ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---NGUYỄN KIM OANH ĐỘ CHÊNH GIỮA NHẬN THỨC VÀ HÀNH VI: MỘT PHÂN TÍCH VỀ SỬ DỤNG BAO CAO SU CỦA PHỤ NỮ MẠI DÂM Qua phâ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGUYỄN KIM OANH
ĐỘ CHÊNH GIỮA NHẬN THỨC VÀ HÀNH VI: MỘT PHÂN TÍCH VỀ SỬ DỤNG BAO CAO SU
CỦA PHỤ NỮ MẠI DÂM
(Qua phân tích số liệu gốc của dự án Phòng lây nhiễm HIV
tại 7 tỉnh/thành phố Việt Nam)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Trang 2Hà Nội - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGUYỄN KIM OANH
ĐỘ CHÊNH GIỮA NHẬN THỨC VÀ HÀNH VI: MỘT PHÂN TÍCH VỀ SỬ DỤNG BAO CAO SU
CỦA PHỤ NỮ MẠI DÂM
(Qua phân tích số liệu gốc của dự án Phòng lây nhiễm HIV
tại 7 tỉnh/thành phố Việt Nam)
Chuyên ngành Xã hội học
Mã số 60.31.30
LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS HOÀNG BÁ THỊNH
Trang 3Hà Nội – 2012
Trang 4L I C M N ỜI CẢM ƠN ẢM ƠN ƠN
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và hướng dẫn nhiệt tình của các thầy cô trong khoa Xã hội học, đặc biệt là PGS TS Hoàng Bá Thịnh – người thầy đã trực tiếp gợi ý đề tài và hướng dẫn những bước đầu tiên cũng như trong suốt quá trình hoàn thiện Luận văn này.
Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn các thành viên lớp cao học Xã hội học, khoá 2007 - 2010 đã giúp tôi trong việc tìm kiếm tài liệu và thu thập thông tin trong quá trình nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu Môi trường
và Sức khỏe đã cho phép tôi sử dụng bộ số liệu dự án Trung tâm thực hiện, và cung cấp rất nhiều tài liệu khác liên quan đến Luận văn Tôi cũng gửi lời cảm ơn đến tất
cả các đồng nghiệp tại Trung tâm đã giúp đỡ và động viên tinh thần trong quá trình hoàn thành Luận văn.
Mặc dù đã cố gắng nghiên cứu, mô tả, phân tích độ chênh giữa kiến thức và hành vi sử dụng bao cao su ở nhóm phụ nữ mại dâm, nhưng do hạn chế về thời gian
và năng lực nên đề tài không thể được phân tích một cách toàn diện và không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và các bạn
để luận văn này được hoàn thiện tốt hơn nữa.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2012
Học viên Nguyễn Kim Oanh
Trang 5M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Ý nghĩa của đề tài 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 4
5 Câu hỏi nghiên cứu 5
6 Giả thuyết nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
7.1 Phương pháp thu thập thông tin 5
7.2.Đặc điểm mẫu nghiên cứu 9
7.3 Phương pháp xử lý thông tin 9
7.4 Phương pháp phân tích thông tin 10
8 Hạn chế của nghiên cứu 10
9 Khung lý thuyết 11
PHẦN II NỘI DUNG CHÍNH 12
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 12
1.1 Cơ sở lý luận và cách tiếp cận 12
1.1.1 Cơ sở lý luận 12
1.1.2 Lý thuyết tiếp cận 14
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 16
1.2.1 Quan điểm của Nhà nước về công tác phòng chống HIV/AIDS 16
1.2.2 Tình hình hoạt động mại dâm ở nước ta những năm gần đây 17
1.2.3 Tình hình nhiễm HIV ở nhóm đối tượng PNMD hiện nay 20
1.2.4 Tình hình sử dụng bao cao su ở nhóm PNMD trong phòng chống HIV/AIDS trên thế giới và Việt Nam 22
1.3 Các khái niệm công cụ 28
CHƯƠNG 2 NHẬN THỨC VÀ HÀNH VI SỬ DỤNG BAO CAO SU KHI QUAN HỆ TÌNH DỤC CỦA PHỤ NỮ MẠI DÂM 32
Trang 62.1 Nhận thức của phụ nữ mại dâm về các vấn đề liên quan đến BCS 32
2.1.1 Nhận thức về lợi ích của bao cao su 32
2.1.2 Nhận thức về thời điểm dùng BCS khi QHTD 35
2.1.3 Nhận thức về đối tượng cần sử dụng BCS khi QHTD 36
2.2 Hành vi sử dụng BCS của nhóm PNMD và một số yếu tố liên quan 40
2.2.1 Hành vi sử dụng BCS 40
2.2.2 Một số yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng BCS ở PNMD 41
CHƯƠNG 3 ĐỘ CHÊNH GIỮA NHẬN THỨC - HÀNH VI VÀ CÁC TRỞ NGẠI ĐỐI VỚI HÀNH VI SỬ DỤNG BAO CAO SU 46
3.1 Độ chênh giữa nhận thức và hành vi sử dụng BCS 46
3.1.1 Nhận thức về lợi ích của BCS và hành vi sử dụng BCS 46
3.1.2 Nhận thức về thời điểm dùng BCS và hành vi sử dụng BCS 48
3.1.3 Nhận thức về đối tượng phải dùng BCS và hành vi sử dụng BCS 50
3.2 Những trở ngại đối với hành vi thường xuyên sử dụng BCS 52
3.2.1 Quan niệm sai lầm về lây truyền HIV 52
3.2.2 Nhận thức hạn chế về nguy cơ cá nhân và ở nhóm khách hàng 53
3.2.3 Thái độ của bạn tình trong việc quyết định sử dụng BCS 54
3.2.4 Khó khăn khi thương lượng với bạn tình về việc sử dụng BCS 55
3.2.5 Nỗi lo bị mất người yêu hay bạn tình thường xuyên 56
3.2.6 Bao cao su không sẵn có 56
3.2.7 Tiếp cận với đồng đẳng viên 58
KẾT LUẬN 59
1 Kết luận 59
2 Khuyến nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC 1: PHIẾU PHỎNG VẤN CHỊ EM 67
PHỤ LỤC 2: KHUNG PHỎNG VẤN SÂU 80
Trang 7DANH M C CÁC CH VI T T T ỤC LỤC Ữ VIẾT TẮT ẾT TẮT ẮT
AIDS : Acquired Immuno Deficiency Syndrom
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải
BCS : Bao cao su
ĐĐV : Đồng đẳng viên
HIV : Human Immuno-deficiency Virus
Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người
BLTQĐTD : Bệnh lây truyền qua đường tình dục
MDĐP : Mại dâm đường phố
MDNH : Mại dâm nhà hàng
PNMD : Phụ nữ mại dâm
PVS : Phỏng vấn sâu
QHTD : Quan hệ tình dục
UNAIDS : United Nations Programe on HIV/AIDS
Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về HIV/AIDS
WHO : World Health Organization
Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 8DANH M C B NG ỤC LỤC ẢM ƠN
Bảng 1 1 Đặc điểm cỡ mẫu nghiên cứu Bảng 2.2.Mối liên quan giữa tỷ lệ PNMD biết về tác dụng của BCS với trình độ học
vấn, khu vực hành nghề 34Bảng 2.4 Mối liên quan giữa tỷ lệ PNMD biết về thời điểm dùng BCS và trình độ
học vấn, khu vực hành nghề 36Bảng 2.6 Mối liên quan giữa tỷ lệ PNMD biết về đối tượng cần phải dùng BCS với
trình độ học vấn, khu vực hành nghề 39Bảng 2.8 Mối liên quan giữa tỷ lệ PNMD sử dụng BCS trong lần tiếp khách gần
đây nhất với trình độ học vấn, khu vực hành nghề 44Bảng 2.10 Mối liên quan giữa tỷ lệ PNMD sử dụng BCS trong 6 tháng gần thời
điểm điều tra và trình độ học vấn, khu vực hành nghề 46YBảng 3.1 Mối liên quan giữa hiểu biết của PNMD về tác dụng của BCS và hành
vi sử dụng BCS trong lần tiếp khách gần đây nhất 46Bảng 3.2 Mối liên quan giữa hiểu biết của PNMD về tác dụng của BCS và hành vi
sử dụng BCS trong 1 tháng trước thời điểm điều tra 47Bảng 3.3 Mối liên quan giữa hiểu biết của PNMD về tác dụng của BCS và hành vi
sử dụng BCS trong 6 tháng trước thời điểm khảo sát 47Bảng 3.4 Mối liên quan giữa hiểu biết của PNMD về thời điểm dùng BCS và hành
vi sử dụng BCS trong lần tiếp khách gần đây nhất 48Bảng 3.5 Mối liên quan giữa hiểu biết của PNMD về thời điểm dùng BCS và hành
vi sử dụng BCS trong 1 tháng trước thời điểm khảo sát 49Bảng 3.6 Mối liên quan giữa hiểu biết của PNMD về thời điểm dùng BCS và hành
vi sử dụng BCS trong 6 tháng trước thời điểm khảo sát 49Bảng 3.7 Mối liên quan giữa hiểu biết của PNMD về đối tượng phải dùng BCS và
hành vi sử dụng BCS trong lần tiếp khách gần đây nhất 50Bảng 3.8 Mối liên quan giữa hiểu biết của PNMD về đối tượng phải dùng BCS và
hành vi sử dụng BCS trong 1 tháng trước thời điểm điều tra 50
Trang 9Bảng 3.9 Mối liên quan giữa hiểu biết của PNMD về đối tượng phải dùng BCS và
hành vi sử dụng BCS trong 6 tháng trước thời điểm điều tra 51
Trang 10DANH M C BI U Đ ỤC LỤC ỂU ĐỒ Ồ
Biểu đồ 1.1 Số người nhiễm HIV/AIDS, tử vong do AIDS năm 2010, 2011 20
YBiểu đồ 2.1 Tỷ lệ % PNMD biết về tác dụng của BCS 32
Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ % PNMD biết về thời điểm dùng BCS khi QHTD 35
Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ % PNMD xác định đối tượng phải dùng BCS 37
Biểu đồ 2.4 Tỷ lệ % PNMD xác định đúng đối tượng phải dùng BCS theo tỉnh 37
Biểu đồ 2.5 Hành vi sử dụng BCS của PNMD khi QHTD 40
Biểu đồ 2.6 Tỷ lệ % PNMD sử dụng BCS trong lần QHTD gần đây nhất, theo tỉnh .43
Biểu đồ 3.1 Hiểu biết của PNMD về dùng BCS đối với các kiểu quan hệ tình dục khác nhau 52
Biểu đồ 3.2 PNMD tự đánh giá về nguy cơ lây nhiễm HIV của bản thân 53
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ PNMD kiên quyết từ chối QHTD với khách hàng không muốn sử dụng BCS 54
Trang 11PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đại dịch HIV/AIDS đã thực sự trở thành mối hiểm họa đối với cả loài người.Tính đến nay, nhân loại đương đầu với AIDS đã ba thập kỷ Nhiều thành tựu về yhọc, xã hội học và tuyên truyền giáo dục đã đạt được những thành tựu quan trọngtrong lĩnh vực phòng chống AIDS Thế nhưng, những nỗ lực ấy vẫn chưa đủ sức đểngăn chặn sự tấn công của HIV, đến nay HIV vẫn lan nhiễm ở hầu hết các nước trênthế giới [15]
Theo báo cáo của Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về HIV/AIDS(UNAIDS) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trong năm 2006, thế giới đã có thêm3,8 triệu người mới nhiễm HIV, 2,9 triệu người chết do AIDS Tổng số ngườinhiễm HIV/AIDS còn sống trên toàn cầu đến cuối năm 2006 là 39,5 triệu người [6],[12] Việc sử dụng chung kim tiêm có HIV và quan hệ tình dục không an toàn lànhững nguyên nhân chủ yếu làm lây lan đại dịch này trên toàn thế giới
Việt Nam là một trong nhiều nước của khu vực Đông Nam Á có dịch HIVphát triển mạnh và tập trung ở các đối tượng có nguy cơ cao gồm tiêm chích ma tuý(TCMT) và phụ nữ mại dâm (PNMD) Đáng báo động hơn là hiện nay đã xuất hiệnnhóm PNMD có TCMT Đây là nhóm “bắc cầu” đặc biệt có thể làm cho tình trạnglây lan HIV ra cộng đồng trở nên nhanh hơn qua quan hệ tình dục (QHTD) vớikhách làng chơi Thêm vào đó tỷ lệ người tiêm chích ma túy có QHTD với phụ nữmại dâm khá cao (11,4% - 57,3%) [5]
Theo các nhà nghiên cứu thì việc dùng bao cao su đúng cách là chiến lượchiệu quả nhất để ngăn sự truyền nhiễm của HIV và các bệnh lây qua đường tình dục[24] Tuy nhiên, một thực tế cho thấy tỷ lệ sử dụng bao cao su (BCS) trong các lầnquan hệ của phụ nữ mại dâm trong những năm gần đây có tăng nhưng vẫn chỉ dừnglại ở mức 50 – 56% [10] Như vậy là cùng với sự phát triển của kinh tế đã kéo theocác tệ nạn xã hội trong đó có nạn mại dâm làm cho dịch HIV/AIDS càng lây lanmạnh ở nước ta [2] Chính vì vậy, việc nghiên cứu nhận thức và hành vi của nhóm
Trang 12đối tượng PNMD trong việc sử dụng BCS phòng chống HIV/AIDS là vấn đề cấpthiết để từ đó có những biện pháp nâng cao nhận thức cũng như ý thức sử dụngBCS của nhóm đối tượng này Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu tìm hiểu giữakiến thức và hành vi của nhóm đối tượng này có sự khác biệt như thế nào? Chính vìvậy, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Độ chênh giữa nhận thức và hành vi:một phân tích về sử dụng bao cao su của phụ nữ mại dâm” qua phân tích số liệu gốccủa dự án Phòng lây nhiễm HIV tại 7 tỉnh/thành phố Việt Nam nhằm trả lời cho câuhỏi này
2 Ý nghĩa của đề tài
2.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài nghiên cứu “Độ chênh giữa nhận thức và hành vi: một phân tích về
sử dụng bao cao su của phụ nữ mại dâm” sử dụng cách tiếp cận và kết hợp tổng
thể các phương pháp nghiên cứu xã hội học Qua đó nhằm phân tích và làm rõ độchênh giữanhận thức và hành vi sử dụng BCS của đối tượng nguy cơ cao là nhómphụ nữ mại dâm Kết quả nghiên cứu đạt được mang ý nghĩa lý luận quan trọng,khẳng định tính hợp lý và ý nghĩa của việc vận dụng lý thuyết hành vi, lý thuyếtngưỡng tình huống trong nghiên cứu xã hội học
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Từ góc độ tiếp cận xã hội học, chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu của đềtài sẽ góp thêm tiếng nói vào vấn đề HIV/AIDS ở nhóm phụ nữ mại dâm, cũng nhưgóp phần vào chiến dịch phòng chống HIV/AIDS của toàn xã hội Trước tình hìnhdịch HIV/AIDS đang lây lan nhanh chóng ở nước ta cũng như nhiều nước trên thếgiới, thông qua việc phân tích sự khác biệt giữa nhận thức và hành vi sử dụng BCSkhi QHTD của nhóm phụ nữ mại dâm, chúng tôi đưa ra một số kiến nghị nhằmnâng cao hơn nữa ý thức sử dụng BCS khi QHTD của phụ nữ mại dâm để phòngchống HIV/AIDS lây lan trong cộng đồng
Trang 133 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm tìm hiểu độ chênh (hay sự khác biệt) giữa nhận thức
và hành vi sử dụng BCS của phụ nữ mại dâm qua việc phân tích số liệu của 7tỉnh/thành phố trên cả nước
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức và hành vi sử dụng BCS ở PNMD
- Phân tích độ chênh giữa nhận thức và hành vi sử dụng BCS của PNMD
- Phân tích một số yếu tố gây trở ngại đối với hành vi sử dụng BCS ở nhóm PNMD
- Đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hơn nữa ý thức sử dụng BCS trongphòng chống HIV/AIDS của PNMD
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức và hành vi sử dụng BCS ở PNMD
Tác giả phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức của PNMD về các nộidung: tác dụng của BCS, thời điểm dùng BCS và những đối tượng cần phải dùngBCS khi có QHTD.Về hành vi, tác giả phân tích theo hành vi sử dụng BCS tronglần tiếp khách gần đây nhất, trong 1 tháng qua và trong 6 tháng qua Một số yếu tốliên quan phân tích trong nghiên cứu này gồm độ tuổi, trình độ học vấn và khu vựchành nghề…
Phân tích độ chênh giữa nhận thức và hành vi sử dụng BCS của PNMD:
Phân tích độ chênh giữa hiểu biết của PNMD về tác dụng của BCS, thời điểm dùngBCS và những đối tượng cần sử dụng BCS khi QHTD với hành vi sử dụng BCStrong lần QHTD gần đây nhất, trong 1 tháng qua và trong 6 tháng qua Độ chênhnày được phân tích bằng cách xét tương quan giữa nhận thức và hành vi sử dụngBCS của PNMD qua tỷ suất chênh OR và giá trị p
Trang 14Để tính toán sự tương quan, số liệu thu thập được trình bày thành bảng tiếpliên (2 x 2) như sau:
Hành vi đúng Hành vi sai
Để phân tích và đo lường độ chênh giữa kiến thức và hành vi, tác giả dựa vào
tỷ suất chênh OR (Odds Ratio) Cách tính: OR =ad/bc Để xem xét sự kết hợp này
có ý nghĩa hay không có ý nghĩa thống kê, tác giả tính khoảng tin cậy của OR( 95%CI hoặc 99%CI) và kiểm định bằng test Chi-square (2) - kiểm định giảthuyết thống kê (hypothesis testing), p-value, với mức độ ý nghĩa 0,05; 0,01; 0,001,
p càng nhỏ thì sự khác biệt càng lớn
Phân tích các yếu tố cản trở hành vi sử dụng BCS của PNMD qua phân tích thông tin thu được từ các PVS (chỉ ra các yếu tố khách quan, chủ quan )
- Phân tích các yếu tố khách quan: các nguyên nhân xã hội…
- Phân tích các yếu tố chủ quan từ phía PNMD:
Đưa ra các khuyến nghị nhằm làm tăng ý thức sử dụng BCS của PNMD
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Độ chênh giữa nhận thức và hành vi sử dụng BCS của phụ nữ mại dâm
Trang 15các vùng miền trên cả nước là Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng, TP HồChí Minh, Cần Thơ và An Giang.
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 3/2009 đến tháng 12/2012
- Thời gian điều tra thực địa: từ tháng 2 đến tháng 5/2009
5 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài thực hiện nhằm tìm câu trả lời cho các câu hỏi:
- Những yếu tố nào liên quan đến kiến thức và hành vi sử dụng BCS của PNMD?
- Giữa kiến thức và hành vi sử dụng BCS của nhóm PNMD có độ chênh như thế nào?
- Những yếu tố nào cản trở hành vi sử dụng BCS của nhóm đối tượng này?
- Cần có những giải pháp gì để nâng cao nhận thức và duy trì ý thức sử dụng BCS của PNMD?
6 Giả thuyết nghiên cứu
- Độ tuổi, trình độ học vấn và khu vực hành nghề là những yếu tố có ảnh hưởngnhất định đến kiến thức và hành vi sử dụng BCS ở nhóm PNMD
- Có độ chênh tương đối giữa nhận thức và hành vi dụng BCS của PNMD: Mặc dù
có kiến thức khá tốt nhưng hành vi sử dụng BCS của PNMD không như mong đợi,đặc biệt, PNMD rất ít sử dụng BCS khi QHTD với bạn tình thường xuyên (quan hệtình dục nhiều lần có trả tiền), chồng hay người yêu
- Có rất nhiều yếu tố cản trở hành vi sử dụng BCS của PNMD như khách hàngkhông muốn dùng, do PNMD thiếu kỹ năng thuyết phục khách hàng,…
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp thu thập thông tin
7.1.1 Phân tích tài liệu
Phương pháp này nhằm thu thập thông tin sơ cấp và thứ cấp về các vấn đề liên quanđến nội dung nghiên cứu
Trang 16a Thông tin sơ cấp
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và phương pháp chọn mẫu được tác giả
sử dụng trong đề tài này một cách gián tiếp vì tác giả đã sử dụng số liệu gốc thu
được từ cuộc điều tra “Đánh giá kết thúc dự án Phòng lây nhiễm HIV tại Việt Nam”
của Cục Phòng chống HIV/AIDS - Bộ Y tế, do Trung tâm Nghiên cứu Môi trường
và Sức khỏe phối hợp với Viện Xã hội học Việt Nam thực hiện vào tháng 2 đếntháng 5 năm 2009 tại 7 tỉnh, thành phố: các thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, HảiPhòng, Đà Nẵng, các tỉnh Quảng Ninh, An Giang, Cần Thơ dưới sự tài trợ của tổchức DFID tại Việt Nam Tác giả luận văn đã trực tiếp tham gia từ khâu chuẩn bị đềcương, bộ công cụ đến phỏng vấn bằng bảng hỏi và nhập liệu cho đề tài Đồng thời,tác giả cũng được sự đồng ý của chủ nhiệm đề tài trong việc sử dụng một phần sốliệu của nghiên cứu cho luận văn Bộ câu hỏi của cuộc điều tra bao gồm 94 câu,trong đó, tác giả đã sử dụng các câu hỏi C1-C5, C20-C28, C44-C46, từ C91 đến
C94 (Bộ câu hỏi đính kèm trong phụ lục).
b Thông tin thứ cấp
Phương pháp này được sử dụng để có những thông tin bổ trợ, đồng thời cũngđược sử dụng như một phương tiện cho việc kiểm tra kết quả nghiên cứu Tài liệuđược sử dụng trong nghiên cứu này chủ yếu là: các bài viết chuyên ngành, các báocáo, kết quả điều tra khảo sát, các số liệu có liên quan đến công tác phòng chốngHIV/AIDS trong thời gian từ năm 2006 đến nay
7.1.2 Phỏng vấn sâu
Ngoài số liệu định lượng sử dụng từ cuộc điều tra, tác giả đã thực hiện thêm
10 cuộc PVS tại Quảng Ninh và Cần Thơ nhằm phục vụ riêng cho đề tài luận văncủa mình (5 phụ nữ mại dâm đường phố và 5 phụ nữ mại dâm nhà hàng) Mục đíchcủa các thông tin PVS nhằm tìm hiểu thông tin: họ có hiểu biết như thế nào về việc
sử dụng BCS trong phòng chống HIV/AIDS? Họ nhìn nhận về việc sử dụng BCS
Trang 17như thế nào? Giữa nhận thức và hành vi sử dụng BCS có sự khác biệt như thế nào
và các yếu tố nào tác động đến sự khác biệt đó?
7.1.3 Phỏng vấn bằng bảng hỏi
Thực tế, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi được sử dụng trong đề tài này
một cách gián tiếp vì đề tài sử dụng số liệu của cuộc điều tra “Đánh giá kết thúc dự
án Phòng lây nhiễm HIV tại Việt Nam” do Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và
Sức khỏe phối hợp với Viện Xã hội học Việt Nam thực hiện tại 7 tỉnh/thành phố
Cỡ mẫu và phương phápchọn mẫu mà cuộc điều tra này đã thực hiện được tác giả
mô tả lại như sau:
Cỡ mẫu cho nhóm PNMD tại từng tỉnh được tính bằng công thức:
Z = 1,96 (Độ tin cậy với = 0,05)
p = 0,8 (Tỷ lệ đối tượng PNMD có sử dụng BCS)
d = 0,1 (Sai số cho phép 10%)Thay vào công thức ta được n = 61, nhân với hiệu số thiết kế =1,5 (do chọnmẫu phân tầng) ta sẽ có tổng số mẫu cần thiết cho nhóm PNMD là 92 Như vậy cỡmẫu nghiên cứu phụ nữ mại dâm tại mỗi tỉnh/TP là: 92 phụ nữ mại dâm, trong đóchọn 46 phụ nữ mại dâm nhà hàng và 46 phụ nữ mại dâm đường phố Tổng số mẫunghiên cứu cho cả 7 tỉnh/TP là 92 x 7 = 644 người chia đều cho hai nhóm đốitượng Trên thực tế, tác giả nghiên cứu đã phỏng vấn được 56 phụ nữ mại dâm nhàhàng và 45 phụ nữ mại dâm đường phố
Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên nhiều giai đoạn:
- Chọn tỉnh: điều tra đánh giá được tiến hành trên địa bàn 7 tỉnh/thành phốtham gia dự án (Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ ChíMinh, Cần Thơ và An Giang)
n= Ζ 1−α /2
2
p(1− p)
d2
Trang 18- Chọn quận/huyện: Tại mỗi tỉnh/thành phố điều tra, thảo luận với cán bộ địaphương và cán bộ dự án để có được danh sách tất cả các quận huyện được coi là
“điểm nóng” của tỉnh, tập trung nhiều đối tượng có hành vi nguy cơ cao Tiến hànhchọn ngẫu nhiên 3 quận/huyện được chọn trong danh sách tại mỗi tỉnh/thành phốbằng cách bốc thăm ngẫu nhiên Như vậy tại 7 tỉnh/TP sẽ có 21 quận/huyện thamgia vào cuộc nghiên cứu này
- Chọn đối tượng điều tra bằng phương pháp chọn mẫu chùm:
+ Chọn chùm:
Tại mỗi tỉnh/thành phố điều tra, nhóm nghiên cứu cùng với cán bộ dựán/địa phương tiến hành lập bản đồ xã hội các tụ điểm của nhóm quần thể nghiêncứu (PNMD)
Đơn vị mẫu hay chùm được xác định bao gồm 3 đối tượng nghiên cứu trởlên Thông qua phỏng vấn và quan sát, điều tra viên ước lượng được số chùm trungbình tại tụ điểm Việc lập bản đồ được thực hiện với sự hỗ trợ của dự án địa phương
và được mở rộng qua tìm hiểu, tham vấn, quan sát địa bàn Quá trình lập bản đồđược kết thúc khi không còn tụ điểm nào được xác định thêm Các thông tin củamỗi tụ điểm bao gồm địa chỉ, các dấu hiệu đặc biệt để nhận biết và ước tính sốlượng đối tượng nghiên cứu được cung cấp đầy đủ Các thông tin về các tụ điểm vớiước lượng trung bình số đối tượng nghiên cứu được tập hợp để lựa chọn số chùmvào nghiên cứu cho phù hợp với tổng cỡ mẫu đã tính tại mỗi tỉnh/thành phố
Trang 19đạt được cỡ mẫu phân bổ cho tụ điểm đó Tất cả đối tượng đều được giải thích về mụcđích phỏng vấn và nếu đồng ý tham gia nghiên cứu mới được lựa chọn.
7.2.Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Bảng 1 1 Đặc điểm cỡ mẫu nghiên cứu
Thông tin Hà
Nội
Hải Phòng
Quảng Ninh
Đà nẵng
TPHC M
Cần thơ
An Giang
Tổn g
Tình trạng hôn nhân
Chưa kết hôn 32,6 30,4 43,5 64,1 52,2 42,4 51,1 45,2Đang có chồng 34,8 31,5 19,6 8,7 18,5 16,3 19,6 21,3
Về độ tuổi: 60,6% PNMD được phỏng vấn ở độ tuổi dưới 30, trong đó có gần
một phần ba (30,7%) đối tượng ở độ tuổi dưới 25 tuổi và có một tỷ lệ nhỏ đối tượngdưới 20 tuổi (4,5%)
Về trình độ học vấn: Phần lớn đối tượng nghiên cứu có trình độ học vấn
trung học cơ sở trở xuống (75,0%) Trong đó vẫn còn tới 23,3% số đối tượng đượcphỏng vấn chỉ có trình độ tiểu học và 3,6% đối tượng không biết chữ Chỉ 1,4% đốitượng có trình độ từ THCN trở lên
Trang 20Về tình trạng hôn nhân: Có gần 1 nửa số đối tượng (45,2%) chưa lập gia
đình, khoảng một phần ba (33,5%) đối tượng hiện đã ly dị, ly thân hoặc góa chồng
Có tới 21,3% đối tượng cho biết hiện mình đang có chồng
7.3 Phương pháp xử lý thông tin
Một số phần mềm và công cụ kỹ thuật chính được sử dụng trong nghiên cứu
để xử lý thông tin sơ cấp thu thập được là: Excel, SPSS
7.4 Phương pháp phân tích thông tin
- Thống kê mô tả: Được sử dụng để phân tích một số chỉ báo về nhận thức vàhành vi sử dụng BCS của PNMD
- Phân tích tương quan: Được sử dụng để phân tích độ chênh giữa nhận thức
và hành vi cũng như mối tương quan giữa nhận thức và hành vi vi sử dụng BCS củaPNMD với các đặc điểm cơ bản
8 Hạn chế của nghiên cứu
Do đặc tính của đối tượng khó tiếp cận, tác giả nghiên cứu và nhóm cán bộđiều tra gặp nhiều khó khăn để tiếp xúc và tìm hiểu đối tượng với thời gian hạn chế.Mặt khác, các thông tin cần khai thác là những thông tin nhạy cảm nên đối tượng cóthể không hợp tác Khó chọn được một mẫu đại diện cho các PNMD để tiến hànhcác nghiên cứu đánh giá Đối tượng không có nơi ở cố định, khó khăn cho nghiêncứu viên trong quá trình làm việc tại thực địa
Với sự hỗ trợ tích cực của các đồng đẳng viên, các hạn chế trong việc tiếpcận đối tượng đích đã được giải quyết Nhờ có sự giải thích chi tiết của các đồngđẳng viên, các đối tượng đã tham gia vào cuộc phỏng vấn một cách thoải mái vàhợp tác trong việc giới thiệu các đối tượng tiếp theo cho nhóm nghiên cứu
Trang 219 Khung lý thuyết
Tuổi Trình độ học vấn hành nghềĐặc điểm
Tiếp cận đồng đẳng viên
Thái độ của bạn tình
ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - VĂN HÓA - XÃ HỘI
ĐỘ CHÊNH GIỮA NHẬN THỨC VÀ HÀNH VI
SỬ DỤNG BCS CỦA PNMD
Nhận thức đúng
và hành vi đúng
Nhận thức đúng
và hành vi sai
Nhận thức sai
và hành vi đúng
Nhận thức sai
và hành vi sai
Trang 22PHẦN II NỘI DUNG CHÍNH Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lý luận và cách tiếp cận
1.1.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên sự tiếp cận xã hội học về sai lệch xã hội.Những hành vi phù hợp với chuẩn mực của xã hội được gọi là hành vi chuẩn mực,những hành vi không phù hợp với chuẩn mực gọi là hành vi sai lệch Dưới góc độ
xã hội học, sự rối loạn xã hội chính là nguyên nhân của hành vi lệch chuẩn
Cho đến nay đã có rất nhiều cách lý giải về các hiện tượng sai lệch [38].Trong đó, khuynh hướng lý thuyết cấu trúc chức năng là một trong những cáchtiếp cận có nhiều ảnh hưởng nhất Các nhà xã hội học theo khuynh hướng chứcnăng nhìn nhận hiện tượng sai lệch như là hệ quả của áp lực từ hệ thống xã hội.Theo cách tiếp cận này, sự không tương thích giữa mục tiêu giá trị và cách thức,biện pháp thực hiện thành công mục tiêu đó sẽ tạo ra động lực khuyến khích hành
vi sai lệch ở một bộ phận thành viên trong xã hội Theo nhà xã hội học Pháp nổitiếng Émile Durkheim, các biểu hiện sai lệch sẽ xuất hiện khi trong xã hội tồn tạitình trạng Anomie - tức là sự rối loạn/thiếu vắng các chuẩn mực định hướng hành
vi của con người Khi đó, con người trở nên mất phương hướng, tiêu cực và họ cókhả năng thực hiện hành vi sai lệch Tình trạng Anomie (Menton) không chỉ là sựthiếu vắng/rối loạn chuẩn mực mà nó còn là những áp lực, sức ép đến hành vi của
cá nhân khi các chuẩn mực vốn đã được chấp nhận rộng rãi tỏ ra không phù hợpvới thực tế xã hội
Mại dâm là sự cung cấp hành vi tình dục ngoài phạm vi vợ chồng Đó là mộthiện tượng xã hội tiêu cực, biểu hiện của sự lệch lạc về chuẩn mực xã hội TheoDurkheim thì tệ nạn mại dâm cũng giống như nạn tự sát, là dấu hiệu của một xãhội rối loạn kỷ cương và suy đồi về đạo đức
Trang 23Karl Marx và Lenin, cha đẻ và lãnh tụ của chủ nghĩa xã hội, xem mại dâm là
sự buôn bán xác thịt con người, phản ánh sự tha hóa đạo đức và áp bức bóc lột xuyênsuốt lịch sử từ chế độ nô lệ, phong kiến cho tới chủ nghĩa tư bản, là điều cần phải xóa
bỏ trong xã hội Xã hội chủ nghĩa vốn chú trọng đạo đức và công bằng [34]
Về mặt đạo đức và văn hóa, mại dâm vừa là sản phẩm, vừa là tác nhân thúcđẩy chủ nghĩa hưởng thụ, sự "tiền tệ hóa giá trị đạo đức và nhân phẩm" Tại đó conngười sùng bái đồng tiền một cách mù quáng, thèm khát vô độ dục vọng bản năng
mà sẵn sàng vứt bỏ những giá trị về nhân phẩm, danh dự, rằng chỉ cần có tiền thìngay cả thân thể con người cũng trở thành hàng hóa mua bán Hành vi tình dục củacon người bị mất hết những giá trị thiêng liêng và khuôn khổ đạo đức Tóm lại, mạidâm là hành vi chà đạp lên phẩm giá con người, đưa tới sự băng hoại đạo đức lốisống của xã hội, sự "thú tính hóa" hoạt động tình dục của con người, làm sụp đổnhững giá trị vềhôn nhân, tình yêu và lòng chung thủy
Các hành vi sai lệch xã hội đều gây ra những hậu quả xấu cho cá nhân và xãhội, làm suy thoái nhân cách, do đó, cần ngăn ngừa uốn nắn giáo dục để con người
có hành vi phù hợp với chuẩn mực của xã hội
1.1.2 Lý thuyết tiếp cận
- Mô hình niềm tin sức khỏe (Health Belief model)
Đây là một mô hình thuộc trường phái Tâm lý học nhận thức (CognitivePsychology) trong đó các quá trình nhận thức của con người đóng vai trò quan trọngtrong việc lý giải hành vi
Trang 24Mô hình niềm tin sức khỏe
(Becker, 1974)
Độ tuổi, trình độ học vấn , đặc điểm hành nghề , tính cách, hoàn cảnh, hiểu biết về phòng bệnh
Nhận thức về mối đe dọa của bệnh
Khả năng thay đổi hành vi
(khả năng thực hiện hành vi phòng bệnh)
Động lực cho hành vi
- Giáo dục
- Các biểu hiện của bệnh
- Chứng kiến từ bạn bè xung quanh
- Thông tin từ các phương tiện truyền thông đại chúng
Theo mô hình này con người quyết định thực hiện một hành vi phòng bệnhhay không, sẽ tùy thuộc vào nhận thức:
- Thứ nhất là nhận thức về mối đe dọa của bệnh Trong đó có nhận thức vềmức độ trầm trọng của bệnh, về mức độ cảm nhiễm bệnh và cuối cùng là các nhắcnhở dưới nhiều dạng (thấy người khác bệnh, nhắc nhở của y tế, )
- Thứ hai là nhận thức về những lợi ích và những trở ngại trong việc thực hiệnhành vi
Mô hình này dẫn đến một cách tiếp cận giáo dục sức khỏe thông qua nhữngthông tin về sự nguy hiểm của bệnh bên cạnh việc phân tích lợi hại và thường xuyênnhắc nhở
Trang 25- Lý thuyết ngưỡng tình huống
Cách tiếp cận đối với hành vi trong mối quan hệ với nhận thức được đặt ra từkhi LaPierre (1934) phát hiện ra rằng nhận thức và hành vi của con người ta dườngnhư có sự không tương ứng/không nhất quán (inconsistence) Campbell (1961) chorằng để chuyển hóa nhận thức thành hành vi tương ứng thì con người luôn phải vượtqua các ngưỡng tình huống do bối cảnh tạo ra Hành vi sử dụng BCS ở nhómPNMD cũng có những ngưỡng nhất định do có rất nhiều yếu tố khác tác động vào.Nếu không vượt qua được các ngưỡng này thì dù cho họ có kiến thức đúng đắn đếnđâu cũng không thể có hành vi đúng
- Lý thuyết hành vi:
Hành vi là tổng thể chuỗi dài các phản ứng, là đời sống thực của con ngườiKhông mô tả giảng giải các trạng thái ý thức mà quan tâm đến hành vi tồn tại người.Quan sát các sự kiện này hay sự kiện kia nhằm mục đích thích nghi với môi trườngxung quanh
Thuyết hành vi (Behaviorism): Đây là một trường phái tâm lý học giải thích
về hành vi chỉ dựa trên những quan sát hành vi thấy rõ (overt behaviors) hơn là dựavào những quá trình nhận thức diễn ra bên trong não hay là những hành vi khôngthấy rõ (covert behaviors) Có 2 luận thuyết Hành vi:
- Điều kiện hóa cổ điển (Classical conditioning): Luận điểm cơ bản là hành
vi trong đó có hành vi sức khỏe là kết quả của quá trình thành lập của phản xạ cóđiều kiện Đây là giải thích khoa học của các hành vi lặp đi lặp lại hay thói quen
Ví dụ: Một PNMD luôn được nhắc nhở sử dụng BCS đến khi sử dụng nónhư một thói quen mỗi khi tiếp khách, nếu không sử dụng sẽ cảm thấy khó chịu,thiếu an toàn
Mô hình cơ bản là S > R
S (stimulate) : Kích thích,
Trang 26R (response, result) : Đáp ứng, kết quả.
- Điều kiện hóa từ kết quả (Operant conditioning): Xét một PNMD nào đó cóhành vi sử dụng BCS do ngẫu nhiên hoặc đột khởi Sau đó người ấy có những cảmnhận về kết quả của hành vi sử dụng BCS Nếu cảm nhận hành vi sử dụng BCS là
dễ chịu người đó sẽ có khuynh hướng tái lập hành vi đó, ngược lại nếu khó chịu sẽ
có khuynh hướng tránh hành vi đó đi
Mô hình cơ bản là R > S
Đặc biệt đối với những hành vi sử dụng chất gây nghiện có một động lực képkhiến người nghiện bị thôi thúc mạnh mẽ phải tiếp tục hành vi đó là họ phải thựchiện hành vi để có được những khoái cảm do chất gây nghiện mang lại đồng thời đểtránh những khó chịu do không sử dụng gây ra
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Quan điểm của Nhà nước về công tác phòng chống HIV/AIDS
Nhà nước đóng vai trò nòng cốt trong công tác phòng, chống HIV/AIDS,nhằm huy động được các nguồn lực xã hội tham gia thực hiện pháp luật phòng,chống HIV/AIDS theo hướng xã hội hoá, phù hợp với Nghị quyết số 36/2004/QĐ-TTg ngày 17/3/2004 về việc phê duyệt chiến lược quốc gia phòng, chốngHIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020
Nghị quyết này cũng đã nêu rõ: HIV/AIDS là đại dịch nguy hiểm, là mốihiểm họa đối với sức khoẻ, tính mạng của con người và tương lai nòi giống củadân tộc HIV/AIDS tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế, văn hoá trật tự và antoàn xã hội của quốc gia [22] Do đó, phòng, chống HIV/AIDS phải được coi lànhiệm vụ trọng tâm, cấp bách và lâu dài, cần phải tăng cường phối hợp liên ngành
và đẩy mạnh việc huy động toàn xã hội tham gia
Pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam có nhiều quy định chocác chủ thể và các đối tượng khác tham gia vào quá trình thực hiện phòng, chống
Trang 27HIV/AIDS có những nghĩa vụ trong hoạt động của mình Chẳng hạn một trong các
nghĩa vụ được quy định trong khoản 2 Điều 4: Người nhiễm HIV có nghĩa vụ thực hiện các biện pháp phòng lây nhiễm HIV sang người khác [20] Hoạt động canthiệp phân phát bao cao su cho người hoạt động mại dâm, truyền thông về cácbiện pháp phòng lây nhiễm HIV của các chương trình, dự án đã và đang thựchiện trong thời gian qua chính nhằm mục đích giảm thiểu tác hại trong dự phònglây nhiễm HIV ở Việt Nam
1.2.2 Tình hình hoạt động mại dâm ở nước ta những năm gần đây
Do chính sách mở cửa trong những năm gần đây, nước ta đã tiến hành giaolưu, hội nhập với các nền kinh tế, văn hóa của các quốc gia khác nhau trên thế giới.Ngoài những ảnh hưởng tích cực để phát triển nền kinh tế - văn hóa nhưng bên cạnh
đó cũng gây ra những hệ lụy không mong đợi và ở một chừng mực nào đó, các tệ nạn
xã hội có điều kiện thuận lợi hơn để phát triển, đặc biệt là tệ nạn ma túy và mại dâm
Ở Việt Nam, hoạt động mại dâm tồn tại trong bối cảnh mại dâm là bất hợppháp và là ‘tệ nạn xã hội’, làm xói mòn đạo đức, huỷ hoại thuần phong mỹ tục của dântộc, ảnh hưởng xấu tới đời sống văn hoá - xã hội, gây ra bệnh AIDS và nhiều hậu quảnghiêm trọng đến nòi giống [17] Cách tiếp cận theo hướng “loại trừ” mại dâm được
đề ra trong các văn bản pháp lý như Pháp lệnh Phòng chống mại dâm số UBTVQH11, Nghị quyết 05/CP, ban hành ngày 29/1/1993 và Quyết định 679/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hành động phòng chống mại dâm giai đoạn 2011- 2015.Điều này khẳng định quyết tâm của Chính phủ, đồng thời thể hiện tầm quan trọng,tính bức xúc của công tác này trong bối cảnh dịch HIV/AIDS đang có nguy cơ lanrộng, đe dọa đến sự phát triển bền vững của các quốc gia trên toàn thế giới
10/2003/PL-Theo báo cáo tổng hợp từ Cục phòng chống tệ nạn (Bộ Lao động Thươngbinh và Xã hội), tính đến hết năm 2008, cả nước có khoảng 40.000 người hoạt độngmại dâm và hơn 32.000 tiếp viên trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ, nhà nghỉ, nhàhàng karaoke,… có biểu hiện nghi vấn hoạt động mại dâm Đối tượng PNMD ngày
Trang 28càng có xu hướng trẻ hóa, dưới 18 tuổi chiếm 14%, từ 18-25 tuổi chiếm khoảng42%, từ 25-35 tuổi chiếm khoảng 35%, Nhìn chung PNMD có trình độ văn hóathấp, khoảng 80% văn hóa cấp 1 và cấp 2, 10% mù chữ Số có trình độ văn hóa cấp
3 và cao hơn đang có xu hướng tăng lên trong vài năm gần đây [1],[4]
Theo số liệu báo cáo, thống kê của cơ quan chức năng, hiện nay (năm 2011)trong toàn quốc có khoảng 53.000 nữ nhân viên phục vụ tại các cơ sở kinh doanhdịch vụ Trong đó có 3.500 cơ sở và 6.983 nữ nhân viên nghi hoạt động mại dâm;lập hồ sơ quản lý 1.353 đối tượng có biểu hiện chứa mại dâm, 932 đối tượng cóbiểu hiện môi giới mại dâm và 2.065 phụ nữ bán dâm [23]
Các phương thức hoạt động mại dâm rất đa dạng với nhiều hình thức biếntướng và sử dụng các thủ đoạn mới, tinh vi: Dễ thấy nhất là mại dâm “trá hình” lợidụng các dịch vụ: Ăn, nghỉ, vũ trường, karaoke, cafe, tẩm quất, massage, mạngInternet hoặc từng tốp các cô gái đứng đường, nhưng đó chỉ là bề nổi của tảng băng.Mại dâm còn núp dưới danh nghĩa sinh viên, học sinh Lợi dụng sự ham chơi, đuađòi của một số học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn và việc buông lỏng quản
lý giáo dục của gia đình, nhà trường, bọn tội phạm đã dụ dỗ, lôi kéo thậm chí còndùng thủ đoạn ép buộc các học sinh chưa đến tuổi thành niên bán dâm
Mại dâm và tình dục không an toàn đã, đang là tác nhân gây bệnh dịch HIV.Trong những năm qua, với sự cố gắng nỗ lực của các cơ quan ban ngành đã kìmhãm được tốc độ gia tăng của tệ nạn mại dâm, nhất là mại dâm hoạt động công khainơi công cộng, giảm các tụ điểm mại dâm phức tạp Tuy nhiên, chúng ta cũng phảithừa nhận rằng tệ nạn mại dâm hiện nay mới giảm ở bề nổi, mại dâm trẻ em và vịthành niên vẫn còn tồn tại, chưa giải quyết dứt điểm được đường dây hoạt động mạidâm liên tỉnh, đưa người ra nước ngoài hoạt động mại dâm; mại dâm nam, mại dâmđồng giới, buôn bán người vì mục đích mại dâm, mại dâm có yếu tố nước ngoài cóchiều hướng gia tăng
Trang 29Bà Julia Cabassi, cố vấn khu vực của Quỹ Dân số Liên Hiệp quốc (UNFPA)cũng thừa nhận không thể xóa trắng được tệ nạn mại dâm Do vậy, cần tập trungvào việc làm thế nào để giảm trừ các tác hại từ tệ nạn này Để có một mô hình hiệuquả trong phòng chống mại dâm và phòng chống HIV, chính quyền không chỉ cungcấp các dịch vụ giảm tác hại cho người bán dâm mà phải tạo điều kiện cho họ tiếpcận một cách an toàn Chẳng hạn khi người bán dâm bị bạo hành thì họ được tiếpcận với cảnh sát để xử lý kẻ bạo hành họ mà không gặp phải rào cản nào Đồngthời, tập trung các biện pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức để người mua và bándâm đều sử dụng bao cao su.
Mặc dù BCS phòng tránh lây nhiễm HIV, nhưng phần lớn nữ mại dâm không
sử dụng thường xuyên và đúng cách Có rất nhiều lí do khiến cho mại dâm nữkhông thực hiện các hành vi an toàn tình dục như: Hiểu biết sai về các nguy cơ củatình dục không an toàn và thiếu các hiểu biết về HIV/AIDS Thứ hai, họ khôngđược hỗ trợ từ phía chủ chứa và thứ ba là sử dụng bao cao su không đúng cách,không hiệu quả Bên cạnh đó, việc thiếu kiến thức về các phương tiện phòng tránhHIV, quan niệm là sử dụng bao cao su làm giảm khoái cảm cũng như nguy cơ bị cáckhách hàng cưỡng bức quan hệ tình dục
Thậm chí cả khi phụ nữ mại dâm nhận thức được nguy cơ lây nhiễm HIVcũng như tính hữu hiệu của bao cao su trong việc phòng chống các bệnh lây truyềnqua đường tình dục thì họ vẫn không dùng do sợ hãi về mất nguồn thu nhập Baocao su còn ít được nữ mại dâm sử dụng hơn so với nhóm bạn tình thường xuyên,không phải là khách hàng Các lí do được giải thích là do sự quen thuộc giữa haingười, mong muốn thể hiện tình thương yêu hay để chứng tỏ tình yêu
Nghiên cứu về tình mại dâm và di biến động nhìn từ góc độ giới của Cụcphòng chống tệ nạn xã hội cho thấy, thu nhập trung bình từ hoạt động mại dâm là 8,6triệu đồng/tháng, khá cao so với mặt bằng thu nhập hiện nay ở Việt Nam, trong đó đốivới nữ là 10,6 triệu và nam là 6,55 triệu Thu nhập này cao hơn so với thu nhập trungbình ở Việt Nam khoảng 2,5 lần, cao hơn so với thu nhập trung bình của nhóm 20%
Trang 30người có thu nhập cao nhất Đó là chưa kể đến một tỷ lệ đáng kể người hoạt động mạidâm (khoảng 45,6%) còn có thu nhập từ các việc làm khác Đặc biệt có khoảng 5% sốngười trả lời có thu nhập từ hoạt động mại dâm là từ 20 triệu trở lên [14].
Tính trung bình, người hoạt động mại dâm làm việc 19 ngày/tháng; quan hệvới khách hàng hơn 10 lần/tuần gồm cả quan hệ đồng giới, dị giới Đặc biệt, cókhoảng 10% quan hệ với khách hàng 21 lần/tuần trở lên Hoạt động mua bán dâmrất đa dạng, chủ yếu diễn ra tại các khách sạn, nhà nghỉ, quán massage, karaoke, nhàhàng, quán bia hoặc ở nhà riêng,…[14]
Nhìn chung, tình hình mại dâm ở nước ta hiện nay còn nhiều diễn biến phứctạp Hoạt động mại dâm tuy không công khai nhưng kín đáo, tinh vi, tổ chức nhỏnhưng ở diện rộng lan tất cả khu vực trong cả nước Những địa phương phức tạpnhất vẫn là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh giáp ranh hai địa bàn này vàcác khu du lịch, nghỉ mát Tuy nhiên,chính cách tiếp cận mại dâm như là một “tệnạn xã hội” đã làm cho hoạt động mại dâm ở Việt Nam mang tính di biến động cao
và trá hình Điều này gây trở ngại lớn cho các chương trình dự phòng HIV khó tiếpcận và định vị đối tượng đích này
1.2.3 Tình hình nhiễm HIV ở nhóm đối tượng PNMD hiện nay
Theo số liệu báo cáo tình hình nhiễm HIV/AIDS trong toàn quốc năm 2011của Bộ Y tế, số trường hợp xét nghiệm phát hiện nhiễm HIV được báo cáo trongnăm là 14.125, số bệnh nhân AIDS là 6.432, số bệnh nhân AIDS tử vong được báocáo là 2.413 trường hợp Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội là hai thành phố có sốtrường hợp xét nghiệm phát hiện HIV dương tính lớn nhất trong cả nước (lần lượtchiếm 13,75% và 6,46%) [9]
Trang 31HIV AIDS TV 0
Biểu đồ 1.1 Số người nhiễm HIV/AIDS, tử vong do AIDS năm 2010, 2011.
(Nguồn: Bộ Y tế (2012), Báo cáo tình hình nhiễm HIV/AIDS và hoạt động phòng chống
HIV/AIDS năm 2011, phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu năm 2012 ( tr 3)
So sánh số trường hợp được xét nghiệm phát hiện và báo cáo nhiễm HIV năm
2010 và năm 2011, số trường hợp nhiễm HIV, bệnh nhân AIDS và tử vong do AIDS
có xu hướng giảm nhưng không đáng kể [9] Nhiều nghiên cứu, báo cáo khác vềHIV/AIDS ở Việt Nam cho thấy đại dịch HIV/AIDS ở nước ta vẫn đang diễn biếnphức tạp về quy mô và diện mắc [8] Sự đa dạng về đường lây nhiễm, đa dạng về đốitượng nhiễm, nhóm tuổi, ảnh hưởng của các vấn đề về kinh tế, xã hội và hành vi củacon người đã làm cho công tác phòng chống HIV/AIDS càng thêm khó khăn [16]
Phụ nữ mại dâm tại Việt Nam chiếm một tỷ lệ cao trong nhóm dân số dễ tổnthương và phải đối mặt với nhiều thách thức như nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS,không ổn định về kinh tế, kỳ thị của xã hội và các vấn đề gia đình Gần đây, nhómPNMD này được chú trọng hơn khi trở thành một trong 3 nhóm dân số có nguy cơcao nhất về lây nhiễm HIV tại Việt Nam, cùng với nhóm tiêm chích ma túy (IDUs)
và nam giới có quan hệ đồng tính (MSM) [18], [42] Khảo sát năm 2009 cho thấy tỷ
lệ nhiễm HIV trong số những PNMD khác nhau nhiều theo khu vực địa lý, khoảng
từ 0,3% tại Đà Nẵng đến 6% tại Hà Nội và tỷ lệ này lên tới 23% trong nhóm phụ nữmại dâm đường phố ở Hải Phòng [43] Hơn nữa, những báo cáo gần đây chỉ ra rằng
Trang 32PNMD bán dâm để có tiền phục vụ cho việc tiêm chích do đó nguy cơ lây nhiễmHIV trong nhóm này tăng lên gấp đôi [39] PNMD và người tiêm chích ma túy như
là những cầu nối tới nhóm dân số nói chung, làm tăng sự phát triển của đại dịchHIV tại Việt Nam, đặc biệt trong nhóm có quan hệ tình dục dị giới [40].PNMDngoài nguy cơ lây nhiễm HIV, họ còn phải đối mặt với nhiều thách thức Họ bị kỳthị và gạt ra khỏi xã hội, khó khăn trong việc tiếp cận các công việc khác thay thế,giáo dục, các dịch vụ hỗ trợ xã hội, và dịch vụ y tế Vấn đề này trầm trọng hơn do
họ sợ bị các lực lượng chức năng bắt giam và sự hiểu biết thấp về các nhà lập chínhsách Những yếu tố này kết hợp với nhau tạo ra một động lực lớn để phát triển cácnghềthay thế cho PNMD, và các bằng chứng chỉ ra rằng trong nhóm PNMD cómong muốn tìm một nghề khác để kiếm thu nhập ngoài việc bán dâm Trong mộtcuộc điều tra với nhóm đối tượng đích là PNMD tại Andhra Pradesh, Ấn Độ đượcthực hiện bởi M Kim Blankenship và cộng sự [33]cho thấy 63% PNMD mongmuốn có một công việc khác không liên quan đến việc bán dâm
PNMD là nhóm quần thể có nguy cơ lây nhiễm HIV cao thứ hai sau nhómnghiện chích ma túy.Theo ước tính tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm này xét trên cấp độtoàn quốc sẽ tăng nhẹ từ 9% trong năm 2007lên 9,3% năm 2012 Tỷ lệ nhiễm HIVtrong nhóm PNMD ở cácthành phố lớn, bao gồm Cần Thơ, Thành phố Hồ Chí Minh
và Hải Phòng cao hơn so với tỷlệ nhiễm HIV trung bình trong nhóm này trên toànquốc vào năm 2012 Một số nghiên cứuở các tỉnh trên đã chỉ ra tỷ lệ nhiễm HIV caotrong nhóm phụ nữ mại dâm có tiêm chíchma túy, và có thể thấy lây nhiễm HIVtrong nhóm này có liên quan chặt chẽ đến hành vitiêm chích ma túy Các chươngtrình can thiệp dự phòng trong nhóm phụ nữ mại dâmcần phải hiệu quả, toàn diện
và gồm cả các can thiệp đối với hành vi tiêm chích ma túy, cùng với đó là cácchương trình chăm sóc và điều trị đối với những người đã bị nhiễm HIV [11]
Trang 331.2.4 Tình hình sử dụng bao cao su ở nhóm PNMD trong phòng chống HIV/AIDS trên thế giới và Việt Nam
Trên thế giới
Theo các nhà nghiên cứu, BCS được xuất hiện từ năm 1350 trước côngnguyên Người Ai Cập cổ xưa đã sử dụng các bao bằng vải lanh để bảo vệ cơ quansinh dục nam Tại Rome, người ta chọn bong bóng hoặc ruột động vật Ngay từ thế
kỷ thứ 10, người Trung Hoa và Nhật biết dùng đến loại giấy tơ tằm, da động vật, Nhưng BCS hiện đại được biết đến nhiều nhất là vào thời kỳ Phục hưng Nhà giảiphẫu học người Ý Gabrielle Fallopius là người có những miêu tả đầu tiên về baovào khoảng những năm 1500 Bao cao su do Gabrielle Fallopius sáng chế dùng đểngăn chặn bệnh giang mai, dài khoảng 20 phân, được làm bằng vải có tẩm thuốc.Đến năm 1884, với phát minh ra lưu hóa cao su, kỹ nghệ sản xuất BCS mới bùng
nổ Tuy nhiên, thời đó người ta vẫn rửa bao trước và sau khi dùng để có thể lưudụng bao cho tới khi thủng hoặc rách mới phế thải Cuộc bùng nổ trong công nghệchế tạo BCS lần thứ hai xảy ra vào năm 1930 bằng vật liệu đặc biệt dưới dạng nhựalỏng và sau đó bằng nhựa tổng hợp [35], [37]
Bao cao su khi ra đời được dùng như một biện pháp tránh thai hiệu quả.Nhưng với sự bùng nổ dịch HIV/AIDS như hiện nay thì BCS được coi là công cụđắc lực ngăn ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục Ở Mỹ, BCS còn đượccoi là một dụng cụ y khoa
Tại Trung Quốc, số liệu quan sát quốc gia cho thấy một bộ phận đáng kể nữbán dâm cũng TCMT và số này lại thường ít sử dụng BCS hơn so với những nữ bándâm không TCMT Trong khi đó, một nghiên cứu cho thấy 1/5 nữ bán dâm ở VânNam cho biết họ chưa bao giờ sử dụng BCS với khách khi bán dâm Hậu quả củanhững nguy cơ trên đã dẫn đến tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nữ bán dâm ở TrungQuốc đã gia tăng một cách đáng kể, từ 0,02% năm 1994 lên gần 1% năm 2004
Trang 34Trong hoàn cảnh đó, cũng có nhiều bằng chứng cho các can thiệp thích hợp làmgiảm nguy cơ lây truyền HIV qua quan hệ mại dâm đã có thể tạo ra sự khác biệt,nhất là ở những nơi có được sự hợp tác của các cơ quan y tế, công an và nhữngngười chủ dịch vụ Ví dụ, sau 3 năm thực hiện chương trình 100% BCS ở mộthuyện của tỉnh Hồ Nam, tỷ lệ báo cáo có sử dụng BCS đã tăng gấp 4 lần (từ 24%lênđến 88% năm 2005) và số báo cáo có các triệu chứng nhiễm trùng qua đường tìnhdục giảm gần 2/3 (từ 512 ca xuống còn 192 ca) [13], [26].
Tại Thái Lan, mặc dù mại dâm là phi pháp ở nước này nhưng Chính phủThái Lan đã giải quyết HIV/AIDS trong mại dâm từ quan điểm y tế công cộng hơn
là quan điểm đạo đức Chính phủ có nhiều biện pháp tích cực với các chủ chứa vàcác đối tượng hành nghề mại dâm Nhận thức được quy mô của ngành công nghiệpmại dâm và vai trò của nó trong việc làm lây truyền HIV/AIDS, Thái Lan đã xâydựng Chương trình 100% bao cao su trong ngành công nghiệp mại dâm trực tiếp,ngăn chặn nam giới khỏi tình dục mại dâm không có bao cao su Chính phủ TháiLan đảm bảo sự hợp tác với tất cả các chủ nhà chứa có sử dụng bao cao su Không
có cơ sở nào kinh doanh với các chủ nhà chứa nơi không sử dụng bao cao su Chínhphủ phân phối miễn phí bao cao su Chính sách 100% bao cao su đã giúp giảm đáng
kể tỷ lệ nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD) trong các kháchhàng nam giới từ phụ nữ mại dâm và tăng tỷ lệ sử dụng bao cao su trong tình dụcmại dâm Chính sách này đã có công lớn ngăn chặn đại dịch HIV/AIDS ở Thái Lan.Làm giảm được tỷ lệ lây nhiễm hàng năm từ 140.000 người năm 1991 xuống còn20.000 người năm 2003 [25]
Một nghiên cứu khác cũng cho biết Thái Lan là nước triển khai chương trìnhBCS rất sớm và các báo cáo gần đây cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV ở đất nước nàykhông gia tăng như những năm trước đây và có xu hướng giảm xuống ở một số đốitượng, trong đó có nhóm phụ nữ hành nghề mại dâm [36]
Trang 35Tại Việt Nam
Từ giữa những năm 1960, BCS xuất hiện ở Việt Nam với tư cách là một biệnpháp kế hoạch hóa gia đình chính thức ngay sau khi chính sách sinh đẻ kế hoạchđược ban hành vào năm 1963 Với sự phát triển đáng lo ngại của HIV tại Việt Namtrong những năm gần đây, BCS được nhấn mạnh như một biện pháp duy nhất vừađảm bảo tránh thai, vừa phòng tránh HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đườngtình dục [29], [32]
Theo kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh họcHIV/STIs (IBBC) tại Việt Nam 2005 – 2006 của Bộ Y tế cho thấy mặc dù có sự giatăng trong tỷ lệ PNMD sử dụng BCS với khách hàng, tỷ lệ thường xuyên sử dụngBCS vẫn đang ở mức thấp, ví dụ như chỉ 36% PNMD nhà hàng tại Quảng Ninhthường xuyên sử dụng BCS với khách hàng Tỷ lệ sử dụng BCS với bạn tìnhthường xuyên rất thấp Thêm vào đó, nhiều PNMD báo cáo có QHTD không antoàn với người TCMT, và nếu không sử dụng BCS thường xuyên, lây nhiễm HIV sẽgia tăng giữa hai nhóm này và có thể lan truyền sang những bạn tình khác của họ.Vấn đề sử dụng BCS không thường xuyên cần được tìm hiểu thêm trong nhómkhách hàng của PNMD, từ đó có thể thiết kế những chương trình tiếp thị xã hộiBCS cũng như can thiệp tại cộng đồng hiệu quả hướng tới nhóm khách làng chơi
Tỷ lệ sử dụng BCS tự báo cáo trong lần QHTD gần nhất với khách hàng rấtcao mặc dù kết quả này tương tự như các nghiên cứu định lượng khác, song cũng cóthể bị ảnh hưởng bởi sai số báo cáo Tuy nhiên, tỷ lệ PNMD sử dụng BCS thườngxuyên với khách trong vòng một tháng trước cuộc điều tra thấp hơn rất nhiều, thayđổi từ 36% trong nhóm PNMD nhà hàng tại Quảng Ninh tới 98% trong nhómPNMD đường phố tại Cần Thơ [5], [10]
Theo nghiên cứu được đăng trên tạp chí AIDS & Behavior về khảo sát thựchiện với 400phụ nữ mại dâm ở Hà Nội cho thấy tỷ lệ dùng bao cao su trong mộttháng qua cao hơn với khách lạ, ít hơn với khách quen và thấp nhất là khi quan hệ
Trang 36với chồng hoặc bạn trai 400 phụ nữ mại dâm này được chia làm hai nhóm: 40%làm ở các quán karaoke, khách sạn, mát-xa, vũ trường, và nhóm hai là 60% còn lạihoạt động trên đường phố hoặc nhà chứa.
Khi được hỏi về tần suất sử dụng bao cao su trong một tháng vừa qua, kếtquả cho thấy những phụ nữ mại dâm hoạt động ở đường phố nói tỷ lệ dùng bao cao
su với khách lạ là 64%, khách quen 44% và bạn tình (chồng hoặc bạn trai) là 6,1%.Trong khi đó, ở nhóm thứ nhất là nhóm PNMD nhà hàng, tỷ lệ này lần lượt là 59%,38% và 3,7% Lý do lớn nhất (86%) được nói đến là các cô cảm thấy họ biết cáckhách quen và tin rằng họ không mắc bệnh Vì thế, theo họ việc dùng bao cao su làkhông cần thiết Lý do không dùng BCS với bạn tình cũng tương tự như với cáckhách quen: 91% người tham gia nghiên cứu tin rằng chồng hoặc bạn trai của họkhông có bệnh Trong số các phụ nữ mại dâm không dùng BCS thường xuyên cóhai lý do chính là khách hàng không đồng ý và khó tiếp cận với BCS Tương tự nhưnhiều nghiên cứu khác, kết quả ở Hà Nội cho thấy rằng phụ nữ mại dâm hoạt động
ở những nơi “sang” hơn như vũ trường, quán bar có tỷ lệ dùng bao ít hơn các côđứng đường Ở đây lý do có thể xuất phát từ tâm lý: họ nghĩ rằng khách hàng sangtrọng giàu có sẽ ít nguy cơ mắc HIV hay các bệnh truyền nhiễm khác Một sự giảithích tương tự có thể áp dụng cho mối quan hệ tiêu cực giữa tuổi của PNMD và sốlần dùng bao - những PNMD lớn tuổi hơn lại ít dùng BCS hơn Có thể với nhữngngười này, khách hàng của họ ở diện hẹp hơn, lớn tuổi và ít tiêm chích ma tuý hơn.Ngoài ra, những phụ nữ mại dâm - bị xem là “hết duyên” cũng có thể do thiếu kỹnăng thuyết phục khách hàng dùng BCS Việc phụ nữ mại dâm trong nghiên cứu ở
Hà Nội ít dùng bao đối với khách quen và bạn tình tương tự với nhiều nghiên cứukhác ở diện rộng hơn [24]
Theo nghiên cứu đánh giá nhanh về “Tình hình hoạt động mại dâm nữ ở cácquận triển khai dự án Phòng chống HIV/AIDS cho phụ nữ có nguy cơ cao tại thànhphố HCM” do Trung tâm Nâng cao Chất lượng Cuộc sống (Life) thực hiện năm
2005 thì hành vi an toàn của mại dâm nữ được ghi nhận như sau: Các đối tượng
Trang 37nghiên cứu khẳng định tỷ lệ sử dụng BCS trong hai năm gần đây cao so với trước.Nếu như trước đây, nhóm mại dâm đường phố sử dụng BCS nhiều hơn nhóm mạidâm “cao cấp” thì trong nghiên cứu này, sự khác biệt về tỷ lệ sử dụng BCS giữa hainhóm là không nhiều Tỷ lệ sử dụng BCS tăng là do trong nhóm bạn, trong chỗ làmviệc có người nhiễm HIV gây tác động mạnh, khách hàng cũng yêu cầu sử dụngBCS Đặc biệt chủ tụ điểm hoặc bảo kê khuyên dùng bao và tạo điều kiện bằng cáchcung cấp BCS Ngoài ra, hiện nay BCS được phát miễn phí rất nhiều từ các chươngtrình xã hội Tuy nhiên với “khách ruột” hoặc người yêu, PNMD thường khôngdùng BCS Đây chính là “khe hở” khiến HIV có thể lan rộng trong cộng đồng.Nghiên cứu cũng cho thấy mại dâm có sử dụng ma tuý có tỷ lệ sử dụng BCS thấphơn nhiều vì khi cần tiền mua thuốc, PNMD có thể tiếp khách với bất cứ giá nào, kể
cả không dùng BCS nếu khách yêu cầu Theo số liệu của Ủy ban phòng chốngAIDS trong một thời gian dài từ 1993 đến 1998, tỷ lệ nhiễm HIV ở mại dâm tăngrất ít (0,5% năm 1993 đến 2,8% năm 1998) do các chương trình can thiệp kịp thờiphát BCS trong giới này Nhưng từ năm 2000, tỷ lệ nhiễm HIV ở PNMD tăng độtbiến, cao nhất là năm 2002 với 5,9% do tình hình sử dụng ma tuý tăng cao tronggiới mại dâm dẫn đến việc không dùng BCS Hiện nay các biện pháp can thiệp đốivới PNMD gặp nhiều khó khăn Thứ nhất, lực lượng giáo dục viên đồng đẳng chưađáp ứng với tình hình mại dâm ngày càng trẻ hoá, thường rút vào quán cafe, kháchsạn, vũ trường chứ không ở ngoài đường phố nhiều như trước Bên cạnh đó, các chủ
cơ sở có khuynh hướng ngăn cản sự tiếp xúc của giáo dục viên đồng đẳng Trongkhuôn khổ các hoạt động tăng cường phòng chống HIV/STIs cho mại dâm, ngoàiviệc nâng cao năng lực giáo dục viên đồng đẳng, còn có đề xuất lập nhiều thùng bánBCS tự động Để có hiệu quả cao nên đặt các thùng bán BCS tự động gần khu vệsinh của các nhà nghỉ, khách sạn, nhà hàng, [2], [41]
Theo kết quả nghiên cứu định tính tại 6 tỉnh/thành phố Hà Nội, thành phốHCM, Đà Nẵng, Cần Thơ, Hải Phòng và Quảng Ninh của Viện nghiên cứu pháttriển xã hội năm 2004 cho thấy: tất cả các phụ nữ hành nghề mại dâm tham gianghiên cứu đều có ý thức về tầm quan trọng của việc sử dụng BCS với sự an toàn
Trang 38của bản thân Phần lớn có kinh nghiệm trong thuyết phục khách hàng sử dụng BCS.Tuy nhiên, nhóm này có xu hướng không sử dụng BCS hoặc sử dụng không thườngxuyên với chồng hoặc người yêu, nhiều khi cả với khách hàng quen thuộc Một mâuthuẫn nảy sinh từ chính kết quả nghiên cứu là mặc dù hầu hết đối tượng nghiên cứuđều có nhận thức khá tốt về nguy cơ bệnh tật và đánh giá cao tác dụng của BCSnhưng tại sao số người chấp nhận sử dụng biện pháp này lại thấp như vậy? Mặtkhác, tại sao hành vi sử dụng BCS lại không nhất quán và không triệt để khiến nguy
cơ lây nhiễm bệnh không kiểm soát được như mong đợi? Vậy điều gì là nguyênnhân của tình trạng này, hay nói cách khác, những yếu tố nào quyết định việc sửdụng BCS? Để lý giải mâu thuẫn nói trên đối với nhóm PNMD qua kết quả nghiêncứu cũng thấy rằng môi trường pháp lý và một số vấn đề văn hoá - xã hội có ảnhhưởng rất lớn đến hành vi sử dụng BCS của nhóm đối tượng này PNMD khôngmuốn mang BCS trong người vì nó được coi là bằng chứng hành nghề mại dâm.Nguy cơ bị bắt cũng làm cho một số người bỏ qua việc sử dụng BCS Những ngườibán BCS có nguy cơ bị coi là tiếp tay cho tệ nạn xã hội Do sự kỳ thị của xã hội đốivới nhóm phụ nữ hành nghề mại dâm, nên họ càng ngại ngần hơn khi đi mua BCS.Khi đi khách phần lớn họ thường dùng những loại BCS được cấp miễn phí hoặc loạimua với giá rẻ Chính vì vậy, máy bán BCS được nhiều đối tượng hoan nghênh vìcho rằng nó giúp khách hàng không chỉ là PNMD mà còn các đối tượng khác trongcộng đồng giải quyết sự mặc cảm, ngại ngần khi mua BCS [29]
Với nhóm PNMD, thường xuyên sử dụng BCS là biện pháp phòng ngừa HIVhữu hiệu nhất Rất nhiều kết quả nghiên cứu định tính và định lượng cũng như sốlượng BCS bán ra trong những năm gần đây đều cho thấy sự tăng lên đáng kể trongviệc sử dụng BCS Tuy nhiên, có thể thấy tỷ lệ báo cáo sử dụng BCS 80-90% trongmột số nghiên cứu là cao hơn so với thực tế Đặc biệt khi so sánh với sự hạn chếtrong mức độ bao phủ của các chương trình can thiệp trong nhóm PNMD Mộttrong những lý giải quan trọng khác là sai số tạo ra bởi các định kiến xã hội Khiđược hỏi về hành vi sử dụng BCS, đa số người trả lời đều có xu hướng trả lời caohơn thực tế [41]
Trang 39Báo cáo tóm tắt “Di biến động và tổn thương với HIV ở Việt Nam” cho thấy,mặc dù tỷ lệ dùng bao cao su khá cao (trên 70%) nhằm ngừa thai và phòng tránhHIV và các nhiễm khuẩn lây qua đường tình dục, song tỷ lệ sử dụng thường xuyênlại thấp hơn (dưới 50% đối với khách không quen biết) Điều này giải thích vì saoHIV và các bệnh nhiễm khuẩn qua đường tình dục vẫn gia tăng liên tục trong nhómphụ nữ hành nghề mại dâm [30].
Tóm lại, cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về kiến thức vàthực hành sử dụng BCS ở nhóm PNMD ở Việt Nam Tuy nhiên, chưa có nhiềunghiên cứu về độ chênh giữa kiến thức và thực hành sử dụng BCS ở nhóm đốitượng này Chính vì vậy, thực hiện đề tài này, tác giả phân tích nhằm phân tích độchênh giữa kiến thức và thực hành của PNMD về việc sử dụng BCS trong phòngchống lây nhiễm HIV Kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày rõ hơn trong chương 2của luận văn
1.3 Các khái niệm công cụ
1.3.1 Nhận thức
Nhận thức: là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người,
sự phản ánh đó không phải là hành động nhất thời, máy móc ,đơn giản, thụ động mà
là cả một quá trình phức tạp của hoạt động trí tuệ tích cực, sáng tạo
Nhận thức gồm: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Nhận thức cảm tính là khâu đầu tiên của quá trình nhận thức, biểu hiện 3 cái: cảmgiác; tri giác; biểu tượng;
Nhận thức lý tính bắt nguồn từ nhận thức cảm tính nó phản ánh hiện thực sâusắc hơn, nó phản ánh mối liên hệ bản chất mang tín quy luật Nhận thức lý tínhđược biểu hiện dưới 3 hình thức: Khái niệm; phán đoán; suy lý
Trang 40Hành vi sử dụng BCS trong đề tài được đo qua các mốc thời gian: trong lầnQHTD gần đây nhất, trong 1 tháng qua (trước thời điểm điều tra) và trong vòng 6tháng qua (trước thời điểm điều tra)
1.3.3 Mại dâm
Mại dâm tiếng Latinh là prostituere có nghĩa là “bày ra để bán”, chỉ việc bánthân một cách tùy tiện, không thích thú Trong Xã hội học và Tội phạm học, theonghĩa rộng, mại dâm có thể được định nghĩa như việc trao đổi sự thỏa mãn tình dụclấy tiền hoặc bất cứ một giá trị vật chất nào
Pháp lệnh Phòng chống mại dâm do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hànhngày 14/3/2003 đã định nghĩa một số khái niệm liên quan đến mại dâm tại điều 3