1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bước đầu đề xuất kế hoạch hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại khu bảo tồn thiên nhiên bắc hướng hóa tỉnh quảng trị giai đoạn 2007 2011

101 159 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đáp ứngđược yêu cầu bảo tồn đa dạng sinh học của khu bảo tồn nhưng đồng thời cũngđảm bảo được các nhu cầu cho sự phát triển bền vững, tôi đã chọn đề tài “Bước đầu đề xuất kế hoạch hoạ

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Bộ nông nghiệp và PTNT

Trường đại học lâm nghiệp

-o0o -Văn Ngọc Thắng

Bước đầu đề xuất kế hoạch hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại khu bảo tồn thiên nhiên bắc hướng hóa-tỉnh quảng trị

giai đoạn 2007-2011

Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp

Hà tây, năm 2007

Trang 2

Bộ giáo dục và đào tạo bộ nông nghiệp và PTNT

Trường đại học lâm nghiệp

-o0o -Văn Ngọc Thắng

Bước đầu đề xuất kế hoạch hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại khu bảo tồn thiên nhiên bắc hướng hóa-tỉnh quảng trị

giai đoạn 2007-2011Chuyên ngành Lâm học

Trang 3

Lời cảm ơn

Đề tài:"Bước đầu đề xuất kế hoạch hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa- Tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2007- 2011" được thực hiện trong khuôn khổ một bản luận văn tốt nghiệp cao

học tại trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ nhiệttình và những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo, Lãnh đạo Chicục Kiểm lâm Quảng Trị, Hạt Kiểm lâm Hướng Hóa, Uỷ ban nhân dân các xãHướng Lập, Hướng Việt, Hướng Phùng, Hướng Sơn, Hướng Linh cùng cácbạn đồng nghiệp

Tác giả xin chân thành cám ơn lãnh đạo trường Đại học Lâm nghiệp ViệtNam, các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy trong suốt thời gian theo họccũng như trong quá trình thực hiện đề tài

Tác giả xin chân thành cám ơn sâu sắc đến Phó giáo sư Tiến sỹ Lê DiênDực, thầy giáo hướng dẫn trực tiếp đã dành nhiều thời gian quý báu cho bảnluận văn này

Xin chân thành cám ơn ban lãnh đạo Chi cục Kiểm Lâm Quảng Trị đãtạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Xin chân thành cám ơn Uỷ ban nhân dân các xã Hướng Lập, HướngViệt, Hướng Phùng, Hướng Sơn, Hướng Linh cùng các ban ngành cấp huyện

đã giúp tác giả có được những thông tin cần thiết phục vụ cho xây dựng luậnvăn Xin chân thành cám ơn các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi về mọi mặt đểhoàn thành luận văn này

Tác giả:Văn Ngọc Thắng

Trang 4

MỞ ĐẦU

Vùng Bắc Hướng Hoá nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Quảng Trị, thuộcphía Nam của vùng Bắc Trường Sơn có độ cao từ 450 mét đến 1.770 mét.Đây là vùng chuyển tiếp giữa các vùng khí hậu Bắc- Nam và Đông - Tây củadãy Trường Sơn Do vị trí địa lý đặc biệt nên trong vùng đã hình thành nhiềukiểu rừng như: rừng kín thường xanh nhiệt đới, rừng kín hỗn giao giữa lárộng-lá kim á nhiệt đới, rừng tre nứa, rừng trên núi đá vôi Các hệ sinh tháirừng ở đây còn ít bị tác động nên còn mang nhiều tính nguyên sinh

Theo điều tra ban đầu của tổ chức chim Quốc tế (BirdlifeInternational), của viện sinh thái và tài nguyên sinh vật thì đây là vùng có tính

đa dạng sinh học cao với : 920 loài thực vật, 42 loài thú, 171 loài Chim, 30loài lưỡng cư, 31 loài bò sát Trong đó có 17 loài thực vật, 11 loài thú và 12loài chim được ghi trong sách đỏ Việt Nam; 23 loài thực vật, 11 loài thú và 9loài chim được ghi trong sách đỏ thế giới Đây được xem là quê hương củacác loài chim trĩ đặc hữu ở Đông Dương, là một vùng chim quan trọng theocác tiêu chí Quốc Tế bởi sự có mặt của các loài chim đặc hữu; các loài thúlớn và linh trưởng đang bị đe dọa mang tính toàn cầu

Khu vực này còn là rừng phòng hộ đầu nguồn xung yếu của 4 con sônglà: sông Bến Hải, sông Cam Lộ (sông Hiếu), sông Xê Păng Hiêng (chảy vàosông Mê Kông bên Lào) và đặc biệt quan trọng là sông Rào Quán (sôngQuảng Trị) nơi có công trình thủy điện Rào Quán, sắp hoàn thành Nơi đâycũng có nhiều cảnh quan đặc biệt, có thể xây dựng các điểm, tuyến du lịchsinh thái kết hợp với tuyến đường Hồ Chí Minh chạy suốt chiều dọc theohướng Bắc - Nam qua các bản làng của người dân tộc Vân Kiều, Pa Cô, bổsung tuyến du lịch các di sản miền Trung như động Sa Mùi, dốc Dân Chủ,động Tri, động Voi Mẹp

Sau nhiều năm chiến tranh ác liệt kéo dài, đời sống kinh tế, văn hoá xãhội của người dân, đặc biệt là các dân tộc thiểu số như Vân Kiều, Pa Cô cònrất nhiều khó khăn Đáng chú ý là sự gia tăng dân số, nạn săn bắt động vật

Trang 5

hoang dã, chặt rừng và phát nương làm rẫy bất hợp pháp… kéo dài trongnhiều năm đã gây áp lực đáng kể lên nguồn tài nguyên rừng trong vùng.

Thực hiện nghị quyết của Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lầnthứ XIV - nhiệm kỳ 2005 - 2010 " Phát triển lâm nghiệp toàn diện theohướng xã hội hoá nghề rừng Tập trung bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyênrừng, chú trọng trồng rừng phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái; rừng kinh

tế đảm bảo nguyên liệu cho các cơ sở chế biến lâm sản Đảm bảo rừng và đấtrừng có chủ thực sự, gắn với việc tăng thu nhập xoá đói giảm nghèo, gópphần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo của chính phủgiai đoạn 2006 – 2010 (QĐ số 20/2007/QĐ-TTg, ngày 5/2/2007) ; nâng độche phủ lên 43% vào năm 2010 Ngăn chặn có hiệu quả nạn khai thác, buônbán lâm sản trái phép, nạn cháy rừng, đốt phá rừng làm nương rẫy"

Nhận thức rõ tầm quan trọng của khu vực rừng Bắc Hướng Hóa trongnhiều lĩnh vực, sau hơn 2 năm triển khai các thủ tục đề nghị, xây dựng vàthẩm định, ngày 14/3/2007, UBND tỉnh Quảng Trị đã ra quyết định số 479/QĐ-UBND phê duyệt Dự án quy hoạch và đầu tư Khu bảo tồn thiên nhiênBắc Hướng Hóa, huyện Hướng Hóa với tổng diện tích là 25.200 ha Cho đếnnay Ban quản lý KBT đang được xúc tiến để thành lập Tuy nhiên tại đâychưa có một kế hoạch hoạt động bảo tồn nào được xây dựng Để đáp ứngđược yêu cầu bảo tồn đa dạng sinh học của khu bảo tồn nhưng đồng thời cũngđảm bảo được các nhu cầu cho sự phát triển bền vững, tôi đã chọn đề tài

“Bước đầu đề xuất kế hoạch hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học tại khu

bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa- Quảng Trị giai đoạn 2007-2011” Yêu cầu hoạt động bảo tồn phải phù hợp với tình hình thực tế, gắn kết với các

hoạt động địa phương và phù hợp với các chủ trương chính sách của nhànước, đòi hỏi mọi hoạt động dù ngắn hạn hay dài hạn đều nhằm tới mục tiêukết hợp bảo tồn với phát triển bền vững Kế hoạch hoạt động bảo tồn đượcxây dựng trên cơ sở đó sẽ góp phần cho Ban quản lý khu bảo tồn và các đốitác liên quan thực hiện có kết quả kế hoạch quản lý của mình trong thời giantới

Trang 6

Chương 1

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Bảo tồn đa dạng sinh học

1.1.1 Những khái niệm cơ bản về đa dạng sinh học

Công ước đa dạng sinh học năm 1992, định nghĩa đa dạng sinh học(ĐDSH) như sau:

" Đa dạng sinh học là sự khác biệt trong mọi cơ thể sống có từ mọinguồn, từ các hệ sinh thái ở đất liền, ở biển, và các hệ sinh thái khác ở môitrường nước, và mọi tổ hợp sinh thái mà các cơ thể sống là thành phần hợpthành Đa dạng sinh học cũng bao gồm sự đa dạng trong loài, giữa các loài, vàcác hệ sinh thái Đa dạng sinh học bao gồm cả các nguồn tài nguyên di truyền,các cơ thể hay các phần của cơ thể , các chủng quần, hay các hợp phần sinhhọc khác của hệ sinh thái, hiện đang có giá trị sử dụng hay có tiềm năng sửdụng cho loài người"[16, tr.11]

Vậy đa dạng sinh học là sự phong phú về sự sống trên trái đất của hàngtriệu loài thực vật, động vật, vi sinh vật cùng với nguồn gen của chúng và các

hệ sinh thái mà chúng tạo nên Đa dạng sinh học hay tính ĐDSH là một thuậtngữ bao trùm về sự khác nhau trong thế giới hữu sinh Thuật ngữ này thườngđược dùng để mô tả về số lượng, sự khác nhau và tính chất biến đổi của các

cá thể sinh vật Thông thường ĐDSH được xác định bởi các gen, loài và hệsinh thái, tương ứng với ba cấp hạng của tổ chức sinh học, đó là 1) Đa dạng ditruyền còn gọi là đa dạng gen, 2) đa dạng loài và 3) đa dạng hệ sinh thái

Đa dạng về di truyền là đa dạng về các kiểu gen Đột biến gen và nhiễmsắc thể thông qua quá trình tái tổ hợp sẽ tạo ra các biến dị di truyền làm nguồnnguyên liệu cho chọn lọc tự nhiên trong quá trình tiến hoá để tạo ra bộ mặtcác loài như ngày nay

Đa dạng về loài thường dùng để chỉ sự phong phú về loài cụ thể là số

Trang 7

loài trong một vùng có cùng một điều kiện lập địa hay sinh cảnh Sự đa dạng

về loài trên thế giới được thể hiện đặc trưng bởi tổng số loài trong các nhómtaxon khác nhau

Đa dạng về hệ sinh thái là thước đo sự phong phú của các hệ sinh thái,

đó là những sự tương tác phức tạp giữa các sinh vật với nhau và với các thànhphần vô sinh của hệ sinh thái đó Sự đa dạng này được phản ánh bởi sự đadạng về sinh cảnh, các quần xã sinh vật và các quá trình sinh thái trong tựnhiên

Từ 3 góc độ này người ta có thể tiếp cận với đa dạng sinh học từ 3mức độ khác nhau: mức độ phân tử (gen), mức độ cơ thể và mức độ hệ sinhthái (IUCN,1994)

Như vậy, ĐDSH bao gồm sự phong phú của tất cả thế giới sinh vật ởtất cả các dạng, các bậc phân loại, các mức độ và tổ hợp của chúng Đó khôngchỉ là tổng số của các hệ sinh thái, các loài, các vật chất di truyền mà còn baogồm tất cả các mối quan hệ phức tạp bên trong và giữa chúng với nhau, vớithế giới vô sinh và với xã hội loài người (Vì người cũng được coi là thànhphần của HST) Vì vậy, cũng có thể nói rằng ĐDSH là kết quả của sự tươngtác giữa hai hệ thống tự nhiên và xã hội

1.1.2 Bảo tồn đa dạng sinh học trên thế giới

Ngày nay bảo tồn ĐDSH đã trở thành một chiến lược toàn cầu Đadạng sinh học có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế

xã hội, trong đời sống vật chất và tinh thần của con người, trong việc duy trìcác chu trình tuần hoàn tự nhiên và sự cân bằng sinh thái Đó là cơ sở của sựsống còn, sự thịnh vượng và bền vững của loài người cũng như của trái đấtnói chung Thế nhưng do dân số và yêu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiêncủa con người ngày càng tăng nên cũng chính con người đã và đang khai thácnguồn tài nguyên này một cách quá mức, đặc biệt ở vùng nhiệt đới, dẫn tới sựsuy thoái các hệ sinh thái, làm nghèo kiệt nguồn ĐDSH, thậm chí hủy diệtnguồn tài nguyên quý giá đó để đáp ứng cho nhu cầu ngày càng tăng của

Trang 8

mình Đến nay đã có hơn 40% diện tích rừng nhiệt đới nguyên thuỷ bị pháhuỷ, trung bình hàng năm có khoảng 6-7 triệu hecta đất trồng trọt bị mất khảnăng sản xuất do xói mòn Ước tính 5-10% số loài trên thế giới sẽ biến mấtvào khoảng giữa những năm 1990 đến 2020, và số loài bị tiêu diệt sẽ tăng lênđến 25% vào khoảng năm 2050 (IUCN, UNEP, WWF, 1996) Đứng trướctình hình đó nhiều tổ chức quốc tế như IUCN, Chương trình môi trường Liênhợp quốc (UNEP), WWF, Viện tài nguyên di truyền quốc tế (IPGRI) v.v đãhướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển ĐDSH trêntoàn phạm vi toàn thế giới Nhu cầu cơ bản và sự sống còn của loài người phụthuộc vào các nguồn tài nguyên của trái đất, nhất là tài nguyên ĐDSH, nếunhững tài nguyên đó bị giảm sút thì cuộc sống của chúng ta và con cháu maisau sẽ bị đe doạ Con người đã quá lạm dụng trong việc khai thác các nguồntài nguyên của trái đất mà không nghĩ đến tương lai, có thể nói đây là mộtthảm hoạ Nhận thức được tầm quan trọng của ĐDSH đối với sự tồn tại của

xã hội loài người và đứng trước sự suy giảm với tốc độ ngày càng nhanh củaĐDSH, con người đã bắt đầu những hoạt động có hiệu quả để bảo tồn nguồntài nguyên quý giá này Nhiều hội thảo đã được tổ chức và nhiều cuốn sách cónội dung liên quan đã được xuất bản từ những năm đầu thập kỹ 90 của thế kỹtrước Tất cả các tài liệu đó đều mang tính chiến lược và chương trình hànhđộng nhằm hướng dẫn về bảo tồn ĐDSH, làm nền tảng cho công tác bảo tồn

và phát triển trong tương lai Chính phủ các nước trên thế giới đã thông qua

05 Công ước quốc tế liên quan đến bảo tồn ĐDSH:

- Công ước ĐDSH (CBD) đã được ký kết tại Hội nghị thượng đỉnh Rio

de Janeiro tháng 6/1992 và có hiệu lực vào cuối năm 1993, cho đến nay đãđược 127 nước phê chuẩn

- Công ước về đất ngập nước (RAMSAR)

- Công ước buôn bán quốc tế các loài bị đe dọa (CITES)

- Công ước di sản Thế giới

- Công ước bảo tồn các loài di cư (CMS)

Trang 9

Một trong những nỗ lực mà nhiều nước triển khai đó là giành một diệntích lớn để thành lập các khu bảo tồn nhằm bảo vệ nguyên vị các hệ sinh tháiđiển hình, các loài động thực vật hoang dã đặc biệt là các loài đặc hữu, cóvùng phân bố hẹp, loài quí hiếm và có nguy cơ bị tuyệt chủng Đây là giảipháp vô cùng quan trọng trong công tác bảo tồn ĐDSH trên toàn cầu cũngnhư tại mỗi quốc gia trong thời đại ngày nay.

Năm 1933, hội nghị quốc tế tổ chức tại London đã qui định 4 loại hìnhkhu bảo vệ gồm: Vườn quốc gia (VQG), Khu dự trữ thiên nhiên, Khu dự trữđộng vật và Khu dự trữ đặc biệt

Năm 1978, tổ chức bảo tồn thiên nhiên (BTTN) thế giới (IUCN) đã đưa

ra một hệ thống phân loại các khu bảo vệ gồm 10 hạng:

1 Khu BTTN toàn phần (hoặc cho khoa học) hay khu bảo tồn nghiêmngặt (Scientific reserve/Strict Nature Reserve);

2 Vườn quốc gia (National Park);

3 Thắng cảnh tự nhiên (Natural Monument/Natural Landmark);

4 Khu BTTN / Khu BTTN có quản lý / Khu bảo tồn động vật (NatureConservation Reserve / Managed Nature Reserve / Wildlife Sanctuary);

5 Khu bảo vệ cảnh quan trên đất liền và trên biển (Protected Landscape

or Seascape);

6 Khu bảo tồn tài nguyên (Resource Reserve);

7 Khu bảo tồn sinh học tự nhiên/Khu bảo tồn nhân chủng học (Naturebiotic Area/Anthropological Reserve);

8 Khu quản lý đa tác dụng/Khu quản lý tài nguyên (Multiple UseManagement Area / Managed Resource Area);

9 Khu bảo tồn sinh quyển (Biosphere Reserve);

10.Khu Di sản thiên nhiên thế giới (World Natural Heritage Site)

Năm 1994 sau hội nghị của hội đồng khu bảo tồn thiên nhiên và vườnquốc gia tại Caracas, thủ đô của Venezuela, IUCN đã đưa ra hệ thống mới baogồm các loại hình để quản lý và tùy theo từng loại hình mà mức độ quản lý có

Trang 10

khác nhau, bao gồm:

1 Loại I: Khu BTTN nghiêm ngặt / Khu bảo tồn tính hoang dã (Strictnature Reserve/Wildeness Area)

Ia Khu bảo tồn thiên nhiên nghiêm ngặt ( Strict Nature Reserve)

Khu bảo vệ được quản lý chủ yếu nhằm mục đích khoa học

Ib Khu bảo tồn tính hoang dã (Wildeness Area)

Khu bảo vệ được quản lý chủ yếu nhằm bảo vệ tính hoang dã của tự nhiên

2 Loại II: Vườn quốc gia (National Park)

Khu bảo vệ được quản lý chủ yếu nhằm bảo vệ hệ sinh thái và vui chơi,giải trí

3 Loại III: Thắng cảnh tự nhiên (Natural Monument)

Khu bảo vệ được quản lý chủ yếu nhằm bảo vệ các cảnh quan thiên nhiênđặc biệt

4 Loại IV: Khu bảo vệ loài / sinh cảnh (Habitat/Species ManagementArea):

Khu bảo vệ được quản lý chủ yếu cho công tác bảo tồn một số sinh cảnhhay các loài đặc biệt cần bảo vệ

5 Loại V: Khu bảo tồn cảnh quan (trên đất liền hoặc trên biển)(Protected Landscape or Seascape)

Khu bảo vệ được quản lý chủ yếu cho mục đích vệ các cảnh quan đẹp trênđất liền hoặc trên biển sử dụng cho giải trí và du lịch

6 Loại VI: Khu bảo tồn tài nguyên có quản lý (Managed Resource

1.1.3 Bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam

Trang 11

Việt Nam được cộng đồng Quốc tế công nhận là một trong nhữngnước có nguồn tài nguyên đa dạng sinh học cao trên thế giới Nhận thức đượcvai trò quan trọng của rừng và Đa dạng sinh học nên Chính phủ Việt Nam đã

có nhiều chủ trương, chính sách và hành động nhằm bảo vệ các nguồn tàinguyên thiên nhiên có nhiều giá trị này

Quá trình hình thành hệ thống khu BTTN Việt Nam gắn liền với lịch

sử đất nước và những giai đoạn phát triển của ngành lâm nghiệp và có thểkhái quát như sau:

Ngay từ trước năm 1945, Thực dân Pháp đã đề nghị xây dựng 5 khu dựtrữ thiên nhiên và bảo vệ toàn phần, trong đó 2 khu ở Sa Pa, 2 khu ở Bà Nà vàkhu Bạch Mã

Trong thời kỳ chiến tranh diễn ra rất ác liệt, Chính phủ Việt Nam đãquyết định thành lập khu rừng cấm đầu tiên là rừng cấm Cúc Phương vàongày 17 tháng 7 năm 1962

Sau Cúc Phương, 10 khu rừng cấm khác trong phạm vi toàn quốc đượccông nhận, theo quyết định 41/TTg ngày 24/1/1977 của Thủ Tướng ChínhPhủ Tiếp theo đó, nhiều khu rừng có giá trị BTTN, bảo tồn ĐDSH được pháthiện, tiếp tục trình Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định thành lập như KhuBTTN Nam bãi Cát Tiên (1978); Khu BTTN Mom Ray-Ngọc Vin (1982);Khu rừng cấm Côn Đảo (1986)

Ngày 9/8/1986, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng có quyết định số 194/CTcông nhận tiếp 73 khu rừng đặc dụng , trong đó gồm 2 VQG, 46 khu dự trữthiên nhiên, 25 khu di tích lịch sử văn hoá

Cho tới tháng 8 năm 1986 một hệ thống các khu rừng cấm, thực chất

là những khu Bảo tồn thiên nhiên do ngành Nông - Lâm nghiệp quản lý đãđược hình thành bao gồm 87 khu với tổng diện tích trên 900.000ha và đượcchia làm 3 loại hình:

1 Vườn Quốc Gia (National Park): 7 khu

2 Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên (Nature Reserve): 49 khu

Trang 12

3.Khu Văn hoá, Lịch sử, Môi trường (Cultural, Historical andEnvironmental Site ) : 31 khu

Ngày 19/12/1986, Bộ Lâm nghiệp (cũ) ra quyết định 1171-QĐ ban hànhQui Chế quản lý 3 loại rừng: rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng.Lần đầu tiên thuật ngữ “rừng đặc dụng”(RĐD) được sử dụng thay cho thuậtngữ “rừng cấm” một cách chính thức và cũng lần đầu tiên rừng đặc dụng và 3loại hình (Categories) của nó được định nghĩa và phân cấp quản lý

Rừng đặc dụng (Special use forest) là một thành phần của vốn rừngQuốc gia, được xây dựng nhằm các mục tiêu sau đây:

- Bảo tồn các mẫu sinh cảnh rừng khác nhau

- Bảo tồn nguồn gen động vật và thực vật

- Bảo tồn các khu rừng có giá trị về cảnh quan, văn hoá lịch sử và bảo

vệ sức khoẻ

- Nghiên cứu khoa học, giáo dục và đào tạo

Từ đầu năm 1987, cùng với xu thế của khu vực và thế giới, vấn đề bảotồn ĐDSH và bảo vệ môi trường nói chung được đặc biệt quan tâm trên phạm

vi toàn cầu Nhiều khu bảo tồn đã được thành lập và Việt Nam đã ký kếtnhiều công ước quốc tế (Công ước di sản thế giới năm 1987, Công ước về đấtngập nước có tầm quan trọng quốc tế năm 1989, Công ước về ĐDSH năm

1993 và Công ước về buôn bán quốc tế các loài bị đe doạ CITES năm 1994).Tiếp theo việc phê chuẩn công ước ĐDSH năm 1994, Chính phủ ta đã xâydựng kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam nhằm bảo tồn tính ĐDSH củaquốc gia một cách có hiệu quả

Đầu năm 2001, trong Quyết định số 08/2001/QĐ - TTg, ngày 11 tháng

1 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Qui chế quản lý rừngđặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên Rừng đặc dụngđược chia thành 3 loại :

1.Vườn quốc gia

2 Khu Bảo tồn thiên nhiên

Trang 13

2a Khu dự trữ thiên nhiên2b Khu bảo tồn loài hay sinh cảnh

3 Khu rừng văn hoá-lịch sử-môi trường (khu rừng bảo vệ cảnh quan)

Do những thay đổi về tình hình kinh tế xã hội của đất nước đòi hỏiphải có những thay đổi trong hệ thống quản lý các loại rừng ở Việt Nam Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 ban hành nhằm thể chế hóa nhữngchủ trương, đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước Để cụ thể hóa cho việcthực hiện luật bảo vệ và phát triển rừng , ngày 14/8/2006 thủ tướng chính phủ

đã ban hành quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ban hành quy chế quản lý rừngthay cho Quyết định số 08/2001/QĐ - TTg, ngày 11 tháng 1 năm 2001 trướcđây Rừng đặc dụng được chia thành 4 loại :

1.Vườn quốc gia

2.Khu Bảo tồn thiên nhiên

2a Khu dự trữ thiên nhiên2b Khu bảo tồn loài hay sinh cảnh

3 Khu bảo vệ cảnh quan

4 Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học

Bảng 1.1: Hệ thống khu rừng đặc dụng ở Việt Nam

II Khu bảo tồn thiên nhiên

- IIa Khu BTTN dữ trữ thiên nhiên

- IIb Khu BTTN bảo tồn loài/sinh cảnh

60

48 12

1.184.372

1.100.892 83.480

Nguồn: Số liệu thống kê đến 10/2006 - Cục Kiểm lâm

Theo hệ thống phân loại rừng đặc dụng Việt Nam khu bảo tồn thiênnhiên Bắc Hướng Hóa được xác định là khu bảo tồn loài và sinh cảnh

Trang 14

1.1.4 Đánh giá tình hình tổ chức, quản lý hệ thống rừng đặc dụng ở Việt Nam.

Như vậy, công tác bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam đã hìnhthành, phát triển trong hơn 40 năm qua Trong quá trình phát triển chúng ta đãtừng bước bổ sung, mở rộng, hình thành được một hệ thống khu bảo tồn rừng

và đất ngập nước ven biển Chúng ta cũng đã xây dựng, bổ sung, các quy địnhcủa pháp luật, các văn bản có liên quan đến việc quản lý tài nguyên rừng và

đa dạng sinh học Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai các hoạt độngbảo tồn

Nếu so hệ thống phân hạng rừng đặc dụng của Việt Nam với hệ thốngphân hạng của IUCN, 1994 thì còn có những điểm chưa tương thích Hệthống phân hạng của IUCN,1994 được sắp xếp theo mục tiêu bảo tồn giảmdần ( khu bảo tồn thiên nhiên đứng đầu, vườn quốc gia đứng thứ 2 ) và cácmục tiêu phát triển (sử dụng hợp lý) tăng dần (từ khu quản lý tài nguyên thiênnhiên, đến khu bảo tồn cảnh quan ) Theo hệ thống phân hạng của Việt Namthì khu bảo tồn loài và sinh cảnh là một phân loại (Sub- category) của khu bảotồn trong khi theo hệ thống phân hạng của IUCN thì nó là một loại riêng vì cómục tiêu quản lý khác nhau

Như vậy hệ thống phân hạng các khu bảo tồn Việt Nam chưa có sựthống nhất với cách phân hạng quốc tế Trong quản lý hiện nay vẫn chủ yếu làbảo vệ nghiêm ngặt, chưa gắn kết được các quan điểm hiện đại về bảo tồn làvừa bảo tồn vừa phát triển

Về quản lý, hiện nay việc quản lý hệ thống các khu bảo tồn đang phânchia theo các ngành chức năng nên chưa thống nhất được (Bộ Nông nghiệp vàPhát triển Nông thôn đang quản lý các khu bảo tồn liên quan đến môi trườngrừng trên đất liền và ven biển, Bộ Thủy Sản quản lý các khu bảo tồn biển, Bộtài nguyên và môi trường quản lý các khu đất ngập nước) Do chưa phân chiacác cấp quản lý cụ thể nên hệ thống quản lý và nguồn đầu tư cho các khu bảotồn hiện nay chủ yếu dựa vào nhà nước, chưa huy động được sự tham gia của

Trang 15

các thành phần trong xã hội khác tham gia vào lĩnh vực bảo tồn.

Bộ NN&PTNT là cơ quan của Chính phủ được giao nhiệm vụ quản lýnhà nước về RĐD trong toàn quốc và hiện nay đang trực tiếp quản lý 8 Vườnquốc gia có vị trí đặc biệt quan trọng hoặc nằm trên nhiều tỉnh Đối với cácKBTTN bao gồm cả RĐD có đất ngập nước và biển, Bộ NN&PTTN phối hợpvới bộ Thuỷ sản, Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý theo từng lĩnh vựcchuyên ngành

Cục Kiểm lâm là cơ quan được Bộ NN&PTTN giao nhiệm vụ giúp Bộtrưởng giám sát và quản lý về chuyên môn nghiệp vụ đối với hệ thống RĐDtrong toàn quốc

Uỷ ban nhân dân các tỉnh có trách nhiệm quản lý nhà nứơc về RĐDtheo quy định tại Quyết định số 245/QĐ-TTg ngày 21/12/1998 của Thủ tướngChính phủ “Về trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp về rừng và đất lâmnghiệp” và Quyết định số 186/TTg-2006 ngày 14/8/2006 của Thủ Tướngchính phủ ban hành "Quy chế quản lý rừng” ; thông tư 99 ngày 6/11/2006 vềhướng dẫn một số điều của Quy chế quản lý rừng UBND các tỉnh được phâncấp quản lý toàn diện và trực tiếp hầu hết các KBTTN thuộc hệ thống RĐDtrên địa phận hành chính của mình

Ban quản lý các khu RĐD là đơn vị sự nghiệp được giao nhiệm vụ làchủ rừng ở từng Khu BTTN cụ thể Những khu RĐD chưa có Ban quản lý,UBND các tỉnh thường giao cho các Hạt Kiểm lâm sở tại chịu trách nhiệmquản lý, một số khu khác lại giao cho Sở NN & PTNT hoặc Sở Văn hoá –Thông tin quản lý

Phân công trách nhiệm và phân cấp quản lý RĐD chưa rõ ràng làm choviệc quản lý lỏng lẻo, chồng chéo, hiệu quả thấp

Chưa có một tổ chức phù hợp để giúp Bộ trưởng Bộ NN&PTNT quản

lý tốt hệ thống RĐD Hiện nay, nhiệm vụ quản lý và bảo vệ RĐD đang do lựclượng Kiểm lâm đảm nhiệm là chủ yếu, nhưng so với yêu cầu thì rõ ràng về tổchức, biên chế và năng lực vẫn còn rất nhiều bất cập, thiếu cán bộ chuyên

Trang 16

Nguồn vốn đầu tư cho các khu RĐD chủ yếu dựa vào ngân sách Nhànước và nguồn tài trợ từ các dự án hợp tác quốc tế Tổng mức đầu tư cònthấp, suất đầu tư cho đơn vị diện tích rừng đựơc giao quản lý còn hạn chế,phân bổ vốn đầu tư không đồng đều tùy từng địa phương Hầu hết các khuRĐD do tỉnh quản lý đều lấy nguồn ngân sách địa phương, nên tổng mức đầu

tư thấp và ít nhận được nguồn đầu tư quốc tế

Vấn đề quản lý vùng đệm đang gặp những khó khăn như chưa xác định

rõ ranh giới vùng đệm trên bản đồ và trên thực địa Hầu hết các vùng đệm đềuđược hoạch định theo địa giới hành chính các xã; chưa có một quy chế thốngnhất về quản lý và phát triển vùng đệm; chưa có quy định rõ ràng về nội dụngđầu tư phát triển vùng đệm

1.2 Cơ sở của kế hoạch quản lý tài nguyên rừng và bảo tồn đa dạng sinh học dựa trên cơ sở cộng đồng

1.2.1 Quản lý bảo tồn ( Conservation Management)

Quản lý bảo tồn có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau Có ý kiến chorằng quản lý bảo tồn là "bảo tồn hiện trạng tự nhiên " Tuy nhiên có ý kiến lạicho rằng quản lý bảo tồn là "bảo tồn tối đa tính đa dạng loài" Điều này đượchiểu là bảo tồn các hệ sinh thái và chức năng của chúng

Quản lý một vườn quốc gia hay khu bảo tồn là việc kiểm soát một

Trang 17

cách khôn khéo các chủng quần động, thực vật hoang dã, các sinh cảnh, đất

và giám sát các tác động của con người nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể

mà ta gọi là mục tiêu quản lý Mục tiêu quản lý của vườn quốc gia hay khubảo tồn có thể xem như kim chỉ nam cho những người có trách nhiệm thực thicác biện pháp quản lý Kế hoạch quản lý một vườn quốc gia hay khu bảo tồnphải thể hiện được mục tiêu mà bản kế hoạch tổng thể (thường là luận chứngkinh tế kỹ thuật) đề ra , một kế hoạch quản lý tốt phải thể hiện được ý kiếncủa cộng đồng địa phương nhằm hạn chế mâu thuẫn và đảm bảo sự hài hòa vềmục tiêu quản lý và lợi ích của cộng đồng, trên cơ sở quan điểm bảo tồn vàphát triển bền vững Bảo tồn (Conservation) là việc bảo vệ các hệ sinh thái vàtài nguyên thiên nhiên thông qua sử dụng bền vững Nó khác sự bảo tồn(Preservation) mà ngụ ý là sự bảo vệ nghiêm ngặt mà không sử dụng.[35]

Đa dạng sinh học nói riêng và thiên nhiên của nước ta nói chung đã bịxuống cấp đến mức độ báo động do nhiều lý do khác nhau, trong đó khâuquản lý có tầm quan trọng đặc biệt Tuy nhiên, việc quản lý đến nay hầu nhưvẫn chưa có được những tiến bộ mang tính đột phá là do chưa có sự tham gia

“tích cực” của nhân dân nói chung và các cộng đồng địa phương nói riêng.Hay nói một cách khác là cần có một sự thay đổi trong toàn bộ xã hội về quản

lý bảo vệ đa dạng sinh học và thiên nhiên Isobel W Heathcote (1998) chorằng quản lý thiên nhiên nói chung là một tiến trình nhằm thiết lập mộtchương trình về thay đổi xã hội Tác giả cho rằng “Thay đổi xã hội không thể

có nếu những cộng đồng bị tác động không cho thay đổi là cần thiết” Do đó,công việc lập kế hoạch bảo tồn không chỉ phải quan tâm đến sản phẩm cuốicùng mà còn phải đáp ứng nguyện vọng và nhu cầu của nhân dân, đặc biệt lànhững cộng đồng bị tác động Bởi vậy việc tham gia vào quá trình lập kếhoạch bảo tồn của các cộng đồng có liên quan (stakeholders) là khâu thenchốt Đó cũng chính là vai trò của cộng đồng có liên quan trong việc bảo đadạng sinh học, hay nói một cách khác là Quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng(Community-based conservation management)

Trang 18

1.2.2 Quản lý tài nguyên rừng và bảo tồn ĐDSH dựa vào cộng đồng 1.2.2.1 Khái niệm cộng đồng xã hội

Chỉ một tập đoàn người rộng lớn, có những dấu hiệu, những đặc điểm

xã hội chung về thành phần giai cấp, về nghề nghiệp, về địa điểm sinh tụ và

cư trú Cũng có những cộng đồng xã hội bao gồm cả một dòng họ, một sắctộc, một dân tộc Như vậy cộng đồng xã hội bao gồm một loạt yếu tố xã hộichung mang tính phổ quát Đó là những mặt cộng đồng về kinh tế, về địa lý,

về ngôn ngữ, về văn hóa, về tín ngưỡng, về tâm lý, về lối sống Những yếu tốnày trong tính tổng thể của nó tạo nên tính ổn định và bền vững của một cộngđồng xã hội Khẳng định tính thống nhất của một cộng đồng xã hội trên mộtquy mô lớn, cũng đồng thời phải thừa nhận tính đa dạng và nhiều màu sắc củacác cộng đồng xã hội trên những quy mô nhỏ hơn (Từ điển Bách khoa ViệtNam tập I - Hà Nội 1995)

1.2.2.2 Khái niệm về lâm nghiệp cộng đồng

Trên thế giới quản lý rừng cộng đồng đã có lịch sử hình thành và pháttriển từ lâu và có đóng góp ở các mức độ khác nhau đối với việc quản lý rừngcủa từng nước Trong những năm qua đã có nhiều nghiên cứu về rừng cộngđồng, quản lý rừng cộng đồng, v.v ở từng nước cũng như trên phạm vi quốctế

Năm 1978, tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc - FAO

đã định nghĩa về lâm nghiệp cộng đồng là "Bất cứ hình thức nào mà thu hútngười dân địa phương tham gia vào các hoạt động lâm nghiệp gọi là lâmnghiệp cộng đồng Khái niệm này bao gồm các hoạt động lâm nghiệp rộng rãinhư việc trồng rừng tại các vùng nhất định mà ở đó người dân địa phươngthiếu gỗ và các sản phẩm khác phục vụ cho nhu cầu của mình; Trồng cây ởmức độ trang trại để thu hoạch các sản phẩm từ cây trồng; Chế biến gỗ và cácsản phẩm khác từ cây để cung cấp thức ăn, và tăng thu nhập; Tạo nguồn thunhập bằng việc cung cấp các sản phẩm để sản xuất đồ thủ công hoặc cho cácxưởng chế biến nhỏ v.v Nó bao gồm một tỷ lệ lớn các hoạt động về công

Trang 19

nghiệp rừng và các hoạt động khác của lâm nghiệp góp phần vào sự phát triểncủa cộng đồng thông qua giải quyết việc làm và tăng thu nhập, tuy nhiên nókhông bao gồm các xí nghiệp, công ty công nghiệp rừng và những hoạt độngdịch vụ lâm nghiệp công cộng, những hoạt động này khuyến khích hoặc giúp

đỡ những hoạt động lâm nghiệp ở mức độ cộng đồng"

Theo Arnold (1992) lâm nghiệp cộng đồng là: " Một thuật ngữ chung mô

tả các hoạt động gắn bó người dân nông thôn với rừng và cây cũng như vớicác sản phẩm và lợi ích bắt nguồn từ rừng và cây Nếu có một mặt nào đó cầnđược nhấn mạnh hơn cả thì đó là phạm vi và tính đa dạng của mối liên kếtnày, và các lĩnh vực khác nhau liên quan tới các khía cạnh của lâm nghiệpcộng đồng Do vậy, lâm nghiệp cộng đồng không phải là một mảng riêng biệthay một chương trình mà là một mặt của lâm nghiệp, nông nghiệp, nănglượng nông thôn và các hợp phần khác của phát triển nông thôn."

Từ một số khái niệm trên đây cho thấy lâm nghiệp cộng đồng có nghĩa

là sự tham gia của người dân vào các hoạt động sản xuất lâm nghiệp nhưtrồng, bảo vệ rừng, chế biến lâm sản v.v và các hoạt động này cũng đã manglại lợi ích trực tiếp, đáp ứng các nhu cầu của người dân v.v

Quản lý rừng cộng đồng tại Việt Nam đã được nhiều tổ chức và cá nhântrong nước và quốc tế nghiên cứu trong thời gian gần đây quan tâm nghiêncứu và đã có nhiều khái niệm được sử dụng:

Theo tài liệu Thuật ngữ lâm nghiệp - Vụ khoa học công nghệ - Bộ Lâmnghiệp, 1996 đã định nghĩa lâm nghiệp cộng đồng như sau: "Lâm nghiệp cộngđồng là một dạng của lâm nghiệp xã hội, trong đó các nhóm người có chungmột mục đích tham gia vào việc quản lý hay cùng hưởng lợi của rừng trên đấtNhà nước đã giao cho quyền sử dụng, có tính đến lợi ích của cộng đồng vàcủa Nhà nước"

Luật đất đai mới, đã có những quy định cụ thể liên quan đến cộng đồng

và tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho lâm nghiệp cộng đồng phát triển, đã xácđịnh: "Các cộng đồng dân cư bao gồm cộng đồng người Việt Nam cư trú

Trang 20

trong cùng một làng xóm hoặc nơi cư trú tương tự với các truyền thống,phong tục giống nhau hoặc trong cùng một đại gia đình đã được giao đất hoặc

là những người đang sử dụng đất và đã được Nhà nước công nhận về quyền

sử dụng đất"

Luật bảo vệ và phát triển rừng (2004) đã đưa ra khái niệm Cộng đồngdân cư thôn như sau: "Cộng đồng dân cư thôn gồm cộng đồng người ViệtNam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, bản, ấp, buôn, phun, sóc và cácđiểm dân cư tương đương có cùng phong tục tập quán hoặc có chung dòng họđược Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất"

Như vậy các khái niệm về cộng đồng đã từng bước làm rõ đối tượng để

áp dụng việc giao đất, giao rừng để quản lý sử dụng có sự đồng nhất tươngđối về mặt địa lý và dân tộc, cũng như các mối quan hệ xã hội được xác định.Các khái niệm của Việt Nam và quốc tế không có sự khác biệt nhiều Cáckhái niệm về quản lý rừng cộng đồng của Việt Nam đã xác định đối tượngchủ yếu là thôn, bản hoặc nhóm người tương đương cùng chung mục đíchtrong các hoạt động sản xuất lâm nghiệp

1.2.2.3 Một số chính sách nhà nước có liên quan đến lâm nghiệp cộng đồng

Chính sách lâm nghiệp là một bộ phận cấu thành của chính sách kinh tế

-xã hội Nhận thức được vai trò quan trọng của cộng đồng dân cư thôn bảntrong đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt là các vùng núi, nơi có điều kiện kinh

tế - xã hội còn khó khăn, chậm phát triển, Nhà nước đã từng bước công nhận

về mặt pháp luật đối với quyền lợi và trách nhiệm của cộng đồng

Trước đây trong các văn bản pháp luật do Quốc hội ban hành như Pháplệnh quy định việc bảo vệ rừng năm 1992, luật đất đai 1987, 1993 (được sửađổi bổ sung vào năm 1998 và 2001), Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991chưa có các quy phạm pháp luật đối với cộng đồng dân cư, không quy địnhgiao đất giao rừng cho cộng đồng Sau khi có Luật bảo vệ và phát triển rừngNhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng nhằm

Trang 21

tạo khuôn khổ pháp lý và thu hút mọi lực lượng xã hội tham gia quản lý, bảo

vệ và phát triển rừng Tuy nhiên cộng đồng chưa được xem là đối tượng điềuchỉnh của các văn bản trên Bộ Luật dân sự năm 1995 cộng đồng dân cư cũngkhông đủ điều kiện để được xem là pháp nhân, là tổ chức, là chủ thể tronggiao dịch dân sự v.v

Trong quá trình thực thi pháp luật và nghiên cứu các vấn đề đang đặt ratrong thực tiễn, vai trò của cộng đồng đã từng bước được xác nhận Nghị định

số 17/HĐBT ngày 17/1/1992 của Hội đồng bộ trưởng về thi hành Luật bảo vệ

và phát triển rừng đã công nhận "rừng làng, rừng bản thuộc quyền sử dụngcông cộng của làng, bản theo quy định của pháp luật Khi làng, bản đó chuyển

đi nơi khác thì Nhà nước thu hồi và bồi hoàn thoả đáng Những làng, bảnhiện còn rừng làng, rừng bản trước ngày ban hành Luật bảo vệ và phát triểnrừng và luật đất đai thì được xét công nhận là chủ rừng hợp pháp đối vớinhững diện tích rừng, đất trồng rừng đang quản lý, sử dụng"

Quy chế tổ chức và hoạt động của thôn và tổ dân phố ban hành theoQuyết định số 04/2000/QĐ-BNV ngày 6/12/2002 của Bộ trưởng bộ Nội vụ,gọi thôn (thôn, làng, ấp, bản, buôn, phun, sóc ) và tổ dân phố "không phải làmột cấp hành chính mà là tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư, nơi thựchiện dân chủ một cách trực tiếp, rộng rãi để phát huy các hình thức hoạt động

tự quản và tổ chức nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chínhsách pháp luật của Nhà nước "

Trong nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 7 tháng 7 năm 2003 của chínhphủ ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã đã có Chương IV nói về xâydựng cộng đồng dân cư thôn: Thôn là nơi sinh sống của cộng đồng dân cư(Điều 15); Hội nghị nhân dân thôn được tổ chức 6 tháng một lần (Điều 16);Thôn xây dựng hương ước và quy ước (Điều 18) v.v

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số56/1999/TT-BNN hướng dẫn xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừngtrong cộng đồng dân cư thôn, làng, buôn, bản, ấp phù hợp với tiến trình thực

Trang 22

hiện dân chủ ở cơ sở theo Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 củaChính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã Nội dung củaQuy ước bảo vệ và phát triển rừng thường bao gồm các vấn đề: Quyền vànghĩa vụ của các thành viên cộng đồng trong việc bảo vệ rừng; việc phátnương làm rẫy, bảo vệ chăm sóc rừng; khai thác chế biến, vận chuyển gỗ vàlâm sản; việc bảo vệ, săn bắt và sử dụng động vật rừng; việc phòng cháy,chữa cháy rừng; việc nhận khoán bảo vệ rừng; việc sản xuất và cung cấpgiống cây rừng; chống chặt phá rừng v.v.

Bước vào thế kỷ 21, với tinh thần tiếp tục đổi mới để phát triển, nhiềuvăn bản pháp luật đã được chỉnh sửa cho phù hợp với thực tiễn Quyết định số08/TTg ngày 11/01/2001 của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế quản lý baloại rừng đã quy định: đối với rừng đặc dụng chỉ được tận thu gỗ (cây gỗ đãchết đứng, đổ gãy ở các khu rừng văn hoá lịch sử, môi trường) Ngoài ra,các Ban quản lý khu rừng đặc dụng được tự tổ chức hoặc cho các tổ chứckhác, hộ gia đình và cá nhân thuê hay khoán để kinh doanh dịch vụ, du lịchsinh thái, tuy nhiên cộng đồng vẫn chưa được công nhận trong văn bản này.Luật đất đai năm 2003 đã công nhận quyền của cộng đồng dân cư đượcnhận đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất như đã trình bày ở phần trên.Luật cũng quy định "Người sử dụng đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng đất làm nghĩa trang và cộng đồng dân cư sử dụng đất nông nghiệp " đượcNhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất (Điều 33) Tuy nhiên người sửdụng đất là cộng đồng dân cư "không được chuyển đổi, chuyển nhượng, chothuê, tặng cho quyền sử dụng đất; không được thế chấp, bảo lãnh, góp vốnbằng quyền sử dụng đất" (Điều 117)

Việc xác định vai trò và vị trí của cộng đồng dân cư thôn bản trong hệthống quản lý và thực thi pháp luật hiện nay có ý nghĩa rất quan trọng Giaorừng cho cộng đồng là một thực tế khách quan phù hợp với phong tục củanhiều dân tộc ít người tại các vùng rừng núi trong cả nước

Năm 2004, Luật bảo vệ và phát triển rừng đã được sửa đổi và đã công

Trang 23

nhận cộng đồng có quyền được giao rừng Cộng đồng dân cư thôn là chủ thểđặc biệt trong giao rừng, có một số quyền và nghĩa vụ như những chủ rừngkhác Đây là một sự thay đổi lớn của Luật bảo vệ và phát triển rừng, là cơ sở

để các cộng đồng quản lý những diện tích rừng đã và sẽ có để phục vụ lợi íchcủa cộng đồng cũng như của toàn xã hội Luật bảo vệ và phát triển rừng ra đờiphù hợp với phong tục tập quán tốt đẹp của nhiều dân tộc, đáp ứng được yêucầu của thực tiễn cuộc sống và nguyện vọng của đông đảo đồng bào các dântộc vùng nông thôn miền núi

Để cụ thể hoá và thực hiện Luật bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi năm

2004, chính phủ đã có quyết định số 186/2006/QĐ - TTg ngày 14 tháng 8năm 2006 về việc Ban hành quy chế quản lý rừng Tại Điều 15 có quy định

"Tổ chức, cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao rừng đặc dụng mà cấp

Bộ hoặc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh không thành lập ban quản lý khu rừng, cótrách nhiệm tổ chức việc quản lý khu rừng được giao" Như vậy đây là cơ sởpháp lý quan trọng để cộng đồng có thể tham gia vào việc quản lý các khubảo tồn trong thời gian tới

Hiện nay, đã có các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý rừng củacộng đồng, tuy nhiên nhìn tổng quát của vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học, baogồm cả các vấn đề đất ngập nước, rừng và biển thì vẫn thiếu các văn bản phápluật điều chỉnh Luật đa dạng sinh học sẽ đáp ứng vấn đề này, tuy nhiên hiệnnay chúng ta vẫn còn thiếu Đây là yêu cầu khách quan của quá trình pháttriển công tác bảo tồn, nó đòi hỏi sự nỗ lực đóng góp của các Bộ, các ngànhtrong quá trình xây dựng và hoàn thiện Luật đa dạng sinh học

1.3 Tình hình nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học tại Quảng Trị

Hoạt động điều tra nghiên cứu ĐDSH ở Quảng Trị được tiến hành từlâu, và một trong các công trình quan trọng đầu tiên đó là "Các nghiên cứuchim ở tỉnh Quảng Trị và các khu vực lân cận vùng Trung Bộ Việt Nam”được xuất bản bởi Jean Delacour và Pierre Jabouille vào năm 1925 [50] Cácđịa điểm điều tra tại Quảng Trị vào thời gian đó có thể kể đến từ Vĩnh Linh

Trang 24

đến thị xã Đông Hà vào đến Hải Lăng ở phía Nam, đi về phía Tây có các khuvực nằm dọc theo đường 9 như Cam Lộ, Hướng Hoá, Làng Khoai, Khe Sanh,Làng Vây đến Lao Bảo Trong kết quả điều tra các nhà điểu học người Phápnói trên đã mô tả nhiều vật mẫu thuộc 311 loài và phân loài chim thu được tại

các địa điểm nghiên cứu Đáng chú ý là loài chim Công (Pavo muticus) có 01

mẫu con cái thu tại Cam Lộ vào tháng 4 năm 1924; Gà lôi lam mào trắng

(Lophura edwardsi), thu 07 mẫu con đực và 3 mẫu con cái tại Cam Lộ vào

ngày 29 tháng 11 năm 1923 và ngày 16 tháng 4 năm 1924 Già đẫy java

(Leptoptilos javanicus) thu tại Quảng Trị vào tháng 5 năm 1924; Niệc đầu trắng (Berenicornis comatus) thuộc họ Hồng Hoàng thu mẫu vào tháng 10 năm 1923; Trĩ sao (Rheinartia ocellata) có nhiều mẫu đã thu tại Cam Lộ vào các tháng 1và 4 năm 1924 Gà lôi hông tía (Lophura diardi) chỉ có 01 mẫu

con đực được thu ở Lao Bảo vào ngày 25 tháng 2 năm 1924 Tại Quảng Trịcòn có đến gần 20 loài chim ăn thịt (như diều, cắt, ưng, đại bàng, ) đã được 2tác giả này thu mẫu và mô tả trong tài liệu nói trên

Trong thời gian chiến tranh kéo dài cho đến năm 1975, không thể cócác điều tra nghiên cứu gì ở Quảng Trị Tại đây, các cuộc điều tra về ĐDSHchỉ mới được bắt đầu vào nửa cuối thập kỷ 90 và cũng chưa được tiến hànhmột cách có hệ thống Đồng thời với hiện trạng rừng và ĐDSH của Quảng Trị

bị tổn thương quá nặng nề trong chiến tranh thì các khu rừng đặc dụng tại đâycũng chưa sớm được xây dựng như tại nhiều nơi khác ở nước ta

Trong vài năm gần đây, các cuộc điều tra nghiên cứu ĐDSH và xâydựng khu BTTN tại Quảng Trị đáng chú ý là các dự án được thực hiện bởi Tổchức BirdLife quốc tế tại Việt Nam và Viện điều tra quy hoạch rừng Trungương từ năm 1995-1996 do Cộng đồng Châu Âu tài trợ (EU), tiếp đến là cáchoạt động của các Tổ chức này tại Khu BTTN Đa Krông, Bắc Hướng Hoá doquỹ Mc Arthur Foundation tài trợ Cũng với sự tài trợ của quỹ này, Trungtâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (CRES), ĐHQG Hà Nội cũngthực hiện tại những vùng này của Quảng Trị các hoạt động điều tra ĐDSH và

Trang 25

giáo dục bảo tồn cho cộng đồng Ngoài ra, tại Quảng Trị, trong thời gian qua,Chi cục Kiểm lâm (CCKL) tỉnh cũng đã phối hợp tiến hành xây dựng một số

đề tài, chương trình nghiên cứu và thực hiện có hiệu quả các hoạt động điềutra nghiên cứu và phối hợp các hoạt động nghiên cứu khác, cụ thể như phốihợp điều tra chim, lưỡng cư – bò sát và thực vật với Viện Sinh thái và Tàinguyên Sinh vật (IEBR) Hà Nội có sự hợp tác với một số tổ chức quốc tếkhác vào thời gian 2003-2007

Tất cả các kết quả điều tra nghiên cứu tại Quảng Trị trong thời gian qua

đã cho thấy sự phong phú về tài nguyên ĐDSH và yêu cầu cấp thiết của côngtác bảo tồn trong đó có việc xây dựng hệ thống RĐD hay Khu BTTN củatỉnh

Chiến lược phát triển lâm nghiệp tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2005-2010

và định hướng đến năm 2020 (QĐ số 1775 /QĐ-UBND/2005) của UBNDtỉnh Quảng Trị đã chỉ ra những nội dung cơ bản về phát triển ngành lâmnghiệp cùng với nhiệm vụ bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học cũng nhưphát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnhQuảng Trị lần thứ XIV nhiệm kỳ 2005 - 2010 cũng đã xác định: " Phát triểnlâm nghiệp toàn diện theo hướng xã hội hoá nghề rừng Tập trung bảo vệ vàphát triển nguồn tài nguyên rừng, chú trọng trồng rừng phòng hộ, bảo vệ môitrường sinh thái; Rừng kinh tế đảm bảo nguyên liệu cho các cơ sở chế biếnlâm sản Đảm bảo rừng và đất rừng có chủ thực sự, gắn với việc tăng thu nhậpxoá đói giảm nghèo, góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảmnghèo của chính phủ giai đoạn 2006 – 2010 (QĐ số 20/2007/QĐ-TTg, ngày5/2/2007) ; nâng độ che phủ lên 43% vào năm 2010 Ngăn chặn có hiệu quảnạn khai thác, buôn bán lâm sản trái phép, nạn cháy rừng, đốt phá rừng làmnương rẫy”

Nằm trong vùng sinh thái Trung Trường Sơn, nơi có tiềm năng ĐDSHphong phú và đang bị đe doạ ở mức độ nghiêm trọng, cho đến nay hệ thốngRĐD ở tỉnh Quảng Trị có 04 khu rừng đặc dụng bao gồm: Khu BTTN

Trang 26

Đakrông, khu BTTN Bắc Hướng Hóa, khu bảo vệ cảnh quan đường Hồ ChíMinh là các khu BTTN trực thuộc UBND tỉnh và do CCKL trực tiếp quản lý.Đồng thời có 01 khu Văn hoá – môi trường là khu Rú Lịnh do UBND huyệnVĩnh Linh quản lý(xem Bảng 1.2).

Bảng 1.2: Các khu rừng đặc dụng ở tỉnh Quảng Trị

Đặc điểm

Tên khu

Diện tích (ha)

Địa điểm

Hiện trạng Mục tiêu bảo

tồn & phân hạng

Cấp quản lý

1 Khu BTTN Đa

Huyện Đa Krông

Thành lập (2001)

Có Ban QL

Khu BTTN Bảo tồn ĐDSH & bảo

vệ đầu nguồn

UBND tỉnh/CCKL

2 Khu BTTN

Bắc Hướng Hoá 25.200

Huyện Hướng Hoá

Thành lập (2007) chưa

có Ban QL

Khu BTTN Bảo tồn ĐDSH & bảo

vệ đầu nguồn

UBND tỉnh/CCKL

Thành lập (2007) Chưa

có Ban QL

Khu BV cảnh quan – di tích lịch sử đường HCM

UBND tỉnh/CCKL

4 Khu Rú Lịnh 270

Huyện Vĩnh Linh

Thành lập (2000) Không thành lập BQL

Khu Văn hoá – Môi trường

UBND huyện

Qua đánh giá cho thấy năng lực quản lý bảo vệ cũng như cơ sở hạ tầngcủa hệ thống rừng đặc dụng ở tỉnh còn hết sức hạn chế, thể hiện nhiều bất cập,đòi hỏi phải được nghiên cứu và hoàn thiện Chưa có những điều tra đánh giá

về tình hình quản lý rừng cộng đồng ở tại các khu Bảo tồn thiên nhiên nhằmphát hiện các mô hình quản lý rừng có hiệu quả và đề xuất các giải pháp hữuhiệu và khả thi để nâng cao vai trò quản lý rừng và Đa dạng sinh học của cộngđồng Một trong những khó khăn nhất của công tác quản lý các khu rừng đặcdụng hiện nay là chưa huy động được sự tham gia quản lý bảo vệ của cáccộng đồng sống ở trong hay quanh các khu rừng đặc dụng và một bài học thực

tế rút ra là: nếu thiếu sự tham gia tích cực của cộng đồng thì công tác quản lý

Trang 27

bảo vệ các Vườn quốc gia và khu Bảo tồn thiên nhiên sẽ gặp nhiều khó khăn

và khó thành công

Do đó, yêu cầu công việc lập kế hoạch bảo tồn phải phù hợp với tìnhhình thực tế, gắn kết hợp với các hoạt động địa phương và phù hợp với cácchủ trương chính sách của nhà nước nhằm tới mục tiêu kết hợp bảo tồn vớiphát triển bền vững Trong quá trình lập kế hoạch để có được sản phẩm đápứng nguyện vọng và nhu cầu của nhân dân, đặc biệt là những cộng đồng bị tácđộng, việc tham gia của các cộng đồng có liên quan là khâu then chốt Đócũng chính là vai trò của cộng đồng có liên quan trong việc bảo tồn rừng và

đa dạng sinh học

Trang 28

Chương 2

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH- ĐIỀU TỰ NHIÊN- KINH TẾ XÃ HỘI

2.1 Lịch sử hình thành của KBT Bắc Hướng Hóa

Nhận thức rõ tầm quan trọng của khu vực rừng Bắc Hướng Hóa trongnhiều lĩnh vực, ngày 8/10/2004 Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Quảng Trị đã có côngvăn số 2036/TT-UB đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thànhlập mới hai khu rừng đặc dụng thuộc tỉnh Quảng Trị là Bắc Hướng Hóa vàKhu bảo vệ cảnh quan đường Hồ Chí Minh huyền thoại

Ngày 13/7/2005, Bộ NN&PTNT đã có công văn số 1736/BNN-KL, về

việc thống nhất với đề nghị của UBND tỉnh Quảng Trị "Hai khu rừng nói

trên đã được Bộ NN&PTNT đưa vào danh mục các khu rừng đặc dụng Việt Nam quy hoạch đến năm 2010 để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt" (trích nguyên công văn của Bộ NN&PTNT trả lời tỉnh Quảng Trị) Để

có cơ sở đầu tư lâu dài nhằm bảo tồn rừng, đa dạng sinh học và phòng hộ đầunguồn của Bắc Hướng Hóa, Bộ NN&PTNT đã yêu cầu tỉnh Quảng Trị phảixây dựng luận chứng kinh tế kỹ thuật (Dự án đầu tư) thành lập khu rừng đặcdụng để trình Bộ NN&PTNT thẩm định

Chi cục Kiểm lâm tỉnh được UBND tỉnh Quảng Trị chỉ định là cơquan chức năng thực hiện công tác bảo tồn thiên nhiên của tỉnh Quảng Trịchịu trách nhiệm thực hiện công văn trên của Bộ NN&PTNT Chi cục Kiểmlâm đã phối hợp với Tổ chức BirdLife Quốc tế Chương trình Việt Nam tiếnhành thu thập số liệu cơ bản, đánh giá tình trạng rừng, xác định phương ánquy hoạch ranh giới ngoài thực địa để xây dựng dự án đầu tư thành lập khubảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa, giai đoạn 2006-2010

Ngày 05/12/2006 Bộ NN&PTNT đã có văn bản số 3251/BNN-LN gửiUBND tỉnh về việc thẩm định kết quả quy hoạch rà soát ba loại rừng tỉnhQuảng Trị Trong đó thống nhất diện tích quy hoạch cho khu bảo tồn BắcHướng Hóa là 25.200 ha

Trang 29

Ngày 14/3/2007, UBND tỉnh đã ra quyết định số 479/ QĐ-UBND vềviệc phê duyệt Dự án quy hoạch và đầu tư Khu bảo tồn thiên nhiên BắcHướng Hóa, huyện Hướng Hóa.

2.2 Điều kiện tự nhiên

2.2.1 Vị trí địa lý

Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa có ranh giới phía Tây giápvới nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào, phía Bắc giáp với tỉnh QuảngBình, phía Nam giáp các xã Hướng Phùng, Hướng Sơn và Hướng Linh huyệnHướng Hóa, phía Đông giáp với 3 huyện Vĩnh Linh , Gio Linh và Đakrông

Khu vực bảo tồn giới hạn trong khoảng tọa độ địa lý:

+ Từ 16043'22’’ đến 16059'55’’ vĩ độ Bắc

+ Từ 106033'00’’ đến 106047'03’’ kinh độ Đông

Khu bảo tồn nằm trên trục đường Hồ Chí Minh nhánh Tây bắt đầu từthị trấn Khe Sanh và chạy xuyên qua khu bảo tồn sau đó sang tỉnh QuảngBình Trung tâm khu bảo tồn Bắc Hướng Hóa cách trung tâm huyện HướngHóa (Khe Sanh) khoảng 50 km về phía Bắc và thị xã Đông Hà khoảng 120km

2.2.2 Địa hình, địa chất

Địa hình khu vực khảo sát là vùng núi thấp ở phía Nam của giảiTrường Sơn Bắc với dãy núi cao trên 1.000 m chạy theo hướng Tây Bắc -Đông Nam dọc ranh giới hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị Về phía QuảngTrị địa hình nâng cao hơn, chia cắt mạnh, độ dốc cao phổ biến từ 15-25o, có

nhiều nơi, nhiều chỗ dốc đứng Trong khu vực có các đỉnh cao điển hình như:

Đỉnh Sa Mù (1550m) Sa Mù ở phía Tây và Động Voi Mẹp (1771m) ở phíaĐông Nam khu bảo tồn Trong khu vực ngoài đồi, núi đất chiếm đa số còn lại

có hai dãy núi đá vôi Ở gần trung tâm là dãy đá vôi chạy theo hướng

Đông-Tây, ranh giới hai xã Hướng Lập và Hướng Việt, gần trung tâm xã Hướng

Trang 30

Việt có dãy núi đá vôi chạy theo hướng Bắc-Nam.

Khu vực nghiên cứu nằm trên hệ địa máng-uốn nếp Caledon Việt Lào ở

Bắc Trung Bộ, giới hạn bởi đứt gãy sâu Sông Mã ở phía Bắc và đứt gãy sâu

Tam Kỳ-Hiệp Đức ở phía Nam Các phức hệ địa máng phát triển từ kỷ

Cambri (có thể từ Sini) cho đến cuối Silur hoặc đầu Đevon Trên chúng đã

hình thành các lớp phủ nền trẻ Epicaledon Paleozoi giữa-muộn, cũng như các

võng chồng hoạt hoá-tạo núi trong Mesozoi-Kainozoi Hầu hết các núi trung

bình được cấu tạo bởi đá Granit phân bố khá phổ biến trong vùng Các núi

thấp được cấu tạo bởi đá trầm tích lục nguyên tuổi Ocdovic-Silur gồm có cát

kết Mica, cát kết phân phiến, bột kết và sét kết phân phiến bị biến chất yếu ở

dạng Xirixit Ngoài đá Granit nêu trên là các đá biến chất yếu tuổi

Cambri-Ordovic hạ bao gồm phiến thạch kết tinh, phiến thạch Xirixit, Pyrit, cát kết bị

quarzit hoá (Theo bản đồ địa chất Việt Nam)

2.2.3 Đất và tình hình sử dụng đất

Trong phạm vi khu vực nghiên cứu có các loại đất sau:

 Đất Feralit đỏ vàng vùng đồi và núi thấp phát triển trên đá trầm tích vàbiến chất có kết cấu hạt mịn

 Đất Feralit vàng nhạt vùng đồi phát triển trên đá trầm tích và biến chất cókết cấu hạt thô

 Đất Feralit mùn vàng đỏ núi trung bình phát triển trên đá trầm tích và biếnchất có kết cấu hạt thô

 Đất Feralit vàng nhạt núi thấp phát triển trên đá hỗn hợp

 Đất Feralit vàng đỏ núi trung bình phát triển trên đá phún xuất tính chua

 Đất Feralit mùn vàng đỏ núi trung bình phát triển trên đá phún xuất tínhchua

 Đất phù sa sông suối

Trang 31

Bảng 2.1: Diện tích các loại đất ở vùng nghiên cứu Đơn vị: ha

TT

Lập

Hướng Việt

Hướng Phùng

Hướng Sơn

Hướng

Tổng diện tích 15.537,40 6.520,00 12.479,46 20.455,70 11.654,75 66.647,31

1 Đất nông nghiệp 6.749,92 2.366,50 3.116,41 9.723,80 3.973,33 25.929,96 1.1 Đất SXNN 287,12 280,50 1.215,92 433,50 389,23 2.606,27 1.2 Đất lâm nghiệp 6.462,00 2.081,00 1.900,00 9.245,80 3.583,00 23.271,80 1.3 Đất nuôi trồng T.sản 0,80 5,00 0,49 1,30 1,10 8,69

2 Đất phi nông nghiệp 122,31 49,93 148,14 110,77 129,15 560,30

3 Đất chưa sử dụng 8.665,17 4.103,57 9.214,91 10.621,13 7.552,27 40.157,05

Nguồn: Kết quả kiểm kê đất đai Quảng Trị năm 2005

+ Đất sản xuất nông nghiệp: Toàn khu vực có 2.606,27 ha đất sử dụngvào sản xuất nông nghiệp, chiếm 3,91% diện tích đất tự nhiên, bình quânkhoảng 2.700m2/người, gấp đôi bình quân chung của tỉnh (1.200m2/người )

+ Đất lâm nghiệp: Đất lâm nghiệp có rừng của khu vực là 23.271,80

ha chiếm 34,92% diện tích tự nhiên của tỉnh

+ Đất phi nông nghiệp: Diện tích 560,30 ha chiếm 0,84 % tổng diệntích đất tự nhiên

+ Đất chưa sử dụng: Theo thống kê đất chưa sử dụng, sông suối, núi

đá toàn tỉnh có 40.157,05 ha, chiếm 60,25% tổng diện tích đất tự nhiên

2.2.4 Khí hậu

Khu vực bảo tồn nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùađông lạnh, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 5 (Biểu đồ khí hậu Việt Nam) Batháng có lượng mưa nhiều nhất là tháng 8, 9 và 10 So với khí hậu Quảng Trị,vùng này mùa khô đến sớm hơn và mùa mưa cũng đến sớm hơn

Trang 32

ở vùng đồng bằng xuống dưới 22oC, còn trên các vùng có độ cao từ 400-500

m trở lên thường xuống dưới 20oC và nhiệt độ trung bình tháng thấp nhấtxuống dưới 15oC ở Khe Sanh vào tháng 12 và tháng 1 Ngược lại mùa hè do

có sự hoạt động của gió Tây nên rất nóng và khô Có tới 3-4 tháng (từ tháng 1đến tháng 5) nhiệt độ không khí trung bình lớn hơn 25oC, tháng nóng nhấtthường là tháng 4 hoặc tháng 5 nhiệt độ trung bình lên tới 29oC Nhiệt độ caonhất tuyệt đối lên tới 39-40oC Độ ẩm trong các tháng này cũng xuống rấtthấp, dưới 30%

2.2.4.2.Chế độ mưa ẩm

Vùng nghiên cứu có lượng mưa rất lớn, lượng mưa trung bình năm đạttới 2400-2800mm hoặc lớn hơn và tập trung chủ yêú trong mùa mưa, haitháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 9 và 11, chiếm tới 45% tổng lượng mưatoàn năm Mưa ít bắt đầu từ tháng 5, kết thúc vào tháng 11, tuy vậy lượngmưa trung bình của tháng 5 ở Khe Sanh cũng đạt tới 157,4 mm

Độ ẩm không khí trong vùng đạt tới 85-90%, trong mùa mưa độ ẩm lêntới 91% Mặc dù vậy những giá trị cực đoan thấp vẫn đo được trong thời kỳkhô nóng kéo dài

Trong bảng là số liệu khí hậu cơ bản thu được từ 3 trạm khí tượng trongvùng, trong đó trạm Khe Sanh và Tuyên Hóa là những trạm nằm ở vùng giápgianh và có điều kiện tự nhiên gần với khu bảo tồn

Bảng 2.2: Số liệu khí tượng một số trạm có liên quan đến KBT Bắc Hướng Hóa

6 Số giờ nắng trung bình trong năm - 1885,7

-7 Nhiệt độ KK cao nhất tuyệt đối 38,2 42

-8 Nhiệt độ KK thấp nhất tuyệt đối 7,7 (T12) 9,8

(T1)

Trang 33

2.2.4.3 Một số hiện tượng thời tiết đặc biệt

-Gió Tây khô nóng: Đây là vùng chịu nhiều ảnh hưởng của gió Tây khônóng, hoạt động của gió Tây thường gây nên hạn hán trong thời kỳ đầu vàgiữa mùa hè (từ tháng 2-4) Trong những tháng này nhiệt độ tối cao có thểvượt quá 39oC và độ ẩm tối thấp xuống dưới 30%

- Mưa lớn cục bộ : Đây là vùng có lượng mưa lớn hàng năm, do địahình dốc, các công trình giao thông đang mở rộng và nâng cấp thường xảy rasạt lở đất, đôi khi lũ quét cục bộ trong những tháng mùa mưa Nhìn chung đây

là một trong những vùng khí hậu ít thuận lợi ở nước ta

2.2.5 Thuỷ văn

Do địa hình có độ dốc lớn nên sông suối xuất phát từ đây thường ngắn,dốc đổ ra biển theo hướng Đông hoặc Đông Bắc Trong vùng nghiên cứu cócác hệ thống sông chính sau:

 Phía Đông Bắc là sông Bến Hải, tất cả các con suối bắt nguồn từ sườnĐông đều chảy vào sông Bến Hải và đổ ra biển đông ở Cửa Tùng

 Phía Tây Bắc và Nam của khu bảo tồn là thượng nguồn sông Xê PăngHiêng chảy qua Lào vào sông Mê Kông

 Phía Đông Nam, bao gồm Bắc Động Sa Mùi và Đông Động Voi Mẹp làthượng nguồn của sông Cam Lộ (gọi là nguồn Rào) và đổ ra biển Đông tạiCửa Việt

 Phía Nam là hệ thống suối của sông Rào Quán, là một chi lưu của sôngQuảng Trị (Thạch Hãn) Công trình thủy điện Rào Quán đang xây dựng tạiđây

2.3 Điều kiện kinh tế xã hội

Các thông tin về kinh tế xã hội được thu thập ở 5 xã có liên quan đếnquy hoạch Khu BTTN Bắc Hướng Hoá thuộc tỉnh Quảng Trị, bao gồm:Hướng Lập, Hướng Phùng, Hướng Sơn, Hướng Linh và Hướng Việt, trong đó

xã Hướng Việt mới được thành lập theo Nghị định số 08/NĐ-CP ngày 02

Trang 34

tháng 01 năm 2004 của Chính Phủ.

2.3.1 Dân số, dân tộc, lao động

Tổng số dân của 5 xã là 10.353 người với số hộ là 2.084, trong đó có1.448 hộ là người Vân Kiều (chiếm 69,4 % tổng số hộ của 5 xã), dân tộc khácchỉ có 3 hộ, còn lại là người Kinh

Bảng 2.3: Thống kê diện tích, dân số và mật độ dân số trong khu vực

Lập

Hướng Việt

Hướng Phùng

Hướng Sơn

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2006 (Phòng thống kê huyện Hướng Hoá ).

Bảng 2.3 cho thấy, tổng số hộ đói nghèo của 5 xã là 967 hộ (chiếm46,4 % tổng số hộ của 5 xã) Trong đó, xã có tổng số hộ đói nghèo cao nhấttrong 5 xã là xã Hướng Phùng với tổng số hộ là 371 hộ, chiếm 39,3% tổng số

hộ của xã; xã có tỷ lệ đói nghèo cao nhất là xã Hướng Sơn chiếm 65,5% tổng

số hộ trong xã Tổng diện tích đất tự nhiên của 5 xã là 66.647,31 ha Trong

đó, xã Hướng Việt có diện tích tự nhiên nhỏ nhất (6.520 ha), xã Hướng Sơn

có diện tích tự nhiên lớn nhất (20.455,7 ha) trong 5 xã Dân cư các xã trongvùng nghiên cứu có mật độ dân số là tương đối thấp (15,5 người/km2) trong

đó xã có mật độ phân bố dân cư thấp nhất là xã Hướng Sơn với 7,9người/km2, xã có mật độ dân số cao nhất là xã Hướng Phùng với 35,0người/km2

Trang 35

2.3.2 Giáo dục và Y tế

Hầu hết các xã trong vùng nghiên cứu đều có trường trung học cơ sở

và trường tiểu học Tuy nhiên các xã vẫn chưa có trường phổ thông trung học,công tác phổ cập học sinh trong độ tuổi đến trường vẫn chưa huy động hết,đội ngũ giáo viên còn thiếu, chất lượng dạy và học chưa cao Trình độ vănhoá nói chung còn thấp, đặc biệt là đối với cộng đồng người dân tộc Vân kiều.Nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện kinh tế của người dân trong vùng vẫncòn gặp nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác giảng dạy cònthiếu, điều kiện giao thông đi lại khó khăn đặc biệt là vào mùa mưa

100% các xã trong vùng đều có trạm y tế nhà cấp 4 trở lên, nhưngnhìn chung công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân còn nhiều hạn chế,thuốc chữa bệnh còn thiếu, và đội ngũ cán bộ y tế chăm sóc sức khỏe chonhân dân vẫn còn thiếu

2.3.3 Cơ sở hạ tầng

Hệ thống đường giao thông : Các xã trong vùng đều có đường ô tô đếntận trụ sở UBND Tuy nhiên vào mùa mưa việc đi lại giữa các xã trong vùnggặp rất nhiều khó khăn

Hệ thống điện: Cho đến nay đã có điện đến các trung tâm xã nhưngcác thôn bản ở xa thì vẫn chưa có

Hệ thống thông tin liên lạc: Còn khá khó khăn chỉ có ở một số điểmtrung tâm, còn lại chưa có đường dây hữu tuyến cũng như vô tuyến

2.3.4 Sản xuất Nông - Lâm nghiệp

2.3.4.1.Nông nghiệp

Tổng diện tích đất trồng lúa trong vùng là 1.106,8 ha (bao gồm lúanước và lúa nương), phần lớn là ruộng một vụ Phần còn lại là 1.601,5 ha đấtsản xuất nông nghiệp để trồng các loại cây hàng năm và đất để trồng cây lâunăm Phần lớn là các loại cây hoa màu như ngô, khoai lang, sắn, lạc và thuốc

lá Năng suất lúa bình quân của 5 xã huyện Hướng Hóa là 25,1 tạ/ha/năm,trong đó vụ Đông Xuân: 31,8 tạ/ha/năm, lúa nước: 30,8 tạ/ha/năm, lúa rẫy:

Trang 36

12,7 tạ/ha/năm, ngô: 13,6 tạ/ha/năm, khoai lang: 55,7 tạ/ha/năm, sắn: 171,0tạ/ha/năm.

Bảng 2.4: Diện tích lúa và các loại hoa màu đang canh tác

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2006 (Phòng thống kê Hướng Hoá).

Trồng cây công nghiệp lâu năm đang là định hướng phát triển kinh tếcủa 5 xã vùng đệm Loài cây được trồng chủ lực là cây cà phê với năng xuấthiện nay trung bình 20 tấn cà phê tươi / ha Giá bán tươi hiện tại là 4 triệuđồng/ 1 tấn tươi Đây là một nguồn thu đáng kể cho người dân Tuy nhiêndiện tích trồng cà phê chủ yếu tập trung tại xã Hướng Phùng cần có nghiêncứu mở rộng diện tích thêm trên các xã khác

Bảng 2.5: Diện tích cây công nghiệp lâu năm Đơn vị: Ha

+ Trồng mới và chăm sóc 3 năm tiếp theo: 4.000 ha

Trang 37

+ Bảo vệ rừng hiện có: 7.000 ha

+ Khoanh nuôi có trồng bổ sung cây lâm nghiệp: 2.000 ha

+ Xây dựng đường ranh cản lửa: 50 km

+ Biển báo bảo vệ rừng: 15 bảng

+ Làm đường nội vùng: 40 km

Đoàn KTQP 337 phối hợp với Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Trị tổ chứcthực hiện dự án Hiện tại đoàn đang quản lý bảo vệ một số diện tích rừng khuvực Đèo Sa Mù Diện tích này cũng nằm trong phương án quy hoạch của KhuBTTN Bắc Hướng Hóa Trong khu vực dự án có 1800 ha rừng tự nhiên thuộctiểu khu 641,657 và 670 nằm trong quy hoạch khu bảo tồn Bắc Hướng Hóa.Hiện nay, chủ dự án đang tổ chức giao khoán bảo vệ rừng và sẽ kết thúc hợpđồng vào năm 2009 Như vậy diện tích trên cũng sẽ không ảnh hưởng đếnviệc quy hoạch lâu dài cho khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa

2.3.4.3 Chăn nuôi gia súc

Tình hình chăn nuôi gia súc trong vùng nói chung là tương đối pháttriển đặc biệt là chăn nuôi đại gia súc Theo thông tin từ niên giám thống kê từnăm 2000 đến nay số lượng các đàn gia súc ở tất cả các xã đều tăng đã gópphần đáng kể thu nhập cho nhiều hộ gia đình Tuy vậy chủ yếu là chăn thảrông nên chất lượng đàn gia súc ở đây không cao

Bảng 2.6: Tổng đàn gia súc trong vùng nghiên cứu

Hướng Phùng

Hướng Sơn

Trang 38

ngoài quốc doanh trong vùng nói chung còn kém phát triển và số lượng còn ít.

Cụ thể là, tổng số cơ sở công nghiệp ngoài quốc doanh trong vùng là 32 cơ

sở, tổng số cơ sở Thương mại và dịch vụ ngoài quốc doanh là 68 cơ sở (Niên

giám thống kê năm 2006 huyện Hướng Hoá).

2.3.6 Các cơ quan có trong khu vực nghiên cứu

Một số cơ quan đóng ở vùng đệm của Khu BTTN Bắc Hướng Hóabao gồm:

- Đồn biên phòng 605 (Đồn Cù Bai) trên địa phận của thôn A Sóc, xãHướng Lập

- Đoàn kinh tế quốc phòng 337 đóng trên địa phận của xã HướngPhùng

- Đồn biên phòng 609 (Sen Bụt) đóng trên địa phận xã Hướng Phùng

- Đơn vị giao thông bảo dưỡng và quản lý đường bộ (Đường Hồ ChíMinh nhánh Tây) trên địa phận xã Hướng Phùng

Trang 39

Chương 3

MỤC TIÊU- NỘI DUNG- THỜI GIAN - PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

3.1 Mục tiêu luận văn

Thông qua việc nghiên cứu đánh giá, đề xuất kế hoạch hoạt động bảotồn đa dạng sinh học cho khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa phù hợpvới điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá của địa phương, đáp ứngđược yêu cầu bảo tồn đa dạng sinh học cho khu bảo tồn nhưng đồng thời cũngphải đảm bảo được các yêu cầu cho sự phát triển bền vững của khu vực

Cụ thể: Đề xuất phương hướng

- Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học

- Bảo vệ quần thể của các loài động thực vật quý hiếm, các loài đặc

hữu, các loài đang bị de dọa của Việt Nam và của hệ sinh thái rừng núi thấpTrung bộ

- Duy trì dịch vụ và chức năng hệ sinh thái trong phòng hộ đầu nguồncủa các con sông Bến Hải, Rào Quán, Sông Hiếu và Sê Păng Hiêng

- Tạo cơ hội để cộng đồng địa phương cùng tham gia công tác bảo tồn ,

sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên rừng nhằm nâng cao đời sốngnhân dân một cách lâu dài

3.2 Nội dung

Việc nghiên cứu một cách đầy đủ để đánh giá và đề xuất kế hoạch hoạtđộng bảo tồn tại một khu bảo tồn vừa mới được thành lập như Khu bảo tồnBắc Hướng Hóa Quảng Trị là một việc khó khăn, phức tạp, đòi hỏi nhiều thờigian và nguồn lực Do vậy, trong khuôn khổ của một luận văn cao học với cácmục tiêu như đã nêu, luận văn chỉ tập trung vào 05 nội dung nghiên cứu chủyếu dưới đây:

1) Đánh giá thực trạng kinh tế xã hội địa phương liên quan đến khu bảotồn

Trang 40

2) Đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng và đa dạng sinh học của khubảo tồn

3) Đánh giá hiện trạng quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng tại khu vực4) Phân tích, đánh giá các nguy cơ đe dọa đến đa dạng sinh học tại khubảo tồn

5) Dựa trên tình hình thực tế đề xuất một số nội dung kế hoạch hoạtđộng bảo tồn đa dạng sinh học

3.3 Thời gian

Đề tài nghiên cứu đã được triển khai thực hiện từ tháng 7 năm 2006cho đến tháng 6 Năm 2007 Tuy nhiên, việc thu thập các tài liệu liên quan trênthực tế đã được tác giả bắt đầu từ những năm trước đây

3.4 Phương pháp

Để thực hiện các nội dung nghiên cứu của đề tài luận văn, các phươngpháp dưới đây đã được áp dụng:

-Thu thập, đánh giá tài liệu thứ cấp : Thu thập các tài liệu có liên quan

đến quản lý cộng đồng, tài liệu và bản đồ của các Khu bảo tồn và Vườn Quốcgia, các văn bản luật pháp và chính sách có liên quan đến công tác quản lýrừng cộng đồng và quản lý các khu Bảo tồn Các số liệu liên quan đến nộidung nghiên cứu của đề tài đã có được từ trước đến nay: Về các điều kiện tựnhiên, kinh tế - xã hội và các lĩnh vực liên quan khác ; Thu thập số liệu về cáckết quả điều tra nghiên cứu đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên đã thu

được từ trước đến nay do các cơ quan khoa học (Trường đại học, Viện nghiên

cứu), của các tổ chức phi chính phủ và các nhà khoa học trong và ngoài nước

đã thực hiện tại khu bảo tồn, trên địa bàn tỉnh và các VQG, Khu BTTN thuộccác tỉnh cận lận và Vùng sinh thái Tây Trường Sơn Đặc biệt là các kết quảđiều tra nghiên cứu về đa dạng sinh học đã được thực hiện trong những nămvừa qua tại tỉnh Quảng Trị bởi các chương trình, dự án do Viện Sinh thái vàTài nguyên Sinh vật thuộc Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốcgia, Tổ chức WWF, CRES thuộc Đại học Quốc gia và Tổ chức BirdLife Việt

Ngày đăng: 05/10/2017, 10:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w