vật

Giáo viên thường dùng tranh ảnh để cho học sinh quan sát khi cần hướng dẫn họ

nghiên cứu về cấu tạo của các cơ quan trong cơ thể sống, hoặc để cụ thể hóa những diễn biến trong các hoạt động sinh học phức tạp (ví dụ, sự tuần hoàn của máu, sự phát triển của sâu bọ, ếch nhái )

Trong trường hợp này, biểu diễn tranh ảnh nên kết hợp với câu hỏi của thầy và trả lời của học sinh

Nếu giáo viên có điều kiện sưu tầm được nhiều tranh ảnh thì có thể dùng làm tài

liệu thông báo, giới thiệu với học sinh về đời sống và các sinh vật mới lạ mà nước ta không có

Trong việc biểu diễn tranh ảnh, cần nắm vững một số nguyên tắc sau đây :

Trang 39

Đưa tranh ảnh đúng lúc Trên những tranh có vẽ nhiều thứ hoặc ảnh phóng to có

nhiều hình, giáo viên nên che những hình không cần thiết để khỏi phân tán sự chú ý của học sinh

Các tranh hoặc ảnh to; trước khi đưa cho học sinh xem nên treo trên một cái đinh theo thứ tự dùng trước sau (mặt sau tranh ảnh quay về phía học sinh)

Sau khi treo tranh hoặc đưa ảnh ra, cần cho học sinh nhìn một lúc, và chỉ sau đó mới đặt câu hỏi về nội dung của nó Việc thu hút học sinh vào việc "đọc" tranh ảnh, nghĩa là nghiên cứu tranh ảnh một cách chủ động, kể chuyện theo tranh ảnh, mô tả các thực vật, động vật là điều rất lợi Với phương pháp như vậy, việc biểu diễn tranh ảnh mới thực sự đảm bảo cho học sinh tri giác bức tranh hoặc ảnh một cách tích cực đồng thời mới coi tranh ảnh là một nguồn mà từ đó học sinh, nhờ câu hỏi hướng dẫn của giáo viên sẽ rút ra được những tri thức bằng cách trực tiếp quan sát

Trong thực tế nhà trường của ta, phần lớn tranh do giáo viên và học sinh vẽ lấy

Vì vậy, cần đảm bảo tranh vẽ phải chính xác khoa học, hợp với mục đích giáo dục Giáo viên phải có biện pháp để bảo vệ tranh ảnh khỏi bị mốc và ánh sáng làm phai màu

c Biểu diễn mô hình trên lớp

Các mô hình sinh vật là những đồ dạy hình tượng giúp học sinh có những biểu tượng rõ rệt và chính xác về vị trí trong không gian của các bộ phận trong một cơ quan, hoặc của các cơ quan trong một cơ thể sống (chẳng hạn, mô hình về cấu tạo trong của rễ, thân, lá hoặc về các cơ quan trong cơ thể động vật như quả tim, bộ não ) giáo viên chỉ sử dụng mô hình khi không có vật thực, hoặc dùng vật thực mà không thể minh họa được ngay cấu tạo trong của nó cho toàn thể học sinh quan sát (ví

dụ như các bản mẫu xem trong kính hiển vi của rễ, thân, lá hoặc quả tim, bộ não ở động vật) Do đó, việc biểu diễn mô hình trong các trường hợp này rất cần thiết

Ví dụ : Dạy bài "Cấu tạo trong của thân", ngoài hình vẽ tranh và bản mẫu xem kính hiển vi, giáo viên nên sử dụng thêm mô hình để giúp học sinh thấy được vị trí và

sự phân bố trong không gian của các lớp tế bào trong thân cây (vỏ, gỗ, ruột, tầng phát sinh )

Khi biểu diễn mô hình ở trên lớp, giáo viên cũng phải tuân theo những nguyên tắc chung của việc trình bày trực quan Nhưng quan trọng hơn cả là giáo viên phải biết biểu diễn nó vào lúc nào; và trong trường hợp nào Vì vậy, phải có sự nghiên cứu để việc biểu diễn mô hình không mang nặng tính chất hình thức, mà thật sự trở thành một nguồn bổ sung kiến thức cho học sinh

d Sử dụng phim ảnh và đèn chiếu trên lớp

Phim ảnh và đèn chiếu trên lớp là những phương tiện giảng dạy có ý nghĩa đặc biệt trong việc nâng cao hiệu quả của công tác dạy học Vì vậy, trong các trường học

có điều kiện trang bị về phim ảnh và đèn chiếu, ta có thể vận dụng nó để cụ thể hóa bài học, mở rộng các biểu tượng, đào sâu sự hiểu biết của học sinh về những hiện tượng không thể quan sát trực tiếp trong dời sống xung quanh

Trang 40

Phim ảnh : Phim ảnh có giá trị ở chỗ nó cho phép phản ảnh được trạng thái động của sự phát triển một hiện tượng sinh học nào đấy, hoặc vạch ra những điều kiện muôn hình muôn vẻ của sự biến đổi của hiện tượng ấy Do đó, khi cần mô tả một quá trình diễn biến của các sự vật hay hiện tượng sinh động, giáo viên sử dụng phim ảnh để hỗ trợ cho bài giảng

Việc xem phim trong bài giảng chỉ chiếm độ vài phút thôi, thời gian còn lại dành cho những hình thức học tập khác

Tùy theo mục đích của bài học, trước khi chiếu phim có thể trình bày nội dung của bài học, hoặc có thể tiến hành hỏi đáp ngay trong khi chiếu phim hoặc sau khi chiếu phim Vì vậy, trước khi chiếu phim giáo viên nên ra cho học sinh một số câu hỏi

đề nghị học sinh tìm lời giải đáp trong phim Có như vậy thì việc sử dụng phim ảnh trong học tập mới phát huy được hết ưu điểm của nó

- Đèn chiếu:

Bên cạnh phim ảnh học tập, giáo viên nên sử dụng phim đèn chiếu Nhờ đèn

chiếu ta có thể biểu diễn được những hình ảnh cần thiết

3 Kết luận:

Phương pháp trực quan có ý nghĩa rất lớn và áp dụng rất rộng rãi trong giảng dạy sinh học Nhưng cần nhớ rằng, trực quan bản thân nó không phải là mục đích, mà chỉ

là phương tiện giúp học sinh rút ra được những tri thức bằng cách trực tiếp quan sát, từ

đó làm cơ sở để giáo viên phát huy ở các em tư duy trừu tượng Vì vậy, phương pháp trực quan chỉ dùng khi cần thiết, không được lạm dụng

III Phương pháp dùng lời

Như đã trình bày ở trên trong quá trình dạy học, lời nói của giáo viên giữ vai trò chủ đạo trong họat động nhận thức của học sinh Nhờ có lời nói của giáo viên mà học sinh thu nhận được kiến thức, sự trao đổi tư tưởng giữa giáo viên và học sinh mới thực hiện được Ngay đối với những quan sát và thí nghiệm độc lập của học sinh trong phương pháp thực hành chẳng hạn cũng phải gắn liền với lời nói của giáo viên, với cuộc trao đổi do giáo viên hướng dẫn, vì các em không thể nào tự mình hoàn thành được một chương trình quan sát hoặc thí nghiệm phức tạp về sinh học Vì vậy, ngoài những phương pháp giảng dạy cơ bản như phương pháp thực hành và phương pháp trực quan, thì phương pháp dùng lời cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy và nâng cao trình độ ngôn ngữ của học sinh trong giảng dạy

1 Định nghĩa:

Phương pháp dùng lời là phương pháp giảng dạy trong đó giảng viên dùng lời nói kết hợp với việc biểu diễn đồ đùng trực quan để minh họa kiến thức cho học sinh hiểu và tiếp thu bài dễ dàng

Hoạt động của học sinh chủ yếu ở việc nghe và sau đó trả lời riêng hoặc viết

2 Các hình thức của phương pháp dùng lời

2.1 Hình thức giảng thuật

Ngày đăng: 06/10/2017, 15:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tấn, Lê Hiệp (1997), Phương pháp gỉang dạy Sinh học ở trường phổ thông cấp II, Tập I, II, Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp gỉang dạy Sinh học ở trường phổ thông cấp II
Tác giả: Nguyễn Tấn, Lê Hiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 1997
3. Nguyễn Đăng Vinh, Dạy học Sinh Học ở trường trung học cơ sở, Tập I, , Giáo trình dùng cho các trường Cao đẳng Sư phạm, Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học Sinh Học ở trường trung học cơ sở
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
4. Nguyễn Kỳ, phương pháp giáo dục tích cực, lấy người học làm trung tâm, Nhà xuất bản giáo dục. Hà nội 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: phương pháp giáo dục tích cực, lấy người học làm trung tâm
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục. Hà nội 1995
5. Nguyễn Kỳ, Thiết kế bài giảng theo phương pháp tích cực, Trường Quản lý cán bộ, Giáo dục và Đào tạo, Hà nội 1994 Khác
6. Trần Bá Hoành, Pháy huy tính tích cực của học sinh trong chương trình Sinh học, Bộ giáo dục và đào tạo, 1995 Khác
7. Sách giáo khoa Sinh học lớp 6, Nhà xuất bản giáo dục Khác
8. Sách giáo khoa Sinh học lớp 7, Nhà xuất bản giáo dục Khác
9. Sách giáo khoa Sinh học lớp 8, Nhà xuất bản giáo dục Khác
10. Sách giáo khoa Sinh học lớp 9, Nhà xuất bản giáo dục Khác
11. Sách giáo viên Sinh học lớp 6, Nhà xuất bản giáo dục Khác
12. Sách giáo viên Sinh học lớp 7, Nhà xuất bản giáo dục Khác
13. Sách giáo viên Sinh học lớp 8, Nhà xuất bản giáo dục Khác
14. Sách giáo viên Sinh học lớp 9, Nhà xuất bản giáo dục Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w