MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong bối cảnh đất nước ta đang tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng cường hội nhập quốc tế, công tác đối ngoại trong đó có công tác cung cấp thông tin cho người Việt Nam ở nước ngoài đóng vai trò rất quan trọng đối với việc tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là khi chúng ta đang tích cực triển khai Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 20112020. Những năm qua, công tác cung cấp thông tin cho người Việt Nam ở nước ngoài, trong đó có xuất bản sách, đã góp phần quan trọng quảng bá hình ảnh Việt Nam, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, củng cố và mở rộng quan hệ hợp tác với các nước và các tổ chức quốc tế, bảo vệ chủ quyền biên giới lãnh thổ, biển và hải đảo, khuyến khích, động viên đồng bào ta ở nước ngoài hướng về quê hương, đất nước. Công tác thông tin, xuất bản sách đã góp phần phản ánh kịp thời chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, những thành tựu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam, giúp dư luận bên ngoài hiểu rõ hơn, đúng hơn về Việt Nam, thu hút sự quan tâm và gây ấn tượng tốt đẹp với bạn bè quốc tế về Việt Nam. Hình ảnh đất nước Việt Nam hoà bình, ổn định, đổi mới, phát triển năng động, là điểm đến an toàn và tin cậy của đầu tư, du lịch; con người, lịch sử và nền văn hoá lâu đời hết sức phong phú và giàu bản sắc dân tộc của Việt Nam đã được nhân dân thế giới và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài biết tới thông qua nhiều kênh và bằng nhiều hình thức khác nhau. Cùng với việc tăng cường quảng bá thông tin về đất nước, con người và sự phát triển của Việt Nam, chúng ta đã chủ động đấu tranh hiệu quả hơn với những luận điệu xuyên tạc về Việt Nam, nhất là trong vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, biên giới lãnh thổ. Chúng ta đã tăng cường cung cấp thông tin chính thống, có định hướng về chính sách và những nỗ lực của Việt Nam trong việc phát huy dân chủ, bảo đảm quyền con người, quyền tự do tôn giáo, những thành tựu của đất nước ta trong phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân. Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác thông tin, xuất bản sách dành cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng còn một số hạn chế. Cơ chế chỉ đạo, điều hành, thông tin, phối hợp có lúc còn bị động, lúng túng, nhất là trước những vấn đề phức tạp mới nảy sinh. Nhận thức về vị trí, vai trò của công tác thông tin tuy có chuyển biến, nhưng còn chậm và chưa đầy đủ. Nội dung thông tin chưa phong phú, thiếu hấp dẫn, sức thuyết phục chưa cao. Công tác đấu tranh phản bác lại các luận điệu xuyên tạc, thù địch chống lại đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam chưa được tiến hành một cách có hệ thống, lập luận đấu tranh trong các vấn đề dân chủ, nhân quyền, biên giới lãnh thổ chưa chú ý đến những đối tượng ít thông tin, những đối tượng dễ bị lợi dụng, kích động. Sự phát triển nhanh của đất nước, những biến chuyển mau lẹ của tình hình thế giới và khu vực đã và đang đặt ra cho công tác thông tin, xuất bản sách cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cả thuận lợi và thách thức đan xen. Thuận lợi là những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới, vị thế ngày càng được nâng cao của đất nước là chất liệu quý giá, nguồn đề tài phong phú để khai thác. Địa bàn và đối tượng của công tác thông tin ngày càng mở rộng, có nhiều kênh thông tin, quảng bá hình ảnh Việt Nam. Đặc biệt sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ giúp thông tin tiếp cận các phương tiện, kỹ thuật thông tin hiện đại, những phương thức chuyển tải thông tin mới phong phú, đa dạng và hiệu quả. Mặt khác, công tác thông tin, xuất bản sách cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng đứng trước nhiều thách thức. Những diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế và khó khăn nảy sinh trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh Việt Nam. Các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước tiếp tục sử dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”, “bảo vệ chủ quyền lãnh thổ” để xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh Việt Nam, kích động nhằm làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Do đó, trong tình hình hiện nay, vấn đề làm tốt công tác cung cấp thông tin, trong đó có xuất bản sách phục vụ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, thực sự cần thiết và đặt ra cấp bách. Công tác thông tin có nội dung phong phú và bao gồm nhiều kênh như phát thanh, truyền hình, báo chí, xuất bản, v.v.. Hiện nay có gần 10 nghìn đảng viên đang học tập và công tác ở nước ngoài và có trên 4 triệu người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài, phân bổ không đồng đều ở 103 nước và lãnh thổ trên thế giới. Cộng đồng người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài khá đông, nhưng chúng ta chưa có một chiến lược, kế hoạch cụ thể, thường xuyên về xuất bản sách phục vụ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Làm thế nào để cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có điều kiện tiếp cận thường xuyên chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta hiện nay? Làm thế nào để cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là thế hệ trẻ có thể nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn về tình hình đất nước, lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán, truyền thống đấu tranh anh dũng của dân tộc, đất nước và con người Việt Nam? Đây chính là những nhiệm vụ cấp thiết đang đặt ra cho công tác xuất bản sách, trong đó có Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật nhằm góp phần phục vụ tích cực cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Chính vì vậy, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn vấn đề: Hoạt động xuất bản sách phục vụ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài để làm khóa luận tốt nghiệp đại học
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh đất nước ta đang tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa, tăng cường hội nhập quốc tế, công tác đối ngoại trong đó cócông tác cung cấp thông tin cho người Việt Nam ở nước ngoài đóng vai tròrất quan trọng đối với việc tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và huyđộng mọi nguồn lực trong và ngoài nước để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,nhất là khi chúng ta đang tích cực triển khai Chiến lược phát triển kinh tế - xãhội giai đoạn 2011-2020
Những năm qua, công tác cung cấp thông tin cho người Việt Nam ởnước ngoài, trong đó có xuất bản sách, đã góp phần quan trọng quảng bá hìnhảnh Việt Nam, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế,củng cố và mở rộng quan hệ hợp tác với các nước và các tổ chức quốc tế, bảo
vệ chủ quyền biên giới lãnh thổ, biển và hải đảo, khuyến khích, động viênđồng bào ta ở nước ngoài hướng về quê hương, đất nước
Công tác thông tin, xuất bản sách đã góp phần phản ánh kịp thời chủtrương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và chính sách đối ngoại củaĐảng và Nhà nước, những thành tựu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc
tế của Việt Nam, giúp dư luận bên ngoài hiểu rõ hơn, đúng hơn về Việt Nam,thu hút sự quan tâm và gây ấn tượng tốt đẹp với bạn bè quốc tế về Việt Nam.Hình ảnh đất nước Việt Nam hoà bình, ổn định, đổi mới, phát triển năngđộng, là điểm đến an toàn và tin cậy của đầu tư, du lịch; con người, lịch sử vànền văn hoá lâu đời hết sức phong phú và giàu bản sắc dân tộc của Việt Nam
đã được nhân dân thế giới và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài biếttới thông qua nhiều kênh và bằng nhiều hình thức khác nhau
Cùng với việc tăng cường quảng bá thông tin về đất nước, con người và
sự phát triển của Việt Nam, chúng ta đã chủ động đấu tranh hiệu quả hơn với
Trang 2những luận điệu xuyên tạc về Việt Nam, nhất là trong vấn đề dân chủ, nhânquyền, dân tộc, tôn giáo, biên giới lãnh thổ Chúng ta đã tăng cường cung cấpthông tin chính thống, có định hướng về chính sách và những nỗ lực của ViệtNam trong việc phát huy dân chủ, bảo đảm quyền con người, quyền tự do tôngiáo, những thành tựu của đất nước ta trong phát triển kinh tế - xã hội, xóa đóigiảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác thông tin, xuất bản sáchdành cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng còn một số hạn chế
Cơ chế chỉ đạo, điều hành, thông tin, phối hợp có lúc còn bị động, lúng túng,nhất là trước những vấn đề phức tạp mới nảy sinh Nhận thức về vị trí, vai tròcủa công tác thông tin tuy có chuyển biến, nhưng còn chậm và chưa đầy đủ.Nội dung thông tin chưa phong phú, thiếu hấp dẫn, sức thuyết phục chưa cao.Công tác đấu tranh phản bác lại các luận điệu xuyên tạc, thù địch chống lạiđường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam chưa được tiến hànhmột cách có hệ thống, lập luận đấu tranh trong các vấn đề dân chủ, nhân quyền,biên giới lãnh thổ chưa chú ý đến những đối tượng ít thông tin, những đối tượng
dễ bị lợi dụng, kích động
Sự phát triển nhanh của đất nước, những biến chuyển mau lẹ của tìnhhình thế giới và khu vực đã và đang đặt ra cho công tác thông tin, xuất bảnsách cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cả thuận lợi và thách thứcđan xen Thuận lợi là những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới, vị thếngày càng được nâng cao của đất nước là chất liệu quý giá, nguồn đề tàiphong phú để khai thác Địa bàn và đối tượng của công tác thông tin ngàycàng mở rộng, có nhiều kênh thông tin, quảng bá hình ảnh Việt Nam Đặc biệt
sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ giúp thông tin tiếp cận cácphương tiện, kỹ thuật thông tin hiện đại, những phương thức chuyển tải thôngtin mới phong phú, đa dạng và hiệu quả
Trang 3Mặt khác, công tác thông tin, xuất bản sách cho cộng đồng người ViệtNam ở nước ngoài cũng đứng trước nhiều thách thức Những diễn biến phứctạp của tình hình quốc tế và khó khăn nảy sinh trong phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh Việt Nam Các thế lực thùđịch, phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước tiếp tục sử dụng chiêu bài
“dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”, “bảo vệ chủ quyền lãnh thổ” đểxuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh Việt Nam, kích động nhằm làm thay đổi chế độ chínhtrị ở nước ta
Do đó, trong tình hình hiện nay, vấn đề làm tốt công tác cung cấp thôngtin, trong đó có xuất bản sách phục vụ cộng đồng người Việt Nam ở nướcngoài, thực sự cần thiết và đặt ra cấp bách Công tác thông tin có nội dungphong phú và bao gồm nhiều kênh như phát thanh, truyền hình, báo chí, xuấtbản, v.v
Hiện nay có gần 10 nghìn đảng viên đang học tập và công tác ở nướcngoài và có trên 4 triệu người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài, phân bổkhông đồng đều ở 103 nước và lãnh thổ trên thế giới Cộng đồng người ViệtNam sinh sống ở nước ngoài khá đông, nhưng chúng ta chưa có một chiếnlược, kế hoạch cụ thể, thường xuyên về xuất bản sách phục vụ cộng đồngngười Việt Nam ở nước ngoài Làm thế nào để cộng đồng người Việt Nam ởnước ngoài có điều kiện tiếp cận thường xuyên chủ trương, đường lối, chínhsách của Đảng và Nhà nước ta hiện nay? Làm thế nào để cộng đồng ngườiViệt Nam ở nước ngoài, nhất là thế hệ trẻ có thể nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn
về tình hình đất nước, lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán, truyền thống đấutranh anh dũng của dân tộc, đất nước và con người Việt Nam? Đây chính lànhững nhiệm vụ cấp thiết đang đặt ra cho công tác xuất bản sách, trong đó cóNhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật nhằm góp phần phục vụ tích cựccộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
Trang 4Chính vì vậy, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn vấn đề: Hoạt động xuất bản sách phục vụ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài để làm khóa
luận tốt nghiệp đại học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua khảo sát, thống kê sơ bộ cho thấy, công tác xuất bản các xuất bảnphẩm phục vụ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong thời gian qua,trong đó có Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật chưa thực sự được chútrọng Trong số hơn 60 nhà xuất bản hiện nay, rất ít nhà xuất bản tổ chứcxuất bản sách và có sách phục vụ trực tiếp cộng đồng người Việt Nam ởnước ngoài Số công ty, doanh nghiệp có chức năng, nhiệm vụ xuất nhậpkhẩu sách báo ra nước ngoài, trong đó có phục vụ người Việt Nam ở nướcngoài không nhiều
Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài chủ yếu cung cấpmột số văn bản chính thức của Đảng và Nhà nước cho cộng đồng người ViệtNam ở nước ngoài
Nhà xuất bản Thế giới có nhiệm vụ tổ chức dịch và xuất bản sách bằngtiếng Việt ra các thứ tiếng, chủ yếu là tiếng Anh, Pháp, (các sách song ngữphần lớn là sách Việt - Anh, Việt - Pháp) cho người nước ngoài quan tâm tìmhiểu Việt Nam Loại sách này cũng chưa đáp ứng được nhu cầu của đông đảo
bà con Việt kiều Sách song ngữ xuất bản và xuất ra nước ngoài còn ít, mỗinăm khoảng vài chục tên sách với số lượng bản in hạn chế
Nhà xuất bản Trẻ có bán sách cho người Việt Nam ở nước ngoàithông qua một số công ty tư nhân có kênh kinh doanh sách ở nước ngoài,chủ yếu là Mỹ Ngoài ra, một số công ty của người Việt Nam tại Mỹ nhậpsách của Nhà xuất bản Trẻ theo lô hàng, mỗi lô khoảng từ 50 đến 60 tựasách, cao nhất đạt khoảng 100 tựa sách Các sách của Nhà xuất bản Trẻ đượcngười Việt Nam ở nước ngoài quan tâm là sách lịch sử Việt Nam qua tranh,sách về văn hóa Việt Nam,…
Trang 5Về công tác xuất nhập khẩu sách báo, trung bình mỗi năm, Tổng Công
ty Xuất nhập khẩu sách báo Việt Nam (XUNHASABA) xuất khẩu khoảng200.000 bản sách với gần 3.000 tên sách Trong đó có đến 75% là các cuốnsách có nội dung mang tính giải trí hoặc phổ biến kiến thức phổ thông nhưsách văn học, sách hướng dẫn nấu ăn, hướng dẫn thẩm mỹ, tâm lý, các vấn đề
y học thường thức, Đối tượng của loại sách này là tầng lớp bạn đọc phổthông 25% còn lại là các loại sách về văn hóa, lịch sử, ngôn ngữ, kinh tế, xãhội, Đối tượng của loại sách này là chủ yếu các thư viện, học giả, nhànghiên cứu, sinh viên
Tìm hiểu về việc trợ giá cước xuất bản phẩm ra nước ngoài cho thấy:Nhà xuất bản Thế giới là đơn vị duy nhất được hưởng chính sách trợ giá củanhà nước để thực hiện xuất bản một số loại sách và tạp chí bằng các ngônngữ Anh, Pháp, Nga, Nhật, Hàn Quốc, Đức, Trung Quốc, Tây Ban Nha, đến một số tổ chức và cá nhân của Việt Nam ở nước ngoài như: Đại sứ quán,Tổng lãnh sự quán, đại diện cơ quan báo chí, Thông tấn xã Việt Nam, cơquan đại diện thương mại Việt Nam ở nước ngoài; Hội hữu nghị Việt Nam ởcác nước; các nhà Việt Nam học ở nước ngoài; một số đảng Cộng sản vàđảng Cánh tả các nước; thư viện, trường đại học, các nhà nghiên cứu, sinhviên một số nước; một số đại lý và hiệu sách, nhà sách hoặc nhà phân phốisách ở nước ngoài
Một số đơn vị được hưởng chính sách trợ cước như: Tổng Công tySách Việt Nam; Tổng Công ty Xuất nhập khẩu sách, báo; Nhà xuất bản Thếgiới; Công ty Phát hành sách Hà Nội; Công ty Phát hành sách Thành phố HồChí Minh; Tổng Công ty Xuất nhập khẩu và phát triển văn hóa
Tuy một số cơ quan, đơn vị có đề án, chương trình liên quan đến chủ đềnày, nhưng cho đến nay chưa có đề án, chương trình nào mang tính tổng thể,
hệ thống và đầy đủ về công tác xuất bản sách phục vụ cộng đồng người Việt
Trang 6Nam ở nước ngoài Do vậy, nội dung của khóa luận là hoàn toàn mới, khôngtrùng lặp với bất kỳ đề tài, trước đó.
3 Mục đích và nghiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
- tìm hiểu công tác xuất bản sách cho người Việt Nam ở nước
nghoài,đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả công tác này
3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát, đánh giá tình hình cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
và nhu cầu đọc sách của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
- Đánh giá thực trạng công tác xuất bản, phát hành sách phục vụ cộng
đồng người Việt Nam ở nước ngoài; chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, nguyênnhân của ưu điểm, hạn chế trong công tác xuất bản, phát hành sách phục vụcộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
- Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệuquả công tác xuất bản, phát hành sách phục vụ cộng đồng người Việt Nam
ở nước ngoài
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động xuất bản sách cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
4.2 Phạm vi
- Hoạt động của ngành xuất bản Việt Nam về xuất bản sách chocộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
- Giới hạn thời gian nghiên cứu từ năm tư 2001 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phân tích tổnghợp, đối chiếu, so sánh,phương pháp tra cứu ,phương pháp phỏng vấn,phương pháp thống kê
Trang 76 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của khóa luận được kết cấu thành hai chương:
Chương 1: Khái quát về cộng đồng người Việt ở Nước ngoài và
xuất bản sách cho nghười Việt Nam ở nước ngoài
Chương 2: Công tác xuất bản sách phục vụ cộng đồng người Việt Nam ở
nước ngoài
Trang 8Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở
NƯỚC NGOÀI VÀ XUẤT BẢN SÁCH CHO NGƯỜI VIỆT NAM
Ở NƯỚC NGOÀI
1.1 Khái niệm về người Việt Nam ở nước ngoài
Hiến pháp 1992 dùng khái niệm "Người Việt Nam định cư ở nướcngoài" thay thế cho khái niệm “Việt kiều” Điều 75 Hiến pháp 1992 (sửa đổi)viết: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận của dân tộc ViệtNam Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ởnước ngoài ”
Khái niệm “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” lần đầu tiên đượcgiải thích một cách chính thức trong Luật quốc tịch Việt Nam 1998: “NgườiViệt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc ViệtNam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”1 Tuy nhiên, việc giảithích khái niệm này trong Luật quốc tịch Việt Nam 1998 vẫn còn nhữngđiều cần chú ý
Thứ nhất, “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” ở đây được hiểu
bao gồm hai đối tượng “công dân Việt Nam” và “người gốc Việt Nam” Kháiniệm công dân Việt Nam có thể hiểu là những người có quốc tịch Việt Nam
và như vậy phải chăng “người gốc Việt Nam” là những người không cònquốc tịch Việt Nam? Thực tế cho đến nay, khái niệm “người gốc Việt Nam”cũng chưa được định nghĩa một cách chính thức và có nhiều cách hiểu khácnhau
Thứ hai, Luật quốc tịch Việt Nam 1998 lấy yếu tố “cư trú, làm ăn, sinh
sống lâu dài ở nước ngoài” để giải nghĩa cho khái niệm “định cư” Tuy nhiên,
Trang 9Luật cũng không đưa ra một cơ sở nào để xác định tính “lâu dài” trong địnhnghĩa Vì vậy, định nghĩa này cũng chỉ mang tính ước lệ Trong thực tế, đểxác định rõ quy chế định cư của người Việt Nam ở nước ngoài, chúng tathường phải xem xét trong từng trường hợp cụ thể trên cơ sở các giấy tờ củađương sự, các mối quan hệ, luật pháp nước sở tại.
Khái niệm “Người Việt Nam ở nước ngoài” lần đầu tiên được giải thíchmột cách chính thức trong Luật quốc tịch Việt Nam 1998 Điều 2 Khoản 3định nghĩa: “Người Việt Nam ở nước ngoài” là công dân Việt Nam và ngườigốc Việt Nam đang thường trú hoặc tạm trú ở nước ngoài Có thể nói, đây làkhái niệm rộng nhất, bao hàm tất cả các đối tượng người Việt Nam không phụthuộc vào yếu tố quốc tịch hay cư trú
Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài luôn chiếm một vị tríquan trọng trong công tác dân vận của Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay,gồm ba lĩnh vực chủ yếu: thông tin tuyên truyền, hoạch định chính sách vàvận động cộng đồng Ngày nay, đất nước ta đã bước vào giai đoạn phát triểnmới: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng.Vận hội mới và thách thức mới đòi hỏi chúng ta phải củng cố và phát huy caonhất sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết dân tộc, trong đó có cộng đồngngười Việt Nam ở nước ngoài Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 26-3-2004 của
Bộ Chính trị một lần nữa khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là bộphận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, lànhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước
ta với các nước; và xác định công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài làtrách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân
1.2 Đặc điểm về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
- Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là cộng đồng trẻ, năng động, nhanh chóng hòa nhập với xã hội nước sở tại, có mặt ở hầu khắp các
Trang 10châu lục nhưng phân bố không đều Theo tài liệu của Uỷ ban Nhà nước về
người Việt Nam ở nước ngoài, hiện nay có khoảng 4 triệu người Việt Namđang sinh sống và làm việc tại trên 100 nước và vùng lãnh thổ có trình độphát triển, văn hoá, chế độ chính trị - xã hội khác nhau Người Việt Nam ởnước ngoài ngày nay đã có mặt ở cả những khu vực nghèo và đang pháttriển ở châu Phi, Trung Đông và Nam Mỹ hoặc các đảo nhỏ ở Thái BìnhDương Tuy nhiên, số lượng phân bố không đồng đều: đại bộ phận ngườiViệt (khoảng 98%) tập trung ở 21 nước thuộc năm khu vực địa lý: Bắc Mỹ,Tây Bắc Âu, Nga và Đông Âu, Đông Nam Á, Đông Bắc Á và châu Đạidương Tại các khu vực khác như: Nam Á và Tây Bắc Á, Trung Đông,châu Phi, Nam Mỹ, tuy có người Việt làm ăn sinh sống, song số lượngkhông đáng kể
Khoảng 80% người Việt đang làm ăn, sinh sống ở các nước côngnghiệp phát triển, cụ thể: ở Mỹ có hơn 2.200.000 người; ở Pháp khoảng300.000 người; Ôxtrâylia, Canađa mỗi nước khoảng 250.000 người; Đức,Nga mỗi nước có trên 100.000 người; Hàn Quốc hơn 90.000 người; Séc60.000 người; Anh, Nhật Bản mỗi nước trên 40.000 người; Ba Lan, Nauymỗi nước khoảng 20.000 người; Hà Lan, Bỉ, Thuỵ Điển, Đan Mạch mỗinước trên 10.000 người,…
Hiện nay, phần lớn người Việt Nam ở nước ngoài đã được hưởngquy chế định cư rõ ràng, tuy nhiên tỷ lệ này có khác nhau ở từng khu vực:tại các nước phát triển phương Tây như Mỹ, Ôxtrâylia, Pháp, Canađa , tỷ
lệ người Việt Nam có quốc tịch nước sở tại khá cao, khoảng 80%, do cácnước này không đòi hỏi phải từ bỏ quốc tịch gốc và chỉ cần đáp ứng cáctiêu chuẩn theo luật nhập cư là có thể được chấp nhận nhập tịch Trong khi
đó tại Nga và các nước Đông Âu, tỷ lệ này còn thấp
Trang 11- Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài phát triển nhanh về số lượng và ngày càng đa dạng về thành phần Bên cạnh những người đã xa Tổ
quốc lâu năm, hằng năm lại có thêm hàng chục ngàn người Việt Nam đi đoàn
tụ gia đình, học tập, lao động, làm ăn, kinh doanh ở nước ngoài; số lượngngười Việt Nam kết hôn với người nước ngoài hiện nay lên tới hơn 100.000người Bên cạnh những người từ trong nước ra đi, đã có thế hệ thứ hai, thứ ba
là các thanh thiếu niên gốc Việt sinh ra ở nước ngoài Cộng đồng người ViệtNam ở nước ngoài đang tiếp tục ổn định, hội nhập tốt hơn vào xã hội sở tại
- Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài được đánh giá là một cộng đồng năng động, có tiềm lực đáng kể về tri thức và kinh tế, trong đó
tiềm lực về tri thức mạnh hơn về kinh tế Trong những năm gần đây, cónhiều người Việt Nam thành đạt trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, kinh
tế, chính trị, văn hoá nghệ thuật, và giữ các vị trí nhất định trong xã hội vàchính trường nước sở tại
Theo thống kê chưa đầy đủ của Uỷ ban Nhà nước về người Việt Nam
ở nước ngoài, hiện có khoảng 400.000 người Việt Nam ở nước ngoài cótrình độ đại học, trên đại học, chuyên gia kỹ thuật có tay nghề cao, tậptrung chủ yếu ở các nước phương Tây, chiếm xấp xỉ 10% số dân cộngđồng, trong đó khoảng 6.000 người có trình độ tiến sĩ, so với khoảng16.000 tiến sĩ đang sống và làm việc trong nước thì tỷ lệ tiến sĩ/đầu dân củacộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là 2/1.000, cao hơn khoảng 10 lầntrong nước Ước tính có khoảng 40.000 trí thức tại Pháp, 20.000 trí thức tạiCanađa, 7.000 trí thức tại Ôxtrâylia Tại Mỹ, đội ngũ trí thức người Việtkhá đông đảo, gần 200.000 người, riêng thung lũng Silicon có khoảng12.000 người đang làm việc và hơn 100 người làm việc cho Ngân hàng Thếgiới Tiềm lực khoa học - công nghệ của các thế hệ người Việt Nam ở nướcngoài không ngừng được nâng cao, trong đó một thế hệ trí thức mới gốcViệt đang hình thành và phát triển, từng bước thay thế lớp lớn tuổi, làm thay
Trang 12đổi cơ cấu cộng đồng, có cái nhìn đúng mực, khách quan hơn về tình hình đấtnước và sẽ trở thành đối tác đầy tiềm năng cho sự phát triển đất nước nếu cóchính sách khai thác đúng đắn.
- Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tuy đã tích lũy được một tiềm lực kinh tế nhất định, song vẫn còn rất khiêm tốn, thu nhập bình quân
đầu người thường bằng hoặc kém hơn người dân nước sở tại Tổng thu nhậphằng năm của người Việt Nam ở nước ngoài ước đạt 50 - 60 tỷ USD Sốlượng và quy mô các doanh nghiệp người Việt Nam ở nước ngoài ngày mộtphát triển, một số thành đạt, song chưa có những doanh nghiệp lớn tầm cỡquốc tế Riêng ở Mỹ có hơn 150.000 cơ sở kinh doanh do người Việt làmchủ, trong đó có hơn 14.000 doanh nghiệp bán lẻ, 8.500 doanh nghiệp dịch
vụ khoa học - kỹ thuật chuyên nghiệp, Có người Việt đã lập và làm chủdoanh nghiệp về công nghệ thông tin trị giá tới 1,8 tỷ USD Ở nhiều nướckhác, nhất là ở các nước phát triển và Đông Âu, số lượng triệu phú đôlangười Việt ngày càng nhiều Nhiều người đang đầu tư về Việt Nam, chủ yếuvới quy mô nhỏ (dưới 1 triệu USD), chỉ một số ít doanh nghiệp đầu tư vớimức vốn khoảng từ vài triệu USD trở lên Ngoài ra, nhiều người đã tiếnhành có kết quả các hoạt động môi giới, tìm kiếm đối tác và làm cầu nối hợptác giữa doanh nghiệp nước ngoài với các doanh nghiệp trong nước, gópphần thu hút thêm đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Doanh nhân người Việt
đã có những đóng góp ngày càng quan trọng, có ảnh hưởng ngày càng tăng,không chỉ đối với cộng đồng mà cả đối với chính quyền sở tại Không chỉ cóngười Việt ở nước ngoài đầu tư về nước, ở các thị trường mới nổi như châuPhi - Trung Đông đã xuất hiện thêm nhiều gương mặt doanh nhân Việt Namtham gia đầu tư, kinh doanh
- Đa số đồng bào luôn có tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, có ý thức giữ gìn truyền thống, bản sắc văn hoá và luôn luôn hướng về Tổ quốc Phấn
khởi và tin tưởng vào thành công của công cuộc đổi mới của đất nước, các thế
Trang 13hệ kiều bào ta ngày càng mong muốn được gắn bó, đóng góp nhiều hơn vớiquê hương, đất nước
Số kiều bào về Việt Nam ngày càng tăng, từ 300.000 lượt người năm
2003 đến nay trung bình hằng năm có khoảng 500.000 lượt kiều bào về nước,trong đó khoảng 300 chuyên gia, trí thức về làm việc và hàng nghìn người vềtìm hiểu cơ hội đầu tư, kinh doanh Hằng năm, có hàng trăm lượt kiều bào làchuyên gia trí thức kiều bào về nước nghiên cứu, giảng dạy, hợp tác với cáctrường đại học, viện nghiên cứu; nhiều hội, đoàn và các tổ chức nghề nghiệpcủa người Việt, đặc biệt là ở các nước phát triển được thành lập và hoạt động
có hiệu quả, hướng về quê hương đất nước, thực hiện các hoạt động, dự ánhợp tác khoa học, công nghệ và các hoạt động mang tính nhân đạo trợ giúpđồng bào trong nước
Hiện nay có hơn 3.200 dự án của kiều bào đầu tư về nước với tổng sốvốn lên tới khoảng 5,7 tỷ USD, trong đó có khoảng 60% dự án được đánh giá
là hoạt động có hiệu quả cao Đặc biệt, tinh thần tương thân tương ái trongcộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với bà con trong nước, nhất là đốivới vùng dân tộc, miền núi càng ngày càng được gắn kết và có nhiều hỗ trợ
Số tiền bà con kiều bào ủng hộ đồng bào miền Trung bị lũ lụt năm 2010 đãlên tới con số hơn 14,5 tỷ đồng1
Điều đó cho thấy, kêu gọi, thu hút sự ủng hộ, chia sẻ, hướng về quêhương của những người Việt Nam hiện đang sinh sống ở nước ngoài là mộtviệc làm cần thiết và có ý nghĩa vô cùng to lớn trong công cuộc xây dựngkhối đại đoàn kết toàn dân tộc Kể từ khi triển khai Nghị quyết số 36-NQ/TW(từ năm 2004 đến nay), đã có nhiều đột phá về tư duy, nhận thức cũng nhưcác chính sách ưu đãi đối với kiều bào ta ở nước ngoài Cùng với sự phát triểncủa cộng đồng, những năm gần đây doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài đã
Trang 14tăng trưởng cả về số lượng và tiềm lực, có nhiều ảnh hưởng đến cộng đồng,đến quan hệ nhiều mặt của Việt Nam với các nước sở tại và quốc tế
Có thể nói, để đạt được những kết quả đáng khích lệ nói trên, công táctuyên truyền, vận động của báo chí, xuất bản đã thực sự chiếm một vai trò, vịtrí quan trọng đối với dư luận trong nước cũng như dư luận quốc tế Cùng vớiviệc quán triệt Nghị quyết, công tác thông tin, tuyên truyền chủ trương, chínhsách của Đảng, Nhà nước đối với người Việt Nam ở nước ngoài cũng đượcđẩy mạnh với nhiều nội dung, hình thức phong phú; được lồng ghép trongnhiều hoạt động triển khai Nghị quyết Số lượng các chương trình dành riêngcho kiều bào ngày càng tăng, phong phú về nội dung, nhiều kênh được kiềubào đón nhận và đánh giá cao như kênh truyền hình dành cho người Việt Nam
ở nước ngoài VTV4, kênh Truyền hình Thuần Việt, Tạp chí Quê hương,…
Nhờ đó, có rất nhiều người làm báo chuyên nghiệp là người Việt Nam
ở nước ngoài đã cộng tác, thường xuyên cung cấp những thông tin có giá trịcho báo chí trong nước Theo đó, các trang mạng thông tin điện tử của Đảng,Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, của các bộ, ngành và địaphương trong nước,… đã có điều kiện, cơ hội nhận và phản ánh kịp thờinhững thông tin cho kiều bào ở các nước trên thế giới về mọi mặt của tìnhhình đất nước, về các chính sách, pháp luật liên quan tới người Việt Nam ởnước ngoài cũng như các vấn đề thời sự mà kiều bào quan tâm Gần đây, vào
tháng 1-2013, tại Hà Nội, đại diện người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã
tích cực góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 tại hội nghị do Ủy banTrung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức
- Tuy nhiên, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức Ở một số
nước, địa vị pháp lý của người Việt Nam chưa vững vàng nên cộng đồng rất dễ
bị tổn thương trước những hành động bài xích, phân biệt đối xử, kỳ thị chủng
Trang 15tộc Sự khác biệt về văn hoá, ngôn ngữ ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống của
bà con Ảnh hưởng của văn hoá bản địa và những yêu cầu của cuộc sống hằngngày là những thách thức đối với việc giữ gìn bản sắc văn hoá truyền thống vàtiếng Việt Ở một số nước, kiều bào còn phải đối mặt với nguy cơ khủnghoảng, chiến tranh, xung đột bộ tộc, sắc tộc, tôn giáo Ngoài ra, một số nhỏ lựclượng cực đoan, phản động vẫn đi ngược lại lợi ích của bà con, cộng đồng vàđất nước
1.3 Vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế
1.3.1 Vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
Thứ nhất, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là nguồn lực kinh
tế quý báu của đất nước Rất nhiều trung tâm thương mại của người Việt
được xây dựng ở các nước và vùng lãnh thổ, nhiều hội doanh nhân ngườiViệt Nam ở nước ngoài được thành lập là nòng cốt kinh tế của cộng đồng
và hỗ trợ tích cực cho các hoạt động đầu tư, thương mại, có khả năng tìmkiếm đối tác làm cầu nối với các doanh nghiệp, tổ chức trong nước Vớitiềm lực kinh tế của mình, người Việt Nam ở nước ngoài có xu hướng đầu
tư về nước ngày một nhiều hơn Hằng năm, lượng kiều hối về nước tăngtrung bình 10 - 15%/năm, năm 2010 là 8,6 tỷ USD, năm 2011 đạt trên 9 tỷUSD, sáu tháng đầu năm 2012 đạt khoảng 6,4 tỷ USD, đưa Việt Nam trởthành một trong 10 quốc gia nhận kiều hối nhiều nhất; đóng góp quan trọngvào việc ổn định cán cân thanh toán và kinh tế của đất nước Theo công bốmới nhất của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đứng thứ chín thế giới về nhậnkiều hối, với kết quả dự kiến đạt gần 11 tỷ USD, tăng 6,5% so với năm trước1.Trước đây, tiền gửi về nước chủ yếu là để giúp đỡ thân nhân, nay Việt kiềuchuyển sang góp vốn kinh doanh quy mô gia đình, góp phần xóa đói giảm
Trang 16nghèo, tạo công ăn việc làm, tham gia phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.Đến nay, doanh nhân người Việt Nam ở nước ngoài đã có mặt ở 51/63 tỉnh,thành phố, với 3.546 doanh nghiệp, số vốn đăng ký kinh doanh và vốn đónggóp của Việt kiều đạt khoảng 8,4 tỷ USD
Thứ hai, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có tiềm lực tri thức đáng kể, góp phần không nhỏ vào phát triển khoa học, công nghệ, giáo dục đào tạo của đất nước
Kiều bào ta ở nước ngoài được đánh giá là cộng đồng trẻ, năng động,
có nhiều tiềm năng về đầu tư, kinh doanh, tri thức quản lý và khoa học - côngnghệ, ngày càng hội nhập sâu hơn, không những luôn chấp hành tốt luật phápnước sở tại mà còn có vị thế chính trị cũng như kinh tế trong xã hội sở tại,được nhân dân và Chính phủ nước sở tại yêu mến Thế hệ trẻ kiều bào (thứhai và thứ ba) đang thay thế dần lớp người lớn tuổi trong các sinh hoạt cộngđồng, chiếm đa số là lớp trí thức trẻ, tập trung chủ yếu ở Bắc Mỹ, Tây Âu vàchâu Đại dương, làm việc trong hầu hết các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, kỹthuật công nghệ cao từ điện tử, tin học, viễn thông, vật liệu mới, sinh học chođến công nghệ hàng không, vũ trụ, sản xuất vũ khí, Có một số người Việt cótên tuổi và uy tín khoa học lớn được thế giới, xã hội nước sở tại vinh danhnhư: Giáo sư Vật lý Trần Thanh Vân - người châu Á thứ ba được nhận Huychương Tate do Viện Vật lý Mỹ trao tặng nhằm vinh danh những người cócông lao to lớn trong việc tổ chức và lãnh đạo các hoạt động vật lý trên quy
mô quốc tế; Giáo sư Thiên văn học Trịnh Xuân Thuận được Học viện Phápquốc tặng Giải thưởng thế giới Cino del Duca 2012; Giáo sư Đặng Lương
Mô, người nổi tiếng thế giới với 300 công trình nghiên cứu và 12 phát minh,sáng chế; Giáo sư Ngô Bảo Châu xuất sắc vượt qua nhiều nhà toán học têntuổi khác trên thế giới để nhận Giải thưởng Fields - giải thưởng cao quý nhấttrong lĩnh vực toán học; Giáo sư Vũ Hà Văn được Hội Quy hoạch toán học và
Trang 17Hội Toán học Mỹ trao Giải Fulkerson, một giải thưởng dành cho các bài báoxuất sắc về toán học rời rạc; hay gần đây nhất, Giáo sư Đàm Thanh Sơn đượcĐại học Chicago (Hoa Kỳ) bổ nhiệm làm “Giáo sư Đại học” vật lý - danhhiệu đại diện cho khát khao học thuật cao nhất của Đại học Chicago bởinhững người được bổ nhiệm là những nhà khoa học có tài năng xuất sắc,được quốc tế công nhận và có tầm ảnh hưởng rộng lớn,…
Theo ước tính của Uỷ ban Nhà nước về người Việt Nam ở nướcngoài, trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có khoảng 400.000người có trình độ đại học, trên đại học, công nhân kỹ thuật bậc cao, được đàotạo chính quy trong môi trường khoa học hiện đại, được tiếp cận và cập nhậtnhững tiến bộ mới nhất của khoa học kỹ thuật thế giới và có nhiều kinhnghiệm thực tiễn trong hầu hết các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, kỹ thuật côngnghệ cao từ điện tử, tin học, viễn thông, vật liệu mới, sinh học cho đến côngnghệ hàng không, vũ trụ, sản xuất vũ khí Trong những năm gần đây, mỗinăm đã có khoảng 200 - 300 chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nướcngoài, chủ yếu từ các nước phát triển như Mỹ, Pháp, Đức, Nhật Bản,… vềnước tham gia có hiệu quả vào các công việc giảng dạy, tư vấn và đầu tư,chuyển giao tri thức thông qua nhiều hoạt động phong phú như tham gia trựctiếp giảng dạy tại các trường đại học, viện nghiên cứu, biên soạn giáo trình;cung cấp thông tin, tài liệu, kinh nghiệm; làm việc trong các dự án hợp tác vớinước ngoài, phối hợp với các chuyên gia, trí thức trong nước thực hiện cácchương trình nghiên cứu, triển khai ứng dụng; làm cầu nối, mở rộng hợp tácquốc tế giữa các trường đại học, các cơ sở nghiên cứu của Việt Nam với nước
sở tại; làm tư vấn cho các bộ, ngành, các cơ quan quản lý nhà nước tronghoạch định chính sách, đặc biệt các ngành, lĩnh vực phát triển mới Bên cạnh
đó, do có điều kiện được tiếp cận với nền khoa học, công nghệ tiên tiến, hiệnđại, nắm bắt xu hướng phát triển mới của thế giới, kiều bào ta có thể đóng góp
Trang 18ý kiến, kiến thức về xây dựng pháp luật, thể chế, hoạch định chính sách pháttriển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế, v.v Với ảnh hưởng ngày càng tăngcủa cộng đồng đối với chính quyền sở tại, kiều bào có thể vận dụng thúc đẩyquan hệ chính trị, kinh tế, thương mại giữa Việt Nam và các nước; tranh thủ
sự ủng hộ quốc tế đối với Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế
Thứ ba, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là cầu nối quan trọng
để chúng ta mở rộng quan hệ hữu nghị hợp tác với các quốc gia, vùng lãnh thổ, khu vực và thế giới Đây là nhân tố quan trọng trong thực hiện đường lối
đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, góp phần xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có nhiều lợi thế trong công tác đối ngoại, bởi họ là lực lượng tuyên truyền, quảng bá nhanh, hiệu
quả về văn hóa, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới thông quacác hoạt động văn hóa cộng đồng và hỗ trợ, tham gia các triển lãm, hội chợquảng bá văn hóa, thương mại, du lịch của Việt Nam với thế giới, góp
phần mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, phát huy sức mạnh dân tộc, sức mạnh thời đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung.
Thứ tư, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài còn là lực lượng quan trọng, đóng góp tích cực, chủ động trong cuộc đấu tranh phòng, chống và vô hiệu hóa chiến lược “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch Ở hải ngoại hiện nay có hơn 100 tổ chức chính trị phản động người
Việt Nam đang nuôi chí “phục thù” nhằm thực hiện ý đồ đen tối “phục quốc”.Cầm đầu các hội, nhóm trên phần lớn là những phần tử cực đoan, từng làngụy quân, ngụy quyền cũ, có nhiều nợ máu với cách mạng Chúng đã, đangmóc nối, câu kết chặt chẽ với nhau và với bọn phản động trong nước để hoạtđộng chống phá cách mạng nước ta, nhất là trong vùng đồng bào dân tộc.Chúng đẩy mạnh truyền đạo trái phép để “tôn giáo hoá” các vùng dân tộc, lôikéo, dụ dỗ đồng bào dân tộc, gây đối trọng với Đảng, chính quyền Những
Trang 19năm gần đây, chúng tăng cường lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do tôn giáo”, tổ chức các cuộc hội thảo về quyền con người, cái gọi là “Lễ mất đất” (ngày 4 tháng 6 hằng năm), “Ngày thành lập FULRO” (ngày 20 tháng 9
hằng năm), thu thập, phát tán tài liệu (bản đồ, sách, tập san, tạp chí, băng,đĩa, ) để vu cáo Việt Nam hay gửi kiến nghị thư có liên quan đến vấn đề lãnhthổ,… Thực tế cho thấy, nếu chúng ta phát huy cao độ những lợi thế của lựclượng người Việt Nam ở nước ngoài để phân hóa, cô lập các lực lượng phảnđộng, thì có thể hạn chế một cách hiệu quả, thiết thực từ xa chiến lược “Diễnbiến hòa bình”, bạo loạn lật đổ đối với cách mạng Việt Nam của các thế lựcthù địch, nhất là trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
1.3.2 Một số hoạt động và đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
Thời gian qua, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài liên tục pháttriển và lớn mạnh cả về lượng và chất Về mặt lượng, ngày càng đông ngườiViệt sang nước ngoài theo diện lao động, kinh doanh, nghiên cứu, du học,lao động xuất khẩu hoặc định cư, đoàn tụ gia đình, du lịch, kết hôn,… nângtổng số người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay lên hơn 4 triệu người Địabàn cư trú của cộng đồng được mở rộng trên 103 nước và vùng lãnh thổ trênkhắp thế giới, kể cả những khu vực nghèo và đang phát triển ở châu Phi,Trung Đông, Nam Mỹ hoặc các đảo nhỏ ở Thái Bình Dương Tuy nhiên, đại
bộ phận (khoảng 98%) vẫn tập trung ở 21 nước thuộc năm khu vực địa lý:Bắc Mỹ, Tây Bắc Âu, Nga và Đông Âu, Đông Nam Á, Đông Bắc Á và châuĐại dương
Bên cạnh đó, tiềm lực kinh tế của kiều bào ngày càng được nâng cao,
bà con có xu hướng đầu tư về nước ngày một nhiều hơn Thống kê cho thấy,mỗi năm trung bình có khoảng 500.000 lượt kiều bào về nước, trong đó có rấtnhiều người về để tìm hiểu cơ hội kinh doanh Tính đến nay, đã có 51 trong
Trang 20tổng số 63 tỉnh, thành phố có các dự án đầu tư của kiều bào với hơn 3.500công ty được thành lập hoặc góp vốn từ kiều bào với tổng số vốn đăng ký hơn8,4 tỷ USD, phần lớn từ các nước như Mỹ, Canađa, Ôxtrâylia, Nga, Pháp, HàLan, Séc, Ngoài ra, ngày càng nhiều các trí thức, nhà khoa học Việt kiều trở
về phục vụ đất nước với kiến thức và trí tuệ được đào tạo ở các nền giáo dụctiên tiến Đó là những nguồn lực vô cùng quý giá cho công cuộc xây dựng vàphát triển đất nước
Lượng kiều hối gửi về nước hằng năm đều đạt mức cao - tươngđương với vốn ODA cho Việt Nam mỗi năm, và năm sau luôn cao hơn nămtrước Lượng kiều hối về nước tăng liên tục là một minh chứng rõ ràng cho
xu thế gắn bó ngày càng tăng giữa cộng đồng người Việt Nam ở nướcngoài với Tổ quốc Năm 2012, lượng kiều hối đạt mức kỷ lục, hơn 10 tỷUSD Theo một báo cáo công bố mới đây của Ngân hàng Thế giới (WB),Việt Nam đứng thứ hai Đông Nam Á, sau Philíppin, và đứng thứ chín thếgiới về kiều hối năm 2012
Trong tổng giá trị kiều hối đổ về nước năm 2012, kiều hối gửi vềThành phố Hồ Chí Minh chiếm khoảng 42%, 70% trong số đó được đầu tưcho các hoạt động kinh doanh, 23% vào bất động sản, và phần còn lại là biếutặng cho thân nhân
Lượng kiều hối này cùng với các dự án đầu tư của cộng đồng ngườiViệt Nam ở nước ngoài là một nguồn đóng góp lớn và quan trọng cho sự pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước,trong điều kiện nền kinh tế thế giới và trong nước đang vật lộn với những khókhăn do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu, kiều hối từnăm 2009 - 2011 vẫn tăng từ 6,2 tỷ - 8,8 tỷ USD, đóng góp 1/10 cho GDP của
cả nước Cho đến nay, có khoảng 3.546 dự án đầu tư của kiều bào với tổng sốvốn đạt khoảng 8,4 tỷ USD, có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế, xã hội, trực
Trang 21tiếp góp phần xóa đói giảm nghèo, giải quyết công ăn việc làm và phát triểnđất nước Phần lớn những dự án đầu tư của Việt kiều trước đây chủ yếu nhằmvào kinh doanh nhỏ như nhà hàng, khách sạn hoặc du lịch, Gần đây, đầu tưcủa kiều bào đang có xu hướng chuyển dịch sang nhiều lĩnh vực khác, có quy
mô lớn hơn và thông qua các hình thức đầu tư trực tiếp và gián tiếp đa dạnghơn, như: dược phẩm, hóa chất, y tế, giáo dục, công nghệ thông tin, xây lắpcao cấp, tài chính - ngân hàng, đặc biệt là lĩnh vực công nghệ cao, công nghệphần mềm, Ngoài ra, trên thực tế, một phần không nhỏ đầu tư của bà conđược thực hiện dưới hình thức góp vốn liên doanh hay thông qua thân nhântrong nước
Thời gian qua, các hoạt động do Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam
ở nước ngoài tổ chức dành cho kiều bào như: Xuân Quê hương, diễu hành kỷniệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, Giỗ Tổ Hùng Vương, Trại hè ViệtNam, Đoàn kiều bào đi thăm và tặng quà quân, dân huyện đảo Trường Sa, không chỉ thu hút được đông đảo các đại biểu kiều bào là các doanh nhân, nhàkhoa học, giới trí thức trẻ, những lãnh đạo hội đoàn nòng cốt, mà gần đây cònthu hút được sự quan tâm của các cơ quan truyền thông hải ngoại như Bolsa
TV, Viet Weekly, KBC hải ngoại,… tạo nên nhiều bước đột phá lớn trongcông tác thông tin tuyên truyền Mặt khác, đây cũng là dịp để những ngườicon trước đây vì nhiều lý do phải xa Tổ quốc xích lại gần hơn với quê hương,cùng hòa chung nhịp thở của quê hương, cùng chung tay giải quyết các côngviệc trọng đại của đất nước
Dù còn nhiều hạn chế, nhưng thực tế những năm qua đã cho thấy vaitrò đóng góp quan trọng của nguồn nhân lực người Việt Nam ở nước ngoàicho sự phát triển chung của đất nước
1.4 Quan điểm chỉ đạo, phương hướng và nhiệm vụ của công tác thông tin đối ngoại và xuất bản sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài
Trang 22Đảng và Nhà nước ta luôn chủ trương phát huy sức mạnh của khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài,tạo động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Đảng và Nhà nước ta luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài làmột bộ phận không tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam,
là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữanước ta và các nước, v.v Có thể thấy rõ điều này qua nhiều chủ trương,chính sách rộng mở và biện pháp cụ thể được đề ra trong những năm quanhằm tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào về thăm đất nước và đầu tư làm
ăn, thể hiện trong một số nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước như:
- Chỉ thị số 11-CT/TW ngày 13-6-1992 “Về đổi mới và tăng cườngcông tác thông tin đối ngoại” của Ban Bí thư khóa VII yêu cầu phải đổi mới
và tăng cường công tác thông tin đối ngoại nhằm đáp ứng những yêu cầu củacách mạng trong tình hình mới, từ đó đề ra nhiệm vụ: “Tùy từng địa bàn, đốitượng và yêu cầu của từng lúc mà xác định nội dung và hình thức thông tincho thích hợp, có trọng tâm, trọng điểm… Thông tin cho cộng đồng ngườiViệt Nam ở nước ngoài, nhất là ở Tây Âu, Bắc Mỹ, Liên Xô (trước đây) vàĐông Âu”
- Chỉ thị số 10/2000/CT-TTg ngày 26-4-2000 của Thủ tướng Chính phủcoi thông tin đối ngoại là một bộ phận rất quan trọng của công tác đối ngoạicủa Đảng, Nhà nước ta nhằm làm cho các nước, người nước ngoài (bao gồm
cả người nước ngoài đang sinh sống, công tác tại Việt Nam), người Việt Namđang sinh sống và làm việc ở nước ngoài hiểu về đất nước, con người ViệtNam, đường lối, chủ trương, chính sách và thành tựu đổi mới của ta, trên cơ
sở đó tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới, sự đóng góp của cộng đồngngười Việt Nam ở nước ngoài cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Vìvậy, hơn lúc nào hết, công tác thông tin đối ngoại càng trở nên bức thiết, cần
Trang 23phải được triển khai một cách đồng bộ, thiết thực và hiệu quả với sự chỉ đạothống nhất của Trung ương và sự tham gia tích cực của các bộ, ngành và địaphương Đồng thời, Chỉ thị cũng lưu ý:Công tác thông tin đối ngoại cần đượctriển khai toàn diện, rộng khắp, song có trọng tâm, trọng điểm, trước hết làđối với các nước láng giềng và trong khu vực, cộng đồng người Việt Nam ởnước ngoài; ưu tiên cung cấp thông tin đúng định hướng cho người nướcngoài đến Việt Nam sinh sống, làm việc, du học Để làm tốt nhiệm vụ này,cần tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, có trọng tâm, trọngđiểm để phục vụ công tác thông tin đối ngoại; chú ý đầu tư cho các cơ quanbáo chí, truyền thông đại chúng, bao gồm cả báo chí điện tử, các cơ quan xuấtbản; các cơ quan hợp tác và giao lưu văn hoá với nước ngoài; xây dựng chínhsách trợ giá, trợ cước cho việc in ấn và phát hành các tài liệu (bao gồm cảsách) dùng cho thông tin đối ngoại.
- Ngày 27-1-2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số20-CT/TW “Về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xuất bản, phát hành sách
lý luận, chính trị trong tình hình mới” Chỉ thị nêu rõ: cần xây dựng chương trìnhđầu tư của nhà nước về xuất bản, phát hành sách lý luận, chính trị theo kế hoạch
5 năm và hằng năm cho từng loại sách, từng đối tượng và từng vùng
- Tháng 3-2004, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã
ra Nghị quyết số 36-NQ/TW về công tác đối với người Việt Nam ở nướcngoài, thể hiện bước đổi mới tư duy quan trọng trong công tác này và sự quantâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước tới đồng bào ta đang sống xa Tổ quốc Nghịquyết đã đánh giá tình hình và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoàithời gian qua, nêu rõ những chủ trương, phương hướng công tác và nhữngnhiệm vụ chủ yếu đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong thời gian tới.Nghị quyết khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta:
“Người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời và là một
Trang 24nguồn nhân lực của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam” và nhận định rằngtrong thời gian qua chúng ta chưa có hình thức thỏa đáng để cung cấp kịp thời
và đầy đủ thông tin về tình hình đất nước và chính sách của Đảng và Nhànước; công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của toàn
bộ hệ thống chính trị, là nhiệm vụ quan trọng nhằm phát huy sức mạnh đạiđoàn kết dân tộc vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Vì vậy, Nghịquyết yêu cầu: “Đổi mới và đa dạng hóa các phương thức vận động, các hìnhthức tập hợp với mục đích đoàn kết người Việt Nam ở nước ngoài quan tâm,giúp đỡ lẫn nhau, khuyến khích các hoạt động hướng về Tổ quốc, Hỗ trợcác dự án của người Việt Nam ở nước ngoài với mục đích trên” Về cácnhiệm vụ chủ yếu, Nghị quyết nêu rõ: Tích cực đầu tư cho chương trình dạy
và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài Đổi mới công tác thôngtin, tuyên truyền, giúp cho người Việt Nam ở nước ngoài hiểu đúng tình hìnhđất nước và chính sách của Đảng và Nhà nước Hỗ trợ việc xuất bản báo vàcác phương tiện truyền thông; hỗ trợ kinh phí và đơn giản hóa các thủ tục đốivới việc gửi sách báo, văn hóa phẩm ra nước ngoài phục vụ cộng đồng
- Ngày 25-8-2004, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số CT/TW về “Nâng cao chất lượng toàn diện của hoạt động xuất bản”, trong đó
42-có nêu nhiệm vụ xây dựng chương trình quốc gia xuất bản các loại sách thiếtyếu về chính trị - xã hội - văn hóa
- Luật xuất bản 2004 sửa đổi và bổ sung năm 2008 tại Điều 6 Khoản 2nêu rõ: Nhà nước có chính sách đặt hàng đối với xuất bản phẩm về lý luận,chính trị; xuất bản phẩm cần phổ biến rộng rãi nhằm phục vụ nhiệm vụchính trị, xã hội trọng yếu và thông tin đối ngoại Điều này được khẳng địnhlại tại Điều 7 của Luật xuất bản 2012
Trang 25- Chỉ thị số 19/2008/CT-TTg ngày 6-6-2008 của Thủ tướng Chính phủ
về việc tiếp tục tăng cường triển khai thực hiện Chương trình hành động củaChính phủ về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài
- Ngày 5-8-2008, Văn phòng Trung ương Đảng có Thông báo số TB/VPTW thông báo ý kiến chỉ đạo của đồng chí Trương Tấn Sang, Ủy viên
449-Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư tại buổi làm việc với Nhà xuất bảnChính trị quốc gia - Sự thật Trong Thông báo có đề cập nhiệm vụ trang bịsách lý luận chính trị cho cơ sở xã, phường, thị trấn, cho cán bộ lãnh đạo cấptỉnh và cơ quan trung ương, cho trí thức và người Việt Nam ở nước ngoài
- Ngày 10-9-2008, Ban Bí thư Trung ương Đảng có Chỉ thị số26-CT/TW về “Tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoạitrong tình hình mới” Chỉ thị nêu rõ trong thời gian tới cần tiếp tục tăng cườngtuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhànước, công cuộc đổi mới của đất nước ta để bạn bè quốc tế và đồng bào ta ởnước ngoài có hiểu biết nhiều hơn, đầy đủ và đúng đắn hơn về sự nghiệp đổimới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta Đẩy mạnh tuyên truyền,giới thiệu, quảng bá hình ảnh đất nước, lịch sử, văn hóa và con người ViệtNam, tiềm năng phát triển và hợp tác của Việt Nam với cộng đồng quốc tếtrên các lĩnh vực, Về phương thức, lực lượng tham gia và tổ chức thực hiện,Chỉ thị nêu rõ: cần huy động mọi lực lượng, mọi khả năng để mở rộng và đadạng hóa các phương thức thông tin, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất - kỹthuật cho hoạt động thông tin, Các nhà xuất bản đẩy mạnh xuất bản các ấnphẩm bằng nhiều thứ tiếng giới thiệu, quảng bá hình ảnh đất nước, con người
và văn hóa Việt Nam đến nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước có đôngngười Việt Nam định cư
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản ViệtNam, tháng 1-2011 chỉ rõ: Đổi mới, tăng cường việc giới thiệu, truyền bá vănhóa, văn học, nghệ thuật, đất nước, con người Việt Nam với thế giới Mở
Trang 26rộng, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thông tin đối ngoại, hợp tácquốc tế trong lĩnh vực văn hóa, báo chí, xuất bản,… Hỗ trợ đồng bào định cư
ở nước ngoài ổn định cuộc sống, giữ gìn bản sắc dân tộc, chấp hành tốt phápluật nước sở tại, hướng về quê hương, tích cực góp phần xây dựng đất nước
- Ngày 9-6-2011, Ban Tuyên giáo Trung ương có Thông báo số 47-TB/BTGTW thông báo kết luận của đồng chí Trưởng Ban Tuyên giáo Trungương tại buổi làm việc với Đảng ủy Ngoài nước, trong đó có nêu: thí điểmxây dựng tủ sách dành cho cán bộ, đảng viên, cộng đồng người Việt Nam ởngoài nước trên cơ sở phù hợp với đối tượng, thiết thực, hiệu quả
- Ngày 8-2-2012, Thông báo “Kết luận của Bộ Chính trị về việc tăngcường quan hệ đối ngoại của Đảng trong tình hình mới” nhấn mạnh quanđiểm chỉ đạo của Đảng đối với công tác thông tin đối ngoại và đề ra một sốphương hướng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đối ngoại củaĐảng và những nhiệm vụ cụ thể: đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo vềtình hình thế giới và khu vực, trong đó chú trọng việc nghiên cứu về tình hìnhcác chính đảng nước ngoài và sự phát triển của quan hệ chính đảng trongquan hệ quốc tế; tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác đối ngoạinhân dân,… qua đó tuyên truyền rộng rãi để bạn bè quốc tế hiểu biết hơn vềĐảng Cộng sản Việt Nam, về công cuộc đổi mới của Đảng và nhân dân ta
- Ngày 14-2-2012, Kết luận số 16-KL/TW của Bộ Chính trị về Chiếnlược phát triển thông tin đối ngoại giai đoạn 2011-2020 nêu rõ: Tiếp tục tuyêntruyền, quảng bá hình ảnh Việt Nam yêu chuộng hòa bình, đổi mới, năngđộng, ổn định, dân chủ và phát triển; nâng cao uy tín, vị thế và ảnh hưởng củaViệt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế; phát huy sức mạnh đại đoànkết toàn dân tộc, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, tạothuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa Việt Nam cơ bảntrở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 với phương
Trang 27châm “Chính xác, kịp thời, sinh động, phù hợp từng đối tượng” Hai trong sốnhững nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để thực hiện được mục tiêu trên là: (1) đadạng hóa hình thức, phương tiện thông tin, tranh thủ tối đa các lực lượngthông tin truyền thông, các thành tựu khoa học, công nghệ trong hoạt độngthông tin đối ngoại, tăng cường thông tin bằng tiếng nước ngoài; và (2) huyđộng mọi nguồn lực xã hội tham gia công tác thông tin đối ngoại, trong đóchú trọng công tác vận động và hỗ trợ người Việt Nam ở nước ngoài tổ chứccác hoạt động giữ gìn, phát huy bản sắc dân tộc, hướng về quê hương; thựchiện đồng bộ, thống nhất chương trình dạy tiếng Việt cho cộng đồng ngườiViệt Nam ở nước ngoài; hợp tác, hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nướcngoài xuất bản báo, tạp chí cho người Việt,… phù hợp với định hướng củacông tác thông tin đối ngoại
- Để triển khai thực hiện Kết luận số 16-KL/TW của Bộ Chính trị,ngày 6-8-2012, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 21/CT-TTg “Về việctriển khai thực hiện Chiến lược phát triển thông tin đối ngoại giai đoạn 2011
- 2020”, trong đó nêu rõ yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trựcthuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương tập trung triển khai các hoạt động thông tin đối ngoại ở nước ngoài,đặc biệt nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, các hoạt động đốingoại của lãnh đạo cấp cao, kỷ niệm năm chẵn trong quan hệ ngoại giaogiữa Việt Nam với các nước; chỉ đạo, định hướng và cung cấp thông tin, cácsản phẩm thông tin đối ngoại cho các cơ quan đại diện Việt Nam ở nướcngoài để thực hiện nhiệm vụ thông tin đối ngoại; tổ chức và thực hiện các sựkiện, chương trình hoạt động đối ngoại về văn hoá, thể thao, du lịch ở quy
mô quốc gia và quốc tế nhằm thúc đẩy công tác thông tin đối ngoại, giớithiệu, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam tới cộng đồng quốc
tế và đồng bào Việt Nam ở nước ngoài
Trang 28- Ngày 28-2-2013, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 368/QĐ-TTg
“Phê duyệt Chương trình hành động của Chính phủ về thông tin đối ngoại giaiđoạn 2013-2020”, một trong những mục tiêu của Chương trình là nhằm giúpngười Việt Nam ở nước ngoài có thể tiếp cận thông tin từ trong nước qua cácphương thức thông tin đối ngoại Chương trình đã vạch ra nhiều nhiệm vụ cụthể, trong đó nhấn mạnh một số nội dung như: đào tạo, tập huấn, bồi dưỡngkiến thức thông tin đối ngoại; biên soạn tài liệu phục vụ công tác thông tin đốingoại; tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế, các sự kiện quảng bá hình ảnhViệt Nam;Tổ chức quảng bá, giới thiệu hình ảnh đất nước, con người, cáctiềm năng thế mạnh, các thành tựu về mọi mặt của Việt Nam đến với bạn bèquốc tế và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài bằng các hình thức đadạng, phong phú, đạt hiệu quả cao
Trang 29Chương 2 CÔNG TÁC XUẤT BẢN SÁCH PHỤC VỤ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI
2.1 Khái niệm, đối tượng thụ hưởng và các thể loại sách phục vụ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
vệ Tổ quốc hiện nay; nhận thức đầy đủ hơn về đường lối, chính sách đối ngoại,
về những quy định, thủ tục pháp lý… của Đảng và Nhà nước ta trong các vấn
đề liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài; giữ vững bản sắc văn hóa vàngôn ngữ dân tộc; khơi dậy lòng tự tôn dân tộc, tình yêu quê hương, đất nước,chung sức đồng lòng xây dựng cộng đồng người Việt lành mạnh, có uy tín trênđất nước bạn; đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch…
2.1.2 Đối tượng thụ hưởng và các nhóm nhu cầu đối với sách
Đối tượng thụ hưởng sách phục vụ cộng đồng người Việt Nam ở nướcngoài là người Việt Nam đã xa Tổ quốc lâu năm, người Việt Nam đi đoàn tụgia đình, lao động, làm ăn, kinh doanh ở nước ngoài; người Việt Nam kết hôn
Trang 30với người nước ngoài, thế hệ thứ hai, thứ ba các thanh thiếu niên gốc Việtsinh ra ở nước ngoài; du học sinh Việt Nam Có thể phân thành các nhóm sau:
- Đối tượng người lớn tuổi (trên 65 tuổi): thường sống với con cháu, rỗirãi thời gian, rất thích đọc sách báo, nhất là sách về lịch sử, văn hóa, sáchtruyện cổ tích Việt Nam, sách dạy con cháu tiếng Việt
- Đối tượng 35-65 tuổi: thường bận rộn với công việc, mỗi năm đi muasách chắc khoảng 1-2 lần Họ thích đọc các sách báo mang tính thời sự, theodõi tình hình thế giới và Việt Nam, các thông tin khoa học kỹ thuật Họ cũngthích đọc các sách dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (các sách nổi tiếngcủa tác giả nước ngoài), sách/DVD giải trí (truyện cười, DVD ca nhạc),
- Đối tượng trẻ và sinh viên thế hệ thứ nhất (thông thạo tiếng Việt)cũng rất quan tâm đến sách báo tiếng Việt Họ rất thích sách song ngữ Anh -Việt để học thêm tiếng Anh Các gia đình người Việt có con trẻ còn cónhu cầu về các loại sách nuôi dạy con, sách truyện cổ tích Việt Nam
- Đối tượng trẻ và sinh viên thế hệ thứ hai (không thông thạo tiếngViệt) thường quan tâm đến sách báo Việt Nam do sự hướng dẫn, định hướngcủa gia đình Nhiều người trong số họ có hạn chế khi đọc sách tiếng Việt.Đối tượng này thường quan tâm các sách lịch sử, văn hóa, xã hội Việt Nambằng tiếng Anh hoặc song ngữ
2.1.3 Thể loại
Thể loại đề tài sách được cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoàiquan tâm có thể được phân thành bốn nhóm sau:
- Nhóm đề tài sách về Việt Nam - đất nước và con người:
+ Điều kiện tự nhiên, thiên nhiên tươi đẹp của Việt Nam với nhữngtiềm năng và lợi thế: điều kiện tự nhiên; tài nguyên thiên nhiên; các danh lam,thắng cảnh của Việt Nam,
+ Con người Việt Nam: nguồn gốc người Việt; cộng đồng các dân tộcViệt Nam; ngôn ngữ, chữ viết; dân cư; kiến trúc, trang phục, ẩm thực,…
Trang 31- Lịch sử Việt Nam: các bộ cổ sử; các tài liệu, các công trình về lịch sử,
về truyền thống dựng nước và giữ nước của người Việt Nam; các danh nhânlịch sử,
+ Văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc: lịch sử văn hóa Việt Nam,phong tục, tập quán, tín ngưỡng, các thể loại văn học, nghệ thuật…Việt Nam
Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Nhà nước Việt Nam vềchính sách đại đoàn kết dân tộc qua các thời kỳ lịch sử, đặc biệt trong giai đoạnthực hiện đường lối đổi mới đất nước (có thể bao gồm nhiều tập, tập hợp cácnghị quyết, chủ trương của Đảng từng thời kỳ, cho từng đối tượng cụ thể )
Các đề tài sách viết về chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, củaNhà nước Việt Nam
+ Sách về pháp luật của Nhà nước Việt Nam:
Các văn bản pháp luật cơ bản của Nhà nước ta về thể chế chính trị, bộ
máy Nhà nước, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân: Hiến pháp, Luật tổ chức
Trang 32Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, các Luật tổ chức và hoạt động của Tòa án vàViện kiểm sát nhân dân, Bộ luật dân sự, Bộ luật lao động, Bộ luật hình sự, các
Bộ luật tố tụng dân sự và hình sự, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Các văn bản pháp luật về chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài: các văn bản pháp luật về quốc tịch, về xuất cảnh-nhập cảnh, các văn
bản pháp luật về cư trú, đi lại, hôn nhân-gia đình, chứng minh thư, hộ chiếu,đất đai, nhà ở đối với người Việt Nam ở nước ngoài Dưới hình thức: luật,pháp lệnh đơn hành, tập hợp văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vựcnhư: Luật quốc tịch Việt Nam, Luật nhà ở, Luật hôn nhân và gia đình, Luậtđất đai, Quy định pháp luật về xuất, nhập cảnh
Các văn bản pháp luật về đầu tư, kinh doanh, doanh nghiệp, khoa học
-công nghệ, sở hữu trí tuệ, thương mại, ngân hàng, chứng khoán, thuế các loại,bảo hiểm, giáo dục - đào tạo, trọng tài, khiếu nại - tố cáo, khiếu kiện hànhchính, v.v Các điều ước quốc tế đa phương, song phương mà Nhà nước ViệtNam tham gia hoặc ký kết như: Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp, Luật thươngmại, Luật khoa học công nghệ, Luật sở hữu trí tuệ, Luật ngân hàng,
Các sách về hướng dẫn, tìm hiểu, giải thích chính sách, pháp luật dưới
dạng phổ thông, dễ hiểu có liên quan đến các lĩnh vực pháp luật nêu trên đểngười Việt Nam định cư ở nước ngoài và trí thức Việt kiều có thể nắm đượcnhững hiểu biết cơ bản về chính sách, pháp luật của Nhà nước ta mà họ quantâm, hoặc định hướng cho họ rõ hơn về pháp luật nước ta, như Tìm hiểu Luậtđầu tư, Tìm hiểu Luật doanh nghiệp, Tìm hiểu Luật quốc tịch Việt Nam,
+ Sách đấu tranh, phản bác quan điểm, luận điệu sai trái của các phần
tử cơ hội, các thế lực thù địch với Việt Nam; đấu tranh vạch mặt các phần tửchống phá đất nước; tuyên truyền công tác tôn giáo của Đảng; thông tin vềcác vấn đề liên quan đến dân chủ, nhân quyền, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ,biển đảo,
Trang 33(Đối tượng chính của nhóm đề tài này là những trí thức, doanh nhânViệt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài muốn tìm hiểu về Việt Nam).
- Nhóm đề tài sách về Việt Nam - tiềm năng và phát triển
+ Thành tựu trong công cuộc đổi mới của Việt Nam trên các lĩnh vựcchính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ, giáo dục, an ninh, quốcphòng, đối ngoại… và định hướng phát triển của Việt Nam;
+ Giới thiệu về các hội, tổ chức đoàn thể của doanh nghiệp tại ViệtNam, về Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam,
+ Môi trường kinh doanh, chính sách khuyến khích, ưu đãi của nhànước ; tiềm năng và lợi thế, chính sách thu hút đầu tư của các địa phương;các ngành nghề, lĩnh vực mà Nhà nước ta kêu gọi, khuyến khích nước ngoài,người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư
+ Các sách viết về những tấm gương điển hình của các nhà khoa học,trí thức, doanh nhân Việt kiều đã và đang giúp đỡ và đầu tư có hiệu quả tạiViệt Nam,
+ Doanh nghiệp và doanh nhân Việt Nam
(Đối tượng chính của nhóm đề tài này là độc giả Việt Nam ở nướcngoài và người nước ngoài muốn tìm hiểu và làm ăn ở Việt Nam)
- Nhóm đề tài sách về Việt Nam với đồng bào ở nước ngoài
+ Thông tin về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài:
+ Sách cẩm nang dành cho người Việt Nam ở xa Tổ quốc;
+ Dạy tiếng Việt
(Đối tượng chính của nhóm đề tài này dành cho độc giả người ViệtNam ở nước ngoài, đặc biệt dành cho từ thế hệ thứ hai trở đi, sinh ra vàlớn lên ở nước ngoài)
2.2 Tình hình xuất bản sách phục vụ người Việt Nam ở nước ngoài của các đơn vị xuất bản Việt Nam
Xuất bản sách phục vụ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một
bộ phận trong công tác thông tin đối ngoại của Đảng và Nhà nước, là một