và vị trí của chúng tham gia vào cơ cấu cây trồng chính trong lâm nghiệp.Khoảng 70% giống cho trồng rừng sản xuất đã có chất lượng tốt, tỉ lệ thànhrừng đạt trên 80% và năng suất rừng trồ
Trang 2mở đầu
i Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu:
Keo tai tượng (Acacia mangium Wild) tuy mới được gây trồng từ những
năm đầu thập kỷ 80 nhưng diện tích rừng trồng Keo tai tượng tăng rất nhanh
do có các đặc điểm ưu việt về khả năng sinh trưởng, tính chất gỗ phù hợptrong công nghiệp chế biến gỗ, cũng như cải thiện độ phì của đất Cho đến nayKeo tai tượng đã được trồng phổ biến ở nhiều vùng trong cả nước và đã trởthành một trong những loài cây trồng rừng kinh tế chủ lực
Để phát huy vai trò, tác dụng của Keo tai tượng góp phần đáp ứng nhucầu sử dụng gỗ ngày càng tăng và đa dạng hiện nay của xã hội, vấn đề đặt ra làphải trồng rừng thâm canh tăng năng suất cây trồng, cung cấp gỗ nguyên liệu
có chất lượng và giá trị cao Song từ thực tiễn của công tác trồng rừng nhữngnăm qua cho thấy thành quả đạt được trên cả ba phương diện năng suất, chấtlượng và hiệu quả vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được các yêu cầu thựctiễn đang đòi hỏi Nguyên nhân chính là do chưa hiểu biết một cách toàn diện
về điều kiện gây trồng, đặc điểm sinh trưởng của Keo tai tượng làm cơ sở đểxây dựng các biện pháp kỹ thuật thích hợp, vì vậy chưa phát huy được tiềmnăng đất đai, ưu thế của cây trồng và thị trường
Nhằm góp phần giải quyết vấn đề nêu trên, đáp ứng yêu cầu trồng rừng
kinh doanh gỗ lớn hiện nay, đề tài “Bước đầu nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng thâm canh Keo tai tượng ở vùng Đông Bắc Bộ để cung cấp gỗ lớn”
được triển khai thực hiện.
Đề tài tập trung xác định điều kiện hoàn cảnh vùng trồng và các biệnpháp kỹ thuật thâm canh Keo tai tượng ở vùng Đông Bắc Bộ nhằm kinh doanh
gỗ lớn
Trang 3ii Những đóng góp mới của đề tài:
- Về khoa học: Xác định được một số căn cứ bổ sung cho cơ sở lý luận
về mức độ thích hợp của điều kiện hoàn cảnh và đặc điểm sinh trưởng của Keotai tượng để chọn vùng trồng rừng và xác định biện pháp kỹ thuật trồng rừngthâm canh Keo tai tượng ở vùng Đông Bắc Bộ để cung cấp gỗ lớn
- Về thực tiễn: Xác định được vùng trồng Keo tai tượng thích hợp và đề
xuất biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh Keo tai tượng ở vùng Đông Bắc
Bộ để cung cấp gỗ lớn
iii Bố cục của luận văn:
Luận văn gồm 2 phần và 4 chương là:
Mở đầu
Chương 1- Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2- Mục tiêu, nội dung, giới hạn và phương pháp nghiên cứuChương 3- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứuChương 4- Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kết luận, tồn tại, khuyến nghị
Ngoài ra, có hệ thống các bảng biểu; tài liệu tham khảo tiếng Việt, tiếngAnh và các phụ lục
Trang 4Chương 1tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1 Một số thông tin chung về Keo tai tượng
Keo tai tượng có tên khoa học là Acacia mangium Wild, là cây họ đậu
(Fabaceae), họ phụ trinh nữ (Mimosoideae), tên gọi khác là Keo lá to hayTràm lá to ở Australia Keo tai tượng có tên là Brownsalwood, Black Wattle,Hickory Wattle, ở Papua New Guinea có tên là Papua Wattle, ở Indonesia cótên là Mangge Hutan, ở Malaysia có tên Mangium, Kysafoda, ở Thái Lan cótên là Kra thintepa [37]
Keo tai tượng là cây gỗ trung bình đến lớn, sinh trưởng nhanh, có thể đạttăng trưởng hàng năm về D1.3 đến 5 cm và chiều cao Hvn lên đến 5m trong 4hoặc 5 năm đầu Tuy nhiên tăng trưởng này giảm nhanh sau tuổi 7 và tuổi 8.Keo tai tượng cao từ 20 - 30m, đường kính trung bình 20 - 40cm, có thể đạttới 60cm Đoạn thân dưới cành chiếm ưu thế cao 15 - 20 m Tuy nhiên ở lập
địa xấu cây chỉ có thể đạt chiều cao 7 - 10 m Thân cây có nhiều cành nhánh,tán dày, rộng, thường xanh, màu xanh đen Vỏ thân lúc non có màu xanh, vỏthân nhẵn, phần dưới (gần già) có màu nâu Khi cây 2 - 3 tuổi vỏ thân bắt đầu
có vết nứt dọc, dày và xù xì, thịt vỏ dày, đôi khi tạo thành rãnh [37]
Lá cây lúc còn nhỏ (dưới 1 tuổi) có lá kép lông chim 2 lần, cuốngthường bẹt Khi cây trưởng thành có lá đơn, phiến lá hình trứng hoặc trái xoandài, đầu có mũi lồi tù, đuôi men cuống, dài 14 - 25 cm, rộng 6 - 9 cm, khádày, hai mặt xanh đậm Có 4 gân dọc song song nổi rõ (Lê Mộng Chân, LêThị Huyên, 2000) [2]
Hoa hình chùm dài khoảng 10 cm, mọc thành từng đôi từ nách lá, cụmhoa gồm nhiều hoa nhỏ màu trắng hoặc màu kem [37] Hoa tự hình bông dàigần bằng lá, mọc lẻ hoặc tập trung 2 - 4 hoa tự ở nách lá Hoa đều lưỡng tínhmẫu 4, tràng hoa màu vàng, nhị nhiều vươn dài ra ngoài hoa (Lê Mộng Chân,
Lê Thị Huyên, 2000) [2] Sau khi thụ phấn, hoa trở thành quả màu xanh lá
Trang 5cây, lúc chín có màu đen Lúc đầu thì thẳng, sau quả xoắn lại bện vào nhauthành những bó không đều (Bộ Lâm nghiệp - Phụ san năm 1990) [1].
Quả đậu, dẹt và mỏng lúc non thẳng, khi già cong, cuộn xoắn lại Hạtdẹt, hình dạng thay đổi từ dài đến ô van hay hình elíp, kích thước 3 - 5 x 2 - 3
mm, nằm ngang trong vỏ quả Khi chín màu đen bóng, hạt có vỏ dày, cứng, códính dải màu đỏ Mỗi kg hạt có từ 52.000 - 95.000 hạt [37] Vỏ quả chín nứt
ra theo mép vỏ và khi chín hạt cứng có màu đen (dài 3 - 5 mm) vẫn treo ở dảinhỏ màu vàng Sau một số ngày đặc biết là những ngày gió mạnh, những dảinày đứt khỏi vỏ, hạt rơi xuống đất vẫn đem theo cả những dải nhỏ màu vàng.Những dải màu sặc sỡ đã hấp dẫn kiến và chim giúp cho việc phát tán hạtgiống đi xa (Bộ Lâm nghiệp - Phụ san năm 1990) [1]
Keo tai tượng có khả năng cố định đạm trong đất nhờ cộng sinh với vikhuẩn Rhizobium tạo ra nốt sần ở rễ vì vậy nó có khả năng cải tạo đất, pháttriển được trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, thậm chí là hoàn cảnh khắcnghiệt mà ở đó ít có những loài khác mọc Do có khả năng thích ứng rộng từvùng nhiệt đới ẩm đến vùng cận nhiệt đới ẩm nên nó được sử dụng trồng lạirừng ở các lập địa khó khăn ở nhiều nước và đã thành công, như ở Malaysia,Trung Quốc, Lào, Philipin, Việt Nam, Thái Lan,… [37]
Hiện nay gỗ Keo tai tượng được dùng rộng rãi trên thị trường để đóng
đồ gia dụng thông thường, cung cấp nguyên liệu cho ngành sản xuất ván dăm,ván bóc và đặc biệt là làm nguyên liệu giấy Keo tai tượng có hiệu suất bộtgiấy cao, khối lượng thể tích nhỏ hơn Keo lai và Keo lá tràm, nhưng nó lại có
ưu điểm sinh trưởng nhanh hơn Keo lá tràm và khả năng đổ gãy ít hơn keo lainên vẫn được coi là một trong những loài chính sử dụng trồng rừng nguyênliệu giấy (Lê Đình Khả, 1996) [9]
Keo tai tượng mọc tự nhiên ở phía Bắc Australia, Papua New Guinea,phía Đông Inđônêsia (Moluccas và Iran Jaya) Vùng mở rộng giới hạn ở phíaBắc khoảng vĩ độ 0050’ Nam thuộc vùng Iran Jaya đến vĩ độ 190 Nam ở
Trang 6Queensland (Australia) Quần thụ nổi tiếng nhất ở Australia, ở đó Keo taitượng mọc không liên tục dọc theo bờ biển phía Đông của Queensland giữaIngham và sông Jadine Tại vùng này, Keo tai tượng mọc ở độ cao dưới 100m,nhưng có hai quần thụ mọc ở độ cao 450m và 720m, trong khi ở Inđônêsia,Papua New Guinea nó cũng chỉ mọc ở độ cao thấp so với mặt biển Quần thụKeo tai tượng trải ra từ Taliabu thuộc Moluccas (Inđônêsia) đến Wuroi vàsông Oriôm trong tỉnh phía Tây của Papua New Guinea.
Trong vùng phân bố tự nhiên, Keo tai tượng mọc ven rừng ngập mặn vàgần quần thụ cây tràm cũng như rừng ở ven sông xen lẫn với đồng cỏ Keo taitượng không mọc trong rừng mưa nhưng phần lớn thấy mọc ven rừng Thôngthường Keo tai tượng mọc thành đám nhỏ thỉnh thoảng mới mọc thành diệntích lớn
Keo tai tượng là loài cây tiên phong mọc trên đất rừng đã bị tàn phá, cókhi mọc bên lề đường và dọc theo bờ cánh đồng mía ở Queensland Lửa rừng,một đặc điểm của môi trường tự nhiên, thường làm cháy lớp cỏ, ảnh hưởng
đến môi trường sống và tái sinh tự nhiên của Keo tai tượng
1.2 Quan điểm về gỗ lớn
Khái niệm gỗ lớn được hiểu trong đề tài này là: gỗ đến khi thành thụccông nghệ phải đạt được đường kính tối thiểu 20 - 30cm với chu kỳ kinhdoanh 10 - 15 năm
1.3 Lược sử trồng rừng thâm canh
1.3.1 Trên thế giới
Từ trước năm 1900, trên thế giới chưa có nhu cầu trồng rừng thâm canhcho mục đích công nghiệp, mặc dù đã có một số nước quan tâm đến do thiếu
gỗ từ rừng tự nhiên Trong giai đoạn này biện pháp kỹ thuật lâm sinh đáng
được chú ý và có đóng góp quan trọng cho đến nay là việc trồng thử nghiệmcác loại cây ngoại lai như Tếch (Tectona grandis) và một số loài Bạch đàn E tereticornis, E robusta (Jacobs, 1981); ứng dụng trồng thử nghiệm hệ thống
Trang 7trồng rừng “Taungya” (Mac Gillivray, 1990).
Giai đoạn 1900 - 1945, việc trồng rừng đã được tiến hành ở nhiều nướctrên thế giới với nhiều loài cây trồng và có xu hướng trồng rừng bán thâmcanh như ở Brazil vào những năm 20 và 30 thế kỷ trước đã trồng hàng trămngàn ha rừng Bạch đàn E saligna; E camaldulensis; E tereticornis (Penfold
and Willis, 1961) Nhiều tiến bộ về kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho trồng rừngtrong thời kỳ này, như nghiên cứu của Craib ở Nam Phi vào những năm 1930
về tỉa thưa và tỉa cành (Craib 1934, 1939, 1947); hệ thống trồng rừng
“Taungya” được sử dụng rộng rãi ở Kenya vào năm 1910 (FAO 1967b), ởTrinidad là phương pháp chính để trồng rừng Tếch (Lamb, 1955)
Giai đoạn 1945 - 1965, trồng rừng thâm canh bắt đầu được quan tâm,việc sử dụng giống cây ngoại lai trồng ở các nước nhiệt đới được đề xuất tại Hộinghị Lâm nghiệp Thế giới 1954 và các chương trình trồng rừng thương mại ởFiJi, Papua New Guinea đã được thực hiện Đến giai đoạn 1966 - 1980 các diệntích rừng trồng thâm canh được mở rộng nhanh chóng để phục vụ cho côngnghiệp chế biến và các nhu cầu khác, các kỹ thuật lâm sinh đã được áp dụng và
đặc biệt là công tác chọn, nhân giống áp dụng vào sản xuất được quan tâm, như
ở Brazil có nơi đã chuyển đổi hơn 400.000 ha rừng kém chất lượng thành rừngtrồng các loài cây Thông caribê (Pinus caribaea) và Bạch đàn E saligna [35].
Từ sau năm 1980, diện tích rừng trồng công nghiệp ngày càng được mởrộng, hơn 14 triệu ha rừng đã được trồng trong 15 năm, Sedio (1987) ướclượng diện tích rừng trồng ở Châu Mỹ la tinh giữa 1980 - 1990 tăng gấp 3 lần
và sản lượng gỗ công nghiệp tăng gấp 4 lần từ rừng trồng và có thể thoả mãn50% tổng yêu cầu của khu vực; Touzet (1985) khẳng định rằng “rừng trồngcần được phát triển và sẽ là nguồn gỗ chủ yếu cho tất cả các ngành côngnghiệp sử dụng gỗ” Tầm quan trọng đặc biệt và là bước đột phá trồng rừngtrong giai đoạn này là việc nghiên cứu và thử nghiệm thành công kỹ thuậtnhân giống bằng nuôi cấy mô và giâm hom
Trang 8Như vậy, lịch sử phát triển rừng trồng theo hướng trồng rừng thâm canh
đã được quan tâm từ lâu, đặc biệt trong vài thập kỷ trở lại đây, nhiều quốc gia
đã tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu cải thiện giống và nhân giống cây rừng,vì vậy năng suất rừng trồng bằng một số loài cây mọc nhanh như keo, bạch
đàn và một số cây trồng rừng khác đã đạt được những thành tựu đáng kể Điểnhình như ở Công Gô, Trung Quốc đã chọn được giống bạch đàn có năng suất
từ 40 - 50 m3/ha/năm; Cộng hoà Nam Phi cũng đã tuyển chọn được dòng củaloài E grandis năng suất đạt trên 40 m3/ha/năm; ở các nước Bồ Đào Nha, TâyBan Nha, Brazil thông qua con đường lai tạo giữa các loài bạch đàn, đã lựachọn được một số tổ hợp lai cho năng suất từ 40 - 60 m3/ha/năm (Zobel et al.,1993) [32], một số rừng bạch đàn thí nghiệm bình quân đạt 100 m3/ha/năm
Kết hợp với công tác cải thiện giống, nhân giống, nhiều nước đã có cáccông trình nghiên cứu đồng bộ áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hiện
đại trong trồng rừng thâm canh như chọn lập địa, làm đất, bón phân và chămsóc rừng, Vì vậy, năng suất rừng trồng cũng được tăng lên rõ rệt
1.3.2 ở Việt Nam
ở Việt Nam, trồng rừng đã xuất hiện từ thời Pháp thuộc nhưng đến giai
đoạn trước năm 1986, mới bắt đầu thực hiện các chương trình trồng rừng gắnmục tiêu kinh tế với phòng hộ, bảo vệ môi trường Trồng rừng cung cấpnguyên liệu cho công nghiệp, chủ yếu là nguyên liệu giấy được ưu tiên pháttriển, tập trung ở hai khu vực Trung tâm Bắc Bộ và Đông Nam Bộ, một số loàicây ưa sáng, mọc nhanh đã được gây trồng như Bồ đề, Mỡ,… nhưng tỷ lệthành rừng thấp chỉ đạt từ 40% - 60% theo diện tích trồng, năng suất bìnhquân chỉ đạt từ 4 - 6 m3/ha/năm với sản lượng bình quân đạt được từ 40 - 60
m3/ha trong một chu kỳ kinh doanh [18] Nguyên nhân chính là do đầu tư chotrồng rừng hạn chế; công tác chọn giống và khảo nghiệm giống còn ít; chọn
đất trồng rừng không phù hợp với loài cây trồng; kỹ thuật trồng rừng yếu kém,
Trang 9chủ yếu vẫn là trồng rừng mang tính chất quảng canh,
Giai đoạn từ năm 1986 đến 1990, các mục tiêu trồng rừng công nghiệp
về đầu tư và thâm canh bắt đầu được thực hiện, song hiệu quả của trồng rừngcòn thấp Trong giai đoạn này đã xác định được 92 loài cây trồng theo cácmục tiêu khác nhau cho 9 vùng sinh thái Phương thức trồng rừng thâm canh
được thực hiện thông qua chương trình hợp tác Việt Nam - Thuỵ Điển; các cây
gỗ mọc nhanh có năng suất cao được chú ý gây trồng, tỷ lệ thành rừng đạtkhoảng 60%, năng suất rừng trồng vào cuối giai đoạn này đã tăng lên, bìnhquân đạt 7 m3/ha/năm [18]
Từ năm 1991 đến nay, vấn đề trồng rừng và kinh doanh rừng trồngngày càng được quan tâm, đã chú trọng đẩy mạnh trồng rừng sản xuất theohướng thâm canh và đa mục đích, tập đoàn cây trồng cũng phong phú và đadạng hơn, vì vậy năng suất rừng trồng cũng đã được cải thiện một bước Tuynhiên, phần lớn rừng trồng ở nước ta hiệu quả còn thấp chưa phát huy hết tiềmnăng của đất đai, khí hậu nhiệt đới và chưa đáp ứng được yêu cầu cung cấp gỗnguyên liệu nói chung và nguyên liệu cho công nghiệp nói riêng
Theo báo cáo đánh giá làm căn cứ xây dựng kế hoạch trồng mới 5 triệu
ha rừng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 1997 về thống kênăng suất rừng trồng sản xuất cho thấy rất thấp Cây mọc nhanh cung cấp gỗnguyên liệu cho công nghiệp như Bồ đề, Mỡ, Thông đuôi ngựa, bạch đàn vàkeo các loại, năng suất đạt bình quân 7,5 m3/ha/năm với chu kỳ bình quân
10 năm Cây mọc nhanh cung cấp gỗ lớn như Sao đen, Dầu rái, Tếch năngsuất bình quân đạt 6 m3/ha/năm với chu kỳ bình quân 40 năm
Mặc dù vậy, trong gần thập kỷ trở lại đây việc phát triển trồng rừngtheo hướng trồng rừng thâm canh để đáp ứng nhu cầu gỗ nguyên liệu khôngngừng được cải thiện, bên cạnh những loài cây bản địa được gây trồng thànhcông như Bồ đề, Mỡ, Tre, Luồng, thì một số loài cây mọc nhanh như cácloài bạch đàn và keo, với rất nhiều xuất xứ cũng đã khẳng định được vai trò
Trang 10và vị trí của chúng tham gia vào cơ cấu cây trồng chính trong lâm nghiệp.Khoảng 70% giống cho trồng rừng sản xuất đã có chất lượng tốt, tỉ lệ thànhrừng đạt trên 80% và năng suất rừng trồng đạt 15 - 20 m3/ha/năm [5].
Trong những năm qua, các nghiên cứu tập trung vào khâu kỹ thuậtnhằm tạo nên các bước đột phá về năng suất và đã đạt được kết quả nhất định.Công tác cải thiện giống đã có nhiều giống được công nhận là giống quốc gianhư một số dòng Keo lai (BV10, BV16, BV32), Bạch đàn urophylla (PN2,
PN14, U6); các dòng Bạch đàn urophylla và nhiều xuất xứ Bạch đàn camaldulensis, Keo lá tràm, Thông caribaea, Phi lao và hàng chục dòng Keo lai,
Bạch đàn lai, Tràm, cũng đã được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật
Các biện pháp kỹ thuật thâm canh cũng được tăng cường nghiên cứu,như các biện pháp làm đất, bón phân, vì vậy, năng suất rừng trồng cũng
được nâng cao Trong một số khảo nghiệm về Keo lai năng suất đạt được trên
25 m3/ha/năm; Bạch đàn urophylla trồng thâm canh cũng cho năng suất từ 18
- 25 m3/ha/năm; một số dòng Bạch đàn PN2 và PN14 sau 8 năm trồng ở TâyNguyên bình quân đạt 21 m3/ha/năm [11] Đây chính là những cơ sở, tiền
đề cho việc nghiên cứu chọn giống và áp dụng các biện pháp trồng rừngthâm canh
Như vậy, việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh đã có tác dụng cănbản đến sản lượng và năng suất rừng trồng Năng suất rừng trồng được cải thiện
và tăng gấp 2 - 3 lần so với cùng một số loài cây trồng trước đây Qua kết quả
đánh giá cho thấy, tiềm năng để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế của rừngtrồng theo hướng áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh rừng trồng đang
được rộng mở
Cùng với những tiến bộ đó, quan niệm về trồng rừng thâm canh cũng đượchoàn thiện hơn Từ phương thức canh tác truyền thống, trồng rừng với các biệnpháp kỹ thuật thông thường, đầu tư thấp (trồng rừng quảng canh), chuyển sang
đầu tư áp dụng một số biện pháp kỹ thuật để cải thiện năng suất rừng trồng
Trang 11(trồng rừng bán thâm canh) và đến thời gian gần đây đã quan tâm đầu tư trồngrừng theo hướng thâm canh để nâng cao năng suất cây trồng Theo NguyễnXuân Quát (1999) [18] “Trồng rừng thâm canh là một phương thức canh tácdựa trên cơ sở được đầu tư cao, bằng việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổnghợp liên hoàn Các biện pháp đó phải tận dụng cải tạo, phát huy được mọitiềm năng của tự nhiên cũng như của con người nhằm thúc đẩy mạnh mẽ sinhtrưởng của rừng trồng để thu được năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt vớigiá thành hạ để cho hiệu quả lớn, đồng thời cũng phải duy trì và cải thiện đượctiềm năng đất đai và môi trường đảm bảo an toàn sinh thái đáp ứng yêu cầuphát triển trồng rừng ổn định, lâu dài và bền vững”.
Như vậy, trồng rừng thâm canh đạt hiệu quả cao phải đáp ứng hiệu quảtổng hợp của một phương thức kinh doanh thoả mãn các lợi ích về kinh tế -môi trường và xã hội cao nhất, thể hiện trên các mặt: (i) Hiệu quả kinh tế: là
hiệu quả về đầu tư và thu nhập trên mô hình sử dụng đất hay mô hình trồngrừng thâm canh; (ii)Hiệu quả xã hội: tạo giá trị sản phẩm sản xuất ra trên một
đơn vị diện tích lớn, nó mang lại lợi ích cho người sản xuất và tiêu dùng, giảiquyết vấn đề lao động, tạo vùng chuyên canh phát triển kinh tế hàng hoá ;(iii)Hiệu quả môi trường: bảo vệ và cải thiện điều kiện đất đai để sử dụng đất
lâu dài, ổn định, bảo vệ môi trường và duy trì cân bằng sinh thái
Từ những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn của công tác trồng rừngsản xuất nói chung và trồng rừng thâm canh nói riêng trong những năm quacho thấy nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng bằng giống đã được cảithiện, chọn lập địa phù hợp và áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tiêntiến đang là đòi hỏi cấp bách, đặc biệt là trồng rừng thâm canh để cung cấp gỗnguyên liệu cho công nghiệp giấy, ván thanh, ván dăm và gỗ gia dụng
Như vậy, trên thế giới, trồng rừng thâm canh đã đạt được nhiều thànhtựu to lớn theo hướng trồng rừng công nghiệp, đặc biệt ở các nước phát triển.Tuy nhiên, do kết quả nghiên cứu áp dụng trên các vùng địa lý, khí hậu và
Trang 12kinh tế - xã hội rất khác nhau, vì vậy để áp dụng các biện pháp đó vào điềukiện cụ thể của từng vùng, từng quốc gia là rất khó khăn Những kết quả đó lànguồn tài liệu tham khảo tốt trong quá trình nghiên cứu.
ở Việt Nam các nghiên cứu về trồng rừng thâm canh đã đạt được một
số thành tựu đáng kể, nhưng cũng mới chỉ dừng ở việc áp dụng các biện pháp
kỹ thuật đơn lẻ Nhìn chung, chưa có những căn cứ khoa học đầy đủ, chắcchắn và chưa áp dụng hệ thống các biện pháp liên hoàn, tổng hợp trong thâmcanh rừng trồng Tham gia góp phần giải quyết các vấn đề trên chính là hướngnghiên cứu của đề tài
1.4 Tổng quan về Keo tai tượng
1.4.1 Trên thế giới
1.4.1.1 Các nghiên cứu về điều kiện gây trồng Keo tai tượng
Phân hạng, đánh giá đất là một trong những chuyên ngành nghiên cứuquan trọng và đặc biệt gần gũi với các nhà quy hoạch và người sử dụng đất.Trong hoàn cảnh hiện nay, dân số tăng nhanh chóng, diện tích đất đai bìnhquân đầu người suy giảm kết hợp với tình trạng suy thoái dần những vùng đấtthích hợp cho canh tác là những vấn đề mang tính nóng bỏng toàn cầu Để giảiquyết, các nhà tổ chức quốc tế và các nhà khoa học nhiều quốc gia tiến hành
điều tra và đánh giá tài nguyên đất không chỉ trên quy mô quốc gia mà còntrên phạm vi toàn cầu làm cơ sở cho việc xây dựng các chương trình phát triển
và tối ưu hoá sử dụng đất đai ở mức độ quốc tế
Trong nông nghiệp, các yếu tố dùng để phân hạng đất thường là loại đất
và các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất cây trồng như độ pH, hàm lượng chấthữu cơ, hàm lượng N, P, K dễ tiêu,… Trong lâm nghiệp các yếu tố phân hạng
đất thường là loại đất, độ dày tầng đất, thành phần cơ giới, độ pH, thực bì chỉthị cho độ phì hoặc mức độ thoái hoá đất Điều quan trọng đối với phân hạng
đất đai là cần phải có tư liệu về năng suất cây trồng và tìm mối quan hệ củachúng với các tính chất đất đai
Trang 13Việc phân hạng và đánh giá đất đai đã được thực hiện từ khá lâu ở nhiềunước trên thế giới Từ những năm 1950, việc đánh giá tiềm năng sử dụng đất
đã được nhiều nhà khoa học và các tổ chức Quốc tế quan tâm Đây được xemnhư là bước nghiên cứu kế tiếp của công tác nghiên cứu đặc điểm đất Ngàynay công việc này đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng của cácnhà quy hoạch, hoạch định chính sách và người sử dụng Tuỳ theo mục đích
cụ thể, mỗi quốc gia đã đề ra nội dung, phương pháp đánh giá đất của mình
* ở Liên Xô và các nước Đông Âu dựa vào Thuyết phát sinh đất củaV.V Docuchaev trong đó chỉ ra quá trình hình thành đất rất phức tạp do tác
động của 5 yếu tố tự nhiên là khoáng vật, thực vật, động vật, không gian vàthời gian
- Những năm thập niên 1960 việc phân hạng và đánh giá đất đai đượcthực hiện, bao gồm ba bước là: (i) so sánh các hệ thổ nhưỡng theo tính chất tựnhiên (đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng); (ii) đánh giá tiềm năng sản xuất của đất
đai và (iii) đánh giá kinh tế đất (chủ yếu đánh giá tiềm năng sản xuất hiện tạicủa đất)
- Tuy nhiên, phương pháp này chỉ mới thuần tuý quan tâm đến khíacạnh tự nhiên của đối tượng đất đai mà chưa xem xét đầy đủ đến khía cạnhkinh tế - xã hội của việc sử dụng đất đai
* ở Mỹ, hai phương pháp đánh giá đất đai được ứng dụng khá rộng rãilà:
- Phương pháp tổng hợp: lấy năng suất cây trồng nhiều năm làm tiêuchuẩn và phân hạng đất đai cho từng cây trồng cụ thể, trong đó lấy cây lúa mì
là đối tượng chính
- Phương pháp yếu tố: bằng cách thống kê các yếu tố tự nhiên, kinh tế
để so sánh, lấy lợi nhuận tối đa là 100 điểm (hoặc 100%) để làm mốc so sánhvới các đất khác
- Trong quá trình phân hạng và đánh giá đất đai ở Mỹ đã đưa ra các
Trang 14khái niệm:
+ Phân loại khả năng thích nghi đất có tưới (Irrigation Land SuitabilityClassification) của Cục cải tạo đất đai - Bộ nông nghiệp Mỹ (USBR) xuất bảnnăm 1951 Phân loại này dựa vào độ phì của đất để đánh giá Phân loại nàygồm 6 lớp (classes), từ lớp có thể canh tác được (arable) đến lớp có thể trồngtrọt một cách giới hạn (limited arable) và lớp không thể trồng trọt được (nonarable) Trong phân loại này, nhiều đặc điểm đất đai, một số chỉ tiêu kinh tế
định lượng cũng được đề cập nhưng giới hạn ở phạm vi thuỷ lợi
+ Tiềm năng đất đai (Land Capability) do Clingebiel và Naontgomerythuộc Vụ Bảo tồn đất đai - Bộ Nông nghiệp cũng đưa ra (năm 1964) trongcông tác đánh giá đất đai ở Hoa Kỳ Trong việc đánh giá này, các đơn vị bản
đồ đất đai (Land Mapping Units) được nhóm lại dựa vào khả năng sản xuấtcủa một loại cây nào đó, chỉ tiêu chung là các hạn chế của lớp phủ thổ nhưỡng
đối với mục tiêu canh tác được đề nghị Hệ thống đánh giá đất đai này mangtính chất sơ lược, gắn đất với hiện trạng sử dụng đất hay còn gọi là "Loại hình
sử dụng đất"
* ở ấn Độ và các nước vùng nhiệt đới ẩm châu Phi thường áp dụngphương pháp tham biến để xác định mối quan hệ giữa các yếu tố đất đai vàcây trồng Các mối quan hệ này được biểu thị dưới dạng phương trình toánhọc Kết quả phân hạng được thể hiện dưới dạng % hoặc điểm
* ở các nước Châu Âu việc phân hạng và đánh giá đất đai được thựchiện theo 2 hướng là:
- Phân hạng định tính: dựa trên các kết quả nghiên cứu các yếu tố tự
nhiên để xác định tiềm năng sản xuất của đất đai.
- Phân hạng định lượng: dựa vào kết quả nghiên cứu các yếu tố kinh tế,
để xác định sức sản xuất thực tế của đất đai
Nhiều quốc gia ở Châu Âu vào những năm 70 đã cố gắng phát triển các hệthống đánh giá đất đai của họ, cuối cùng các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng
Trang 15cần phải có một nỗ lực quốc tế để đạt được sự thống nhất và tiêu chuẩn hoávào việc đánh giá đất đai.
* Phương pháp đánh giá đất đai của FAO: Được thống nhất do 2 Uỷ bannghiên cứu ở Hà Lan và FAO - Roma thực hiện vào năm 1972, công bố đầutiên vào năm 1976 và được chỉnh lý vào năm 1983 Trong đó:
- Đề xuất định nghĩa về đánh giá đất đai là: Đánh giá đất đai là quátrình so sánh, đối chiếu những tính chất của vạt đất cần đánh giá với nhữngtính chất đất đai mà loại hình sử dụng đất yêu cầu phải có Đánh giá đất đai làquá trình thu thập thông tin, xem xét một cách toàn diện các yếu tố đất đai vớicây trồng để phân định ra mức độ thích hợp cao hay thấp
- Đưa ra một số nội dung hoặc khái niệm được xác định cụ thể như sau:
Đánh giá tiềm năng sử dụng đất đai (land capability): Là việc phân
chia hay phân hạng đất đai thành các nhóm dựa trên các yếu tố thuận lợi hayhạn chế trong sử dụng như độ dốc, độ dày tầng đất, đá lẫn, tình trạng xói mòn,úng ngập, khô hạn, mặn hoá Trên cơ sở đó có thể lựa chọn những kiểu sửdụng đất phù hợp Việc đánh giá tiềm năng sử dụng đất thường áp dụng trênqui mô lớn như trong phạm vi một nước, một tỉnh hay một huyện
Ví dụ: ở Mỹ đã sử dụng các yếu tố hạn chế là những yếu tố hầu nhưkhông thay đổi được như độ dốc, độ dày tầng đất, khí hậu để phân chia đất đaitoàn quốc thành 8 nhóm với yếu tố hạn chế tăng dần từ nhóm I tới nhóm VIII.Nhóm I là nhóm thuận lợi nhất trong sử dụng, có rất ít yếu tố hạn chế NhómVIII là nhóm có nhiều hạn chế nhất trong sử dụng
Đánh giá mức độ thích hợp đất đai (land suitability): Là quá trình xác
định mức độ thích hợp cao hay thấp của các kiểu sử dụng đất cho một đơn vị
đất đai và tổng hợp cho toàn khu vực dựa trên so sánh yêu cầu kiểu sử dụng
đất với đặc điểm các đơn vị đất đai
- Hệ thống đánh giá được thể hiện theo 4 cấp:
Phân thành 2 cấp lớn: Kiểu sử dụng đất hay loài cây trồng thích hợp
Trang 16(Viết tắt là S - Suitable) hay không thích hợp (Viết tắt là N - Not suitable) với
điều kiện đất đai
+ Thích hợp kém (S3): Đất có hạn chế đáng kể làm giảm mạnh năngsuất và tăng cao chi phí canh tác rõ rệt Hiệu quả kinh tế bị suy giảm đáng kể
- Nhìn chung quá trình đánh giá đất đai của FAO được tiến hành thôngqua các bước: Xác định mục tiêu sử dụng; Thu thập thông tin liên quan; Đánhgiá mức độ thích hợp của các loại hình sử dụng đất; Xem xét môi trường tác
động của tự nhiên, kinh tế xã hội; Xác định các loại hình sử dụng đất thíchhợp
- Ngoài những tài liệu cơ bản của FAO về đánh giá đất đai, FAO cũng
đưa ra những hướng dẫn khác về đánh giá đất đai cho các đối tượng riêng biệtnhư (i) Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp nhờ mưa (Giueline for landEvaluation for Rainfed Agriculture - FAO, 1983); (ii) Đánh giá về đất đai chotrồng cỏ quảng canh (Land Evaluation for extensive grazing, FAO, 1990); (iii)
Đánh giá về đất đai và phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất(Land Evaluation and farming system analysis for land use planning, FAO,1992)
Trên thế giới cũng có nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa
đặc điểm đất đai với sinh trưởng của cây trồng Từ các kết quả nghiên cứu nàynhiều nhà khoa học đã cho rằng: Đối với các vùng ôn đới, phản ứng của đất,hàm lượng CaCO3 và các chất Bazơ khác, thành phần cấp hạt và điện thế ôxyhoá khử (Eh) của đất là những yếu tố quan trọng nhất, quan điểm này đã xem
Trang 17các yếu tố hoá học đất quan trọng hơn yếu tố vật lý Còn ở vùng nhiệt đới thìcác tác giả cho rằng các yếu tố khả năng giữ nước, độ sâu của đất và độthoáng khí là những yếu tố giữ vai trò chủ đạo, điều này có nghĩa là yếu tố vật
lý đất quan trọng hơn yếu tố hoá học đất Tuy nhiên các kết quả này là dựatrên các nghiên cứu về đất đồi núi, đất nông nghiệp
Trung tâm Lâm nghiệp Quốc tế (CIFOR) gần đây đã tiến hành nghiêncứu về quản lý lập địa và sản lượng rừng cho rừng trồng ở các nước nhiệt đớinhư ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Nam Phi, Conggo, Brazil Kết quả nghiêncứu cho thấy các biện pháp xử lý lập địa khác nhau và các loài cây trồng khácnhau đã có ảnh hưởng khác nhau đến độ phì đất, cân bằng nước sự phân huỷthảm mục và chu trình dưỡng khoáng
Trong những năm gần đây có một số công trình nghiên cứu về vấn đềnày cho từng một số loài cây ở vùng ôn đới nhiều nghiên cứu về ảnh hưởngcủa rừng tự nhiên, rừng trồng đến độ phì đất đã được đề cập Khi nghiên cứu
về rừng mưa nhiệt đới ở Australia, Week (1970) đã khẳng định sinh trưởngcủa thực vật phụ thuộc vào các yếu tố đá mẹ, độ ẩm của đất, thành phần cơgiới, CaCO3, hàm lượng mùn và đạm
1.4.1.2 Các nghiên cứu về giống
ở các nước tiên tiến trên thế giới việc trồng các loài keo nói chung vàKeo tai tượng nói riêng làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ với quymô lớn đã được thực hiện từ rất sớm Không chỉ mở rộng về quy mô trồng,công tác cải thiện giống cũng được chú trọng ngay từ đầu Các nghiên cứuthường tập trung vào việc tìm ra những xuất xứ, dòng có năng suất và chấtlượng Ví dụ diện tích rừng trồng keo bằng cây hom ở Công Gô từ 1978 đến
1986 là 23.407 ha, tăng trưởng bình quân năm ở tuổi 6 của các dòng vô tính
được chọn là 35 m3/ha/năm so với 12 m3/ha/năm ở các lô hạt chưa được tuyểnchọn và 25 m3/ha/năm của các xuất xứ đã được chọn Tăng thu đạt từ 40% lên
Trang 18tới 192%, tức gần 3 lần so với rừng trồng từ giống chưa được cải thiện [16].
Keo được đưa vào khảo nghiệm và gây trồng ở Philipin từ những năm
1980 Trong đó Keo tai tượng được đánh giá là rất có triển vọng, năng suấtcủa rừng trồng 10 tuổi đạt tới 32 m3/ha/năm ở Tal ogon Bốn xuất xứ tốt nhất
là Kini, Bensbach, Wipim (PNG), Claudie River (Qld) [17]
Tính đến cuối năm 1990, diện tích rừng trồng ở Sabah khoảng14.000ha, trong đó phần lớn diện tích trồng Keo tai tượng Kết quả khảonghiệm xuất xứ ở giai đoạn 6,1 tuổi cho thấy 3 xuất xứ có triển vọng làWestern Province (PNG) với D1.3 = 19,1cm; Claudie River (Qld) và OliveRiver (Qld) với giá trị D1.3 tương ứng là 19,1 và 18,7cm Còn ở khảo nghiệmxuất xứ ở giai đoạn 5,7 tuổi đã xác định được 3 xuất xứ tốt nhất là BrokenPole Creke (Qld), Abergowrie (Qld), và Olive River (Qld) [36]
Cho đến nay đã có 179 xuất xứ và 469 gia đình thuộc 21 loài keo đượckhảo nghiệm ở miền Nam Trung Quốc với tổng diện tích là 130 ha, Keo taitượng là một trong ba loài keo đã được đưa vào trồng rừng trên diện rộngnhằm cung cấp gỗ Dựa vào sinh trưởng và dạng thân đã chọn được các xuất
xứ có triển vọng của Keo tai tượng là Abergowie (Qld), Claudie River (Qld),Oriomo (PNG) Trung Quốc đã xây dựng được 40 ha rừng giống, vườn giốngtại Quảng Đông và Hải Nam, bao gồm cả vườn giống thế hệ 1 và 1,5; vườngiống dòng vô tính và vườn giống lai Theo ước tính, các rừng giống và vườngiống này có thể cung cấp khoảng 1.000 kg hạt giống/năm [17]
ở Sabah - Malaisia Keo tai tượng (Acacia mangium Wild) có sức sinh
trưởng nhanh, tuổi 10 - 13 đạt chiều cao 20 - 25m và đường kính 20 - 30cm,tăng trưởng bình quân là 44 m3/ha/năm và cũng ở Sabah trong một khảonghiệm ở tuổi 4, xuất xứ tốt nhất đạt chiều cao 20,17m và đường kính 14,4cm[17]
Từ năm 1989 ở Nam Phi đã có những nghiên cứu về sinh trưởng củadòng vô tính Kết quả cho thấy rừng trồng bằng cây con từ hạt năng suất bình
Trang 19quân đạt 21,9m3/ha/năm, trong khi đó các dòng vô tính trồng đại trà đạt trên30m3/ha/năm [16] Nhân giống vô tính Keo tai tượng đã được một số tác giảnghiên cứu C.Y Wong và R.J Haines cho rằng việc giâm hom các cây mẹ trẻtuổi của Keo tai tượng có thể sử dụng công nghệ đơn giản, có thể tiến hànhgiâm hom quanh năm tuy nhiên giá thành cây hom cao hơn cây hạt [43].
Các dự án nghiên cứu của CSIRO vào những năm 1980 tại các nước
Đông á, Đông Nam á, Australia và Fiji đã cơ bản xác định được các xuất xứ
có triển vọng cho các nước tham gia, ví dụ như các xuất xứ PNG được đánhgiá là phù hợp với điều kiện lập địa của Trung Quốc, Đài Loan [33] Ngoài ra,hàng loạt các nghiên cứu về sinh lý, lâm sinh của CSIRO đã được thực hiện ởnhiều quốc gia, cho thấy việc bón bổ sung photpho và kali cho cây là rất cầnthiết
1.4.1.3 Các nghiên cứu về kỹ thuật trồng
Keo tai tượng đã được đưa vào trồng ở Trung Quốc từ những năm 1960,tới năm 1997 đã có khoảng 200.000 ha Keo tai tượng được trồng ở phía NamTrung Quốc gồm 4 tỉnh là Hải Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam.Tốc độ trồng rừng hàng năm khoảng 20.000 ha/năm [17]
Hàng loạt các nghiên cứu về sinh lý, lâm sinh của CSIRO đã được thựchiện ở nhiều quốc gia cho thấy việc bổ sung photpho và kali cho cây được cho
là rất cần thiết Các nghiên cứu đã được tiến hành cho đối tượng này khá đầy
đủ như khả năng cố định đạm (cây hấp thụ 153,8 kg nitơ/ha) và kỹ thuật trồngrừng thâm canh đã được chấp nhận thay cho phương pháp quảng canh vốn có[40]
ở Malaisia, song song với công tác cải thiện giống, các biện pháp kỹthuật lâm sinh cũng đã được thử nghiệm nhằm chuyển hoá rừng trồng cungcấp nguyên liệu dăm và bột giấy có giá trị kinh tế thấp thành rừng trồng cungcấp gỗ xẻ với biện pháp tỉa cành và tỉa thưa, nhằm làm tăng chiều cao dướicành của Keo tai tượng lên hơn 9m [39] Nghiên cứu ở Malaisia cho thấy độ
Trang 20sâu tầng đất và địa hình có ảnh hưởng rất rõ đến sinh trưởng của cây, khi trồngKeo tai tượng ở đất phù sa dưới chân đồi cho năng suất gỗ gần gấp đôi ở đỉnh
đồi mặc dù hai nơi chỉ cách nhau khoảng 100m [17]
ở Papua New Guinea từ năm 1950, có khoảng 60.000 ha rừng trồng cácloài keo, trong đó Keo tai tượng chiếm khoảng 15 - 16% Sinh trưởng chiềucao của Keo tai tượng trên các lập địa tốt đạt 5 m/năm trong 2,5 năm đầu [17]
ở Inđônêsia, trồng Keo tai tượng với mục đích thương mại đã đượctriển khai từ đầu những năm 1980, đến năm 1990 đã có xấp xỉ 38.000 ha rừngtrồng Keo tai tượng cung cấp gỗ nguyên liệu giấy và gỗ xẻ [42] Dự án trồngrừng của công ty MHP với tổng diện tích 193.500ha, trong đó diện tích trồngKeo tai tượng chiếm 90% [31]
1.4.2 ở Việt Nam
1.4.2.1 Các nghiên cứu về điều kiện gây trồng Keo tai tượng
Xác định điều kiện gây trồng là tìm hiểu các yếu tố ngoại cảnh ảnhhưởng và quyết định tới sự hình thành kiểu quần thể và năng suất sinh trưởngcủa cây rừng, nó là cơ sở xác định các biện pháp kỹ thuật trồng rừng Mỗi loàicây đều đòi hỏi điều kiện đất đai, khí hậu thích hợp để cho sinh trưởng và pháttriển tốt nhất
ở Việt Nam cho đến nay có khá nhiều các công trình nghiên cứu về đất
đai, chủ yếu nghiên cứu về quá trình hình thành và tính chất lý hoá học của
đất; phân loại, xây dựng bản đồ đất; đánh giá tiềm năng sản xuất của đất; biệnpháp cải tạo đất có vấn đề; bảo vệ và chống suy thoái tài nguyên đất
Năm 1960, F.R Moormann đã xuất bản bản đồ thổ nhưỡng ở miềnNam Việt Nam với tỷ lệ 1/1.000.000 và kèm theo bảng phân loại đất dùng chobản đồ này Năm 1969 V M Fridland cùng một số nhà khoa học Việt Nam
đã xuất bản Bản đồ thổ nhưỡng miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1/1.000.000 và bảnchú giải phân loại Đặc điểm của 2 bảng phân loại này là theo 2 phương pháp
Trang 21khác nhau Bảng phân loại đất dùng cho sơ đồ thổ nhưỡng miền Bắc là theohướng phân loại phát sinh của Liên Xô Bảng phân loại đất của Moorman theohướng phân loại của Mỹ trước kia, một phần theo hướng phân loại phát sinh vàmột phần theo tính chất thực dụng.
Từ những năm 80 trở lại đây có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá
đất đai như:
- Nghiên cứu đánh giá và quy hoạch đất khai hoang ở Việt Nam của BùiQuang Toản và cộng sự (1991) đã ứng dụng phân loại tiềm năng (Capabilityclassification) của FAO Tuy nhiên nghiên cứu chỉ đánh giá các điều kiện tựnhiên (thổ nhưỡng, thuỷ văn và tưới tiêu, khí hậu nông nghiệp) và nghiên cứuchỉ mới dừng lại ở lớp (class) thích nghi cho từng loại hình sử dụng
- Trần An Phong (1995) đã đưa ra kết quả đánh giá hiện trạng sử dụng
đất ở nước ta theo quan điểm sinh thái và lâu bền Phương pháp đánh giá này
đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố: tính chất của đất, hiện trạng
sử dụng đất, tính thích nghi đất đai, vùng sinh thái
- Đánh giá tiềm năng sử dụng đất Lâm nghiệp của từng vùng sinh thái
và trong toàn quốc của Đỗ Đình Sâm và CS (1995) là phương pháp ứng dụngphần mềm GIS trên máy tính để xây dựng các bản đồ đánh giá tiềm năng sửdụng đất lâm nghiệp Phương pháp này cho phép lợi dụng được các thông tinsẵn có và có ý nghĩa là mang tính chiến lược và dự báo
- Tôn Thất Chiểu và Hoàng Ngọc Toàn (1980 - 1985) đã tiến hànhnghiên cứu phân hạng đất đai tổng quan trên toàn quốc, với nhiều đối tượngcây trồng, nhiều vùng chuyên canh khác nhau trên cơ sở phân hạng định lượngcủa FAO Đối tượng chính của đề tài này là đất nông nghiệp và đất đồi núi
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ban hành tiêu chuẩnngành 10 TCN 343-98 về Quy trình đánh giá đất đai phục vụ Nông nghiệp,trên cơ sở vận dụng nội dung, phương pháp đánh giá đất của FAO theo điềukiện và tiêu chuẩn cụ thể của Việt Nam
Trang 22- Kết quả điều tra tổng hợp của Viện quy hoạch thiết kế Nông nghiệpnăm 1995 đã xác định 9 vùng sinh thái nông nghiệp trên toàn quốc Phươngpháp tổng hợp là căn cứ vào 7 yếu tố và các chỉ tiêu phân cấp là: Loại đất, Độdốc, Độ dày tầng đất, Thuỷ văn mặt nước, Tưới tiêu, lượng mưa, Nhiệt độ.Mặc dù đã có sự cố gắng gộp nhóm và đơn giản hoá các yếu tố, chỉ tiêu thamgia xây dựng đơn vị đất đai, nhưng kết quả tổ hợp vẫn cho ra số lượng đơn vị
đất đai toàn quốc khá lớn Trên bản đồ tỷ lệ 1/1.000.000 toàn quốc có tới 373
đơn vị đất đai
- Vũ Cao Thái và CS năm 1989 đã nghiên cứu đánh giá phân hạng đấtTây Nguyên với cây Cao su, Cà phê, Chè và Dâu tằm Đề tài đã vận dụngphương pháp phân hạng đất đai của FAO theo kiểu định tính và hiện tại để
đánh giá khái quát tiềm năng đất đai của vùng và đã phân chia đất theo 4 hạngriêng cho từng cây trồng
- Kết quả nghiên cứu của đề tài KT 02 - 09 do Viện Quy hoạch thiết kếNông nghiệp thực hiện (1993 - 1995) đã đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội vàtác động ảnh hưởng tới môi trường đối với các loại hình sử dụng đất đai chính
ở Việt Nam và đã xác định 4 loại hình sử dụng đất chính là: Các loại hình sửdụng đất đai bền vững về kinh tế xã hội và môi trường; Loại hình sử dụng đấtkhông bền vững về kinh tế; Loại hình sử dụng đất không bền vững về môitrường; Loại hình sử dụng đất không bền vững về kinh tế và môi trường
- Trong quy trình Điều tra xây dựng bản đồ lập địa phục vụ công táctrồng rừng cho các dự án như: KfW1, KfW3, ADB, Lâm nghiệp xã hội Sông
Đà,… của Ngô Đình Quế và cộng sự đã dựa vào các yếu tố là loại đất, độ dàytầng đất, độ dốc và thực bì để xác định đơn vị đất đai
Các nghiên cứu phân hạng đất lâm nghiệp thực hiện chủ yếu đối vớimột số cây trồng quan trọng và có ý nghĩa đối với thực tiễn sản xuất Đó làcác rừng trồng Bồ đề cung cấp nguyên liệu giấy được gây trồng mạnh ở vùngtrung tâm vào những năm 1960 - 1970, rừng trồng Thông nhựa gây trồng phổ
Trang 23biến trên đất trống đồi trọc trong toàn quốc, rừng trồng Thông ba lá và một sốrừng cây đặc sản như Hồi, Quế,
Dựa trên kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa sinh trưởng và đặc
điểm đất dưới rừng trồng Bồ đề, Hoàng Xuân Tý đã đề xuất 4 tiêu chuẩn quantrọng để xác định trồng rừng Bồ đề là loại đất, độ dày tầng đất và độ thoái hoá
đất và thực bì chỉ thị Phương pháp này dễ áp dụng trong thực tế sản xuất, tuynhiên chưa dự đoán được năng suất của rừng trồng
Năm 1990 trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm đất rừng Thông nhựa, Ngô
Đình Quế cho thấy rằng yếu tố quyết định đến việc trồng rừng Thông nhựa cóthành công hay không là phản ứng của đất (pHKCl 3,5 - 5,5), độ xốp (>40%),
độ sâu tầng kết cứng (5 - 10cm) và yếu tố thực bì chỉ thị tốt nhất là tế guột dày[13]
Theo Ngô Quang Đê và Nguyễn Hữu Vĩnh (1997) [7], để phục vụ chochọn nơi trồng Lơman đã phân chia lập địa dựa vào các chỉ tiêu khí hậu, đất
đai, địa hình; W Schwanecker dựa vào các chỉ tiêu khí hậu, địa hình, đá mẹ,
đất và thực vật chỉ thị để phân chia lập địa trồng rừng Trong phạm vi mộtvùng địa lý sinh thái nhất định, các nhân tố khí hậu hầu như không có sự biến
đổi lớn, nên coi khí hậu là nhân tố đồng nhất, còn lại các nhân tố khác có sựkhác biệt tác động đến các nhân tố lập địa Trên cơ sở đó, để mô tả dạng lập
địa, xây dựng và đề xuất các tiêu chuẩn xác định lập địa trồng rừng thích hợpcần xác định và đánh giá các chỉ tiêu loại đất, độ dốc, độ dày tầng đất và quần
hệ thực vật ưu thế với tình hình sinh trưởng của cây rừng được trồng trên cácdạng lập địa đó
Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa năng suất rừng trồng công nghiệpvới điều kiện lập địa trong vùng nhất định Đỗ Đình Sâm (2001) [20] đã xâydựng và đề xuất các tiêu chuẩn xác định lập địa trồng rừng gồm: các loại đấtkhác nhau, độ dốc và kiểu địa hình, độ dày tầng đất và quần hệ thực vật ưuthế, đây là những chỉ tiêu cơ bản nhất để nghiên cứu, đánh giá điều kiện gây
Trang 24trồng cho cây rừng (Keo tai tượng, Bạch đànurophylla, ).
Ngô Đình Quế (2001) thực hiện đề tài nghiên cứu theo dõi, đánh giádiễn biến độ phì đất dưới các loại rừng kep và bạch đàn trồng thử nghiệm ở ĐáChông và Cẩm Quỳ, Ba Vì - Hà Tây Năm 2001, Vũ Tấn Phương cũng đãnghiên cứu mối quan hệ giữa sinh trưởng của Keo lai (Acacia hybrid) với một
số tính chất đất ở Ba Vì - Hà Tây
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu cây nguyên liệu giấy
2004 tại vùng Trung tâm cho thấy Keo tai tượng sinh trưởng, phát triển tốttrên những lập địa có độ dày tầng đất > 80cm, thực bì đặc trưng gồm nứa tép,cây bụi sinh trưởng từ trung bình đến tốt và sinh trưởng, phát triển kém trên
đất xấu, khô cằn Trong luận văn Thạc sỹ Lâm nghiệp (2006), tác giả TrầnSinh Lộc đã tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa tính chất đất và sinhtrưởng của cây Bời lời đỏ ở Mang Yang - Gia Lai làm cơ sở xây dựng bảngphân hạng đất trồng rừng
Như vậy, vấn đề đặt ra là muốn chọn được nơi trồng hay lập địa phùhợp, trước hết phải chọn được vùng trồng hay điều kiện gây trồng thích hợp.Trên cơ sở đó, dựa vào các yếu tố có ảnh hưởng chủ đạo nhất đến sinh trưởng
và phát triển của cây trồng để chọn nơi trồng hay lập địa phù hợp cho từngloài cây Đó là một trong những căn cứ quan trọng nhất làm cơ sở cho việcxác định các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh, tuy nhiên đây là nộidung cho đến nay ở Việt Nam còn ít được nghiên cứu cho các loài cây trồngrừng sản xuất nói chung, trong đó có Keo tai tượng
1.4.2.2 Các nghiên cứu về giống
Có một số công trình nghiên cứu chọn giống Keo tai tượng, có thể tómlược và khái quát theo giai đoạn ở một số vùng như sau:
• Giai đoạn từ 1980 - 1995: các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào khảo
nghiệm loài và xuất xứ trên các vùng sinh thái trên cả nước, cụ thể là:
- Vùng trung tâm: Keo tai tượng được đưa vào trồng thử nghiệm ở các
Trang 25tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc Qua thử nghiệm chúng đã chứng tỏsức sống cao và sinh trưởng khá nhanh Khảo nghiệm năm 1990 tại Hàm Yên
- Tuyên Quang, Phong Châu - Phú Thọ và Tam Đảo - Vĩnh Phúc cho thấy Keolá liềm sinh trưởng tốt nhất ở Hàm Yên với năng suất đạt 17,7 m3/ha/năm, tiếp
đến là Keo tai tượng đạt 12 m3/ha/năm [34] Năm 2000 đã được công nhận 3xuất xứ Pongaki, Iron Range và Cardwell là giống tiến bộ kỹ thuật [24] Trongbáo cáo xin công nhận giống tiến bộ kỹ thuật cho một số xuất xứ Keo taitượng của Trung tâm cây nguyên liệu giấy Phù Ninh tháng 4 năm 2005 chothấy ở địa điểm khảo nghiệm Hàm Yên - Tuyên Quang xuất xứ sinh trưởng cótriển vọng là Cardwell SW Cairns, Herbert River Valley thuộc vùng giữaQueenland; Iron Range thuộc vùng cực Bắc Queensland Địa điểm Phú Thọcác xuất xứ có triển vọng là Shelburne, Iron Range thuộc vùng cực BắcQueenland; xuất xứ Dimisisi, Gubam, Pongaki; Cardwell, Herbert RiverValley thuộc vùng giữa Queenland; Địa điểm Vĩnh Phúc xuất xứ có triển vọng
là Rex-Cassowary, Herbert River Valley
- Vùng đồng bằng sông Hồng: Khảo nghiệm ở Đá Chông - Ba Vì - HàTây năm 1982 với 4 xuất xứ của 4 loài Keo là Keo tai tượng (A mangium,
Daintree), Keo lá tràm (A auricuformis, Darwin), Keo lá liềm (A crassicarpa, Daintree), Keo đa thân (A aulacocarpa, Atherton area) Số liệu
sinh trưởng ở tuổi 8 cho thấy Keo tai tượng đứng đầu bảng cả về chiều cao lẫn
đường kính, cũng là loài có số thân trên cây ít nhất (92% cây có 1 thân) Tiếp
đến là khảo nghiệm năm 1990, bao gồm 39 xuất xứ của 5 loài keo, trong đó có
9 xuất xứ của Keo tai tượng Kết quả về sinh trưởng sau 4,5 năm cho thấy cácxuất xứ Pongaki, Iron Range Ingham và Gubam của Keo tai tượng có sinhtrưởng tốt nhất [14], [15], [17], [38]
- Vùng Bắc Trung Bộ: Khảo nghiệm ở Đông Hà - Quảng Trị năm 1991,bao gồm 34 xuất xứ của 5 loài keo trong đó có 7 xuất xứ của Keo tai tượng đã
được Trung tâm Khoa học sản xuất Lâm nghiệp vùng Bắc Trung Bộ trồng năm
Trang 261991 Kết quả về sinh trưởng bình quân của các loài keo khảo nghiệm sau 52tháng tuổi cho thấy, nếu theo thứ hạng của các loài khảo nghiệm thì Keo taitượng đứng thứ nhất sau đó đến Keo lá tràm và Keo lá liềm [9], [11], [17].
- Vùng Đông Nam Bộ: Khảo nghiệm xuất xứ của Keo tai tượng tại LaNgà năm 1989 và 1990 Trên cơ sở hợp tác giữa Trung tâm Nghiên cứu Giốngcây rừng và Trung tâm Khoa học kỹ thuật La Ngà, một bộ giống gồm 8 xuất
xứ Keo tai tượng đã được đưa vào thử nghiệm Các xuất xứ được đánh giá là
có triển vọng là Hawkins Creek, Bronte, Kennedy và Cardwell Tăng trưởngcủa các xuất xứ tốt đạt 3,85 m/năm về chiều cao và 4,5 cm/năm về đường kính
là kết quả rất có triển vọng cho rừng trồng Tiếp đến là khảo nghiệm xuất xứKeo tai tượng ở Sông Mây - Đồng Nai năm 1989 và 1990, Bầu Bàng-BìnhDương năm 1988 - 1989 Qua khảo nghiệm cho thấy hầu hết các xuất xứ sinhtrưởng tốt nhất là Tully Region sau đó là Cardwell ở Sông Mây, và các xuất xứKennedy, Hawkins Creek, Cardwell, Bronte, Derideri, Phongaki và PascoeRiver ở Bầu Bàng [9], [10], [11], [17]
Vùng Tây Nam Bộ: Khảo nghiệm ở Tà Pạ Tri Tôn và Núi Cấm Tịnh Biên - An Giang, một số loài keo vùng thấp và keo chịu hạn đã đượctrồng thử nghiệm vào năm 1993 Kết quả sau 8 năm trồng cho thấy hai xuất
-xứ Bamidebun của Keo lá liềm và Derideri của Keo tai tượng có sinh trưởngkhá ở An Giang [29] Kết quả này cũng rất phù hợp với kết quả mà Viện Khoahọc Lâm nghiệp Việt Nam thu được trong nhiều khảo nghiệm trên cả nước
• Giai đoạn từ 1996 - 2005: Các nghiên cứu tập trung vào chọn lọc cây
trội, xây dựng khảo nghiệm hậu thế, khảo nghiệm dòng vô tính cũng như xâydựng các rừng giống, vườn giống:
- Chọn lọc cây trội: Năm 2001 đã chọn và dẫn giống được 83 dòng Keotai tượng tại vườn giống Bình Dương, năm 2002 cũng đã chọn được 110 câytrội từ vườn giống ở Đông Hà - Quảng Trị và Ba Vì - Hà Tây Chọn lọc câytrội ở giai đoạn này chú ý nhiều về sinh trưởng chứ chưa kết hợp với các chỉ
Trang 27tiêu gỗ bị nứt hay gỗ xốp cùng một lúc để chọn lọc [25].
- Xây dựng các khảo nghiệm: Khảo nghiệm hậu thế Keo tai tượng ởCẩm Quỳ - Ba Vì năm 1993 Quần thể gốc để chọn lọc cây trội là 10ha rừngKeo tai tượng 6 tuổi được trồng năm 1986, 10 cây trội đã được chọn lọc đều
có sinh trưởng nhanh hơn quần thể gốc, dáng thân đẹp, tròn đều, không sâubệnh, đã được đưa vào khảo nghiệm Kết quả ban đầu về khảo nghiệm hậu thế
30 tháng tuổi cho thấy cây mẹ có ảnh hưởng mạnh đến sinh trưởng chiều cao
và đường kính của các cây con Hậu thế của các cây mẹ khác nhau có sinhtrưởng khác biệt nhau Kết quả khảo nghiệm này đã chọn được 5 cây mẹ chohậu thế sinh trưởng tốt
Trong các năm 1996 - 1998 dự án FORTIP về cải thiện giống cây rừng
do Trung tâm Nghiên cứu Giống cây rừng hợp tác với Khoa Lâm nghiệp vàsản phẩm rừng của CSIRO đã xây dựng được 2 vườn giống hữu tính thế hệ 1tại Ba Vì (3ha với 84 gia đình thuộc 7 xuất xứ) và Chơn Thành (3ha với 140gia đình thuộc 7 xuất xứ) [25] Cuối năm 1999 vườn giống Keo tai tượng vàKeo lá tràm ở Chơn Thành đã chọn được 50 cây trội từ 50 gia đình tốt nhất đểnhân giống bằng hom và xây dựng vườn giống gồm các dòng vô tính ưu trộitại Hàm Thuận Nam - Bình Thuận Đến năm 2001 xây dựng được 2 ha khảonghiệm dòng vô tính Keo tai tượng tại Bình Dương, năm 2002 xây dựng tiếp 2
ha gồm 100 dòng tại Quảng Bình và 2 ha gồm 72 gia đình tại Quảng Trị và HàTây để phục vụ nghiên cứu về di truyền phân tử
Một khảo nghiệm tăng thu di truyền cho Keo tai tượng cũng được xâydựng tại Ba Vì vào năm 2002 Năm 2003, đã xây dựng các khảo nghiệm dòngvô tính, các khảo nghiệm tăng thu di truyền, khảo nghiệm phục vụ cho nghiêncứu về di truyền phân tử tại Cầu Hai - Phú Thọ và Đông Hà - Quảng Trị [25]
1.4.2.3 Các nghiên cứu về kỹ thuật trồng rừng
Từ đầu những năm 1980, cùng với những loài Keo lá tràm, Keo lá
liềm,…, thì Keo tai tượng đã được nhập về trồng thử nghiệm ở nước ta Hà
Trang 28Nội và Vĩnh Phú là nơi keo tai tượng được trồng đầu tiên (Hoài Diệp, Triệu
Đắc Hào, 1990) [4] Năm 1989, nước ta mới chỉ nhập 80 kg hạt giống Keo taitượng, song đến năm 1990, lượng hạt giống được nhập đã lên tới 800 kg Hiệnnay diện tích keo tai tượng trên toàn quốc đạt trên 158.000ha, trong đó một sốtỉnh có diện tích lớn được ghi ở bảng 1.1 như sau:
Bảng 1.1: Diện tích rừng trồng Keo tai tượng của một số tỉnh
Các tỉnh vùng Tây Nguyên Lạng
Sơn 1.593 GiangHà 2.078 BìnhHòa 18.015 ThanhHoá 4.613 QuảngNam 2.390 TumKon 150Bắc
Bộ Các vùng có diện tích nhỏ là Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung
Ngay từ đầu những năm 1980, Keo tai tượng đã được coi là loài có triểnvọng nên đã được gây trồng ở nhiều nơi từ Bắc vào Nam Nhìn chung tại nhiều
điểm gây trồng ở Miền Bắc, keo tai tượng có lượng tăng trưởng bình quân đạtkhoảng 2 m/năm về chiều cao và 2,5 cm/năm về đường kính Trong khi đó ởNam Bộ, sinh trưởng của loài này vượt hơn hẳn (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1992)[14] ở La Ngà - Đồng Nai, cây 20 tháng tuổi của xuất xứ tốt nhất đạt chiều cao6,42m, bình quân 3,8 m/năm và đường kính 7,5cm, bình quân 4,5 cm/năm(Nguyễn Huy Sơn, Đặng Thịnh Triều, 2004) [21] Từ số liệu ở bảng 1.2 cho
Trang 29thấy, ở các vùng sinh thái khác nhau với nhiều dạng lập địa, Keo tai tượng vẫnsinh trưởng phát triển tốt.
Bảng 1.2: Tình hình sinh trưởng của Keo tai tượng ở một số vùng sinh
thái (Nguyễn Huy Sơn, Đặng Thịnh Triều, 2004)
Vùng Địa điểm thức trồngPhương (năm)Tuổi D1.3
Pleiku- Gia Lai Quảng canh 4 11,3 5,52 11,50 Mang Yang- Gia
Lai Thâm canh 4 10,5 11,9 21,24K’Bang- Gia Lai Quảng canh 4 10,9 14,1 19,63
ở Đồng Nơ - Bình Phước Keo tai tượng được trồng với mật độ 1100cây/ha - 1660 cây/ha, sau 7 - 8 năm tuổi có thể cho năng suất 25 - 30
m3/ha/năm (Nguyễn Huy Sơn, 2006) [23]
Giang Văn Thắng (1995) [24] đã nghiên cứu ảnh hưởng của chỉ tiêudiện tích sinh trưởng tới tăng trưởng và năng suất rừng trồng keo tại tượng tại
Đông Nam Bộ, cho thấy diện tích sinh trưởng thích hợp là 8 m2/cây, tươngứng với 1250 cây/ha và với mật độ này, keo tai tượng sẽ cho tăng trưởng và trữlượng tốt nhất
Theo Đỗ Đình Sâm và Ngô Đình Quế (1998) [19], keo tai tượng tại
Đông Nam bộ có thể đạt mức tăng trưởng 2,7 - 3,2 cm/năm về đường kính và3,0 - 3,5 m về chiều cao
Thời gian gần đây các nghiên cứu về kỹ thuật trồng rừng áp dụng choKeo tai tượng đã được thực hiện tương đối đầy đủ như nghiên cứu ảnh hưởngcủa tiêu chuẩn cây giống đến sinh trưởng của rừng trồng nguyên liệu giấy, nếu
Trang 30loại bỏ khoảng 30% cây con kém chất lượng thì năng suất tăng khoảng 20 30% và chất lượng thân cây tăng khoảng 10% Tuy nhiên, hạt giống Keo taitượng hiện nay chủ yếu do người dân thu hái và phân phối trên thị trường tự
-do, đây là nguồn giống không có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, chất lượngkhông cao do đó đây là một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất vàchất lượng của rừng trồng
Tuỳ vào điều kiện đất, loài cây trồng và phương thức trồng rừng mà đất
có thể được xử lý bằng nhiều phương pháp khác nhau Trong một số điều kiệnnhất định, đất được xử lý bằng cách cày toàn diện hoặc lên líp trước khi đào
hố Đã có một vài thí nghiệm nhằm nâng cao sản lượng rừng trồng thông quaviệc làm đất
Thí nghiệm về lên líp trồng rừng được tiến hành trên đất cát tại QuảngTrị, nơi có lượng mưa trung bình năm đạt 2200 - 2800 mm/năm và thường hay
bị ngập lụt vào mùa mưa (Nguyễn Thị Liệu, 2004) [12] Thí nghiệm được tiếnhành với keo lá tràm và keo lưỡi liềm Kết quả cho thấy sau 4,5 năm, lên líplàm tăng đường kính và chiều cao của keo lưỡi liềm ở mức có ý nghĩa, tuynhiên với keo lá tràm sự khác nhau rõ rệt chỉ xảy ra đối với đường kính Kíchthước thích hợp cho keo lưỡi liềm là cao 0,2m, rộng 4 m và cho keo lá tràm là0,2m chiều cao và 1,5m chiều rộng
Năm 2001, thí nghiệm về làm đất được tiến hành với keo lá tràm (PhạmThế Dũng và CS, 2005) [6] Sau 4 năm, chiều cao của cây trong thí nghiệm
đối chứng (không cày) tốt hơn rõ rệt so với cây trong công thức làm đất bằngcách cày toàn diện Nguyên nhân có thể trong công thức cày toàn diện đất bịrửa trôi và xói mòn Sự sai khác có ý nghĩa cũng được ghi nhận đối với tăngtrưởng đường kính thân cây và trữ lượng lâm phần
Hiện tại, hầu hết đất trồng rừng tại Việt Nam được xử lý bằng cách đào
hố sau khi xử lý thực bì Hố thường được đào trước khi trồng 1 tháng, sau đó
được lấp đầy 2/3 bằng lớp đất mặt trộn với phân để bón lót Miệng hố thường
Trang 31rộng 30 - 40 cm rộng, sâu 30 cm rộng và đáy hố thường rộng 20 cm Tuynhiên những nghiên cứu về ảnh hưởng của kích thước hố tới sinh trưởng củakeo ít hoặc chưa được xem xét đánh giá.
Nhằm nâng cao sản lượng rừng trồng, từ đầu những năm 1990 phân bón
được sử dụng phổ biến trong trồng rừng tại Việt Nam Do điều kiện khí hậu và
đất đại khác nhau giữa các vùng nên tuỳ vào loài cây trồng và đặc điểm của
đất mà phân bón được sử dụng với liều lượng và chủng loại khác nhau Cácloại phân thông thường hiện đang được sử dụng là phân NPK, đạm, lân, vôibột, phân chuồng, và phân vi sinh
Bón lót phân trước khi trồng đã làm tăng tốc độ sinh trưởng của các loàikeo Nguyễn Huy Sơn (2006) [23] đã chỉ ra rằng, sinh trưởng của keo lai tốtnhất ở công thức bón lót 200g NPK (28g N, 8g P và 10g K) và 100g phân visinh Tăng trưởng bình quân tại công thức tốt nhất đạt 36,7 m3/ha/năm so với28,8 m3/ha/năm của công thức không bón phân
Tại Quảng Trị, sinh trưởng tốt nhất của Keo lai ở công thức bón hỗnhợp 200g phân NPK (10g N, 8,73g P và 4,98g K) và 100g phân vi sinh Sau 2năm, sinh trưởng đường kính đạt 7,1 cm và chiều cao cây đạt 7,6 m, trong khi
ở ô không bón phân đường kính cây chỉ đạt 6,0 cm và chiều cao đạt 6,7 m.Tương tự, tại Thái Nguyên, sinh trưởng tốt nhất đạt được ở công thức bón hỗnhợp 100g NPK (10,0g N, 4,37g P và 2,49g K), 400g phân vi sinh và 50g vôibột (27,03g Ca) Sau 3 năm thí nghiệm, đường kính ngang ngực bình quân đạt9,4cm và chiều cao đạt 12,6 m, trong khi tại công thức không bón phân đườngkính chỉ đạt 8,2 cm và chiều cao đạt 11,2 cm (Nguyễn Huy Sơn và cộng sự,2005) [22]
Đối với Keo lá tràm, sinh trưởng tốt nhất (D = 6,6 cm, H = 6,2 m) ởcông thức bón hỗn hợp 150g NPK (24g N, 10,48g P và 9,96g K) và 300g phân
vi sinh ở ô không bón phân, sinh trưởng chiều cao và đường kính của Keo laikém hơn Trong thí nghiệm này bón lót có thể tăng từ 4,0 - 15,9% về đường
Trang 32kính và từ 2,6 - 8,5% về chiều cao [6].
Trong một thí nghiệm bón lót với keo lưỡi liềm với các loại phân khácnhau gồm phân NPK, phân lân và phân vi sinh được tiến hành tại Quảng Trịnơi có toạ độ 16,500 vĩ Bắc, 105017’’ độ kinh đông, với lượng mưa trung bình
2300 mm cho thấy rằng, sau 1 năm thí nghiệm sinh trưởng chiều cao và đườngkính của cây tại các công thức bón phân NPK và phân vi sinh cao hơn so vớicông thức chỉ bón phân lân và công thức không bón phân Tuy nhiên sau 54tháng, sự khác nhau giữa các công thức bón phân không còn khác nhau rõ rệt.Kết quả cho thấy với điều kiện môi trường tại đây, bón lót có thể ảnh hưởngtới sinh trưởng của cây ít nhất 4,5 năm [12]
Khi bón lót 100g NPK (5g N, 4,37g P và 2,49g K) cho Keo lai tạiQuảng Trị, sau một năm sinh trưởng đường kính đạt 1,8 cm và và chiều cao
đạt 2,3 m so với công thức không bón là 1,37 cm đường kính và 1,81 m chiềucao (Phạm Văn Tuấn, 2001) [28]
Một thí nghiệm về bón thúc được tiến hành với keo lai (A hybrid) tạiVĩnh Phúc Cây con được bón với lượng phân khác nhau như: (1) bón thúc23g N, 6,98g P và 24,98g K; (2) bón thúc 6,98g P; (3) bón thúc 13,97g P; (4)bón thúc 10g N, 8,73g P, và 4,98g K; và (5) không bón phân Sau 2,5 năm,chiều cao và đường kính của cây trong ô bón phân tốt hơn rõ rệt so với ôkhông bón phân Công thức 1 cho cây sinh trưởng tốt nhất (Nguyễn Đức Minh
và cộng sự, 2004) [13]
Phạm Thế Dũng và CS (2005) [6] đã tiến hành thí nghiệm bón thúctrong 3 năm cho các dòng Keo lai TB05 và TB12 Với các công thức thínghiệm gồm: Không bón phân (công thức 1); Bón phân NPK với 16g N, 6,98g
P và 6,64g K trong năm thứ nhất và năm thứ 2 Năm thứ 3 bón thúc phân NPKvới 24g N, 10,48g P và 9,96g K (công thức 2); Thời gian và liều lượng nhưcông thức 2 và thêm 500g phân vi sinh (công thức 3) Kết quả cho thấy, sinhtrưởng đường kính, chiều cao và trữ lượng lâm phần không ảnh hưởng rõ rệt
Trang 33bởi phân bón.
Sau 12 tháng bón thúc, sinh trưởng của keo lá tràm được cải thiện rõ rệt.Rừng trồng 3 tuổi có đường kính cây ở ô bón phân tăng hơn 8% so với ôkhông bón phân (Vũ Đình Hưởng và CS, 2006) [8]
Thảo luận chung:
Các công trình nghiên cứu trên thế giới đã đạt được những thành tựuquan trọng nâng cao năng suất rừng trồng, nhưng các nghiên cứu về trồngrừng thâm canh Keo tai tượng nói riêng còn rất hạn chế
ở Việt Nam, các nghiên cứu trên đã có những đóng góp nhất định trongviệc phát triển trồng rừng Keo tai tượng và tăng năng suất cho loài cây này
Đã chỉ ra được một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng trồng rừng Keo taitượng cho năng suất cao, như mật độ trồng, bón phân; những ưu thế về hiệuquả kinh tế và cải thiện môi trường của rừng trồng Keo tai tượng mang lại, Những kết quả nghiên cứu trên đây làm cơ sở cho những dẫn liệu và địnhhướng quan trọng của đề tài luận văn
Tuy đã đạt được một số kết quả nghiên cứu nhất định nhưng vẫn chưa đủcác cơ sở chắc chắn để thâm canh Keo tai tượng đạt năng suất, chất lượng cao.Vì vậy, đề tài này đặt ra nghiên cứu để xác định điều kiện thích hợp nơi trồngrừng và bước đầu thí nghiệm kỹ thuật trồng rừng thâm canh Keo tai tượng ởvùng Đông Bắc Bộ nhằm cung cấp gỗ lớn
Trang 34chương 2mục tiêu, nội dung, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được điều kiện hoàn cảnh vùng trồng rừng thích hợp và kỹthuật trồng rừng thâm canh Keo tai tượng ở Đông Bắc Bộ để cung cấp gỗ lớn
2.2 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài đặt ra các nội dung nghiên cứu là:
2.2.1 Nghiên cứu xác định điều kiện hoàn cảnh vùng trồng rừng thâm canh thích hợp cho Keo tai tượng ở Đông Bắc Bộ cung cấp gỗ lớn.
2.2.1.1 Xác định yêu cầu về điều kiện hoàn cảnh vùng trồng rừng Keo tai tượng 2.2.1.2 Phân chia mức độ thích hợp của điều kiện hoàn cảnh vùng trồng rừng
đối với keo tai tượng ở vùng Đông Bắc Bộ
2.2.2 Bước đầu nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng thâm canh Keo tai tượng ở
Đông Bắc Bộ để cung cấp gỗ lớn.
2.2.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng
2.2.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng rừng trồng
2.2.3 Nghiên cứu tỉa thưa nuôi dưỡng rừng Keo tai tượng
2.2.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ để lại sau khi tỉa thưa đến sinh trưởng
2.2.2.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của bón phân sau khi tỉa thưa đến sinh trưởng
2.2.3 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh Keo tai tượng ở Đông Bắc Bộ để cung cấp gỗ lớn.
2.3 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Keo tai tượng xuất xứ Cardwell đã được tuyển chọn và công nhận làgiống tiến bộ kỹ thuật
- Nghiên cứu chủ yếu tập trung tạo ra gỗ lớn (sản phẩm gỗ xẻ, ván sàn,
đóng đồ gia dụng, ) cho vùng Đông Bắc Bộ
Trang 352.3.2 Địa điểm nghiên cứu
- Bố trí các thí nghiệm nghiên cứu trồng rừng thâm canh Keo tai tượngtại Tiên Yên - Quảng Ninh
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm và phương pháp luận
Trong trồng rừng, để có thể nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quảcần quán triệt quan điểm cây rừng và hoàn cảnh là một thể thống nhất, quan hệmật thiết với nhau Khi điều kiện gây trồng phù hợp với đặc điểm của loài haymột giống cây cụ thể nào đó, thì loài hay giống cây đó sẽ phát huy tốt nhất khảnăng sinh trưởng và phát triển của nó Ngoài các yếu tố có tính chất tự nhiên,sinh vật học, cần chú ý khả năng tác động của con người thông qua việc chủ
động điều chỉnh các yếu tố hoàn cảnh, để giải quyết mối quan hệ giữa cây trồngvới hoàn cảnh và quan hệ giữa cây trồng với nhau tạo điều kiện thuận lợi thêmcho sinh trưởng của từng cá thể cây trồng cũng như toàn lâm phần
Theo cách tiếp cận hiện nay, để nâng cao năng suất rừng trồng có 3cách là cải thiện giống, cải thiện điều kiện gây trồng và vừa cải thiện giốngvừa cải thiện điều kiện gây trồng Một giống được cải thiện có năng suất caochỉ phát huy hiệu quả tối đa khi chúng được tiến hành gây trồng đồng bộ và liênhoàn
Từ nguyên tắc trên, để trồng rừng Keo tai tượng đạt năng suất, chất lượngcao, vấn đề cần giải quyết là chọn điều kiện gây trồng thích hợp, sử dụng giống tốt
và chọn biện pháp tác động hợp lý Trong khuôn khổ đề tài vấn đề giống chưa
được xem xét, nghiên cứu để chọn lọc mà sử dụng giống của một xuất xứCardwell đã được khảo nghiệm và đánh giá là tốt; về điều kiện gây trồng sẽ tậptrung vào vùng Đông Bắc hiện có trồng Keo tai tượng và là vùng trồng rừng kinh
tế trọng điểm; về các biện pháp lâm sinh tác động sẽ giới hạn ở một số khâu quantrọng có tính quyết định đến năng suất, chất lượng rừng trồng
Trang 36Các bước Xác định mục tiêu/ Vấn đề nghiên cứu
Điều kiên tự nhiên
- Khí hậu
- Đất đai
- Địa hình
Đặc điểm sinh trưởng của Keo tai tượng
- Đường kính
- Chiều cao
- Trữ lượng lâm phần
Xác định biện pháp kỹ thuật thâm canh rừng trồng Keo tai tượng
Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh Keo tai tượng ở vùng
2.4.2 Một số nguyên tắc chung và cách tiếp cận trong nghiên cứu
- Kế thừa có chọn lọc kết quả đã có như tổng kết, đánh giá các mô hìnhrừng trồng Keo tai tượng trong và ngoài khu vực nghiên cứu; Kế thừa giống Keotai tượng đã được khảo nghiệm đưa vào thí nghiệm
- Lấy không gian thay thế thời gian, kế thừa một số mô hình đã xâydựng phù hợp với nội dung nghiên cứu để bổ sung các thông tin cần thiết phục
vụ cho nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu sinh thái thực nghiệm, bố trí một số công thức thí nghiệmvới các biện pháp tác động khác nhau, để rút ra biện pháp thích hợp nhất Cáccông thức thí nghiệm bố trí theo nguyên tắc một sai khác và lặp lại 3 lần
- Sử dụng phương pháp điều tra khảo sát, bố trí thí nghiệm định vị ngoàihiện trường kết hợp với phân tích trong phòng để định lượng các chỉ tiêu cầnthiết Thu thập số liệu theo phương pháp điều tra lâm học thông dụng
- Xử lý số liệu theo phương pháp toán thống kê trong lâm nghiệp [26]
và chương trình phần mềm ứng dụng SPSS, Excel 7.0 và Mapinfo [27]
Sơ đồ 2.1: Khái quát quá trình nghiên cứu
Trang 372.4.3 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.4.3.1 Phương pháp xác định điều kiện hoàn cảnh vùng trồng rừng thâm canh Keo tai tượng
1) Xác định yêu cầu về điều kiện hoàn cảnh vùng trồng rừng Keo tai tượng
Yêu cầu điều kiện hoàn cảnh vùng trồng với Keo tai tượng được xác địnhtrên cơ sở các kết quả nghiên cứu về điều kiện tự nhiên như kinh độ, vĩ độ, độ cao,
đất đai nơi nguyên sản của Keo tai tượng; các kết quả nghiên cứu, đánh giá quan hệ
và mức độ thích hợp của rừng trồng Keo tai tượng với điều kiện hoàn cảnh ở các nơi
mà Keo tai tượng được gây trồng
Kế thừa các số liệu về đất, địa hình, khí hậu trong khu vực nghiên cứu Đất,thành phần nhóm đất được kết thừa thông qua Atlas các bản đồ chuyên đề,
2000, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp [1]; ngoài ra còn thu thập một
số chỉ tiêu như thành phần cơ giới, tầng đất, tính chất hoá học như chất mùn, đạm
và pHKCl Địa hình, chủ yếu sử dụng chỉ số độ cao so với mực nước biển Cácchỉ tiêu khí hậu xác định theo nhóm nhân tố xác định phần mềm Sinh khí hậuViệt Nam (Trevor H Booth and Tom Jovanovic 2002) [41] bao gồm: nhiệt độbình quân năm, nhiệt độ bình quân tháng nóng nhất, nhiệt độ bình quân thánglạnh nhất, nhiệt độ cao nhất tuyệt đối và nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối; số thángkhô và lượng mưa bình quân năm
2) Phân chia và xác định mức độ thích hợp của điều kiện hoàn cảnh vùng trồng Keo tai tượng
Trên cơ sở nội dung phân tích và kế thừa các kết quả nghiên cứu của Đỗ
Đình Sâm, Ngô Đình Quế và Vũ Tấn Phương (2005), Cẩm nang đánh giá đất phục vụ trồng rừng, NXB Khoa học Kỹ thuật về đặc điểm phân bố, sinh thái,
đánh giá sinh trưởng rừng trồng, các quy trình và hướng dẫn kỹ thuật trồngKeo tai tượng ở trong và ngoài nước để làm căn cứ phân chia mức độ thíchhợp của chúng với điều kiện gây trồng Keo tai tượng
Dựa vào 3 nhóm nhân tố ngoại cảnh chủ yếu là khí hậu, địa hình, đất
Trang 38đai để xem xét mức độ thích hợp của Keo tai tượng với ngoại cảnh Trong mỗinhóm nhân tố ngoại cảnh lựa chọn, xem xét một số nhân tố chính, có vai tròchủ đạo ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của Keo tai tượng.
Mỗi nhân tố riêng biệt trong mỗi nhóm nhân tố lập địa được xem xét,phân chia và cho điểm theo 3 mức là: Thích hợp (S1) 3 điểm, mở rộng (S2) 2
điểm và hạn chế (S3) 1 điểm
3) Xác định vùng trồng thích hợp cho Keo tai tượng
Từ kết quả phân chia trên tiến hành lập cơ sở dữ liệu phần mềm tínhtoán bản đồ sinh khí hậu - đất đai và độ cao so mực nước biển thông qua bản
đồ địa hình nền, bản đồ ranh giới hành chính theo chỉ thị 364/CT, bản đồ cácnhóm đất của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Atlas 2000
- Sử dụng thuật toán với các hàm lôgíc như if, and, or,… và sự trợ giúpcủa phần mềm Excel, Mapinfor để xác định mức độ thích hợp của điều kiệngây trồng đối với Keo tai tượng theo đơn vị nhỏ nhất là huyện đối với từngyếu tố trong các nhóm yếu tố ngoại cảnh (khí hậu, độ cao và các nhóm đất)
và lập được các bản đồ tương ứng với các nhóm yếu tố đó
- ứng dụng công nghệ GIS thông qua chương trình Mapinfor để chồngghép các bản đồ thành phần xây dựng bản đồ phân chia điều kiện hoàn cảnhvùng trồng thích hợp cho Keo tai tượng Các khu vực có nhóm nhân tố điềukiện hoàn cảnh ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của Keo tai tượng tuỳtheo mức độ trùng khít lên nhau mà xác định được diện tích theo 3 mức làthích hợp, mở rộng và hạn chế
2.4.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm trồng rừng thâm canh Keo tai tượng
Các ô thí nghiệm trồng rừng keo tai tượng được bố trí trồng ở nơi có độcao 68m so với mực nước biển; đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá granit,tầng dày trên 80cm, có phản ứng chua pHKCl = 3,6 - 3,7, còn tốt với lượngmùn khá 1,2 - 2,4%, đạm tổng số 0,075 - 0,131%, C/N = 9,8 - 10,62, P2O5 dễtiêu 2,7 - 3,4 ppm, K2O dễ tiêu 6,5 - 12,1 ppm, Ca++ trao đổi 0,41 - 0,52
Trang 39me/100g, Mg++ trao đổi 0,1 - 0,21 me/100g, thành phần cơ giới theo tỷ lệ %cấp hạt 2 -0,02, 0,02 - 0,002, < 0,002 là 20 - 26%, 43 - 45%, 30 - 34%.
Các thí nghiệm được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên đầy đủ lặp lại
từ 3 lần, dung lượng mẫu đủ lớn (n ≥ 30 cây) và có đối chứng
Một số kỹ thuật được kế thừa và sử dụng đồng nhất cho tất cả các CTTN:
+ Làm đất cục bộ, cuốc hố 50 x 50 x50cm
+ Chăm sóc năm 2 lần vào đầu và cuối mùa mưa: Phát dọn thực bì toàndiện, dãy cỏ xới đất, vun quanh gốc cây rộng 1m, tỉa cành năm đầu cho câytrồng ở đoạn thân dưới 1m, năm thứ 2 ở đoạn thân dưới 2m
Nội dung các công thức bố trí thí nghiệm định vị ngoài hiện trường cụ thể là:
1) Thí nghiệm ảnh hưởng của mật độ trồng rừng đến sinh trưởng
- Điều tra các khu vực trồng rừng Keo tai tượng hiện có với các mật độkhác nhau để đánh giá sơ bộ về ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng củaKeo tai tượng
- Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng củaKeo tai tượng gồm:
Trang 409001:2000 sản xuất tại Công ty Supe phốt phát và hóa chất Lâm Thao.
2.4.3.3 Phương pháp nghiên cứu tỉa thưa nuôi dưỡng rừng
Kế thừa mô hình 5ha rừng Keo tai tượng trồng năm 2004, mật độ trồng
2500 cây/ha, ở Tiên Yên - Quảng Ninh để bố trí các thí nghiệm nghiên cứutỉa thưa nuôi dưỡng rừng Rừng keo tai tượng được trồng ở nơi có độ cao 60m
so với mực nước biển; đất feralit vàng đỏ phát triển trên đá granit, tầng dàytrên 50cm, có phản ứng chua pHKCl= 3,6 - 3,8, mùn khá 1,0 - 2,2%, đạm tổng
số 0,054 - 0,081%, C/N = 10,98 - 15,26, P2O5 dễ tiêu 2,0 - 5,46 ppm, K2O dễtiêu 2,29 - 5,23 ppm, Ca++ trao đổi 0,21 - 0,51 me/100g, Mg++ trao đổi 0,05 -0,41 me/100g, thành phần cơ giới theo tỷ lệ % cấp hạt 2 - 0,02, 0,02 - 0,002,
< 0,002 là 38 - 57%, 22 - 30%, 20 - 30%
Bố trí các ô thí nghiệm mật độ để lại và lượng phân bón theo khối ngẫunhiên đầy đủ, 3 lần lặp lại, có bố trí ô đối chứng (không tỉa thưa và không bónphân) Cụ thể là:
Các công thức về mật độ để lại:
M0: không tỉa thưaM1: mật độ để lại 1000 cây/haM2: mật độ để lại 1500 cây/haM3: mật độ để lại 2000 cây/ha
Các công thức về bón phân:
P0: không bónP1: bón 150g NPK + 150g vi sinh/câyP2: bón 200g NPK + 100g vi sinh/câyPhân NPK sử dụng bón cho rừng thí nghiệm là phân NPK 5.10.3 ISO9001:2000 sản xuất tại Công ty Supe phốt phát và hóa chất Lâm Thao
2.4.4 Phương pháp thu thập và phân tích số liệu
2.4.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Mật độ 1100 cây/haBón 150g NPK + 150g VS