nghiên cứu quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhất là về đất.Tại các nước có nền Nông nghiệp phát triển cao như Đức, Thụy Điển,Canađa…thì công tác quy hoạch sử dụng đất đã c
Trang 1Trương ngọc tiến
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quy hoạch phát
triển vùng trồng Luồng tại huyện Ngọc Lặc
tỉnh Thanh Hoá
LUẬN VĂN THẠC Sỹ KHOA HỌC Lâm nghiệp
Hà Nội, năm 2008
Trang 2Đặt vấn đề
Trong công tác trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc cũng nhưtrồng rừng phục vụ công nghiệp và các mục đích khác, ngoài các loại cây như:Keo, Bạch đàn, Thông, Lát…Đối với tỉnh Thanh Hoá nói chung, huyện NgọcLặc nói riêng Luồng (Dendrocalamus membranaceus Munro) được xem như
là cây xoá đói giảm nghèo, tăng thêm thu nhập, tạo điều kiện cải thiện cho đờisống nhân dân miền núi và trung du tỉnh Thanh Hoá
Luồng là loài cây đa tác dụng, sinh trưởng nhanh, sản lượng cao, côngdụng rộng, nhân dân thường dùng làm các sản phẩm như rổ rá, đũa, ghế vàphục vụ cho xây dựng; Luồng là nguyên liệu giấy rất tốt vì hàm lượngxenluloza cao Nhiều năm lại đây người ta dùng tre Luồng làm, ván dăm, vánsàn…Mặt khác, giá thành và các hiệu ích khác Luồng có thể vượt xa gỗ kinh
tế Giá trị đầu tiên và to lớn nhất mà rừng đem lại cho đời sống của chúng ta làgiá trị sinh thái không thể thay thế
Luồng có khả năng quang hợp làm giảm nồng độ CO2 và tăng nồng độ O2trong không khí, điều hoà khí hậu tạo không khí trong lành Lá cây rụng xuốngkhi phân giải tạo một lượng chất hữu cơ trả lại cho đất, làm cho đất tơi xốp vàtăng độ phì nhiêu, có khả năng thấm nước tốt, giảm dòng chảy bề mặt, hạn chếxói mòn và rửa trôi đất Đồng thời, nhờ hệ rễ đặc biệt của nó mà cây Luồng đượcxem là loài cây có giá trị phòng hộ cao
Luồng có giá trị như vậy nhưng vấn đề mà chúng ta đang gặp phải khókhăn hiện tại là việc quy hoạch diện tích đất trồng sao cho phù hợp
Đối với huyện Ngọc Lặc những năm gần đây có chủ trương quy hoạch
ổn định và phát triển diện tích rừng Luồng, đó là quy họach các vùng thâmcanh trên diện tích đất trống đồi núi trọc và một số diện tích trên đất trồng câymía đạt năng suất thấp, quy hoạch các vùng sản xuất giống để cung cấp chocác tỉnh
Trang 3Chính vì những lý do trên, với hy vọng góp một phần vào công tác quyhoạch định hướng phát triển kinh tế cho huyện đồng thời cũng là một đề tài cóthể áp dụng vào thực tiễn nhằm đem laị hiệu quả, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “ Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quy hoạch phát triển vùng trồng Luồng tại huyện Ngọc Lặc tỉnh Thanh Hoá”
Trang 4Chương I Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trong quá trình tồn tại và phát triển của xã hội loài người có liên quanmật thiết đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên Trong đó có thể nói rằng đất
có vai trò rất lớn đối với sản xuất Nông – lâm nghiệp nói riêng và đối với cácngành kinh tế nói chung
Tốc độ dân số ngày càng cao đã đưa con người tới việc lạm dụng quámức giới hạn vốn có của đất đai Vào những năm đầu thế kỷ 16 thì dân số thếgiới vào khoảng 500 triệu người, nhưng đến nay dân số thế giới đã gần 6,2 tỷngười Theo báo cáo về phát triển thế giới (1993) dự đoán dân số thế giớikhoảng 8,3 tỷ người vào năm 2025 [28] Với tốc độ tăng dân số như trên chonên việc khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách ồ ạt đã làm cho nguồn tàinguyên thiên nhiên bị cạn kiệt nhanh chóng
Trước đây thế giới có khoảng 17,6 tỷ ha rừng, hiện nay chỉ còn khoảng4,1 tỷ ha rừng [21] Diện tích rừng che phủ chiếm 31,7% diện tích lục địa.Mỗi năm tính trung bình diện tích rừng nhiệt đới giảm khoảng 11 triệu ha,diện tích rừng trồng hàng năm ở các nước nhiệt đới bằng 1/10 diện tích rừng
bị mất Do nạn phá rừng diễn ra tràn lan với tốc độ lớn, cho nên hiện nay cótới 875 triệu người phải sống ở những vùng sa mạc hoá
Do xói mòn hàng năm thế giới mất đi 12 tỷ tấn đất, với lượng bị mất đinhư vậy có thể sản xuất ra 50 triệu tấn lương thực Hàng nghìn hồ chứa nước ởvùng nhiệt đới đang bị cạn dần, tuổi thọ nhiều công trình thuỷ điện vùng nhiệt
đới bị rút ngắn [22]
1.1 Vấn đề quản lý sử dụng đất trên thế giới.
Cơ sở khoa học về đất đai trải qua hàng trăm năm nghiên cứu và pháttriển, những thành tựu nghiên cứu về phân loại đất và xây dựng bản đồ đất làmcơ sở quan trọng cho việc tăng năng suất và sử dụng đất đai một cách có hiệu
Trang 5quả Tuỳ theo cách nhìn nhận về quản lý và sử dụng đất đai sao cho hợp lý đã
được nhiều tác giả khác nhau đề cập tới mức độ rộng hẹp khác nhau
Việc đưa ra một khái niệm thống nhất là một điều rất khó thực hiện, songphân tích qua khái niệm cho thấy có những điểm giống nhau, đó là dựa trênquan niệm về sự phát triển bền vững thì các hoạt động có liên quan đến đất đaiphải được xem xét một cách toàn diện và đồng thời đảm bảo một cách lâu dài
và bền vững Những nội dung chủ yếu thường được chú ý là các yếu tố về mặtkinh tế, bảo vệ môi trường, bảo vệ hệ sinh thái đa dạng sinh học và các đặc
điểm về mặt xã hội và nhân văn Quá trình phát triển của việc quản lý sử dụng
đất trên thế giới luôn gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người.Trải qua một quá trình khai thác, bóc lột lâu dài tài nguyên thiên nhiên
mà không hề nghĩ tới phục hồi và bảo vệ nó Con người chỉ biết làm sao đemlại lợi nhuận cao về kinh tế, chính vì lẽ đó mà thiên nhiên đã quay lưng lại vớixã hội loài người, thiên tai hạn hán xảy ra thường xuyên, mặt đất nóng lên vàlạnh đi thất thường Sử dụng quá nhiều chất đốt hoá thạch, các chất hoá học đãdẫn đến tầng ôzôn bị phá huỷ, hiệu ứng nhà kính xuất hiện, trái đất nóng lên,băng đá hai cực tan ra, nước biển dâng cao nhấn chìm những vùng đất venbiển, những hình ảnh đó phần nào đã làm cho con người thức tỉnh hơn Chínhvì thế những năm gần đây con người đã biết sử dụng đất bền vững, hợp lý hơn.Hiện nay, trên thế giới, các nước đang phát triển ở châu á đều có mộtthực trạng gần giống nhau, đó là nạn du canh, du cư tàn phá tài nguyên thiênnhiên, dân số tăng nhanh, nhiều vùng miền núi và nông thôn chưa tự cung, tựcấp được lương thực, thực phẩm, năng suất cây trồng vật nuôi còn thấp Tác
động của nhà nước làm thay đổi bộ mặt kinh tế văn hoá miền núi còn ít.Người dân nghèo khổ phải đi phá rừng lấy đất canh tác, khai thác tài nguyênthiên nhiên bừa bãi, nhất là tài nguyên rừng để tồn tại
Đứng trước vấn đề cấp bách đó, một loạt các nghiên cứu về mô hình sửdụng đất được ra đời Tại các nước phát triển đã có rất nhiều các công trình
Trang 6nghiên cứu quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhất là về đất.Tại các nước có nền Nông nghiệp phát triển cao như Đức, Thụy Điển,Canađa…thì công tác quy hoạch sử dụng đất đã có lịch sử từ hàng trăm năm.Những thành tựu nghiên cứu về phân loại đất, phân tích mối quan hệ giữa câytrồng với từng loại đất, xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ lập địa
được coi là cơ sở quan trọng cho việc tăng năng suất và sử dụng đất đai cóhiệu quả hơn
Từ cuối thập niên 70 của thế kỷ 20, vấn đề quy hoạch sử dụng đất có sựtham gia của người dân được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và công bố kếtquả, các phương pháp điều tra đánh giá cùng tham gia như đánh giá nhanhnông thôn (RRA), đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA).Những thử nghiệm phương pháp RRA vào thập kỷ 80 và lập kế hoạch sử dụng
đất được thực hiện trên 30 nước phát triển (Chambers 1994) [46] đã cho thấy
ưu thế của phương pháp này trong quy hoạch Wulfgen (1823) [45] đã phântích hệ thống canh tác của Đức, ông cho rằng độ phì của đất được bảo toàn tốthơn khi cân đối đầu vào và đầu ra trên mỗi diện tích canh tác Phương phápphân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất được nghiên cứu rộngrãi Một trong những nghiên cứu có giá trị đó là tài liệu hội thảo giữa Trường
Đại học Lâm nghiệp Việt Nam và Trường Tổng hợp Kỹ thuật Dresden, vấn đềquy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân đã được Holm Wibrig đềcập đến một cách khá đầy đủ và toàn diện [44]
Trong tài liệu này tác giả đã phân tích một cách đầy đủ về mối quan hệgiữa các loại công tác có liên quan như: Quy hoạch rừng, vấn đề phát triểnnông thôn, quy hoạch sử dụng đất, phân cấp hạng đất và phương pháp tiếp cậnmới trong quy hoạch sử dụng đất
Một trong những thành công cần được đề cập tới là các nhà khoa học củaTrung tâm phát triển đời sống nông thôn Basptit Mindanao Philippiness tổnghợp, hoàn thành và phát triển từ những năm 1970 đến nay Đó là mô hình kỹ
Trang 7thuật canh tác trên đất dốc SALT (Sloping Argicultural Land Technology)[33] Trải qua một thời gian dài nghiên cứu và hoàn thiện đến năm 1992 cácnhà khoa học đã cho ra đời 4 mô hình tổng hợp về kỹ thuật canh tác nôngnghiệp bền vững trên đất dốc và được các tổ chức quốc tế ghi nhận, đó là cácmô hình SALT1, SALT2, SALT3 và SALT4.
ở Inđônêxia từ năm 1972, việc chọn đất để trồng cây lâm nghiệp đều docông ty lâm nghiệp nhà nước tổ chức Nông dân được cán bộ của công tyhướng dẫn trồng cây nông nghiệp, lâm nghiệp sau khi trồng cây nông nghiệphai năm người dân bàn giao lại rừng cho công ty, sản phẩm nông nghiệp họtoàn quyền sử dụng Ngoài ra ở đây còn có mô hình lâm nghiệp “Ladang” rất
được chú ý
1.2 Vấn đề quản lý sử dụng đất ở Việt Nam.
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặcbiệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân
bố các khu vực dân cư Xây dựng các cơ sở, kinh tế – văn hoá, xã hội và anninh quốc phòng [41] Cho nên đất đai chính là một tư liệu sản xuất không cógì thay thế được Chính lẽ đó mà nước ta từ thời Pháp thuộc các nhà khoa họcPháp đã thực hiện các công trình nghiên cứu đánh giá và quy hoạch sử dụng
đất trên quy mô rộng lớn
ở Việt Nam, các vấn đề nghiên cứu đất đai, quy hoạch đất đã được bắt
đầu từ những năm 1930, sau đó hoàn thiện dần theo thời gian
Từ năm 1955 – 1975, công tác điều tra phân loại đất đã được tổng hợpmột cách có hệ thống trên phạm vi toàn Miền Bắc Nhưng đến sau năm 1975các số liệu nghiên cứu về phân loại đất mới được thống nhất cơ bản Xungquanh chủ đề phân loại đất đã có nhiều công trình khác nhau triển khai thựchiện trên các vùng sinh thái (Ngô Nhật Tiến, 1986; Đỗ Đình Sâm, 1994) Tuynhiên, những công trình nghiên cứu trên chỉ mới dừng lại ở mức độ nghiêncứu cơ bản, thiếu những đề xuất cần thiết cho việc sử dụng đất Công tác điều
Trang 8tra phân loại đã không gắn liền với công tác sử dụng đất Những thành tựu vềnghiên cứu đất đai trong những giai đoạn trên là cơ sở quan trọng góp phầnvào việc bảo vệ, cải tạo, quản lý và sử dụng đất đai một cách có hiệu quả trongcả nước.
Trong công trình “Sử dụng đất tổng hợp bền vững” của Nguyễn XuânQuát [25] đã nêu ra những điều cần biết về đất đai, phân tích tình hình sửdụng đất đai cũng như các mô hình sử dụng đất tổng hợp và bền vững, môhình khoanh nuôi và phục hồi rừng ở Việt Nam Đồng thời từng bước đã đềxuất tập đoàn cây trồng thích hợp cho các mô hình sử dụng đất tổng hợp vàbền vững
Trong công trình nghiên cứu “Đất rừng Việt Nam” [9], Nguyễn NgọcBình đã đưa ra những quan điểm nghiên cứu và phân loại đất rừng trên cơ sởnhững đặc điểm cơ bản của đất rừng Việt Nam
Có thể nói, công tác nghiên cứu về hiện trạng sử dụng đất gắn liền với hệthống canh tác ở nước ta đã được đẩy mạnh từ những năm 1995 Đáng chú ý
là ba lần kiểm kê quỹ đất của tổng cục địa chính vào năm 1978, 1985 và 1995trên cơ sở hiện trạng sử dụng đất để đề xuất chiến lược sử dụng đất đai trongphạm vi toàn quốc và các ngành có liên quan
Về luân canh tăng vụ, trồng xen, trồng gối vụ để sử dụng hợp lý đất đai
đã được nhiều tác giả Phạm Văn Chiểu (1964); Bùi Huy Đáp (1977); VũTuyên Hoàng (1987); Lê Trọng Cúc (1971); Nguyễn Trọng Bình (1987); BùiQuang Toản (1991) đề cập tới Theo các tác giả trên thì việc lựa chọn hệ thốngcây trồng phù hợp trên đất dốc là rất thiết thực đối với các vùng đồi núi dốcphía Bắc Việt Nam
Năm 1996, công trình “quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp ổn định ởvùng trung du và miền núi nước ta”, Bùi Quang Toản đã đề xuất mở rộng đấtnông nghiệp vùng đồi núi và trung du [39]
Trang 9Các tác giả Hà Quang Khải, Đặng Văn Phụ (1997) trong chương trìnhtập huấn hỗ trợ Lâm nghiệp xã hội của trường Đại học Lâm nghiệp đã đưa rakhái niệm về hệ thống sử dụng đất, đề xuất một số hệ thống và kỹ thuật sửdụng đất bền vững trong điều kiện Việt Nam [19] Trong đó, các tác giả đã đisâu phân tích.
- Quan điểm về tính bền vững
- Khái niệm tính bền vững và phát triển bền vững
- Hệ thống sử dụng đất bền vững
- Kỹ thuật sử dụng đất bền vững
- Các chỉ tiêu đánh giá tính bền vững trong các hệ thống và kỹ thuật sửdụng đất
Quan điểm hệ thống và hệ thống sử dụng đất được đề cập một cách toàndiện và đầy đủ nhất là chương trình tập huấn của FAO Trong đó, những vấn
đề sau đây đã được đề cập khá chi tiết trong bản hướng dẫn:
- Lược sử về sử dụng đất
- Khái niệm về hệ thống sử dụng đất
- Những đặc điểm của hệ thống sử dụng đất
- Đánh giá hệ thống sử dụng đất
- Một số hệ thống sử dụng đất và cách tiếp cận
Vấn đề sử dụng đất đai gắn liền với việc bảo vệ độ phì nhiêu của đất vàmôi trường ở vùng đồi trung du Bắc bộ Việt Nam đã được Lê Vi (1996) đề cậptới trên các khía cạnh sau [43]
- Tiềm năng đất vùng trung du
- Hiện trạng sử dụng đất vùng trung du
- Các kiến nghị về sử dụng đất bền vững
Nghiên cứu hệ thống canh tác ở nước ta được đẩy mạnh hơn từ sau khi
đất nước thống nhất Tổng cục địa chính đã tiến hành quy hoạch đất ba lầnvào các năm kiểm kê quỹ đất Căn cứ vào điều kiện đất đai, ngành lâm nghiệp
Trang 10đã phân chia đất đai toàn quốc thành 7 vùng sinh thái: Trung du và miền núiBắc bộ, Đồng bằng sông Hồng, Bắc trung bộ, Nam trung bộ, Tây Nguyên và
Đà Lạt, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long
Qua nghiên cứu hệ thống nông nghiệp đồng bằng sông Hồng, Đào ThếTuấn (1989) đã phát hiện được nhiều tồn tại, nguyên nhân của nó, đề xuất cácmục tiêu và giải pháp khắc phục
Phạm Chí Thành và cộng sự (1993) trên cơ sở tổng hợp các luận điểm vềcác công trình nghiên cứu trong và ngoài nước để xây dựng cuốn giáo trình hệthống nông nghiệp Ngoài phần hệ thống hoá nông nghiệp, các tác giả đã đềxuất chiến lược phát triển, dự kiến cấu trúc và thứ bậc hệ thống nông nghiệpViệt Nam gồm hệ phụ: Trồng trọt, Chăn nuôi, Chế biến, Quản lý, Lưu thông,phân phối Công trình đã hỗ trợ đắc lực cho công tác nghiên cứu nông nghiệptrên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn
Vấn đề kinh tế thị trường và quy hoạch sử dụng đất trong nền kinh tế thịtrường đã được đề cập trong công trình “phát triển và quản lý trang trại trongkinh tế thị trường” của Lê Trọng [40] Trong đó, tác giả đã đề cập tới các vấn
đề sau:
- Khái niệm về thị trường và kinh tế thị trường
- Tính phát triển tất yếu của kinh tế trang trại trong kinh tế thị trường
- Những vấn đề cơ bản về quản lý trang trại trong kinh tế thị trường
- Thực trạng về phát triển trang trại ở nước ta hiện nay và một số bài học
về quản lý trang trại trong kinh tế thị trường
Công tác quy hoạch sử dụng đất trên quy mô cả nước giai đoạn 1995 –
2000 đã được Tổng cục Địa chính xây dựng vào năm 1994 Trong đó việclập kế hoạch giao đất nông nghiệp, lâm nghiệp có rừng để sử dụng vào mục
đích khác cũng được đề cập tới Báo cáo đã đánh giá tổng quát hiện trạng sửdụng đất và định hướng phát triển đến năm 2000 làm căn cứ để các địa
Trang 11phương và các ngành thống nhất triển khai công tác quy hoạch và lập kếhoạch sử dụng đất.
Để làm rõ cơ sở cho chiến lược sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả theo quan
điểm phát triển bền vững, Nguyễn Huy Phồn [29] trong luận án phó tiến sỹkhoa học Nông nghiệp đã tiến hành đánh giá loại hình đất chủ yếu trong Nông– lâm nghiệp Trên cơ sở đánh giá một cách tương đối có hệ thống về đất đai
và hiện trạng sử dụng đất Nông – lâm nghiệp tác giả đã xây dựng các mục tiêuphát triển kinh tế và môi trường cho toàn vùng nghiên cứu [14]
Trong giai đoạn 1955 – 1975, công tác điều tra, phân loại đất đã đượctổng hợp một cách có hệ thống trên toàn Miền Bắc Nhưng mãi đến năm 1975các số liệu nghiên cứu về phân loại đất mới được thống nhất cơ bản Xungquanh chủ đề phân loại đất đã có nhiều công trình khác nhau triển khai thựchiện trên các vùng sinh thái Tuy nhiên những công trình nghiên cứu trên chỉmới dừng lại ở mức độ nghiên cứu cơ bản, thiếu những đề xuất cần thiết choviệc sử dụng đất Công tác điều tra phân loại đã không gắn liền với công tác sửdụng đất Trước đây việc quy hoạch sử dụng đất dựa vào các đơn vị hànhchính (tỉnh, huyện, xã) Quy hoạch sử dụng đất theo ngành (nông nghiệp, lâmnghiệp, thuỷ sản…) Việc quy hoạch này căn cứ vào đặc điểm tự nhiên là chủyếu, ví dụ: đất đồi có độ dốc <150 thuộc về đất canh tác nông nghiệp, đất lâmnghiệp là vùng đồi núi có độ dốc >150 Quy hoạch theo vùng sản xuất lâmnghiệp (vùng trung tâm, vùng Đông Bắc, vùng Tây Nguyên Quy hoạch theochức năng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất)
Trong giai đoạn trước năm 1993 nhìn chung quy hoạch sử dụng đất đượcthực hiện bởi tổ chuyên môn trong từng ngành Căn cứ vào định hướng pháttriển ở Trung ương có Viện Điều tra Quy hoạch rừng, ở tỉnh có các đoàn, đội
điều tra quy hoạch tiến hành quy hoạch tổng thể cấp vĩ mô Các đối tượng quyhoạch lâm nghiệp hiện nay ở nước ta gồm có:
Cấp quản lý lãnh thổ: Toàn quốc, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã
Trang 12Quy hoạch lâm nghiệp cho cấp quản lý sản xuất kinh doanh: Lâm trường,Công ty lâm nghiệp, khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, cộng đồng thôn bản,
hộ gia đình Trong tài liệu sử dụng đất tổng hợp và bền vững của tác giảNguyễn Xuân Quát [33], tác giả đã nêu ra những điều cần thiết về đất đai,phân tích tình hình sử dụng đất đai cũng như các mô hình sử dụng đất tổnghợp và bền vững, mô hình kinh doanh phục hồi rừng ở Việt Nam Đồng thờibước đầu đề xuất tập đoàn cây trồng thích hợp cho các mô hình sử dụng đấttổng hợp bền vững
1.3 Quan điểm về quy hoạch sử dụng đất; cơ sở khoa học, nguyên tắc và phương pháp đánh giá thích nghi sinh thái.
1.3.1 Quy hoạch phát triển trong hệ thống quy hoạch sử dụng đất cấp
vĩ mô.
Công tác quy hoạch sử dụng đất thường được phân chia thành các hệthống, quy hoạch theo đơn vị lãnh thổ và quy hoạch theo đơn vị kinh doanh.Trong hệ thống sử dụng đất theo đơn vị lãnh thổ, cấp thôn bản thường
được coi là cấp vi mô, nằm trong hệ thống quy hoạch sử dụng đất cấp vĩ mô làcấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh, cấp toàn quốc Như vậy việc quy hoạch phát triểncây Luồng trên địa bàn huyện Ngọc Lặc chính là quy hoạch cấp vĩ mô
Cấp vĩ mô có tầm bao quát có tính chất liên ngành, trong hệ thống sử dụng
đất nó là một cấp định hướng thống nhất cho các cấp quy hoạch sử dụng đấtthấp hơn, ( cấp vi mô)
- Cấp quốc gia: là quy hoạch cho cả nước, theo từng ngành chủ yếu là haingành chính Nông nghiệp và Lâm nghiệp, theo các vùng lãnh thổ gồm nhiềutỉnh Nhìn chung việc quy hoạch cấp Quốc gia chủ yếu các nội dung sau:
• Điều chỉnh việc quy hoạch đất đai cho phù hợp với từng giai đoạn pháttriển kinh tế xã hội của cả nước
• Điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế làm cơ sở cho việc xác địnhphương hướng, nhiệm vụ là phát triển Nông – Lâm nghiệp
Trang 13• Quy hoạch sử dụng đất cho các ngành trong toàn quốc.
- Cấp tỉnh: Quy hoạch sử dụng đất cho các ngành trong tỉnh, từ đó nghiêncứu phương hướng, nhiệm vụ phát triển của tỉnh và căn cứ vào quy hoạch củatoàn quốc xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế trong phạm vicủa tỉnh, điều chỉnh quy hoạch theo các giai đoạn cho phù hợp với sự phát triểnkinh tế của địa phương
- Cấp huyện: Nghiên cứu phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế củahuyện và căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh để xác định phương hướng,nhiệm vụ phát triển ngành Nông – Lâm nghiệp và các ngành trong phạm vi toànhuyện
Quy hoạch 5 loại đất cho các ban ngành trong huyện, căn cứ và điểu chỉnhviệc quy hoạch nói trên cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế củahuyện
1.3.2 Quy hoạch theo quan điểm hệ thống
Lý thuyết hệ thống được L.Von Bertanlanfy đề xuất vào 1923, theo ông
“Hệ thống” được hiểu như là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau
có quan hệ và tác động qua lại
Hệ thống có thể được xác định như là “một tập hợp các đối tượng hoặc cácthuộc tính, được liên kết bằng nhiều mối tương tác” [38] Nói một cách khác hệthống được hiểu như “ một cơ cấu hoàn chỉnh gồm nhiều bộ phận chức năngtạo nên một cách có tổ chức và trật tự, tồn tại và hoạt động theo những quy luậtthống nhất, tạo nên một chất lượng mới không giống tính chất của từng yếu tốhợp thành, song tuy nhiên không phải là phép cộng của một bộ phận đó” [19].Các đặc trưng cơ bản, gồm nhiều thành phần hợp thành có mối quan hệtương tác hữu cơ và phức tạp Cấu thành một chỉnh thể có tính độc lập ở mức độnhất định và có thể phân biệt nó với môi trường hoặc hệ thống khác
Tất cả những thành phần ở bên ngoài hệ thống được coi là môi trường của
hệ thống và giữa chúng có mối quan hệ tương tác
Trang 14Quan điểm của hệ thống là sự khám phá đặc điểm của đối tượng bằngcách nghiên cứu bản chất và đặc tính của các mối tác động qua lại giữa các yếu
tố Do đó tiếp cận hệ thống là con đường nghiên cứu và sử lý đối với các phức
hệ có tổ chức theo quan điểm sau:
Không chỉ nghiên cứu riêng rẽ các phần tử mà trong mối quan hệ với cácphần tử khác và chú ý tới các thuộc tính mới xuất hiện
Các hệ thống thường là hệ thống hữu ích, hoạt động của nó có thể điềukhiển được để đạt được mục tiều đã định, do đó cần kết hợp nhiều mục tiêu.Kết hợp cấu trúc và hành vi của hệ thống vì hành vi phụ thuộc một cáchxác định hoặc ngẫu nhiên vào cấu trúc
Khi nghiên cứu hệ thống trên nhiều gốc độ do tính đa cấu trúc của hệthống
- Quan điểm hệ thống đã được nhiều các nhà khoa học tiếp cận trongnghiên cứu tự nhiên, kinh tế - xã hội nhằm đẩy sự phát triển của xã hội loàingười Trong nhiều nghiên cứu về lĩnh vực Nông – Lâm nghiệp, Von wulfen(1923) đề xuất khái niệm hệ thống nông trại hay hệ thống canh tác ( Farmingsystem ) trên cơ sở coi đầu vào (Inputs), đầu ra (Outpust) của một nông trại làmột tổng thể nghiên cứu độ mầu mỡ của đất Grigg (1977) đã sử dụng các kháiniệm hệ thống nông nghiệp (Agricultural Systems) để phân kiểu nông nghiệp
và nghiên cứu sự tiến hoá của chúng
ở Việt nam những nghiên cứu về hệ thống nông lâm kết hợp đã trở thànhnội dung quan trọng trong sản xuất Nông – Lâm nghiệp trên đất dốc ở nước ta.Năm (1987) các tác giả Hoàng Hoè, Nguyễn Đình Hưởng, Nguyễn Ngọc Bình,
đã tổng kết 10 năm mô hình Nông – Lâm kết hợp của Việt Nam, công trình đãtập hợp đánh giá hiệu quả và khả năng áp dụng của các mô hình trong điều kiện
cụ thể của mỗi vùng [24] Phạm Xuân Hoàn (1994) trong chương trình giảngdạy Trường Đại học Lâm Nghiệp đã nghiên cứu và đề xuất bảng phân loại hệthống và phương thức nông lâm kết hợp, gồm 28 mô hình được tập hợp trong 8
Trang 15nhóm: Nông Lâm Ngư Súc trên điạ bàn rộng; Cây gỗ Nuôi ong; Lâm Ngư - Nông; Lâm - Ngư; Cây đa tác dụng; Nông - Lâm - Súc; Lâm - Nông;Nông - Lâm.
-1.3.3 Quy hoạch theo quan điểm bền vững
Trên quan điểm sử dụng đất bền vững, nhằm thoả mãn lợi ích trước mắtcũng như về lâu dài cho người dân trong việc cung cấp nông lâm sản cũng nhưviệc bảo vệ môi trường sinh thái, công tác quy hoạch sử dụng đất phải đượcxem xét một cách tổng hợp và toàn diện nhằm đạt được các mục tiêu:
- Đảm bảo an ninh về môi trường
- Thích ứng về mặt kinh tế - xã hội
Như vậy tính bền vững chỉ có thể đạt được khi mà các hoạt động sản xuất
đem lại hiệu quả kinh tế cao và ổn định, được xã hôị chấp nhận, đồng thời duytrì được sự bền vững về mặt môi trường và sự cân bằng về mặt sinh thái [19].Chỉ tiêu cụ thể của tính bền vững được biểu thị trên các mặt sau:
- Khả năng duy trì được sự cân bằng dinh dưỡng trong đất
- Sử dụng các tập đoàn cây đa mục đích và cây cố định đạm
- Xây dựng các mô hình tổng hợp về các hệ thống, kỹ thuật canh tác trên
đất dốc, trên cơ sở có ngươì dân cộng đồng tham gia
- áp dụng linh hoạt các phương thức nông lâm kết hợp trên từng vùng sinhthái khác nhau
- Thu hút được đông đảo lực lượng lao động trong cộng đồng tham gia.Trên địa bàn các vùng nông thôn niềm núi vấn đề cốt lõi cho sự phát triển bềnvững là đề xuất được hệ thống sử dụng đất bền vững trên cơ sở những hệ thống
sử dụng đất Nông – Lâm nghiệp một cách hợp lý
Tuy nhiên các hệ thống sử dụng đất chủ yếu dựa trên cơ sở sử dụng đấtphải bảo đảm tính đa dạng và khả năng sinh lợi của các nguồn tài nguyên, đápứng được nhu cầu hiện tại và cung cấp cho tương lai Hệ thống sử dụng đất bềnvững phải bao gồm các đặc trưng sau:
Trang 16- Giải quyết được các vấn đề đặt ra cho mọi người ở từng địa phương, từnglàng bản, từng hộ gia đình, trong phạm vi cả nước hoặc toàn cầu.
- Tổng hợp các kiến thức bản địa các hiểu biết truyền thống với khoa họchiện đại và vận dụng thích hợp cho từng nơi
- Coi các hệ thống thiên nhiên làm mẫu chuẩn để bắt trước và hành độngmột cách hoà hợp với thiên nhiên, từ đó xây dựng các mô hình canh tác bềnvững thông qua kinh nghiệm tích luỹ được trong quá trình sản xuất
- Tạo lập được các mô hình định canh lâu bền bằng việc xây dựng phù hợpvới điều kiện sinh thái từng vùng
* Một số nguyên tắc cơ bản trong hệ thống sử dụng đất bền vững.
- Đa ngành: Đa dạng hoá các loại hình sản xuất, các chế độ canh tác, các
chủng loại sản phẩm và các loại hình sinh thái
- Liên ngành: Kết hợp nhiều ngành nghề nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn
nuôi, thuỷ sản, thương mại, dịch vu, thông tin tiếp thị
Ngăn ngừa các biến động tiêu cực đến môi trường, những rủi ro, nạn ônhiễm và sự suy thoái của nó
Sử dụng các động thực vật hoang dã, các loài cây bản địa, cây quý hiếm,cây đa mục đích, cây đa tác dụng
Tận dụng hết tài nguyên đất, nước, năng lượng sinh học, làm cho nó đượcbảo toàn, tái tạo tự nhiên, tự điều chỉnh và tự tái sinh
Sử dụng đất theo quy mô nhỏ để thâm canh có hiệu quả, được quản lýchăm sóc, bảo vệ và phục hồi
Để đánh giá mức độ sử dụng đất bền vững có thể sử dụng các chỉ tiêu khácnhau và đây là một số chỉ tiêu thường vận dụng:
- Kiểm soát được xói mòn, có kỹ thuật phòng chống xói mòn duy trì vàbảo vệ độ phì của đất làm tăng năng xuất cây trồng
- Giữ được nước và quỹ đất, đa dạng sinh học, tạo ra nhiều loại sản phẩm
Trang 17- Không gây ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất, các rừng phòng hộ,cộng đồng người dân sinh sống, nâng cao ý thức tự nguyện tự giác của ngườidân, không có sự áp đặt từ các bên.
Để thoả mãn những nguyên tắc và yêu cầu trên, các hệ thống sử dụng đấtphải sử dụng đồng thời nhiều biện pháp khác nhau, trong đó cần chú trọng
- áp dụng các biện pháp sử dụng đất tổng hợp, kết hợp nhiều loại câytrồng mô hình Nông – Lâm kết hợp, vật nuôi để tận dụng hết tiềm năng của đất,
mở rộng nhiều ngành nghề để tận dụng được nhiều lao động trong khi sử dụng
đất, đồng thời ứng dụng kỹ thuật Nông - Lâm kết hợp để vừa có thu nhập trướcmắt, vừa có thu nhập lâu dài và đất đại được cải thiện tốt hơn
- Thực hiện các kỹ thuật canh tác tổng hợp thông qua việc lựa chọn cácloài cây, con tốt phù hợp với điều kiện từng vùng, sử dụng các biện pháp kỹthuật thâm canh bằng các biện pháp Sinh học, Nông học, Lâm học để cân bằngchất dinh dưỡng và duy trì độ phì của đất
Ngoài ra ở Việt Nam mô hình VAC, mô hình luân canh rừng, rẫy và bãichăn thả là những mô hình Nông - Lâm - Súc kết hợp đơn giản nhưng mang lạihiệu quả kinh tế cao cho người dân
Đây là những quan điểm về phát triển bền vững, hệ thống sử dụng đất bềnvững, những biện pháp kỹ thuật sử dụng đất và những chỉ tiêu đánh giá tính bềnvững trong các hệ thống sử dụng đất là cơ sở quan trọng để lựa chọn cơ cấu câytrồng, vật nuôi cũng như các biện pháp kinh tế, kỹ thuật áp dụng cụ thể phù hợpvới điều kiện của mỗi vùng, mỗi địa phương trong quy hoạch sử dụng đất vàphát triển sản xuất Nông – Lâm nghiệp trên cơ sở xây dựng hệ thống sử dụng
đất bền vững
Như vậy việc lựa chọn cây Luồng là biện pháp trồng rừng hữu hiệu củahuyện Ngọc Lặc nói riêng và tỉnh Thanh Hoá nói chung, nhằm đáp ứng quan
điểm phát triển bền vững và hệ thống sử dụng đất bền vững lâu dài
1.3.4 Cơ sở khoa học, nguyên tắc và phương pháp đánh giá
Trang 18a, Cơ sở khoa học của việc đánh giá
Quy hoạch định hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ nhằm đạt được năng xuấtsinh học cũng như đạt hiệu quả kinh tế cao nhất cần dựa trên kết quả nghiêncứu các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên một cách tổng hợp Trước
đây khi đánh giá mức độ phù hợp của lãnh thổ nhằm định hướng một cách độclập, một số ít nghiên cứu của một vài hợp phần vối tư cách là phân tích nhân tốtrội, phần lớn các quy hoạch lãnh thổ cho việc phát triển nông nghiệp thườngchỉ dựa trên các kết quả nghiên cứu đất và thêm một số nhân tố phù trợ như, địahình nguồn nước do đó, một số dự án, chương trình và mô hình phát triển mặc
dù đầu tư rất lớn nhưng hiệu quả kinh tế không cao thậm chí còn thất bại dothiếu sự nghiên cứu, đánh giá tổng hợp và đồng bộ các điều kiện tự nhiên, kinh
tế – xã hội
Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên cho mục
đích sử dụng hợp lý lãnh thổ đã được nghiên cứu và áp dụng ở nhiều nước tiêntiến, đặc biệt là Liên xô cũ
Hiện nay ở Việt Nam hướng nghiên cứu đánh giá thích nghi sinh thái đang
được sử dụng như một công cụ mạnh trong đánh giá, quy hoạch lãnh thổ phục
vụ phát triển kinh tế xã hội bền vững dựa trên nguyên tắc sử dụng tối ưu các đặc
điểm sinh thái của các đơn vị đất và thiết lập các quan hệ hài hoà giữa conngười với môi trường, đáp ứng thích nghi cả tự nhiên và nhân văn như tập quánsản xuất, trình độ lao động, lợi nhuận kinh tế và bền vững về cải tạo môi trường
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là một hệ thống hoàn chỉnhmỗi đơn vị lãnh thổ được tạo thành do các mối quan hệ tương hỗ rất phức tạpgiữa hai vật chất sống (hữu sinh) và không sống (vô sinh) của lớp vỏ địa lý đượcvận hành thông qua dòng vật chất và năng lượng Một trong những tính chất cơbản của đơn vị đất tự nhiên là sự đồng nhất về nguồn gốc tạo thành, về cấu trúcbên trong và biểu hiện bên ngoài của chúng, tính đồng nhất của mỗi đơn vịkhông phụ thuộc vào quy mô diện tích của nó, điều này có một ý nghĩa quan
Trang 19trọng trong khi xác định tiềm năng tự nhiên cũng như khả năng khai thác kinh
tế của từng đơn vị đất đai đồng thời giúp cho việc định hướng sử dụng hợp lýlãnh thổ trên nó
Như vậy đơn vị đất là đối tượng cơ sở của việc nghiên cứu lãnh thổ tựnhiên và tài nguyên thiên nhiên, đồng thời là đơn vị lãnh thổ phát triển kinh tếcũng như phương hướng sử dụng hợp lý và tái tạo tài nguyên thiên nhiên Khinghiên cứu đánh giá tiềm năng tự nhiên phải xem xét mối quan hệ với cácthành phần khác, chúng phải được đánh giá trong phạm vi giới hạn về mặt lãnhthổ như một cấp đơn vị không gian làm đơn vị cơ sở cho việc đánh giá
b, Nguyên tắc và phương pháp đánh giá
Đánh giá thích nghi sinh thái cho phép xác định được tiềm năng tự nhiêntrong mối quan hệ chặt chẽ với các thể chế chính sách cũng như trình độ nhậnthức khoa học – kỹ thuật của xã hội được biểu hiện qua quá trình khai thác tàinguyên lãnh thổ Nội dung đánh giá thích nghi sinh thái bao gồm lý thuyếtchung và phương pháp tiến hành, đồng thời phải xác định đối tượng, mục đích
và nội dung nghiên cứu trong đánh giá, đánh giá thích nghi sinh thái là cơ sởkhoa học quan trọng trong công tác đánh giá tổng hợp các điều kịên tự nhiên vàtài nguyên thiên nhiên
Việc đánh giá mức độ thích nghi là cơ sở để đánh giá hiệu quả về mặtkinh tế - xã hội - môi trường và là tiền đề cho định hướng sử dụng hợp lý lãnhthổ, có rất nhiều phương pháp đánh giá khác nhau được sử dụng rộng rãi tronggiai đoạn hiện nay, bao gồm; phương pháp cộng, phương pháp trung bình cộng,phương pháp trung bình nhân các điểm thành phần (Armand 1984) phươngpháp phân tích nhân tố (Xerbenhiuk X N 1972), phương pháp đánh giá thíchnghi của FAO (1986) và phương pháp đánh giá cảnh quan Để xác định đơn vịcơ sở đánh giá phải xen xét các yếu tố có liên quan trực tiếp đến chất lượng vàkhả năng sử dụng tài nguyên, phân cấp chỉ tiêu theo mức độ ảnh hưởng đến quátrìng sử dụng Việc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá phải tuân thủ các nguyên tắc
Trang 20- Các chỉ tiêu đánh giá phải có sự phân hoá rõ rệt trong lãnh thổ tỷ lệnghiên cứu, đây là nguyên tắc rất cần thiết bởi có nhiều yếu tố quan trọngnhưng không phân hoá theo lãnh thổ thì việc chọn yếu tố này để đánh giá chotất cả các đơn vị sẽ không đánh giá được mức độ thuận lợi hay không thuận lợicủa từng đơn vị lãnh thổ
- Các chỉ tiêu đánh giá phải ảnh hưởng một cách mạnh mẽ đến quá trìnhsinh trưởng và phát triển của khách thể cần đánh giá
- Số lượng các chỉ tiêu được lựa chọn và phân cấp đánh giá có thể nhiềuhay ít khác nhau giữa loại hình sản xuất và nhu cầu sinh thái cụ thể của từngloại hình sử dụng, ngoài ra còn tuỳ thuộc vào đặc điểm phân hoá của lãnh thổ
và mục tiêu nghiên cứu để lựa chọn
Trên địa bàn của huyện Ngọc Lặc, đánh giá thích nghi sinh thái đối vớicây Luồng bằng các phương pháp, phân theo các loại đất; Xác định đối tượng
và mục tiêu đánh giá - Đánh giá riêng cho từng chỉ tiêu - Đánh giá tổng hợp –phân hạng sự thích nghi sinh thái
1.4 Đặc tính sinh vật học, sinh thái học, phân bố của cây Luồng và những nghiên cứu về cây Luồng ở Việt Nam.
1.4.1 Đặc tính sinh vật học cây Luồng [7]
a, Đặc tính sinh vật học:
* Các bộ phận của cây Luồng: Luồng (Dendrocalamus membranaceus
Munro), nhìn hình dáng bên ngoài có thể chia cây Luồng ra làm ba phần:
- Thân cây là bộ phận chính của cây Luồng, cây mọc thành bụi, thân khísinh thẳng, thân cây tròn đều dài từ mặt đất đến ngọn, thân dài ngắn to nhỏkhác nhau
Cây Luồng có chiều cao tới 20 - 25cm, lóng dài 20 – 30cm, đường kính
12 – 18cm, các đốt gần gốc thường có vòng rễ phụ phát triển, độ thon của thâncây Luồng giảm dần từ gốc đến ngọn Thân cây chia làm nhiều đốt, giới hạngiữa hai đốt là gióng Màu sắc của thân (da cây Luồng) thay đổi khác nhau,
Trang 21thân cây non khoảng 1-2 tuổi có màu xanh nhạt, bóng và có phấn hơi trắng ởgần các đốt, thân cây 3-4 tuổi có màu xanh xẫm hơn, thân cây trên 4 tuổi cómàu xám trên thân có rêu mốc (rêu đá).
+ Rễ: Rễ Luồng là rễ chùm, phát sinh từ các đốt ở gốc xếp thành tầngbao quanh gốc
+ Cẳng Luồng: Là chỗ nối tiếp của đoạn dưới phần gốc với cây mẹ, cẳngkhác gốc cây Luồng
- Cành Luồng: Cành phát sinh từ các đốt trên phần chính của thân cây,trên mỗi đốt có phát sinh cành Cành cũng có nhiều đốt và gióng, trên câyLuồng còn có lá Luồng và mo Luồng
- Lá Luồng: Lá hình thành thuỗn dài có mũi nhọn mặt trên xanh thẳm,mặt dưới xanh nhạt, trên phiến lá có những đường gân nổi
- Mo Luồng: Từ khi mầm bắt đầu hình thành từ gốc mẹ thì mo Luồngcũng bắt đầu hình thành đến khi măng đã phát triển thành cây Luồng thì morụng hoàn toàn Có hai loại: (mo ở thân và mo ở cành); Lá mo nhỏ hình tamgiác dài đầu, lá mo tù gập ngược về phía bệ mo
- Hoa Luồng: Hoa lưỡng tính mẫu hoa 3, hoa tự bông chét viên chuỳ mọc
ở đầu cành nhỏ, quả đính hình trái xoan dài 0,5 – 0,6cm
b, Quá trình phát triển của cây Luồng
- Thời kỳ thành mầm và đâm măng
Ngay từ khi măng bắt đầu phát triển thì trên mỗi đốt của bộ phận củ đãhình thành mầm Mầm ngủ đúng một năm, đến thời vụ đẻ măng năm sau mầm
Trang 22mới phát triển thành cây non Thời vụ đâm măng ta thường gọi là thời vụ đẻmăng của Luồng Luồng đẻ măng vào hai vụ: Vụ vào tháng 5 và vụ từ tháng 8.
Vụ tháng 8 (gọi là măng rươi) Măng mọc đến đầu tháng 7 là bị thui cho hếttháng 7
- Thời kỳ nảy lá đâm cành
Khi măng đã đạt được chiều cao tối đa, một vài lá ở ngọn nảy lá trướctiên, sau đó từ các đốt của thân mầm cũng phát triển thành cành và từ các đốtcủa cành cũng bắt đầu nảy lá ngay
- Thời kỳ hình thành mo và rụng mo
Khi mầm hình thành thì mo cũng hình thành theo để bảo vệ mầm Trongquá trình phát triển của măng chiều rộng của mo không thay đổi, chiều dàicủa mo phát triển theo chiều dài của gióng Luồng
- Tốc độ tăng trưởng chiều cao của Luồng
Tăng trưởng của chiều cao măng không đồng đều Khi măng thấp hơn50-60cm mỗi ngày tăng thêm chiều cao 10cm Trên 60cm tốc độ tăng trưởngvượt lên mỗi ngày cao thêm 20-30cm, đặc biệt có ngày cao 60-70cm và sau đóchiều cao tăng dần tốc độ tăng trưởng lại chậm lại và thấp hơn lúc chiều cao50-60cm Chiều cao cây Luồng tăng cả ban ngày lẫn ban đêm Về ban đêmtốc độ tăng trưởng lớn hơn ban ngày từ 20-30%
Trang 23Bảng 2- 2 Biểu tốc độ tăng trưỏng chiều cao của Luồng
Loại rừng Tháng mọc Tăng trưởng trung bình (cm ) Ghi chú
Ban ngày Ban đêm
1.4.2 Đặc tính sinh thái và phân bố của cây Luồng [7]
Cây Luồng có nguồn gốc là phân bố tự nhiên ở Việt Nam và mọc tựnhiên ven sông mã Thanh Hoá Những năm gần đây Luồng đã được gây trồngthành công ở nhiều nơi như Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên, Hoà Bình, TuyênQuang, Bắc Cạn, Lạng Sơn…và một số tỉnh ở Đông Nam Bộ, kết quả gâytrồng cho thấy biên độ sinh thái của cây Luồng khá rộng, điều kiện tự nhiên
để gây trồng Luồng là:
1.4.2.1 Đặc điểm khí hậu vùng trồng Luồng
Luồng ưa khí hậu nóng ẩm, một năm có 2 mùa rõ rệt, lượng mưa từ 1600
- 2000mm tập trung vào tháng 4 đến tháng 10 (phù hợp với quy luật sinhmăng của Luồng) Nhiệt độ trung bình năm từ 23 – 250C, độ ẩm không khí từ
80 – 90% và phát triển tốt trên những vùng đất có địa hình bằng phẳng, đồithấp, đồi bát úp, độ dốc tối đa < 30o Độ cao < 500m so với mặt nước biển.1.4.2.2 Đặc điểm đá mẹ, đất trồng Luồng
Luồng sinh trưởng và phát triển tốt ở những nơi còn tính chất đất rừng,tầng đất còn dày, xốp, ẩm, nhất là những nơi vùng đất ven đồi, ven suối, vensông, đất thoát nước tốt
Đất thích hợp cho sinh trưởng và phát triển tốt là các loại đất Feralit pháttriển trên đá biến chất như Bazan, poocphiarit; đá macma như phylit, phiến
Trang 24thạch micasit hoặc trên phù sa cổ Có thành phần cơ giới từ sét nặng đếntrung bình Sinh trưởng của Luồng phụ thuộc vào độ sâu tầng đất, đất quámỏng < 25cm sinh trưởng kém, Luồng thích hợp nhất với đất có độ dày
>50cm và ở điều kiện này độ sâu tầng đất càng dày sinh trưởng cành nhanh;tuy nhiên hàm lượng đá lẫn trong đất không quá 30% tầng đất mặt; độ chuathường từ kiềm đến trung tính (PH từ 3,8 – 7)
Tóm lại: Với đặc tính sinh vật học, sinh thái học và phân bố của câyLuồng và đặc điểm về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu chúng ta thấycây Luồng xuất hiện tại Ngọc Lặc là phù hợp và thích ứng tốt với điều kiện tựnhiên – kinh tế xã hôi, nhân văn
1.4.3 Những nghiên cứu về cây Luồng ở Việt Nam.
Cây Luồng là một trong những đối tượng được nhiều nhà nghiên cứutrong nước chú ý đến, theo tài liệu đến năm 1993 diện tích rừng trồng tre nứa
ở Việt Nam chiếm 11,4% tổng diện tích rừng trồng (Viện khoa học Lâmnghiệp Việt Nam, nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội năm 1994)
Trong số 92 loài tre trúc chỉ có 5 loài: Tre (Bambusoideae); Vầu(Bambusaccas sp); Trúc (Arandinaria Spathilora); Luồng (Dendrocalamusmembranaceus Munro); Diễn (Dendrocalamus latiflonus Munro); với nămtrong 92 loài mà chiếm diện tích như trên đủ nói lên tầm quan trọng của tretrúc hiện nay Việc tiến hành nghiên cứu đối tượng này ở Việt Nam đã bắt đầu
từ những năm 60 của thế kỷ 20, trong đó đặc biệt tập trung nghiên cứu câyLuồng Thanh Hoá, cho đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về tre nứa
được công bố và chia thành các nhóm sau:
Nghiên cứu điều tra hiện trạng: Có các tác giả như Phạm Văn Tích Viện nghiên cứu Lâm nghiệp - Hà Nội năm 1963; Hoàng Xuân Tý – TS.Lâmnghiệp (5/1972); Phong Sơn - TS.Lâm nghiệp (8/1976); Nguyễn Ngọc Bình -Viện nghiên cứu Lâm nghiệp; Vũ Văn Dũng (10/1975); Trịnh Đức Trình -Nguyễn Thị Hạnh (1986 - 1990); Trần Nguyên Giảng – Lưu Phạm Hành
Trang 25-(1976 - 1980)…Các kết quả nghiên cứu rất đa dạng, chủ yếu công bố các kếtquả về loài, mật độ trữ lượng cây họ tre nứa, tình hình sản xuất và phát triểntre nứa tại các địa phương.
- Các nghiên cứu về tính chất cơ lý, đặc tính sinh học, sinh thái học, tìnhhình sinh trưởng và phát triển của một số loài tre trúc trên các điều kiện đất
đai khác nhau sự tác động của tre trúc đến đất đai, phương pháp nhân giốngsinh dưỡng của Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam và Trạm nghiên cứu lâmnghiệp Thanh Hoá thực hiện từ những năm đầu thập kỷ 60 đến nay đã chỉ ramột số quy luật phát sinh của rừng tre trúc, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất giốngtre trúc cho năng suất cao
- Các công trình nghiên cứu về sinh trưởng, lập biểu sản lượng, biểu cấp
đất cho rừng Luồng cũng như một số loài tre trúc khác của Trường Đại họcLâm nghiệp và Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn trong nhiều năm qua
đã góp phần không nhỏ tạo cơ sở khoa học cho việc đánh giá khả năng sinhtrưởng, xây dựng các quy trình, quy phạm kỹ thuật cho quy hoạch kinh doanhrừng tre trúc
- Biện pháp chăm sóc khai thác rừng Luồng (1984 - 1987) Kỹ Sư NguyễnThị The
- Nghiên cứu về giống: Có các tác giả như: Nguyễn Như Mềnh – TS Lâmnghiệp (3/1974); Hoàng Văn Thường Viện nghiên cứu lâm nghiệp; Lê QuangLiên và các cộng sự – Bộ lâm nghiệp (NXBNN - 1980); Nhóm tác giả -(NXBNN - 1994); Nguyễn Lai – TS Lâm nghiệp (4/1996); Dự án “Nhânnhanh một số loài tre trúc tại trạm nghiên cứu Lâm nghiệp Thanh Hoá (2000 -2003)” của KS – Lê Ngọc Hạnh; Nghiên cứu tạo giống của Trạm nghiên cứulâm nghiệp Thanh Hoá đã được tặng huy chương vàng tại hội chợ KTKT lầnthứ nhất tại Hà Nội;…Các tài liệu này giới thiệu về các hình thức sản xuấtgiống và kỹ thuật nhân nhanh một số giống có triển vọng…
Trang 26- Kết quả điều tra khái quát về ngành sản xuất tre trúc ở tỉnh Thanh Hoá,Việt Nam (CIDA - 2000) đã đề cập đến nguồn tài nguyên tre trúc của ThanhHoá, tình hình quy hoạch quản lý, kinh doanh rừng từ đó chỉ ra một số trởngại trong quá trình quy hoạch quản lý và kinh doanh cũng như sự bất cập củachính sách trong quá trình phân chia và xác định các chủ quyền quản lý tàinguyên vẫn chưa rõ ràng, thông tin thị trường còn hạn chế, công nghệ khaithác bảo quản chế biến các sản phẩm còn lạc hậu dẫn đến khả năng cạnh tranhtrên thị trường không cao.
1.5 Về cây Luồng của Thanh Hoá
* Diện tích: Thanh Hoá là tỉnh có diện tích rừng Luồng lớn nhất cả nước
có 69.037 ha rừng Luồng trong số 83.700 ha rừng trồng
- Luồng trong rừng đặc dụng: 30 ha, chiếm 0,044%
- Luồng trong rừng phòng hộ: 3855,66 ha, chiếm 5,58%
- Luồng trong rừng sản xuất: 65.151,50 ha, chiếm 94, 37%
Diện tích rừng Luồng Thanh Hóa nằm chủ yếu ở rừng sản xuất và rừng phònghộ; Luồng thuần loài 62.374,43 ha, Luồng hỗn giao 6.662,73 ha;[12] diện tích rừngLuồng giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, tức là giảm dần theo độ cao tuyệt
đối, sự phân bố này hoàn toàn phù hợp với đặc tính sinh thái của cây Luồng
Diện tích rừng Luồng phân theo cấp tuổi: cấp tuổi I là 3.997,4ha; cấp tuổi II là10.192,622 ha; cấp tuổi III là 27.688,27 ha; cấp tuổi IV là 23.606,23 ha; cấp tuổi V
là 3.552,58 ha[12] Thống kê trên cho thấy Luồng Thanh Hoá có sự phát triển liêntục và có sự kế thừa tự nhiên của các cấp tuổi, trong đó diện tích rừng có cấp tuổitrung bình và non chiếm ưu thế, như vậy Luồng Thanh Hoá đang trong độ tuổi cungcấp sản phẩm tối đa nhất
Trong kế hoạch thực hiện chương trình 5 triệu ha rừng ở Thanh Hoá câyLuồng có một vị trí quan trọng chiếm 6% diện tích (300.000ha) Thanh Hoácũng là nơi sản xuất cung cấp giống Luồng cho nhu cầu trong cả nước
Trang 27* Sinh trưởng phát triển: Do đặc điểm về điều kiện tự nhiên của Thanh Hoá rấtphù hợp với đặc tính sinh thái cây Luồng, do vậy Luồng sinh trưởng và phát triển rấttốt Mặt khác do tình trạng khai thác không hợp lý dẫn đến diện tích rừng Luồng
đang giảm nhanh về phẩm chất và trữ lượng
- Số liệu so sánh về phẩm chất cây Luồng qua các chỉ tiêu (đường kính gốc,chiều dài sử dụng, chiều dài vách, chỉ số hình thân, trọng lượng cây Luồng) từ giai
đoạn (1773 – 1983) và hiện nay cho thấy tất cả các chỉ tiêu đều giảm mạnh, do đóphẩm chất cây Luồng giảm sút đáng kể
- Về trữ lượng: rừng Luồng toàn tỉnh có 3 loại; Rừng có độ che phủ >70% trữlượng là 70.785.640 cây, rừng có độ che phủ từ 40-70% là 27.231.552 cây, rừng có
độ che phủ < 40% là 3.473.370 cây Sản lượng bình quân hàng năm là 12 triệucây bình quân 500 cây/ ha Lượng khai thác hợp lý 9,6 triệu cây/năm, nhưng hiệnnay lượng khai thác thực tế 15 triệu cây/năm, việc khai thác lạm dụng là nhữngnguyên nhân cơ bản dẫn tới suy thoái rừng Luồng
Cây Luồng là nguồn thu nhập lớn hiện nay của người dân các dân tộcmiền núi tỉnh Thanh Hoá Những năm gần đây Thanh Hoá có chủ trương ổn
định và phát triển diện tích rừng Luồng bằng cách thâm canh để có đủ nguyênliệu cung cấp cho nhà máy giấy Châu Lộc - Hậu Lộc Nhưng từ trước đến naynhân dân chỉ tiến hành theo phương thức quảng canh mà không nghĩ đến thâmcanh Trồng một lần mà khai thác nhiều lần nhưng không có đầu tư trở lại.Hiện nay ở nhiều nơi rừng chỉ còn hai hay thậm chí có một thế hệ, bình quân
3 - 4 cây/ bụi, đường kính 3 - 4cm, lác đác có bụi còn cây đường kính 7cm
điều này đã dẫn đến chất lượng rừng Luồng bị suy giảm nghiêm trọng, tỷ lệrừng Luồng bị suy thoái chiếm tới 80% diện tích Luồng hiện có Do tính cấpthiết của sự suy thoái rừng Luồng hiện nay, ngành lâm nghiệp Thanh Hoá đã tổchức rất nhiều mô hình sử dụng bền vững rừng Luồng nhằm duy trì và phục trángrừng Luồng mang lại hiệu quả cao nhất
Trang 28Chương II
mục tiêu - đối tượng – nội dung phương pháp nghiên cứu 2.1 Mục tiêu nghiên cứu:
- Về lý luận: Góp phần nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn phát triểnvùng trồng Luồng tại huyện Ngọc Lặc tỉnh Thanh Hoá
- Về thực tiễn: Trên cơ sở nghiên cứu điều kiện thực tiễn ở địa phương
đưa ra được phương án quy hoạch phát triển vùng trồng Luồng tại huyện NgọcLặc tỉnh Thanh Hoá
- Giải quyết việc làm tăng thu nhập cho người dân trong vùng quy hoạch.Thúc đẩy nghề rừng nhằm phát triển ổn định lâu dài góp phần xoá đói giảmnghèo, ổn định đời sống cho đồng bào các dân tộc làm nghề rừng trên địa bànhuyện Ngọc Lặc
2.2 Đối tượng và phạm vi giới hạn nghiên cứu:
Đề tài lựa chọn đối tượng nghiện cứu là huyện Ngọc Lặc tỉnh ThanhHoá, đây là một huyện miền núi có nhiều thành phần dân tộc khác nhau,người dân sống chủ yếu bằng nghề trồng cây nông nghiệp và lâm nghiệp, câylâm nghiệp thế mạnh của huyện là cây Luồng
Do thời gian có hạn nên đề tài chỉ tập trung giải quyết một số vấn đề sau:
- Trên cơ sở đặc tính sinh vật học, sinh thái học của cây Luồng và tiềmnăng sinh thái, đất đai của khu vực nghiên cứu, tiến hành đánh giá thích nghiphục vụ quy hoạch vùng trồng Luồng tại huyện Ngọc Lặc tỉnh Thanh Hoá
- Đánh giá hiệu quả tổng hợp trên cơ sở định tính, định lượng về các mặtkinh tế, xã hội và môi trường sinh thái
2.3 Nội dung nghiên cứu:
Với mục tiêu đề ra đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
- Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội huyện Ngọc Lặc tỉnh Thanh Hoá
Trang 29- Hiện trạng sử dụng đất và hiện trạng phát triển cây Luồng trên địa bànhuyện Ngọc Lặc tỉnh Thanh Hoá.
- Quy hoạch phát triển vùng trồng Luồng tại huyện Ngọc Lặc tỉnh ThanhHoá giai đoạn 2008 - 2015
2.4.1.Quan điểm phương pháp luận:
Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp về kinh tế - kỹthuật và pháp luật của nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý và cóhiệu quả cao nhằm khai thác triệt để tiềm năng về điều kiện tự nhiên – kinh tếxã hội và nguồn lao động có sẵn
Việc quy hoạch sử dụng đất phải đạt được cả những mục tiêu trước mắt
và lâu dài, phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hộitrong toàn khu vực
Để làm được vấn đề đó chúng ta cần giải quyết các mối quan hệ giữahiện tại và tương lai, giữa cung và cầu, nắm bắt được sức sản xuất về đất đai
để việc quy hoạch đạt hiệu quả cao nhất
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu:
2.4.2.1 Những tài liệu cần thu thập:
Thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế – xã hội khuvực nghiên cứu, các tài liệu thu thập bao gồm:
-Tài liệu về địa chất thổ nhưỡng
- Tài liệu về khí tượng thuỷ văn
Trang 30- Tài liệu có liên quan về đất đai.
+ Bản đồ hiện trạng sử dụng đất của huyện
+ Bản đồ quy hoạch rừng sản xuất của huyện
- Tài liệu về dân sinh kinh tế
- Tài liệu về kết quả thực hiện luật đất đai, giao đất, giao rừng trên địabàn huyện Ngọc Lặc
- Tài liệu về tình trạng quản lý sử dụng đất
- Tài liệu về công tác khuyến nông – khuyến lâm và các tài liệu có liênquan khác
2.4.2.2 Các nhóm thông tin của phương pháp PRA, RRA:
a Nhóm thông tin về chính sách:
Các tài liệu thu thập được về chính sách lấy từ các văn bản pháp quy donhà nước ban hành bao gồm Hiến pháp, Pháp luật, Chỉ thị, Nghị quyết, Thôngtư hướng dẫn thực hiện nghị định, Quyết định các cấp chính quyền từ trung
- Cơ sở hạ tầng: Đánh giá thực trạng các hệ thống công trình phúc lợi,
đường giao thông, các công trình thuỷ lợi, các hoạt động dịch vụ trên địa bàn
c Nhóm chỉ tiêu kinh tế sản xuất:
Trang 31Nhóm thông tin này được sử dụng để phân tích tính bền vững của các
hệ thống canh tác hiện có ở địa phương bao gồm:
a Tìm hiểu tình hình khái quát của huyện
- Tiến hành gặp lãnh đạo UBND huyện và các phòng ban có liên quan,giới thiệu, trình bày nội dung công việc
- Tìm hiểu khái quát tình hình của huyện về các mặt:
+ Diện tích các loại đất đai bao gồm: Đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp
có rừng, chưa có rừng, đất chuyên dùng, đất ở…
+ Tình hình dân sinh: Dân số, lao động, trình độ dân trí, phong tục tậpquán, hệ thống y tế, giáo dục
+ Sản xuất nông nghiệp: Các cây trồng chính…
+ Sản xuất lâm nghiệp: Tình hình trồng rừng và bảo vệ rừng
+ Tình hình vay vốn sản xuất của người dân
- Thu thập các tài liệu về cây Luồng đã được nghiên cứu từ trước đếnnay trên địa bàn
- Tìm hiểu những thuận lợi khó khăn của huyện hiện nay
- Nhu cầu và khả năng đầu tư cho việc trồng, khai thác tiêu thụ và chếbiến của người dân trên địa bàn huyện
b Khảo sát thực địa tại một số điểm trên địa bàn huyện:
Trang 32- Sử dụng phương pháp PRA: Phỏng vấn 20 hộ gia đình điển hình có đấttrồng Luồng trên địa bàn toàn huyện, thu thập thông tin về tình hình sử dụng
đất, sản xuất, chăn nuôi, thu nhập, nhu cầu của gia đình
c Xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch pháttriển vùng trồng Luồng của huyện đến năm 2015
Phương án xây dựng quy hoạch phát triển vùng trồng Luồng huyệnNgọc Lặc, được xây dựng trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xãhội của huyện và phát triển lâm nghiệp của huyện giai đoạn 2001 – 2010
+ Bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch vùng trồng Luồng
được xây dựng bằng phần mềm Mapinfo 9.0
Các tài liệu điều tra thực địa được xử lý tổng hợp và phân tích đánh giá
bổ sung cho tài liệu thu thập theo từng nội dung, được sắp xếp theo thứ tự ưutiên, mức độ quan trọng
Xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel, soạn thảo trình bày luậnvăn bằng phần mềm Microsoft Word
2.4.4 Phương pháp phân tích hiệu quả kinh tế
Phương pháp CBA được vận dụng phân tích hiệu quả kinh tế các phươngthức trồng rừng sản xuất với loài cây chủ đạo là cây Luồng xen canh với một
số cây trồng, trên cơ sở đó khẳng định hiệu quả kinh tế của cây Luồng để tiếnhành quy hoạch sản xuất Các số liệu được tổng hợp và phân tích bằng các
Trang 33hàm kinh tế trong chương trình Excel 7.0 trên máy tính cá nhân PC Các chỉtiêu sau đây được vận dụng trong phân tích CBA.
a Tính giá trị hiện tại của thu nhập ròng (NPV)
Trong đó:
NPV: Giá trị hiện tại của thu nhập ròng (đồng)
Bt: Giá trị thu nhập ở năm t (đồng)
Ct: Giá trị chi phí ở năm t (đồng)
i: Tỷ lệ chiết khấu hay lãy suất (%)
t: Thời gian thực hiện các hoạt động sản xuất (năm)
b Tỷ suất giữa thu nhập và chi phí (BCR)
BCR là hệ số sinh lời thực tế, nó phản ảnh chất lượng đầu tư và cho biết mứcthu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất Nó được thể hiện theo công thức (2-2)
BCR: Tỷ suất giữa thu nhập và chi phí (đồng)
BPV: Giá trị hiện tại của thu nhập (đồng)
CPV: Giá trị hiện tại của chi phí (đồng)
Trang 34Nếu hoạt động sản xuất nào cã BCR>1 th× hoạt động đã cã hiệu quả kinh
tế, BCR càng lớn th× hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại BCR≤1 th× việcsản xuất kh«ng cã hiệu quả
c Tỷ lệ thu hồi nội bộ (IRR):
Là chỉ tiªu thể hiện tỷ suất lợi nhuận thực tế của một chương tr×nh đầu
tư, tức là nếu vay vốn với l·i suất bằng chỉ tiªu này th× chương tr×nh đầu tưhßa vốn IRR thể hiện l·i suất thực của một chương tr×nh đầu tư, l·i suất nàybao gồm 2 bộ phận:
- Trang trải l·i vay ng©n hàng
- Phần l·i của nhà đầu tư
IRR thể hiện mức l·i suất vay vốn tối đa mà chương tr×nh đầu tư cã thểchấp nhận được mà kh«ng bị lỗ vốn
IRR dïng để đ¸nh gi¸ hiệu quả kinh tế và khả năng thu hồi của c¸c hoạtđộng sản xuất cã kể đến yếu tố thời gian th«ng qua tÝnh chiết khấu IRR chÝnh
là tỷ lệ chiết khấu khi tỷ lệ này làm cho NPV=0, tức là khi đã tỷ lệ chiết khấu
Ýt được x¸c định là tỷ lệ thu hồi nội bộ (NPV=0 th× i=IRR) Nếu IRR càng lớnth× hiệu quả càng cao, khả năng thu hồi vốn càng sớm
Nếu IRR>r là cã l·i
IRR<r là lỗ
IRR=r là hoµ
Với r là l·i suất ng©n hàng
Tỷ lệ chiết khấu được tÝnh theo l·i suất ng©n hàng tại thời điểm tÝnh to¸n
Trang 35Chương III Kết quả nghiên cứu
3.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội huyện Ngọc Lặc
3.1.1 Điều kiện tự nhiên [7]
3.1.1.1 Vị trí địa lý, địa giới, diện tích
Ngọc Lặc là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thanh Hoá, gồm 21xã, và 1 thị trấn
- Toạ độ địa lý: Từ 19o54' đến 20o15' vĩ độ Bắc
Từ 105o16' đến 105o31' kinh độ Đông
- Ranh giới hành chính:
Phía Bắc giáp huyện Cẩm Thuỷ, Bá Thước
Phía Nam giáp huyện Thường Xuân, Thọ Xuân
Phía Đông giáp huyện Thọ Xuân, Yên Định
Phía Tây giáp huyện Lang Chánh
- Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện 49.413,72 ha
- Khu vực quy hoạch gồm 20 xã (Vân Am, Minh Tiến, Ngọc Trung, MỹTân, Quang Trung, Thạch Lập, Thúy Sơn, Lộc Thịnh, Cao Ngọc, Phùng Giáo,Ngọc Sơn, Ngọc Khê, Phúc Thịnh, Minh Sơn, Ngọc Liên, Cao Thịnh, Nguyệt
ấn, Lam Sơn, Đồng Thịnh, Phùng Minh)
3.1.1.2 Địa hình vùng quy hoạch
Ngọc Lặc là huyện có địa hình đồi núi thấp ít phức tạp, độ cao trung bình
từ 200 đến 300 m, độ dốc trung bình từ 15o đến 20o Địa hình chia cắt bởi haicon Sông Âm và sông Cầu Chày Địa hình thoai thoải từ Tây Bắc đến ĐôngNam và chia thành bốn tiểu vùng
- Vùng núi cao: Gồm các xã: Thạch Lập, Thúy Sơn, Ngọc Khê và MỹTân có nhiều núi cao, diện tích chiếm 31,48% diện tích toàn huyện, đất phầnlớn có độ dốc trên 15o, bị chia cắt nhiều bởi sông suối tự nhiên
Trang 36- Vùng núi thấp, đồi cao: Gồm các xã: Vân Am, Cao Ngọc, Phùng Giáo,Phùng Minh, Nguyệt ấn, chiếm 22,65% diện tích toàn huyện, là vùng có độdốc lớn nhưng đất đai tốt Trong vùng có nhiều khoảng dốc tụ phù sa khá bằngphẳng rộng hàng trăm ha.
- Vùng đồi thấp: Gồm 7 xã vùng Đông Bắc của huyện, như Quang Trung,
Đồng Thịnh, Ngọc Liên, Ngọc Sơn, Lộc Thịnh, Cao Thịnh, Ngọc Trung chiếm24,23% diện tích toàn huyện Nằm xen giữa các đồi có nhiều khoảng đất khábằng phẳng
- Vùng đồi thoải: Gồm các xã vùng Đông Nam của huyện như: MinhSơn, Minh Tiến, Kiên Thọ, Phúc thịnh, chiếm 20,93% diện tích của huyện.Chủ yếu là các đồi thoải xen kẽ nhiều thửa đất bằng phẳng hiện đang canh táccác loại cây trồng như Mía, Sắn, Ngô
3.1.1.3 Điều kiện khí hậu thời tiết
Ngọc Lặc có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm, mùa mưa, mỗi năm
có 2 mùa rõ rệt Mùa Đông lạnh có sương giá, sương muối, ít mưa độ ẩm thấptrời khô hanh Mùa Hạ có gió Tây Nam khô nóng, mưa nhiều có giông bãoxẩy ra từ tháng 8 đến tháng 10 kèm theo mưa lớn, lũ lụt
từ 140 - 150 ngày Mùa mưa thường gây lũ ống ở vùng cao, gây xói mòn đất
đai và hoa màu Mùa khô hanh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau lượng mưachiếm 10 - 15% cả năm mùa này thường gây nguy cơ cháy rừng
Trang 37Độ ẩm không khí: Theo số liệu quan trắc đài khí tượng thuỷ văn NgọcLặc có độ ẩm không khí trung bình 86%, các tháng có độ ẩm cao nhất làtháng 2 và tháng 4 là 89%.
- Chế độ gió bão
Huyện Ngọc Lặc chịu ảnh hưởng hai loại gió chính: Gió mùa Đông Bắcthổi từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau mang tính khô hanh kéo theo mưa phùngió rét Gió Tây Nam thổi từ tháng 4 đến tháng 7 Bão mỗi năm có từ 1-2 cơnbão đổ vào gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống của nhân dân
Với khí hậu thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều, có mùa đông lạnh, tốc độ gióvừa phải, ít chịu ảnh hưởng của bão nên rất thuận lợi cho cây trồng nông lâmnghiệp phát triển Đặc biệt là cây trồng lâm nghiệp bản địa như Luồng, Keo,Trám, Lát…
- Thuỷ văn – nguồn nước
Ngọc Lặc nằm trong vùng thủy văn sông Chu, có mùa mưa lũ vào tháng
6 và kết thúc vào tháng 10 Trên địa bàn huyện có 3 sông chính chảy qua:+ Sông Âm: bắt nguồn từ đỉnh núi Bù Kang, biên giới Việt - Lào, chảyqua Ngọc Lặc đổ ra sông Chu, chiều dài 79 km, diện tích lưu vực 707 km2.+ Sông Cầu Chày: bắt nguồn từ dãy núi Đèn huyện Bá Thước - ThanhHóa, chảy qua Ngọc Lặc ra sông Mã tại ngã Ba Bông, chiều dài 76 km, diệntích lưu vực 565km2
+ Sông Hép bắt nguồn từ dãy núi Bà Trêm, thượng nguồn hồ Trung Tọa,xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc dài 28,5 km, đổ ra sông Cầu Chày diện tíchlưu vực 120km2
Ngoài ra, sông Chu cũng chảy qua Ngọc Lặc dài 0,5km, để cung cấp nướccho các sông, còn hàng trăm con suối lớn nhỏ phân bố rộng khắp toàn huyện
Hiện nay chưa có tài liệu thăm dò cụ thể nguồn nước ngầm, nhưng qua
điều tra một số giếng nước ăn của nhân dân cho thấy: về mùa mưa mực nướcnơi thấp nhất 1-1,5m, về mùa khô nơi thấp nhất là 2-3m
Trang 38Như vậy nguồn nước ở Ngọc Lặc rất dồi dào, phân bố đều đủ cung cấpnước cho sinh hoạt và sản xuất, nếu có biện pháp thủy lợi thích hợp Nhưng do
địa hình phức tạp nên còn những vùng vẫn bị hạn vào mùa khô Địa hình NgọcLặc thuận lợi cho công trình tự chảy, ruộng đất cao, sông suối thấp, ít lũ,không bị ngập úng
3.1.1.4 Đặc điểm tài nguyên đất
Đất đai huyện Ngọc Lặc đa dạng, thích hợp với nhiều loại cây trồng Đất
được hình thành trên nhiều loại đá mẹ khác nhau, nhưng chủ yếu là đất Feralit
đỏ vàng phát triển trên đá mẹ Bazan, Poocphiarit, các loại đá mẹ macmabazơ , tầng đất trung bình đến dày, có độ ẩm thấp Thành phần cơ giới trong
đất từ nhẹ đến trung bình Theo số liệu đất của Ban phân vùng quy hoạch tỉnhnăm 1992 và điều ra bổ sung năm 2000 trên diện tích 31.501,14 ha đất nông,lâm nghiệp thì có 62% diện tích đất có thành phần cơ giới là: thịt nhẹ, trungbình, tầng mặt khá, thuận lợi cho cây trồng phát triển; chất dinh dưỡng trong
đất tuy không cao nhưng đạm tổng số khá (trên 0,1%) chiếm 86% diện tích,kali khá trở lên chiếm 55% diện tích
3.1.1.5 Đặc điểm tài nguyên rừng
Rừng Ngọc Lặc chủ yếu là rừng trồng, rừng tự nhiên diện tích không
đáng kể Chủng loại cây lâm nghiệp: rừng trồng có các loài cây Luồng, Bạch
đàn, Keo tai tượng, Keo lá tràm, ; rừng tự nhiên có các loài: Chẹo tía,Nghiến, ô rô Về trữ lượng rừng: Có khoảng 11 triệu cây luồng, khoảng13.000 m3 gỗ, hàng chục ngàn Ste củi, hàng chục triệu tấn nứa
Động vật rừng Ngọc Lặc không nhiều chỉ có một vài loài như Lợn rừng,khỉ, Sơn dương, Gà rừng,
Giá trị sản lượng gỗ sẽ tăng mạnh khi công nghiệp chế biến lâm sản:Giấy, Bột giấy, gỗ, cót ép, ván ép, của tỉnh của huyện được đầu tư phát triểntrong thời gian tới
3.1.2 Tình hình dân sinh kinh tế- xã hội
Trang 39* Dân số, dân tộc, và lao động : Theo báo cáo của Phòng thống kê
huyện tính đến (31/12/2007):
- Dân số : Dân số toàn huyện có 145.532 người( tương ứng 28.710 hộ,
bình quân 5 người/1hộ) trong đó:
+ Lao động nông-lâm nghiệp chiếm 86,0% tổng số lao động toàn huyện.+ Lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm 9,2% tổng số lao
động toàn huyện
+ Cán bộ công nhân viên chức chiếm 4,8 % tổng số lao động toàn huyện
3.1.3 Tình hình sản xuất, đời sống thu nhập
3.1.3.1 Tình hình sản xuất
- Sản xuất nông nghiệp
+ Về trồng trọt: Cây trồng chủ yếu là lúa, ngô, mía Tổng sản lượnglương thực đạt 375.739 tấn (năm 2007), bình quân lương thực đạt 345,6kg/người/năm (năm 2007) Ngoài ra đồng bào còn sản xuất một số cây ngắnngày tạo thu nhập thêm như: Đậu tương, Lạc Các loại cây lâu năm chủ yếu là
Trang 401 số cây lấy quả như: Mơ, Mận, Đào, Nhãn chủ yếu trồng phân tán xungquanh các vườn hộ tạo ra sản phẩm hàng hoá không đáng kể.
Bảng 3-1 : Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính
tính
Năm 2006
Năm 2007