Trong công trình này, ông đã nêu lên tên khoa học chính xác cũng như số lượng của các chi và loài trong họ Lan của Việt Nam dựa trên các mẫu vật đã thu được và thời gian nghiên cứu liên
Trang 1-o0o -
LƯƠNG VIẾT HÙNG
GÓP PHẦN NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG CÁC LOÀI HỌ LAN (ORCHIDACEAE)
NHẰM ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, BẢO TỒN
ĐỐI VỚI MỘT SỐ LOÀI LAN CHỦ YẾU TẠI VƯỜN QUỐC GIA BẠCH MÃ, THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Tây, 2007
Trang 2-o0o -
LƯƠNG VIẾT HÙNG
GÓP PHẦN NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG CÁC LOÀI HỌ LAN (ORCHIDACEAE)
NHẰM ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, BẢO TỒN
ĐỐI VỚI MỘT SỐ LOÀI LAN CHỦ YẾU TẠI VƯỜN QUỐC GIA BẠCH MÃ, THỪA THIÊN HUẾ
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
TS Nguyễn Tiến Hiệp
TS Huỳnh Văn Kéo
Hà Tây, 2007
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam được đánh giá là một trong 16 nước có tính đa dạng sinh học cao trên toàn cầu với nhiều loài động, thực vật hoang dã quý hiếm và các hệ sinh thái đặc trưng Ở Việt Nam do sự khác biệt lớn về khí hậu từ vùng gần xích đạo tới vùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo nên
sự đa dạng về thiên nhiên và cũng do đó mà Việt Nam có tính đa dạng sinh học cao
Trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực thành lập hệ thống các Vườn quốc gia (VQG) và Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) rộng khắp trên cả nước song tình trạng suy thoái đa dạng sinh học vẫn là mối lo ngại của các nhà khoa học và toàn xã hội [5] Họ Lan là họ thực vật đa dạng nhất ở Việt Nam, cũng là họ có số lượng loài có nguy cơ đe doạ cao nhất, có
số loài tuyệt chủng cao nhất Nhiều loài Lan đang bị thu hái để bán làm cây cảnh và làm thuốc ở trong nước cũng như để xuất khẩu bất hợp pháp ra nước ngoài Chính điều này đã dẫn tới nhiều loài bị hiếm dần và đang bị đe dọa tuyệt chủng ngoài tự nhiên [1].
Bạch Mã là một trong những Vườn quốc gia của Việt Nam có tính đa dạng sinh học cao Rừng ở đây đặc trưng bởi hai kiểu rừng chính, đó là kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa á nhiệt đới, phân bố ở độ cao trên 900 m và kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới, phân bố ở độ cao dưới 900 m VQG Bạch Mã có vị trí địa lý là vùng chuyển tiếp của hai miền Bắc – Nam
Do đó, khu vực này chứa đựng những điểm đặc trưng riêng về hệ động thực vật Theo đánh giá gần đây nhất, VQG Bạch Mã có khoảng 1648 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó họ Lan vẫn được khẳng định là họ đa dạng nhất với 117 loài [17] Các loài thuộc họ Lan là những loài chỉ thị rất nhạy cảm với môi trường nên khả năng bị đe doạ rất cao trong sinh cảnh không mấy ổn định của khu vực
Trang 4Với đặc tính riêng của mình, là một Vườn quốc gia được bao bọc xung quanh với dân cư khá đông thuộc 9 xã và 2 thị trấn nằm trong vùng đệm, nên VQG Bạch Mã đã và đang chịu một sức ép khá lớn [22] Bên cạnh đó sự phát triển dân số làm tăng nhanh nhu cầu tiêu dùng mà nguồn tài nguyên thì có hạn, vì vậy đây là nguyên nhân làm cho Bạch Mã dễ bị de doạ, làm ảnh hưởng trực tiếp đến tính đa dạng sinh học nói chung và tính đa dạng sinh học
họ Lan nói riêng ở VQG Bạch Mã
Để góp phần quản lý bảo tồn tính đa dạng sinh học VQG Bạch Mã nói
chung, đa dạng họ Lan nói riêng, chúng tôi đề xuất đề tài: “Góp phần nghiên cứu đa dạng các loài họ Lan (Orchidaceae Juss.) nhằm đề xuất giải pháp quản lý, bảo tồn đối với một số loài Lan chủ yếu tại Vườn quốc gia Bạch
Mã, tỉnh Thừa Thiên Huế"
Trang 5Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Hiện nay, hệ Lan Việt Nam được đánh giá là một trung tâm đa dạng và đặc hữu rất quan trọng ở vùng Đông Nam Á Đặc biệt, Việt Nam được xem
là thiên đường của các loài Lan Hài [24] Lịch sử nghiên cứu về Lan Việt Nam gắn liền với lịch sử nghiên cứu các nước trong khu vực, đặc biệt là ba nước Đông Dương Các công trình nghiên cứu về Lan Việt Nam trước đây không thể tách rời khỏi các nghiên cứu trong khu vực
1.1 Lịch sử nghiên cứu Lan Đông Dương và Việt Nam
Người ta cứ tưởng rằng cây Lan được biết đến trước tiên ở châu Âu
qua bảng viết tay bằng chữ hy Lạp trong công trình “Xem xét cây cỏ”
(Enquiry into Plants) của Theophrastus (khoảng năm 370 – 285 trước công nguyên) Tuy nhiên, thực tế cây Lan được biết đến đầu tiên ở phương Đông Khổng Tử (551 – 479 trước công nguyên) sau khi đi chu du khắp thiên hạ, trên đường từ nước Vệ trở về nước Lỗ, thấy hoa Lan tươi tốt mọc chen với
cây cỏ ở nơi rừng sâu bèn than rằng: “Ôi, hoa Lan có mùi thơm vương giả,
nay tươi tốt một mình ở chốn sơn lâm, mọc xen lẫn với loài cỏ hoang dại, chẳng khác nào bậc hiền giả không gặp thời, đứng chung với bọn bỉ phu”
Đó là khúc “Y Lan Tháo” hay “U Lan Tháo” mà từ đó các bài thơ, phú, vịnh
về hoa Lan sau này của các thi nhân Trung Hoa đều ít nhiều bị ảnh hưởng
Cây Lan được biết đến đầu tiên ở Trung Hoa là Kiến lan (Cymbidium
ensifolium) [19]
Mặc dù biết đến sau nhưng ở phương Tây, Lan được chú ý trước hết là công dụng về dược liệu và vẻ đẹp của hoa Lan cùng các đặc tính về thực vật của nó mà sự khảo sát rất công phu tường tận và có hệ thống Theophrastus
Trang 6được xem là ông tổ của thực vật học và cũng có thể nói là cha đẻ của ngành học về Lan Orkis là chữ Hy Lạp đã được ông dùng để chỉ những cây Lan tìm thấy ở vùng Địa Trung Hải Đến thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, Dioscorides đã dùng chữ Orchis để mô tả hai loài Địa lan trong quyển sách
về dược liệu của ông và đã được Linnaeus công bố lại trong tác phẩm
“Species Plantarum” vào năm 1753 và sau đó được nhà thực vật người Pháp
Jussieu A.L chính thức đặt tên cho họ Lan - Orchidaceae Juss từ năm 1789
và tên này được sử dụng cho tới ngày nay [19]
Hệ Lan của Việt Nam rất đa dạng về mặt địa lý thực vật, các đại diện đều gặp trong cả 6 tiểu vùng địa lý thực vật khác nhau của Việt Nam: Tây Tạng - Vân Nam, Nam Trung Hoa, Bắc Đông Dương, Trung Trường Sơn, Nam Trường Sơn, Nam Đông Dương [1] và phân bố từ độ cao mực nước biển lên tới các độ cao khác nhau thuộc miền núi của Việt Nam Lan Việt Nam cũng rất đa dạng về môi trường sống và thường được chia thành 3 nhóm chính: nhóm loài sống bám trên cây (Phong lan), sống trên đất (Địa lan) và sống bám trên đá (Thạch lan) Tuy nhiên cũng có loài sống cả trên đá
và đất hay trên đất và bì sinh v.v…
Ở Việt Nam, có lẽ người đầu tiên nghiên cứu về cây Lan là vua Trần Anh Tông, nhà vua cho lập Ngũ Bách Lan Viên bên đồi Long Đỗ (nay là Vườn Bách Thảo Hà Nội), không những để sưu tầm, nuôi trồng Lan trong nước mà còn cả các nước lân bang như Campuchia, Lào và Trung Quốc
Năm 1790, Joao de Loureiro, người truyền giáo Bồ Đào Nha, nhà tự nhiên học đầu tiên nghiên cứu khu vực Đông Dương Những phát hiện của
ông được tóm tắt trong “Flora Cochinchinensis” được xuất bản ở Bồ Đào
Nha năm 1790 Sự ra đời cuốn sách, bao gồm các bản mô tả gốc của hơn 185 chi mới và 630 loài thực vật mới, đã gây nên chấn động trong giới các nhà thực vật châu Âu và là một sự kiện về thực vật có ảnh hưởng lớn trong thời
Trang 7gian này Sau đó 3 năm (1793), tác phẩm này lại được tái bản, những chi lớn
của họ Lan được biết đến nhiều như Aerides, Galeola, Phaius, Renanthera và
Thrixspermun được ông phát hiện và mô tả [24], [29] Năm 1826, Georg
Finlayson trong “Chuyến công tác đến Miến Điện và Huế” đã đề cập đến Lan
Việt Nam Năm 1837, Gaudichaud Beaupré, nhà thực vật học người Pháp trong chuyến vòng quanh thế giới đã ghé vào Đà Nẵng và sưu tập một số mẫu mang về Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Paris Năm 1861, Clovis Thorel đã sưu tầm ở quanh Sài Gòn, các mẫu vật đều được gửi về Bảo tàng Lịch sử tự nhiên
Paris [20]
Có thể thấy trong giai đoạn này, các công trình nghiên cứu về Lan đều
do các nhà thực vật người Pháp nghiên cứu và các mẫu vật được lưu trữ ở nước ngoài
Trong vòng 50 năm, từ năm 1880 – 1930 công cuộc sưu tầm Lan được thực hiện bởi các đoàn thám hiểm với sự tham gia của các nhà thực vật người Pháp và nhà sưu tầm Lan không chuyên nghiệp, chủ yếu là quân nhân Pháp Tất cả các mẫu vật đã được gửi về Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Paris, một số được giữ lại tại Đại học Đông Dương (nay là Đại học khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội) và Viện Sinh học nhiệt đới, TP.Hồ Chí Minh Trên cơ
sở các mẫu Lan đã thu được ở Đông Dương trong đó có Việt Nam, từ năm
1896 – 1913, Finet đã công bố hàng loạt bài báo liên quan về Lan ở Việt Nam Muộn hơn, từ 1929 – 1934, Gagnepain đã công bố 17 bài báo mô tả nhiều loài Lan mới đối với khoa học được phát hiện từ Đông Dương [20]
Công trình lớn về bộ “Thực Vật Chí Đông Dương” (Flore Générale de
l’Indochine) do Lecomte chủ biên công bố từ năm 1907 tới 1951 Trong công trình này Gagnepain đã mô tả 485 loài thuộc 96 chi Lan của Đông Dương [28] Một thời gian dài sau đó, năm 1992, trong công trình nghiên cứu toàn
bộ các loài Lan Đông Dương (The Orchids of Indochina), Seidenfaden đã
Trang 8công bố 800 loài thuộc 140 chi Lan ở Đông Dương trong đó 2 chi mới và 12 loài mới được đề nghị [31]
Các năm sau đó cũng có một vài công trình nghiên cứu có liên quan
đến họ Lan của Việt Nam Như “The Genus Paphiopedilum” của Phillip
Cribb có đề cập mô tả đến 11 loài và 2 thứ Lan hài ở Việt Nam [27] Năm
2000, Schuiteman A., de Vogel đã công bố 142 chi với 751 loài Lan của Lào,
Campuchia và Việt Nam [30] Một công trình lớn phải kể đến là “Cây Cỏ
Miền Nam Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ xuất bản năm 1972 và “Cây Cỏ Việt Nam” năm 1993, 2000 Trong các công trình này, ông đã thống kê 799
loài Lan thuộc 142 chi với mô tả ngắn gọn các thông tin khoa học kèm hình
vẽ minh họa [9], [10], [11]
Trong khoảng từ năm 1984 đến nay, một loạt các công trình của GS L V.Averyanov được công bố liên quan tới nghiên cứu Lan Việt Nam, đặc biệt
là phát hiện những loài Lan mới đối với khoa học, các loài Lan có nguy cơ bị
đe dọa và các loài mới bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam Tuy nhiên đó chỉ
là các công trình được công bố dưới dạng các bài báo khoa học Những công trình quan trọng nhất phải kể tới là: năm 1994, ông công bố cuốn sách
“Identification guide to Vietnamese orchids (Orchidaceae Juss.)” Trong
công trình này ông đã mô tả một số loài mới và kiểm kê được 718 loài thuộc
132 chi Lan của Việt Nam [23] Đây là công trình nghiên cứu lớn đầu tiên về Lan của Việt Nam trong giai đoạn mới
Năm 1990, Nguyễn Thiện Tịch & Lê Công Kiệt đã liệt kê 29 loài
thuộc 16 chi trong “Ghi nhận một số loài Lan tại Daklak”, trong đó, có loài
Arides crassifolia lần đầu tiên ghi nhận cho Việt Nam Từ năm 1992 – 1999,
Nguyễn Thiện Tịch đã ghi nhận thêm 33 loài Lan mới cho Việt Nam trong
công trình “Tìm Hiểu Hoa Lan”, trong đó có 7 loài được đề nghị là mới cho
khoa học Đến năm 2001, Nguyễn Thiện Tịch, trong công trình Lan Việt
Trang 9Nam đã kế thừa các công trình trước đây của tác giả về kỹ thuật trồng Lan,
mô tả các loài Lan mới, phổ biến kiến thức hoa Lan và cây cảnh để viết nên
công trình Công trình “Lan Việt Nam” không chỉ trình bày những hiểu biết
khoa học chuyên sâu về Lan mà còn phổ biến những kiến thức về trồng và chăm sóc Lan Đây là công trình không chỉ dành riêng cho các nhà nghiên cứu về Lan, mà nó còn là tài liệu có giá trị cho các nhà kinh doanh hoa Lan, các nhà sưu tầm Lan [20]
Năm 2003 trong “Trích yếu được cập nhật hóa về các loài Lan của
Việt Nam” (Updated checklist of the orchids of Vietnam), Leonid
V.Averyanov và Anna L.Averyanova đã công bố danh lục mới, kiểm kê được
897 loài thuộc 152 chi Lan đã biết ở Việt Nam Trong công trình này, ông đã nêu lên tên khoa học chính xác cũng như số lượng của các chi và loài trong
họ Lan của Việt Nam dựa trên các mẫu vật đã thu được và thời gian nghiên cứu liên tục tại Việt Nam Con số này mới chiếm khoảng 75 - 80% trong tổng
số 1000 - 1100 loài dự đoán [1] Điều này được chứng minh bằng sự phát hiện một chi mới và 17 loài Lan mới cho khoa học từ những nghiên cứu về
hệ thực vật Việt Nam trong thời gian từ năm 2000 tới 2004 và góp phần khẳng định Việt Nam là trung tâm đa dạng và đặc hữu Lan quan trọng ở vùng Đông Nam Á [25] Hệ Lan của Việt Nam có 10 chi giàu loài nhất là:
Dendrobium, Bulbophyllum, Eria, Habenaria, Coelogyne, Liparis, Oberomia, Cymbidium, Calanthe, và Cleisostoma Mỗi chi có từ 20 tới 107
loài Số loài của 10 chi đó chiếm 49,9% tổng số loài Lan đã biết ở Việt Nam [1] Bên cạnh đó, một công trình chuyên khảo quan trọng của các tác giả
Averyanov, Phillip Cribb, Phan Kế Lộc & Nguyễn Tiến Hiệp về “Lan hài
Việt Nam” đã mô tả 18 loài mọc tự nhiên và 4 loài lai tự nhiên, còn 5 loài lai
tự nhiên khác vẫn còn chưa được khẳng định chắc chắn đã được liên tục công
bố bằng tiếng Anh và tiếng Việt vào các năm 2003- 2004 Cuốn sách đã trình
Trang 10bày chi tiết về địa chất, khí hậu và thảm thực vật Việt Nam với tất cả tính đa dạng nổi bật của chúng Phần trọng tâm của cuốn sách dành cho việc tổng kết toàn diện về lịch sử, danh pháp và các mối quan hệ của tất cả 22 loài và dạng lai tự nhiên phát hiện ở Việt nam Như vậy, có thể nói, Việt Nam thật sự là thiên đường của Lan Hài Cuốn sách còn trình bày chi tiết về nơi sống, các đặc điểm sinh học và sinh thái học của chúng, mối đe doạ bị tuyệt chủng của phần lớn loài Cuốn sách đã đóng góp đáng kể cho những hiểu biết của chúng
ta về tính đa dạng của thực vật Việt Nam [24] Gần đây nhất Nguyễn Tiến Bân, Averyanov L & Dương Đức Huyến đã công bố họ Lan của Việt Nam
trong “Danh lục các loài Thực vật Việt Nam” tập 3 và thống kê được 865 loài
thuộc 154 chi Lan ở Việt Nam [2]
1.2 Bảo tồn đa dạng sinh học trên Thế giới và Việt Nam
Vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học nói chung, đa dạng các loài Lan nói riêng đã trở thành một chiến lược sống còn trên toàn thế giới Thật vậy, đa dạng sinh học có rất nhiều giá trị trong đời sống tự nhiên và con người Theo
J McNeely và cộng sự thì giá trị đó được thể hiện như sau:
- Các hệ sinh thái của trái đất là cơ sở sinh tồn của sự sống cho cả trái đất và
cả con người Các hệ sinh thái đảm bảo các vòng tuần hoàn của oxy và các nguyên tố dinh dưỡng khác trên toàn hành tinh Chúng duy trì tính ổn định và
sự màu mỡ của đất nói riêng hay của hành tinh nói chung Các hệ sinh thái bị suy thoái thì tính ổn định và sự mềm dẻo của sinh quyển cũng bị thương tổn
- Các hệ sinh thái tự nhiên có giá trị thực tiễn rất cao: rừng hạn chế sự xói mòn của mặt đất và bờ biển, điều tiết dòng chảy, thanh lọc cặn bã làm cho dòng chảy trở nên trong lành; các bãi cỏ biển, rạn san hô ở thềm lục địa làm giảm cường độ huỷ hoại của sóng, dòng biển, là nơi nuôi dưỡng và duy trì cuộc sống cho hàng vạn loài sinh vật biển
Trang 11- Duy trì và cung cấp nguồn gen cho cây trồng và vật nuôi cho tương lai
- Nhiều loài động thực vật được con người sử dụng làm thức ăn cho mình và cho gia súc, làm thuốc, lấy gỗ, đốt để lấy năng lượng, làm cảnh Hiện tại người ta đã thống kê được 30.000 loài cây có những phần ăn được, nhưng chỉ mới khoảng 7.000 loài được trồng hoặc thu hái làm thức ăn, trong đó 20 loài
đã cung cấp 90% lượng tinh bột trên toàn thế giới
- Sinh vật trong quá trình tiến hoá đã tồn tại và phát triển một cách hài hoà với nhau, tạo nên một thiên nhiên phong phú và hấp dẫn, làm nền tảng cho
mọi cảm hứng về thẩm mỹ, nghệ thuật và văn hoá của con người
Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời để hướng dẫn, giúp đỡ, tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học trên phạm vi toàn cầu Đó là Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), Chương trình môi trường của Liên hợp quốc - Trung tâm theo dõi bảo tồn thế giới (UNEP - World Conservation Monitoring Centre), Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên (WWF), Quỹ Môi truờng Toàn cầu (GEF), Trung tâm theo dõi Bảo tồn Thế giới (WCMC), Trung tâm Bảo tồn Thực vật (CPC)
Năm 1990, WWF đã cho xuất bản một ấn phẩm nói về tầm quan trọng của đa dạng sinh học IUCN, UNEP, WWF phối hợp xây dựng chiến lược bảo tồn thế giới; hay WRI, IUCN, WWF đưa ra chiến lược đa dạng sinh học toàn cầu
Năm 1991, WRI, WCU, WB, WWF xuất bản cuốn bảo tồn đa dạng sinh học thế giới hoặc IUCN, UNEP, WWF xuất bản cuốn “Hãy cứu lấy trái đất” Cùng năm, WRI , IUCN, UNEP xuất bản cuốn “Chiến lược đa dạng sinh học và chương trình hành động”
Tất cả các cuốn sách đó nhằm hướng dẫn và đề ra các phương tiện để bảo tồn đa dạng sinh học, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và phát triển trong tương lai
Trang 12Năm 1966, IUCN đã công bố Sách Đỏ thế giới (Red Data Book) trong
đó có phần thực vật Tài liệu này đã gây được sự chú ý của các chuyên gia, các chính phủ và các tổ chức phi chính phủ Sau đó nhiều nước, nhiều vùng cũng đã xây dựng Sách Đỏ của mình hay những tập hướng dẫn ghi chép các loài hiếm và nguy cơ tuyệt chủng cao
Sách Đỏ (Red Data Book), Danh mục Đỏ (Red List) được xem là những tài liệu có tính chất quốc gia và mang ý nghĩa quốc tế, công bố các loài động thực vật thuộc loại quí hiếm ở mỗi nước và trên toàn thế giới đang
bị đe doạ giảm sút số lượng hoặc đã có nguy cơ bị tuyệt chủng cần được bảo
vệ, phục hồi và phát triển Đây là cơ sở khoa học, tạo cơ sở pháp lý cho việc
đề xuất, quyết định các biện pháp bảo vệ, phục hồi đối với từng đối tượng thuộc loại này, đồng thời cũng là căn cứ để xử lý các hành vi phá hoại thiên nhiên, gây tác hại cho sự tồn tại, phát triển của các loài sinh vật cần được bảo
vệ trong hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên sinh vật ở mỗi nước
Năm 1978, IUCN đã đưa ra các mức độ đe doạ để đánh giá loài, song các mức độ đó khá đơn giản và không truyền đạt đủ thông tin cần thiết cho người đánh giá và sử dụng Các mức độ đó là:
- Ex (Extinct) - Tuyệt chủng: Loài đã không còn tìm thấy sau nhiều lần tìm kiếm ở các vùng đã biết hoặc các vùng tương tự
- E (Endangered) - Nguy cấp: Các loài có nguy cơ tuyệt chủng và sự tồn tại
bị đe doạ nếu các yếu tố gây hại tiếp tục xảy ra
- V (Vulnerable) - Sắp nguy cấp: Các loài có khả năng trở nên nguy cấp trong tương lai gần nếu các yếu tố gây hại tiếp tục tồn tại
- R (Rare) - Hiếm: Loài có các quần thể nhỏ, chưa bị đe dọa, song có hiểm hoạ bị đe dọa
- T (Threatened/indeterminate): Các loài hay xuất xứ bị đe doạ song chưa đủ thông tin để xếp chúng vào cấp nào trong số 4 cấp trên
Trang 13Năm 1994, IUCN đã sử dụng một số nguyên tắc mới để xác định tình trạng các loài bị đe doạ Năm 1996, danh mục mới được bổ sung những chi tiết cụ thể về tình trạng các loài và phân chia theo các cấp độ sau:
- EX (Etxinct) – Tuyệt chủng hoàn toàn
- EW (Extinct in the wild) – Đã bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên
- CR (Critical endangered) – Đang bị tuyệt chủng trầm trọng
- EN (Endangered) – Đang bị tuyệt chủng
- VU (Vulnerable) – Sắp bị tuyệt chủng
- LR (Lower risk) - Ít nguy cấp
Cả 3 loại CR, EN, VU đều có thể gọi chung là những loài hoặc phân loài bị
đe doạ và có nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên cao
Các loài hoặc các phân loài thuộc hạng mục ít nguy cấp có thể chia thành các hạng mục nhỏ hơn như sau:
+ CD (Conservation dependent) - Phụ thuộc bảo tồn
+ NT (Near threaten) - Gần bị tuyệt chủng
+ LC (Least concern) - Ít liên quan
+ DD (Data deficient) - Thiếu dữ liệu
+ NE (Not evaluated) - Chưa đánh giá
Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã (Công ước CITES) ra đời năm 1973 tại Washington với 13 thành viên ban đầu Hiện nay, số thành viên tham gia vào công ước này đạt con số 158 quốc gia Công ước CITES là công cụ, khuôn mẫu nhằm ngăn chặn nạn buôn lậu quốc tế các loài động thực vật đang nguy cấp Họ Lan (Orchidaceae) là họ thực vật được công ước CITES quan tâm nhất vì giá trị thương mại của chúng, có số loài lớn nhất được công ước CITES đưa vào Phụ lục I và Phụ lục II [4]
Trang 14Trên những quan điểm bảo tồn đa dạng sinh học nêu trên, Việt Nam đã
có chính sách và hành động tích cực góp phần thực hiện chương trình bảo tồn
đa dạng sinh học trên phạm vi toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng
Việt Nam được đánh giá là một trong 16 nước có tính đa dạng sinh học cao trên toàn cầu với nhiều loài động, thực vật hoang dã quý hiếm và các hệ sinh thái đặc trưng Theo dự đoán của các nhà thực vật học, số loài thực vật
có mạch ít nhất sẽ lên đến 12.000 loài, trong đó có khoảng 2.300 loài đã được nhân dân ta dùng làm nguồn lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thức
ăn cho gia súc, lấy gỗ, tinh dầu và nhiều nguyên vật liệu khác [16]
Để bảo tồn tài nguyên của đất nước, ngay từ năm 1991, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được ban hành và đến năm 1993 thì Luật Bảo vệ Môi trường
ra đời Tiếp đó một loạt văn bản pháp quy được ban hành để bảo vệ các loài quý hiếm: Nghị định số 18/HĐBT qui định danh mục động vật, thực vật rừng quý hiếm và chế độ bảo vệ (1992); Chỉ thị số 130/TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý bảo vệ động vật, thực vật rừng quý hiếm (1993); Chỉ thị 283/TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện biện pháp cấp bách để quản lý gỗ quý hiếm (1993); Nghị định 48/CP sửa đổi và bổ sung danh mục động vật, thực vật rừng quý hiếm được ban hành theo Nghị định 18/HĐBT (2002), sau đó 4 năm, Nghị định 32/2006/NĐ-CP được ban hành trên cơ sở sửa đổi và bổ sung của NĐ 48/CP Nghị định 32/2006/NĐ-CP thay thế Nghị định số 18/HĐBT ngày 17 tháng 01 năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng quy định danh mục động vật, thực vật rừng quý hiếm và chế độ quản lý bảo vệ và Nghị định số 48/2002/NĐ-CP ngày 22 tháng 4 năm 2002 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung danh mục thực vật, động vật hoang dã quý hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 18/HĐBT Đây là công cụ pháp luật của nhà nước nhằm hạn chế, răn đe các hành vi khai thác các loài động thực vật rừng, trong đó có các loài Lan có nguy cơ đe doạ cao Trong nhóm IA của danh mục đã liệt kê
Trang 15tất cả các loài Lan kim tuyến (Anoectochilus spp.), các loài Lan hài (Paphiopedilum spp.) Trong nhóm IIA, danh mục thực vật của Nghị định đề cập 2 loài cần được bảo vệ: Thạch học (Dendrobium nobile), Lan một lá (Nervilia sp.) (Nghị định 32/2006/NĐ) [8]
Năm 1996, với sự nỗ lực của các nhà khoa học, Sách Đỏ Việt Nam ra đời Phần thực vật ghi nhận 356 loài thực vật, trong đó bao bồm 35 loài của
họ Lan thuộc loại quý hiếm của Việt Nam từ thực vật bậc thấp đến thực vật bậc cao cần được bảo vệ theo các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài như sau:
- Các cấp đánh giá chính:
1 Endangered (E) – Đang nguy cấp (đang bị đe doạ tuyệt chủng)
2 Vulnerable (V) - Sẽ nguy cấp (có thể bị đe doạ tuyệt chủng)
3 Rare (R)- Hiếm (có thể sẽ nguy cấp)
- Các cấp đánh giá khác:
+ Threatened (T) - Bị đe doạ
+ Insufficiently known (K) - Biết không chính xác
Song song với việc đánh giá tình trạng đe doạ của các loài thực vật theo các cấp độ nguy cấp của mỗi loài, Sách Đỏ Việt Nam còn mô tả, giới thiệu các đặc điểm sinh học, sinh thái, vùng phân bố, giá trị sử dụng, tình trạng bảo tồn và đề nghị các biện pháp bảo vệ [3]
Để bảo tồn các quần thể động thực vật quý, hiếm, có nguy cơ đe doạ tuyệt chủng và các hệ sinh thái rừng đặc trưng của Việt Nam, trong những năm gần đây, nhà nước đã quyết định thành lập 30 VQG với tổng diện tích
910.709 ha và rất nhiều KBTTN trên toàn quốc (nguồn: Cục Kiểm lâm,
2006)
Trong những năm vừa qua, nhiều công trình nghiên cứu đánh giá đa dạng sinh học cho các VQG và các KBTTN làm cơ sở cho việc hoạch định
Trang 16các chính sách bảo tồn ngay tại cơ sở như: công trình của Phan Kế Lộc (1986) về cấu trúc hệ thực vật ở Cúc Phương; Nguyễn Nghĩa Thìn (1992 – 1994) về đa dạng thực vật Cúc Phương; Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự, từ năm 1995 – 2002, đã công bố nhiều bài báo về đa dạng thành phần loài ở VQG Cúc Phương, vùng núi đá vôi Hoà Bình, KBTTN Na Hang, khu mỏ vàng ở Bồng Miêu (Tam Kỳ, Quảng Nam), lưu vực sông Đà, các VQG Cát
Bà, Bến En, Cát Tiên, Pù Mát, Phong Nha, Ba Bể, Yôk Đôn Đặc biệt, công trình của tập thể tác giả Leonid Averyanov, Phillip Cribb, Phan Kế Lộc và
Nguyễn Tiến Hiệp về “Lan Hài Việt Nam” công bố năm 2004 [24], đã nâng
tổng số Lan Hài Việt Nam là 22 loài Cuốn sách đã nhấn mạnh đến mối đe doạ bị tuyệt chủng của phần lớn loài, nêu lên các biện pháp cấp thiết sắp tới
để bảo vệ tất cả những gì còn lại Đây là những thông tin khoa học quý giá giúp cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách có những định hướng trong chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và bảo tồn các loài Lan Hài nói riêng của Việt Nam
Cùng với sự phát triển của đất nước, công tác bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học đã được Đảng và Nhà nước rất chú trọng Chỉ thị 36/CT-TW ngày 25/6/1998 về tăng cường công tác bảo vệ môi trường
trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đã ghi rõ: “Mở rộng
diện tích các khu bảo tồn động thực vật hoang dã, các vườn quốc gia, bảo vệ
đa dạng sinh học” Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX đã
chỉ ra phương hướng, nội dung cụ thể về nhiệm vụ quản lý và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học
1.3 Lịch sử nghiên cứu Lan tại Vườn quốc gia Bạch Mã
Việc nghiên cứu về hệ thực vật ở VQG Bạch Mã đã được quan tâm nghiên cứu từ lâu dưới thời Pháp thuộc Năm 1925 đã có một dự án thành lập
Trang 17VQG Bạch Mã với diện tích 50.000 ha được đề trình lên Bộ thuộc địa Pháp Bên cạnh đó các tài liệu viết về thực vật Bạch Mã, phải kể đến các công trình của Lecomte 1907-1952, trong đó tác giả đã thu thập khá nhiều mẫu thực vật của vùng Bạch Mã với các địa danh nổi tiếng như Thừa Lưu, Hải Vân, Bạch
8 loài cần phải được bảo vệ theo NĐ 18/HĐBT và 26 loài được ghi vào SĐVN Một đề nghị tập trung vào việc bảo vệ các loài bị đe doạ này trong thời gian 3 năm tới đã được đề ra, trong đó cần lưu ý các loài đặc hữu [7]
Trong báo cáo của các công trình trên, hầu như các loài Lan không được nhắc đến, chúng chỉ hiện diện trong các danh lục chỉ để làm tăng số lượng loài trong khu vực
Đến năm 1998, Mai Văn Phô và Nguyễn Hoàng Lộc đã cho đăng bài
“Tính đa dạng về thành phần loài của họ Lan (Orchidaceae Juss.) ở Vườn
Quốc gia Bạch Mã” trên tạp chí Sinh học số 20 với kết quả điều tra xác định
được 83 loài thuộc 40 chi của họ Phong lan, trong đó có 3 loài được ghi vào
SĐVN: Giải thùy sapa (Anoectochilus chapaensis), lan Cầu diệp hiệp (Bulbophyllum hiepii), Hoàng thảo hương thơm (Dendrobium amabile)
Ngoài ra các tác giả đề nghị bảo vệ, phát triển một số loài có giá trị như: Vân
hài (Paphiopedium callosum), Nhất điểm hồng (Dendrobium draconis),
Trang 18Hoàng thảo xoắn (Dendrobium tortile), Quế lan hương (Aerides odorata), Hạc đính vàng (Phaius flavus) [15]
Năm 2001, Huỳnh Văn Kéo đã tổng hợp, hệ thống các nghiên cứu điều
tra động, thực vật của VQG Bạch Mã và cho xuất bản công trình “Vườn
quốc gia Bạch Mã - Bach Ma National Park”, đây là tài liệu đầu tiên giới
thiệu một cách tổng quan nhất về Vườn cũng như công tác quản lý, bảo tồn
và phát triển Vườn Tác giả đã thống kê được 1406 loài thực vật, trong đó có
30 loài thực vật có nguy cơ bị suy thoái được đưa vào Sách đỏ Việt Nam (SĐVN) Một số loài Lan đẹp đã được giới thiệu kèm hình ảnh [12]
Cùng trong năm này Huỳnh Văn Kéo, Trần Thiện Ân, Trần Khắc Bảo
đã hoàn thành công trình “Đa dạng sinh học cây thuốc vườn quốc gia Bạch
Mã, Thừa Thiên - Huế” Trong tác phẩm đó tập thể tác giả đã công bố danh
sách 334 loài cây thuốc có trong vườn cũng như các bài thuốc, thành phần sử
dụng của chúng Các loài Lan như Kim tuyến sapa (Anoetochilus
chapaensis), Kim tuyến (Anoectochilus roxburghii) có khả năng chữa bệnh
và được khuyến cáo bảo vệ [13]
Năm 2003, Nguyễn Nghĩa Thìn & Mai Văn Phô trong công trình
nghiên cứu “Đa Dạng Sinh Học Hệ Nấm Và Thực Vật Vườn Quốc Gia Bạch
Mã” đã công bố khoảng 1648 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó họ Lan
vẫn được khẳng định là họ đa dạng nhất với 117 loài [17] Năm 2004, dựa trên cơ sở của Danh lục thực vật VQG Bạch Mã công bố năm 2003, trong Luận văn Thạc sĩ của mình, Ngô Viết Nhơn đã thống kê tất cả loài thực vật đang bị đe doạ ở VQG Bạch Mã và đề xuất các biện pháp bảo tồn, trong đó cũng đã đề cập đến một số loài Lan có nguy cơ đe doạ trong khu vực [14]
Tuy nhiên các đề tài đã thực hiện ở VQG Bạch Mã chỉ mới dừng lại ở việc mô tả, đánh giá tổng quát tình hình tài nguyên đa dạng sinh học và đề
xuất các giải pháp mang tính "vĩ mô", chưa đi sâu nghiên cứu, chưa đề xuất
Trang 19được các giải pháp cụ thể cho từng đối tượng cụ thể Một hạn chế rất lớn là các danh lục thực vật (bao gồm cả họ Lan) của VQG Bạch Mã chưa có danh lục nào nêu lên mẫu nghiên cứu làm bằng chứng cho mỗi loài Vì vậy, mục tiêu nghiên cứu của đề tài là góp phần làm chính xác và hoàn thiện thành phần loài Lan của VQG Bạch Mã (với Danh lục có mẫu bảo đảm) và đi sâu nghiên cứu về các đối tượng cụ thể trong họ Lan nhằm đề xuất các giải pháp bảo tồn cụ thể nhất, hiệu quả nhất đến trực tiếp lực lượng quản lý bảo vệ rừng trong khu vực góp phần quản lý bảo tồn tính đa dạng sinh học thực vật VQG Bạch Mã nói chung, đa dạng họ Lan nói riêng
Đề tài nếu được thực hiện sẽ hướng những nghiên cứu tiếp theo tập trung vào các nội dung: kiểm kê chính xác thành phần các loài Lan; nghiên cứu đặc điểm sinh thái, sinh học, tình trạng bảo tồn của một số loài Lan bị đe dọa tuyệt chủng, đặc biệt là các loài nằm trong sách đỏ Việt Nam và nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30 tháng 3 năm 2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Kết quả của những nghiên cứu trên chắc chắn sẽ làm phong phú thêm sự hiểu biết về Lan ở VQG Bạch
Mã nói riêng và Lan Việt Nam nói chung, đề xuất các biện pháp cụ thể để bảo tồn và phát triển bền vững hệ Lan tại VQG Bạch Mã, góp sức vào công cuộc bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam và Thế giới
Trang 20Chương 2
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý
VQG Bạch Mã với tổng diện tích tự nhiên là 22.031 ha nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Thừa Thiên - Huế, giữa 2 thành phố Miền Trung Việt Nam là Huế và Đà Nẵng, thuộc hai huyện Phú Lộc và Nam Đông bao gồm các xã: Lộc Điền, Lộc Trì (Phú Lộc); Huơng Phú, Hương Lộc, Thượng Lộ (Nam Đông)
từ 1200 m đến 1450 m như Động Truồi cao 1170 m, Động Nôm 1208 m
Đặc điểm chung của Bạch Mã là sườn hơi lồi và có độ dốc lớn (150 đến 450), nhưng tập trung phần lớn là có độ dốc từ 260 - 350 Phía Bắc và Đông Bắc lên đến trên 450 là vùng có địa hình hiểm trở nhất của Bạch Mã, phía Nam và Tây Nam ít dốc hơn
VQG Bạch Mã có địa hình bị chia cắt sâu mạnh bởi nhiều hệ thống sông lớn nhỏ: phía sườn Đông là sông Cầu Hai; Bắc và Tây Bắc là sông Truồi độ chia cắt sâu từ 300 m - 500 m; phía Nam và Tây Nam là sông Tả
Trang 21Trạch mức độ chia cắt yếu hơn từ 100 m - 300 m Tuy nhiên có nhiều nơi độ chia cắt sâu rất lớn, có khi lên đến 700 m - 800 m
Do các dãy núi cao, kéo dài từ Tây sang Đông nên Bạch Mã như một bức tường chắn gió, vào mùa Đông chắn gió Đông Bắc mang một lượng hơi nước rất lớn cho nên lượng mưa ở đây cao trung bình năm khoảng 3.000 mm, nhưng có năm cao nhất lên đến 8000 mm Do vậy mật độ sông tuơng đối lớn khoảng 2.000 m/km2
2.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng
Theo nhà địa chất người Pháp Fromaget (1952) thì Bạch Mã là một khối núi thuần nhất thuộc đơn vị cơ cấu Indonesia, nền địa chất cơ bản là đá Granit Phía Tây Bắc khu vực dọc theo chân núi Truồi có nền đá sa thạch đỏ thuộc kỷ Đề-vôn của đại Cổ sinh Ở độ cao trên 900m có đất Feralit vàng phát triển từ đá Granit và do nhiệt độ thấp nên quá trình phân huỷ chậm tạo ra tầng thảm mục khá dày Đai dưới 900m chủ yếu là đất Feralit vàng hay vàng
đỏ, ở đây độ dốc lớn nên hầu hết đất có độ dày trung bình hay mỏng Ở các thung lũng có đất bồi tụ ven sông, suối, đất ở đây tốt, tầng dày
2.1.4 Khí hậu, thuỷ văn
Nhiệt độ trung bình hàng năm của khu vực là 24,5 độ C, ở đai cao trên
900 m nhiệt độ bình quân biến động về mùa hè từ 18 độ C - 23 độ C Lượng mưa bình quân hàng năm 3441,9 mm, thay đổi từ 2.440 mm - 3.000 mm, cá biệt có những năm lên tới 7.977 mm [21] Đây là một đặc điểm quan trọng cùng với hệ thống sông suối dày đặc, trong đó các nhánh đầu nguồn của sông Hương, sông Truồi là nguồn cung cấp, dự trữ nước cực kỳ quan trọng cho các
xã vùng đệm cũng như thành phố Huế
Sự phân biệt hai mùa không rõ rệt hay có thể nói hầu như không có 2 mùa như các vùng khác Thời gian mưa tập trung nhiều nhất bắt đầu từ tháng
Trang 225 và kết thúc vào tháng 12 Các tháng khác đều có lượng mưa lớn trừ tháng 3 hàng năm (mưa dưới 50 mm) Độ ẩm bình quân hàng năm là 84%, tháng cao nhất là 90 - 91% (tháng 11 - 12) Ở khu vực hàng năm chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và Tây Nam Khí hậu vùng này là khí hậu gió mùa, có
mùa Đông hơi lạnh, mưa Hè - Thu - Đông, thời kỳ khô 0,1 - 1,0 tháng [21]
2.1.5 Tài nguyên rừng
Với vị trí địa lý tương đối đặc biệt, nằm ở miền Trung Việt Nam, là phần cuối của dãy Trường Sơn Bắc, địa hình có nhiều dãy núi cao chia cắt thấp dần ra biển (có nhiều đỉnh núi cao trên 1000 m), lại là nơi chuyển tiếp của hai luồng khí hậu Bắc - Nam, Bạch Mã có tính Đa dạng sinh học cao Có hai kiểu rừng chính:
- Rừng kín thường xanh mưa mùa á nhiệt đới trên núi: kiểu này phân
bố ở độ cao trên 900m Do hậu quả của chiến tranh nên kiểu rừng này không còn dạng nguyên sinh mà chỉ còn hai trạng thái: rừng nghèo và rừng phục hồi Những cây gỗ chiếm ưu thế chủ yếu thuộc các họ Chè (Theaceae), Dẻ (Fagaceae), Kim giao (Podocarpaceae), Long não (Lauraceae), Côm
(Elaeocapaceae) Các loài thường gặp như Hoàng đàn giả (Dacrydium
elatum), Chắp tay (Bucklantia purpunea), Thông tre (Podocarpus neriifolius), Dẻ (Lithocarpus spp., Quercus spp.), Côm (Elaeocarpus spp.)
Đặc biệt, Hoàng đàn giả tạo thành quần thụ bao quanh các đỉnh núi
- Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới phân bố ở những độ cao dưới 900 m, gồm 4 trạng thái: rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo và rừng non phục hồi Hệ thực vật ở đây rất phong phú và đa dạng, chiếm ưu thế
ở tầng cây gỗ lớn (tầng vượt tán) là các cây thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae),
kế đến là các cây thuộc họ Đậu (Fabaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Trôm (Sterculiaceae), họ Xoài (Anacardiaceae), họ Long não (Lauraceae)
Trang 23Hệ động thực vật ở VQG Bạch Mã rất đa dạng và phong phú Qua một cuộc điều tra rộng lớn để lập danh lục về thực vật các vùng nhiệt đới trên toàn cầu, Schimid đã coi Bạch Mã là một trong 9 vùng rất có giá trị ở Đông Dương, đặc biệt là thực vật Các loài ở đây có đặc tính là sự hỗn giao giữa hệ
thực vật Nam Trung Hoa và Himalaya Trong Kế hoạch Hành động Đa dạng
sinh học của Việt Nam, VQG Bạch Mã được xem là một trong sáu khu vực
để bảo tồn đa dạng thực vật Ngoài ra Bạch Mã là một trong 7 khu vực tập
trung các loài quý hiếm đang có nguy cơ bị đe doạ Qua kết quả điều tra của
các nhà khoa học trong và ngoài nước, số lượng loài thực vật ở VQG Bạch
Mã đã tăng từ 501 loài lên tới hơn 1400 loài, trong đó có hai loài là phát hiện
mới cho khoa học: Côm Bạch Mã (Elaeocarpus bachmaensis), Chìa vôi Bạch
Mã (Cissus bachmaensis) và rất nhiều loài quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng
cần được bảo tồn Tổng số loài thực vật ở Bạch Mã ước tính có thể lên tới
2500 loài Bên cạnh đó VQG Bạch Mã còn là nơi chuyển tiếp về mặt địa lý,
khí hậu 2 miền Nam - Bắc Việt Nam nên tính đa dạng sinh học còn thể hiện
sự pha lẫn phong phú đặc trưng của cả 2 miền
Về mặt nguồn gốc hệ thực vật, khu vực VQG Bạch Mã có nhiều loài
bản địa, một số loài chỉ gặp ở khu vực này như Dầu has-sel (Dipterocarpus
hasseltii), Dầu đọt tím (Dipterocarpus grandiflorus), Táu lá to (Vatica sp.)
Một số loài tiêu biểu cho hệ thực vật miền Bắc di cư xuống như Gụ lau
(Sindora tonkinensis), Lim (Erythrophloeum fordii), Chay lá bồ đề (Artocarpus styracifolius) Một số loài tiêu biểu cho hệ thực vật miền Nam
di cư lên như Kiền kiền (Hopea pierei), Chò đen (Parashorea stellata)
Hệ động vật ở VQG Bạch Mã cũng rất phong phú Bạch Mã được xếp loại là một trong 3 khu vực có tính đặc hữu về chim (EBA) ở Việt Nam (ICBP 1992), được tổ chức Chim thế giới (Birdlife) ghi nhận là khu vực có tính đặc hữu trong tổng số 221 khu vực toàn cầu Do tính chất độc đáo về vị
Trang 24trí của vườn, dưới chân núi Bạch Mã có các đầm phá lớn như Cầu Hai, Tam Giang đã tạo nên sự hấp dẫn cho các loài chim di cư, nên Bạch Mã nằm trên trục đường của chim di cư qua Châu á từ Bắc xuống Nam Hiện nay đã ghi nhận được 330 loài chiếm 39% trong tổng số 840 loài đã thống kê được ở Việt Nam Tuy với diện tích 22.031 ha nhưng VQG Bạch Mã có 7 loài chim Trĩ, so sánh với các quốc gia như Lào (có 7 loài), Campuchia (có 5 loài),
Malaixia (có 6 loài) thì ở đây số lượng loài chim Trĩ khá lớn Về các động vật
khác: ếch nhái có 20 loài; bò sát có 31 loài, cá nước ngọt có 33 loài Về côn trùng bước đầu mới định loại được 218 loài, gồm 63 loài bướm đêm, 155 loài bướm ngày
Mặc dù danh lục động thực vật ở VQG Bạch Mã chưa đầy đủ, nhưng cũng đã cho thấy tính đặc thù của động thực vật quý hiếm ở đây Riêng về loài đặc hữu, chỉ xét đến kết quả điều tra các loài và phân loài thuộc bộ Gà thì
ở VQG Bạch Mã có 2 loài: Gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi), Gà lôi trắng (Lophura nycthemera) và 2 loài Gà so: gà So trung bộ (Arborophila
merlini), gà So gutta (Arborophila rufogularis) là những loài chỉ phân bố
2.2 Đặc điểm dân sinh kinh tế xã hội
2.2.1 Dân tộc và dân số ở khu vực
VQG Bạch Mã và vùng đệm nằm trên địa phận hành chính của 2 tỉnh, thành phố: Thừa Thiên - Huế và Đà Nẵng gồm 3 huyện: Phú Lộc, Nam Đông
Trang 25(Thừa Thiên - Huế) và Hoà Vang (Đà Nẵng) với 11 xã, thị trấn: các xã Lộc Trì, Lộc Điền, Lộc An, Lộc Hoà, Xuân Lộc và thị trấn Phú Lộc (huyện Phú Lộc); Hương Phú, Hương Lộc, Thượng Lộ, thị trấn Khe Tre (huyện Nam Đông) và Hoà Bắc (Hoà Vang) Các xã Lộc Hoà, Xuân Lộc, Hương Lộc, Hương Phú (trước đây là vùng kinh tế mới), Thượng Lộ là các xã đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135 của Nhà nước
Chỉ có một ít người sống trong phân khu hành chính dịch vụ của Vườn (Khe Su - Lộc Trì; Thôn 1- Hương Lộc) còn đa số sống ở vùng đệm Năm
2001, theo thống kê có 62.774 người thuộc 12.214 hộ gia đình sống ở vùng đệm có diện tích 21.300 ha Các cộng đồng dân tộc sinh sống ở đây là người Kinh, người Katu, người Vân Kiều, người Mường
Người Kinh chiếm đa số ở các xã thị trấn vùng đệm 97%
Người Katu có 1.359 người, có truyền thống sống ở vùng cao, sử dụng rừng bằng cách đốt nương làm rẫy và có đời sống phụ thuộc vào rừng nhiều hơn người Kinh Họ có kiến thức bản địa phong phú về các loại cây thuốc, về lấy mật ong, săn bắn
Người Vân kiều có 433 người, định cư tại xã Xuân Lộc từ năm 1983, cũng đốt rừng làm nương rẫy Họ cũng sống nhờ vào rừng nhiều hơn người Kinh
Người Mường là nhóm dân tộc ít nhất trong vùng đệm, chỉ có 23 thành viên Những người này đến định cư tại Lộc Trì từ năm 1994 Trong đó có người đã mang kiến thức về sử dụng cây thuốc từ quê hương mình vào
Mật độ dân cư rất khác biệt: bình quân là 253 người/km2 Mật độ này thay đổi từ 10 người/km2 tại xã Hoà Bắc ở vùng núi đến 760 người/km2 ở thị trấn Phú Lộc
2.2.2 Tình hình sản xuất và sinh kế của các cộng đồng vùng đệm
Trang 26Phần lớn người dân sống trong vùng đệm kiếm sống bằng nông nghiệp (70%), lúa là vụ mùa quan trọng nhất (hai vụ /năm) Ngoài việc trồng sắn và khoai lang, phần lớn các hộ gia đình đều có chăn nuôi (heo, gà, vịt), những
hộ gia đình khá giả hơn còn nuôi trâu và bò
Tuy vậy do ruộng ít, năng suất thấp, chăn nuôi chủ yếu quy mô nhỏ nên đời sống nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn Sau thời vụ nông nghiệp,
họ vào rừng khai thác gỗ củi và các lâm sản như song mây, lá nón, dầu chai Chủ yếu những người nghèo nhất sử dụng rừng (khai thác bất hợp pháp, lén lút) do lợi nhuận nông nghiệp quá nhỏ mà lợi nhuận thu được khá cao khi bán các loại lâm sản Hầu như một nửa những sản phẩm được khai thác từ rừng là củi đốt và gỗ xây nhà Tiền cần gấp cho cuộc sống hay cho các nhu cầu thiết yếu như nộp tiền học, tiền chữa bệnh thường kiếm được bằng cách vào rừng vác gỗ bán cho các lái buôn, thu hái song mây, lá nón, phong lan, đào bứng cây cảnh, săn bắt chim, thú các loại Một bộ phận không nhỏ làm nghề
rà tìm phế liệu chiến tranh, khai thác cát sạn ở sông, suối
Thu nhập của dân cư sống trong vùng đệm rất thấp, tỷ lệ hộ đói nghèo cao, dân số tăng nhanh Thậm chí trong thời gian giáp hạt có nhiều hộ lâm vào tình trạng thiếu ăn Một số dự án đã được thực hiện với ưu tiên là tăng thu nhập cho người dân địa phương để họ có thể kiếm sống mà không dựa vào nguồn tài nguyên rừng của VQG Bạch Mã nhưng chủ yếu là ở hình thức xây dựng mô hình, việc nhân rộng nhìn chung thực hiện còn kém
Tuy nhiên cũng có những hoạt động của dự án có hiệu quả cao như giúp đỡ làm bếp đun tiết kiệm năng lượng ở Lộc Trì, xây dựng vườn cây thuốc gia đình ở Thượng Lộ, đa số người dân địa phương đã có nhận thức tốt hơn về vai trò của rừng, về bảo tồn đa dạng sinh học
Như vậy việc bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học là cần thiết, tuy nhiên vấn đề này luôn gặp nhiều khó khăn trở ngại do đời sống kinh tế xã hội của nhân dân vùng đệm còn thấp Vấn đề mấu chốt là làm sao nâng cao hay tạo thêm nguồn thu nhập khác cho người dân để đảm bảo nhu cầu sinh sống của họ
Trang 27Chương 3
ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, MỤC TIÊU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3 Phạm vi
Do thời gian có hạn, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thành phần loài, độ thường gặp, phân bố của các loài Lan theo các tuyến điều tra trong khu vực nghiên cứu và đánh giá tính đa dạng sinh học, đánh giá mức độ đe dọa, đề xuất các giải pháp quản lý bảo tồn
3.4 Mục tiêu
- Xây dựng danh lục các loài Lan của VQG Bạch Mã (mỗi loài ít nhất
có 1 tiêu bản đảm bảo - Mẫu nghiên cứu) và đánh giá tính đa dạng sinh học của họ Lan ở VQG Bạch Mã
Trang 28- Đánh giá sự phân bố của các loài Lan trong khu vực nghiên cứu
- Đánh giá tình trạng bảo tồn của một số loài Lan chủ yếu (loài bị đe dọa tuyệt chủng) tại VQG Bạch Mã
- Đề xuất một số giải pháp quản lý bảo tồn hệ Lan tại VQG Bạch Mã, tỉnh Thừa Thiên Huế
3.5.5 Đề xuất các giải pháp quản lý bảo tồn các loài Lan ở VQG Bạch Mã
3.6 Phương pháp nghiên cứu
3.6.1 Phương pháp kế thừa:
Kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu về hệ Lan tại VQG Bạch
Mã trước đây Sử dụng phương pháp hình thái so sánh truyền thống để định loại các mẫu vật nghiên cứu kết hợp với tham khảo ý kiến định loại và đóng góp của chuyên gia
3.6.2 Nghiên cứu thực địa
* Phương pháp điều tra theo tuyến
Căn cứ vào bản đồ địa hình, xây dựng các tuyến điều tra chính trong khu vực nghiên cứu qua các dạng địa hình khác nhau (đỉnh núi, sông suối, thung lũng thấp, ) [18] Cụ thể các tuyến như sau:
Trang 29- Tuyến số 1: từ Cổng vào Vườn – Km 16 đường Bạch Mã
- Tuyến số 2: từ Km 16 đường Bạch Mã – Khu vực đỉnh Bạch Mã
- Tuyến số 3: từ Km 16 đường Bạch Mã – Nam Đông
(tuyến này cắt ngang qua các đỉnh Động Bạch Mã, Động Đờ Líp, xuống khu vực Khe Ao, theo đường 14B ra Nam Đông)
- Tuyến số 4: từ Km 16 đường Bạch Mã - hồ Truồi
- Tuyến số 5: từ Xuân Lộc - Hồ Truồi (tuyến này theo hướng xã Xuân Lộc, lên đỉnh Động Truồi, về Hồ Truồi)
- Tuyến số 6: từ Nam Đông - Động Nôm (từ khu vực xã Hương Phú – Nam Đông lên khu vực đỉnh Động Nôm)
(Xem bản đồ tuyến điều tra kèm theo trang sau )
Ngoài ra, chúng tôi còn thực hiện các tuyến phụ điều tra bổ sung như:
- Tuyến phụ từ ranh giới Vườn – Thác Thuỷ Điện
- Tuyến phụ từ Km 16 đường Bạch Mã – Thác Đổ Quyên
- Tuyến phụ theo suối từ Đèo số 5 đường 14B – sông Ba Ran
* Phương pháp thu mẫu
Trên mỗi tuyến, tiến hành thu thập mẫu các loài họ Lan, ghi chép các thông tin sinh thái, sinh cảnh, độ cao, vị trí, tình trạng, vào sổ tay điều tra
- Đối với mỗi loài, thu ít nhất 03 mẫu để làm tiêu bản, thu hoa tươi bảo quản trong cồn pha loãng ở nồng độ 60 độ để phục vụ cho định loại Đối với các loài khi thu ngoài thực địa chưa có hoa, sẽ thu cây sống và tổ chức trồng
để cho ra hoa phục vụ công việc làm tiêu bản và định loại
- Các mẫu vật được chụp ảnh, ghi chép tỉ mỉ các thông tin như: đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh thái, đặc điểm sinh học, nơi sống
- Thu thập các thông tin về sử dụng và buôn bán Lan trong các cộng đồng dân cư sống xung quanh VQG Bạch Mã
Trang 30(Bản đồ 3.1: điều tra theo tuyến – File Trang 28.doc)
Trang 313.6.3 Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
- Tổng hợp và phân tích các tài liệu nghiên cứu về Lan liên quan tới mục tiêu nghiên cứu và các dẫn liệu đã thu được trong quá trình nghiên cứu
- Các mẫu vật thu về được xử lý và lưu trữ Nghiên cứu định loại các mẫu vật đã thu được trong quá trình thực địa và mẫu vật được lưu giữ tại phòng tiêu bản thực vật ở VQG Bạch Mã, Trường Đại học khoa học Huế, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
- Định loại và kiểm tra tên khoa học các mẫu vật nghiên cứu theo các tài liệu phân loại Lan của Việt Nam [1], [2], [9], [10], [11], và một số khu vực lân cận kết hợp với so sánh với các mẫu đã được xác định tên khoa học hiện đang lưu giữ tại Phòng tiêu bản của VQG Bạch Mã, Trường Đại học khoa học Huế, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
Trang 32Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Xây dựng danh lục Lan VQG Bạch Mã
Danh lục Lan VQG Bạch Mã dưới đây là kết quả điều tra nghiên cứu thực địa kết hợp với việc kế thừa có chọn lọc số liệu của các tác giả trước đó Đây là nội dung quan trọng và bao quát nhất của đề tài, là cơ sở đánh giá, phân tích các vấn đề tiếp theo Tới nay, trên cơ sở kết quả nghiên cứu, chúng tôi đưa ra một Danh lục mới về hệ Lan của VQG Bạch Mã gồm 180 loài của
70 chi Danh lục này được thể hiện ở phụ lục 1 Theo Leonid V Averyanov
và cộng sự (2003) thì Lan Việt Nam đã thống kê được 897 loài thuộc 152 chi [1] Như vậy, với số lượng các chi và loài nêu trên, thì hệ Lan VQG Bạch Mã chiếm khoảng 20% số loài và 46% số chi của Lan Việt Nam Trong số 1648
loài của 753 chi thuộc 192 họ thực vật có mạch ở VQG Bạch Mã [17] thì kết
quả nghiên cứu cho thấy, Lan là họ đa dạng nhất với 180 loài thuộc 70 chi Đây là họ thực vật có số lượng chi và loài lớn hơn bất kỳ họ thực vật nào tại VQG Bạch Mã
So với công bố gần đây nhất của Nguyễn Nghĩa Thìn & Mai Văn Phô,
hệ Lan của VQG Bạch Mã có 117 loài thuộc 52 chi [17] Kết quả nghiên cứu của chúng tôi đã bổ sung cho danh lục Lan VQG Bạch Mã là 18 chi và 66 loài Kết quả được trình bày ở bảng 4.1
Trong số 66 loài Lan mới bổ sung vào danh lục VQG Bạch Mã ghi nhận 2 loài mới cho khoa học vừa được GS Averyanov công bố mô tả năm
2005 (Oberonia huensis Aver., Thrixspermum stelidioides Aver et
Averyanova.) Trong 18 chi mới cho hệ Lan Bạch Mã có 17 chi chỉ có một
Trang 33loài: Acanthephippium, Callostylis, Collabium, Cryptostylis, Cyrtosia,
Didymoplexis, Diglyphosa, Galeola, Nephelaphyllum, Panisea, Phreatia, Pomatocalpa, Rhomboda, Schoenorchis, Tropidia, Vanda, Vrydagzynea; 1 chi Goodyera có 3 loài
Bảng 4.1: Danh sách các chi và loài mới bổ sung cho hệ Lan VQG Bạch Mã
5.7 Bulbophyllum clandestinum Lindl Cầu diệp không cuốn
5.9 Bulbophyllum flabelloveneris (Koenig) Aver Cầu diệp hình quạt
6 Calanthe R.Br
đờn
7 Callostylis Blume*
8 Cleisostoma Blume
9 Collabium Blume*
Trang 349.16 Collabium chinense (Rolfe) Tang & F.T.Wang Lan cô lý
10 Cryptostylis Wall
11 Cymbidium SW
12 Cyrtosia Blume*
12.21 Cyrtosia integra (Downie) Garay
13 Dendrobium SW
Trang 3520 Hetaeria Blume
21 Liparis Rich
24.46 Oberonia huensis Aver
25 Panisea Lindl*
trắng
26 Pholidota Hook
27 Phreatia Lindl*
28 Pomatocalpa Breda, Kuhl& Hasselt*
28.53 Pomatocalpa angustifolia Seidenf