Là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng, cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại NHTM cũng điều tất yếu và không nằm ngoài quy luật
Trang 1MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Cạnh tranh là một trong những thuộc tính đặc trưng nhất của nền kinh tế thị trường: Các chủ thể sản xuất- kinh doanh cùng một lĩnh vực luôn có xu hướng cạnh tranh để giành được những lợi thế nhất định, duy trì thị phần, tối đa hóa lợi nhuận và phát triển Là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ
và tín dụng, cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại (NHTM) cũng điều tất yếu và không nằm ngoài quy luật
Ở Việt Nam, cùng với quá trình thị trường hóa nền kinh tế, sự đổi mới và phát triển của Hệ thống Tài chính, ngày càng có nhiều các NHTM với các mô hình tổ chức và thuộc các loại hình sở hữu khác nhau được ra đời và tham gia hoạt động thì áp lực cạnh tranh giữa các NHTM ngày một cao hơn
Chi nhánh tỉnh Quảng Nam nói riêng đã có rất nhiều nỗ lực cố gắng để đổi mới và phát triển trên mọi hoạt động Song về cơ bản, năng lực cạnh tranh của Ngân hàng vẫn còn rất hạn chế và thực sự cần thiết phải được ưu tiên củng cố và tăng cường trong giai đoạn
hiện nay Trong bối cảnh đó, đề tài nghiên cứu: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam” được chọn nghiên cứu nhằm góp phần
nâng cao năng lực cạnh tranh của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp
và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến
Trang 2- Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam với hệ thống
số liệu và tài liệu được thu thập và xử lý trong giai đoạn 2005-2009
4.Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu khoa học được sử dụng trong luận văn bao gồm: Phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp quy nạp và diễn dịch, phương pháp thông kê, mô phỏng
và lượng hoá, phương pháp chuyên gia, v.v… được chọn lọc và sử dụng trong quá trình đánh giá năng lực cạnh tranh cũng như nghiên cứu và đề xuất các giải pháp, kiến nghị và kết luận
5.Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam
Trang 3Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại
1.1.1 Quan niệm về ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại (NHTM) được định nghĩa khác nhau theo các quan điểm tiếp cận và nghiên cứu khác nhau, song đa số các nhà
kinh tế học trên thế giới thống nhất rằng ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và tín dụng
Là một doanh nghiệp, các NHTM cũng được tổ chức và hoạt động theo những mô hình tổ chức quản lý nhất định dựa trên cơ sở pháp lý và mục đích tối đa hóa lợi nhuận Song cho dù được tổ chức dưới mô hình nào, hoạt động cơ bản của các NHTM cũng bao gồm như sau
1.1.2 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Hoạt động nguồn vốn
Nguồn vốn luôn là tiền đề quan trọng nhất vì có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ quy mô, cơ cấu và tính chất các hoạt động kinh doanh của NHTM Trên cơ sở nguồn vốn huy động được, các NHTM mới có khả năng sử dụng vào các mục đích phát triển của nền kinh tế xã hội nói chung và mang lại lợi nhuận cho chính bản thân các NHTM
1.1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn
Sử dụng vốn của đa số các NHTM trên thế giới là cho vay Chính sự phát triển của hoạt động cho vay, đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ các hoạt động sản xuất kinh doanh khiến cho vị trí của các NHTM ngày càng quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của nền kinh tế
Trang 4So với hoạt động cho vay, hoạt động đầu tư của các NHTM có quy mô và tỷ trọng nhỏ hơn, song cũng có ý nghĩa rất quan trọng về mặt thu nhập và tạo điều kiện cho các ngân hàng thâm nhập sâu rộng vào nền kinh tế
1.1.2.3 Hoạt động trung gian tài chính
Hoạt động trung gian tài chính, sở dĩ được coi là hoạt động trung gian vì với những hoạt động này ngân hàng không phải là "con nợ" hay "chủ nợ" đối với khách hàng mà đứng ở vị trí trung gian để thoả mãn các nhu cầu dịch vụ tài chính và tiện ích cho các đối tượng khách hàng
Các ngân hàng cần thực hiện tốt, đồng bộ tất cả các hoạt động, tạo ra sự năng động và toàn diện của hoạt động ngân hàng Trên cơ
sở đó, và các ngân hàng sẽ thực sự trở thành những ngân hàng thương mại đa năng và nâng cao tiềm lực cạnh tranh lành mạnh
1.2 Cạnh tranh và đặc điểm cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái quát về cạnh tranh và lợi ích của cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh được coi là cơ sở để đảm bảo rằng các doanh nghiệp tồn tại và phát triển khi và chỉ khi thoả mãn được các nhu cầu và mong muốn của khách hàng và thị trường Khi xem xét về tác động của cạnh tranh, đa số các nhà kinh tế học thuộc trường phái K Marx tập trung khai thác những tác động tiêu cực nên cho rằng cạnh tranh gây sự hỗn loạn mất ổn định bởi sự phá sản của các doanh nghiệp hoặc dẫn đến độc quyền và tiếp đến là
sự lũng đoạn Một cách khách quan hơn, các nhà kinh tế học hiện đại nhận định rằng dưới áp lực cạnh tranh, các doanh nghiệp sẽ tự điều tiết sản xuất kinh doanh về số lượng, chất lượng và giá cả phù hợp nhất, góp phần ổn định nền kinh tế cả ở tầm vĩ mô và tầm vi mô cũng
Trang 5như đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng
1.2.2 Cạnh tranh và đặc điểm cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại
Các NHTM là những doanh nghiệp song là các doanh nghiệp đặc biệt nên cạnh tranh giữa các NHTM có những khác biệt so với cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thông thường với nhau trên hai giác độ: (1) sự hợp tác trong cạnh tranh; và, (2) “vũ khí cạnh tranh” được sử dụng
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thường là “cuộc chiến khốc liệt” và kết quả cạnh tranh có thể là sự phá sản của một hay một số doanh nghiệp, để doanh nghiệp khác tồn tại và phát triển Nhưng nếu một hay một vài NHTM trong hệ thống bị phá sản, sẽ tác động và lan truyền ảnh hưởng đến các NHTM khác và có thể dẫn đến sự sụp đổ hàng loạt các NHTM, gây ra khủng hoảng tài chính và khủng hoảng kinh tế Do vậy, dù cạnh tranh rất gay gắt, các NHTM vẫn phải hợp chặt chẽ và tạo điều kiện cùng nhau phát triển
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thông thường luôn sử dụng giá cả như là “vũ khí chiến lược”, trong khi cạnh tranh giữa các NHTM sử dụng vũ khí là những ưu thế trong kinh doanh, sự khác biệt về loại hình và chất lượng dịch vụ được cung cấp
Những sự khác biệt của cạnh tranh giữa các NHTM trên đây
sẽ là cơ sở phương pháp luận rất quan trọng trong việc nghiên cứu về năng lực cạnh tranh và định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM
1.3 Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
1.3.1 Quan niệm về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Năng lực cạnh tranh của một NHTM có thể được khái quát là khả năng của ngân hàng trong việc tạo lập, duy trì và phát huy những lợi
Trang 6thế nhằm củng cố và mở rộng thị phần, gia tăng quy mô hoạt động, đảm bảo an toàn, hiệu quả và sự phát triển bền vững
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Mặc dù vẫn còn tồn tại một số quan điểm khác nhau, song nhìn chung đa số các quan điểm thống nhất lựa chọn 3 nhóm các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh bao gồm: (1) nhóm các chỉ tiêu về năng lực tài chính và hiệu quả kinh doanh; (2) nhóm các chỉ tiêu về năng
b) Nhóm các chỉ tiêu tương đối: Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời
- Tỷ trọng tài sản sinh lời trên tổng nguồn vốn
- Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu ( CAR)
- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
- Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản có (ROA)
1.3.2.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động kinh doanh
a) Chất lượng nguồn nhân lực của ngân hàng thương mại
Trang 7Chất lượng nguồn nhân lực là nhân tố quyết định toàn bộ đến quy mô, hiệu quả kinh doanh, khả năng sinh lời và cuối cùng là tác động đến năng lực cạnh tranh của NHTM
b) Điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ của ngân hàng
Cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ phản ánh năng lực cạnh tranh của các NHTM thông qua khả năng tăng năng suất lao động, trang thiết bị hiện đại và các phần mềm được ứng dụng trong kinh doanh, khả năng kết nối các NHTM với nhau
c) Chỉ tiêu về khả năng huy động và cơ cấu nguồn vốn
Khả năng huy động vốn được xác định bởi quy mô và tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn cùng với thời gian Quy mô của nguồn vốn càng lớn và tăng trưởng ổn định thì NHTM càng có khả năng cạnh tranh cao
d) Chỉ tiêu về quy mô và cơ cấu tài sản
Khả năng cho vay và đầu tư phản ánh khả năng tăng trưởng dư
nợ cho vay và quy mô đầu tư cũng như khả năng duy trì và mở rộng thị phần cho vay và đầu tư của một NHTM
e) Sự đa dạng và chất lượng của sản phẩm dịch vụ tài chính Một NHTM có khả năng cạnh tranh cao, thị phần lớn được duy trì và mở rộng luôn phải bao hàm số lượng, chủng loại và chất lượng
sản phẩm được cung cấp và tiêu thụ trên thị trường đó
f) Hệ thống kênh phân phối sản phẩm
Hệ thống kênh phân phối sản phẩm đối với các NHTM cũng chính là mạng lưới hoạt động và luôn là chỉ tiêu quan trọng phản ánh năng lực cạnh tranh
g) Khả năng quản trị rủi ro
Một NHTM có khả năng nhận biết và xác định một cách chính xác, đầy đủ và kịp thời các loại rủi ro có thể phát sinh Khả năng
Trang 8phân tích rủi ro và trên cơ sở đó đưa ra quyết định kinh doanh với sự chủ động chấp nhận rủi ro và thực hiện các biện pháp kiểm soát phù hợp cũng là những dấu hiệu của khả năng cạnh tranh cao
1.3.2.3 Nhóm các chỉ tiêu về thị phần của ngân hàng thương mại
a) Độ lớn hay quy mô của thị phần hoạt động
Căn cứ vào các hoạt động cơ bản của NHTM, thị phần của NHTM được xác định qua 3 giác độ gồm: Thị phần huy động vốn
- Thị phần cho vay
- Thị phần cung cấp dịch vụ phi tín dụng
b) Khả năng duy trì và mở rộng thị phần hoạt động
Chỉ tiêu này cũng phản ánh về khả năng thích ứng, phù hợp của các sản phẩm của một NHTM với nhu cầu của các đối tượng khách hàng về cả số lượng, cơ cấu, chất lượng và giá cả, do vậy có thể “giữ chân” và thu hút thêm khách hàng
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
1.3.3.1.Sự phát triển của nền kinh tế và hệ thống tài chính
Sự phát triển của nền kinh tế có tác động và ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của tất cả các doanh nghiệp và NHTM theo cả hai hướng, tích cực và tiêu cực
1.3.3.2.Tác động của các yếu tố về văn hóa và xã hội
Những đặc điểm văn hóa xã hội ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực làm việc trong các NHTM: quan điểm về doanh nhân
và kinh doanh, về đạo đức nghề nghiệp, về học tập và đào tạo, về sự gắn bó nghề nghiệp hay quan điểm, v.v…
1.3.3.3.Sự tác động của các chính sách kinh tế vĩ mô và hệ thống luật pháp
Hoạt động kinh doanh và cạnh tranh giữa các NHTM là chịu sự
Trang 9chi phối và ảnh hưởng của rất nhiều bởi sự quản lý và giám sát của nhà nước và ngân hàng trung ương Ngoài ra, những quy định của luật cũng tác động đến khả năng tham gia cạnh tranh của các chủ thể trên thị trường tài chính, gia tăng hay kìm hãm khả năng cạnh tranh của các NHTM trên thị trường trong nước và quốc tế
1.4 Bài học kinh nghiệm về nâng cao năng lực cạnh tranh của một số NHTM hiện đại của các nước trên thế giới
1.4.1 Năng lực cạnh tranh của một số NHTM trên thế giới
1.4.1.1 Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Citibank (Citigroup) 1.4.1.2 Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Bank of America
1.4.1.3 Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Thương mại Hồng Kông – Thượng Hải (HSBC)
1.4.1.4 Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng ANZ- Australia
1.4.1.5 Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Bank of China
1.4.2 Một số bài học kinh nghiệm cho các NHTM Việt Nam
Một số bài học kinh nghiệm được rút ra, có thể có những đóng góp cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam:
Thứ nhất, năng lực tài chính mạnh
Thứ hai, xử lý triệt để nợ xấu qua thị trường
Thứ ba, coi trọng việc xây dựng và thực hiện văn hóa kinh doanh
Thứ tư, năng lực quản trị điều hành là một khâu then chốt
Thứ năm, duy trì năng lực cạnh tranh trên cơ sở nền tảng công
nghệ ngân hàng hiện đại
Thứ sáu, chủng loại sản phẩm dịch vụ ngân hàng rất đa dạng phong
phú
Thứ bảy, uy tín và năng lực hoạt động rất cao thông qua mạng
lưới rộng khắp trên phạm vi toàn cầu
Trang 10Chương 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN TỈNH QUẢNG NAM 2.1 Khái quát về Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Nam (Agribank Quảng Nam) có tên giao dịch quốc tế là Agribank, Quang Nam Branch, là doanh nghiệp nhà nước hạng I, đóng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Với hệ thống mạng lưới kinh doanh rộng khắp trong phạm vi cả tỉnh, gồm hội sở chính tại tỉnh, 26 chi nhánh loại 3 và
19 phòng giao dịch có trụ sở tại các huyện, thành phố
2.1.2 Mô hình tổ chức và quản lý của Agribank Quảng Nam
Là Chi nhánh trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, mô hình tổ chức và quản lý của Agribank Quảng Nam là mô hình tham mưu trực tuyến, mọi hoạt động quản lý và điều hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ và chế độ một thủ trưởng (Sơ đồ 2.1)
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh trong giai đoạn 2005-2009
2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn
Chi nhánh đã hết sức quan tâm và tăng cường các hoạt động huy động và cải thiện cơ cấu nguồn vốn Trên thực tế, những cố gắng quan trọng nhất đã phát huy tác dụng tích tích cực đối với củng cố và gia tăng nguồn vốn của Chi nhánh trong thời gian 2005-2009 (Bảng 2.1)
2.1.3.2 Hoạt động sử dụng vốn
Trong giai đoạn 2005-2009, Chi nhánh đã tập trung phát triển các hoạt động sử dụng vốn chủ yếu như cho vay, đầu tư và cung cấp dịch vụ bảo
Trang 11lãnh cho khách hàng, trong đó hoạt động cho vay là chủ yếu (Bảng 2.2)
2.1.3.3 Hoạt động trung gian tài chính
Chi nhánh đã rất ưu tiên đầu tư phát triển và đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ Ngoài những dịch vụ trung gian truyền thống như thanh toán, chuyển tiền, cung cấp dịch vụ bảo lãnh, v.v…, Chi nhánh
đã rất chủ động và tích cực trong việc phát triển các sản phẩm dịch
vụ mới như dịch vụ thẻ các loại, dịch vụ vấn tin tài khoản (Phone banking), ngân hàng tại nhà (Home hoặc Mobile banking), dịch vụ bảo hiểm, đại lý nhận lệnh chứng khoán, dịch vụ nghỉ dưỡng, v.v…
2.1.3.4 Kết quả hoạt động kinh doanh 2005-2009
Kết quả các mặt hoạt động kinh doanh cơ bản của Agribank Quảng Nam trong giai đoạn 2005-2009 có thể được phản ánh tóm tắt trong Bảng 2.4 thông qua một số các chỉ tiêu tài chính quan trọng
2.2 Thực trạng về năng lực cạnh tranh của Agribank Quảng Nam
Là chi nhánh phụ thuộc Agribank Việt Nam, do vậy từ nguồn nhân lực, quy mô nguồn vốn và cho vay, các dịch vụ cung cấp đến việc ứng dụng công nghệ của Agribank Quảng Nam do Agribank Việt Nam quyết định Năng lực cạnh tranh của Agribank Quảng Nam không chỉ phụ thuộc, chịu ảnh hưởng trực tiếp mà còn được phản ánh thông qua năng lực cạnh tranh của Agribank Việt Nam Do vậy, để nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của Agribank Quảng Nam, trước hết hãy tìm hiểu về năng lực cạnh tranh của Agribank Việt Nam
2.2.1 Năng lực cạnh tranh của Agribank Việt Nam
2.2.1.1 Thực trạng về năng lực tài chính
a) Quy mô nguồn vốn chủ sở hữu và mức độ an toàn vốn
Từ khi thành lập, Agribank Việt Nam luôn tăng cường quy mô vốn chủ sở hữu Agribank Việt Nam là NHTM có quy mô vốn chủ sở hữu ở mức cao nhất trong những NHTM Việt Nam (Bảng 2.5)
Trang 12b) Mức độ an toàn vốn
Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu còn gọi là hệ số COOK hay hệ số CAR cũng là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh năng lực tài chính và năng lực cạnh tranh của một NHTM và Agribank Việt Nam luôn là NHTM có vị trí cao về chỉ tiêu này (Bảng 2.6)
c) Khả năng sinh lời
Khả năng sinh lời là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh, kết quả và khả năng cạnh tranh của một NHTM Đánh giá khả năng sinh lời của các NHTM có thể sử dụng các chỉ tiêu khác nhau như giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau thuế với tổng tài sản (ROA) ( Bảng 2.7) hay với vốn chủ sở hữu (ROE) ( Bảng 2.8)
d) Khả năng phòng ngừa và quản trị rủi ro
Khả năng phòng ngừa và quản trị rủi ro hay những tổn thất xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh của một NHTM cho biết khả năng tồn tại bền vững của một NHTM ngay trong những điều kiện khó khăn Khác với khả năng quản trị rủi ro được trình trong Chương 1, ở Việt Nam, khả năng phòng ngừa và quản trị rủi ro được đo bằng chất lượng tài sản hoặc tỷ lệ nợ xấu ở các nhóm 3, 4 và 5 theo Quyết định 493/2005 của NHNN về phân loại nợ của các NHTM ( Bảng 2.9) Chất lượng tài sản có thể hiện thông qua chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, Chỉ tiêu nợ xấu là một trong những chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng hoạt động cũng như tình hình tài chính của các NHTM
2.2.1.2 Khả năng củng cố và mở rộng thị phần
Ở Việt Nam cũng như các nước phát triển khác, hoạt động quan trọng nhất và cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất về doanh thu, chi phí và thu nhập của các NHTM là hoạt động huy động và cho vay vốn Vì vậy, thị phần của các NHTM trước hết được nghiên cứu và đánh giá thông qua hai thị phần huy động và cho vay của các NHTM (Bảng 2.10)