Marketing là một bộ môn khoa học nghiên cứu về các hoạt động kinh doanh cóliên quan trực tiếp đến dòng chuyển vận của hàng hoá - dịch vụ từ nơi sản xuất tớingười tiêu dùng, nhằm tìm ra c
Trang 1QUẢN TRỊ MARKETING
ĐỀ TÀI
1 Hãy trình bày bản chất của Marketing trong thế kỷ 21.
2 Hãy lấy một sản phẩm hay dịch vụ nào đó của Anh/Chị làm ví dụ và tiến hành phân tích nhu cầu tiêu dùng, hành vi tiêu dùng của khách hàng đối với chính sản phẩm hay dịch vụ đó.
3 Trình bày bản chất của Viral Marketing và khả năng ứng dụng cách thức marketing này đối với các sản phẩm/dịch vụ của Anh/Chị.
1 Please present the essence of Marketing in the 21st Century.
2 Take a product or service if you as examples and analysis of consumer demand, consumer behavior of customers for the product or service.
3 Presented nature of Viral Marketing and the applicability of this method for marketing products/services of you.
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3
1 Bản chất của Marketing trong thế kỷ 21 3
2 Phân tích nhu cầu tiêu dùng, hành vi tiêu dùng của khách hàng đối với sản phẩm sữa tắm Double Rich 4
2.1 Nhận thức 4
2.2 Cảm xúc 5
2.3 Hành vi 5
2.4 Hành vi của người tiêu dùng 7
3 Bản chất của Viral Marketing và khả năng ứng dụng cách thức marketing này đối với các sản phẩm sữa tắm Double Rich 8
3.1 Bản chất của Viral Marketing 8
3.2 Khả năng ứng dụng cách thức marketing này đối với các sản phẩm sữa tắm Double Rich 10
KẾT LUẬN 13
TABLE OF CONTENT TABLE OF CONTENT 2
INTRODUCTION 3
RESEARCH OF CONTENT 4
1 Nature of Marketing in the 21st Century 4
2 Analysis of consumer demand, consumer behavior of customers for Double Rich milk bath products 5
2.1 Perception 5
2.2 Emotions 6
2.3 Behavior 6
2.4 Consumer Behavior 8
Trang 33 Nature of Viral Marketing and the ability to apply this marketing method forDouble Rich milk bath products 93.1 Nature of Viral Marketing 93.2 Applicability of this marketing method for Double Rich milk bath products 11CONCLUSION 14
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Muốn thành công trong kinh doanh, các doanh nghiệp và các nhà kinh doanhcần hiểu biết cặn kẽ về thị trường, về những nhu cầu và mong muốn của khách hàng,
về nghệ thuật ứng xử trong kinh doanh
Ngày nay, các doanh nghiệp phải hoạt động trong một môi trường cạnh tranhquyết liệt và có những thay đổi nhanh chóng về khoa học – công nghệ, những đạo luậtmới, những chính sách quản lý thương mại mới và sự trung thành của khách hàngngày càng giảm sút “Các công ty đang phải chạy đua với nhau trên một tuyến đườngvới những biển báo và luật lệ luôn thay đổi, không có tuyến đích, không có chiếnthắng vĩnh cửu Họ buộc phải không ngừng chạy đua và hy vọng là mình đang chạytheo đúng hướng mà công chúng mong muốn”
Marketing là một bộ môn khoa học nghiên cứu về các hoạt động kinh doanh cóliên quan trực tiếp đến dòng chuyển vận của hàng hoá - dịch vụ từ nơi sản xuất tớingười tiêu dùng, nhằm tìm ra các biện pháp hữu hiệu để bảo vệ, duy trì và phát triểnthị trường Marketing còn áp dụng trong nhiều lĩnh vực xã hội Philip Kotler đã viết: “Trong thế giới phức tạp ngày nay, tất cả chúng ta đều phải am hiểu marketing Khibán một chiếc máy bay, tìm kiếm việc làm, quyên góp tiền cho mục đích từ thiện, haytuyên truyền một ý tưởng, chúng ta đã làm marketing Kiến thức về marketing chophép xử trí khôn ngoan hơn ở cương vị người tiêu dùng, dù là mua kem đánh răng,một con gà đông lạnh, một chiếc máy vi tính hay một chiếc ô tô Marketing đụngchạm đến lợi ích của mỗi người chúng ta trong suốt cả cuộc đời”
Marketing áp đặt rất mạnh mẽ đối với lòng tin và kiểu cách sống của người tiêudùng Vì thế, hững người kinh doanh tìm cách để làm thoả mãn nhu cầu mong muốncủa người tiêu dùng, tạo ra những sản phẩm và dịch vụ với mức giá cả mà người tiêudùng có thể thanh toán được Phạm vi sử dụng marketing rất rộng rãi, marketing liênquan đến nhiều lĩnh vực như: hình thành giá cả, dự trữ, bao bì đóng gói, xây dựngnhãn hiệu, hoạt động và quản lý bán hàng, tín dụng, vận chuyển, trách nhiệm xã hội,lựa chọn nơi bán lẻ, phân tích người tiêu dùng, hoạt động bán sỉ, bán lẻ, đánh giá vàlựa chọn người mua hàng công nghiệp, quảng cáo, mối quan hệ xã hội, nghiên cứumarketing, hoạch định và bảo hành sản phẩm
Trang 6NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Bản chất của Marketing trong thế kỷ 21
Ngày nay Marketing không chỉ được áp dụng trong lĩnh vực kinh tế mà cònđược áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác như: Chính trị, Xã hội Nó đượchiểu như là một công cụ quản lý hữu hiệu cho các doanh nghiệp khi tiến hành hoạtđộng sản xuất kinh doanh
Vậy Marketing là gì? Cho tới nay có rất nhiều quan điểm khác nhau vềMarketing, mỗi quan điểm đều phản ảnh nhưỡng đặc trưng nào đó của Marketing
Theo quan niệm đơn giản của người Việt Nam, Marketing được hiểu là “Côngviệc tiếp thị” hay “Làm thị trường” Với cách nhìn nhận như vậy, thuật ngữ Marketingđược “Việt Nam hoá” và đông đảo người tiêu dùng có thể hiểu được phạm trù và hoạtđộng của Marketing Tuy nhiên cũng không ít những hiểu lầm phát sinh từ các quanniệm sai về Marketing
Theo quan điểm cổ điển, Marketing được coi là hoạt động của các doanhnghiệp trong lĩnh vực tiêu thụ hàng hoá hay là hoạt động để đưa hàng hoá từ nơi sảnxuất đến nơi tiêu dùng Định nghĩa này phản ánh rất chính xác nội dung của hoạt độngMarketing khi nó mới bắt đầu xuất hiện Nhưng nếu quan niệm rằng Marketing chỉ cónhư vậy thì chưa đủ Marketing không chỉ có ở khâu tiêu thụ, mà hơn thế nữa nó xuấthiện và phải được tiến hành ở tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất hàng hoá.Philip Kotler một học giả nổi tiếng người Mỹ đả khẳng định trong cuốn sáchMarketing rằng, nếu chúng ta nhìn thấy Marketing chỉ là vấn đề tiêu thụ thì có nghĩa
là mới thấy phần nổi của “núi băng” Marketing mà chưa thấy phần chìm của nó đâucả
Theo quan niệm hiện đại, Marketing là chức năng quản lý công ty về mặt tổchức, bao gồm việc quản lý toàn diện hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, từ việc phát hiện ra nhu cầu thị trường về một hàng hoá nào đó đến việc tổchức sản xuất ra những hàng hoá dịch vụ phù hợp với nhu cầu đó và đến việc tổ chứcphân phối, rồi bán chúng nhằm thoả mản tối đa những nhu cầu được phát hiện ra đểđạt hiệu quả kinh doanh cao nhất Với cách nhìn nhận như thế này cho phép chúng tahình dung rõ nét và tổng quát của Marketing trong điều kiện kinh doanh hiện đại
Trang 7Marketing có mặt ở tất cả các khâu từ chổ tìm kiếm phát hiện nhu cầu thị trường vàkết thúc ở chổ đáp ứng thoả mãn tốt nhất những nhu cầu đó.
Theo quan điểm tổng hợp chung nhất và khái quát nhất trong cuốn
“Marketing căn bản” của tác giả Phillip Kotler: “Marketing là một dạng hoạt động củacon người nhằm thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của họ thông qua trao đổi”.Với định nghĩa này, chúng ta có thể hình dung được điều cốt lõi nhất của Marketing
và mở rộng hơn nữa có thể thấy rằng Marketing còn có mặt ở nhiều lĩnh vực khác củađời sống xã hội
2 Phân tích nhu cầu tiêu dùng, hành vi tiêu dùng của khách hàng đối với sản phẩm sữa tắm Double Rich
Tiến vào Việt Nam với tư cách là dầu gội Hàn Quốc đầu tiên có mặt tại thịtrường đầy tiềm năng này, DOUBLE RICH như một làn gió mới len lõi vào tâm trícủa người tiêu dùng Việt Nam nhờ màu sắc chai nổi bật_ màu đỏ tươi, hương thơmđặc trưng & quyến rũ, thương hiệu DOUBLE RICH đã nhanh chóng có được chỗđứng trên thị trường
Mặc dù hiện nay đang dùng Double Rich là chính, một số khách hàng còn dùngsong song với một số nhãn hiệu khác như Dove, Lux và Enchanteur Khách hàngtrước khi chọn Double Rich làm nhãn hiệu chính hiện tại, đã từng chọn nhiều sảnphẩm khác làm nhãn hiệu chính trong quá khứ Trong đó chủ yếu là Dove, LuxEnchanteur Khách hàng tìm đến Double Rich vì nhãn hiệu cũ có những nhược điểmnhư : làm da bị nhờn, làm khô da, Nhưng bên cạnh đó, Double Rich cũng có những
ưu điểm để thu hút khách hàng như : có quảng cáo hay/ấn tượng, có mùi thơm phùhợp với mong đợi của khách hàng Thăm dò nhãn hiệu khách hàng dự định dùng trongtương lai, cho thấy có khoảng 23% dự định chuyển sang sử dụng nhãn hiệu khác Sau
Trang 8khi lựa chọn Double Rich làm nhãn hiệu chính thì khách hàng nhận thấy Double Rich
có những nhược điểm so với các sản phẩm khác là không thơm lâu, có sự thay đổi vềchất lượng Đặc biệt, trong số khách hàng chuyển nhãn hiệu từ thường dùng nhấttrước đây sang Double Rich có một số khách hàng chuyển sang với lý do là: muốndùng thử/đổi nhãn hiệu Nhưng một số khách hàng cũng rời bỏ Double Rich sangdùng nhãn hiệu mới trong tương lai cũng vì : muốn dùng thử/đổi nhãn hiệu
Khách hàng đánh giá Double Rich tương đối cao, tuy vậy nhãn hiệu này vẫncòn có khoảng cách so với mong đợi của khách hàng ở các thuộc tính : làm trắng da,làm sáng da, diệt khuẩn Để đo kiến thức sản phẩm, ta có thể tóm gọn trong 7 thànhphần là : Hương thơm, làm sạch, làm mịn da, làm trắng da, nuôi dưỡng da, giữ ẩm vàthuộc tính đặc biệt Khách hàng chủ yếu tin rằng : sản phẩm không làm da nhờn saukhi tắm, có chất lượng tốt, có hương thơm được nhiều người ưa thích và Double Rich
là loại sữa tắm giữ ẩm
2.2 Cảm xúc
Thành phần cảm xúc được đo bằng thang đo gồm 5 tiêu chí do Holbrook sửdụng Thang đo này cho kết quả phù hợp để đo cảm xúc của khách hàng Tiêu chí đầutiên - “thích”, cho thấy khách hàng thích sản phẩm, và thích vì sản phẩm có mùi, làm
da không nhờn, thơm lâu, làm mịn da, Tiêu chí thứ hai -“tốt”, khách hàng đánh giáDouble Rich là sản phẩm tốt, vì giữ ẩm, không gây hại cho da, không làm da nhờn,
Ở tiêu chí thứ ba -“đẹp/xấu”, khách hàng đánh giá là đẹp, nhưng cũng có một tỉ lệ nhỏkhông cho rằng Double Rich là đẹp Khách hàng xem sản phẩm đẹp vì sản phẩm có:chai vừa tay, dễ cầm, màu sắc đẹp, bao bì đẹp Những khách hàng xem Double Richxấu ở điểm: mẫu mã không có gì đặc biệt, màu sắc không nổi bật Tiêu chí thứ tư,đánh giá mức độ “hài lòng” của khách hàng, cho kết quả tốt là: khách hàng hài lòng
về sản phẩm Chủ yếu khách hàng hài lòng với mùi hương (dễ chịu), sản phẩm giúplàm mịn da, làm mát da Tiêu chí cuối cùng, đánh giá mức độ “ưa chuộng” củakhách hàng, Chỉ khoảng 62% khách hàng chuộng sản phẩm Nguyên nhân khách hàngchuộng là: sản phẩm có mùi hương dễ chịu, sản phẩm có được lòng tin của nhiềungười, có giá cả hợp lý
2.3 Hành vi
Trong giai đoạn tìm kiếm thông tin, khách hàng thường tiếp cận các kênhtruyền thông chính là: truyền hình, báo chí Truyền thanh cũng được khách hàng nghe,
Trang 9nhưng chưa nhiều Đặc biệt có sự xuất hiện của Internet Các kênh truyền hình thườngđược xem là HTV7, HTV9 và VTV3
Khách hàng thích xem các chương trình phim truyện, ca nhạc Đặc biệt có một
số chương trình được khách hàng nhớ và nêu rõ tên chương trình như: Vui để học,Hành trình văn hóa, Chiếc nón kỳ diệu Thời gian xem truyền hình chủ yếu từ 20h00trở đi Về báo chí, các loại báo khách hàng thường đọc là: báo Phụ Nữ, báo Tuổi Trẻ
và báo Sài Gòn Tiếp Thị Thường khách hàng đọc các số báo ra vào các ngày thứ Hai,thứ Tư và thứ Sáu
Đài truyền thanh tuy không được nghe nhiều, nhưng cũng có khoảng 30% đápviên cho biết họ có nghe đài phát thanh Kênh truyền thanh được ưa chuộng nhất là:kênh FM Tp.HCM, FM Việt Nam và FM Bình Dương Khách hàng nghe đài chủ yếu
ở các chương trình Ca nhạc, Thời sự Thời gian nghe đài thường là vào buổi tối từ20h00 trở đi và buổi sáng từ 7h00 đến 8h00 Kết quả về hình thức thông tin có ảnhhưởng đến quyết định mua cho thấy, các hình thức quảng cáo qua phương tiện truyềnthông như báo đài có tác động lớn đến việc chọn mua sản phẩm của khách hàng Mộthoạt động khác cũng giúp khách hàng tìm đến sản phẩm và được khách hàng đánh giáquan trọng là gửi mẫu để khách hàng dùng thử
Về quảng cáo, khách hàng cho rằng họ muốn xem những quảng cáo có tínhtrung thực, mẫu quảng cáo phải nêu đầy đủ thông tin về sản phẩm một cách rõ ràng dễhiểu và mẫu quảng cáo phải gây ấn tượng Kết quả khảo sát về tiêu chí để khách hàngchọn mua sản phẩm theo ba tiêu chí là: sản phẩm phải quen thuộc, an toàn, khi sửdụng thấy đáng giá tiền bỏ ra và không bị mất mùi Có sự thay đổi về tiêu chí chọnsản phẩm theo độ tuổi, độ tuổi từ 20-24 tuổi có xu hướng quan tâm đến thuộc tínhkhông mất mùi nhanh, độ tuổi 25-29 quan tâm đến nhãn hiệu có được đúng mùihương mà họ thích không, và độ tuổi 30-35 quan tâm đến việc sử dụng có đáng giávới đồng tiền bỏ ra không? Siêu thị là địa điểm mà khách hàng thường đến để mua sảnphẩm nhất Khách hàng ra quyết định mua dựa trên cảm tính/sự ưa thích của mình làchính Đồng thời họ cũng có xu hướng ngửi thử kiểm tra sản phẩm và dựa trên vẻ bênngoài của sản phẩm
Các khách hàng ở độ tuổi từ 20 đến 24 và từ 30 đến 35 có xu hướng mua theocảm tính/ sự ưa thích nhiều hơn Khách hàng có độ tuổi từ 25 đến 29 thiên về kiểm trasản phẩm trước khi mua hơn Quyết định mua sản phẩm của các khách hàng thuộc
Trang 10tầng lớp kinh tế giàu nhất (loại A+) có thiên về việc thể hiện phong cách/tính cách củamình hơn Quyết định mua của các khách hàng ở tầng lớp giàu (loại A và loại B) thiên
về dạng ra quyết định dựa trên một số cảm tính/ sự ưa thích của họ hơn Riêng kháchhàng ở tầng lớp trung (loại C) có xu hướng kiểm tra sản phẩm/dựa trên vẻ bề ngoàisản phẩm trước khi mua
Về hành vi sau khi mua của khách hàng, có thể chia làm 4 nhóm hành vi là:trung thành, than phiền nội bộ, than phiền bên ngoài và chuyển đổi Khách hàng trungthành thường khen sản phẩm, giới thiệu người khác mua, yêu cầu người thân trong giađình mua, chọn những sản phẩm khác có cùng nhãn hiệu để mua Và đặc biệt là họsẵn sàng chi trả thêm để mua Khách hàng than phiền nội bộ có xu hướng than phiềnvới người thân, hoặc không làm gì cả Khách hàng than phiền ra bên ngoài có xuhướng than phiền đến nhà sản xuất và có xu hướng than phiền thông qua các cơ quanbảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Nhóm khách hàng chuyển đổi có đặc tính là khi gặpsản phẩm có chất lượng kém họ sẽ chuyển sang một sản phẩm khác có thể cùng nhãnhiệu hoặc có thể khác nhãn hiệu, với khả năng chuyển sang sản phẩm khác nhãn hiệucao hơn
2.4 Hành vi của người tiêu dùng
Từ những thông tin thu thập được về nhận thức, cảm xúc và hành vi của kháchhàng tiêu dùng, chúng ta có thể vận dụng để phục vụ cho việc lập kế hoạch tiếp thịchiến lược Các nhà tiếp thị có thể tác động vào thành phần cảm xúc nhằm đạt đượccảm tình của khách hàng, khơi gợi những tình cảm tích cực về nhãn hiệu
Hoặc có thể tác động vào thành phần nhận thức vào kiến thức về sản phẩm củakhách hàng, nhằm giúp khách hàng kiến thức để so sánh giữa các nhãn hiệu, qua đócung cấp những thông tin về những ưu điểm, những lợi thế của nhãn hiệu của mình.Các nhà tiếp thị cũng có thể tác động vào thành phần hành vi, đưa sản phẩm đến nơikhách hàng thường mua nhất, lựa chọn kênh truyền thông thích hợp nhất, thời giankhách hàng thường tiếp cận kênh truyền thông, Hoặc các nhà tiếp thị cũng có thể kếthợp để tác động từ hai đến toàn bộ các thành phần này
Trong phạm vi nghiên cứu này là cho sản phẩm Double Rich, các nhà tiếp thịcủa sản phẩm khi thực hiện tác động đến thành phần nhận thức có thể thực hiện cáchoạt động nhằm nâng cao các thuộc tính mà khách hàng đánh giá là còn có khoảngcách so với mong đợi của khách hàng là: làm trắng da, diệt khuẩn, Để tác động đến
Trang 11thành phần cảm xúc, các nhà tiếp thị cũng cần quan tâm đến mẫu mã hơn, đa dạng hóacác mùi hương để phục vụ yêu cầu về mùi hương của nhiều loại khách hàng khácnhau hơn Các nhà tiếp thị nên giới thiệu sản phẩm của mình ở các siêu thị nhiều hơn,
có những chương trình gửi mẫu dùng thử để có thu hút khách hàng
Trong việc lựa chọn kênh truyền thông thì nên chọn các kênh truyền hìnhHTV7, HTV9 và VTV3, và gửi đến khách hàng những mẫu quảng cáo trung thực, gây
ấn tượng Double Rich cũng nên phân khúc theo các độ tuổi, theo tầng lớp để cónhững sản phẩm phù hợp cho phân khúc Chẳng hạn như: có sản phẩm phục vụ chonhững người thuộc thành phần có chi tiêu lớn (loại A+) (là những người cần đếnnhững sản phẩm thể hiện bản thân họ)
3 Bản chất của Viral Marketing và khả năng ứng dụng cách thức marketing này đối với các sản phẩm sữa tắm Double Rich
3.1 Bản chất của Viral Marketing
Sự bùng nổ thông tin khiến các thương hiệu gặp khó khăn khi thu hút ngườitiêu dùng và các nhà quảng cáo đang tìm đến con đường mới: tạo chiến dịch được cưdân mạng tự tay phát tán như hiệu ứng lây lan của virus
Người sử dụng hiện nay có thể tắt banner trên trình duyệt, bỏ qua những trangtiếp thị trên báo giấy và chuyển kênh khi gặp quảng cáo trên TV Để thành công viralmarketing, các chuyên gia quảng cáo phải thực hiện được chiến dịch hấp dẫn đến mứcngười xem không những không bỏ qua mà còn chia sẻ cho bạn bè dưới các hình thứctruyền miệng, phát tán qua blog, mạng xã hội, tin nhắn nhanh, e-mail
Thuật ngữ viral marketing được giáo sư Jeffrey F Rayport ở Trường kinhdoanh Harvard (Mỹ) nhắc đến trong bài báo The Virus of Marketing (Quảng cáo kiểuvirus) trên tạp chí Fast Company vào tháng 12/1996 Thuật ngữ này sau đó được phổbiến rộng hơn nhờ Tim Draper và Steve Jurvetson, sáng lập công ty Draper FisherJurvetson, vào năm 1997
Viral marketing mô tả chiến thuật khuyến khích lan truyền nội dung tiếp thịđến những người khác Thông điệp truyền tải có thể là một video clip, truyện vui,flash game, e-book, phần mềm, hình ảnh hay đơn giản là một đoạn text Các nhànghiên cứu nhận thấy trung bình mỗi người có hơn 10 mối quan hệ mật thiết, khoảng
150 mối quan hệ xã hội và 500-1.500 các quan hệ lỏng lẻo khác Vì vậy, các nhà kinh
tế đánh giá viral marketing như một giải pháp mới cho ngành tiếp thị trước sự phổ
Trang 12biến của YouTube và trào lưu chia sẻ video trực tuyến Để đạt được hiệu quả cao vàtránh cảm giác đang xem quảng cáo, người thực hiện chiến dịch phải xây dựng nộidung thật tự nhiên, hài hước, chứa đựng những điều ngạc nhiên, thú vị khiến ngườixem thích thú đến mức muốn gửi ngay cho bạn bè Những chiến dịch này có thể gây
ra nhiều phản ứng trái chiều với đủ những khen - chê, thán phục - nghi ngờ nhưng vẫnđạt được mục đích ban đầu: càng nhiều người biết đến thương hiệu càng tốt
Giữa năm ngoái, clip về cú nhảy thần sầu của Bruno Kammerl đã thu hút 1,4triệu lượt xem trên YouTube trong chưa đầy 1 tuần Cộng đồng mạng sôi sục trướccâu hỏi: "Liệu Kammerl có thể nhảy xa đến thế không?" Sau đó vài ngày, logo củaMicrosoft xuất hiện trên website của Kammerl và công ty truyền thông MRM ở Đứcthừa nhận đây chỉ là một chiến dịch viral marketing được dàn dựng chu đáo nhằmquảng bá cho Microsoft Office Project 2007 Việc thực hiện các chương trìnhmarketing - đã tung ra clip độc đáo: một người đang quay video bằng smartphone thìđiện thoại bỗng nhiên biến mất nhưng anh này vẫn tiếp tục ghi hình và đố người xemanh ta đã làm thế nào Lập tức, chương trình thu hút đông đảo người tham gia giải đố
Hoặc công ty chuyên sản xuất máy xay sinh tố Blendtec giờ đây đã nổi tiếngvới cả giới công nghệ, đặc biệt là người sử dụng sản phẩm Appe, qua chiến dịch Will
it Blend - gây sốc cho người xem khi xay nát iPhone, iPad rồi quay video và tunglên mạng Tuy nhiên, cộng đồng tham gia viral marketing ở Việt Nam còn rất hiếm
Để phát triển và tìm kiếm những tài năng mới trong lĩnh vực này, một cuộc thi mangtên The Viral Challenge đã xuất hiện vào tháng 11/2010 do 2 công ty Eduwise vàClimax Interactive phối hợp tổ chức và Viện đào tạo BMG, ngân hàng ACB tài trợ.Cuộc thi dự kiến sẽ kéo dài từ tháng 11/2010 đến tháng 1/2011 Đội giành chiến thắng
sẽ nhận được những phần thưởng như tiền mặt, học bổng về marketing ứng dụng vàdigital marketing của trung tâm BMG và cơ hội được tuyển dụng vào ngân hàng ACB
Viral marketing là gì? Nó được định nghĩa dựa trên nguyên tắc lan truyềnthông tin, cũng tương tự như cách thức virus lan truyền từ người này sang người khácvới tốc độ cấp số nhân Giống như cách thức lan truyền của một con virus Hình thứcquảng cáo này bắt đầu từ giả thuyết một khách hàng luôn kể cho người khác nghe vềsản phẩm hoặc dich vụ của bạn mà khách hàng cảm thấy hài lòng khi sử dụng ViralMarketing mô tả chiến thuật khuyến khích một cá nhân nào đó lan truyền một nộidung tiếp thị, quảng cáo đến những người khác, tạo ra một tiềm năng phát triển theo
Trang 13hàm mũ sự lan truyền và ảnh hưởng của một thông điệp như những con vi rút Cácchiến dịch như vậy đã lợi dụng vào sự nhân rộng nhanh chóng để làm bùng nổ mộtthông điệp đến hàng ngàn, hàng triệu lần Nhưng để tạo ra một chiến dịch ViralMarketing có hiệu quả thì thật sự không dễ chút nào, bạn cần phải làm cho “virus” củamình là duy nhất, lôi cuốn, nó phải mang tính cá nhân và được truyền đi bằng sự cộngtác “đôi bên cùng có lợi”…
Marketing virus và quảng cáo virus là những thuật ngữ nhằm ám chỉ các kĩthuật marketing sử dụng những mạng xã hội sẵn có để tác động và làm tăng cường sựnhận biết nhãn hiệu của công chúng, thông quá các quá trình tự nhân bản của virus,tương tự như quá trình tự nhân bản của virus máy tính Biện pháp Marketing này cóthể là lời truyền miệng hoặc được trợ giúp bởi các ảnh hưởng của mạng Internet.Marketing virus là hiện tượng marketing tạo điều kiện và khuyến khích mọi ngườitruyền đi thông điệp marketing của chính công ty một cách tự nguyện và vô tình
Viral Marketing là một hình thức Marketing áp dụng trên một cộng đồng xã hộiđang hiện hữu nhằm mục đích tạo nhận biết cho khách hàng hoặc đạt được một mụctiêu trong kinh doanh nào đó Với phương pháp này nhà tiếp thị sẽ tạo được một hiệntượng trong xã hội bằng cách khuyến khích các đối tượng truyền tải thông điệp mộtcách "tự nguyện" Thông điệp chuyển tải có thể là một Video clip, câu chuyện vui,Flash game, ebook, software, hình ảnh hay đơn giản là một đoạn text Cho đến nay thìchưa có ai tổng kết có bao nhiêu loại hình Viral Marketing
3.2 Khả năng ứng dụng cách thức marketing này đối với các sản phẩm sữa tắm Double Rich
- Khơi gợi cảm xúc: Bất cứ một sản phẩm nào không hề khiến bạn biểu cảm thìkhông bao giờ có thể viral được, bởi khi cảm xúc được bộc lộ ra, mọi người xungquanh mới chú ý tới Do vậy, chẳng cần biết cảm xúc ấy là tích cực hay tiêu cực, hãylàm cho chúng được bộc lộ ra khi mọi người xem “sản phẩm” của bạn Các cảm xúckhiến nội dung được viral thường bao gồm: sự tức giận, sự lo lắng, sự thích thú, nỗi sợhãi và sự lãng mạn, bạn có thể tìm hiểu rõ hơn về cách khéo léo áp dụng đưa các cảmxúc này vào chiến dịch tại đây Hãy nhớ rằng, viral marketing phát triển hoàn toàndựa trên cảm xúc con người
- Nội dung phải thú vị và hữu dụng: Nội dung hữu dụng ở đây có nghĩa là, nộidung ấy có giá trị khiến đa số user chia sẻ tới cộng đồng Bạn hãy để ý xem các mẹo
Trang 14cứu chữa nhanh những người bị đột quỵ, hay phải làm gì nếu như bạn bị đau tim bấtngờ được hàng nghìn lượt chia sẻ Vậy, làm cách nào để tạo ra những content hữudụng? Câu trả lời là, hãy tự trả lời xem nội dung ấy có khiến độc giả muốn chia sẻ haykhông? Bởi, nếu họ sử dụng chúng và thu được thành quả bất ngờ, họ chắc chắn sẽnhớ tới bạn Không những vậy, content thú vị sẽ khiến người xem hào hứng Để tạo ra
sự thú vị, hãy tạo sự khác biệt bằng cách làm một điều gì đó thật bất ngờ Bạn có nhớvideo Giày tốt style đã làm mưa làm gió trên cộng đồng mạng xã hội Việt Nam suốtmột thời gian không? Đó chính là yếu tố bất ngờ - và video này chính là một trongnhững quảng cáo viral cực kì hiệu quả
- Đơn giản: Đơn giản là chìa khóa thành công trong viral marketing Trong tựnhiên, virus lan truyền rất nhanh dựa vào đặc tính nhân bản dễ dàng của chúng, vàđiều đó cũng đúng đối với chiến lược viral marketing Dự án của bạn- dù đó là mộtvideo hay website sắp ra mắt- thì cũng chỉ là công cụ chứa thông điệp mà thôi Đó là
lý do tại sao cần phải giữ ý tưởng ấy thật đơn giản và độc đáo Con người chỉ chia sẻnhững thứ mà họ cảm thấy có giá trị, do vậy, hãy để dự án của mình xứng đáng được
sẻ chia
- Hãy quảng cáo một cách khéo léo: Một trong những sai lầm lớn nhất mà cáccông ty thường mắc, đó là, họ nghĩ rằng viral marketing chỉ là quảng cáo mọi ngườichia sẻ cho nhau Trên thực tế, viral marketing nên là một câu chuyện hay hơn là việcthô thiển chèn tên thương hiệu bạn vào bất cứ nơi nào có thể, người dùng sẽ cảm thấykhó chịu, và dĩ nhiên họ không bao giờ muốn chia sẻ sự khó chịu đó cho bạn bè của
họ Bạn có nhớ quảng cáo Neptune làm mưa làm gió trên Facebook và TV dạo Tếtkhông? Đó là một ví dụ điển hình về sử dụng câu chuyện cảm động để viral sản phẩm
- Nội dung Viral trọng tâm: Nếu nghĩ rằng, có nội dung hay thì viral là điều tấtyếu - bạn hoàn toàn mắc sai lầm Việc bạn phải làm là tạo ra bước đệm để chính userviral nó Hãy xem những lưu ý dưới đây của chúng tôi để có những gợi ý cho chiếndịch viral của bạn:
+ Kết hợp viral marketing với các hình thức marketing khác như Marketing quamạng xã hội Post chúng lên Facebook Facebook có khả năng tăng traffic hơn bất kỳtrang mạng xã hội nào khác, gấp 7 lần so với Twitter, đặc biệt là với lượng ngườidùng Facebook lớn Pinterest đứng ở vị trí thứ 12 trong việc đẩy một lượng lớn traffic
từ site tới viral content Do đó, nếu bạn làm một Infographic, hãy thêm Pinterest