Thu hút vốn để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Thu hút vốn để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Thu hút vốn để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Thu hút vốn để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Thu hút vốn để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Thu hút vốn để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Thu hút vốn để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Thu hút vốn để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Thu hút vốn để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Thu hút vốn để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Thu hút vốn để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
LƯƠNG THỊ PHƯƠNG NGA
THU HÚT VỐN ĐỂ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA Ở HUYỆN ĐẠI TỪ,
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN, NĂM 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
LƯƠNG THỊ PHƯƠNG NGA
THU HÚT VỐN ĐỂ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA Ở HUYỆN ĐẠI TỪ,
TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp
Mã số: 60.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: TS PHÍ VĂN KỶ
THÁI NGUYÊN, NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các
số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được bảo vệ một học vị khoa học hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn này được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Lương Thị Phương Nga
Trang 4
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với TS Phí Văn Kỷ, người đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND, Phòng thống kê, Phòng kinh tế và
hạ tầng, Phòng Kế hoạch và tài chính, Phòng quản lý thị trường huyện Đại
Từ, cùng các cơ quan chức năng trên địa bàn huyện Đại Từ đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ
Thái Nguyên, ngày… tháng……năm 2017
Tác giả
Lương Thị Phương Nga
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học của luận văn 3
5 Kết cấu của luận văn 3
Chương 1 LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT VỐN ĐỂ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA 4
1.1 Lý luận về vốn phát triển sản xuất trên địa bàn huyện 4
1.1.1 Khái niệm về vốn phát triển sản xuất 4
1.1.2 Cơ cấu vốn phát triển sản xuất 6
1.2 Lý luận về vốn phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa trên địa bàn huyện 11
1.2.1 Khái niệm về sản xuất nông nghiệp hàng hóa 11
1.2.2 Vốn phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa 13
1.3 Lý luận về thu hút vốn phát triển nông nghiệp hàng hóa trên địa bàn huyện 13
1.3.1 Khái niệm về thu hút vốn phát triển SXNN hàng hóa 13
1.3.2 Vai trò của thu hút vốn trong phát triên SXNN hàng hóa 14
1.3.3 Nội dung thu hút vốn phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa 16 1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút vốn phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở địa phương 19
Trang 61.4 Kinh nghiệm và bài học về công tác thu hút vốn phát triển sản xuất
nông nghiệp hàng hóa ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 23
1.4.1 Kinh nghiệm của một số địa phương 23
1.4.1.1 Kinh nghiệm của huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ 23
1.4.1.2 Kinh nghiệm của huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định 26
1.4.2 Bài học kinh nghiệm từ các địa phương về công tác thu hút vốn phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 30
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 31
2.2 Phương pháp nghiên cứu 31
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 31
2.2.2 Phương pháp tổng hợp và phân tích thông tin 32
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 35
2.3.1 Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất nông nghiệp hàng hóa của huyện 35
2.3.2 Chỉ tiêu về thu hút vốn phát triển hàng hóa ở huyện Đại Từ 36
Chương 3 THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐỂ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA Ở HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN 40
3.1 Khái quát địa bàn huyện Đại Từ 40
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 40
3.1.2 Điều kiện kinh tế 44
3.1.3 Điều kiện xã hội 45
3.2 Thực trạng công tác thu hút vốn để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 47
3.2.1 Kết quả thu hút vốn đầu tư để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa huyện Đại Từ 47
Trang 73.2.2 Thu hút gián tiếp bằng các biện pháp làm gia tăng sự hấp dẫn của
ngành nông nghiệp huyện Đại Từ 50
3.2.3 Thu hút trực tiếp thông qua các chương trình xúc tiến đầu tư vào sản xuất nông nghiệp hàng hóa huyện Đại Từ 58
3.2.4 Đánh giá kết quả vốn đầu tư đối với phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa tại huyện Đại Từ 61
3.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác thu hút vốn để phát triển SXNN hàng hóa ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 64
3.3.1 Nhân tố khách quan 64
3.3.2 Nhân tố chủ quan 69
3.4 Những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong công tác thu hút vốn để phát triển SXNN hàng hóa ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 75
3.4.1 Những kết quả đạt được 75
3.4.2 Những hạn chế 77
3.4.3 Nguyên nhân của hạn chế 78
Chương 4 GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC THU HÚT VỐN ĐỂ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA Ở HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN 80
4.1 Quan điểm, phương hướng và mục tiêu về công tác thu hút các nguồn vốn để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 80
4.1.1 Quan điểm, phương hướng 80
4.1.2 Mục tiêu 81
4.2 Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác thu hút các nguồn vốn để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở huyện Đại Từ 83
Trang 84.2.1 Nhóm giải pháp về vốn đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp
hàng hóa 83
4.2.2 Đầu tư có trọng điểm, trọng tâm để sản xuất từng loại hàng hóa nông nghiệp 85
4.2.3 Đa dạng hóa công tác thu hút các nguồn vốn đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất cho nông nghiệp 86
4.2.4 Đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất NNHH 88
4.2.5 Tăng cường thu hút, chú trọng đầu tư vốn của tỉnh 89
4.3 Kiến nghị 89
4.3.1 Đối với Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Thái Nguyên 89
4.3.2 Đối với huyện UBND huyện Đại Từ 91
4.3.3 Đối với nhà đầu tư nông nghiệp 93
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 97
Trang 9XDNTM : Xây dựng nông thôn mới
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Các loại đất trên địa bàn huyện Đại Từ giai đoạn từ
2011-2015 42 Bảng 3.2: Giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện
Đại Từ qua một số năm (tính theo giá hiện hành) 44 Bảng 3.3: Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu trên địa bàn huyện Đại
Từ giai đoạn từ 2011-2015 46 Bảng 3.4: Bảng tổng hợp nguồn vốn đầu tư phát triển sản xuất nông
nghiệp hàng hóa huyện Đại Từ 47 Bảng 3.5: Chỉ tiêu GDP/GO của huyện Đại Từ giai đoạn từ 2014-
2016 49 Bảng 3.6: Chỉ tiêu GO/Vốn đầu tư cho sản xuất nông nghiệp hàng
hóa của huyện Đại Từ giai đoạn từ 2014-2016 49 Bảng 3.7: Danh mục chương trình xúc tiến đầu tư vào sản xuất nông
nghiệp hàng hóa huyện Đại Từ 60 Bảng 3.8: Sử dụng vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp theo ngành 61 Bảng 3.9: ICOR ngành nông nghiệp huyện Đại Từ giai đoạn từ
2014-2016 62 Bảng 3.10: Năng suất lao động và việc làm tăng thêm do vốn đầu tư
cho phát triển nông nghiệp hàng hóa huyện Đại Từ 62 Bảng 3.11: Cơ cấu lao động nông thôn tại huyện Đại Từ theo ngành
nghề giai đoạn từ 2014-2016 70 Bảng 3.12: Cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nông
thôn huyện Đại Từ từ năm 2014-2016 72 Bảng 3.13: Tỷ lệ chi NSNN cho nông nghiệp hàng hóa huyện Đại Từ
giai đoạn từ 2014-2016 73
Trang 11Bảng 3.14: Kết quả điều tra về nhu cầu vốn của các hộ gia đình nông
thôn của huyện Đại Từ năm 2016 76
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Nguồn vốn đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp hàng
hóa của huyện Đại Từ giai đoạn từ 2014-2016 48 Biểu đồ 3.2: Cơ cấu lao động nông thôn tại huyện Đại Từ theo ngành
nghề giai đoạn từ 2014-2016 71
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là nước nông nghiệp, phát triển kinh tế đất nước phải dựa trên
cơ sở nền tảng của nông nghiệp Con đường tất yếu để nông nghiệp phát triển
là CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn mà giải pháp của nó là đầu tư thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu theo hướng sản xuất hàng hóa Đầu tư cho nông nghiệp ở khâu nào, lấy vốn từ đâu và sử dụng như thế nào có hiệu quả Đây là nội dung đang đòi hỏi cho ngành nông nghiệp nước ta nói chung và các địa phương nói riêng Huyện Đại Từ có nhiều đơn vị hành chính nhất tỉnh Thái Nguyên với 31
xã, thị trấn, tổng diện tích đất tự nhiên toàn Huyện là 57.790 ha và 167.512 khẩu,
có 8 dân tộc anh em cùng chung sống: Kinh, tày, Nùng, Sán chay, Dao, Sán dìu, Hoa, Ngái v.v ; Chiếm 16,58% về diện tích, 16,12% dân số cả tỉnh Thái Nguyên Mật độ dân số bình quân 274,65 người/km2 Là huyện có diện tích lúa và diện tích chè lớn nhất tỉnh (lúa 12.500 ha, chè trên 5.000 ha), giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện đạt mức cao nhất tỉnh là 1.860 tỷ đồng năm 2015 Trong những năm qua, phát triển nông nghiệp của huyện chỉ mang tính chất nội tiêu, các mặt hàng như lứa, chè còn chứ đẩy mạnh phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa thị trường khiến cho giá trị lợi nhuận đem lại cho người dân còn thấp, cuộc sống người dân còn chưa được cải thiện đáng kể
Tuy nhiên, để phát triển nông nghiệp đi đúng hướng, khai thác có hiệu quả tiềm năng và lợi thế thì hiện nay chưa được phát huy tốt Sản xuất nông nghiệp còn nhiều bất cập đặc biệt là ở các xã vùng sâu nên đời sống nông dân còn gặp nhiều khó khăn, lực lượng lao động nông thôn đông (năm 2016 là 76.647 người, chiếm 46,74% dân số huyện); số hộ nghèo, cận nghè còn cao (năm 2016 có 6.223 hộ), cơ cấu sản xuất chưa hợp lý, giá trị sản xuất nông nghiệp còn thấp (khoảng 27%), các chính sách phát triển nông nghiệp triển khai trên địa bàn huyện còn nhiều hạn chế, nguyên nhân chủ yếu là nguồn vốn đầu
tư vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp hàng hóa còn chưa được quan tâm thu
Trang 13hút, vốn chủ yếu từ trung ương và địa phương đầu tư cho Nông nghiệp hàng hóa Các nhà đầu tư nông nghiệp còn chưa đầu tư mạnh dạn vào sản phẩm tạo ra giá trị hàng hóa lớn của ngành nông sản (điển hình sản phẩm chè là nông sản mạnh của tỉnh, cây ăn quả,…), quá trình thu hút và quản lý vốn còn chưa được chú trọng Nếu huyện không có sự chuẩn bị tốt về ứng dụng khoa học kỹ thuật, không ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp hàng hóa để hạn chế những rủi ro
về thị trường, biến đổi khí hậu mà nông nghiệp hàng hóa phải đối mặt thì gây ra tổn thất kinh tế huyện, đời sống hộ nông dân khó khăn,…Chính vì vậy cần thu hút vốn
để giải quyết điều này Do vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Thu hút vốn để phát triển
sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” làm luận
văn thạc sỹ Kinh tế nông nghiệp, đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng công tác thu hút nguồn vốn để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên nhằm đưa ra các giải pháp thu hút quy mô hơn nữa để phát triển nông nghiệp hàng hóa, nâng cao hiệu quả kinh tế địa phương
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động thu hút nguồn vốn nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Trang 143.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu số liệu từ năm 2014-2016 và khuyến
nghị một số giải pháp đến năm 2020
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu công tác thu hút các nguồn
vốn tài chính để phát triển cho sản xuất nông nghiệp hàng hóa của huyện Đại
Từ, tỉnh Thái Nguyên
4 Ý nghĩa khoa học của luận văn
Về lý luận: Đề tài sẽ cung cấp hệ thống cơ bản những vấn đề lý luận về thu hút vốn để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa
Về thực tế: Đề tài sẽ phân tích, đánh giá công tác thu hút vốn để phát triển nông nghiệp hàng hóa ở huyện Đại Từ, đề xuất các giải pháp quan trọng
và có ý nghĩa nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư đa dạng từ nhiều nguồn, nhiều đối tượng khác nhau trong xã hội để phát triển sản xuất hàng hóa cho huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho sinh viên khối ngành kinh
tế, các cao học viên và các nghiên cứu sinh trong quá trình hoạt tập và nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực đề tài
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu 4 chương, bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hút vốn để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng công tác thu hút vốn để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Chương 4: Giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác thu hút vốn để
phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Trang 15Chương 1
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT VỐN
ĐỂ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA
1.1 Lý luận về vốn phát triển sản xuất trên địa bàn huyện
1.1.1 Khái niệm về vốn phát triển sản xuất
Vốn là yếu tố quan trọng, quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới Đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, vai trò của vốn càng được phát huy tối đa
Cho đến nay, đã có rất nhiều khái niệm về vốn được nhìn nhận dưới góc
độ phân loại thành vốn cố định, vốn lưu động, vốn đầu tư tài chính Tuy nhiên, chưa có một định nghĩa bằng văn bản chính thức của Nhà nước về vốn Để đưa
ra một khái niệm mang tính chất tổng hợp về vốn đầu tư, cần đi sâu phân tích những đặc trưng cơ bản của vốn sau đây:
Thứ nhất, vốn được biểu hiện bằng giá trị Vốn phải đại diện cho một lượng
giá trị có thực của tài sản (tài sản hữu hình và tài sản vô hình) Tài sản hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể (nhà xưởng, máy móc, thiết bị, hàng hóa, nguyên vật liệu…) Tài sản vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất
cụ thể (bằng phát minh sáng chế, bí quyết kỹ thuật, bí quyết kinh doanh, nhãn hiệu hàng hóa, quyền sử dụng đất, uy tín trên thị trường…)
Thứ hai, vốn luôn được vận động nhằm mục đích sinh lời Vốn được
biểu hiện bằng tiền nhưng không phải tất cả mọi nguồn tiền đều là vốn Tiền chỉ biến thành vốn khi chúng sử dụng vào mục đích đầu tư kinh doanh Nói cách khác, tiền chỉ là vốn ở dạng tiềm năng Tiền là phương tiện để trao đổi, lưu thông hàng hóa còn vốn là để sinh lời, nó luôn chu chuyển và tuần hoàn Tiền tiêu dùng hàng ngày, tiền dự trữ không có khả năng sinh lời không phải là vốn Tùy thuộc vào phương thức đầu tư kinh doanh mà cách vận động và phương thức vận động của tiền vốn cũng khác nhau
Thứ ba, trong nền kinh tế thị trường vốn là một loại hàng hóa đặc biệt vì
nó mang đầy đủ hai đặc trưng cơ bản của hàng hóa thông thường là giá trị, giá trị sử dụng và đặc biệt ở chỗ người bán vốn không mất đi quyền sở hữu mà chỉ
Trang 16bán quyền sử dụng nó Giá trị sử dụng của vốn là để sinh lời Giá cả của vốn gọi là lãi suất Người mua nhận được quyền sử dụng vốn trong một khoảng thời gian nhất định và phải trả cho người bán một tỷ lệ nhất định tính trên số vốn
đó, gọi là lãi suất Cũng như mọi hàng hóa thông thường khác, vốn bao giờ cũng gắn với một chủ sở hữu nhất định Tùy theo hình thức đầu tư mà chủ sở hữu có thể đồng nhất hoặc không đồng nhất với người sử dụng vốn Sở dĩ gọi vốn là hàng hóa đặc biệt bởi vì người bán vốn không mất quyền sở hữu mà chỉ bán quyền sử dụng vốn Chính sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn đã làm cho vốn có khả năng lưu thông và sinh lời Sự lưu thông của vốn đã từng bước tạo lập và hình thành thị trường vốn - một bộ phận cấu tạo nên thị trường tài chính
Thứ tư, vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền mà còn biểu hiện dưới dạng
tiềm năng và lợi thế vô hình Ví dụ: vị trí địa lý, lợi thế thương mại, uy tín thị trường, bí quyết kinh doanh, kinh nghiệm lâu năm…Việc “giá trị hóa” được những tiềm năng và lợi thế vô hình đó góp phần quan trọng trong việc phát huy triệt để vai trò vốn đầu tư nhằm phát triển kinh tế
Thứ năm, tích tụ và tập trung vốn: Tích tụ vốn là sự tăng thêm quy mô
vốn cá biệt của từng doanh nghiệp, từng nhà sản xuất Tập trung vốn là sự tăng thêm quy mô của vốn cá biệt bằng cách hợp nhất nhiều nguồn vốn cá biệt sẵn
có thành một nguồn vốn cá biệt khác lớn hơn Tích tụ và tập trung vốn quan hệ mật thiết với nhau, thúc đẩy nhau phát triển Tích tụ vốn làm tăng quy mô và sức mạnh của vốn, do đó tập trung mạnh hơn Tập trung vốn lại tạo điều kiện thuận lợi đẩy mạnh tích tụ, ảnh hưởng qua lại của tích tụ và tập trung vốn làm cho nguồn vốn đầu tư của toàn xã hội ngày càng tăng Tích tụ và tập trung vốn dẫn đến tích tụ sản xuất Thiếu vốn cho phát triển kinh tế nói chúng và phát triển nông nghiệp nói riêng ở Việt Nam là tình trạng phổ biến Vì vậy, khắc phục khó khăn này, không còn cách nào khác là phải tăng cường thu hút, huy động vốn, khơi thông các dòng chảy của vốn và hướng chúng vào đầu tư phát triển nông nghiệp
Trang 17Thứ sáu, vốn có giá trị về mặt thời gian Nói cách khác, ở các thời điểm
khác nhau giá trị của vốn cũng khác nhau Thời gian càng dài, giá trị và độ an toàn của đồng tiền càng giảm Vì vậy, khi tính toán, phân tích hiệu quả đầu tư cần phải hiện tại hóa hoặc tương lai hóa giá trị của vốn
1.1.2 Cơ cấu vốn phát triển sản xuất
1.1.2.1 Vốn trong nước
a Vốn từ ngân sách nhà nước
NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đó được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Nó phản ánh các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội phát sinh khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia theo nguyên tắc chủ yếu là không hoàn trả trực tiếp Nguồn vốn NSNN được hình thành từ nguồn tích lũy của ngân sách và nguồn vốn tín dụng của Nhà nước
- Vốn tích lũy của NSNN là phần chênh lệch giữa thu và chi NSNN Thu NSNN bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ, các khoản thu khác theo quy định của pháp luật Chi NSNN bao gồm: chi cho đầu tư phát triển, chi thường xuyên cho quản lý hành chính, an ninh quốc phòng, sự nghiệp văn hóa, y tế, giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học, thể dục thể thao… ở phần lớn các nước đang phát triển, thường xuyên xảy
ra tình trạng thâm hụt ngân sách do nhu cầu chi tiêu thường xuyên rất cao, trong khi nguồn thu lại rất hạn chế nên ngân sách nhà nước không phải là nguồn vốn đầu tư chủ yếu
- Nguồn vốn tín dụng nhà nước: là hình thức vay nợ của Nhà nước thông qua kho bạc, được thực hiện chủ yếu bằng phát hành trái phiếu Chính phủ, bao gồm các hình thức:
+ Tín phiếu kho bạc: là loại trái phiếu Chính phủ có thời hạn dưới một
năm, được phát hành với mục đích bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà
nước, đồng thời tạo thêm công cụ cho thị trường tiền tệ
Trang 18+ Trái phiếu kho bạc: là loại trái phiếu có thời hạn từ một năm trở lên,
được phát hành với mục đích huy động vốn theo kế hoạch ngân sách nhà nước hàng năm đã được Quốc hội phê duyệt
+ Trái phiếu đầu tư: là loại trái phiếu Chính phủ có thời hạn từ một năm
trở lên, bao gồm: Trái phiếu huy động vốn cho từng công trình cụ thể thuộc diện ngân sách đầu tư, nằm trong kế hoạch đầu tư đã được Chính phủ phê duyệt nhưng chưa được bố trí vốn ngân sách trong năm kế hoạch và Trái phiếu huy động vốn để hỗ trợ đầu tư phát triển theo kế hoạch hàng năm được Chính phủ phê duyệt
Hình thức tín dụng nhà nước tuy lãi suất thấp hơn so với các hình thức tín dụng khác, nhưng độ an toàn cao do có sự đảm bảo của Nhà nước nên rất
dễ huy động vốn Do đó, nếu vận dụng tốt sẽ tạo ra nguồn vốn đầu tư quan trọng phục vụ cho phát triển nông nghiệp
Mức vốn đầu tư từ NSTW cho phát triển nông nghiệp còn ít, khoảng 7%/năm So với các lĩnh vực công nghiệp-xây dựng, dịch vụ, con số đầu tư vốn NSNN còn quá ít Cho nên cần huy động đa dạng nguồn vốn cho phát triển nông nghiệp nói chung và nông nghiệp hàng hóa nói riêng
6-b Vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước
Vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước được hình thành từ nhiều kênh khác nhau như: nguồn vốn do ngân sách nhà nước cấp khi thành lập doanh nghiệp (nguồn vốn này có xu hướng giảm), nguồn vốn huy động thông qua trái phiếu; lợi nhuận được phép để lại doanh nghiệp; tiền khấu hao tài sản cố định,
Ngoài việc hỗ trợ đầu tư trực tiếp từ ngân sách nhà nước thì vốn của doanh nghiệp nhà nước cũng là kênh quan trọng cần huy động để phát triển kết cấu hạ tầng, dịch vụ nông nghiệp
c.Vốn từ tín dụng ngân hàng và các tổ chức tài chính trung gian
Vốn đầu tư cho phát triển được huy động qua các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính trung gian khác như công ty tài chính, quỹ tín dụng nhân dân, công ty bảo hiểm… chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư của xã hội Các tổ chức tín dụng với chức năng trung gian huy động vốn từ nơi cung ứng đến nơi
Trang 19có nhu cầu đầu tư để giải quyết quan hệ cung cầu về vốn đầu tư trong phạm vi toàn xã hội và là trung tâm thanh toán trong toàn bộ nền kinh tế, sẽ góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn cho đầu tư phát triển kinh tế Ưu điểm của các tổ chức này là có thể thỏa mãn được mọi nhu cầu về vốn của các pháp nhân và các thể nhân trong nền kinh tế, nếu những đối tượng vay vốn chấp nhận đầy đủ quy chế tín dụng Các hình thức huy động phong phú, đa dạng; thời gian cho vay rất linh hoạt đáp ứng nhu cầu khác nhau của người đi vay; lĩnh vực cho vay rất rộng, liên quan đến các chủ thể và các lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế… là những lợi thế của hình thức tín dụng này Những ưu thế
đó khiến các tổ chức này có thể thu hút, huy động nguồn vốn bằng tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế với khối lượng lớn Do vậy, huy động vốn qua tín dụng ngân hàng và các tổ chức tín dụng trung gian có ý nghĩa rất quan trọng trong việc huy động vốn đầu tư phát triển
d Vốn đầu tư từ các tổ chức kinh tế và các tầng lớp dân cư
Theo xu hướng phát triển hiện nay, nguồn vốn từ các tổ chức kinh tế có chiều hướng gia tăng và ngày càng khẳng định vị trí của nó trong tổng vốn đầu
tư phát triển kinh tế Doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế, là nơi cần phải tăng cường tích tụ và tập trung vốn để đổi mới, mở rộng sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh và tạo vị thế trên trường quốc tế Song phần tích tụ của từng doanh nghiệp tăng lên không đủ để đáp ứng nhu cầu đầu tư đổi mới công nghệ,
mở rộng quy mô sản xuất Do đó, các doanh nghiệp phải huy động vốn bằng các hình thức như vay tín dụng ngân hàng, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, vay lẫn nhau giữa các doanh nghiệp có vốn tạm thời nhàn rỗi, vay thông qua mua hàng trả chậm, vay thương mại… Đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân…) lợi nhuận sau thuế được chia làm hai phần: một phần chia cho các thành viên của công ty, một phần để lại cho doanh nghiệp Khoản lợi nhuận không chia này là khoản tiết kiệm của các doanh nghiệp để hình thành nên vốn đầu tư Bên cạnh đó, các doanh nghiệp này để tiến hành đầu tư còn sử dụng thêm cả phần trích từ khấu hao tài sản cố định ở nước ta hiện nay, ngày càng có nhiều doanh nghiệp ngoài
Trang 20quốc doanh ra đời với nhiều hình thức, quy mô và lĩnh vực hoạt động khác nhau Các doanh nghiệp này thường có quy mô vừa và nhỏ, tuy nhiên hoạt động rất linh hoạt, có hiệu quả và đóng góp đáng kể trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Một nguồn huy động vốn đầu tư không thể không kể đến là nguồn huy động từ các tầng lớp dân cư Nguồn vốn được hình thành từ tiết kiệm của dân
cư phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của mỗi hộ gia đình Phần tiết kiệm là chênh lệch giữa thu nhập và chi tiêu Thu nhập nếu nhỏ hơn mức chi tiêu sẽ không có tiết kiệm, thu nhập bằng chi tiêu thì tiết kiệm bằng không Nếu thu nhập lớn hơn mức chi tiêu thì sẽ có tiết kiệm, đây chính là điều kiện để hình thành nên nguồn vốn đầu tư từ tầng lớp dân cư Tiết kiệm ở các nước phát triển
có xu hướng nhiều hơn ở các nước đang và kém phát triển, các hộ gia đình có thu nhập cao hơn thường tiết kiệm nhiều hơn, tiết kiệm ở thành thị thường nhiều hơn nông thôn
Đối với nước ta hiện nay, do thu nhập của dân cư còn ở mức thấp nên mức tiết kiệm của dân cư rất thấp, dẫn đến nguồn vốn đầu tư từ tầng lớp dân cư chưa nhiều Tuy nhiên theo đà phát triển chung của đất nước, thu nhập của dân
cư ngày càng tăng, nguồn vốn này
Trong điều kiện điểm xuất phát và khả năng tích lũy từ nội bộ nền kinh tế còn thấp, gây khó khăn cho việc khai thác các nguồn vốn trong nước như ở nước
ta hiện nay, thì nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài là hết sức quan trọng [6]
1.1.2.2 Vốn đầu tư nước ngoài
a.Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance - ODA)
Theo Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng Thế giới (WB) xuất bản tháng 06/1999, ODA được định nghĩa như sau: “ODA là một phần của tài trợ phát triển chính thức ODF, trong đó các yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ưu đãi và phải chiếm ít nhất 25% trong tổng viện trợ” Trong đó, tài trợ phát triển chính thức (Offcial Development Finance, viết tắt là ODF) là tất cả các nguồn tài chính mà chính phủ các nước phát triển và các tổ chức đa phương dành cho các nước đang phát triển
Trang 21ODA là nguồn vốn được vay có lãi suất thấp, thời gian cho vay dài, có thời gian ân hạn (chỉ trả lãi, chưa phải trả gốc), giá trị cho vay lớn Lĩnh vực đầu tư của ODA chủ yếu là các lĩnh vực không hoặc ít sinh lợi nhuận, đó là các công trình công cộng mang tính chất phúc lợi xã hội như các dự án đầu tư vào
cơ sở hạ tầng, các công trình giao thông vận tải, giáo dục y tế…
ODA là khoản vay có tính chất ưu đãi, có lợi về mặt kinh tế - xã hội cho các nước nhận đầu tư, là nguồn vốn có vai trò quan trọng đối với các nước đang
và chậm phát triển ODA giúp các nước nghèo tiếp nhận những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực Đồng thời ODA giúp các nước nhận đầu tư điều chỉnh cơ cấu kinh tế, góp phần tăng khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển trong nước Do tác dụng to lớn của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức nên cần tận dụng nguồn vốn này, kết hợp với sử dụng hiệu quả để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, cần tránh lạm dụng, biến khoản vay nợ này thành gánh nặng nợ nần, từ sự bị ràng buộc về kinh tế dẫn đến bị các nước tài trợ ràng buộc về chính trị
b Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI)
Theo khái niệm của tổ chức Hợp tác kinh tế và Phát triển (OECD): Đầu
tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với các doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; tham gia vào một doanh nghiệp mới, cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm); hoặc có quyền kiểm soát nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên
FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận, các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của luật pháp từng nước để dành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư Do chủ đầu tư trực tiếp sử dụng vốn, thu nhập của chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh doanh, hơn
Trang 22nữa trong trường hợp nhận thấy sự bất ổn của nền kinh tế nước nhận đầu tư, nhà đầu tư không dễ dàng rút vốn để chuyển sang hình thứcđầu tư khác nên đối với các nước nhận đầu tư FDI có ưu điểm là tính ổn định, hiệu quả sử dụng cao hơn các hình thức khác Một mặt, cũng giống như nguồn vốn ODA, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo điều kiện cho nước sở tại có thể thu hút được kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của nước ngoài Mặt khác, nguồn vốn FDI còn góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả các nguồn vốn trong nước
do các doanh nghiệp trong nước phải tăng cường đầu tư và chú trọng đến hiệu quả đầu tư trong điều kiện phải cạnh tranh với các doanh nghiệp có vốn FDI, quan trọng hơn FDI không làm tăng gánh nặng nợ nước ngoài Vì vậy, đây là nguồn vốn có ý nghĩa quan trọng, cần có những chính sách phù hợp để thu hút, huy động phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế
1.2 Lý luận về vốn phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa trên địa bàn huyện
1.2.1 Khái niệm về sản xuất nông nghiệp hàng hóa
1.2.1.1 Khái niệm nông nghiệp hàng hóa
Nông nghiệp hàng hóa là một bộ phận của nền kinh tế hàng hóa nói chung, nó sản xuất ra nông sản phẩm (nông, lâm, ngư nghiệp) không phải để
tự tiêu dùng của người sản xuất mà là để trao đổi, để bán trên thị trường, nó là
hình thức tổ chức kinh tế-xã hội, trong đó có mối quan hệ kinh tế giữa người với người, giữa các chủ thể với nhau được thực hiện thông qua trao đổi, mua bán trên thị trường, quan hệ hàng hóa-tiền tệ, quan hệ thị trường, quan hệ hạch toán, …là những quan hệ chủ yếu của loại hình này, chịu sự chi phối của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, thiết chế kinh tế-xã hội, phong tục tập quán, văn hóa,, trong đó trực tiếp và khách quan là sự tác động của các quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh [6] [3]
Có thể khẳng định rằng, tất cả các ngành, các lĩnh vực đểu muốn có sự phát triển và ngành nông nghiệp cũng không nằm ngoài quy luật này Vốn đầu
tư chính là nhân tố quyết định những sự biến đổi vượt bậc của ngành nông nghiệp, là đòn bẩy, là động lực cho sự phát triển kinh tế nói chung và trong nông nghiệp nói riêng
Trang 231.2.1.2 Đặc trưng của sản xuất nông nghiệp hàng hóa
a Tính thời vụ
Nông nghiệp có đặc điểm kinh tế, kỹ thuật, xã hội riêng biệt so với các ngành sản xuất khác; đó là: Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện
tự nhiên; mang tính thời vụ cao; đối tượng sản xuất nông nghiệp là sinh vật, chu
kỳ tái sản xuất kinh tế phụ thuộc vào chu kỳ tái sản xuất tự nhiên của sinh vật nên thường có chu kỳ sản xuất dài Nhu cầu về đầu vào như giống, phân bón, thuốc trừ sâu, nguyên nhiên liệu, thức ăn chăn nuôi, lao động… lượng nông sản hàng hoá cung ra trên thị trường cũng mang tính thời vụ Thực tế này ảnh hưởng đến quan hệ cung cầu, ảnh hưởng đến việc hình thành giá cả trên thị trường, dẫn đến sự dao động lớn của đầu vào và đầu ra theo mùa vụ
b Tính sinh học
Phần lớn các nông sản được cung ra trên thị trường vào những thời điểm nhất định, thường là sau thu hoạch; nhưng nhu cầu về các sản phẩm đó lại hầu như liên tục và kéo dài trong cả năm, việc dự trữ, bảo quản, chế biến nông sản hàng hoá là tất yếu Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ nên khi thu hoạch rộ thường làm cho các phương tiện dự trữ, bảo quản, chế biến, vận chuyển có khi vượt quá khả năng và nhiều khi nông sản phẩm không được dùng hết, những sản phẩm không bảo quản được phải chế biến ngay sau khi thu hoạch
c Tính mau hỏng
Với những sản phẩm không qua chế biến cần phải được người tiêu dùng tiêu thụ, những vấn đề về phương tiện vận tải và phương thức, thời gian vận chuyển đủ để đáp ứng yêu cầu chuyên chở nông sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ; nhất là đối với những sản phẩm dễ hư hỏng, dễ giảm phẩm cấp khi vận chuyển cần được bảo quản tốt, tiêu thụ nhanh để đảm bảo chất lượng và hạn chế hao hụt
d Tính phụ thuộc
Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế được; nước ta đất đai sản xuất nông nghiệp khá manh mún, lại do nhiều chủ sử dụng quản lý nhất là đối với các tỉnh miền núi Nông nghiệp phân bố trên phạm vi
Trang 24không gian rộng lớn, phức tạp và mang tính khu vực rõ rệt; có nhiều tầng lớpdân
cư, dân tộc và trình độ dân trí khác nhau Sản phẩm nông nghiệp do các thành phần và các tổ chức kinh tế khác nhau sản xuất như: Doanh nghiệp, HTX, các trang trại, hộ nông dân ; trong đó phần lớn nông sản là do nông dân sản xuất
Do các yếu tố trên nên khối lượng nông sản sản xuất ra thường không lớn, phân tán và chất lượng không đồng đều; người sản xuất và người tiêu thụ thường khó kiểm soát được số lượng và chất lượng sản phẩm hàng hoá cung ra thị trường
Do vậy quá trình tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm rất đa dạng, phức tạp
1.2.2 Vốn phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa
Từ các đặc trưng cơ bản trên về vốn, có thể tổng hợp lại để đưa ra một khái niệm mang tính tóm lược về vốn đầu tư phát triển nông nghiệp như sau:
Vốn đầu tư phát triển nông nghiệp là một bộ phận của nguồn lực biểu hiện dưới dạng giá trị, được thể hiện bằng các tài sản hữu hình và vô hình, sử dụng vào mục đích đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp để sinh lời
Vốn đầu tư phát triển là vốn đầu tư loại trừ vốn đầu tư tài chính (vốn đầu tư cho các hoạt động tài chính như ngân hàng, thị trường vốn…) và vốn đầu tư thương mại (vốn đầu tư cho các hoạt động dịch vụ, du lịch,…)
Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp để thực hiện các hoạt động đầu tư, là toàn bộ những chi tiêu để làm tăng hoặc duy trì tài sản vật chất trong một thời kỳ nhất định, thường được thực hiện qua các dự án đầu tư và một số chương trình mục tiêu quốc gia với mục đích chủ yếu là bổ sung tài sản cố định
và tài sản lưu động [6]
1.3 Lý luận về thu hút vốn phát triển nông nghiệp hàng hóa trên địa bàn huyện
1.3.1 Khái niệm về thu hút vốn phát triển SXNN hàng hóa
Thu hút vốn phát triển nông nghiệp hàng hóa là hoạt động của chủ thể đưa ra các biện pháp tác động nhằm tăng cường các nguồn vốn khác nhau cho phát triển nông nghiệp hàng hóa, nguồn vốn này sử dụng vào mục đích đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp để sinh lời
Trang 25Thu hút vốn đầu tư phát triển nông nghiệp là quá trình tìm hiểu, xác định, định hướng, khai thác và đưa vốn vào hoạt động đầu tư phát triển nông nghiệp thông qua các điều kiện về hành lang pháp lý, kết cấu hạ tầng kỹ thuật-
xã hội, các nguồn tài nguyên, môi trường, nguồn nhân lực các hoạt động Marketing thu hút đầu tư để thu hút các nhà đầu tư vốn, khoa học công nghệ vào lĩnh vực nông nghiệp [6]
1.3.2 Vai trò của thu hút vốn trong phát triên SXNN hàng hóa
Một là, góp phần giải quyết tình trạng thiếu vốn cho đầu tư phát triển nông nghiệp
Đối với các nước đang phát triển, vốn đầu tư đóng vai trò như một “cú hích ban đầu”, tạo đà cho sự cất cánh của nền kinh tế Thiếu vốn là căn bệnh kinh niên của nền kinh tế các quốc gia này Để điều trị căn bệnh đó không có cách nào tốt hơn là phải tăng cường thu hút, huy động vốn, khơi thông các dòng chảy của vốn và hướng chúng vào đầu tư phát triển kinh tế
Giáo sư Paul A Samuelson đã chỉ ra vòng đói nghèo luẩn quẩn mà nền kinh tế các nước đang phát triển gặp phải Thu nhập thấp là nguyên nhân dẫn đến tiết kiệm thấp, đầu tư thấp; tiết kiệm và đầu tư thấp sẽ cản trở quá trình phát triển của vốn, làm cho tỉ lệ tích lũy vốn thấp, không đủ vốn cho hoạt động đầu tư; vốn đầu tư không đủ cho nhu cầu sản xuất sẽ dẫn đến năng lực sản xuất giảm, từ đó đưa đến một kết quả là thu nhập bình quân thấp Chu trình ấy lặp đi lặp lại cho đến khi các quốc gia này tìm ra cách phá vỡ một trong các mắt xích của nó Một trong những khâu quan trọng trong vòng tròn luẩn quẩn đó chính là vốn dành cho đầu tư phát triển Như vậy, huy động tối đa các nguồn lực trong và ngoài nước, tăng vốn đầu tư cho nền kinh
tế được xem như một biện pháp ưu việt nhất tạo nên bước đột phá nhằm tạo
đà cho tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập, từ đó phá vỡ cấu trúc của vòng đói nghèo luẩn quẩn
Sự phát triển không đồng đều giữa các vùng trên lãnh thổ quốc gia, chênh lệch giàu nghèo là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm Vốn đầu tư có tác dụng giải quyết những mặt mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ,
Trang 26đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo Đồng thời, nó cũng giúp các khu vực kém phát triển này phát huy được lợi thế, khơi dậy tiềm năng để phát triển nhanh hơn, toàn diện hơn, nhằm thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, tạo nên sự tiến bộ chung cho cả đất nước
Hai là, vốn đầu tư phát triển nông nghiệp góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Sự phân bố phát triển không đồng đều giữa các vùng trên lãnh thổ quốc gia, chênh lệch giàu nghèo là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm Vốn đầu
tư có tác dụng giải quyết những mặt mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo Đồng thời,
nó cũng giúp các khu vực kém phát triển này phát huy được lợi thế, khơi dậy tiềm năng để phát triển nhanh hơn, toàn diện hơn, nhằm thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, tạo nên sự tiến bộ chung cho cả đất nước
Ba là, vốn đầu tư phát triển nông nghiệp thúc đẩy đầu tư thay thế nông
cụ thô sơ truyền thống, đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ, kỹ thuật, nâng cao chất lượng, sản lượng nông phẩm và tăng sức cạnh tranh trên trường quốc tế
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hóa và đầu tư là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ Để có một nền công nghệ cao có 2 con đường cơ bản: một là tự nghiên cứu phát minh ra công nghệ, hai là nhập công nghệ từ nước ngoài Dù thực hiện theo con đường nào vốn đầu
tư cũng là yếu tố quan trọng không thể thiếu
Vốn đầu tư giúp người nông dân đầu tư thay thế nông cụ thô sơ, đổi mới máy móc thiết bị, áp dụng công nghệ tiên tiến trong quá trình sản xuất Từ đó, vốn đầu tư là điều kiện cần thiết để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng và tăng sản lượng nông phẩm Trong nền kinh tế thị trường với sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay, một quốc gia nếu không áp dụng các thành tựu tiến bộ của khoa học công nghệ, không hiện đại hóa, thay thế các máy móc, nông cụ thô sơ, sản phẩm sẽ không thể giành được vị thế và sức cạnh tranh lớn trên trường quốc tế
Trang 27Bốn là, vốn đầu tư phát triển nông nghiệp góp phần phát triển nguồn nhân lực, tạo thêm nhiều việc làm mới cho nền kinh tế và nâng cao thu nhập cho người lao động
Mặt khác, các nhà đầu tư luôn mong muốn đầu tư vào những quốc gia
mà người lao động có chuyên môn cao để tiết kiệm chi phí cho việc đào tạo Vì thế, trong điều kiện hiện nay, chất lượng và trình độ lao động của các nước là một tiêu chí quan trọng để thu hút các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tiến hành đầu tư Do vậy, để thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài, Chính phủ các nước cần có kế hoạch dành ra một quỹ ngân sách nhất định cho đào tạo phát triển nguồn nhân lực trong nước
Đầu tư tạo ra tăng trưởng kinh tế và bản thân tăng trưởng kinh tế tác động trực tiếp đến việc góp phần giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: thất nghiệp, lạm phát, xóa đói giảm nghèo, giảm khoảng cách thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, thực hiện đền ơn đáp nghĩa, bảo hiểm xã hội và các hoạt động
từ thiện… do đó có thể cải thiện môi trường sống của xã hội Vốn đầu tư góp phần mở rộng quy mô sản xuất, tạo ra nhiều cơ sở kinh doanh, trực tiếp thu hút một số lượng lớn lao động tham gia, từ đó nâng cao thu nhập cho người dân Như vậy, vốn đầu tư phát triển ngoài phát triển nguồn nhân lực còn tạo thêm nhiều việc làm mới cho nền kinh tế và cải thiện cuộc sống của người lao động Giải quyết tốt các vấn đề xã hội chính là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
và tạo ra sự phát triển bền vững trong tương lai
1.3.3 Nội dung thu hút vốn phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa
1.3.3.1 Thu hút gián tiếp bằng các biện pháp làm gia tăng sự hấp dẫn của ngành nông nghiệp
a) Thực hiện quy hoạch đồng bộ PTNN
Quy hoạch là căn cứ khoa học và thực tiễn, là nguồn cung cấp thông tin
về thực trạng phát triển kinh tế của ngành, tiềm năng phát triển cũng như các yêu cầu về nguồn lực trong từng giai đoạn phát triển để nhà đầu tư nghiên cứu đưa ra quyết định về quy mô, vị trí, công nghệ, thời điểm đầu tư vào ngành đó Quy hoạch còn làm cơ sở để nhà nước xem xét, quyết định đầu tư các dự án, các công trình kết cấu hạ tầng của địa phương
Trang 28b) Cải thiện môi trường đầu tư trong ngành nông nghiệp
Dưới góc độ quản lý kinh tế, các cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh có thể sử dụng công cụ chính sách nhằm cải thiện môi trường đầu tư, qua đó tạo
ra sự hấp dẫn của ngành nông nghiệp đối với nhà đầu tư Các chính sách chủ yếu mà tỉnh có thể ban hành và thực hiện để cải thiện môi trường đầu tư trong nông nghiệp gồm có:
* Chính sách đất đai: Chính sách đất đai của tỉnh đề cập các nội dung
chính sau: (1) Quy hoạch, bố trí và sử dụng đất để phát triển nông nghiệp; (2) Quy định về đền bù giải phóng mặt bằng; chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất; (3) Quy định về khung giá đất nông nghiệp
và quy định về các thủ tục liên quan đến hoạt động cho thuê, chuyển nhượng quyền sử dụng đất đai trong nông nghiệp
* Chính sách phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp: Chính sách phát
triển chính sách hạ tầng của huyện được hiểu trên 2 khía cạnh chính, đó là: (i) chính sách huy động và phân bổ các nguồn lực bằng tiền và những tài sản vật chất bỏ vào đầu tư tạo ra những chính sách hạ tầng thiết yếu phục vụ nông nghiệp; (ii) cơ chế chuyển các nguồn lực bằng tiền, tài sản và các loại nguồn lực khác thành những chính sách hạ tầng kinh tế - kỹ thuật để tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp
* Chính sách tín dụng: chính sách tín dụng liên quan đến các nội dung
về: (i) xác định phạm vi đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi tín dụng trong nông nghiệp; (ii) xây dựng cơ chế để kết nối giữa các tổ chức tài chính với nhà đầu tư đặc biệt là người đầu tư nhỏ lẻ; (iii) xây dựng các quy định chi tiết để thực hiện các chương trình cho vay theo mục tiêu như: Các quy định về việc tiếp cận các nguồn vốn vay để đầu tư trong nông nghiệp: quy định về điều kiện vay, về quy trình (thủ tục) để được cấp vốn, …
* Chính sách thương mại: Bao gồm chính sách thị trường, chính sách
giá, và các biện pháp can thiệp trực tiếp nhằm thúc đẩy sự phát triển của thị trường và hoạt động thương mại đối với sản phẩm nông nghiệp của tỉnh Các chính sách khuyến khích và hỗ trợ cho các đơn vị cung cấp đầu vào của sản
Trang 29xuất nông nghiệp Chính sách khuyến khích liên kết để tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường cũng là những chính sách nhằm thu hút đầu tư vào nông nghiệp
c) Ban hành các chính sách khuyến khích đầu tư
Các chính sách ưu đãi đầu tư gồm có: ưu đãi về tiền thuê đất đai, thuế và tín dụng đầu tư Các chính sách hỗ trợ đầu tư gồm có: Hỗ trợ tư vấn để hoàn thiện các thủ tục hành chính; hỗ trợ tìm kiếm thị trường, đối tác; hỗ trợ kinh phí lập quy hoạch các khu sản xuất, hỗ trợ tích tụ đất đai để sản xuất nông nghiệp hàng hóa, hỗ trợ về giá đầu vào,…
Ngoài ra, để thu hút vốn đầu tư còn cần phải thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư trong nông nghiệp
1.3.3.2 Thu hút trực tiếp các nhà đầu tư thông qua các chương trình xúc tiến đầu tư vào nông nghiệp
Xúc tiến đầu tư là biện pháp rất quan trọng trong thu hút vốn đầu tư Thông qua xúc tiến đầu tư nhằm thiết lập quan hệ tốt giữa người xúc tiến và nhà đầu tư Vì đầu tư vào nông nghiệp mang tính đặc thù nên việc lựa chọn nhà đầu tư phù hợp là rất quan trọng Với mỗi lĩnh vực trong nông nghiệp đòi hỏi phải có chiến lược để nhắm đến một nhóm nhà đầu tư nhất định Đồng thời, xác định phương pháp tiếp cận nhà đầu tư
1.3.3.3 Đánh giá kết quả thu hút vốn đầu tư để phát triển nông nghiệp hàng hóa của huyện
Quy mô vốn đầu tư Là chỉ tiêu phản ánh tổng lượng vốn đầu tư vào nông
nghiệp trong một thời kỳ nhất định Chỉ tiêu này cho phép đánh giá mức độ đầu
tư trong nông nghiệp và khả năng đáp ứng của vốn đầu tư so với nhu cầu đầu
tư phát triển nông nghiệp hàng hóa của huyện trong mỗi giai đoạn Xác định quy mô vốn đầu tư có ý nghĩa quan trọng vì quy mô vốn đầu tư ảnh hưởng có tính chất quyết định đến tăng trưởng và phát triển nông nghiệp Quy mô vốn đầu tư càng lớn thì càng thúc đẩy phát triển nông nghiệp hàng hóa Kết quả thu hút vốn đầu tư còn được thể hiện ở số lượng các dự án đầu tư vào nông nghiệp
và quy mô của các dự án đầu tư
Trang 30Tỷ lệ tăng của quy mô vốn đầu tư Tỷ lệ tăng của quy mô vốn đầu tư cho biết
mức tăng tương đối của vốn đầu tư vào nông nghiệp theo thời gian được tính bằng phần trăm (%) tăng thêm của quy mô vốn đầu tư vào nông nghiệp Nếu tỷ lệ tăng của vốn đầu tư trong giai đoạn thực hiện các biện pháp thu hút vốn đầu tư lớn chứng
tỏ các biện pháp thu hút vốn đầu tư của tỉnh đã có hiệu quả tốt
Cơ cấu vốn đầu tư Khi phân tích kết quả thu hút vốn đầu tư để phát triển
nông nghiệp hàng hóa còn cần phải đánh giá về các nội dung như: đầu tư có phù hợp với nhu cầu về vốn đặt ra trong chiến lược, của tỉnh theo từng ngành, từng địa bàn, dự án đã được quy hoạch không? Đồng thời, xác định hoạt động đầu tư có gắn với mục tiêu phát triển nông nghiệp hàng hóa trên cơ sở khai thác hiệu quả các lợi thế và nguồn lực trong tỉnh hay không Muốn đánh giá được những vấn đề này, cần phải xem xét cơ cấu đầu tư Cơ cấu được xem xét theo
2 nhóm: cơ cấu theo nguồn vốn, cơ cấu theo nhu cầu đầu tư và cơ cấu theo tiểu ngành, địa bàn
Giá trị sản phẩm thuần tuý tăng thêm: Trong ngành nông nghiệp huyện, chỉ
tiêu này rất phù hợp bởi nhiều dự án nông nghiệp mang tính lợi ích xã hội hơn là lợi nhuận Nếu tính theo chỉ tiêu này thì mức lợi ích của đầu tư trong nông nghiệp là tương đối cao và người dân được hưởng lợi nhiều từ dự án nông nghiệp
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút vốn phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở địa phương
1.3.4.1 Nhân tố khách quan
Bối cảnh quốc tế
Đặc trưng của bối cảnh quốc tế hiện nay tác động trực tiếp đến sự phát triển và khả năng thu hút vốn đầu tư của các quốc gia trên thế giới Quá trình toàn cầu hóa, sự bùng nổ của công nghệ thông tin, các chính sách mở cửa được
áp dụng rộng rãi ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, quá trình điều chỉnh cơ cấu thương mại và đầu tư của các thành viên WTO theo hướng tự do hóa, phi thuế quan sẽ là động lực cho sự phát triển, gia tăng tốc độ lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ và các luồng vốn trên thế giới Đây là cơ hội cho các quốc gia tận dụng nguồn vốn từ bên ngoài bổ sung nguồn vốn tự có để phát triển kinh tế, xã hội Tuy nhiên, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt là thách thức lớn mà các quốc gia hiện nay đang gặp phải trong quá trình thu hút vốn đầu tư
Trang 31 Sự hấp dẫn của môi trường đầu tư
Môi trường đầu tư là tập hợp những yếu tố đặc thù địa phương đang định hình cho các cơ hội và động lực để doanh nghiệp đầu tư có hiệu quả, tạo việc làm
và mở rộng sản xuất Đây là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sức hút đầu tư của các quốc gia Các nhà đầu tư trước khi bỏ vốn vào một thị trường nào
đó, bao giờ họ cũng quan tâm đến các chính sách đầu tư, môi trường pháp lý, môi trường chính trị, môi trường tâm lý xã hội, thủ tục hành chính, thực trạng kết cấu
hạ tầng, thị trường… những nhân tố cấu thành nên môi trường đầu tư
Muốn tạo nên môi trường đầu tư hấp dẫn, không thể bỏ qua vai trò hoạch định các chính sách mang tầm vĩ mô của Nhà nước Chính sách thu hút vốn đầu
tư là một bộ phận cấu thành của chính sách tài chính quốc gia, gắn liền với chính sách tài chính - tiền tệ của Nhà nước, có mục tiêu cơ bản là thu hút tối đa các nguồn vốn trong và ngoài nước phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chính sách đầu tư tạo điều kiện gia tăng khả năng cạnh tranh của quốc gia trên thị trường thế giới và cải thiện điều kiện thương mại quốc tế của các quốc gia, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế Mặt khác, chính sách đầu tư tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi để thu hút và sử dụng vốn đầu tư, công nghệ nước ngoài vào quá trình công nghiệp hóa; đồng thời, nâng cao được kinh nghiệm quản lý cho các nhà hoạch định chính sách và các nhà đầu tư trong hoạt động đầu tư Môi trường pháp lý, môi trường tâm lý xã hội, tình hình chính trị
ổn định tạo tâm lý an toàn cho các nhà đầu tư khi bỏ vốn vào một thị trường mới Thủ tục hành chính nhanh chóng, đơn giản, kết cấu hạ tầng tương đối tốt giúp các nhà đầu tư tiết kiệm thời gian và chi phí, tăng lợi nhuận kinh doanh
Ban hành cơ chế, chính sách thuộc thẩm quyền để thu hút vốn đầu tư phát triển nông nghiệp
Cơ chế chính sách là một trong những nhân tố tác động trực tiếp đến quá trình khai thác, phân bổ và sử dụng các nguồn lực để tạo nên sự tăng trưởng và phát triển của một quốc gia, vùng, địa phương Xét ở góc độ thu hút vốn đầu tư phát triển nông nghiệp thì chính sách đầu tư là chính sách tác động trực tiếp đến việc huy động nội lực và thu hút ngoại lực để bổ sung cho các nguồn lực còn thiếu cho phát triển nông nghiệp Thực tiễn đã chứng minh rằng: Sự phát
Trang 32triển nông nghiệp phụ thuộc vào chính sách đầu tư nhiều hơn là vào bản thân các nguồn lực Chính sách đầu tư đúng đắn và phát huy hiệu quả có những tác dụng sau: đảm bảo khả năng khai thác các nguồn lực; tạo điều kiện gia tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp nói riêng; làm tăng nguồn vốn đầu tư vào quá trình phát triển nông nghiệp
1.3.4.2 Nhân tố chủ quan
Tiềm năng, lợi thế về vị trí địa lý, nguồn tài nguyên, nguồn lao động
Đối với một quốc gia nói chung, vị trí địa lý, nguồn tài nguyên khoáng sản và nguồn lực lao động đều có tác động to lớn đến vốn đầu tư Thực tế cho thấy những nước có đầy đủ tiềm năng như vị trí địa lý thuận lợi cho hoạt động sản xuất - kinh doanh, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, lao động chất lượng cao, được đào tạo cơ bản về kỹ năng, trình độ thì thu hút vốn đầu tư sẽ thuận lợi hơn các nước có ít hoặc không có các tiềm năng và lợi thế nói trên Vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất - kinh doanh
Vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất - kinh doanh Vị trí địa lý thuận lợi khiến cho việc giao lưu các luồng hàng hóa giữa các vùng, miền trong nước và các nước trên thế giới diễn ra dễ dàng, đồng thời với sự lưu chuyển hàng hóa là lưu chuyển công cụ, máy móc, công nghệ hiện đại Tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn lao động dồi dào giúp giảm chi phí tối đa cho các hoạt động sản xuất, nâng cao lợi nhuận kinh doanh, đó là những điều kiện quan trọng tạo sức hấp dẫn thu hút vốn đầu tư Đặc biệt đối với việc thu hút vốn đầu tư phát triển nông nghiệp - ngành chịu chi phối không ít bởi điều kiện tự nhiên và yêu cầu số lượng nhân công lớn, các yếu tố kể trên càng có tác động mạnh mẽ hơn
Nước ta có một vị trí địa lý rất thuận lợi trong hoạt động kinh doanh Việt Nam nằm trong khu vực châu á - Thái Bình Dương, là một trong những khu vực phát triển năng động trong khu vực, trên các tuyến giao thông quốc
tế quan trọng, có nhiều cửa ngõ thông ra biển, là điều kiện rất tốt cho hoạt động ngoại thương phát triển Bên cạnh đó, nước ta có nguồn tài nguyên
Trang 33khoáng sản phong phú và đa dạng, được phân bố đều khắp trên lãnh thổ quốc gia Mặt khác, nguồn lao động nước ta dồi dào, tỷ lệ lao động trong độ tuổi lao động lớn cũng là những yếu tố tạo nên sức hấp dẫn để các nhà đầu tư trong
và ngoài nước bỏ vốn vào kinh doanh Đội ngũ cán bộ quản lý hành chính cũng tác động trực tiếp đến kết quả thu hút vốn đầu tư phát triển nông nghiệp Bởi chính họ là những người trực tiếp xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, cơ chế quản lý đầu tư Vì vậy, để việc thu hút vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp đạt kết quả cao thì đội ngũ cán
bộ này phải được đào tạo để có đủ năng lực đáp ứng được yêu cầu công việc trong lĩnh vực mình phụ trách
Năng lực vốn nội tại của địa phương
Một yếu tố không kém phần quan trọng ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu
tư phát triển nông nghiệp là năng lực vốn nội tại của địa phương Vốn đầu tư được huy động tại địa phương bao gồm 3 nguồn chính: vốn nhà nước, vốn của các doanh nghiệp, vốn trong dân
Nguồn vốn nước ngoài có vai trò rất lớn trong phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, song đó chỉ là nguồn vốn bổ sung Bởi vì suy cho cùng, vốn đầu tư nước ngoài là một khoản nợ, bao giờ cũng đi kèm với các ràng buộc về kinh tế, chính trị hoặc bị giám sát, quản lý Nguồn vốn được huy động từ năng lực nội tại của địa phương là nguồn chính đóng góp vào tổng vốn đầu tư của nền kinh tế
Việt Nam trong những năm gần đây đã có sự phát triển vượt bậc về mọi mặt, nhưng do xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, mức tích lũy từ nội
bộ nền kinh tế còn ít, dẫn đến nguồn vốn có được từ năng lực nội tại của địa phương chưa thể chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn phát triển Tuy nhiên, theo xu hướng phát triển chung của đất nước, nguồn ngân sách nhà nước đang tiếp tục được mở rộng, tích lũy của doanh nghiệp, của tầng lớp dân cư
có chiều hướng tăng tích cực
Hoạch định chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển nông nghiệp
Trang 34Việc thu hút vốn đầu tư phát triển nông nghiệp chịu sự tác động và chi phối của việc hoạch định chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển nông nghiệp Mục tiêu của việc hoạch định chiến lược là đạt tới các mục tiêu nhất định và tìm ra hướng đi tối ưu cho quá trình phát triển đó Chiến lược bao giờ cũng được xây dựng trên cơ sở tiềm năng và lợi thế của địa phương cho phù hợp với thực tiễn của đất nước và xu hướng phát triển của khu vực Việc xác định đúng đắn chiến lược phát triển cho phép khai thác, phân bổ và sử dụng
có hiệu quả mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài đảm bảo cho sự phát triển nhanh và bền vững của một địa phương, một quốc gia
1.4 Kinh nghiệm và bài học về công tác thu hút vốn phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
1.4.1 Kinh nghiệm của một số địa phương
1.4.1.1 Kinh nghiệm của huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ
Hạ Hòa nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh, có diện tích tự nhiên hơn 34.000ha, dân số trên 108.000 người Với nhiều lợi thế về đất đai, tài nguyên, lao động và lợi thế về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý… Hạ Hòa đang vươn mình phát triển kinh tế ngày càng vững chắc, hình thành sức vóc mới trong tương lai
Nhớ lại thời điểm khi huyện được tái lập từ ngày 1/1/1996, kinh tế lúc bấy giờ còn nhiều khó khăn, tỷ lệ đói nghèo cao, Ban Thường vụ Huyện
ủy đã phải trăn trở tìm hướng đi ngắn nhất để bứt phá phát triển Xác định nông nghiệp vẫn là mũi nhọn phát triển kinh tế của toàn huyện, trên cơ sở lợi thế sẵn có về điều kiện tự nhiên, có trên 4.000ha đất chuyên canh liền vùng, liền khoảnh để sản xuất nông nghiệp, 1.900ha mặt nước để nuôi trồng thủy sản, 2.500ha đất chuyên canh chè, 11.000ha đất trồng rừng…, huyện
Hạ Hòa đã tập trung thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm, đưa các tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào sản xuất đảm bảo hiệu quả Huyện luôn dành nguồn lực đầu
tư thỏa đáng nhằm hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật phục vụ nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững; ban hành nhiều chính sách hỗ trợ các chương trình nông nghiệp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân phát triển kinh tế
Trang 35Trong trồng trọt đã bước đầu hình thành những cánh đồng mẫu lớn, những vùng chuyên canh rau an toàn như: Mô hình trồng bí đao, cà chua, rau
an toàn tại một số xã như: Văn Lang, Liên Phương, Hậu Bổng… với quy mô mỗi năm đạt trên 200ha, giá trị thu nhập bình quân đạt 180 triệu đồng/ha; mô hình cánh đồng mẫu lớn gieo cấy giống lúa chất lượng cao J02 tại xã Minh Hạc và Hiền Lương cho lãi suất cao hơn so với các giống lúa đang được gieo cấy đại trà hiện nay trên 20 triệu đồng/ha; mô hình trồng thanh long ruột đỏ tại xã Xuân Áng, Đại Phạm; mô hình trồng giống cam V2 (Valencia - 2) xã Y Sơn Đặc biệt, trong phát triển cây chè - cây thế mạnh của huyện, huyện đã tiến hành cải tạo nhiều diện tích chè cằn xấu, đưa một số giống chè có năng suất cao như PH11, LDP1, LDP2 vào trồng thay thế giống chè trung du trồng bằng hạt năng suất thấp Năm 2016, huyện đã trồng mới và cải tạo được gần 50ha chè cằn xấu bằng giống chè mới LDP2 nâng diện tích chè hiện có của toàn huyện lên trên 2.000ha, năng suất bình quân trên 8 tấn/ha, sản lượng chè búp tươi đạt 19.000 tấn, đáp ứng 60% nhu cầu nguyên liệu cho các nhà máy
và cơ sở chế biến chè trên địa bàn, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho nhiều
hộ nông dân trong huyện
Cùng với trồng trọt, phát triển chăn nuôi cũng được khuyến khích triển khai toàn diện, tăng nhanh về số lượng, xây dựng cơ cấu đàn hợp lý, chuyển đổi từ hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ, tự phát sang chăn nuôi quy mô lớn, tập trung gia trại, trang trại Nhiều mô hình chăn nuôi trên địa bàn đã phát huy hiệu quả và được nhân rộng như: Trang trại nuôi lợn của ông Nguyễn Ngọc Nghiệp, xã Lâm Lợi; trang trại tổng hợp của ông Nguyễn Văn Tuấn, thị trấn
Hạ Hòa; trang trại tổng hợp của ông Trần Trung Kiên, xã Yên Luật; trang trại nuôi gà của anh Trần Văn Mạnh xã Lang Sơn… Vùng nuôi trồng thuỷ sản từng bước phát triển tập trung, đưa diện tích nuôi trồng thuỷ sản toàn huyện lên 2.500ha, đầu tư nuôi thả thâm canh trên diện tích mặt nước vừa và nhỏ bằng các giống thủy sản có chất lượng, năng suất cao đáp ứng nhu cầu thị trường như: Cá diêu hồng, cá lăng, cá tầm… Đến nay, ở các xã như: Hiền Lương, Văn Lang, Y Sơn, Minh Hạc… đã hình thành các nông trại trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản Sản xuất nông - lâm nghiệp đã gắn với công nghiệp chế biến để làm tăng giá trị hàng hóa
Trang 36Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ngày càng phát triển với nhiều hình thức sản xuất đa dạng, phong phú, góp phần làm thay đổi diện mạo quê hương, nâng cao đời sống cho người dân Huyện đã duy trì tốt các ngành nghề truyền thống, đồng thời xây dựng làng nghề và nhân cấy nghề mới, xây dựng quy hoạch cụm công nghiệp thị trấn Hạ Hòa Cùng với đó, huyện đã tạo mọi điều kiện để thu hút vốn, khuyến khích các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất So với những năm trước đây thì hiện nay số cơ
sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng nhanh, đã hình thành nhiều cơ sở sản xuất chè, gạch nung, chế biến gỗ, đồ mộc… ở các xã Ấm Hạ, Gia Điền, Hương Xạ, góp phần giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương
Là địa phương có nhiều lợi thế về giao thông, có tuyến đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai và các tuyến quốc lộ 32C, quốc lộ 70 chạy qua nối với tỉnh
lộ, huyện lộ, thêm vào đó là hệ thống sông Hồng, ngòi nhánh đã tạo điều kiện cho Hạ Hòa khai thác các tiềm năng du lịch, từ đó góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế Huyện đã tập trung khai thác tiềm năng lợi thế của hai khu di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia là Đền Mẫu Âu Cơ, xã Hiền Lương và Đền Chu Hưng, xã Ấm Hạ Đồng thời kết hợp với các công ty du lịch, đơn vị lữ hành trong và ngoài tỉnh mở các tua, tuyến du lịch tham quan các thắng cảnh
Ao Giời - Suối Tiên, đầm Ao Châu; tham quan và tìm hiểu về các làng nghề truyền thống và sản vật địa phương như nghề đan lát mây, tre ở Hiền Lương, nghề đan lưới ở Bằng Giã, chế biến lâm sản ở Hà Lương, sản xuất chế biến chè ở Yên Kỳ, nghề thủ công mỹ nghệ và các đặc sản như mật ong rừng, cây
ăn trái… thu hút khá nhiều du khách trong nước và quốc tế Nhờ đó, tổng lượt khách du lịch hằng năm trên địa bàn đều tăng đáng kể; tỷ trọng du lịch - dịch
vụ trong cơ cấu kinh tế huyện hằng năm tăng từ 5 - 7%; doanh thu ước đạt 18
tỷ đồng Phát triển du lịch vẫn được xác định là một trong những khâu đột phá của huyện trong những năm tiếp theo
Nhờ xác định đúng tiềm năng, lợi thế và phát huy tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, đến nay bức tranh kinh tế của Hạ Hòa đã có nhiều khởi sắc, cơ cấu kinh tế được chuyển dịch theo hướng tích cực Tốc độ tăng trưởng
Trang 37kinh tế bình quân đạt 5,2%/năm Tổng giá trị sản xuất năm 2016 ước đạt trên 1.755 tỷ đồng, trong đó giá trị sản xuất lĩnh vực nông, lâm, thủy sản ước đạt trên trên 829 tỷ đồng, tăng 4,7% so với cùng kỳ; giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt trên 236 tỷ đồng, tăng 8,6% so với cùng kỳ; giá trị thương mại, dịch vụ, du lịch ước đạt trên 690 tỷ đồng, tăng 9% so với cùng kỳ Nhờ kinh tế phát triển ổn định, nên thu nhập bình quân đầu người tăng lên 2,5 triệu đồng/năm, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 13,22%
Để tận dụng và phát huy các tiềm năng sẵn có của địa phương nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế theo hướng bền vững trong thời gian tới, bà Nguyễn Thị Hồng Thúy - Phó Chủ tịch UBND huyện Hạ Hòa cho biết: “Huyện sẽ tiếp tục khai thác mọi tiềm năng sẵn có, tập trung chỉ đạo thúc đẩy phát triển sản xuất các ngành nông, lâm nghiệp, công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ Trong đó, tiếp tục triển khai các chương trình kinh tế nông nghiệp trọng điểm; chú trọng sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng hàng hóa, khai thác có hiệu quả quỹ đất để hình thành các vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn; khôi phục và phát triển mạnh nghề nuôi cá lồng, xây dựng cánh đồng mẫu lớn với quy mô 300ha Hoàn thiện quy hoạch phát triển Cụm công nghiệp thị trấn Hạ Hòa; phát triển công nghiệp chế biến chè, gỗ tại các xã Ấm Hạ, Gia Điền, Phương Viên, Yên Kỳ… Tiếp tục đầu tư và thu hút nguồn lực để đầu tư phát triển hạ tầng du lịch
để phát triển kinh tế Phấn đấu giai đoạn 2016 - 2020, tốc độ tăng giá trị tăng thêm bình quân đạt 5,5% trở lên; cơ cấu giá trị tăng thêm lĩnh vực nông, lâm nghiệp đạt 44%, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng đạt 17%, thương mại - dịch vụ - du lịch đạt 39%; giá trị sản phẩm bình quân trên 1ha canh tác và nuôi trồng thủy sản trên 90 triệu đồng/năm…” [19]
1.4.1.2 Kinh nghiệm của huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định
Những năm qua, huyện Xuân Trường đã nỗ lực tạo môi trường đầu tư thuận lợi, thực hiện tốt các cơ chế, chính sách để khuyến khích, thu hút các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn Một số doanh nghiệp đã liên kết với nông dân áp dụng khoa học kỹ thuật, đổi mới quy trình công nghệ, đổi mới mô hình tổ chức sản xuất, khai thác tối đa tiềm năng đất đai và lao động của địa phương, trên cơ sở đó đổi mới toàn diện nền nông nghiệp huyện theo hướng sản xuất hàng hóa
Trang 38Thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp, huyện Xuân Trường chú trọng chỉ đạo đổi mới quan hệ sản xuất trong sản xuất nông nghiệp, trong
đó xúc tiến kêu gọi doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn luôn được quan tâm và tạo mọi điều kiện, coi đây là khâu đột phá trong phát triển sản xuất nông nghiệp Đồng chí Ngô Đức Hoàn, Trưởng Phòng NN và PTNT
huyện cho biết: Huyện xác định công tác quy hoạch là tiền đề quan trọng để đẩy mạnh thu hút đầu tư, thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp gắn với xây dựng NTM Do vậy, huyện đã chỉ đạo các xã, thị trấn phối hợp chặt
chẽ với đơn vị tư vấn và các cơ quan chuyên môn của huyện xây dựng các quy hoạch ngành gắn với quy hoạch sử dụng đất và xây dựng NTM cho phù hợp Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp, đánh giá đúng hiện trạng nông thôn, quy hoạch sát thực, khả thi, đảm bảo tính đồng bộ và liên kết vùng Đặc biệt chú trọng điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển nông nghiệp công nghệ cao, tạo điều kiện thu hút đầu tư, khai thác có hiệu quả vùng đất bãi sông Hồng, sông Ninh Cơ và sông Sò Trong nội đồng, tập trung quy hoạch các vùng trang trại xa khu dân cư, thuận lợi giao thông Từ đó, từng bước cơ cấu lại các ngành hàng, sản phẩm chủ yếu, có lợi thế so sánh theo các vùng tập trung với quy mô sản xuất phù hợp Lồng ghép các nội dung của Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp và các giải pháp ứng phó biến đổi khí hậu (BĐKH) vào các quy hoạch Tăng cường quản lý, thực hiện tốt các quy hoạch, đồng thời sử dụng linh hoạt, hiệu quả diện tích đất trồng lúa, chấm dứt tình trạng chuyển đổi tự phát đất canh tác
Huyện cũng coi dồn điền đổi thửa (DĐĐT) là khâu đột phá tạo tiền đề trong phát triển nông nghiệp hàng hóa và xây dựng NTM Các xã, thị trấn sau DĐĐT đã chỉnh trang đồng ruộng, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như: đường giao thông nội đồng, kênh mương, đặc biệt là dồn đất công để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất Trong thời gian qua, huyện phối hợp với Sở NN
và PTNT tích cực quảng bá, kêu gọi, lựa chọn nhà đầu tư đủ năng lực tham gia - đặc biệt ưu tiên các dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất Cùng với đó, huyện thực hiện tốt công tác tuyên truyền, thuyết phục cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức đầy đủ
Trang 39được tầm quan trọng của các dự án để đồng thuận chuyển nhượng đất hoặc cho thuê đất và làm tốt việc đảm bảo lợi ích hài hòa giữa người dân và doanh nghiệp theo nguyên tắc khi có dự án người dân phải có thu nhập cao hơn so với việc đang tự sản xuất
Đến nay, toàn huyện có 22 mô hình thuê gom, tích ruộng đất để phát triển sản xuất hàng hóa, trong đó đã thu hút được nhiều doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp Được sự quan tâm của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và các sở, ngành của tỉnh, huyện Xuân Trường đang tích cực triển khai tiếp nhận Dự án Nông nghiệp công nghệ cao của Tập đoàn Vingroup tại vùng bãi các xã Xuân Hồng, Xuân Châu Đây là một Dự án lớn, trọng điểm có sức ảnh hưởng rất lớn, mang tính chất tiền đề để thu hút đầu tư trên tất cả các lĩnh vực đầu tư vào huyện Xuân Trường nói riêng, tỉnh Nam Định nói chung Mục tiêu đầu tư Dự án này là nhằm thực hiện việc chuyển giao khoa học công nghệ (KHCN), tạo cơ hội để người dân tiếp cận với nền nông nghiệp công nghệ cao, từng bước áp dụng mở rộng ra toàn bộ diện tích nông nghiệp trên địa bàn huyện Đồng thời, tạo bước chuyển biến tích cực về sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, giải quyết tình trạng lãng phí đất đai, tăng thu nhập ngân sách Nhà nước, tạo công ăn việc làm (thu hút một lượng lớn lao động thường xuyên của địa phương khoảng 650 người, được đào tạo nghề, đảm bảo thu nhập ổn định, cao hơn rất nhiều thu nhập hiện tại của người dân và được cam kết đóng bảo hiểm theo quy định), nâng cao đời sống nhân dân, góp phần thực hiện Đề
án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp Bên cạnh đó, nơi Dự án được thực hiện sẽ
có cơ hội được đầu tư rất lớn, có điều kiện phát triển dịch vụ - thương mại, hạ tầng, đường giao thông Đến nay, huyện đã bàn giao được gần 140ha cho Tập đoàn đang triển khai sản xuất tại vùng bãi Hành Thiện, xã Xuân Hồng Hiện Tập đoàn Vingroup đã thu hoạch được 1,3ha cà rốt và đang trồng 18ha rau, củ, quả các loại Tập đoàn đang tiếp tục đầu tư hạ tầng: hệ thống đường giao thông, kênh mương; xây dựng 6ha nhà kính, nhà lưới và 2 ha nhà màng…
Được huyện Xuân Trường tạo điều kiện, kêu gọi đầu tư, Cty TNHH Hoàng Diệu đã thuê 20ha ở vùng đất bãi xã Xuân Thành để xây dựng trang trại tổng hợp Đây là vùng đất hiệu quả sản xuất hằng năm thấp, khó canh tác
Trang 40bởi đê bao quanh, nước thủy triều dâng cao, cống không đảm bảo… nên đầu
tư của nông dân địa phương gặp rất nhiều khó khăn Cty đã đặt vấn đề với nông dân địa phương và được các hộ nông dân nhiệt tình ủng hộ theo nguyên tắc hợp tác đôi bên cùng có lợi, nông dân được nhận một khoản tiền để đầu tư lĩnh vực sản xuất khác của gia đình Cty đã tiếp nhận, cải tạo và trồng cây đinh lăng, đồng thời Cty ký hợp đồng với các dược phẩm trong nước tạo đầu
ra ổn định cho sản phẩm Bên trên vườn đinh lăng, Cty làm giàn trồng gấc để xuất khẩu Ngoài những cây trồng chính, Cty còn kết hợp nuôi lợn rừng, dưới thả cá tạo ra chu trình sản xuất, khai thác đất đai khép kín đem lại hiệu quả kinh tế rất cao Ngoài 2 doanh nghiệp kể trên, Xuân Trường còn thu hút một
số doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn huyện như: Cty TNHH Cơ khí Đình Mộc thuê gom tích tụ ruộng đất ở Xuân Vinh tạo thành vùng sản xuất hàng hóa có quy mô 40ha để xây dựng cánh đồng mẫu lớn sản xuất lúa chất lượng cao và trồng cây cỏ ngọt; Cty 27-7 thuê 10ha đất ở xã Xuân Tân để phát triển trồng cây dược liệu; Cty TNHH Cường Tân thuê 70ha đất ở 2 xã Xuân Ninh và Xuân Thượng để tạo thành vùng sản xuất lúa giống tập trung; Cty Phú Lộc và Cty Thanh Phú phát triển trang trại chăn nuôi…
Để thực hiện tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững thành công thì vai trò của các doanh nghiệp nông nghiệp hết sức quan trọng Việc thu hút doanh nghiệp đầu tư, đồng hành cùng nông dân liên kết sản xuất, tạo ra những cánh đồng lớn, có khối lượng hàng hóa lớn đảm bảo yêu cầu cùa thị trường là bước đi tất yếu Những mô hình ở Xuân Trường rất phù hợp với những định hướng của tỉnh, cần được nhân rộng để cho các doanh nghiệp đầu tư, liên kết, tổ chức cùng nông dân sản xuất nông nghiệp theo chuỗi để tỉnh có nhiều hơn những cánh đồng, những vùng sản xuất hàng hóa tập trung
Trong thời gian tới, huyện Xuân Trường tiếp tục khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có tiềm năng về vốn, KHCN đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao vào những vùng sản xuất đã được quy hoạch Hình thành các HTX chuyên ngành về trồng trọt, chăn nuôi, nuôi thủy sản trên địa bàn nhằm phát triển mạnh các mô hình kinh tế hợp tác, mô hình liên kết