Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Trần Thị Trường (LV thạc sĩ)Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Trần Thị Trường (LV thạc sĩ)Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Trần Thị Trường (LV thạc sĩ)Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Trần Thị Trường (LV thạc sĩ)Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Trần Thị Trường (LV thạc sĩ)Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Trần Thị Trường (LV thạc sĩ)Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Trần Thị Trường (LV thạc sĩ)Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Trần Thị Trường (LV thạc sĩ)Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Trần Thị Trường (LV thạc sĩ)Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Trần Thị Trường (LV thạc sĩ)Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Trần Thị Trường (LV thạc sĩ)Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Trần Thị Trường (LV thạc sĩ)Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Trần Thị Trường (LV thạc sĩ)Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Trần Thị Trường (LV thạc sĩ)Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Trần Thị Trường (LV thạc sĩ)Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Trần Thị Trường (LV thạc sĩ)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
THẾ GIỚI NHÂN VẬT
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA TRẦN THỊ TRƯỜNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
THẾ GIỚI NHÂN VẬT
TRONG TIỂU THUYẾT CỦA TRẦN THỊ TRƯỜNG
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã ngành: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN THỊ VIỆT TRUNG
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Nguyễn Thị Thu Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô Ban Giám hiệu, Ban lãnh đạo khoa Sau đại học trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên, cùng các thầy cô tham gia giảng dạy lớp Cao học K9 - đã tạo mọi điều kiện để tác giả được học tập, nghiên cứu và hoàn thành chương trình đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam khóa 2015 - 2017
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Trần Thị Việt Trung
đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và nghiêm khắc, nhiệt tình chỉ bảo tác giả trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Hưng Yên; lãnh đạo các phòng, ban trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo Hưng Yên; các đồng chí cán bộ quản lý, giáo viên trường Trung học Phổ thông Chuyên Hưng Yên đã tạo điều kiện về mọi mặt để tác giả hoàn thành khóa học này
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới nhà văn Trần Thị Trường – người
đã giúp đỡ rất nhiều về tư liệu cho tác giả Tác giả xin cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, chia sẻ giúp tác giả
có động lực để hoàn thành luận văn đúng thời hạn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, song luận văn không tránh khỏi thiếu sót, tác giả kính mong được sự chỉ dẫn, góp ý của các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hưng Yên, ngày 05 tháng 06 năm 2017
Học viên
Nguyễn Thị Thu Hương
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
PHẦN MỞ ĐẦU iii
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Cấu trúc luận văn 9
7 Đóng góp của luận văn 9
PHẦN NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 10
1.1 Khái niệm về "Nhân vật" và "Thế giới nhân vật" trong tác phẩm văn học 10
1.1.1 Khái niệm về "Nhân vật" 10
1.1.2 Khái niệm về "Thế giới nhân vật" 12
1.1.3 Vai trò và chức năng của "Nhân vật" trong tác phẩm văn chương nói chung, trong tiểu thuyết nói riêng 13
1.2 Một số đặc điểm khái quát về nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam sau thời kì Đổi Mới 19
1.2.1 Khái quát về tiểu thuyết Việt nam thời kì Đổi Mới, từ 1986 đến nay 19
1.2.2 Khái quát về đặc điểm nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam 1986 đến nay 25
1.3 Sự xuất hiện của một số cây bút nữ thời kì đầu Đổi Mới và nhà văn Trần Thị Trường 30
1.3.1 Sự xuất hiện của một số cây bút nữ thời kì đầu Đổi Mới 30
Trang 61.3.2 Nhà văn Trần Thị Trường, nữ nhà văn của thời kì Đổi Mới 32
CHƯƠNG 2 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI VÀ THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA TRẦN THỊ TRƯỜNG 40
2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người của nữ nhà văn Trần Thị Trường 40
2.2 Một thế giới nhân vật đa dạng và phức tạp 43
2.2.1 Kiểu nhân vật nữ 46
2.2.2 Kiểu nhân vật trí thức, nghệ sĩ 54
2.2.3 Kiểu nhân vật lao động bình dân 66
CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT 72
3.1 Nghệ thuật xây dựng loại nhân vật phức tạp, đa tính cách, đa diện 72
3.1.1 N hân vật đa tính cách 72
3.1.2 Nhân vật đa diện 77
3.2 Nghệ thuật miêu tả tính cách nhân vật thông qua những xung đột trong cuộc sống đời thường 81
3.3 Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật 85
3.3.1 Ngôn ngữ đối thoại 85
3.3.2 Ngôn ngữ độc thoại 90
3.3.3 Ngôn ngữ đặc trưng của các kiểu nhân vật 93
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc:
Kỉ nguyên của độc lập, tự do và phát triển Thành quả cách mạng đó cũng đã mang lại một cơ hội, một sức bật mới cho đời sống của văn học nước nhà Đặc biệt sau năm 1986, với chủ trương "cởi trói" và đổi mới của Đảng, văn học Việt Nam đã có một sự vận động, phát triển mạnh mẽ và đã đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận Sự đổi mới trong văn học được thể hiện ở cả hai phương diện: Nội dung và nghệ thuật, và được diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực,
từ nghiên cứu lí luận phê bình đến sáng tác - trên cơ sở đổi mới trong quan niệm nghệ thuật, trong tư duy nghệ thuật và trong lối viết của các nhà văn Việt Nam (kể cả thế hệ nhà văn trưởng thành từ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước) Văn học vận động tích cực, phát triển mạnh mẽ với sự
mở rộng của biên độ đề tài, chủ đề, với sự đổi mới trong quan niệm của nhà văn về con người, về các giá trị cuộc sống, với cách nhìn nhận đa chiều và cách khám phá đa góc cạnh về hiện thực cuộc sống cũng như thế giới tâm hồn của con người Sau 30 năm Đổi Mới, Văn học Việt Nam đã đạt được những thành quả nhất định, đã khẳng định được những bước đi chắc chắn, phù hợp với quy luật vận động của văn học thời kì hiện đại và hội nhập Nhưng để có một nền văn học thực sự đổi mới như hôm nay cần phải kể đến những đóng góp quan trọng của thế hệ các nhà văn thời kì đầu Đổi Mới, những con người
đã bằng sự nhạy cảm với cái mới, bằng sự mạnh dạn đổi mới tư duy nghệ thuật và trong cách viết Giai đoạn này đánh dấu sự tỏa sáng của khá nhiều tên tuổi của nền văn học Việt Nam hiện đại Tiếp tục những thành công trước
đó, ở giai đoạn này các tác giả "gạo cội" như: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Chu Lai, Khuất Quang Thụy, Nguyễn Trí Huân, Thái Bá Lợi,… lại có điều kiện thể hiện và khẳng định tài năng của những tác giả tiểu thuyết có tài Bên cạnh đó, một số lượng không nhỏ những
Trang 8tác giả tiểu thuyết mới xuất hiện nhưng cũng đã sớm chứng tỏ được khả năng
và vị trí của mình trong đời sống văn chương như: Bảo Ninh, Dương Hướng, Nguyễn Khắc Trường, Dương Thu Hương, Nguyễn Quang Lập, Trần Thị Trường, Phạm Thị Hoài, Trần Huy Quang, Trung Trung Đỉnh, Hoàng Lại Giang, Hoàng Minh Tường,… Chính sự góp mặt của họ đã làm cho diện mạo tiểu thuyết sau 1975 nói chung và tiểu thuyết giai đoạn sau 1986 nói riêng trở nên phong phú, phức tạp với sự đa âm sắc và những giá trị mới
Nếu như trong văn học giai đoạn trước 1975, con người chủ yếu được
nhìn nhận và thể hiện cơ bản qua quan điểm dân tộc và giai cấp - nên nhân vật
trong tiểu thuyết luôn xuất hiện với tư cách con người công dân, con người đại diện cho giai cấp - thì ở tiểu thuyết sau 1975 sự nhìn nhận này đã có sự đổi khác Cụ thể là: Tiểu thuyết sau 1975 đã nhìn nhận và thể hiện con người trên nhiều phương diện và nhiều tư cách khác nhau Con người không phải chỉ là xuất hiện với tư cách con người đại diện cho lí tưởng chung, không chỉ
là hình ảnh của số đông cộng đồng - con người trong tiểu thuyết sau 1975, đặc biệt là sau năm 1986 - đã hiện lên chủ yếu với tư cách là những con người cá nhân với cuộc đời riêng, với những biểu hiện và nhu cầu cụ thể riêng về cuộc sống Đặc biệt, tiểu thuyết giai đoạn này quan tâm hơn đến việc thể hiện đời sống tinh thần với sự phong phú và phức tạp của nó cũng như phần nào đã
văn đã sáng tạo nên những tác phẩm văn chương mới có giá trị hiện thực, vừa
có giá trị nhân văn và chan chứa tinh thần nhân đạo Vì vậy, nhiều tiểu thuyết thời kì này đã đem lại một sự mới lạ, hấp dẫn đối với người đọc
1.2 Trong đội ngũ những nhà văn thời kì đầu Đổi Mới cùng những
đóng góp đã được khẳng định ấy - có nhà văn Trần Thị Trường Tác phẩm
tiểu thuyết đầu tay của Trần Thị Trường "Lời cuối cho em" (1990; NXB
Thanh Niên) đã từng làm xôn xao dư luận, gây một "cơn sốt" trong đời sống văn học nước nhà vào đầu những năm 90 của thế kỉ trước Là một nhà văn nữ
Trang 9có những đóng góp đáng trân trọng trong buổi đầu Đổi Mới như vậy - và điều đáng quý nữa là ngay sau đó chị vẫn tiếp tục sáng tác hàng chục tập truyện ngắn và tiểu thuyết khác Nhưng nhà văn Trần Thị Trường (cũng như nhiều nhà văn nữ Việt Nam khác) - với sự khiêm nhường, kín đáo, lặng lẽ sáng tạo, không ồn ào lăng xê, quảng cáo nên ít được dư luận chú ý, ít được quan tâm nghiên cứu như một số nhà văn nam giới khác Điều đó quả là sự thiệt thòi đối với nữ nhà văn Trần Thị Trường nói riêng và với nhiều trường hợp nhà văn nữ khác nói chung Chính vì vậy, với thái độ trân trọng và mong muốn được góp phần lấp dần đi khoảng trống trong việc nghiên cứu các nhà văn nữ Việt Nam, nhất là nhà văn nữ có vị trí đặc biệt quan trong trong quá trình đổi
mới văn chương, chúng tôi đã lựa chọn đề tài "Thế giới nhân vật trong tiểu
thuyết Trần Thị Trường" để làm luận văn thạc sĩ của mình.
Nếu đề tài nghiên cứu thành công, đây sẽ là một tài liệu có ý nghĩa giúp bạn đọc có thể hiểu rõ ràng, đầy đủ hơn bức chân dung nhà văn Trần Thị Trường cùng những đóng góp quan trọng của bà trong quá trình đổi mới văn chương, đặc biệt là ở giai đoạn đầu những năm 90 của thế kỉ trước ở Việt Nam
2 Lịch sử vấn đề
Như đã giới thiệu ở trên, sáng tác đầu tay của nhà văn Trần Thị Trường mới ra đời đã gây một sự chú ý, một "cơn sốt" đối với đời sống văn học lúc bấy giờ Trong thị trường sách lúc ấy trường hợp xuất bản một lần với số
lượng 10.000 cuốn và sau đó được Nhà Nước đặt hàng in tiếp 500 cuốn sách
bìa cứng là một hiện tượng đặc biệt Tại sao lại như vậy? Bởi tác phẩm của chị có sự đổi mới thực sự trong cách viết, trong lối tư duy nghệ thuật và đã đáp ứng kịp thời nhu cầu đổi mới văn chương của đất nước ta cũng như đã đáp ứng được sự mong đợi của độc giả thời bấy giờ Chính vì vậy, khi tác phẩm ra đời đã ngay lập tức gây được sự chú ý của đông đảo người đọc, sự chú ý của một số nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình thời kì đó Sau thành công
Trang 10ban đầu, Trần Thị Trường tiếp tục sáng tác, chị viết khá nhiều, nhưng không vội vàng, điềm tĩnh và chắc chắn và vẫn theo bút pháp đổi mới đó Trần Thị Trường đã dần trở thành lớp "nhà văn đàn chị" thời kì Đổi Mới của Ban Nhà văn nữ - Hội nhà văn Việt Nam
Cho đến nay, sau 25 năm cầm bút, chị đã gây dựng cho mình một sự nghiệp văn chương đáng kể: 02 cuốn tiểu thuyết cùng hàng trăm tác phẩm truyện ngắn và chuẩn bị cho ra đời một cuốn tiểu thuyết nữa Chị đã được nhận một số giải thưởng văn học như: Năm 2002, được nhận Giải thưởng văn học của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam;
và năm 2004 được nhận Giải thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam… Bằng những gì đã và đang cống hiến, Trần Thị Trường xứng đáng là nhà văn nữ tiêu biểu thời kì Đổi Mới, đặc biệt là giai đoạn đầu của công cuộc Đổi Mới văn chương Cũng vì điều đó đã có một số nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu phê bình quan tâm, yêu thích, đọc và có những nhận xét, đánh giá về những sáng tác của chị
Theo khảo sát ban đầu của chúng tôi, đã có khoảng trên 20 bài viết về Trần Thị Trường Trong những bài viết đó chúng tôi lưu ý đến những bài viết có
sự bàn luận về nhân vật trong các sáng tác của Trần Thị Trường Ví dụ như:
Bài viết của Thu Hà nhan đề “Trần Thị Trường với Tình như chút nắng” (đăng trên trang báo VN Express Thứ hai, ngày 25/12/2006) tập trung
ghi nhận một cuốn sách với sự tập hợp 27 truyện ngắn được nhà văn sáng tác trong thời gian gần đây với ăm ắp hơi thở cuộc sống đương đại, ồn ào, gấp gáp nhưng để lại nhiều khoảng trống và rỗng trong tâm hồn con người
Nguyễn Việt Chiến trong bài viết “Trần Thị Trường, nhà văn của phái đẹp” đã có những nhận định ban đầu về nhà văn với thành công đầu tay là cuốn tiểu thuyết Lời cuối cho em (1989) Từ góc nhìn về cuộc đời riêng và về tác phẩm đầu tay của nhà văn, Nguyễn Việt Chiến viết: “Đọc tác phẩm của chị thì thấy đó là nhà văn luôn đồng cảm và ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ
Trang 11Với chị khi các nhân vật này đau khổ cũng đẹp, bị vùi dập cũng đẹp, chung thuỷ cũng đẹp và ngoại hình cũng đẹp Đến với các nhân vật đó, độc giả sẽ chia sẻ với họ, vì mỗi người phụ nữ đều có một đời sống tinh thần sâu kín của họ”[12] Đây là một nhận xét khá tinh tế, nhưng bài viết mới chỉ dừng lại ở
mức độ đề cập khái quát về nhà văn và một vài nhận xét về cuốn tiểu thuyết
“Lời cuối cho em” của nữ nhà văn này
Nguyễn Thụy Kha trong bài viết: “Bốn văn nghệ sĩ tuổi Dần mà tôi biết” cũng có những nhận xét ban đầu về tính cách nhà văn Trần Thị Trường
“Mạnh mẽ, xốc vác và ý chí lạ thường”[22] Nhưng bài viết cũng mới chỉ là
sự nhìn nhận một cách chung chung về bản thân nhà văn, chưa có sự tìm hiểu sâu sắc về sáng tác của chị; Nguyễn Xuân Khánh (tác giả của bộ tiểu thuyết
lịch sử nổi tiếng Đội gạo lên chùa; Hồ Quý Ly) có bài “Nhân đọc truyện ngắn Trần Thị Trường” đã khẳng định: “Trần Thị Trường là nhà văn có nhiều khả năng miêu tả tâm tưởng của người phụ nữ Một phụ nữ đã luống tuổi, khi một chút gió mùa thức dậy đã làm thức dậy trong lòng chị những khát khao ấm áp…” Từ cái nhìn bao quát - tác giả Nguyễn Xuân Khánh đã đề cập tới một lối viết “truyện có duyên, khi đọc xong vẫn dư âm cảm giác ấm áp và nhân hậu” ở nhà văn Trần Thị Trường Nhưng dẫu sao, những ý tưởng này cũng
chỉ dừng lại ở những nhận xét mang tính khái quát, chưa có những khám phá
cụ thể, sâu sắc, chưa chỉ ra được những đặc sắc trong cách viết truyện của nhà văn Trần Thị Trường
Trên tư cách là một người yêu mến và am hiểu về thế hệ nhà văn sau
1986, nhà văn Tô Hoài cũng đã có những phát hiện về nét nổi bật trong phong
truyên kết cấu đôi khi chỉ là một ý nghĩ, một bất chợt, một quang cảnh Có ý nghĩa mà như tự nhiên" và "Trần Thị Trường không cắt nghĩa bề ngoài, mà mọi phân tích và ý tứ được ẩn vào trong tâm trạng Biết bao uẩn khúc trở trêu đã được Trần Thị Trường khắc họa sắc sảo, có thái độ mạnh mẽ qua
Trang 12những câu chuyện có tình tiết sống động ;[53] hay đưa ra nhận xét về đặc điểm thế giới nhân vật trong văn xuôi của Trần Thị Trường: "Mỗi nhân vật đều mang hình ảnh con người đương trong cuộc sống hôm nay, Trần Thị Trường đã quan tâm nhiều và đi sâu hiểu biết về lứa tuổi một lớp thị dân với sinh hoạt và ứng xử của họ Các nhân vật cha và mẹ, vợ với chồng và con cái với cha mẹ và bè bạn Tác giả cho bạn đọc thấy được trong khi ngoài xã hội đương những chuyển bước về kinh tế kéo theo tình hình mọi mặt, thì ở mỗi con người trong tư tưởng, trong suy nghĩ và hành động đều có những va chạm song song với thực tế ấy Giữa cơn lốc của đời sống, những hòa hợp cũng như những xung đột trong tình cảm và tình yêu, trong những biểu hiện khác nhau của các thế hệ trong một gia đình, một tập thể " [53]
Trong bài viết "Nhà văn Trần Thị Trường: Tự khâu những vết thương" Khánh Linh có nhận xét về đặc điểm các nhân vật nữ trong sáng tác của Trần
Thị Trường như sau:" Tôi đọc chị, tìm thấy trong đó những thân phận người phụ nữ của một thời đại vừa bước ra khỏi bao cấp, của những kìm nén bản năng, dục vọng." và "Tác giả của những trang viết ám ảnh về thân phận phụ
nữ, về khát vọng giải phóng bản năng bị kìm nén" [27]
Ngoài ra, còn có một số bài phỏng vấn, trao đổi giữa nhà văn Trần Thị Trường với phóng viên các tờ báo, tạp chí Thông qua các cuộc trao đổi, nhà văn đã bộc lộ nhiều quan điểm về văn học nghệ thuật, về sáng tác tiểu thuyết
của mình
Nhìn chung các nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình trên đều gặp gỡ nhau
ở một điểm chung là: đánh giá những điểm mới trong những sáng tác của Trần Thị Trường, đó là việc nhà văn đã viết về đời sống xã hội Việt Nam những năm đầu bước vào Đổi Mới, những năm còn nhiều khó khăn thử thách, nhiều biến cố phức tạp trong đời sống xã hội và trong mỗi con người cá nhân Thế giới nhân vật trong các sáng tác của chị khá phong phú, phức tạp và chủ yếu là những con người sống ở thành thị Chị viết với một văn phong khá độc
Trang 13đáo, tự nhiên, sâu lắng, sắc sảo, lạnh lùng, rất khách quan nhưng cũng tràn đầy cảm xúc
Tuy nhiên, cho tới nay chúng tôi nhận thấy, chưa có công trình nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về những tác phẩm cũng như những đóng góp đáng ghi nhận của nhà văn Trần Thị Trường Một số bài viết chỉ là ở dạng bài viết lẻ, những nhận xét, đánh giá của một số cây bút trên báo chí hoặc trong các cuốn sách nghiên cứu chung về văn xuôi Việt Nam nói chung
và văn xuôi nữ nói riêng Vì vậy, theo chúng tôi, cần thiết phải có một công trình nghiên cứu một cách hệ thống và thấu đáo về đặc điểm văn xuôi của Trần Thị Trường cùng những sáng tạo, những đóng góp của nhà văn đối với
sự thúc đẩy công cuộc Đổi Mới văn học trong giai đoạn đầu tiên - còn đầy sự
bỡ ngỡ của văn học nước nhà Chính vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn vấn đề
"Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Trần Thị Trường" làm đề tài
nghiên cứu Luận văn Thạc sĩ của mình Chúng tôi cũng hi vọng sẽ phác thảo
rõ nét hơn, cụ thể hơn bức chân dung của nhà văn Trần Thị Trường, cùng những đặc điểm nổi bật, những sáng tạo và đóng góp của chị trong đời sống văn học Việt Nam thời kì đầu Đổi Mới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn là:
- Khảo sát, tìm hiểu khái quát bức tranh tiểu thuyết Việt Nam sau 1986
- Khảo sát và nghiên cứu về 02 cuốn tiểu thuyết của nhà văn Trần Thị
Trường là: Lời cuối cho em (năm 1990) và cuốn Kẻ mắc chứng điên (năm 1991)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung khảo sát và nghiên cứu sâu những đặc điểm nổi bật về
nội dung và nghệ thuật của hai cuốn tiểu thuyết: Lời cuối cho em và Kẻ mắc
chứng điên Bên cạnh đó, có sự khảo sát một số truyện ngắn được in trong 7
tập truyện ngắn của nhà văn Trần Thị Trường
Trang 14- Để phục vụ cho việc thực hiện luận văn, chúng tôi sẽ đọc, khảo sát một số sáng tác của các nhà văn (đặc biệt là nhà văn nữ) cùng thời với nhà văn Trần Thị Trường, nhằm xác định vị trí và đóng góp của nhà văn trong đời sống văn chương thời bấy giờ Việc khảo sát sáng tác của các nhà văn nữ khác còn nhằm so sánh, đối chiếu, (để thấy sự giống và khác nhau) giữa những sáng tác của nhà văn Trần Thị Trường với các sáng tác một số cây bút
nữ khác cùng thời với chị và thậm chí là xuất hiện sau chị
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện Đề tài luận văn, chúng tôi cần phải giải quyết các nhiệm
vụ cụ thể sau:
- Nêu một số đặc điểm khái quát về nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam sau Đổi Mới
- Làm rõ những quan niệm của nhà văn Trần Thị Trường về con
người, về hiện thực cuộc sống, về tư duy nghệ thuật trong công việc sáng tác văn chương trong thời kì Đổi Mới
- Chỉ ra những đặc điểm nổi bật về thế giới nhân vật trong tiểu thuyết
của nhà văn ở cả hai phương diện : Nội dung và nghệ thuật
- Khẳng định những thành tựu (và hạn chế), cùng những đóng góp mới của nhà văn ở phương diện nghệ thuật miêu tả thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của nhà văn
nhà văn trong quá trình đổi mới văn chương Việt Nam, đặc biệt là giai đoạn văn chương thời kì đầu Đổi Mới
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài luận văn chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như sau:
- Phương pháp nghiên cứu (tác giả, tác phẩm) theo đặc trưng thể loại;
- Phương pháp phân tích và tổng hợp;
Trang 15- Phương pháp so sánh, đối chiếu;
- Phương pháp thống kê;
- Vận dụng một số thao tác nghiên cứu Thi pháp học
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài các phần: Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung chính của luận văn bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2 Quan niệm nghệ thuật về con người và thế giới nhân vật
trong tiểu thuyết của nhà văn Trần Thị Trường
Chương 3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật
7 Đóng góp của luận văn
- Thông qua việc nghiên cứu những Đặc điểm về Thế giới nhân vật trong
tiểu thuyết của nhà văn Trần Thị Trường, chúng tôi muốn phác họa một cách rõ
nét bức chân dung của nhà văn và lí giải những sáng tạo, những đổi mới của tác giả từ trong quan điểm nghệ thuật đến thực tiễn sáng tác của nhà văn
- Chỉ ra những đặc điểm nổi bật về nội dung và nghệ thuật trong quá trình xây dựng thế giới nghệ thuật đầy phong phú, phức tạp trong hai cuốn tiểu thuyết trên của nhà văn
- Khẳng định những cái mới, cái sáng tạo của tác giả trong việc xây dựng thế giới nhân vật với quan niệm mới về con người, cuộc sống và hiện thực
- Khẳng định những đóng góp đáng ghi nhận của nhà văn Trần Thị Trường trong đời sống văn chương thời kì đầu Đổi Mới
Trang 16PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Khái niệm về “Nhân vật” và “Thế giới nhân vật” trong tác phẩm văn học
1.1.1 Khái niệm về “Nhân vật”
Văn học là một hoạt động sáng tạo nghệ thuật của nhà văn và tác phẩm văn học là thành quả của sáng tạo nghệ thuật đó Tác phẩm văn học được tạo nên từ sự phức hợp của nhiều yếu tố dưới ngòi bút nghệ thuật của nhà văn, tất
nhiên trong đó không thể thiếu yếu tố nhân vật: "Văn học không thể thiếu nhân vật, bởi vì đó là hình thức cơ bản để qua đó nhà văn miêu tả thế giới
một cách hình tượng" [15] Thật vậy, một tác phẩm có thể có nhiều hoặc ít
nhân vật, song không thể không có nhân vật Nhân vật xuất hiện trong tác
phẩm như một mặc định nghệ thuật Khái niệm nhân vật đã được hiểu, được
giải thích cụ thể như sau:
Về phương diện thuật ngữ: Thuật ngữ "nhân vật" xuất hiện từ rất sớm
Trong tiếng Hi Lạp cổ, khái niệm "nhân vật" ban đầu người mang ý nghĩa chỉ cái mắt nạ của diễn viên trên sân khấu Theo thời gian, thuật ngữ này được sử dụng với tần số nhiều hơn, thường xuyên hơn để chỉ đối tượng mà văn học miêu tả và thể hiện trong tác phẩm Hiểu theo nghĩa rộng, "nhân vật" là khái niệm không chỉ dùng trong văn chương mà còn ở nhiều lĩnh vực khác
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên thì: Nhân vật là khái niệm được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, nhân vật
là đối tượng (thường là con người) được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm văn
học; Thứ hai, đó là một người có vai trò nhất định trong xã hội, đời sống nghệ
thuật lẫn đời sống sinh hoạt hàng ngày Với phạm vi luận văn này chúng tôi
Trang 17chỉ đề cập đến khái niệm nhân vật theo nghĩa thứ nhất mà bộ Từ Điển này
định nghĩa, tức là nhân vật trong tác phẩm văn chương
- Một số quan niệm về nhân vật trong nghiên cứu, phê bình văn học:
Từ trước đến nay, các nhà nghiên cứu phê bình văn học đã từng nêu ra nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm nhân vật Để phục vụ cho việc thực hiện luận văn, chúng tôi đọc, nghiên cứu một số quan niệm gần gũi, có liên
quan trực tiếp đến vấn đề này, cụ thể như sau:
Trong giáo trình Lí luận văn học (Phương Lựu chủ biên), các tác giả viết: "Nói đến nhân vật trong văn học là nói đến con người được miêu tả thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Đó là những nhân vật có tên như Tấm, Cám, Thạch Sanh, đó là những nhân vật không tên như thằng bán
Tơ, Mụ nào trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, đó là những con vật trong truyện cổ tích, đồng thoại, thần thoại, bao gồm cả quái vật lẫn thần linh, ma quỷ, những con vật mang nội dung ý nghĩa con người Khái niệm nhân vật
có khi chỉ sử dụng một cách ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào mà chỉ một hiện tượng nổi bật trong tác phẩm Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật ước lệ, có những dấu hiệu để ta nhận biết" [26,tr.277]
Giáo trình Lí luận văn học (Hà Minh Đức chủ biên) định nghĩa: "Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật ước lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ một chi tiết biểu hiện đầy đủ của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách và cần chú ý thêm một điều thực ra khái niệm nhân vật thường được quan niệm với một phạm vi lớn hơn nhiều , đó không chỉ là những con người, những con người có tên và không tên, được khắc họa sâu đậm hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, mà còn có thể là sự vật, loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng, tính cách con người Cũng có khi đó không phải là những con người,
sự vật cụ thể, mà chỉ là một hiện tượng về con người hoặc liên quan đến con người, được thể hiện nổi bật trong tác phẩm" [15, Tr.102] Khái niệm nhân
Trang 18vật văn học còn được trình bày sáng rõ trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học
(Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên) với nội dung cơ
bản giống như cách định nghĩa trong cuốn Lí luận văn học do Phương Lựu chủ biên: "Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng ( Tấm, Cám, chị Dậu, anh Pha) cũng có thể không có tên riêng Khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào đó trong tác phẩm Nhân vật văn học là đơn vị đấy tính ước lệ, không thể đống nhất nó với con người có thật trong đời sống" [17]
Có thể thấy, đã có nhiều cách định nghĩa về khái niệm nhân vật trong
văn chương của các nhà văn, nhà nghiên cứu lí luận phê bình trong và ngoài nước, nhưng về căn bản họ vẫn gặp nhau ở những ý nghĩa nội hàm không thể
thiếu của khái niệm này: Thứ nhất, nó phải là đối tượng mà văn học miêu tả, thể hiện bằng phương tiện văn học; Thứ hai, đó là những con người hoặc con
vật, đồ vật, sự vật, hiện tượng mang linh hồn con người, đó là hình ảnh ẩn dụ
về con người; Thứ ba, đó là đối tượng mang tính ước lệ và có tính cách điệu
so với đời sống hiện thực bởi nó đã được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ
Nói tóm lại, nhân vật văn học là thành tố quan trọng trong tác phẩm, là
phương tiện để nhà văn phản ánh cuộc sống và được nhà văn xây dựng bằng những yếu tố nghệ thuật độc đáo Nghiên cứu tác phẩm văn chương cần tiếp cận nhân vật để chỉ ra cái mới cái sáng tạo của nhà văn và đưa ra những kết luận về đóng góp riêng của nhà văn đó
1.1.2 Khái niệm về “Thế giới nhân vật”
- "Thế giới nhân vật" là một phạm trù có hàm nghĩa rất rộng Nó là
tổng thể những hệ thống nhân vật được xây dựng theo quan niệm của nhà văn
và chịu sự chi phối của tư tưởng tác giả Thế giới ấy cũng mang tính chỉnh thể trong sáng tác nghệ thuật của nhà văn, có tổ chức và có sức sống riêng,
Trang 19phụ thuộc vào ý thức sáng tạo của người nghệ sĩ Nằm trong thế giới nghệ
thuật, thế giới nhân vật cũng là sản phẩm tinh thần, là kết quả của tí tưởng tượng sáng tạo của nhà văn và chỉ xuất hiện trong tác phẩm văn học, trong sáng tạo nghệ thuật Đó là một mô hình nghệ thuật, có cấu trúc riêng, có quy luật riêng thể hiện ở đặc điểm con người, tâm lí, thời gian, không gian, xã hội Thế giới nhân vật là sự cảm nhận một cách trọn vẹn, toàn diện và sâu sắc của chủ thể sáng tạo về toàn bộ nhân vật xuất hiện trong tác phẩm, mối quan hệ, môi trường hoạt động của họ, ý nghĩa, tư tưởng, tình cảm của họ trong cách đối nhân xử thế, trong giao lưu xã hội, gia đình Thế giới nhân vật vì vậy bao quát sâu rộng hơn hình tượng nhân vật Con người trong văn học chẳng những không giống con người thực tại về tâm lí, hoạt động mà còn
có ý nghĩa khái quát, tượng trưng Trong thế giới nhân vật, người ta có thể chia thành các kiểu nhân vật nhỏ hơn dựa vào những tiêu chí nhất định Nhiệm vụ của người tiếp nhận văn học là phải tìm ra chìa khóa để bước qua
giới nhân vật cũng khác với phân tích hình tượng nhân vật Trong lịch sử văn học, có thể nói, mỗi tác giả lớn đều có thế giới nhân vật riêng Mỗi thể loại văn học cũng có thế giới nhân vật với quy luật riêng của nó
1.1.3 Vai trò và chức năng của "Nhân vật" trong tác phẩm văn chương nói chung, trong tiểu thuyết nói riêng
1.1.3.1 Vai trò và chức năng của "Nhân vật" trong tác phẩm văn chương
Trong tác phẩm văn học, nhân vật có vai trò vô cùng quan trọng Nó là
sự hình tượng hóa và cụ thể hóa ý tưởng nghệ thuật của nhà văn, là nơi để qua
đó nhà văn chuyển tải và người đọc tiếp nhận nội dung tác phẩm Do đó, nhân vật luôn là yếu tố được nhà văn dụng công xây dựng và là yếu tố thường để lại ấn tượng nhiều nhất cho người đọc khi tiếp nhân tác phẩm Nhân vật nói lên sự nhìn nhận đánh giá về con người của nhà văn nhưng nó không đơn giản chỉ là thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người mà còn là nơi khái quát và
Trang 20thể hiện mọi giá trị tư tưởng thẩm mĩ của tác phẩm văn học cũng như tư tưởng của nhà văn Có thẻ nói tài năng của nhà văn và sự thành công của tác phẩm thể hiện ở chỗ nhà văn có xây dựng được những nhân vật thành công hay không Không phải ngẫu nhiên mà tên tuổi của nhà văn luôn gắn liền với tên tuổi của nhân vật này hay nhân vật khác do nhà văn đó tạo ra, và khi nhắc đến nhà văn thì người đọc lại nhớ ngay đến những nhân vật điển hình - đứa con tinh thần ưu tú của họ Chính sự thành công trong xây dựng hình tượng nhân vật là một dấu hiệu chứng tỏ tài năng của nhà văn
Không chỉ là con người được miêu tả trong văn học bằng các phương tiện văn học, không chỉ là tiêu chí đánh giá tài năng nghệ thuật của nhà văn,
nhân vật văn học còn là phương tiện khái quát lên hiện thực đời sống: " Chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc sống con người, thể hiện những hiểu biết, những ao ước và kì vọng về con người [26,Tr.279] Nhà
văn xây dựng nhân vật trong tác phẩm văn học với mục đích gắn liền nó với những vấn đề mà nhà văn muốn đề cập đến trong cuộc sống và thể hiện quan điểm của mình về cuộc sống xã hội Tuy vậy, nhân vật trong tác phẩm văn học không phải là sự sao chép một cách máy móc, y nguyên cuộc sống mà nó
là kết quả của sự sáng tạo của nhà văn
Dưới lăng kính chủ quan của nhà văn, thế giới nhân vật trong các tác phẩm văn học được hiện lên hết sức phong phú, nó có thể là nhân vật tốt, xấu, hay vừa tốt lại vừa xấu Đó cũng có thể không hẳn phải là con người mà có thể là đồ vật, là ác quỷ Nhưng chung quy lại, cho dù nhân vật trong tác phẩm văn học là ai, tính chất như thế nào vẫn hướng đến phản ánh đời sống
được nhào nặn ở mức độ nào đó, sẽ trở thành hình tượng về con người và cao hơn - nếu tính cách được khắc họa ở những nét điển hình thì nhân vật sẽ trở thành điển hình của con người Theo Bêlinxki, " nhà triết học tư duy bằng phép tam đoạn luận, còn nhà thơ tư duy bằng hình tượng cụ thể của một bức
Trang 21tranh" Nói rộng ra tức là văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng, bằng những nhân vật cụ thể Nhân vật đóng vai trò là tâm điểm của sự thể hiện đời sống trong tác phẩm văn học Nó không chỉ là tiêu điểm để bộc lộ chủ đề mà còn là nơi tập trung giá trị tư tưởng của tác phẩm
Do nhân vật có chức năng khái quát những tính cách, hiện thực cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời cho nên trong quá trình
mô tả nhân vật, nhà văn có quyền lựa chọn những chi tiết, yếu tố mà họ cho là cần thiết bộc lộ được quan niệm của mình về con người và cuộc sống Chính
vì vậy, không nên đồng nhất nhân vật văn học với con người trong cuộc đời Khi phân tích, nghiên cứu nhân vật, việc đối chiếu, so sánh có thể cần thiết để hiểu rõ thêm về nhân vật, nhất là những nhân vật có nguyên mẫu ngoài cuộc đời Nhưng cũng cần luôn luôn nhớ rằng nhân vật văn học là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo gắn liền với ý đồ tư tưởng của nhà văn trong việc nêu lên
những vấn đề của hiện thực cuộc sống Betông Brecht cho rằng: "Các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật không phải giản đơn là những bản dập của những con người sống mà là những hình tượng được khắc họa phù hợp với ý
đồ tư tưởng của tác giả".
Trong cuốn Dẫn luận nghiên cứu văn học, G.N Pospelov nhấn mạnh:
Nhân vật là phương diện có tính thứ nhất trong hình thức tác phẩm Nó quyết định phần lớn vừa cốt truyện vừa cốt truyện, vừa lựa chọn chi tiết, vừa ngôn ngữ, vừa kết cấu Nhân vật là yếu tố vừa phụ thuộc về nội dung vừa thuộc yếu
tố hình thức của tác phẩm Nhân vật là điều kiện thiết yếu để sự khám phá, đánh giá - lí giải, sự miêu tả mang tính nghệ thuật của tác giả về đời sống đạt đến tính toàn vẹn, có chiều sâu và có sức hấp dẫn riêng đối với độc giả Có
thể nói, yếu tố nhân vật chi phối mạnh mẽ đến sự thành công hay thất bại của tác phẩm
Nhân vật sẽ có nhiều chức năng tương ứng với nhiều vai trò khác nhau trong tác phẩm Nhìn một cách tổng quát đó là các chức năng: Miêu tả và khái
Trang 22quát các loại tính cách xã hội; là công cụ để nhà văn sáng tạo nên thế giới nghệ thuật của tác phẩm, là chìa khóa để nhà văn mở cánh cử bước vào hiện thực đời sống vô cùng rộng lớn, đặt ra những vấn đề sâu sắc mới mẻ; biểu hiện tư tưởng, quan niệm của nhà văn về con người và cuộc sống; quyết định hình thức tác phẩm, tạo nên mối liên kết giữa các yếu tố thuộc hình thức tác phẩm
1.1.3.2 Nhân vật trong tiểu thuyết và vai trò của nhân vật trong tiểu thuyết
"Tiểu thuyết là một thể loại lớn trong phương thức tự sự, có năng lực phản ánh hiện thực một cách bao quát và sinh động, tái hiện những bức tranh
về đời sống thông qua những tính cách và hoàn cảnh điển hình rộng rãi" [11]
Trong tiến trình văn học, tiểu thuyết đặc biệt phổ biến trong thời kì cận và hiện đại Ngày nay, tiểu thuyết vẫn là mảnh đất được nhiều nhà văn hướng đến và là thể loại thu hút nhiều sự quan tâm của công chúng văn học
Nếu như nhân vật là yếu tố quan trong không thể thiếu trong tác phẩm văn học thì tiểu thuyết lại càng không thể không có nhân vật Hơn nữa, với đặc trưng là thể loại có quy mô lớn nên trong tiểu thuyết số lượng nhân vật thường nhiều hơn và được xây dựng đậm nét hơn so với nhân vật trong các thể loại khác Ở tiểu thuyết, nhân vật hầu như luôn được nhà văn miêu tả tỉ mỉ
từ ngoại hình đến đời sống nội tâm Vai trò của nhân vật trong tiểu thuyết cũng vô cùng quan trọng Điều này đã được khẳng định một cách rõ ràng
trong ý kiến của nhà văn Nguyễn Đình Thi: " Vấn đề trung tâm của nghệ thuật viết tiểu thuyết là miêu tả con người và con đường đi của họ trong xã hội Người viết tiểu thuyết nghĩ mọi vấn đề phải thông qua nhân vật, xuất phát
từ nhân vật hơn là sự việc Một cuốn tiểu thuyết đứng được hay không là ở
chỗ nó có tạo ra được những nhân vật làm cho bạn đọc nhớ được hay không"
[41,Tr.103]
Nhân vật văn học trong tiểu thuyết có những đặc điểm của nhân vật văn học nói chung, nhưng bên cạnh đó nhân vật văn học trong tiểu thuyết còn mang những đặc trưng riêng
Trang 23Nhân vật trong tiểu thuyết trước hết phải là nhân vật sống Khái niệm
"nhân vật sống" này được lí giải khá rõ trong ý kiến của nhà văn Vũ Bằng:
"Một nhân vật sống là một nhân vật phản chiếu cái hình ảnh của đời, là một nhân vật như chúng ta đây, một nhân vật rất gần, rất thân thiết với chúng ta, một nhân vật mà nhìn vào lòng như nhìn vào lòng ta vậy Một nhân vật cứ không phải nói nhiều, hò hét nhiều, hành động nhiều nhưng tự gây ra sự tình, biến cố, chỉ định lấy những cảnh ngộ và cảm nghĩ rất phiền phức Sống ở đây
là sống cả vật chất lẫn tinh thần, sống cái đời sống bên ngoài và cả cái đời sống bên trong nữa, mà có khi lại sống cái đời sống bên trong nhiều hơn bên ngoài" [5, Tr.73] Nói cách khác, "nhân vật sống" trong tiểu thuyết là nhân
vật được khắc họa một cách sinh động và chân thật, vì thế hình ảnh nhân vật hiện lên trong tác phẩm cũng thật cụ thể và sắc nét Bên cạnh đó, nhân vật phải có một đời sống nội tâm phong phú Nhân vật văn học trong tiểu thuyết không thể xa lạ mà phải được đặt trong những mối quan hệ cụ thể, đời thường Nó không gì khác hơn chính là hình ảnh của con người đời thường với những nỗi niềm, suy tư, trăn trở được phản chiếu thông qua lăng kính văn học Chính những đặc điểm này khiến cho nhân vật văn học xuất hiện trong tiểu thuyết trở nên cụ thể, chân thực và sinh động như những con người thật của cuộc đời Những nhân vật trong tiểu thuyết thường không nguyên phiến, một chiều mà nó lại hiện lên với tất cả sự phong phú, sâu sắc Nhân vật trong tiểu thuyết không chỉ có một tính cách duy nhất mà nó có thể mang trong mình tất cả những đức tính tốt, xấu, đời thường như những con người thật của cuộc đời Những nhân vật này có thể vừa là "thánh nhân" lại vừa là kẻ toan tính nhỏ nhen, ti tiện, có thể tiêu biểu cho một phẩm chất nào đó nhưng không hoàn toàn chỉ mang một phẩm chất duy nhất Nhân vật trong tiểu thuyết phải
là sự tổng hợp của tất cả những phẩm chất con người Nói như nhà nghiên
cứu M.Bakhtin thì "nhân vật tiểu thuyết cần phải thống nhất trong bản thân mình vừa các đặc điểm chính diện lẫn đặc điểm phản diện, vừa cái tầm thường lẫn cái cao cả, vừa cái buồn cười lẫn cái nghiêm túc [31]
Trang 24Nhân vật văn học trong tiểu thuyết là nhân vật có quá trình phát triển
tự thân Tất nhiên, không có nhân vật tiểu thuyết nào tự thân sinh ra mà
không do nhà văn sáng tạo, cũng như không có tính cách nào của nhân vật tiểu thuyết là tự có mà không xuất phát từ ý định ban đầu của nhà văn Tuy nhiên, vì có một cuộc đời khá dài và sinh động như cuộc đời thật nên nhân vật
người thật ở ngoài đời
Là yếu tố nghệ thuật do nhà tiểu thuyết tạo ra, tất nhiên nhân vật văn học trong tiểu thuyết ít nhiều phải là hình ảnh, là hiện thân cho tư tưởng của nhà văn Thế nhưng tư tưởng của nhân vật văn học trong tiểu thuyết không phải bao giờ cũng luôn đồng nhất với tư tưởng nhà văn Khi nhà văn tạo ra nhân vật văn học nghĩa là nhà văn đã tạo cho nhân vật một hình hài và một đời sống riêng, từ đó nhân vật sẽ có thể định liệu lấy số phận của mình một cách hợp lí
Nhân vật văn học trong tiểu thuyết còn là những con người nếm trải Nếm trải ở đây được hiểu với nghĩa là sự đối mặt với những biến cố, sự kiện
của cuộc đời mà nhân vật tiểu thuyết trải qua Tiểu thuyết là thể văn tự sự xây dựng khá tỉ mỉ về cuộc đời nhân vật với nhiều sự kiện diễn ra trong một đoạn đời hay trong cả cuộc đời của nhân vật từ lúc thơ ấu cho đến khi trưởng thành
Có thể thấy dù tiểu thuyết ít hay nhiều trang, đề cập đến khoảng thời gian ngắn hay dài thì nhân vật văn học trong tiểu thuyết luôn có một cuộc đời mà thường thì cuộc đời này lại ít khi nào bình lặng Cuộc đời của nhân vật tiểu thuyết luôn gắn với những biến cố, thăng trầm, ở đó có cả những điều được và mất, những niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và đau khổ, cay đắng và vinh quang Nhân vật
văn học trong tiểu thuyết vì thế luôn là những con người nếm trải, chịu mọi sự
tác động của cuộc đời và lớn lên cùng với những tác động ấy
Tóm lại, có thể thấy trong tiểu thuyết - nhân vật văn học được nhìn nhận, miêu tả cặn kẽ từ góc độ đời tư Nhân vật văn học trong tiểu thuyết là
Trang 25nhân vật sinh động như con người thật của cuộc đời, là nhân vật có quá trình
phát triển tự thân và là nhân vật nếm trải Đây là những đặc trưng của nhân
vật văn học trong tiểu thuyết, làm cho nhân vật tiểu thuyết có phần đặc biệt hơn so với nhân vật trong các thể loại khác Nhưng thật khách quan mà nói, từng đặc điểm trên có lẽ cũng không phải chỉ riêng có ở nhân vật tiểu thuyết Nhân vật văn học trong truyện ngắn, truyện vừa cũng có thể là nhân vật sống, nhân vật có quá trình phát triển tính cách hay chịu nhiều sự tác động của cuộc đời Như thế thì đâu mới là điều đặc biệt nhất của nhân vật văn học trong tiểu thuyết? Có lẽ điều làm nên sự đặc biệt cho nhân vật văn học trong tiểu thuyết chính là khả năng tổng hợp nhiều đặc điểm của các loại nhân vật trong nhân vật tiểu thuyết Nhân vật tiểu thuyết không hiện lên như nhân vật chỉ mang một đặc điểm mà nó còn có khả năng to lớn trong việc tổng hợp các đặc điểm của các nhân vật trong các thể loại văn học
1.2 Một số đặc điểm khái quát về nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam sau thời kì Đổi Mới
1.2.1 Khái quát về tiểu thuyết Việt nam thời kì Đổi Mới, từ 1986 đến nay
Năm 1975 là thời điểm có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với lịch sử
dân tộc Thời điểm này với chiến thắng mùa xuân lịch sử đã mở ra một thời kì mới và đem lại những chuyển biến sâu sắc trong mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có cả văn học Văn học nói chung và thể loại tiểu thuyết nói riêng
trong giai đoạn này đã có những bước chuyển mình đáng kể Dường như
không quá bỡ ngỡ trước những thay đổi lớn lao, tiểu thuyết Việt Nam sau
1975 tiếp tục phát triển trên cái nền vững chãi của tiểu thuyết giai đoạn trước, đồng thời có những bước chuyển cho phù hợp với tình hình mới Sau ba mươi
năm dốc hết sức phục vụ cho lí tưởng độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa
xã hội, ở giai đoạn sau 1975 tiểu thuyết dường như đã có điều kiện hơn để phát triển với tất cả ưu thế và nội lực tiềm tàng của nó
Trang 26Nhìn lại toàn bộ chặng đường phát triển của tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1975 có thể nhận thấy, tiểu thuyết không đứng yên hay chuyển động tịnh tiến mà có sự vận động và phát triển một cách linh hoạt Sau 1975 tiểu thuyết Việt Nam không đi theo một đường thẳng duy nhất mà lại chia thành hai giai đoạn nhỏ: giai đoạn tiểu thuyết từ 1975 đến 1985 và giai đoạn từ 1986 đến nay Sở dĩ có sự phân chia như thế vì mỗi giai đoạn tiểu thuyết có những đặc điểm riêng và sự tổng hợp của những đặc điểm ấy đã làm nên diện mạo của nền tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
Trước hết, có thể thấy giai đoạn tiểu thuyết từ 1975 đến 1985 chủ yếu vẫn mang tính chất sử thi của giai đoạn tiểu thuyết ba mươi năm trước đó Ba
mươi năm cả nước đánh giặc, ba mươi năm văn học cũng góp hết sức mình vào sự nghiệp chung Chính điều này đã tạo nên một nền văn học mang đậm khuynh hướng sử thi nói chung và một dòng tiểu thuyết sử thi nói riêng Dòng tiểu thuyết sử thi này là một thành tựu lớn của văn học những năm chống Mĩ
và là cái nền vững chãi để từ trên cái nền ấy tiểu thuyết những năm
1975-1985 có sự kế thừa Như một điều hết sức tự nhiên, tiểu thuyết Việt Nam trong khoảng mười năm đầu sau chiến tranh cơ bản vẫn phát triển trên cái nền tiểu thuyết sử thi sẵn có bởi lẽ văn học giai đoạn này vẫn chưa có những thay đổi lớn và thi pháp tiểu thuyết sử thi vốn cũng đã trở thành một thi pháp quen thuộc đối với các nhà văn Hơn nữa, phần lớn đội ngũ các nhà tiểu thuyết trong giai đoạn này là những người đã từng tham gia cuộc chiến tranh bảo vệ
Tổ quốc Chính đời sống chiến tranh và tính chất của văn học một thời đã làm cho sáng tác của họ ít nhiều vẫn in đậm dấu ấn sử thi Cuộc sống chiến tranh
và chân dung người lính vẫn là đề tài và nguồn cảm hứng lớn mà nhiều tác giả
tiểu thuyết giai đoạn này quan tâm Trong giai đoạn này các tiểu thuyết Mùa gió chướng (Nguyễn Quang Sáng), Miền cháy, Lửa từ những ngôi nhà, Những người đi từ trong rừng ra (Nguyễn Minh Châu), Nắng đồng bằng (Chu Lai), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Năm 75 họ đã sống như thế nào
Trang 27(Nguyễn Trí Huân), Họ cùng thời với những ai (Thái Bá Lợi),… là những tiểu
thuyết mà tính chất sử thi vẫn còn được thể hiện khá rõ Dường như đây là sự
tiếp nối của những Hòn Đất (Anh Đức), Mẫn và tôi (Phan Tứ), Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu) - những tác phẩm tiêu biểu của dòng tiểu
thuyết sử thi thời kì trước đó
Nhưng cùng với những thay đổi đang diễn ra trong đời sống xã hội và văn học, tiểu thuyết Việt Nam những năm 1975-1985 cũng bắt đầu có những chuyển biến mới Khuynh hướng sử thi với cảm hứng ngợi ca vẫn là nguồn cảm hứng lớn tuy nhiên nó đã không còn là nguồn cảm hứng duy nhất nữa Bên cạnh cảm hứng ngợi ca, cảm hứng đời thường và cảm hứng phê phán cũng đã bắt đầu xuất hiện và lớn dần trong đời sống tiểu thuyết Cảm hứng này bắt đầu xuất hiện ở một số tiểu thuyết viết về đề tài chống tiêu cực trong xây dựng kinh tế những năm đầu sau chiến tranh Và đã có những tác phẩm trở thành hiện tượng gây xôn xao dư luận văn học một thời bởi tính thời sự
đặt ra ở nội dung mà Đứng trước biển hay Cù lao Tràm của Nguyễn Mạnh
Tuấn là một trong những trường hợp điển hình
Rõ ràng trong quá trình phát triển, tiểu thuyết giai đoạn 1975-1985
không mang tính một giọng mà đang hướng dần đến sự đa giọng điệu trong
thể hiện Tính chất sử thi và nguồn cảm hứng sử thi ít nhiều vẫn còn in dấu ấn trong các sáng tác giai đoạn này, tuy nhiên nó đã có những khác biệt nhất định so với tiểu thuyết sử thi của giai đoạn trước Bên cạnh đó, cảm hứng đời thường với cái nhìn đời tư về số phận con người cũng đã bắt đầu xuất hiện và từng bước được khẳng định Điều này được thể hiện khá rõ ở những sáng tác
thiên về “tính đời thường” của Nguyễn Khải và Ma Văn Kháng như Gặp gỡ cuối năm (Nguyễn Khải), hay Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn
Kháng) Đặc biệt nó được thể hiện rõ nét nhất ở giai đoạn tiểu thuyết từ 1986 trở đi
Trang 28Không còn bị giới hạn bởi cảm hứng sử thi hay phạm vi đề tài, tiểu thuyết giai đoạn từ 1986 trở đi có điều kiện tự do phát triển với tất cả những thuận lợi và khả năng to lớn của nó Vì thế tiểu thuyết giai đoạn này đã đạt được những thành tựu đáng kể ở cả hai mặt nội dung và hình thức nghệ thuật Giai đoạn tiểu thuyết từ những năm sau 1986, cùng với sự mở rộng của hệ thống đề tài thì những vấn đề nội dung phản ánh cũng vô cùng phong phú Nếu như trong giai đoạn trước, tiểu thuyết chủ yếu chỉ khai thác các đề tài chiến đấu với cảm hứng chính là ngợi ca thì giai đoạn từ 1986 trở đi - những vấn đề trước đây chưa được nói đến hoặc chưa có điều kiện nói đến đã được các nhà văn tập trung khai thác Hơn nữa, cuộc sống thời "mở cửa" với rất nhiều những bộn bề, thay đổi theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực cũng là nội dung được các tác giả tiểu thuyết giai đoạn này quan tâm Có thể thấy nổi bật lên và phát triển thành một khuynh hướng sôi nổi của tiểu thuyết giai đoạn này là khuynh hướng nhận thức lại những vấn đề trong quá khứ
Mở đầu và khẳng định cho khuynh hướng "nhận thức lại" này trong văn
học chính là tiểu thuyết ra đời ngay vào thời điểm Đổi mới năm 1986: “Thời
xa vắng” của nhà văn Lê Lựu Ngay khi xuất hiện, “Thời xa vắng” đã được
đón nhận nhiệt tình và đánh giá cao Nó giữ một vị trí nhất định trong dòng
tiểu thuyết thời kì Đổi Mới mà ít tác phẩm nào có thể thay thế “Thời xa vắng” còn được xem là tác phẩm có tính chất “mở đường” để ngay sau nó là
một loạt những tiểu thuyết khác tiếp tục đi theo khuynh hướng này và có được những thành công đáng kể trong việc “nhìn nhận lại” mảng hiện thực trước
đây như: Chuyện làng Cuội (Lê Lựu), Những thiên đường mù (Dương Thu Hương), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Những mảnh đời đen trắng (Nguyễn Quang Lập), Bến không chồng (Dương Hướng), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Nước mắt đỏ (Trần Huy Quang),…Trên cái nền của cuộc
sống hiện tại, các tác giả tiểu thuyết giai đoạn này đã có sự nhìn nhận lại một
Trang 29cách sâu sắc hơn những vấn đề tồn tại trong hiện thực đời sống mà văn học giai đoạn trước do những lý do chủ quan và khách quan nên chưa nhận thấy, hoặc chưa có điều kiện phản ánh
Nhưng trong khuynh hướng "nhận thức lại" những vấn đế quá khứ thì
có lẽ quá khứ chiến tranh là vấn đề được các tác giả tiểu thuyết giai đoạn này quan tâm nhiều nhất Ba mươi năm với hai cuộc kháng chiến trường kì, có thể nói chiến tranh đã chiếm mất một khoảng thời gian khá dài trong tiến trình lịch sử của dân tộc kể từ khi giành lại được đất nước từ tay của Thực dân Pháp Ba mươi năm cả nước đánh giặc hào hùng, đó cũng chính là mảng hiện thực vĩ đại và tươi rói mà văn học nói chung và dòng tiểu thuyết sử thi nói riêng đã được thể hiện khá thành công Thế nhưng chiến tranh không chỉ có hào hùng, không chỉ có chiến công mà bên cạnh đó chiến tranh còn có những nỗi đau, có những sự hi sinh mất mát không gì có thể bù đắp nổi cho con người - ngay cả trong và sau khi chiến tranh đã kết thúc Nếu như dòng tiểu thuyết sử thi trước đây chủ yếu thiên về cảm hứng ngợi ca với việc thể hiện những chiến công, những điều anh hùng, cao cả mà chưa nói đến những mất mát đau thương thì văn học thời kì Đổi Mới với một độ lùi thời gian nhất định
đã có sự nhìn nhận và thể hiện lại hiện thực chiến tranh với cái nhìn toàn diện
và “đời thường” hơn
Cùng với những thay đổi về nội dung thì về mặt hình thức nghệ thuật tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986 đã có những cách tân đáng kể Các tác giả
tiểu thuyết giai đoạn này đã có nhiều thể nghiệm cũng như thành công trong việc đổi mới hình thức nghệ thuật tiểu thuyết Trước tiên, đó là những thay
đổi trong nghệ thuật trần thuật Nếu như ở phương diện nội dung của tiểu
thuyết sau 1986 khuynh hướng nhận thức lại nổi trội lên như khuynh hướng chủ đạo thì ở phương diện nghệ thuật vấn đề nghệ thuật trần thuật cũng nổi bật lên như một vấn đề trọng tâm Trong nghệ thuật trần thuật, các tác giả tiểu
thuyết giai đoạn này đã có những thay đổi ở phương thức trần thuật như sự
Trang 30dịch chuyển điểm nhìn từ nhà văn vào nhân vật, sự thay đổi vai kể, sự xen kẽ hay đảo ngược các tình tiết hay cách đưa truyện lồng trong truyện,…mà các nhà văn như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải hay Ma Văn Kháng là những
người đi đầu và có được những thành công Chính những đổi mới trong nghệ
thuật trần thuật này đã góp phần thể hiện ý đồ nghệ thuật của nhà văn cũng như tạo nên sự đa dạng, lôi cuốn trong nghệ thuật trần thuật và làm cho người đọc thích thú hơn khi tiếp nhận tác phẩm Ngoài ra, nghệ thuật xây dựng nhân
vật hay ngôn ngữ, giọng điệu trong tiểu thuyết giai đoạn này cũng có những
điểm khác trước Vượt ra khỏi tính trang trọng của ngôn ngữ tiểu thuyết sử
thi, ngôn ngữ tiểu thuyết sau 1986 ngày càng linh hoạt và “đời thường” hơn
Hướng đến việc thể hiện các vấn đề cuộc sống và con người đời thường, tiểu
thuyết sau 1986 luôn tìm cho mình ngôn ngữ thể hiện phù hợp Ngôn ngữ đời
thường mang đậm tính khẩu ngữ, thông tục và đôi khi lại in đậm dấu ấn cá nhân là điểm dễ nhận thấy của ngôn ngữ tiểu thuyết giai đoạn này Chính đặc điểm ngôn ngữ này đã làm cho tiểu thuyết sau 1986 ngày càng gần gũi, đồng
thời cũng tạo được hiệu ứng tiếp nhận ở người đọc Giọng điệu của tiểu
thuyết sau 1986 cũng là yếu tố nghệ thuật có nhiều thay đổi Nếu như ở giai đoạn trước tiểu thuyết chủ yếu chỉ mang tính một giọng, (thường là ngợi ca) thì ở giai đoạn sau 1986 cùng với sự đa dạng về nội dung phản ánh, tiểu thuyết đã dần thoát khỏi tính chất đơn giọng để hướng đến tính đa giọng điệu
Ở các tác phẩm tiểu thuyết giai đoạn này dường như không chỉ có một vấn đề được đặt ra, không chỉ có một cách nhìn, một thái độ mà luôn có nhiều hơn một và luôn có sự đan xen, pha trộn Chính vì thế mà trong cùng một tác
phẩm người đọc có thể nhận thấy nhiều giọng điệu khác nhau và chính điều
này cũng mở ra nhiều hướng cho người đọc trong việc tiếp nhận và cảm thụ tác phẩm Cùng với sự thay đổi của các yếu tố nghệ thuật khác thì nhân vật của tiểu thuyết sau 1975 cũng có nhiều thay đổi rõ rệt, bởi trong tiểu thuyết
nhân vật là yếu tố quan trọng, có sự chi phối đến các yếu tố khác và những
Trang 31thay đổi trong nghệ thuật tiểu thuyết suy cho cùng cũng thường được thể hiện qua nhân vật Nhân vật xuất hiện trong tiểu thuyết giai đoạn này khá đa dạng với nhiều kiểu loại, trong đó có những kiểu loại nhân vật mới vốn chưa có
hoặc ít xuất hiện trong tiểu thuyết trước đây Các biện pháp xây dựng nhân
vật tiểu thuyết cũng phong phú hơn trước
Tóm lại, giai đoạn sau 1975 tiểu thuyết Việt Nam đã có những bước
phát triển và thành công Diện mạo của tiểu thuyết giai đoạn này, đặc biệt là
từ những năm 1986 trở đi đã có những đổi mới đáng ghi nhận Điều này
chứng tỏ sự hòa nhịp và phát triển của tiểu thuyết nói riêng và văn học nói
chung trước xu thế vận động chung của cả nước và của các nước trên thế giới
1.2.2 Khái quát về đặc điểm nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam 1986 đến nay
Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn sau 1975 đã có những thay đổi và cũng
đã những thành công đáng ghi nhận Một trong những biểu hiện của sự thay
đổi cũng như thành công này chính là việc xây dựng hệ thống nhân vật trong
tác phẩm văn học theo một quan điểm mới Như đã nói, nhân vật văn học có
một vai trò quan trọng, cho nên trong tiểu thuyết - nhân vật luôn là yếu tố
quan trọng được nhà văn tập trung tài năng, trí tuệ thể hiện Hơn nữa, trong văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng, nhân vật còn là sự thể hiện quan
niệm nghệ thuật về con người của nhà văn
Ở tiểu thuyết giai đoạn sau 1986, do sự thay đổi của điều kiện xã hội nên nhận thức và quan niệm về con người của nhà văn có sự khác trước rõ
nét Nếu như ở giai đoạn trước 1975, con người chủ yếu được nhìn nhận và
thể hiện trên phương diện dân tộc và giai cấp nên nhân vật trong tiểu thuyết
luôn xuất hiện với tư cách con người công dân, con người đại diện giai cấp - thì ở tiểu thuyết sau 1975, đặc biệt là sau 1986, sự nhìn nhận này đã khác Tiểu thuyết sau 1986 nhìn nhận và thể hiện con người trên nhiều phương diện
và nhiều tư cách khác nhau Không còn chỉ xuất hiện với tư cách con người
Trang 32đại diện cho lí tưởng chung, con người là hình ảnh của số đông - con người trong tiểu thuyết sau 1986 hiện lên chủ yếu với tư cách là những con người cá nhân với cuộc đời riêng, với những biểu hiện và nhu cầu cụ thể Đặc biệt, tiểu thuyết giai đoạn này quan tâm hơn đến việc thể hiện đời sống tinh thần cũng như phần nào đã nói đến những nhu cầu riêng tư của con người Đây cũng là một điều tất yếu bởi lẽ khi đã nói nhiều đến cái chung thì người ta sẽ có nhu cầu muốn thể hiện cái riêng, và tiểu thuyết sau 1986 đã có điều kiện để nói đến những cái riêng ấy Như một hệ quả trực tiếp, sự thay đổi trong nhận thức
và quan niệm về con người này tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi trong việc xây dựng hệ thống nhân vật của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986
1.2.2.1.Nhìn chung nhân vật văn học của tiểu thuyết sau 1975 đa dạng
và có những điểm khác trước rõ nét Tuy nhiên những đổi mới ở hệ thống
nhân vật này không diễn ra một lúc mà nó là cả một quá trình Ở khoảng thời gian mười năm đầu sau chiến tranh do tiểu thuyết vẫn còn chịu ảnh hưởng của khuynh hướng sử thi trước đó, nhất là ở những tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh nên nhân vật tiểu thuyết cơ bản vẫn mang đặc điểm của nhân vật tiểu thuyết sử thi Những nhân vật này chủ yếu vẫn là những nhân vật tiêu biểu, nhân vật đại diện cho lí tưởng của dân tộc Được khắc họa với những phẩm chất cao đẹp và mang hơi hướng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ví dụ
như những nhân vật trong Miền cháy, (Nguyễn Minh Châu), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Nắng đồng bằng (Chu Lai) hiện lên là những con
người anh hùng trong cuộc chiến đấu vì Tổ quốc Cơ bản họ vẫn là những nhân vật tiêu biểu cho lí tưởng của dân tộc trong một thời kỳ lịch sử đấu tranh cách mạng Ở họ, đôi chỗ người đọc cũng bắt gặp những suy nghĩ, trăn trở về chiến tranh hay những hành động “đời thường”, tuy nhiên cái chính được khẳng định ở đây vẫn là tính chất lí tưởng Đây chính là sự tiếp nối của những nhân vật tiểu thuyết sử thi đã rất thành công ở giai đoạn văn học trước
Trang 33Không chỉ ở những tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh mà ở những ở tiểu thuyết nói đến công cuộc xây dựng đất nước sau chiến tranh thì các nhân vật vẫn hiện lên với tư cách là những nhân vật ít nhiều mang hơi hướng nhân vật sử thi Nhân vật ở đây vẫn được phân chia theo hai tuyến rõ rệt: nhân vật chính diện - nhân vật phản diện, nhân vật tích cực - nhân vật tiêu cực, nhân vật tốt đẹp - nhân vật xấu, tha hóa biến chất,… Những nhân vật chính được các tác giả tập trung thể hiện vẫn là những nhân vật tích cực, đại diện cho cái tốt, cái tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống lại cái xấu, cái tiêu cực Với những nhân vật này, người đọc thường thấy ở họ sự tròn trịa về nhân cách chứ chưa thấy có những lát cắt hay những góc khuất của cuộc sống đời thường
Rõ ràng nhân vật của tiểu thuyết những năm 1975-1985 chưa có nhiều
sự thay đổi Thế nhưng nếu quan sát kĩ thì chúng ta thấy nó cũng đang có những bước chuyển mình theo xu hướng vận động chung, mà cuộc sống và con người với những thay đổi trong điều kiện xã hội mới cũng với những yêu cầu mới trong việc sáng tác và tiếp nhận tiểu thuyết - chính là những tiền đề cho sự chuyển mình này Ngoài việc phản ánh những vấn đề có tính chất lớn lao, trọng đại của đất nước, tiểu thuyết giai đoạn này cũng đã có nhu cầu thể hiện cuộc sống đời thường với những số phận cá nhân, những nhu cầu, khát vọng riêng tư của con người trong xã hội Một số nhân vật của tiểu thuyết giai đoạn này đã vượt ra khỏi tính chất lí tưởng của nhân vật sử thi để trở thành những con người đời thường với những phẩm chất xấu tốt lẫn lộn Nhân vật
Lý trong Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng là một trong những
nhân vật như thế Lý là nhân vật để lại nhiều ấn tượng nhất trong cuốn tiểu thuyết nhất bởi lẽ hình ảnh Lý không đơn điệu mà hiện lên thật sinh động Nhân vật Lý không có sự bất biến về tính cách mà tính cách của nhân vật đã
có những thay đổi - dù rằng những thay đổi này không theo chiều hướng tích cực Nhưng có phải vì thế mà hình ảnh Lý trở nên "đời thường" hơn và “chân thực” hơn?
Trang 34Khép lại khoảng thời gian mười năm có tính chất quá độ trong đời sống
xã hội và trong cả văn học, theo xu thế vận động chung, nhân vật văn học của tiểu thuyết ngày càng thể hiện rõ hơn chân dung của những con người đời thường và gắn bó hơn với cuộc sống đời thường Và điều này sẽ được thể hiện
rõ hơn ở nhân vật của tiểu thuyết thời kì Đổi Mới những năm 1986
1.2.2.2 Từ những thay đổi trong nhận thức và quan niệm về con người,
khi con người với cuộc sống đời thường và ý thức cá nhân ngày càng được khẳng định thì nhân vật của tiểu thuyết cũng được thể hiện khác trước Nhân vật văn học của tiểu thuyết thời kì Đổi Mới là những con người cá nhân trong mối quan hệ với cuộc sống và những mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân và với cộng đồng Ở họ, ý thức cá nhân với những nhu cầu và khát vọng riêng tư
đã trở thành điểm mấu chốt làm nên những diễn biến trong hành động và trong đời sống tinh thần Đồng thời, con người với ý thức cá nhân này cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo nên sự đa dạng về diện mạo và tính cách nhân vật tiểu thuyết thời kì Đổi Mới nói chung
Các tác giả tiểu thuyết thời kì Đổi Mới đã rất thành công trong việc thể
hiện con người với những mối quan hệ đời thường Và một trong những người mở đầu cho sự thành công ấy chính là nhà văn Lê Lựu với tiểu thuyết Thời xa vắng Nếu như Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng là tác
phẩm khép lại thời kì văn học mười năm quá độ và có những dự báo cho sự
phát triển của hình tượng nhân vật tiểu thuyết ở thời kì tiếp theo - thì Thời xa vắng của Lê Lựu thật sự là tác phẩm mở đầu cho tiểu thuyết thời kì Đổi Mới
Ra đời vào năm 1986 đúng vào thời điểm đất nước đang bước vào thời kì đổi mới với những thay đổi mạnh mẽ đang diễn ra trong mọi mặt của đời sống xã
hội, trong đó có cả văn học, Thời xa vắng thật sự đã đưa người đọc vào một
thế giới đời thường với những con người và những mối quan hệ đời thường thông qua cuộc đời của nhân vật chính - Giang Minh Sài
Trang 35Ngoài con người được đặt trong các mối quan hệ đời thường, nhân vật văn học của tiểu thuyết thời kì đổi mới còn được nhìn nhận và thể hiện với những sự mất mát do chiến tranh gây ra Với một độ lùi thời gian nhất định
sau chiến tranh, các tác giả tiểu thuyết thời kì này đã có điều kiện để nhìn nhận lại hiện thực chiến tranh cũng như những gì mà nó gây ra cho con người một cách toàn diện Chiến tranh, dù là chiến tranh bảo vệ tổ quốc thì nó cũng
có hai mặt của nó Một mặt là hào quang của chiến thắng, là của lòng dũng cảm và đức hi sinh, một mặt là những mất mát, đau khổ mà sự tàn phá khủng khiếp về cả vật chất và tinh thần Di chứng chiến tranh còn để lại dai dẳng cho nhiều cá nhân, nhiều gia đình
Bên cạnh những nhân vật của những mối quan hệ đời thường hay nhân vật với những mất mát, tổn thương, tiểu thuyết thời kì Đổi Mới còn nói nhiều
đến kiểu nhân vật tha hóa Đó có thể là những con người biến chất về nhân
cách nhưng lại khoác lên mình lớp áo đạo mạo, lại là “cán bộ” đại diện cho
quyền lực của nhân dân (như nhân vật Lưu Minh Hiếu trong Chuyện làng Cuội của Lê Lựu, hay nhân vật Đại úy Thìn trong Những mảnh đời đen trắng
của Nguyễn Quang Lập) Hay đó còn là những kẻ đại diện cho thế lực của hai dòng họ Vũ Đình và Trịnh Bá, đồng thời cũng là đại diện của tổ chức Đảng và chính quyền địa phương với lắm toan tính cá nhân và thủ đoạn chính trị đã làm xáo trộn cuộc sống yên ả ở làng quê và gây nên bao tình cảnh dở
khóc dở cười trong Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc
Trường Có thể thấy ở tiểu thuyết thời kì Đổi Mới, kiểu nhân vật này xuất hiện khá nhiều Thông qua hình ảnh những con người nhân danh cán bộ nhưng lại biến chất, tha hóa về đạo đức nhân cách, các tác giả tiểu thuyết thời
kì này đã nói đến một thực trạng khá nhức nhối đang diễn ra trong lòng xã hội Xã hội có nhiều, rất nhiều những người tốt biết sống và hi sinh vì lợi ích chung, nhưng bên cạnh đó cũng có không ít những con người chỉ biết trục lợi,
Trang 36vị kỉ và tha hóa về nhân cách mà càng nguy hại hơn - khi đó lại là những kẻ đại diện cho quyền lực của nhân dân
Và còn nhiều những kiểu nhân vật khác xuất hiện trong tiểu thuyết thời
kì Đổi Mới như: Kiểu nhân vật lạc lõng, nhân vật cô đơn, nhân vật tự vấn, nhân vật với ý thức cá nhân về tình yêu và nhu cầu bản năng, nhân vật thiên
về đời sống tâm linh,… Nhìn chung, ở giai đoạn sau 1986, diện mạo của nhân
vật văn học trong tiểu thuyết trở nên vô cùng phong phú Không còn sự thuần nhất như nhân vật của tiểu thuyết sử thi giai đoạn trước đó, nhân vật tiểu thuyết sau thời kỳ này được nhìn nhận và thể hiện trong cái đa chiều và đa sự của hiện thực đời sống đang diễn ra hàng ngày Nhân vật cũng được đặt trong nhiều mối quan hệ và được soi chiếu từ nhiều góc nhìn Chính vì thế mà chân dung nhân vật được hiện ra toàn diện, sinh động và sắc nét Một điều đặc biệt
là nhân vật của tiểu thuyết sau 1986 đã trở về là những con người đời thường với những mối quan hệ và những sự việc đời thường Thế nhưng không vì vậy
mà hình ảnh nhân vật của tiểu thuyết sau 1986 trở nên tầm thường hay nhỏ
bé Trái lại chính cái đời thường này đã hàm chứa bao vấn đề nhân sinh lớn lao và cũng chính cái đời thường này đã làm cho con người thật sự "là người" hơn bao giờ hết Với sự đa dạng về hình thức, sự khách quan, toàn diện trong các hình tượng nghệ thuật được thể hiện, cũng như những vấn đề nhận thức sâu sắc nhiều tầng ý nghĩa được đặt ra - hình tượng nhân vật thật sự là một yếu tố nghệ thuật thành công của tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn sau 1986
1.3 Sự xuất hiện của một số cây bút nữ thời kì đầu Đổi Mới và nhà văn Trần Thị Trường
1.3.1 Sự xuất hiện của một số cây bút nữ thời kì đầu Đổi Mới
Sự chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống xã hội Việt Nam sau thời kì Đổi mới cùng với nỗ lực không ngừng tạo nên sự bình đẳng giới đã không những giải phóng người phụ nữ thoát khỏi sự áp chế của văn hóa nam quyền
và sự kiềm tỏa của các thiết chế văn hóa xã hội cũ xưa - mà còn mở ra nhiều
Trang 37cơ hội cho họ tự chủ tự quyết số phận của mình Từ vai trò mặc định là một vị
“nội tướng”, người đàn bà dần dần bước ra ngoài xã hội, tham gia nhiều hoạt
động và khẳng định được vị thế của mình trong nhiều lĩnh vực khác nhau
Ở phương diện đời sống văn học, ý thức về giới đã ăn sâu vào tâm thức sáng tạo, từ ý hướng chọn đề tài, chủ đề, xây dựng hình tượng nhân vật trung tâm, đến kiến tạo hệ thi pháp, tìm kiếm phương thức tự sự nhằm xác lập cá tính, phong cách nữ giới Chính điều này đã góp phần làm nên âm hưởng nữ quyền và xác lập dòng “văn học nữ tính” trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại Thực tiễn đã cho thấy, một khi nền văn học “lấy nữ tính làm chủ thể ngôn từ, chủ thể trải nghiệm, chủ thể tư duy, chủ thể thẩm mĩ” trên tinh thần nhân văn hiện đại, thì khi đó dòng văn học này mới có cơ sở,cơ hội tồn
tại, phát lộ phát triển
Trên thực tế, ở Việt Nam, khoảng hơn 30 năm trở lại đây chứng kiến sự bung nở mạnh mẽ của dòng “văn học nữ tính” trên nhiều phương diện: đội ngũ sáng tác (bao gồm cả lĩnh vực sáng tác, nghiên cứu - phê bình, dịch thuật), chất lượng tác phẩm, hiệu ứng dư luận, sự thừa nhận của các đồng nghiệp nam, vị trí quan trọng trong các hoạt động nghề nghiệp, số lượng giải thưởng giành được hàng năm… Riêng trong lĩnh vực sáng tác, không khó để nhận diện hàng loạt những gương mặt tiêu biểu làm nên diện mạo của văn học Việt Nam sau Đổi mới: Phạm Thị Hoài, Dư Thị Hoàn, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Dạ Ngân, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà, Trần Thùy Mai, Đoàn Lê, Đỗ Bích Thúy, Phong Điệp, Nguyễn Ngọc Tư, Thuận, Đoàn Minh Phượng, Lý Lan, Trang Hạ, Vi Thùy Linh, Phan
Huyền Thư…
Tinh thần dân chủ ngày càng được mở rộng và đi vào chiều sâu, người phụ nữ ngày càng có ý thức đầy đủ hơn về con người cá nhân của mình Họ muốn là một nhân cách, một nhân vị độc lập, không bị chế định trong luật lệ, quy ước cộng đồng; được phát huy tận độ những “năng lực người”, được
Trang 38quyền tự định đoạt cuộc sống của mình Cảm hứng sáng tạo trong tác phẩm của các nhà văn nữ được khơi dậy từ chính sự trải nghiệm giới tính cùng những suy tư, trăn trở về thân phận con người Không xa vời, to tát, không ảo tưởng, phù phiếm, phạm vi hiện thực mà các cây bút nữ hướng tới là những vấn đề gần gũi với bản thân, những câu chuyện rất đời, rất người gắn với “thế giới nhỏ mọn”, có khi tủn mủn, nhỏ nhặt Hơi ấm nữ tính được toát ra, “bảo lưu” và thăng hoa trọn vẹn trong hệ đề tài, chủ đề về tình yêu đôi lứa, hạnh phúc gia đình, khát vọng tự do, giải phóng bản thể/bản năng, nỗi đau thân
phận đàn bà…
Những "khát vọng nhân bản" mang tầm phổ quát này đã đem lại sức
ám ảnh cũng như sự quyến rũ hơn trong tiểu thuyết của các nhà văn nữ đương đại Trong các sáng tác đó, câu chuyện trung tâm là thế giới đàn bà, hình tượng trung tâm là các nhân vật nữ với những tính cách đa diện, những trạng huống tâm lí phức tạp, những mối quan hệ đời tư đan xen cùng số phận và tấn
bi kịch nghiệt ngã trong cuộc sống riêng tư, đời thường
Với những trải nghiệm cá nhân, sáng tác của các nhà văn nữ chất chứa khát vọng, nỗi niềm và bi kịch của nhiều thế hệ phụ nữ trong một đất nước đã phải trải qua quá nhiều biến động khắc nghiệt Và mặc dù còn tồn tại những hạn chế nhất định tính trong sáng tạo nghệ thuật (hạn chế ở sự đa dạng của đề tài, ở tầm khái quát hiện thực xã hội rộng lớn ), nhưng với một thế mạnh khác (tư duy thiên về hướng nội), văn chương của các nhà văn nữ đương đại
đã mở rộng phạm vi hiện thực phản ánh cho văn học bằng cách riêng của mình: đi sâu vào những số phận, cuộc sống, tâm hồn của những con người rất bình dị, nhỏ bé (thậm chí là cá biệt) xung quanh ta, đặc biệt là những người phụ nữ
1.3.2 Nhà văn Trần Thị Trường, nữ nhà văn của thời kì Đổi Mới
1.3.2.1 Vài nét về nhà văn Trần Thị Trường
Nhà văn Trần Thị Trường sinh năm 1950 tại Tuyên Quang, quê gốc ở Đan Phượng, Hà Tây, hiện chị đang sống tại quận Đống Đa - Hà Nội Chị tốt
Trang 39nghiệp Đại học báo chí và là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (năm 1994) Năm 1969, ở cái tuổi 19, Trần Thị Trường khoác ba lô vào Vinh theo đoàn quân cứu hộ giao thông của Bộ Giao thông vận tải Chị lập gia đình khá sớm (năm 1972), nhưng với niềm đam mê hội hoạ, chị đã thi và học khoa Gốm sứ- Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội Sau 5 năm lập gia đình, và khi đứa con trai thứ hai ra đời cũng là lúc cuộc hôn nhân của chị bị đẩy đến bên bờ đổ
vỡ Năm 1981 (ở tuổi 27) Trần Thị Trường đã tìm "lối thoát cho cuộc sống" của mình bằng việc bỏ học Đại học giữa chừng và nhà văn đã mạnh dạn ghi tên mình vào "đội quân xuất khẩu lao động" sang tận đất nước Bungari xa xôi
để lao động kiếm sống
Khoảng thời gian ở xứ người, Trần Thị Trường được biết đến là một
công nhân làm nghề thợ may Và đây cũng là những năm tháng chị nung nấu
ý định cầm bút, viết văn Về nước năm 1986, cơ quan giảm biên chế, chị lại quay sang làm thợ hàn Có lẽ những gian truân tuổi Canh Dần, với những ngày lao động cực khổ cùng bao biến cố trong cuộc sống gia đình chính là động lực đã khiến cho Trần Thị Trường viết và hoàn thành cuốn tiểu thuyết
Lời cuối cho em Trần Thị Trường đã thành danh ngay sau khi xuất bản cuốn
tiểu thuyết đầu tay, và ba năm sau chị trở thành hội viên Hội nhà văn Việt Nam Sau thành công ban đầu, Trần Thị Trường tiếp tục sáng tác và cho ra đời 7 tập truyện ngắn và chị đã chuyển sang nghề làm báo, phối hợp với bạn
bè thành lập một công ty chuyên tổ chức biểu diễn âm nhạc
Đến nay, Trần Thị Trường đã có trong tay 2 cuốn tiểu thuyết, 7 tập truyện ngắn và rất nhiều bài viết được đăng trên các tạp chí, và báo Đến nay, chị vẫn đang say mê làm việc trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng công việc mà chị thấy đam mê nhất là nghiên cứu về âm nhạc, tìm hiểu và viết những bài viết về chân dung những nhạc sĩ Hiện Trần Thị Trường giữ chức
vụ Phó Giám đốc khu vực phía Bắc của Trung tâm Bảo vệ quyền âm nhạc Việt Nam, và chị vẫn theo đuổi nghiệp sáng tác văn chương
Trang 40Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, thành danh sau thời kỳ Đổi Mới, cuộc đời Trần Thị Trường trải qua biết bao truân chuyên, khó nhọc Trong kí ức của nhà văn, quá khứ lẫn lộn những buồn vui
nhưng dường như nó gắn bó nhiều hơn với chữ không bình yên Khao khát
học Đại học nhưng phải ngậm ngùi từ bỏ bởi chiến tranh đã không cho người
ta có quyền được lựa chọn; rồi lập gia đình sớm mong có sự bình yên, ổn định (chồng chị là một họa sĩ) Lãng mạn và yêu chồng nên chị muốn cùng chung luôn lý tưởng sống hay vì nghệ thụât (vốn là niềm đam mê có sẵn trong chị) khiến chị đã bước chân vào con đường học tập hội họa để có thể trở thành một họa sĩ Nhưng con đường đi của chị có lẽ vốn đã không bằng phẳng, nên chị lại phải bỏ dở việc học để tìm cách mưu sinh Trần Thị Trường quyết chí
"xuất ngoại" đã làm một công nhân lao động ở xứ người, một thợ hàn, một chủ quán ăn bình dân và chị đã vượt qua bao vất vả, khó khăn để dựng cho mình một cuộc sống vật chất "tạm ổn" để có thể làm những điều mình yêu thích - trong đó có công việc sáng tác văn chương
Trần Thị Trường là một phụ nữ sâu sắc, tinh tế mà tuổi trẻ đã trải qua không ít những “trôi nổi” trước cuộc đời "đa sự" Tác giả đã có những năm tháng lao động ở nước ngoài do đó, các nhân vật của chị được mở rộng hơn với các tính cách phong phú, phức tạp hơn (các văn nghệ sĩ "vượt biên" trái phép hoạt động nghệ thuật ở nước ngoài; các trí thức, bộ đội xuất ngũ, lao động phổ thông… ra nước ngoài theo con đường xuất khẩu lao động…) Vì thế, tác phẩm của Trần Thị Trường có những điểm mới, thu hút và hấp dẫn bạn đọc đương thời
Đọc truyện của Trần Thị Trường, dễ hình dung tác giả hẳn là người đàn
bà u buồn, đa sầu, đa cảm, luôn ắp đầy tâm trạng, nhưng ngoài đời chị lại là một phụ nữ khá cứng rắn, sắc sảo, mạnh mẽ và quyết đoán Trên những trang văn của mình, dường như chị đang chia sẻ với cuộc đời, với con người nhiều hơn là những hờn giận cay cú, hay bất lực tiêu cực đến mức không thể hoá