1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quá trình đổi mới của ngân hàng nhà nước việt nam từ năm 1986 đến năm 2013

240 256 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 240
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn đổi mới và yêu cầu của các hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng đã và đang đặt ra những vấn đề rất mới, phức tạp đòi hỏi NHNN phải nhanh chóng đổi mới phương thức và các cô

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các tài liệu,

số liệu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng

Tác giả luận án

Trần Phương Thúy

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8

1.1 Tình hình nghiên cứu 8

1.2 Nhận xét về kết quả nghiên cứu và những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu 18

Chương 2: QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN BỘ MÁY TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2007 20

2.1 Bước đầu đổi mới Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giai đoạn 1986 - 1989 20 2.2 Đổi mới căn bản, toàn diện bộ máy tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ năm 1990 đến năm 2007 34

2.3 Những tồn tại, hạn chế của Ngân hàng Nhà nước giai đoạn 1990 - 2007 62

Tiểu kết chương 2 68

Chương 3: ĐỔI MỚI BỘ MÁY TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ ĐIỀU HÀNH CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2013 70

3.1 Đổi mới cơ chế, chính sách quản lý, điều hành giai đoạn 2008 - 2010 70

3.2 Đổi mới bộ máy tổ chức và hoạt động quản lý điều hành cuả Ngân hàng nhà nước trong bối cảnh tái cơ cấu nền kinh tế và hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2013 88

3.3 Kết quả và hạn chế trong quản lý, điều hành của Ngân hàng Nhà nước giai đoạn 2008 - 2013 101

Tiểu kết chương 3 102

Chương 4: NHẬN XÉT VỀ QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 103

4.1 Nhận xét chung 103

4.2 Những bài học từ quá trình đổi mới 126

4.3 Những vấn đề đặt ra 143

Tiểu kết chương 4 146

KẾT LUẬN 147

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Cơ cấu đào tạo của hệ thống ngân hàng Việt Nam 76

Bảng 3.2 Cơ cấu độ tuổi của hệ thống ngân hàng Việt Nam 76

Bảng 3.3 Cơ cấu chuyên ngành đào tạo của cán bộ ngân hàng Việt Nam 77

Bảng 3.4 Các mức lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước từ 2011-2013 93

Trang 6

Sơ đồ 2.5 Tổ chức bộ máy NHNN theo Luật Ngân hàng Nhà nước năm 1997 49

Sơ đồ 2.6 Tæ chøc bé m¸y cña Ngân hàng nhà nước theo Nghị định 52/2003/

NĐ - CP ngày 19/5/2003 của Chính phủ 53

Sơ đồ 2.7 Mô hình tổ chức Thanh tra ngân hàng (theo Nghị định 91/1999/NĐ-CP) 58

Sơ đồ 3.1 Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng và phát triển thanh toán giai

đoạn 2008-2010 86

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CTQG : Chính trị Quốc gia

CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

CNTT : Công nghệ thông tin

NHQG : Ngân hàng Quốc gia

NHQD : Ngân hàng Quốc doanh

NHCP : Ngân hàng Cổ phần

NHTM : Ngân hàng Thương Mại

NHTMCP : Ngân hàng Thương Mại cổ phần

Trang 8

NHTMNN : Ngân hàng Thương mại Nhà nước

NHTMQD : Ngân hàng Thương Mại quốc doanh

NHTW : Ngân hàng Trung ương

NHVN : Ngân hàng Việt Nam

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày 6/5/1951 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập Ngân hàng Quốc gia (NHQG) Việt Nam - nay là Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu bước phát triển của công tác tiền tệ - tín dụng và hoạt động Ngân hàng ở nước ta Quá trình phát triển của NHNN Việt Nam không chỉ gắn với quá trình thử thách của các cuộc chiến tranh cách mạng 1945 - 1975 mà còn gắn với 30 năm đổi mới toàn diện của đất nước (1986 - 2016) và những thách thức mới của nền kinh tế thời kỳ hội nhập

Có thể nói, trong sự nghiệp đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) khởi xướng và lãnh đạo gần 30 năm qua, ngành Ngân hàng Việt Nam (NHVN) với vai trò huyết mạch của nền kinh tế, NHNN Việt Nam với vị trí là đầu tàu dẫn dắt toàn bộ nền kinh tế đã đóng vai trò to lớn trong ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh

Những đóng góp đó là kết quả quá trình đổi mới và phát triển toàn diện trên các mặt của NHNN về tổ chức bộ máy, hoạt động, khuôn khổ pháp lý, lực lượng cán bộ công chức trong gần 30 năm qua Từ Nghị định 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (HĐBT) chuyển hẳn hệ thống ngân hàng sang hoạt động kinh doanh đến Pháp lệnh NHNN và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã (HTX) tín dụng

và công ty tài chính tháng 5/1990, hệ thống ngân hàng bắt đầu chuyển đổi mạnh mẽ, căn bản, toàn diện phù hợp với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của Đảng, Nhà nước Năm 1997, Quốc hội thông qua Luật NHNN Việt Nam và Luật các TCTD, tạo nền tảng pháp lý căn bản và mạnh mẽ hơn cho hệ thống ngân hàng tiếp tục đổi mới phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế Năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu tác động tiêu cực đến kinh tế nước ta Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XII (ngày 16/6/2010) thông qua Luật NHNN Việt Nam và Luật các TCTD, tạo nền tảng pháp lý phù hợp hơn để tiếp tục đổi mới hoạt động ngân hàng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng Thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ, NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) chủ động và linh hoạt, ứng phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, ngăn chặn suy giảm kinh tế năm 2009, khôi phục đà tăng trưởng năm 2010 và kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 2011 - 2015 và đã đạt những kết quả đáng ghi nhận

Trang 10

Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng nói chung, NHNN Việt Nam nói riêng đang đứng trước những đòi hỏi ngày càng cao của yêu cầu ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng bền vững, thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH), cũng như những thách thức to lớn của quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập sâu rộng với quốc

tế, nhất là yêu cầu mở cửa thị trường tài chính trong nước Điều này đặt ra những thách thức to lớn đối với cả hệ thống tài chính nói chung và NHNN nói riêng

Bên cạnh đó, NHNN Việt Nam còn phải đối mặt với chính những hạn chế, bất cập trong tiến trình đổi mới của mình NHNN Việt Nam với mô hình tổ chức nặng

về quản lý hành chính đã cản trở việc phát triển và điều hành các công cụ hiện đại của CSTT và thị trường tiền tệ Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng cần đổi mới hệ thống thanh tra giám sát hoạt động ngân hàng; phát huy vai trò độc lập tương đối của CSTT và tôn trọng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các ngân hàng thương mại (NHTM)

Thực tiễn đổi mới và yêu cầu của các hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng đã và đang đặt ra những vấn đề rất mới, phức tạp đòi hỏi NHNN phải nhanh chóng đổi mới phương thức và các công cụ quản lý, điều hành, cũng như các quy trình hoạt động nghiệp vụ của mình, điều chỉnh tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực nguồn nhân lực nhằm thích ứng với hoàn cảnh, điều kiện và yêu cầu, nhiệm vụ mới, hướng tới xây dựng một Ngân hàng Trung ương (NHTW) hiện đại trong bối

cảnh triển khai thực hiện “Kế hoạch Hội nhập kinh tế quốc tế Ngành Ngân hàng

Việt Nam”, năm 2012, và tái cơ cấu hệ thống các TCTD giai đoạn 2011 - 2015 của

Chính phủ

Vì vậy, nghiên cứu quá trình đổi mới và phát triển của NHNN Việt Nam gắn với những mốc lịch sử quan trọng của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước có ý nghĩa khoa học, thực tiễn sâu sắc và có tính thời sự cao Chính vì vậy chúng tôi

chọn vấn đề: “Quá trình đổi mới của Ngân hàng nhà nước Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2013” cho đề tài luận án của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là góp phần tái hiện tiến trình đổi mới và phát triển của NHNN Việt Nam gắn với quá trình đổi mới cơ chế kinh tế Việt Nam trong gần 30 năm (1986- 2013) Trên cơ sở những thành tựu và những tồn tại, hạn chế trong gần 30 năm đổi mới của NHNN, luận án rút ra những bài học góp phần làm

Trang 11

cơ sở cho những đề xuất, kiến nghị, giải pháp đẩy nhanh tiến trình cải cách bộ máy

tổ chức và hoạt động quản lý điều hành của NHNN Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Luận án làm rõ quá trình đổi mới của NHNN Việt Nam qua các giai đoạn: + Xây dựng bộ máy tổ chức và hoạt động của NHNN Việt Nam theo cơ chế thị trường từ năm 1986 đến năm 2007

+ Đổi mới bộ máy tổ chức và hoạt động quản lý điều hành từ năm 2008 đến năm 2013 trong đó chủ yếu là sự đổi mới về cơ chế, chính sách của NHNN để ngăn chặn suy giảm kinh tế, ứng phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu và tái cơ cấu nền kinh tế và các TCTD theo Đề án của Chính phủ giai đoạn 2011 - 2015

- Luận án làm rõ những thành tựu, hạn chế trong quá trình đổi mới và những đóng góp của NHNN đối với quá trình đổi mới nền kinh tế đất nước trong gần 30 năm qua

- Luận án rút ra những bài học kinh nghiệm trong gần 30 năm đổi mới của NHNN

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình đổi mới bộ máy tổ chức và hoạt động quản lý điều hành của NHNN Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2013 Cụ thể: Luận án tập trung nghiên cứu quá trình đổi mới của NHNN Việt Nam về:

+ Tổ chức bộ máy, đổi mới cơ chế quản lý và phát triển nguồn nhân lực

+ Xây dựng và điều hành CSTT

+ Xây dựng hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng (GSNH)

+ Xây dựng hệ thống thanh toán, hiện đại hóa công nghệ ngân hàng

Một số vấn đề mang tính kỹ thuật điều hành chính sách hay các quy trình hoạt động nghiệp vụ cụ thể…sẽ không được đề cập trong luận án hoặc nếu có thì chỉ có tính chất minh họa

3.2 Phạm vi thời gian

Phạm vi nghiên cứu của luận án là từ năm 1986 đến năm 2013 Năm 1986 đánh dấu công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có đổi mới tổ chức và hoạt động ngân hàng theo cơ chế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa (XHCN) Năm 2013 là năm đánh dấu hơn một nửa chặng đường của Kế hoạch phát triển kinh

tế - xã hội của Chính phủ giai đoạn 2011 - 2015, đây cũng là năm ghi nhận những kết quả khả quan về điều hành CSTT, quản lý thị trường vàng, bước đầu tái cơ cấu các TCTD có hiệu quả của NHNN trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến

Trang 12

động phức tạp Năm 2013 cũng là năm vị thế là Ngân hàng Trung ương (NHTW) được khẳng định trong Nghị định 156/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ

và trong thực tế hoạt động quản lý điều hành kinh tế vĩ mô của đất nước và trong bảng xếp hạng của các tổ chức uy tín quốc tế

Tiến trình đổi mới của NHNN Việt Nam với các giai đoạn cụ thể gắn với những sự kiện quan trọng của thế giới và trong nước như:

+ Những đổi mới bước đầu giai đoạn 1986 - 1989 từ khi ĐCSVN khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đến trước khi có Pháp lệnh NHNN tháng 5/1990

+ Đổi mới căn bản, toàn diện bộ máy tổ chức và hoạt động giai đoạn 1990 -

2007 trong bối cảnh sụp đổ của hệ thống XHCN Đông Âu và Liên Xô đầu thập kỷ

90 của thế kỷ XX, Việt Nam trở thành thành viên của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ năm 1995, ứng phó với cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997 và yêu cầu hội nhập với thế giới, gia nhập tổ chức Thương mại thế giới WTO (đầu năm 2007)

+ Đổi mới bộ máy tổ chức và hoạt động quản lý điều hành của NHNN từ năm

2008 đến năm 2013 để ngăn chặn suy giảm kinh tế, ứng phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu và tái cơ cấu nền kinh tế và các TCTD theo Đề án của Chính phủ giai đoạn 2011 - 2015

3.3 Phạm vi nội dung

Trong mọi thời kỳ phát triển dù cho phạm vi hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, thậm chí ngay cả khung pháp lý của NHNN có những thay đổi nhất định, song NHNN luôn là cơ quan của Chính phủ Việt Nam và làm nhiệm vụ của NHTW Bởi vậy, luận

án nghiên cứu quá trình đổi mới bộ máy tổ chức và hoạt động quản lý điều hành của NHNN Việt Nam trong việc thực hiện hai chức năng chính:

+ Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động tiền tệ, ngân hàng, trong

đó chủ yếu là thanh tra ngân hàng (TTNH) về tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối

+ Thực hiện chức năng NHTW: Điều hành tiền tệ (chủ yếu là xây dựng và điều

hành CSTT, điều hành lãi suất, tỷ giá, quản lý ngoại hối), phát triển hệ thống thanh toán qua ngân hàng

Luận án cũng tập trung làm rõ tiến trình đổi mới bộ máy tổ chức, cơ chế quản

lý và phát triển nguồn nhân lực của NHNN nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển NHNN trở thành NHTW hiện đại trong nền trong nền kinh tế thị trường (KTTT), định hướng XHCN và hội nhập quốc tế

Trang 13

4 Cơ sở khoa học, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

4.1 Cơ sở khoa học của đề tài

- Cơ sở lý luận về nền KTTT định hướng XHCN và những cam kết quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng của Việt Nam Cơ sở lý luận về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là Chủ nghĩa Mác - Lênin về con đường đi lên CNXH, là Quan điểm của Đảng CSVN về con đường đi lên CNXH và nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Những cam kết quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng của Việt Nam thể hiện ở nội dung các hiệp định song phương như Hiệp định Thuơng mại Việt Nam-Hoa Kỳ, Hiệp định Việt Nam - Nhật Bản, và các Hiệp định đa phương như ASEAN, ASEAN +3, APEC và WTO, TPP…

- Cơ sở khoa học của việc đổi mới hệ thống ngân hàng Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Đó là xu hướng phát triển của hệ thống kinh tế và tài chính - tiền tệ thế giới, xu hướng toàn cầu hóa của kinh tế thế giới và quốc tế hóa thị trường tài chính Đó là xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngành ngân hàng, trong đó các yếu tố tác động quá trình quốc tế hoá trong hoạt động ngân hàng chủ yếu là các

nhóm chỉ số đánh giá, xếp loại ngân hàng theo thông lệ quốc tế…

Đó là những kinh nghiệm đổi mới hệ thống ngân hàng của các nền kinh tế trên thế giới Kinh nghiệm quốc tế cho thấy những hệ thống tài chính và ngân hàng thực hiện chính sách cạnh tranh và mở cửa là những hệ thống tài chính tốt nhất cho phát triển và tăng trưởng kinh tế

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp của khoa học lịch sử như phương pháp phân

kỳ lịch sử, quy luật lịch sử, bối cảnh lịch sử và dòng vận động lịch sử để nêu, trình bày, phân tích vấn đề và rút ra nhưngc bài học lịch sử

Luận án cũng kết hợp với phương pháp logich và các phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích, mô tả; phương pháp mô hình hóa, phương pháp đối chiếu,

so sánh

Luận án kế thừa những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài Luận án cũng sử dụng phương pháp chuyên gia Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã trao đổi, tham khảo ý kiến của một số học giả, nhà khoa học, cán bộ quản lý và những người có kinh nghiệm để hoàn thiện hơn những nội dung của luận án

4.3 Nguồn tài liệu

Những tài liệu chính sử dụng trong Luận án là:

Trang 14

- Các văn kiện, văn bản pháp lý của Đảng, Nhà nước, các Quyết định của Thống đốc NHNN qua các thời kỳ

- Báo cáo thường niên của NHNN Việt Nam (chủ yếu từ năm 2005 đến năm 2013) khai thác trên trang web của NHNN (svb.gov.vn)

- Báo cáo của các Tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB) và quỹ tiền

tệ quốc tế (IMF) về khu vực tài chính Việt Nam

- Sách chuyên khảo về lịch sử kinh tế, lịch sử tài chính, lịch sử Ngân hàng Việt Nam nói chung và lịch sử các Ngân hàng Việt Nam nói riêng; Các bài nghiên cứu trên Tạp chí Ngân hàng, tạp chí Kinh tế, Tài chính và các trang thông tin điện

tử về những vấn đề liên quan đến đề tài Luận án

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

5.1 Ý nghĩa khoa học

Luận án làm sáng tỏ quá trình đổi mới bộ máy tổ chức và hoạt động quản lý điều hành của NHNN Việt Nam, làm rõ hơn những vấn đề cơ bản về hoạt động ngân hàng nói chung, hoạt động của NHTW trong nền KTTT, phù hợp với yêu cầu của nền KTTT thời kỳ đổi mới và yêu cầu hội nhập kinh tế - tài chính hiện nay

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Thông qua việc phân tích những dấu ấn lịch sử nổi bật của NHNN Việt Nam qua các giai đoạn, luận án làm rõ quá trình đổi mới bộ máy tổ chức và hoạt động quản lý điều hành của NHNN Việt Nam Trên cơ sở những thành tựu và những tồn tại, hạn chế trong gần 30 năm đổi mới của NHNN, Luận án rút ra những bài học góp phần làm cơ sở cho những đề xuất, kiến nghị, giải pháp đẩy nhanh tiến trình cải cách bộ máy tổ chức và hoạt động quản lý điều hành của NHNN Việt Nam, hướng tới xây dựng một mô hình NHTW hiện đại trong điều kiện mới

6 Đóng góp mới của luận án

Về mặt khoa học:

+ Luận án góp phần làm rõ thêm quá trình đổi mới của NHNN Việt Nam gắn với tiến trình đổi mới của đất nước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội bền vững, hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa tài chính và ứng phó với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu

+ Luận án góp phần khẳng định NHNN Việt Nam với vai trò là Ngân hàng của Chính phủ, NHTW của đất ước đã có đóng góp quan trọng đối với quá trình phát triển của đất nước trong gần 30 năm đổi mới

Về mặt thực tiễn:

Trang 15

Những thành tựu, hạn chế và những bài học kinh nghiệm trong quá trình đổi mới của NHNN Việt Nam được tổng kết trong Luận án sẽ là cơ sở cho những giải pháp, kiến nghị đẩy nhanh tiến trình đổi mới của NHNN trong giai đoạn hiện nay

7 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo luận án gồm bốn chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Quá trình xây dựng, phát triển bộ máy tổ chức và hoạt động của

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2007 Chương 3: Đổi mới bộ máy tổ chức và hoạt động quản lý điều hành của

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2013 Chương 4: Nhận xét về quá trình đổi mới của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu

1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Kinh tế Việt Nam, Lịch sử Tài chính Việt Nam, Lịch sử Ngân hàng Việt Nam và Lịch sử các ngân hàng Việt Nam qua các thời kỳ

Một số công trình điển hình như bộ Lịch sử Việt Nam do Viện Sử học biên

soạn, xuất bản năm 2013; những ấn phẩm do Đặng Phong (chủ biên) và các cộng sự

như: Lịch sử kinh tế Việt Nam (1945-2000), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (KHXH), 2005; Lịch sử Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Vietcombank 1963-

2003, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (CTQG), 2003; Lịch sử Ngân hàng Cổ phần Ngoại thương Việt Nam 1963-2013, Nhà xuất bản CTQG, 2013 Đó là những ấn

phẩm do NHNN Việt Nam biên soạn như: Ngân hàng Việt Nam quá trình xây dựng

và phát triển, NHNN Việt Nam, Nhà xuất bản CTQG 1996; 60 năm ngân hàng Việt Nam tư liệu và hình ảnh, NHNN Việt Nam, Hà Nội, 2011 Gần đây nhất là cuốn Lịch sử Ngân hàng Việt Nam 1951- 2016 do NHNN Việt Nam biên soạn, Nhà xuất

bản Lao động xuất bản năm 2016 đã ghi lại những dấu mốc quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển của ngành Ngân hàng Việt Nam trong 65 năm, những thành tựu cơ bản, những thành tựu và hạn chế chủ yếu, những bài học kinh nghiệm quý báu trong quá trình xây dựng, phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam thời

kỳ đổi mới và hội nhập với thế giới

Những ấn phẩm mang tính tổng kết bao gồm cả về lý luận và thực tiễn về

ngành tài chính Việt Nam qua các thời kỳ: Lịch sử tài chính Việt Nam (2 tập), Nhà xuất bản Tài chính, 1995; Tài chính Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, Hồ Xuân Phương, Nguyễn Công Nghiệp, Nhà xuất bản Tài chính, 2001; 60 năm tài chính

Việt Nam 1945-2005, Nhà xuất bản Tài chính, 2005; Tài chính Việt Nam

2001-2010, Đỗ Đức Minh, Nhà xuất bản Tài chính, 2011; Tài chính Việt Nam 2011 Tái cấu trúc và minh bạch chính sách, Nhà xuất bản Tài chính, 2012; Tài chính Việt Nam 2012 Khó khăn vững bước, chiến lược đồng bộ, Nhà xuất bản Tài chính, 2013; Tài chính Việt Nam 2013-2014: Cải cách thể chế, cân đối tài khóa, Nhà xuất bản

Tài chính, 2014

Những cuốn sách này đã dựng nên một bức tranh toàn cảnh về lịch sử phát triển của nền kinh tế-tài chính Việt Nam nói chung, của Ngành ngân hàng và các

Trang 17

ngân hàng thành viên nói riêng, khái quát những thành tựu cơ bản và chủ yếu mà ngành Ngân hàng, tài chính đã đạt được, cũng như những tồn tại và hạn chế gắn liền với hoàn cảnh kinh tế-xã hội trong từng giai đoạn trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước, đặc biệt trong giai đoạn đổi mới hoạt động kinh tế, tài chính - ngân hàng sang cơ chế thị trường theo định hướng XHCN từ cuối thập niên 80 của thế kỷ

XX đến nay

Những cuốn sách mới xuất bản từ năm 2011 đến năm 2014 đã giành dung lượng lớn đánh giá thực trạng hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam hiện nay, những vấn đề cốt lõi trong việc tiếp tục hoàn thiện chính sách tiền tệ (CSTT) và các công cụ thực thi CSTT, chính sách tài khóa (CSTK), đổi mới mô hình tổ chức bộ máy điều hành, phát triển các nguồn lực của cả hệ thống ngân hàng, đổi mới công tác thanh tra, giám sát…Đồng thời, những cuốn sách này cũng hệ thống hóa và cung cấp nhiều số liệu, tư liệu cập nhật và có giá trị

1.1.2 Nhóm những công trình nghiên cứu về ngân hàng và đổi mới hoạt động ngân hàng Việt Nam trong đó gián tiếp đề cập đến đổi mới tổ chức và hoạt động Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Những công trình nghiên cứu này là những đề tài nghiên cứu cấp Bộ, ngành và các bài nghiên cứu trên Tạp chí Ngân hàng, Tài chính, Kinh tế và các trang thông tin điện tử, tập trung vào hai nhóm chủ đề lớn:

Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận về cải cách hệ thống ngân hàng phù hợp với yêu cầu của nền KTTT định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế từ đó rút

ra bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tiêu biểu là những bài viết của TS.Nguyễn Đại Lai như: Những nét tổng quan

về hoạt động Ngân hàng ở Việt Nam từ năm 1975 đến nay, Tạp chí Ngân hàng,

tháng 5/2001; Ngành Ngân hàng Việt Nam - quá trình đổi mới và phát triển, Tạp chí Ngân hàng, tháng 8/2003; Ngân hàng Việt Nam 20 năm đổi mới cùng đất nước

và những việc cần làm trong tiến trình hội nhập, Tạp chí Kinh tế và Dự báo số

2/2006; Ngân hàng Việt Nam giai đoạn 1986 - 1990 Một trang sử khắc nghiệt, Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 428 tháng 6/2008; Mối quan hệ qua lại giữa hoạt động

ngân hàng với sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường có định hướng XHCN, Chủ nhiệm: TS.Hồ Diệu (Học viện Ngân hàng-Phân viện TPHCM, 1995);

Về môi trường kinh tế cho sự nghiệp tiếp tục đổi mới hoạt động ngân hàng TS Lê

Đình Thu (Ban Kinh tế TW Đảng, 1995); Tạo dựng môi trường pháp lý cho sự

nghiệp tiếp tục đổi mới hoạt động ngân hàng, Chủ nhiệm: Nguyễn Minh Mẫn (Vụ

Trang 18

pháp luật dân sự-kinh tế-Bộ tư pháp, 1995); Quan điểm đánh giá thực hiện các

pháp lệnh Ngân hàng và việc tiếp tục đổi mới hoạt động ngân hàng ở nước ta, Chủ

nhiệm: Trịnh Bá Tửu (Thanh tra NHNN, 1995); Phân tích bài học kinh nghiệm

cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế và giải pháp bảo đảm hệ thống ngân hàng Việt Nam phát triển ổn định, Chủ nhiệm: TS.Nguyễn Thị Phương Lan (Viện NCKH

Ngân hàng, 1999); Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Ngân hàng để tiếp

tục đổi mới toàn diện hoạt động Ngân hàng, Chủ nhiệm: Vũ Thế Vậc (Vụ Pháp chế,

NHNN, 2000); Đánh giá quá trình nhận thức lý luận về kinh tế thị trường trong

lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam, Chủ nhiệm: TS.Lê Xuân Nghĩa (Vụ chiến lược phát

triển Ngân hàng-NHNN Việt Nam, 2004)

Trong đó công trình nghiên cứuCơ sở khoa học và giải pháp cải tổ hệ thống ngân hàng Việt Nam phù hợp với yêu cầu của nền KTTT định hướng XHCN và hội nhập quốc tế trong thời kỳ CNH HĐH đất nước, Đề tài trọng điểm cấp ngành, Chủ nhiệm Đề tài: TS

Vũ Thị Liên, Thư ký: TS Tô Thị Ánh Dương, năm 2001 (lưu tại Viện Chiến lược NHNN

Việt Nam, mã số KNHTĐ 2001-01) đã hệ thống hoá cơ sở lý luận của công cuộc cải cách hệ thống ngân hàng Việt Nam phù hợp với yêu cầu định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế Đồng thời, phân tích kinh nghiệm quốc tế (đề tài lựa chọn trường hợp của Trung Quốc - nước có hoàn cảnh tương đồng với Việt Nam), đề tài rút ra bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam Trên cơ sở phân tích thực trạng của NHNN và các NHTM Việt Nam và các TCTD phi ngân hàng, Đề tài rút ra ra kết luận là hệ thống NHVN đang đứng trước những vận hội to lớn cho sự phát triển của mình, song những thách thức và yếu kém có thể làm cho hệ thống NHVN gặp nhiều khó khăn, nếu không có những cải cách thích hợp và đồng bộ với mở cửa thương mại dịch vụ Do vậy, hệ thống NHVN cần thực hiện cải cách hơn nữa trong điều kiện tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế Đề tài đã đưa ra hệ thống các giải pháp,

kế hoạch hành động cụ thể với lộ trình rõ ràng trong việc thực hiện các cam kết quốc tế

Có thể nói, những phát hiện và đề xuất chính sách của Đề tài thực sự là cơ sở tham khảo về lý luận và thực tiễn cho luận án Tuy nhiên, đây là một đề tài rộng lớn, nghiên cứu về hệ thống NHVN bao gồm hệ thống NHNN Việt Nam, hệ thống các NHTM Việt Nam, hệ thống QTDND, Ngân hàng CSXH và các định chế tài chính khác nên chưa có điều kiện đi sâu vào quá trình đổi mới bộ máy tổ chức, xây dựng và điều hành CSTT, hoạt động thanh tra, GSNH và đổi mới hệ thống thanh toán, hiện đại hóa công nghệ ngân hàng của NHNN Việt Nam

Trang 19

Đề tà: Cở sở khoa học của việc sửa đổi và hoàn thiện hai Luật Ngân hàng Việt

Nam, Đề tài trọng điểm cấp ngành, Chủ nhiệm đề tài Trần Minh Tuấn, năm 2003 ((lưu

tại Viện Chiến lược NHNNViệt Nam, mã số KNHTĐ-03) nghiên cứu cả về lý luận và

thực tiễn vị thế, chức năng, nhiệm vụ và những mặt còn tồn tại, bất cập trong môi trường pháp lý cho hoạt động Ngân hàng ở Việt Nam với những nội dung chủ yếu

là làm rõ cơ sở lý luận về quản lý Nhà nước đối với hoạt động Ngân hàng trong nền KTTT thông qua Luật pháp; Phân tích, đánh giá quá trình thực hiện hai luật Ngân hàng ở Việt Nam, làm rõ những bất cập của hai Luật hiện hành trong điều kiện phát triển mới của đất nước từ đó đề xuất những định hướng nội dung cho việc sửa đổi,

bổ sung, tiến tới hoàn thiện hai luật Ngân hàng giai đoạn từ sau năm 2004

Đối với NHNN Việt Nam, đề tài kiến nghị những giải pháp nhanh chóng kiện toàn tổ chức, cải cách hành chính, chống chồng chéo, khắc phục tình trạng thiếu bộ máy để điều hành mảng thị trường tiền tệ và công nghệ thanh toán hiện đại, tích cực

tổ chức đào tạo, quy hoạch cán bộ và siết chặt kỷ cương theo tác phong công nghiệp trên toàn hệ thống Vào thời điểm nghiên cứu (năm 2003) những kiến nghị mà Đề tài đưa ra chủ yếu thiên về điều chỉnh vai trò quản lý Nhà nước về hoạt động ngân hàng của NHNN Việt Nam hơn là điều chỉnh nội dung hoạt động nghiệp vụ của NHNN với vai trò là một NHTW trong nền KTTT

Thứ hai, đánh giá thực trạng hoạt động của hệ thống NHVN và dự báo xu hướng, triển vọng để đề xuất các giải pháp và khuyến nghị, đặc biệt trong bối cảnh sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008

Tiêu biểu là các công trình: Nghiên cứu giải pháp thực hiện chiến lược tổng

thể phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2010 Chủ nhiệm: TS.Lê Xuân Nghĩa

(Viện Nghiên cứu chiến lược, NHNN, 1999);Những định hướng cơ bản về phát triển

hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2011-2020, Đề tài trọng điểm cấp ngành, Chủ nhiệm đề tài Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Thanh, năm 2010 (lưu tại Viện Chiến lược

NHNN Việt Nam, Mã số 2010-01) đã hệ thống hóa những lý luận cơ bản về vai trò của hệ thống ngân hàng đối với sự ổn định phát triển kinh tế, đưa ra những bằng chứng thực nghiệm về bất ổn hệ thống ngân hàng dẫn đến bất ổn kinh tế và ngược lại (bài học kinh nghiệm ở Ireland, Hoa Kỳ, Argentina, Đông Á) Đề tài tập trung vào mục tiêu tổng kết các vấn đề mang tính cốt lõi trong sự phát triển của hệ thống ngân hàng, phân tích thực trạng hệ thống NHVN đặc biệt sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, từ đó đưa ra những đề xuất về mục tiêu, định hướng chiến lược phát triển của hệ thống NHVN trong giai đoạn 2011-2020 Thực trạng của hệ thống

Trang 20

NHVN được phân tích ở khía cạnh kinh tế, tài chính bao gồm quy mô, chất lượng, mối quan hệ giữa ổn định hệ thống NHVN với ổn định, phát triển kinh tế giai đoạn

2011 - 2020 Hệ thống ngân hàng chủ yếu là hệ thống các NHTM và các định chế tài chính khác

Về khủng hoảng tài chính và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam trong bối

cảnh tái cơ cấu nền kinh tế có những nghiên cứu tiêu biểu như: Khủng hoảng tài

chính-một số vấn đề lý luận và thực tiễn đối với sự phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam, Chủ nhiệm: Vũ Ngọc Duy (Viện chiến lược Ngân hàng, NHNN, 2010); Kỷ yếu

diễn đàn kinh tế mùa thu 2014: TS Đặng Ngọc Đức & TS Nguyễn Đức Hiển: Tái cơ

cấu hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh tái cơ cấu nền kinh tế;

PGS TS Ngô Trí Long: Đánh giá kết quả tái cơ cấu hệ thống ngân hàng (2012-2014)

và những khuyến nghị; PSG TS Nguyễn Hồng Sơn: Định dạng hệ thống ngân hàng Việt Nam sau tái cơ cấu: thông lệ quốc tế và gợi ý cho Việt Nam

Những nghiên cứu này sử dụng phương pháp định tính và định lượng để đánh giá kết quả tái cơ cấu hệ thống NHVN Việt Nam theo Đề án 254 của Chính phủ Kết quả cho thấy, hệ thống NHVN Việt Nam vẫn giữ được sự ổn định trong quá trình tái cơ cấu, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên các kết quả của quá trình tái cơ cấu là khá hạn chế và thiếu tính dài hạn, nhiều mục tiêu tái cơ cấu không đạt như xử lý triệt để nợ xấu, sở hữu chéo, cải thiện quản trị và nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM Trong đó, nguyên nhân chủ yếu nhất làm quá trình tái cơ cấu hệ thống NHVN Việt Nam còn chậm và chưa đạt kết quả như kỳ vọng là do còn thiếu còn thiếu một khung khổ pháp lý mang tính hệ thống cho quá trình tái cơ cấu trong bối cảnh tái cơ cầu kinh tế

Đặc biệt, nhiều nhà nghiên cứu, chuyên gia kinh tế nhận định, trong bối cảnh tái cơ cấu kinh tế và hệ thống các TCTD, cần nâng cao vai trò và vị thế của NHNN

Từ đó tập trung đánh giá về mức độ độc lập, tự chủ của NHNN Việt Nam, coi đó là một trong những điều kiện tiên quyết để tăng sự chủ động và hiệu quả điều tiết kinh

tế vĩ mô của NHNN Có thể kể đến những bài viết như: Doãn Hữu Tuệ: Mô hình

nào cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam?; Nguyễn Hương Giang: Sự độc lập của Ngân hàng Trung ương và một số gợi ý chính sách cho Việt Nam, Tạp chí Ngân

hàng số 23, tháng 12/2010; Lê Xuân Nghĩa: “Định vị mô hình ngân hàng trung

ương trong tổng thể tái cấu trúc nền kinh tế ngày 01/06/2014; Bùi Kiến Thành: Bao giờ ngân hàng trung ương thay thế ngân hàng nhà nước ngày21/02/2012; Nguyễn

Trang 21

Thị Hương Thanh, Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng - Kinh nghiệm từ cuộc khủng

hoảng ở Mỹ, Tạp chí Ngân hàng, số 12, tháng 6/2012

Trong quá trình thực hiện Luận án, tác giả đã tham khảo có chọn lọc và kế thừa những công trình nghiên cứu này

1.1.3 Nhóm các công trình nghiên cứu trực tiếp về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

1.1.3.1 Các báo cáo nhận định, đánh giá hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

- Báo cáo thường niên của NHNN Việt Nam (chủ yếu từ năm 2005 đến năm

2013) khai thác trên trang web của NHNN (svb.gov.vn)

Những báo cáo này phản ánh kết quả hoạt động NHNN theo từng năm gắn với những diễn biến tình hình kinh tế thế giới và trong nước đồng thời dự báo triển vọng kinh tế, đưa ra định hướng, phương hướng, giải pháp thời gian tiếp theo Đây

là tài liệu rất có giá trị để nhìn nhận, đánh giá hoạt động của NHNN Tuy nhiên, những tồn tại, bất cập và hạn chế của NHNN trong Báo cáo chưa được làm rõ

- Báo cáo của các Tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB) và quỹ tiền tệ

quốc tế (IMF) về khu vực tài chính Việt Nam

Đây là những nghiên cứu của các học giả, nhà nghiên cứu nước ngoài và các học giả trong nước theo tài trợ của các tổ chức quốc tế và chính phủ nước ngoài với

mục tiêu tư vấn cho Việt Nam như Báo cáo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế “Ngân hàng

Trung ương bài học từ cuộc khủng hoảng” ngày 27/5/2010; Báo cáo cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Dự án cải cách ngân hàng (phối hợp giữa CIDA và NHNN Việt Nam) ngày 30/6/2007; Báo cáo đánh giá khu vực tài chính Việt Nam của Ngân hàng thế giới (WB) và quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) tháng 6/2014

Những nghiên cứu này đưa ra những đánh giá khu vực tài chính Việt Nam, về NHNN Việt Nam với tư cách là một NHTW trong bối cảnh ứng phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu từ năm 2008 đến nay đồng thời đề xuất những phương án đổi mới bộ máy tổ chức và hoạt động quản lý điều hành của NHNN, khuyến nghị chính sách cho sự phát triển lành mạnh hơn của hệ thống tài chính nước ta.Những Báo cáo này được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý và quy định hiện hành và các số liệu cùng kỳ Báo cáo cũng phản ánh các thảo luận cụ thể với các cơ quan ban hành chính sách, cơ quan quản lý, cơ quan nghiên cứu chuyên môn và các thành viên tham gia trong quá trình đánh giá

Tuy nhiên, những Báo cáo này có một số nội dung đánh giá, nhận định chưa thật sự phản ánh chính xác hoạt động của thị trường tài chính Việt Nam, hoạt động quản lý điều hành của NHNN Việt Nam do khác biệt về quan điểm và cơ sở đánh

Trang 22

giá Nguyên nhân chủ yếu của sự khác biệt này là do các yếu tố rất đặc thù về mặt thể chế, lịch sử và cơ chế vận hành thị trường tài chính Việt Nam, do thời điểm đánh giá diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, do các biện pháp cải cách của NHNN mới bắt đầu đi vào triển khai nên hiệu quả của các cơ chế và biện pháp đang áp dụng tại Việt Nam cần thời gian để chứng minh tính hiệu quả khi có sự khác biệt với thực tiễn quốc tế

Một số nghiên cứu khác như: Đánh giá về ngân hàng Việt Nam của Enst & Young; Đánh giá của Fitch ratings, của Vinacapital, của Moody’s, của KPMG…và

nghiên cứu của các học giả độc lập như: Xây dựng ngân hàng Trung ương hiện đại,

TS Vũ Thành Tự Anh (chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright); H.Werner Marpmann (1999), Đổi mới hệ thống Ngân hàng Trung ương Việt Nam, Duseldor…đã đánh giá mô hình NHNN trong vai trò NHTW hiện nay ở Việt Nam

đặc biệt là mức độ độc lập của NHNN Việt Nam về tài chính, chính sách, nhân sự dưới góc độ những thông lệ, chuẩn mực, quy tắc quốc tế Thông qua nhận định những vấn đề đặc thù của Việt Nam, báo cáo khuyến nghị những khuyến nghị nhằm

xây dựng NHNN trở thành NHTW hiện đại

1.1.3.2 Những công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài luận án

Hoàn thiện các công cụ của Ngân hàng Nhà nước để thực hiện chính sách tiền

tệ quốc gia, Luận án Phó tiến sĩ Kinh tế, Nguyễn Võ Ngoạn, năm 1994 (lưu tại Thư

viện Quốc gia Hà Nội, mã số LA.94.0467.1)

Luận án làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về CSTT ở Việt Nam, làm rõ những phạm trù về tiền tệ, tín dụng, ngân hàng từ đó đặt ra những yêu cầu đòi hỏi về pháp

lý cho hoạt động NHNN, nhất là những yêu cầu để thiết lập và hoàn thiện các công

cụ của CSTT Vào thời điểm nghiên cứu (1994), Luận án mới dừng lại phân tích những đổi mới ban đầu của NHNN trong việc sử dụng các công cụ CSTT theo cơ chế thị trường mà chưa có điều kiện nghiên cứu những tác động của hội nhập kinh

tế gắn liền với tự do hoá tài chính và thương mại đến điều hành CSTT của NHNN

Ngân hàng Nhà nước và việc thực thi có hiệu quả chính sách tiền tệ trong cơ chế thị trường Việt Nam, Luận án Phó tiến sĩ Kinh tế, Đặng Chí Nhơn, năm 1995

(lưu tại Thư viện Quốc gia Hà Nội, mã số LA.95.0408.1)

Luận án phân tích thực trạng thực thi CSTT của NHNN thông qua việc phân tích các số liệu cụ thể về khối lượng tiền cung ứng, hệ số nhân tiền, mức giá chung và sản lượng hàng hoá, từ đó đề ra những giải pháp để NHNN thực thi CSTT có hiệu quả và nâng cao chất lượng, hiệu quả chính sách tín dụng đối với ngân sách nhà nước

Trang 23

Là một Luận án Kinh tế tiếp cận từ lý thuyết tiền tệ để nhận định, đánh giá các số liệu từ năm 1991 đến tháng 6/1995 nên Luận án mới dừng lại ở việc đề xuất những giải pháp hoàn thiện các công cụ điều hành CSTT theo cơ chế thị trường

Những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thanh tra của Ngân hàng Nhà nước trong cơ chế thị trường ở Việt Nam, Luận án Phó tiến sĩ Kinh tế, Nguyễn Đình

Tự, năm 1995 (lưu tại Thư viện Quốc gia Hà Nội, mã số LA.95.0100.1)

Luận án làm rõ những chức năng chủ yếu của NHNN trong cơ chế thị trường ở Việt Nam và vai trò của hoạt động thanh tra Ngân hàng trong điều kiện mới từ đó đưa

ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thanh tra của NHNN Luận án không đi sâu vào quá trình xây dựng bộ máy tổ chức và hoạt động của Thanh tra Ngân hàng mà chủ yếu làm rõ thực trạng công tác thanh tra của NHNN đối với các TCTD trong cơ chế thị trường một số năm đầu của thời kỳ đổi mới (từ 1991 đến 1995)

Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, luận án Tiến sĩ Kinh tế, Ngô Chung, năm 2001 (lưu tại Thư viện Quốc gia Hà Nội,

mã số LA.01.0662.2)

Luận án nghiên cứu những giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình tổ chức của NHNN Luận án khẳng định: chuyển đổi hệ thống ngân hàng từ mô hình một cấp trở thành hai cấp là quyết định đúng đắn, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước Tuy nhiên, mô hình tổ chức của NHNN hiện tại còn nhiều bất cập về nhiệm vụ, quyền hạn, NHNN vẫn tiếp tục là cơ quan chủ quản của NHTM quốc doanh NHNN vẫn được hiểu là một bộ đặc thù mà chưa phải là NHTW đặc thù, các Vụ, Cục tại hội sở chính còn cồng kềnh, chi nhánh NHNN vẫn tổ chức theo địa giới hành chính…Do đó không thể coi NHTW là cơ quan quản lý Nhà nước thuần túy

mà cần có nhận thức đúng đắn về tính đặc thù của NHNN Việt Nam để có chính sách phù hợp

Luận án là một luận án Tiến sĩ Kinh tế về những giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức của NHNN nên không đi sâu quá trình hình thành và phát triển của mô hình tổ chức NHNN mà chỉ khái quát quá trình đó làm cơ sở đề ra giải pháp Vào thời điểm thực hiện luận án năm 2001, những giải pháp nêu trong Luận án cũng dừng lại trong khuôn khổ hoàn thiện bộ máy tổ chức của NHNN Việt Nam theo cơ chế thị trường

Giải pháp cho việc vận hành các công cụ điều hành chính sách tiền tệ trong nền kinh tế thị trường của Ngân hàng Nhà nước, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Nguyễn Duy Hinh, năm 2004 (lưu tại Thư viện Quốc gia Hà Nội, mã số LA.04.0086.2)

Trang 24

Luận án làm rõ cơ sở lý luận của CSTT và các công cụ điều hành CSTT trong nền KTTT Đây là một Luận án kinh tế chủ yếu tập trung phân tích thực trạng NHNN sử dụng các công cụ CSTT (DTBB, tái cấp vốn, thị trường mở…) để điều hành các khối tiền, lãi suất và tỷ giá theo tín hiệu thị trường, từ đó đề xuất các giải pháp cho việc vận hành các công cụ đó Do vậy, Luận án không đi sâu vào quá trình xây dựng và thực thi CSTT của NHNN

Cơ cấu lại tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt, Đề án Khoa học, Nguyễn Đại Lai, năm 2005 ((lưu tại Viện Chiến lược NHNN Việt Nam, mã số DA

2005-02)

Qua phân tích về thành tựu và những tồn tại của mô hình hoạt động hiện tại, tác giả cho rằng mô hình tổ chức hiện thời của NHNN còn cồng kềnh, kém hiệu lực Tại trụ sở chính vẫn còn có sự chồng chéo về chức năng, bố trí không cân xứng giữa các Vụ, Cục, tác động can thiệp của NHNN vào hoạt động của các NHTM ở các cấp trung ương và địa phương đều mang nặng tính hành chính Nguyên nhân của các tồn tại này chủ yếu do hoạt động của NHNN còn bị trói buộc bởi cơ chế hành chính nhà nước Do vậy, NHNN Việt Nam cần nâng cao vị thế độc lập tương đối, tăng cường năng lực hoạch định và điều hành CSTT theo nguyên tắc thị trường

Đề tài hoàn thành vào năm 2005 nên chủ yếu nghiên cứu thực trạng đổi mới tổ chức của NHNN Việt Nam theo cơ chế thị trường và đề xuất nội dung, lộ trình đổi mới theo hướng tinh giản, hiện đại, nâng cao hiệu quả hoạt động và cấu trúc lại hệ thống mạng lưới phù hợp với các nghiệp vụ và công nghệ mới

Hơn nữa, do hướng tiếp cận nghiên cứu của Đề tài là nghiên cứu lý luận về NHTW, mô hình NHTW một số nước trên thế giới từ đó rút ra những kinh nghiệm cho đổi mới tổ chức của NHNN Việt Nam nên Đề tài không đi sâu vào quá trình xây dựng và điều hành CSTT, hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng và đổi mới hệ thống thanh toán, hiện đại hóa công nghệ ngân hàng của NHNN Việt Nam

Hoàn thiện địa vị pháp lý của Ngân hàng Nhà nước để trở thành một Ngân hàng Trung ương hiện đại, Chủ nhiệm đề tài Vũ Thế Vậc, năm 2005 (lưu tại Viện

Chiến lược NHNN Việt Nam, mã số KNH 2006-05)

Đề tài làm rõ trên phương diện luật pháp vào thời điểm nghiên cứu, luật NHNN Việt Nam 1997 - khuôn khổ pháp lý quy định về địa vị pháp lý của NHNN

đã bộc lộ một số điểm hạn chế không còn phù hợp với sự phát triển của môi trường kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng, vì vậy đề tài khẳng định một NHTW hiện đại cần đáp ứng các tiêu chí: có địa vị pháp lý rõ ràng, tạo dựng được

Trang 25

vị thế độc lập, nâng cao tính tự chủ, linh hoạt và minh bạch trên ba lĩnh vực: CSTT, giám sát các ngân hàng và quản trị điều hành nội bộ

Cũng do tiếp cận từ khía cạnh nghiên cứu pháp luật nên Đề tài không đi sâu vào quá trình đổi mới của NHNN và sự điều chỉnh cơ chế, chính sách của NHNN chuyển nền kinh tế từ ổn định sang giai đoạn bắt đầu tăng trưởng với tốc độ cao, hội nhập sâu rộng hơn với quốc tế (từ 2006 đến nay)

Giải pháp đổi mới hoạt động Ngân hàng nhà nước Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Nguyễn Văn Khách, 2006 (lưu tại

Thư viện Quốc gia Hà Nội, mã số LA.06.0484.1)

Luận án đã khái quát hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về NHTW trong nền KTTT đồng thời phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức, hoạt động NHNN và đúc rút một số kinh nghiệm quốc tế về tổ chức, hoạt động NHTW làm cơ sở thực tế cho những giải pháp đổi mới NHNN Việt Nam phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh

tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, từ đó đề xuất định hướng và khuyến nghị chính sách

Do tiếp cận dưới góc độ kinh tế, tài chính nên luận án trên chủ yếu phân tích hoạt động của NHNN Việt Nam với vai trò NHTW thông qua các hoạt động nghiệp

vụ và các công cụ của hoạt động nghiệp vụ như Dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn, nghiệp

vụ thị trường mở

Hoàn thiện cơ chế truyền tải chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Nguyễn Thị Kim Thanh, năm 2008 (lưu tại Thư viện Quốc gia Hà nội, mã số LA.08.0238.2)

Luận án phân tích đánh giá thực trạng về hệ thống mục tiêu, công cụ CSTT và

cơ chế truyền tải tác động của CSTT đến nền kinh tế Việt Nam, khẳng định hàng năm, căn cứ vào mục tiêu tăng trường kinh tế, mức lạm phát dự kiến được Quốc hội phê duyệt, NHNN xác định khối lượng tiền cung ứng cần thiết nhằm đạt được mục tiêu của CSTT Do đó, Luận án không đi sâu vào quá trình hoạch định, thực thi CSTT của NHNN mà tập trung xây dựng cơ chế truyền dẫn tác động của CSTT như lượng tiền dự trữ, khối lượng tiền cơ bản, tổng phương tiện thanh toán và lãi suất, tổng cầu…và tác động của chúng tới đầu tư và tiêu dùng của nền kinh tế

Hoạt động giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với ngân hàng thương mại, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Nguyễn Thị Minh Huệ, năm 2010 (lưu tại thư

viện Quốc gia Hà Nội, mã số LA.10.0214)

Trang 26

Luận án làm rõ khái niệm giám sát ngân hàng và tập trung phân tích đánh giá thực trạng giám sát của NHNN Việt Nam đối với NHTM Luận án cũng chỉ rõ những bất cập và hạn chế làm giảm hiệu quả công tác giám sát của NHNN từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể

Do tiếp cận từ góc độ nghiệp vụ, dựa trên các chỉ tiêu giám sát (như vốn tự có, chất lượng tài sản, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời, thu nhập và chi phí…) để làm rõ hoạt động giám sát của NHNN đối với NHTM nên Luận án không tập trung vào quá trình đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động của thanh tra, giám sát của NHNN

1.2 Nhận xét về kết quả nghiên cứu và những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu

1.2.1 Những nội dung liên quan đến đề tài luận án đã được giải quyết

Qua quá trình tiếp cận các nguồn tài liệu, các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, tác giả nhận thấy đây là vấn đề đã được nghiên cứu với nhiều chiều cạnh khác nhau của khoa học kinh tế, tài chính

- Về nội dung nghiên cứu: Các đề tài, đề án khoa học và các Luận án chủ yếu nghiên cứu những giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình tổ chức của NHNN, hoàn thiện các công cụ và cơ chế truyền tải để NHNN thực thi CSTT có hiệu quả, hoàn thiện hoạt động thanh tra, GSNH của NHNN Việt Nam nên không đi sâu vào quá trình hình thành và phát triển của mô hình tổ chức, quá trình xây dựng và điều hành CSTT cũng như xây dựng bộ máy tổ chức và hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN mà chỉ khái quát quá trình đó làm cơ sở đề ra giải pháp

- Về thời gian, bối cảnh nghiên cứu: Các đề tài, đề án khoa học và các Luận

án từ năm 2006 trở về trước chủ yếu nghiên cứu thực trạng bộ máy tổ chức và hoạt động của NHNN trong cơ chế thị trường từ đó đề xuất những giải pháp Từ năm 2007-2008 đến nay, các nghiên cứu tập trung vào các nhóm chủ đề lớn:

+ Phân tích, đánh giá bối cảnh quốc tế và trong nước ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của hệ thống NHVN

+ Phân tích, đánh giá tác động của những chính sách mà NHNN Việt Nam

đã hoạch định và thực thi đối đối với hoạt động của hệ thống ngân hàng

+ Nghiên cứu các kinh nghiệm về quản lý hệ thống ngân hàng, đặc biệt là kinh nghiệm quản trị rủi ro, giảm sát hệ thống Ngân hàng trên thế giới

- Về phương pháp và cách tiếp cận vấn đề: Các nghiên cứu chủ yếu tiếp cận dưới góc độ kinh tế, tài chính, tiền tệ, pháp luật, nghiên cứu lý luận về NHTW, mô hình NHTW một số nước trên thế giới từ đó rút ra những kinh nghiệm cho đổi mới của NHNN Việt Nam Do vậy, tác giả nhận thấy cần nghiên cứu sâu về quá trình

Trang 27

đổi mới của NHNN Việt Nam nhất là trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng với quốc tế và ứng phó với khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu hiện nay

1.2.2 Những vấn đề Luận án tiếp tục nghiên cứu

Tiếp cận dưới góc độ của khoa học lịch sử, đề tài sẽ góp phần tiếp tục nghiên cứu một số vấn đề sau:

+ Quá trình đổi mới bộ máy tổ chức và hoạt động quản lý điều hành của NHNN Việt Nam để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế từ năm 1986 đến năm 2013 + Quá trình xây dựng và điều hành CSTT; hoạt động thanh tra, GSNH, xây dựng hệ thống thanh toán, hiện đại hóa công nghệ ngân hàng của NHNN Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và và ứng phó với khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu

+ Những đóng góp và những hạn chế, bất cập còn tồn tại của NHNN sẽ góp phần làm cơ sở cho những đề xuất, kiến nghị, giải pháp đẩy nhanh tiến trình cải cách bộ máy tổ chức và hoạt động quản lý điều hành của NHNN Việt Nam, hướng tới xây dựng một mô hình NHTW hiện đại trong điều kiện mới

Trang 28

Chương 2 QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN BỘ MÁY TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TỪ

NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2007

2.1 Bước đầu đổi mới Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giai đoạn 1986 - 1989

2.1.1 Khái quát hoàn cảnh lịch sử và thực trạng hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trước năm 1986

Thành lập từ năm 1951 đến năm 1975 quá trình xây dựng và phát triển của NHNN Việt Nam gắn với những thời kỳ lịch sử của cách mạng Việt Nam: Kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954 với nhiệm vụ chiến lược là “kháng chiến kiến quốc”; 1954-1975 đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền với nhiệm vụ chiến lược

là xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà ở miền Nam

Sau ngày 30/4/1975, dưới sự lãnh đạo của Bộ chính trị, Trung ương Đảng và

sự điều hành của Chính phủ, Ủy Ban quân quản ra đời bên cạnh chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Bằng công thức “Nhà nước tại chỗ” này, mọi sinh hoạt của đời sống kinh tế xã hội miền Nam đã được duy trì tương đối bình thường và từng bước tiếp cận với thể chế mới

Trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ, NHNN tiếp quản và cải tạo toàn bộ hệ thống ngân hàng của chế độ cũ ở Sài Gòn, bao gồm:Ngân hàng Quốc gia Việt Nam; Ngân hàng Phát triển Kỹ nghệ;Ngân hàng Phát triển Nông thôn; Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng; Kỹ thương ngân hàng;Ngân hàng Nông thôn và Quĩ tái tài trợ phát triển kỹ nghệ nằm trong Ngân hàng Quốc gia; Việt Nam Thương tín và các ngân hàng tư bản tư

nhân: 16 ngân hàng tư bản quốc tịch Việt Nam và 14 ngân hàng tư bản quốc tịch nước

ngoài [63; tr 170-174]

Nhà nước chủ trương duy trì hoạt động bình thường bằng cách tiếp tục cho lưu hành đồng tiền của chế độ cũ trong một thời gian nhất định đồng thời nhanh chóng xác lập quyền sở hữu ngân hàng về tay Nhà nước để triệt tiêu phương tiện phá hoại kinh tế của các thế lực thù địch Theo đó Nhà nước đã chỉ đạo Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam tiếp quản các nhà băng, nắm trong tay quyền kiểm kê, thanh lý tài sản, kiểm soát lưu thông và độc quyền phát hành tiền tệ trong ngày đầu tiên sau giải phóng 1/5/1975

Trang 29

Ngày 6/6/1975, Hội đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà Miền Nam

Việt Nam đã ra Nghị quyết số 04/PCT-75 thành lập NHQG Việt Nam (giữ nguyên tên cũ và chỉ thay đổi chủ sở hữu) - trực thuộc Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà Miền NamViệt Nam Về hình thức, ngân hàng này song song tồn tại độc lập với NHNN ở miền Bắc, nhưng về nội dung thì nằm trong sự thống nhất điều hành và chỉ đạo hoạt động của NHNNViệt Nam

Mặt khác, NHQG Việt Nam ở miền Nam cũng kế thừa vai trò hội viên của NHQG Việt Nam của Nhà nước Việt Nam cộng hòa thuộc chế độ Sài Gòn cũ trong các tổ chức tài chính quốc tế như IMF, ADB, WB Tiếp đó NHQG Việt Nam đã mở rộng quan hệ với các Ngân hàng của một số nước tư bản và nhiều quốc gia khác Nhờ đó ngay từ những tháng đầu sau khi thành lập, chính quyền cách mạng đã tiếp cận và xác lập được quyền sở hữu đối với các khoản dự trữ ngoại tệ và vàng bạc ở nước ngoài của chính quyền Sài Gòn để lại đồng thời xác nhận quyền chủ nợ cũng như nghĩa vụ trả nợ đối với khách hàng của hệ thống Ngân hàng của chế độ cũ Cũng thời gian này, NHQG Việt Nam của “chủ mới” đã thu nạp hầu hết nhân viên Ngân hàng cũ, tuyển dụng nhân viên mới, điều chuyển cán bộ Ngân hàng từ miền Bắc vào và mở rộng mạng lưới cung ứng dịch vụ, mạng lưới đại lý để làm dịch vụ kiều hối

Tiếp theo những thành công ban đầu trong hoạt động tiền tệ - tín dụng, đến tháng 9/1975, dưới sự chỉ đạo của Trung ương, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam đã tiến hành đổi tiền trên quy mô toàn miền Nam, chính thức đoạn tuyệt chế độ tiền cũ và thay thế bằng một chế độ lưu hành tiền mới nhằm xây dựng một nền tiền tệ độc lập tự chủ, tước đoạt công cụ phá hoại kinh tế của các thế lực thù địch, khắc phục lạm phát đang bùng nổ Theo đó, đồng tiền mới của chính quyền cách mạng mang tên “Tiền Ngân hàng Việt Nam” thay thế tiền của chế độ

cũ Cơ cấu và đơn vị mệnh giá của đồng tiền mới trùng với cơ cấu và đơn vị mệnh giá của đồng tiền NHNNViệt Nam ở miền Bắc Như vậy, song song với việc thiết lập thể chế chính trị mới, cơ chế kinh tế mới, mọi hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán và Ngân hàng được đặt trong một cơ chế vận hành thống nhất trên cả nước Tháng 7/1976, đất nước thống nhất về phương diện Nhà nước, nước Cộng hoà XHCN Việt Nam ra đời, theo đó, NHQG ở miền Nam được hợp nhất vào NHNN, tạo thành một hệ thống NHNN thống nhất (hệ thống ngân hàng một cấp), bao gồm NHTW đặt trụ sở tại Thủ đô Hà Nội, các chi nhánh NHTW tại các tỉnh, thành phố

và các ngân hàng cơ sở tại các, quận, huyện

Trang 30

NHQG Việt Nam là cơ quan có tư cách pháp nhân, có vốn riêng, thực hiện nguyên tắc hạch toán kinh tế thống nhất và quản lý tập trung toàn ngành NHQG có nhiệm vụ cải tổ hệ thống ngân hàng cũ, xây dựng hệ thống ngân hàng mới, tổ chức thực hiện và quản lý tập trung thống nhất các chính sách tín dụng, phát hành tiền tệ, thanh toán, quản lý ngân sách nhà nước, quản lý ngoại tệ và thanh toán quốc tế Sau khi cải tổ, hệ thống ngân hàng chuyên nghiệp của chế độ cũ được cải tổ thành các ngân hàng chuyên nghiệp mới, bao gồm: Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Công nghiệp, Ngân hàng Thương nghiệp và Tín thương ngân hàng (tạm thời được giao làm nhiệm vụ Ngân hàng Ngoại thương) Hệ thống ngân hàng chuyên nghiệp này được

coi như những vụ, cục của NHQG, đặt dưới sự chỉ đạo của Thống đốc

Ngày 25/4/1978, Quốc hội và Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ra quyết định về thống nhất tiền tệ trong cả nước Ngày 2/5/1978 lệnh đổi tiền được ban hành, cả nước sử dụng thống nhất một loại tiền mới Hệ thống các chính sách

và cơ chế quản lý kinh tế theo mô hình CNXH truyền thống ở miền Bắc được áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước

Trong quá trình thực hiện kế hoạch 5 năm 1976-1980 và 1981-1985, kinh tế Việt Nam đứng trước tình thế hết sức khó khăn, nhu cầu chi ngân sách nhất là chi chính sách xã hội và chi xây dựng cơ bản tăng cao, đời sống của nhân dân nói chung và của công chức nói riêng hết sức khó khăn

Hoạt động tiền tệ, tín dụng trong những năm 80 của thế kỷ XX hết sức rối ren Tiền mặt phát hành rất lớn, năm sau cao hơn năm trước với khối lượng lớn hơn nhiều lần nhưng vẫn không đáp ứng đủ cho nhu cầu sản xuất và lưu thông hàng hóa Trong tín dụng, nhất là tín dụng ngắn hạn, dư nợ tăng rất nhanh, phá vỡ mọi chỉ tiêu

kế hoạch Tốc độ tăng tín dụng vượt xa tốc độ phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa Đây cũng chính là thời kỳ Ngân hàng thì thiếu tiền mặt nghiêm trọng, ngoài thị trường lạm phát liên tục gia tăng Ngày 14/9/1985 Nhà nước đã phải công

bố lệnh đổi tiền lần thứ tư (kể từ lần phát hành đồng tiền NHVN đầu tiên năm 1951) nhưng ngay sau cuộc đổi tiền, chẳng những không hạn chế được bớt lượng tiền trong lưu thông mà còn phải phát hành thêm với số lượng rất lớn phục vụ nhu cầu trả lương, thu mua và trang trải bội chi ngân sách

Tình hình trên bắt nguồn từ tổ chức và hoạt động của hệ thống ngân hàng trong cơ chế kế hoạch tập trung bao cấp Cơ chế của hoạt động ngân hàng về cơ bản

là cơ chế cấp phát trực tiếp cho ngân sách nhà nước và cấp phát cho khu vực kinh tế quốc doanh gián tiếp thông qua các ngân hàng chuyên doanh Ngân hàng một cấp

Trang 31

đóng vai trò nòng cốt trong việc thu hút, phát hành, cung ứng, thanh toán, cấp phát tín dụng gần như “vô điều kiện” cho sản xuất và đời sống NHNN như cơ quan tài chính thứ hai và quan trọng nhất của Nhà nước Toàn bộ hoạt động của Ngân hàng Việt Nam thông qua một cơ chế hỗn hợp: vừa quản lý, vừa hạch toán kinh doanh trong một cấp, một hệ thống thống nhất nằm trong sự chỉ đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện của Chính phủ

Hoạt động cho vay của các ngân hàng dựa trên cơ sở chỉ đạo của chính phủ Tín dụng được sử dụng làm công cụ thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị của Đảng và nhà nước trong từng thời kỳ cách mạng Vốn tín dụng ngân hàng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng, duy trì, củng cố và phát triển các tổ chức kinh tế XHCN.Tuy nhiên cho vay của các ngân hàng chủ yếu cho vay quốc doanh, không quan tâm đến các thành phần khác; tín dụng mang tính bao cấp, không quan tâm đến hiệu quả, chỉ thực hiện theo kế hoạch mệnh lệnh, không tuân thủquy luật của thị trường cũng như các quy luật kinh tế khách quan; chưa phân biệt

rõ chức năng tín dụng với chức năng tài chính - ngân hàng chính sách

NHNN vừa là người phát hành vừa là người cho vay; vừa quản lý vừa kinh doanh, chỉ coi trọng tín dụng ngắn hạn, coi nhẹ tín dụng trung hạn, dài hạn NHNN lấy tiền phát hành làm nguồn vốn, lấy vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn và cho vay xây dựng cơ bản mà coi nhẹ công cụ lãi suất trong điều tiết cung cầu vốn Lãi suất tiền gửi cao hơn lãi suất cho vay, lãi suất cho vay dài hạn thấp hơn lãi suất cho vay ngắn hạn làm cho các doanh nghiệp tìm mọi biện pháp để vay vốn ngân hàng với lãi suất thấp, sử dụng tiền vay không đúng mục đích, không hiệu quả có trường hợp dùng tiền vay để gửi tiết kiệm hay cho vay lại

Trong thời kỳ này, hoạt động của các ngân hàng chủ yếu là kinh doanh tín dụng, chưa xuất hiện các hoạt động dịch vụ khác NHNN vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngân hàng, vừa thực hiện chức năng của ngân hàng kinh doanh Hệ thống ngân hàng theo mô hình này đơn thuần chỉ là công cụ để thực hiện chỉ thị, mệnh lệnh, các chỉ tiêu kế hoạch tiền tệ của chính phủ giao cho ngân hàng Tính chất hoạt động của ngân hàng gần giống như cơ quan giữ tiền và chuyển tiền theo mệnh lệnh của Bộ Tài chính

Nguyên nhân của tình hình trên là do cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp của nền kinh tế nói chung trong ngành Ngân hàng nói riêng đã kéo dài quá lâu làm biến dạng vai trò của Ngân hàng đối với nền kinh tế.Trong thời gian dài chúng ta không thừa nhận nền KTTT và chịu ảnh hưởng nặng nề tính bao cấp trong hoạt

Trang 32

động tín dụng, dẫn đến ngân hàng không tích cực trong việc huy động vốn để cho vay mà chỉ biết trông chờ, ỷ lại nhà nước, lấy nguồn vốn phát hành làm nguồn vốn chủ yếu để cho vay, không coi trọng hạch toán kinh doanh trong hoạt động tín dụng, tinh thần thái độ phục vụ phiền hà, thiếu văn minh Mặt khác do lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất huy động nên các cơ sở vay sử dụng vốn lãng phí, vốn bị phân tán, thất thoát, không thu hồi được nợ, làm thiệt hại cho nhà nước, ảnh hưởng không nhỏ tới mọi mặt đời sống kinh tế xã hội

Cơ chế kế hoạch hóa tập trung đã phát huy hiệu quả trong công cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, trong hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, cải thiện đời sống, phát triển giáo dục, y tế…Nhưng việc duy trì quá lâu cơ chế quản lý

đó đã không tạo được động lực phát triển kinh tế, làm suy yếu kinh tế quốc doanh, hạn chế việc phát hay tiềm năng và tính sáng tạo của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, kìm hãm sản xuất gây nên nhiều rối loạn trong phân phối lưu thông, làm phát sinh nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội.Rõ ràng, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã không còn phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế thời bình, nền kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng đang chờ đợi những động lực mới để cải thiện tình trạng khủng hoảng trầm trọng đó

2.1.2 Những đổi mới ban đầu trong hoạt động ngân hàng

Đứng trước những khó khăn của nền kinh tế và đời sống xã hội, Đảng và Nhà nước đã từng bước cải tổ, đổi mới trong chính sách và cơ chế quản lý kinh tế nhằm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội

Đại hội lần thứ VI của ĐCSVN tháng 12 năm 1986 với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật”, “đánh giá đúng sự thật…” lần đầu tiên thừa nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ và khẳng định: “dứt khoát xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp, chuyển sang cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa…mà tiêu chuẩn cao nhất của nó là làm sao giải phóng được sức sản xuất đang bị kìm hãm bởi những sai lầm trong cơ chế cũ”[19; tr 380]

Trong lĩnh vực Ngân hàng, Đại hội chủ trương bên cạnh nhiệm vụ quản lý lưu thông tiền tệ của Ngân hàng nhà nước cần xây dựng hệ thống ngân hàng chuyên nghiệp kinh doanh tín dụng và dịch vụ Ngân hàng, hoạt động theo cơ chế hạch toán kinh tế Từ “luồng gió” đổi mới đó tháng 4/1987, Hội nghị Trung ương lần thứ 2 chuyên bàn về những nhiệm vụ cấp bách về phân phối lưu thông, tìm giải pháp từng bước xóa bỏ tem phiếu, khuyến khích phát triển lưu thông hàng hóa giữa các tỉnh,

Trang 33

vùng, miền Ngày 5/4/1988 Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10-NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp thay chỉ thị số 100-CT/TW ngày 13/1/1981 của Ban bí thư khóa IV là một quyết sách quan trọng trong việc giải phóng sức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn Từ ngày 20 đến 29/3/1989 Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 6 khóa VI đã họp kiểm điểm 2 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI và vạch

ra các nhiệm vụ của gần 3 năm còn lại của nhiệm kỳ, trong đó nêu ra 5 nguyên tắc giữ vững định hướng XHCN và 5 chủ trương cụ thể về phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đó là: “trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, thị trường xã hội bao gồm cả thị trường tiêu dùng, thị trường vật tư, thị trường vốn và chứng khoán…là một thể thống nhất với nhiều lực lượng khác nhau tham gia lưu thông hàng hóa… Thị trường thông suốt cả nước và gắn với thị trường thế giới…”

“Thị trường tác động đến quá trình tái sản xuất chủ yếu thông qua giá cả Giá cả trong nước phải gắn với giá cả trên thị trường quốc tế” Tỷ giá giữa đồng Việt Nam

và ngoại tệ phải phù hợp với giá thị trường trong nước và thị trường quốc tế [27; tr 600; 601] Cũng trong Nghị quyết này, lần đầu tiên nhắc đến cụm từ “lạm phát” và chỉ rõ giải pháp chống lạm phát: “Chống lạm phát phải trên cơ sở đổi mới cơ chế quản lý, chuyển mạnh các hoạt động kinh tế sang hạch toán kinh doanh, giải phóng triệt để các năng lực sản xuất…Trong những giải pháp toàn diện, đồng bộ chống lạm phát phải tập trung vào khâu then chốt là giảm dần, tiến tới chấm dứt phát hành

để chi tiêu Ngân sách và để cấp vốn tín dụng qua Ngân hàng Cần sử dụng tốt các công cụ quản lý vĩ mô để điều hòa cung - cầu, phấn đấu không để giá cả đột biến, đặc biệt là giá gạo, vàng và ngoại tệ”[21; tr 605; 606]

Tuy nhiên, trong 4 năm 1986-1989, hệ thống Ngân hàng nói riêng, nền kinh tế Việt Nam nói chung vẫn trong tình trạng khủng hoảng trầm trọng lạm phát lớn, giá

cả leo thang, lạm phát hàng năm vẫn ở 3 con số: năm 1986: 774,7%; năm 1987: 323,1%; năm 1988: 393% [36; tr 34] Các chỉ tiêu kinh tế mất cân đối nghiêm trọng, đời sống của người dân gặp vô vàn khó khăn Tốc độ mất giá của tiền tệ lớn hơn tốc

độ mất giá của hàng hóa: công nhân, nông dân càng sản xuất càng lỗ, người gửi tiết kiệm những năm 1986-1988 ở vào tình cảnh “bán trâu tậu gà” nghĩa là bán 1 con trâu gửi vào Ngân hàng thì một năm sau chỉ đủ mua một con gà NHNNViệt Nam phải phát hành bù đắp ngân sách rất lớn, tiền lương tháng bình quân của người làm công ăn lương chỉ đủ sống trong 7 ngày (theo nhận xét của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng) vào những năm 1986-1988 Các NHTMNN cũng gặp rất nhiều khó khăn do vốn nhỏ, thị trường tài chính hầu như chỉ có các ngân hàng Quốc doanh

Trang 34

“đứng mũi chịu sào”, các định chế tài chính phi Ngân hàng cũng hầu như chưa có, NHNN phát hành trực tiếp để bù đắp ngân sách và cấp gián tiếp thông qua NHTMNN cho khu vực kinh tế quốc doanh vẫn diễn ra một cách phổ biến Hậu quả

là dư nợ cho vay tăng rất nhanh, công nghệ thanh toán vẫn là tiền mặt, bộ máy cấu trúc Ngân hàng quá cồng kềnh, kém hiệu lực…Nghĩa là trong những năm đầu đổi mới, nền kinh tế Việt Nam vẫn bị chia cắt bởi hai loại thị trường: thị trường có tổ chức và thị trường không có tổ chức, vẫn căn bản dựa trên nền tảng quan hệ sản xuất cũ trong khi lực lượng sản xuất sản xuất xã hội đã có những biến đổi mạnh mẽ Hoạt động Ngân hàng vừa vận động theo cơ chế bao cấp cũ chưa được đổi mới triệt

để, vừa vận động theo cơ chế thị trường mới hình thành chưa có tiền lệ

Nói cách khác, công cuộc đổi mới toàn diện cơ chế kinh tế tuy đã được khởi xướng từ Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) nhưng vẫn còn phải trải qua nhiều bước gập ghềnh và thăng trầm Đó là những hạn chế tất yếu của quá trình chuyển đổi lớn lao của toàn bộ nền kinh tế nói chung, của lĩnh vực ngân hàng nói riêng Tuy nhiên, tinh thần của đại hội VI và những văn bản cụ thể hóa những tư tưởng của đại hội VI của Chính phủ đã trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam từng bước thoát khỏi khủng hoảng và chuẩn bị cho những đổi mới căn bản, toàn diện trong những năm 90 của thế kỷ XX

Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 65/HĐBT ngày 28/5/1986 về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của NHNN Đây là cơ

sở pháp lý cao nhất để điều chỉnh hoạt động NHVN đến năm 1986

Theo đó, NHNN là cơ quan của Hội đồng Bộ trưởng, có nhiệm vụ và quyền hạn,

gồm: Trình Hội đồng Bộ trưởng quyết định các chủ trương, chính sách và chế độ quản

lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối, vàng bạc, kim khí quý, đá quý; Phối hợp với các Bộ, ngành chức năng trình Hội đồng Bộ trưởng phê chuẩn kế hoạch tiền mặt, kế hoạch tín dụng tổng hợp hàng năm và từng quý và tổ chức chỉ đạo và kiểm tra thực hiện kế hoạch đó; Độc quyền in tiền và phát hành giấy bạc; được Hội đồng bộ trưởng ủy quyền quản lý dự trữ phát hành của Nhà nước; trực tiếp điều hành lưu thông tiền tệ theo kế hoạch quý, năm đã được Hội đồng Bộ trưởng phê chuẩn; Tổ chức thực hiện công tác thanh toán trong nền kinh tế quốc dân; Tổ chức chấp hành ngân sách nhà nước về phương diện quỹ; Thực hiện việc Nhà nước độc quyền quản lý và kinh doanh ngoại hối, vàng bạc, kim khí quý, đá quý; Ký kết các hiệp định về tiền tệ, tín dụng, thanh toán, đối ngoại và hợp tác khoa học - kỹ thuật thuộc nghiệp vụ ngân hàng; Tổ chức kinh doanh về tiền tệ, tín dụng, ngoại hối, vàng bạc, kim khí quý, đá quý theo

Trang 35

chính sách chế độ nhà nước Thông qua đó thực hiện kiểm soát bằng đồng tiền các hoạt động sản xuất - kinh doanh, thúc đẩy các doanh nghiệp hạch toán kinh doanh và kinh doanh xã hội chủ nghĩa [30]

Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy Ngân hàng Nhà nước theo Nghị định 65/HĐBT ngày

Tổ chức bộ máy NHNN Trung ương gồm: Vụ Kinh tế - kế hoạch, Vụ tiền tệ - tín dụng quốc tế, Vụ chế độ và pháp chế, Vụ lưu thông tiền tệ, Vụ nghiệp vụ phát hành và kho quỹ, Vụ tín dụng công nghiệp, Vụ tín dụng nông nghiệp, Vụ tín dụng

Ng©n hµngNhµ n-íc

C¸c tr-êng cao cÊp vµ trung häc

C¸c vô, côc NHNN

XÝ nghiÖp c«ng ty, trùc thuéc

NH phôc

vô d©n c- viÖt nam

Trang 36

thương nghiệp, Vụ kế toán - tài vụ, Vụ chấp hành quỹ ngân sách nhà nước, Vụ tổ chức và cán bộ, Ban thanh tra, Văn phòng, Vụ nghiên cứu tiền tệ - tín dụng - ngân hàng, các trường cao cấp nghiệp vụ và các trường Trung học ngân hàng, các nhà in ngân hàng và các xí nghiệp chuyên dùng, trung tâm tính toán ngân hàng

Tổng giám đốc NHNN lãnh đạo, điều hành NHNN Giám đốc các ngân hàng chuyên nghiệp do Tổng giám đốc phân công 1 Phó tổng giám đốc kiêm nhiệm, Phó giám đốc ngân hàng chuyên nghiệp có thể là cấp Vụ trưởng [30]

Như vậy, theo Nghị định 65/HĐBT ngoài chức năng quản lý Nhà nước, NHNN còn trực tiếp tổ chức kinh doanh về tiền tệ, tín dụng, ngoại hối, vàng bạc, kim khí quý, đá quý theo các chính sách, chế độ và pháp luật Nhà nước; đồng thời thông qua đó thực hiện kiểm soát bằng đồng tiền các hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy các ngành, xí nghiệp hoạch toán kinh tế và kinh doanh XHCN Các ngân hàng chuyên nghiệp như Ngân hàng ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng đầu

tư và xây dựng Việt Nam cũng trực thuộc NHNN Ngay trong cấu trúc các Vụ, Cục của NHNN cũng bao gồm nhiều Vụ làm chức năng kinh doanh như: Vụ tín dụng công nghiệp, Vụ tín dụng nông nghiệp, Vụ tín dụng thương nghiệp…

Ngày 25/6/1987, Tổng Giám đốc NHNN ban hành Quyết định số 59/QĐ cho phép chi nhánh NHNN thành phố Hồ Chí Minh được thực hiện thí điểm cơ chế hạch toán kinh tế, kinh doanh XHCN, chi nhánh NHNN thành phố Hồ Chí Minh làm nhiệm

vụ kinh doanh của NHTM Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động của chi nhánh NHNN thành phố Hồ Chí Minh mới chỉ có được một số đổi mới trong cơ chế nghiệp vụ, còn các vấn đề pháp lý cơ bản (chưa có tài sản độc lập, chưa xác định được vốn tự có,…) chưa được giải quyết để trở thành một định chế tài chính độc lập

Tháng 7/1987, Tổng Giám đốc NHNN Việt Nam thống nhất với Uỷ ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định thành lập ngân hàng cổ phần đầu tiên với tên gọi là Ngân hàng Công thương Thành Phố Hồ Chí Minh Đây là ngân hàng cổ phần có tư cách pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập và là ngân hàng chuyên nghiệp trực thuộc NHNN Việt Nam và Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, mối quan hệ giữa NHNN và ngân hàng cổ phần cũng chưa được quy định rõ ràng Cho đến ngày 03/7/1987 mới có Quyết định số 218-CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, theo đó, lần đầu tiên NHNN không trực tiếp giao dịch với các đơn vị sản xuất kinh doanh, khách hàng của NHNN là các Ngân hàng chuyên nghiệp hạch toán kinh tế độc lập

Trang 37

NHNN thống nhất ban hành và kiểm tra thực hiện các chính sách, chế độ tiền

tệ, tín dụng, thanh toán (đối nội cũng như đối ngoại) trong cả nước, thu hút tiền gửi của các Ngân hàng chuyên nghiệp và cho các Ngân hàng chuyên nghiệp vay trên cơ

sở hoàn trả có thời hạn và có lãi Hoàn thiện các Ngân hàng chuyên nghiệp hạch toán độc lập gồm Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là ngân hàng cổ phần, hạch toán kinh tế đầy đủ toàn hệ thống, phục vụ các hoạt động xuất/nhập khẩu, kinh doanh về tín dụng và dịch vụ Ngân hàng đối ngoại; Thành lập Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam thay Ngân hàng đầu tư và xây dựng, kinh doanh về tín dụng và dịch vụ Ngân hàng trong trong lĩnh vực xây dựng cơ bản và phát triển nền kinhh tế quốc dân; Ở mỗi tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương thành lập một Ngân hàng chuyên nghiệp hạch toán kinh tế đầy đủ, có các chi nhánh tại các quận huyện hoặc liên quận, huyện trong tỉnh, thành phố

Như vậy, cho đến năm 1987, hệ thống NHVN đã hình thành một mạng lưới hai cấp tương đối rõ ràng, nhưng mới chỉ có hai Ngân hàng chuyên nghiệp là Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là hạch toán độc lập nhưng vẫn trực thuộc NHNN còn các Ngân hàng chuyên nghiệp khác đều hạch toán đầy đủ và trực thuộc NHNN Trung ương

2.1.3 Sự hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp

Do đòi hỏi phải đổi mới toàn diện cơ chế quản lý kinh tế, Đảng và Chính phủ

đã có những chủ trương, chính sách kiên quyết xóa bỏ cơ chế tập trung bao cấp đã tồn tại quá lâu và là lực cản đối với sự phát triển kinh tế Trong lĩnh vực ngân hàng, Chính phủ đã chỉ đạo NHNN thí điểm chuyển sang hạch toán kinh doanh XHCN và kiện toàn NHNN làm nhiệm vụ phát hành và quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 53/ HĐBT ngày 26/3/1988 chuyển ngân hàng sang kinh doanh XHCN và kiện toàn NHNN: “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan của HĐBT được tổ chức thành hệ thống thống nhất trong cả nước, gồm hai cấp: Ngân hàng Nhà nước và các Ngân hàng chuyên doanh trực thuộc [31] Đây chính là “đột phá khẩu” phá vỡ những ách tắc trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, là một thay đổi cơ bản có tính chất quyết định cho quá trình đổi mới bộ máy tổ chức và hoạt độngcủa NHNN trong bối cảnh mới

Theo Nghị định số 53/ HĐBT ngày 26/3/1988, nhiệm vụ và quyền hạn NHNN

như sau: Là ngân hàng phát hành duy nhất của Nhà nước, là cơ quan quản lý Nhà nước về tiền tệ, tín dụng; là cơ quan dự trữ ngoại tệ, vàng bạc, kim khí quý, đá quý của Nhà nước; Thống nhất ban hành và kiểm tra thực hiện các chính sách, chế độ

Trang 38

tiền tệ, tín dụng, thanh toán trong toàn bộ hệ thống ngân hàng; Làm chức năng Ngân hàng của các Ngân hàng, có trách nhiệm quản lý và giám sát hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng trong cả nước; Giải quyết mối quan hệ về vốn tiền tệ, vốn ngân sách Nhà nước, quan hệ với các Bộ, ngành địa phương [31]

Về tổ chức bộ máy:

NHNN là cơ quan của Hội đồng Bộ trưởng được tổ chức thành hệ thống thống nhất trong nước gồm hai cấp: NHNN và các ngân hàng chuyên doanh trực thuộc NHNN làm nhiệm vụ quản lý Nhà nước về tiền tệ, tín dụng và ngân hàng đối với nền kinh tế quốc dân Ngân hàng chuyên doanh làm nhiệm vụ kinh doanh tín dụng

và dịch vụ ngân hàng Hệ thống NHNN hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế và kinh doanh XHCN Tổng giám đốc NHNN chịu trách nhiệm trước Hội đồng Bộ trưởng về toàn bộ lĩnh vực công tác được giao Giúp việc Tổng giám đốc có một số Phó tổng giám đốc trong đó có 1 Phó tổng giám đốc thứ nhất [31]

Sơ đồ 2.2 Tổ chức bộ máy Ngân hàng Nhà nước theo Nghị định số 53/ HĐBT

NH C«ng th-¬ng ViÖt Nam

NH Ph¸t triÓn N«ng th«n ViÖt Nam

Ьn vÞ

sù nghiÖp

C¸c xÝ nghiÖp c«ng ty trùc thuéc

Trang 39

ngân hàng chuyên doanh Hệ thống NHNN gồm Hội sở chính và các chi nhánh NHNN và các ngân hàng chuyên doanh trực thuộc

Các ngân hàng chuyên doanh gồm Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam Các chi nhánh ngân hàng chuyên doanh cơ sở được tổ chức tại các khu vực, phù hợp với đặc điểm ngành kinh tế - kỹ thuật, với chức năng nhiệm vụ của mỗi ngân hàng chuyên doanh

NHNN cấp Trung ương gồm Vụ Kinh tế - kế hoạch, Vụ kinh tế đối ngoại, Vụ lưu thông tiền tệ và kho quỹ, Vụ tín dụng công nghiệp, Vụ kế toán - tài vụ, Vụ quỹ ngân sách nhà nước, Vụ chế độ, Vụ tổ chức và cán bộ, thanh tra ngân hàng, Văn phòng, Vụ tiền tệ - tín dụng Ngoài ra, còn có các tổ chức kinh doanh và sự nghiệp khác trực thuộc.NHNN có các chi nhánh tại tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương hoặc theo khu vực lãnh thổ khi cần thiết, do Tổng giám đốc NHNN quyết định NHNN lập Hội đồng ngân hàng để phối hợp và điều hòa các mặt hoạt động hệ thống ngân hàng Hội đồng ngân hàng do Tổng giám đốc làm Chủ tịch, có Phó tổng giám đốc NHNN và Tổng giám đốc ngân hàng chuyên doanh làm thành viên Hội đồng ngân hàng tỉnh, thành phố, đặc khu hoặc khu vực do Tổng giám đốc NHNN quyết định

Về cơ cấu tổ chức, NHNN theo Nghị định 53/ HĐBT còn một điểm mới khác

là có một chi nhánh NHNN khu vực thực hiện chức năng NHNN đối với địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, đặc khu Vũng Tàu và tỉnh sông Bé (nay là tỉnh Bình Dương và Bình Phước) Tuy vậy việc thí điểm mô hình chi nhánh NHNN khu vực chỉ tồn tại được một thời gian ngắn rồi trở lại chi nhánh theo địa giới tỉnh, thành phố như trước Nguyên nhân là do vào thời điểm đó, cơ chế chung về quản lý Nhà nước

là kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ, sự hoạt động của ngân hàng gắn liền với sự chỉ đạo của cấp ủy và chính quyền tỉnh, thành phố

Có thể nói, với Nghị định số 53/ HĐBT chức năng, nhiệm vụ của NHNN đã được xác định và phân biệt rõ giữa NHNN làm nhiệm vụ quản lý Nhà nước và các ngân hàng chuyên doanh làm nhiệm vụ kinh doanh tiền tệ Các ngân hàng chuyên doanh thực sự đã có hệ thống riêng từ trung ương đến cơ sở

Tuy vậy, về tổ chức bộ máy, hạn chế lớn nhất của Nghị định số 53/ HĐBT là các ngân hàng kinh doanh (theo Nghị định gọi là ngân hàng chuyên doanh) vẫn nằm trong hệ thống NHNN, quy định người đứng đầu (Tổng giám đốc) Ngân hàng chuyên doanh ở Trung ương có thể do một Phó Tổng giám đốc NHNN đảm nhiệm

Trang 40

Thực tế trong hai năm 1988-1989 vẫn chưa có sự tách bạch triệt để giữa NHNN và các ngân hàng chuyên doanh, NHNN vẫn cung cấp vốn cho các ngân hàng chuyên doanh và chỉ đạo các ngân hàng này theo mệnh lệnh hành chính Vô hình chung, ngân hàng chuyên doanh vẫn “được coi” là “nằm trong” NHNN, thành lập hệ thống phòng đại diện bên cạnh các ngân hàng chuyên doanh để kiểm soát, quản lý hoạt động của các ngân hàng này Thậm chí, trong quá trình triển khai Nghị định 53/ HĐBT, có nhiều quy định của NHNN trở về hệ thống ngân hàng một cấp như trước như quy định cho phép chi nhánh ngân hàng chuyên doanh được hạch toán độc lập, mọi khoản thu, nộp ngân sách và lãi của chi nhánh ngân hàng chuyên doanh không nộp về Hội sở chính của ngân hàng chuyên doanh mà nộp cho chi nhánh NHNN trên địa bàn Vụ Kế hoạch phân bổ chỉ tiêu tín dụng và hạn mức cho vay tới từng chi nhánh của ngân hàng chuyên doanh

Nghị định số 53/ HĐBT cũng quy định về Hội đồng ngân hàng ở Trung ương

và tỉnh, thành phố để có sự phối hợp giữa hai cấp của NHNN nhưng trên thực tế Hội đồng tại tỉnh, thành phố rất mờ nhạt, chỉ có tính hình thức Một số địa phương

đã áp dụng mô hình ngân hàng tổng hợp: Giám đốc chi nhánh NHNN là cấp trên, lãnh đạo các ngân hàng chuyên doanh quận, huyện Ngân hàng tổng hợp do Giám đốc NHNN lãnh đạo và có bảng cân đối tài sản chung 1

2.1.4 Những hạn chế của hoạt động ngân hàng giai đoạn 1986- 1989

Cuộc thử nghiệm, chuyển đổi của NHNN trong những năm 1986 -1989, chuyển đổi hệ thống ngân hàng một cấp sang hai cấp là quá trình đấu tranh vô cùng gian nan, trải qua nhiều biến cố, thách thức Nghị định 53/HĐBT ngày 26/3/1988 là cột mốc lịch sử, mở đầu cho quá trình đổi mới thực sự về tổ chức và hoạt động của NHNN Việt Nam Nhưng mặt khác, Nghị định 53 đã không đáp ứng kịp nhiều yêu cầu mà thực tiễn đổi mới đặt ra và bộc lộ không ít những bất cập

Thực tiễn cho thấy sau Nghị định 53, hệ thống Ngân hàng 2 cấp đã hình thành nhưng chưa hoàn chỉnh, chủ yếu là về mặt nghiệp vụ còn các quan hệ khác như công tác cán bộ, tiền lương, đào tạo…vẫn là một cấp do NHNN Trung ương quyết định trực tiếp Mô hình tổ chức, mạng lưới NHNN còn cồng kềnh, vừa có chi nhánh tỉnh, vừa có văn phòng đại diện ở quận, huyện Các NHTM được đặt theo địa giới hành chính gồm 3 cấp rất nặng nề, còn tổ chức các ngân hàng chuyên doanh theo ngành kinh tế, một số TCTD ngoài quốc doanh ra đời từ lâu nhưng thiếu định

1 Mô hình này đã triển khai tại một số tỉnh như Gia Lai, Kon Tum và Thái Bình

Ngày đăng: 06/10/2017, 15:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Thành Tự Anh, Xây dựng ngân hàng Trung ương hiện đại, (chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng ngân hàng Trung ương hiện đại
2. Bộ Ngoại Giao (2002), Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hoá: Vấn đề và giải pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hoá: "Vấn đề và giải pháp
Tác giả: Bộ Ngoại Giao
Năm: 2002
3. Nguyễn Ngọc Cảnh, Thành công của chính sách quản lý thị trường vàng 2011 -2015 sbv.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành công của chính sách quản lý thị trường vàng 2011 -2015
4. CIDA/ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2007), Báo cáo Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Jacques Bussiốres, Seine-et-Marne 30/6/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Tác giả: CIDA/ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2007
5. Chính phủ (2007), Báo cáo của Chính phủ tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XII ngày 22/10/2007 (vanbanchinhphu.vn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của Chính phủ tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XII ngày 22/10/2007
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
6. Chính phủ (2006), Đề án phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 ban hành theo quyết định số 112/2006/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ (vanbanchinhphu.vn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 ban hành theo quyết định số 112/2006/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
7. Chính phủ (1993), Nghị định số 25/CP ngày 25/3/1993 Quy định tạm thời chế độ tiền lương mới của công chức,viên chức hành chính, sự nghiệp và lực lượng vũ trang (vanbanchinhphu.vn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 25/CP ngày 25/3/1993 Quy định tạm thời chế độ tiền lương mới của công chức,viên chức hành chính, sự nghiệp và lực lượng vũ trang
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1993
8. Chính phủ (1995), Nghị định số 20/CP ngày 1/3/1995 về tổ chức bộ máy của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (vanbanchinhphu.vn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: C"hính phủ (1995), "Nghị định số 20/CP ngày 1/3/1995 về tổ chức bộ máy của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1995
9. Chính phủ (1998), Nghị định số 88/1998/NĐ-CP ngày 2/11/1998 về chức năng, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vanbanchinhphu.vn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 88/1998/NĐ-CP ngày 2/11/1998 về chức năng, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1998
10. Ngô Chung (2001), Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, luận án Tiến sĩ Kinh tế, Ngô Chung, lưu tại Thư viện Quốc gia Hà Nội, mã số LA.01.0662.2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, luận án Tiến sĩ Kinh tế, Ngô Chung
Tác giả: Ngô Chung
Năm: 2001
11. Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1990), Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính, NXB Pháp lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính
Tác giả: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Pháp lý
Năm: 1990
12. Lê Vinh Danh (2005), Chính sách tiền tệ và điều tiết vĩ mô của Ngân hàng Trung Ương, NXB Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách tiền tệ và điều tiết vĩ mô của Ngân hàng Trung Ương
Tác giả: Lê Vinh Danh
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2005
13. Nguyễn Đăng Dờn (2007), Nghiệp vụ Ngân hàng Trung ương, NXB Tổng hợp TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ Ngân hàng Trung ương
Tác giả: Nguyễn Đăng Dờn
Nhà XB: NXB Tổng hợp TPHCM
Năm: 2007
14. Nguyễn Duệ, Tô Kim Ngọc, Nguyễn Văn Tiến (1999), Đồng tiền chung châu Âu và chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương châu Âu, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng tiền chung châu Âu và chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương châu Âu
Tác giả: Nguyễn Duệ, Tô Kim Ngọc, Nguyễn Văn Tiến
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1999
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1987
16. Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1996
17. Ðảng Cộng sản Việt Nam (2001), Vãn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vãn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Ðảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001):Văn kiện Đảng toàn tập, tập 43, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 47, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
94. Web:http://www.mofahcm.gov.vn/en/mofa/tt_vietnam/nr040810155228/ ngày 28/04/2016 Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w