Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Kết quả nghiên cứu của đề về thành phần sâu hại vừng và một số đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của sâu cuốn lá vừng A.. Kết quả là làm giảm năng suất n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯
NGUYỄN ĐỨC KHÁNH
ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC, SINH THÁI HỌC
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG SÂU CUỐN LÁ VỪNG
Antigastra catalaunalis (Duponchel) (Lepidoptera: Pyralidae)
TẠI LỘC HÀ, HÀ TĨNH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT
HÀ NỘI - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯
NGUYỄN ĐỨC KHÁNH
ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC, SINH THÁI HỌC
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG SÂU CUỐN LÁ VỪNG
Antigastra catalaunalis (Duponchel) (Lepidoptera: Pyralidae)
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận án
Nguyễn Đức Khánh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận án này, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đặng Thị Dung đã tận tình hướng dẫn, dìu dắt tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo Bộ môn Côn trùng, Bộ môn thực vật, Khoa Nông học và Ban Quản lý đào tạo, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật Trung Ương I đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn ban lãnh đạo, hộ nông dân các xã thuộc huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài trong thời gian qua
Tôi cũng xin được ghi nhận những ý kiến trao đổi, góp ý và sự giúp đỡ của các nhà khoa học, các đồng nghiệp trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận án
Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân và bạn bè đã hết lòng giúp đỡ, động viên cả về tinh thần và vật chất trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận án
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận án
Nguyễn Đức Khánh
Trang 62.4.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái của sâu cuốn lá vừng
Trang 73.4 Biện pháp phòng chống sâu cuốn lá vừng A catalaunalis bằng
Trang 9DANH MỤC BẢNG
3.12 Mức độ gây hại của sâu cuốn lá vừng A Catalaunalis theo giai
đoạn sinh trưởng của cây vừng đến năng suất vụ hè thu năm 2012
3.13 Ảnh hưởng của mật độ gieo trồng đến diễn biến mật độ sâu cuốn
3.14 Ảnh hưởng của phân bón đến mật độ sâu cuốn lá vừng
A catalaunalis (Giống V36) vụ hè thu 2012 tại Lộc Hà, Hà Tĩnh 84
3.15 Thành phần thiên địch bắt mồi sâu cuốn lá vừng A Catalaunalis
Trang 103.16 Thành phần loài côn trùng ký sinh sâu cuốn lá vừng
A catalaunalis năm 2010-2012 tại Lộc Hà, Hà Tĩnh 91
3.17 Vòng đời của ong ngoại ký sinh Elasmus sp ở điều kiện nhiệt độ
3.18 Tỷ lệ vũ hóa của ong ngoại ký sinh Elasmus sp trong điều kiện
3.20 Ảnh hưởng của thức ăn bổ sung đến thời gian sống của ong ngoại ký
3.21 Sức đẻ trứng của ong ngoại ký sinh Elasmus sp trên sâu cuốn lá
3.23 Tỷ lệ ký sinh của ong Elasmus sp đối với sâu cuốn lá vừng ở
3.24 Hiệu lực thuốc bảo vệ thực vật trừ sâu cuốn lá vừng
A Catalaunalis trong điều kiện nhà lưới 101
3.25 Hiệu lực thuốc thuốc bảo vệ thực vật trừ sâu cuốn lá vừng
Trang 11DANH MỤC HÌNH
3.10 Hình ảnh về triệu chứng gây hại của sâu cuốn lá vừng
3.12 Ảnh hưởng của mùa vụ đến diễn biến mật độ sâu cuốn lá vừng
A catalaunalis tại Thạch Bằng, Lộc Hà, Hà Tĩnh năm 2010
3.13 Ảnh hưởng của mùa vụ đến diễn biến mật độ sâu cuốn lá vừng
A catalaunalis tại Thạch Bằng, Lộc Hà, Hà Tĩnh năm 2011 79
3.14 Ảnh hưởng của giống vừng khác nhau đến mật độ sâu cuốn lá
3.15 Ảnh hưởng của tập quán canh tác đến diễn biến mật độ sâu cuốn lá
Trang 123.16 Ảnh hưởng của tập quán canh tác đến diễn biến mật độ sâu cuốn lá
3.17 Một số ảnh về thiên địch bắt mồi trên ruộng vừng tại Lộc Hà,
3.18 Quan hệ giữa mật độ sâu cuốn lá vừng A catalaunalis và tỷ lệ ký
3.20 Trứng ong ngoại ký sinh Elasmus sp trên cơ thể sâu non vật chủ
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vừng (Sesamum indicum L.) thuộc họ vừng (Pedaliaceae) đã được gieo trồng rất lâu đời và được cho là có nguồn gốc từ Châu Phi (Ram et al., 1990)
Vừng là cây công nghiệp ngắn ngày, cây lấy dầu quan trọng không chỉ ở Việt Nam mà còn cả trên thế giới Cây vừng có thể được trồng trên những vùng đất
có độ phì nhiêu tự nhiên thấp như đất xám bạc màu, đất pha cát… nhưng lại có giá trị cao trên một đơn vị diện tích (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs., 2006) Do vậy việc phát triển trồng vừng không chỉ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp mà còn nâng cao thu nhập cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo
Hình 1 Ảnh phân loại thực vật của cây vừng và ruộng vừng
thí nghiệm của đề tài
Nguồn (a): Thomas (1998)
Cây vừng có giá trị sử dụng cao, thành phần dinh dưỡng của cây vừng chủ yếu là lipit 45 - 55%, protein 16 - 18% và gluxit 18 - 22% (Nguyễn Vy và cs., 1996) Do vừng là cây có hàm lượng dầu cao nên nó được mệnh danh là
“Hoàng hậu các cây có dầu” Dầu vừng tinh chế được xem là loại dầu ăn hảo
a
Trang 14hạng ngày càng được sử dụng nhiều thay thế cho mỡ động vật bởi khi ăn dầu vừng tránh được bệnh xơ cứng động mạch Ngoài ra, với đặc tính không bị ôxi hóa, dầu vừng có thể cất giữ được lâu mà không bị ôi và nhờ hương vị đặc thù nên dầu vừng được sử dụng nhiều trong nghành công nghiệp thực phẩm (Phạm Văn Thiều, 2005; Nguyễn Vy, 2005)
Trong hạt vừng chứa khoảng 50% dầu, 25% protein, 5% chất khoáng, 1% canxi, 3% axit, l4% chất xơ v.v Vừng được sử dụng trong chế biến các loại thực phẩm, như các loại bánh ngọt, bánh mỳ, bánh quy, bánh sôcôla, kem, chè,
mè xửng, rượu vang, rượu brandy, dầu trộn salad, dầu nấu ăn, hạt vừng rang (Morris, 2002)
Hiện nay, trên thế giới vừng được gieo trồng với diện tích không nhiều nhưng vừng có mặt ở khắp các châu lục, sản lượng vừng hàng năm trên thế giới khoảng 2 triệu tấn Các vùng trồng vừng chính là châu Á, chiếm 55 - 60%, châu
Mỹ chiếm 20 - 25%, châu Phi chiếm 17 - 20%, ngoài ra ở châu Âu, châu Đại dương cũng có trồng rải rác nhưng không đáng kể (FAO, 2013)
Đối với nước ta vừng là một loại thực phẩm truyền thống, hạt vừng làm tăng vị bùi cho chiếc bánh đa, cho chiếc kẹo lạc, cho bánh mè xửng,…cơm nắm chấm muối vừng là món ăn truyền thống của người dân Việt Nam Việc gieo trồng vừng ở nước ta có từ lâu đời ít nhất là vài ba thế kỷ Trong sách
“Vân Đài Loại Ngữ” nhà bác học Lê Quý Đôn đã từng tổng kết “Phép làm ruộng tốt thì nên trồng đỗ xanh trước sau đó đến vừng” (dẫn theo Nguyễn Vy, 2005) Bên cạnh đó, trên cây vừng có nhiều loài sâu phá hại, chúng làm ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây vừng, từ đó làm giảm năng suất, chất
lượng sản phẩm vừng (Egonyu et al., 2005)
Sâu cuốn lá vừng Antigastra catalaunalis là côn trùng gây hại chính đối với
vừng trên toàn bộ thế giới, là loài sâu hại thường xuyên và quan trọng nhất ảnh hưởng đến vừng ở Australia Nó tấn công toàn bộ các giai đoạn phát triển trên mặt
đất của cây vừng từ khi vừng mọc mầm đến khi cây trưởng thành (Singh et al., 1985, 1986; Singh, 2003; Egonyu et al., 2009)
Trang 15Hà Tĩnh là một trong số ít vùng chuyên canh vừng ở Việt Nam do điều
kiện khí hậu khắc nghiệt, kèm theo đất ven biển là đất cát pha, nghèo dinh
dưỡng Do vậy, hiệu quả kinh tế từ việc sản xuất vừng cao hơn những cây trồng
khác Xuất phát từ những lý do trên, các vùng ven biển của Hà Tĩnh đưa cây
vừng vào cơ cấu cây trồng chính ở vụ xuân-hè và hè-thu hàng năm Tuy nhiên,
cũng như những loại cây trồng khác, cây vừng bị nhiều loại dịch hại tấn công
làm giảm năng suất và chất lượng hạt, đặc biệt là loài sâu cuốn lá vừng
A catalaunalis, trong khi đó ở Việt Nam nói chung và Hà Tĩnh nói riêng các
nghiên cứu về loài sâu cuốn lá vừng A catalaunalis gần như chưa có công trình
khoa học nào đầu tư nghiên cứu cả về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và
biện pháp phòng chống loài sâu hại này
2 Mục đích, yêu cầu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục đích
Trên cơ sở những nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của
loài sâu cuốn lá vừng A catalaunalis, làm cơ sở để xây dựng biện pháp quản lý
chúng đạt hiệu quả kinh tế, ít ảnh hưởng đến thiên địch và bảo vệ môi trường
- Nghiên cứu xác định đặc điểm sinh thái học của loài sâu cuốn lá vừng
A catalaunalis tại điểm nghiên cứu
- Khảo nghiệm hiệu lực một số loại thuốc bảo vệ thực vật phòng chống loài
sâu cuốn lá vừng A catalaunalis
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Những kết quả nghiên cứu của đề tài về loài sâu cuốn lá vừng
A catalaunalis tình hình gây hại, đặc điểm hình thái, sinh vật học, sinh thái học
là những dẫn liệu rất có ý nghĩa khoa học Các kết quả này là những tư liệu khoa
Trang 16học mới có thể sử dụng trong công tác nghiên cứu, viết giáo trình phục vụ công
tác đào tạo
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề về thành phần sâu hại vừng và một số đặc điểm
sinh vật học, sinh thái học của sâu cuốn lá vừng A catalaunalis làm cơ sở để nhận
biết chính xác khi quan sát sâu cuốn lá vừng ngoài thực tế, dự tính, dự báo kịp thời
sự xuất hiện và gây hại của chúng; làm cơ sở để xây dựng biện pháp phòng chống
sâu cuốn lá vừng A catalaunalis có hiệu quả, góp phần bảo vệ năng suất, phẩm
chất hạt vừng và môi trường sống
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Loài sâu cuốn lá vừng Antigastra catalaunalis (Duponchel) (Lepidoptera:
Pyralidae) gây hại trên cây vừng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
A catalaunalis tại Lộc Hà, Hà Tĩnh
- Đề tài đi sâu nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh vật học, sinh thái
học của loài sâu cuốn lá vừng A catalaunalis, khảo nghiệm hiệu lực một số loại
thuốc bảo vệ thực vật trong phòng chống loài sâu cuốn lá vừng A catalaunalis
là những nội dung chính được thực hiện trong thời gian từ năm 2010 - 2013 tại
Lộc Hà, Hà Tĩnh
5 Những đóng góp mới của đề tài
- Loài sâu cuốn lá vừng Antigastra catalaunalis (Duponchel) lần đầu tiên
được ghi nhận ở Việt Nam là loài sâu hại phổ biến, quan trọng trong số 21 loài sâu
hại vừng tại Lộc Hà, Hà Tĩnh
- Thu nhận được nhiều dẫn liệu mới có hệ thống và đầy đủ về đặc điểm hình
thái, sinh vật học, sinh thái học của sâu cuốn lá vừng
- Bổ sung cơ sở khoa học kỹ thuật cho biện pháp phòng chống sâu cuốn lá
vừng tại Lộc Hà, Hà Tĩnh
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Sâu cuốn lá vừng (đục ngọn/đục quả) Antigastra catalaunalis là loài dịch
hại trên cây vừng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt tại những vùng có khí hậu nhiệt đới, chúng có mặt ở tất cả các châu lục trừ vùng Antarctica Ở châu
Âu, loài sâu này xuất hiện xuyên suốt vùng Địa Trung Hải: Bồ Đào Nha (Portugal), Tây Ban Nha (Spain), Pháp (France), Ý (Italy), Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey), Cộng hòa Malta (Plantwise Knowledge Bank, 2014)
Khả năng gây hại của sâu cuốn lá vừng A catalaunalis rất lớn, có thể làm
giảm 10 - 60% năng suất (Singh, 2003) Sâu cuốn lá vừng là nguyên nhân gây hại của 10 - 70% số lá, 34- 62% số hoa nụ và 10 - 44% số quả Kết quả là làm giảm
năng suất nghiêm trọng có thể lên tới 72% (Rai et al., 2001)
Ở Việt Nam đã có nghiên cứu trên cây vừng với nhiều loài sâu hại, như các loài câu cấu, sâu cuốn lá vừng, sâu đục thân, sâu róm, rệp, bọ xít, sâu xanh, sâu đo,… chúng làm ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây vừng, từ đó làm giảm năng suất, phẩm chất vừng một cách đáng kể (Trần Văn Lài và cs., 1993) Trong mối quan hệ giữa dịch hại cây trồng và hoạt động mất cân đối trong sản xuất nông nghiệp của con người, đó là sự mất cân đối khi sử dụng giống cây trồng trong sản xuất nông nghiệp, sự mất cân đối khi áp dụng các biện pháp canh tác kỹ thuật và sự mất cân đối trong quá trình tổ chức sản xuất sẽ tạo điều kiện cho dịch hại phát triển (Hà Quang Hùng, 1998) So với hệ sinh thái tự nhiên thì hệ sinh thái nông nghiệp luôn bị hạn chế về tính đa dạng và tính bền vững, do chịu tác động không ngừng của nhiều nhân tố ngoại cảnh (Weires and Chiang, 1993) Trong tự nhiên, thỉnh thoảng ta có thể gặp hiện tượng một loài sâu bọ nào đó bùng phát số lượng hay còn gọi phát dịch với mật độ cá thể rất lớn, ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống con người Cần thấy rằng đây là trường hợp không bình thường có nguyên nhân sâu xa từ sự mất cân bằng sinh thái mà phần lớn là do con người (Nguyễn Viết Tùng, 2008) Bất kỳ một biện pháp tác động nào lên hệ sinh thái nông nghiệp cũng đều có thể hoặc là ức chế
Trang 18được dịch hại (có hiệu quả trừ dịch hại) hoặc là làm tăng thêm tính trầm trọng
của dịch hại Sự thay đổi giống mới, luân canh, xen canh các cây trồng, thay
đổi chế độ phân bón, mật độ gieo trồng, cơ chế tưới tiêu… tất cả đều gây ra
những biến đổi lớn về tình hình dịch hại trong hệ sinh thái nông nghiệp Nếu
các biện pháp tác động lên hệ sinh thái nông nghiệp không được nghiên cứu
cẩn thận mà đưa vào áp dụng trên diện rộng có thể dẫn tới bùng phát số lượng
dịch hại một cách khốc liệt và dẫn đến các dịch hại thứ yếu xuất hiện triền
miên và có tính chất hủy diệt (Phạm Văn Lầm, 2010)
Thành phần, mức độ phổ biến và tác hại của sâu hại vừng nói chung và
sâu cuốn lá vừng A catalaunalis ở nước ta đã được một số tác giả nghiên cứu,
tuy nhiên còn ở mức rất khiêm tốn Chính vì vậy, việc nghiên cứu đặc điểm
sinh vật học và sinh thái học của loài sâu cuốn lá vừng A catalaunalis sẽ có ý
nghĩa khoa học và làm cơ sở thực tiễn đối với việc quản lý có hiệu quả loài sâu
hại này
1.2 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tổng quan nghiên cứu ở ngoài nước
1.2.1.1 Nghiên cứu về cây vừng
* Vị trí phân loại
Cây vừng (Sesamum indicum L.; syn Sesamum orientale L.) là cây lấy dầu
hàng năm thuộc chi Sesamum, họ Vừng Pedaliaceae Họ Vừng Pedaliaceae có 16
chi với hơn 60 loài, song chỉ có loài S indicum L là có giá trị kinh tế hơn cả
(Zerihun, 2012)
Nghiên cứu của Linnaeus vào năm 1753 mô tả vừng có hai loài là Sesamum
indicum L., Sesamum orientale L., nhưng De Candolle đã nhập S orientale
L thành một thứ của S indicum L (Dẫn theo Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs., 2006)
Hiện nay, có khoảng 30 loài vừng khác nhau, trong đó có những loài được
trồng phổ biến là vừng trắng và vừng đen Màu sắc của các giống thay đổi khác
nhau từ đỏ đến hồng, nâu hoặc xám Thời gian sinh trưởng của cây vừng từ 75 đến
150 ngày tuỳ giống và vùng sinh thái Những giống vừng trồng phổ biến ở Việt
Trang 19Nam và Đông Nam Á có thời gian sinh trưởng ngắn (75 - 100 ngày), với chiều cao cây từ 1,0 - 1,5m (Phạm Văn Thiều, 2005)
Cây vừng có nguồn gốc từ châu Phi Có nhiều ý kiến cho rằng Ethiopia là nguyên sản của giống vừng trồng hiện nay Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng vùng Afganistan - Pakistan mới là nguyên sản của các giống vừng trồng ngày nay Vừng là loại cây có dầu được trồng lâu đời (khoảng 2000 năm trước công nguyên) Sau đó được đưa vào vùng tiểu Á và được di chuyển về phía tây - vào châu Âu và phía nam vào châu Á dần dần được phân bố đến Ấn Độ và một số nước Nam Á rồi đến Trung Quốc Ở Nam Mỹ, vừng được du nhập qua từ châu Phi sau khi người Âu Châu khám phá ra châu Mỹ vào năm 1492 Ấn Độ được coi là
trung tâm phân bố của cây vừng (Brar and Ahuja, 1979; Ram et al., 1990) Còn
nghiên cứu của Bedigian (1985) lại cho rằng, cây vừng có nguồn gốc từ miền Đông châu Phi và Ấn Độ
* Giá trị sử dụng và giá trị dinh dưỡng của vừng
Hầu hết các bộ phận của cây vừng đều có giá trị sử dụng Chẳng hạn, thân cây vừng được làm nguồn bổ sung protein cho gia súc Tại Venezuela, người ta bổ sung thêm đường vào thân cây khô, tưới nước ủ lên men để làm thức ăn cho gia súc Nông dân nước này thường dẫn ngựa ra cánh đồng vừng sau thu hoạch để ăn
cỏ và cây vừng tái sinh Vừng còn được trồng trong các vườn hoa, người làm vườn còn dùng vừng như là cây phòng hộ vì rễ nó có tác dụng diệt tuyến trùng Các nhà thủ công mỹ nghệ còn sử dụng thân vừng khô để trang trí Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) phát động chương trình trồng vừng trên các bờ ranh của ruộng lúa trong mô hình cộng đồng sử dụng công nghệ sinh thái để quản lý dịch hại trên lúa Vừng khi trổ hoa sẽ cung cấp thức ăn cho các loài côn trùng có ích tham gia khống chế các dịch hại trên ruộng lúa
Hoạt chất sinh học có trong lá của cây vừng có khả năng kìm hãm quá trình
sinh trưởng phát triển của một số loài sâu hại Nghiên cứu của Henry et al (2009)
đã chỉ ra rằng, chất chiết xuất từ vừng, (Sesamum indicum L (Pedaliaceae)), hoặc
lá của cây vừng cho sâu non sâu khoang Spodoptera litura (F.) ăn, chúng tăng
Trang 20trưởng và phát triển rất chậm Hầu hết các giống vừng thử nghiệm cho sâu non sâu khoang ăn, đều hạn chế đáng kể sự tăng trưởng và phát triển của chúng Đặc biệt đối với sâu non tuổi 1, tỷ lệ hóa nhộng là bằng 0% Ở các tuổi lớn hơn, khi cho ăn bằng lá vừng, thời gian phát triển dài hơn hơn so với các loại thức ăn khác (40 ngày
so với 17 ngày) Ngoài ra, dịch chiết suất từ lá vừng có khả năng diệt được nấm hại
cây trồng Họ đã làm thí nghiệm với loài nấm cộng sinh Leucoagaricus
gongylophorus (Möller) gây hại cây trồng Loại nấm này bị ức chế hoàn toàn bởi các chất chiết xuất thô thu được từ lá vừng ở nồng độ 2,5 mg /ml Khả năng ức chế nấm sinh trưởng 50% chỉ ở nồng độ 1,25 mg/ml
Hạt vừng chứa một hàm lượng rất cao đồng và mangan, ngoài ra, hạt vừng còn chứa một lượng không nhỏ về canxi, magiê, sắt, phốt pho, vitamin B1, kẽm, molypden, selen, và chất xơ Ngoài các chất dinh dưỡng quan trọng kể trên, hạt vừng chứa hai chất độc đáo, đó là sesamin và sesamolin Cả hai chất này thuộc về nhóm các chất sợi mang lại lợi ích đặc biệt được gọi là lignans, và đã được chứng minh là có tác dụng làm giảm cholesterol trong máu ở người, ngăn ngừa huyết áp tăng cao, tăng nguồn cung cấp vitamin E ở động vật Ngoài ra, chất Sesamin cũng
đã được tìm thấy để bảo vệ gan khỏi bị tổn thương trong quá trình oxy hóa (Sirato
et al., 2001)
Hạt vừng được sử dụng trong chế biến nhiều loại thực phẩm, chẳng hạn các loại bánh ngọt, bành mỳ, bành quy, bánh socola, kem, mè xững, rượu vang, rượu brandy, dầu trộn salad, dầu nấu ăn, hạt vừng rang … (Morris, 2002)
Theo Chen et al (2005) hạt vừng có nhiều tính năng tác dụng rất lớn đối với
sức khỏe của con người Hạt vừng chứa hàm lượng vitamin E cao, là chất chủ lực chống oxyhoa tế bào Chất sesamol lignan có trong hạt vừng có khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư Ngoài ra chất này còn có khả năng làm giảm huyết áp trong máu
Sản phẩm hạt vừng sau khi được chiết xuất dầu, bã thải còn lại chứa 42% protein, rất giàu tryptophan và methonine, đó là sản phẩm tuyệt vời để làm thức
ăn cho động vật (Hatam and Abbasi, 1994) Ngoài ra, sản phẩm dầu vừng còn
Trang 21được sử dụng trong công nghiệp chế biến dược phẩm, chế biến mỹ phẩm làm đồ trang điểm, làm trẻ hóa tế bào vì có chất chống oxy hóa của hạt vừng (Salunkhe and Desai, 1986) Dầu vừng rất tốt, khác với các loại dầu khác là không bị oxy hóa nên không chuyển thành mùi khó chịu vì trong vừng có chứa chất sesamol, ngăn cản quá trình oxy-hóa Trong kỹ nghệ, dầu vừng sử dụng để bôi trơn máy móc cao cấp như máy bay, máy dùng trong khoa học kỹ thuật, dầu dùng để pha sơn, pha vecni rất tốt vì có màu láng bóng, do đó dầu vừng được tiêu thụ nhiều nhất Trong y học, dùng để làm thuốc viên con nhộng Dầu vừng còn dùng trong
mỹ phẩm, ở Ấn Độ người ta còn dùng dầu vừng để bôi vào tóc cho bóng mượt Cũng như các dầu thực vật khác, dầu vừng cũng được sử dụng để làm xà phòng hay margarine, nhưng do giá dầu vừng cao nên đến nay ít sản xuất Trước kia dầu vừng dùng để thắp sang và còn được sử dụng trong y dược làm các loại thuốc tiêm vào cơ để tăng khả năng vận chuyển của thuốc Nhiều loại thuốc bảo
vệ thực vật trừ sâu sử dụng dầu vừng như chất tăng hiệu làm tăng khả năng trừ diệt sâu hại của thuốc
Vừng có giá trị dinh dưỡng cao, trong hạt vừng có chứa: 45 - 55% dầu, 19 - 20% protein, 8 - 11% đường, 5% nước, 4 - 6% chất tro Thành phần axit hữu cơ chủ yếu của dầu vừng là 2 loại axít béo chưa no sau:
eicosedienoic - 0,01%; và các loại khác chiếm khoảng 0,8%
Trang 221.2.1.2 Tình hình sản xuất vừng trên thế giới
Vừng là cây có hạt lấy dầu cổ xưa nhất được trồng ở các vùng có khí hậu nhiệt đới và những vùng có nhiệt độ ấm áp trên thế giới bởi giá trị tuyệt vời của hạt vừng, cung cấp dầu và thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày của con người Diện tích canh tác vừng trên thế giới (năm 2009) trung bình khoảng 7,4 triệu hectar Ấn Độ đứng với đầu về diện tích canh tác, khoảng 1,75 triệu hectar (chiếm 23% tổng diện tích thế giới) Sudan đứng thứ hai với 1,43 triệu hectar (khoảng 19%) Myanmar đứng thứ ba với 1,37 triệu hectar (18%) Trung Quốc đến thứ tư với 0,5 triệu hectar (6,8% tổng diện tích) Uganda và Nigeria 0,3 triệu hectar (4% tổng diện tích) và Ethiopia 0,2 triệu hectar (2,7% tổng diện tích) (Hala, 2011) Ở Ethiopia, vừng là cây lấy dầu quan trọng đứng hàng thứ 3 sau đậu tương và lạc, và cũng là cây lấy dầu xuất khẩu quan trọng nhất ở quốc gia này (Zerihun, 2012)
Nghiên cứu của Sintim et al (2010) khẳng định rằng, châu Á là châu lục
sản xuất vừng chủ yếu trên thế giới (chiếm 73% diện tích toàn cầu) Ba quốc gia có diện tích sản xuất lớn nhất là Trung Quốc, Ấn Độ và Myanma
Hiện nay, tuy với diện tích không nhiều nhưng vừng đã được trồng khắp các châu lục trên thế giới Đến năm 2009, theo số liệu thống kê của Tổ chức Nông Lương thế giới (FAO, 2013) diện tích trồng vừng của toàn thế giới đạt hơn 7,7 triệu hécta, với sản lượng gần 4 triệu tấn Ấn Độ là nước có diện tích trồng vừng lớn nhất đạt 1,87 triệu hécta, tiếp theo là Myanmar đạt 1,57 triệu hécta, Sudan đạt 1,23 triệu hécta nhưng Myanmar là nước đạt sản lượng vừng cao nhất với hơn 867 nghìn tấn Các vùng trồng vừng chủ yếu là châu Á sản xuất 55 - 60% sản lượng vừng trên thế giới, châu Mỹ chiếm 20 - 25%, và châu Phi chiếm 17 - 20% Ngoài ra, châu Âu và châu Đại Dương cũng có trồng rải rác nhưng không đáng kể
Nhìn chung năng suất vừng của thế giới còn thấp, bình quân năm 2009 đạt 5,17 tạ/ha (FAO, 2013) Song Trung Quốc có năng suất vượt trội (13,06 tạ/ha), gấp hơn 5 lần năng suất vừng của Sundan; 3,7 lần năng suất vừng của Ấn Độ; 3,6 lần năng suất vừng của Nigeria và cao hơn nhiều so với các quốc gia khác (Bảng 1.1)
Trang 23Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng vừng của thế giới năm 2009 Nước Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
Theo Hala (2011) sản lượng vừng thế giới sản xuất hàng năm trung bình gần
4 triệu tấn Myanmar là quốc gia có sản sản lượng vừng cao nhất mặc dù một số nước khác có diện tích đất canh tác vừng lớn hơn như Ấn Độ và Sudan Sản lượng vừng của Myanmar trên thế giới chiếm khoảng 20%, tiếp đó là Ấn Độ (khoảng 18%) và của Trung Quốc khoảng 16,5% trong những năm 2005-2009 Sudan là nước đứng thứ 4 về sản lượng vừng do năng suất quá thấp (khoảng 9%)
Mahmoud (2012) cho biết, khoảng 99% diện tích sản xuất vừng trên thế giới được phân bố ở các nước đang phát triển, nơi mà vừng thường được gieo trồng bởi những trang trại nhỏ Ở Ai Cập, vừng được xếp vào cây lương thực hơn
là cây công nghiệp lấy dầu, bởi phần lớn sản phẩm được tiêu dùng trực tiếp Cũng theo tác giả Mahmoud, ở Ai Cập diện tích trồng vừng không ngừng được mở rộng (từ 11.264 ha năm 1961 lên 31.000 ha năm 2009), và do đó sản lượng vừng cũng tăng lên rất nhiều (10.469 tấn năm 1961 và 41.000 tấn năm 2009), năng suất vừng đạt 1063 kg/ha
Trang 24Ngày nay, Ấn Độ và Trung quốc là 2 quốc gia sản xuất vừng lớn nhất thế giới, sau đó đến Burma, Sudan, Mexico, Nigeria, Venezuela, Turkey, Uganda và
Ethiopia (Oplinger et al., 1990) Và diện tích trồng vừng vẫn tiếp tục được mở rộng
do giá trị thương mại của sản phẩm (Nayer et al., 2013)
Tác giả Caliskan et al (2004) cũng cho biết rằng: Vừng thường được trồng
với quy mô ở những trang trại nhỏ với đầu tư thấp, ít sử dụng máy móc cơ giới ở
Carlson (1967) trên cây vừng ở California, có 4 loài sâu hại nguy hiểm cần
chú ý phòng chống, đó là bọ xít Lygus hesperu Knight, bọ rĩ hoa Frankliniella
occidentalis (Pergande), rệp đào Myzus persicae (Sulzer) và bọ nhảy sọc Systena
sp nr bitaeniata Lec Sự gây hại của 4 loài sâu này đã giảm đáng kể năng suất
cũng như chất lượng hạt vừng
Theo nghiên cứu của Biswas et al (2001) sâu hại tấn công cây vừng ở Ấn
Độ có 29 loài trên tất cả các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây Còn theo Singh (2003) thì cũng tại Ấn Độ, cây vừng bị 30 loài sâu hại tấn công, trong số đó
loài sâu đục ngọn, đục quả A catalaunalis là quan trọng hơn cả
Các tác giả Ahuja and Bakhetia (1995) đã ghi nhận 65 loài côn trùng và một loài nhện sinh sống trên cây vừng, gây hại cho cây vừng ở một hoặc nhiều giai đoạn phát triển của cây ở các vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau Trong số đó
có 3 loài chích hút như rầy nhảy (Orosius albicinctus Distant), bọ xít mù
Trang 25(Nesiodiocoris tenuis Reuter) và bọ phấn (Bemisia tabaci Gennadius) là những loài
sâu hại nguy hiểm, chúng chích hút nhựa của lá, hoa, quả, làm cho lá biến dạng
quăn queo, cây sinh trưởng còi cọc, ảnh hưởng đến năng suất Ngoài ra, rầy nhảy
và bọ phấn còn là môi giới truyền bệnh virus xoăn lá và bệnh khảm lá
Strickeland and Smith (1991) cho rằng, 3 loại sâu hại sinh ra những rủi ro
cao đối với sản xuất vừng ở Australia Đó là sâu cuốn lá vừng (A catalaunalis),
ruồi vằn mật (Asphodylia sesami) và rầy nhảy (Orosius albicinctus) - véctơ lan
truyền của bệnh hoa lá vừng ở Ấn Độ Sâu cuốn lá vừng là côn trùng gây hại chính
đối với vừng xuyên suốt toàn bộ các giai đoạn sinh trưởng phát triển cây vừng và là
sâu hại thường xuyên và quan trọng nhất ảnh hưởng đến vừng ở Australia Nó tấn
công toàn bộ các giai đoạn phát triển trên mặt đất của cây vừng từ khi vừng mọc
mầm đến khi cây trưởng thành Cách tiếp cận hứa hẹn nhất để vượt qua các vấn đề
về sâu cuốn lá vừng dường như nằm trong khả năng kháng hoặc chống chịu trong
các giống vừng thương mại và sử dụng các loài ký sinh thiên địch nhằm hạn chế
tác hại của sâu hại, đã được ghi nhận trên quy mô quốc tế Ruồi vằn mật không
quan sát thấy ở các vụ vừng ở Australia nhưng là một loài sâu hại chính ở Châu Phi
và Ấn Độ Helicoverpa punctigera và H armigera là các loài sâu hại khá phổ biến,
tạo thành các loài sâu ăn quả và ăn hoa quan trọng khác trên cây vừng H armigera
là loài có tính kháng thuốc trừ sâu ở mức độ cao
nhanh hơn so với trưởng thành cái Các kết quả thu được về sinh học loài này có
thời gian sinh trưởng là 33-36 ngày, mức độ gây hại tương đối cao trên cây vừng và
cây lạc ở Ấn Độ và Sudan
Oplinger et al (1997) cho rằng, ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, trên cây
vừng có rất nhiều loài sâu hại, song thường xuyên xuất hiện và gây hại phổ biến có
sâu cuốn lá vừng, rệp đào, bọ trĩ, sâu năn, bọ xít xanh, nhện đỏ, sâu xám, châu
chấu, sâu xanh, sâu khoang Ở Nigeria có khoảng 32 loài sâu hại trên cây vừng ở
các mức gây hại khác nhau
Trang 26Số liệu điều tra của Sintim et al (2010), trong 3 năm 2005-2007, trên 54
dòng vừng trồng và vừng dại khác nhau trên 10 nước thuộc châu Á và 3 nước thuộc châu Phi, đã ghi nhận côn trùng hại xuất hiện từ rất sớm (6 ngày sau gieo) cho đến khi vừng chín (thu hoạch) Thành phần sâu hại trên cây vừng ghi nhận được gồm 7 loài, trong đó bộ cánh thẳng (Orthoptera) một loài thuộc họ Pyrgomorphidae Bộ cánh vảy (Lepidoptera) 2 loài thuộc họ Noctuidae và một loài thuộc họ Sphingidae
Bộ cánh đều (Homoptera) một loài rệp đào thuộc họ Aphididae, Bộ cánh nửa thu
được 3 loài bọ xít (một loài thuộc họ Miridae và 2 loài thuộc họ Pentatomidae
Nghiên cứu của Biswas and Das (2011), thì Bangladesh là một quốc gia có lịch sử lâu đời trồng những cây lấy hạt có dầu Song sản phẩm thu được từ việc trồng trọt chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa khoảng 20% (dân số quốc gia 75 triệu người) Một vấn đề chủ yếu hạn chế thành công trong sản xuất cây có dầu ở Bangladesh là sự gây hại của các loài sâu và nhện hại Kinh nghiệm thực tế cho thấy, hàng năm sản lượng cây có dầu bị mất đi khoảng 15 – 20% do sự gây hại trực tiếp và gián tiếp của sâu, nhện hại Theo tác giả trên, qua tổng hợp nhiều năm nghiên cứu, trên cây vừng ở Bangladesh, có 30 loài côn trùng và một loài nhện hại
Trong số đó, có 5 loài dịch hại chủ yếu, đó là sâu sa (2 loài) Acherontia styx (Westwood) và Ambulyx substrigilis (Westwood) (Lep.: Sphingidae), sâu róm
Spilarctia (=Spilosoma) oblique (Walker) (Lep.: Arctiidae), sâu cuốn lá/đục quả
Antigastra catalaunalis (Dup.) (Lep.: Pyralidae) và bọ xít mù Cyrtopeltis tenuis
(Reuter) (Hem.: Miridae) Các loài còn lại là những loài thứ yếu
* Những nghiên cứu về sâu cuốn lá vừng (A catalaunalis)
Theo Plantwise Knowledge Bank (2014) sâu cuốn lá vừng (đục ngọn/đục
quả) A catalaunalis là loài dịch hại trên cây vừng ở hầu hết các quốc gia trên thế
giới, đặc biệt tại những vùng có khí hậu nhiệt đới, chúng có mặt ở tất cả các châu lục trừ vùng Antarctica Ở châu Âu, loài sâu này xuất hiện xuyên suốt vùng Địa Trung Hải: Bồ Đào Nha (Portugal), Tây Ban Nha (Spain), Pháp (France), Ý (Italy), Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey), Cộng hòa Malta
Singh et al (1985, 1986), trong số những loài sâu hại trên cây vừng, sâu cuốn
lá (đục ngọn/đục quả) A catalaunalis là một trong những loài sâu hại nguy hiểm, ảnh
hưởng lớn đến năng suất
Trang 27Singh (2003) cho biết, sâu cuốn lá vừng A catalaunalis có thể làm giảm 10 -
60% năng suất Còn các tác giả Rai et al (2001) lại cho rằng, sâu cuốn lá vừng là
nguyên nhân gây hại của 10 - 70% số lá, 34- 62% số hoa nụ và 10 - 44% số quả
Kết quả là làm giảm năng suất, thậm chí tới 72%
Vishnupriya et al (2003) khi nghiên cứu về hiện trạng gây hại của sâu cuốn
lá/đục quả vừng A catalaunalis trên 2 giống vừng ở Tamil, Nadu (Ấn Độ) ở các mùa
khác nhau cho biết, trong thời gian từ tháng 2 đến tháng 4, sự phát triển quần thể của
loài sâu hại này tương quan thuận với độ nhiệt môi trường, song không thể hiện sự
tương quan với yếu tố ẩm độ
Nghiên cứu của các tác giả Tripathi et al (2007) cũng chỉ ra rằng, ở vùng
Kanpur thuộc bang Uttar Pradesh, loài sâu cuốn lá ngọn và đục quả vừng
A catalaunalis thường gây hại nặng trên cây vừng từ giai đoạn rất sớm, sâu non nhả
tơ cuốn lá non cùng với ngọn, rồi nằm ăn trong tổ Và ở giai đoạn sau khi hình thành
quả non, sâu non đục quả chui vào trong và ăn hạt Những quả bị hại có thể giảm
53,1% số hạt so với những quả bình thường
Theo hai tác giả Kumar and Goel (1994), khi quan sát ruộng vừng bị sâu
A catalaunalis gây hại trên quả từ cuối tháng 9 đến giữa tháng 10, làm giảm 66,31%
số hạt trên quả vừng ở bang Uttar Pradesh (Ấn Độ) Còn theo Ahuja and Bakhetia
(1995), loài sâu cuốn lá/đục quả vừng A catalaunalis là loài sâu hại nguy hiển nhất
trên cây vừng và là nguyên nhân làm giảm tới 90% năng suất
Nhiều công trình nghiên cứu khác cũng đều chỉ ra rằng, sâu cuốn lá (đục
ngọn/đục quả) vừng A catalaunalis là một trong những loài sâu hại nguy hiểm
trên cây vừng (Chaudhry et al., 1989; Baskaran and Thangavelu, 1991; Egonyu et
al., 2009)
Shrivastava et al (2002), ở Ấn Độ, cây vừng bị nhiều loài dịch hại tấn công,
song nguy hại nhất là loài sâu cuốn lá /đục quả A catalaunalis Tỷ lệ hoa và quả vừng
bị hại do sâu A catalaunalis giao động khoảng 2,0 - 75% (hoa) và 1,4 - 31,2% (quả)
tương ứng tùy theo vùng địa lý và thời gian khác nhau
Kết quả nghiên cứu của Sing et al (1992) cho thấy, trưởng thành cái loài sâu
cuốn lá vừng (A catalaunalis) đẻ trứng rải rác từng quả một ở mặt dưới lá, ở nách lá,
Trang 28trên hoa hoặc quả vào ban đêm Thời gian tiền đẻ trứng dao động khoảng 2,0 - 6,5
ngày; Thời gian đẻ trứng khoảng 4,2 - 5,3 ngày Sức đẻ trứng khoảng 22,0 - 83,5
quả/cái tùy theo điều kiện nhiệt độ Thời gian phát dục của trứng, sâu non, nhộng
tương ứng là 2,1 - 7,1; 9,8 - 28,3 và 5 - 14 ngày Vòng đời trung bình biến động nhiều
18 - 49,4 ngày tùy theo điều kiện nhiệt độ môi trường Thời gian sống của trưởng
thành đực là 6,2 - 8,3 ngày; của trưởng thành cái là 7,0 - 10,7 ngày
Các tác giả Ahirwa et al (2010) đã nghiên cứu khá kỹ về đặc điểm sinh vật
học, hình thái học của sâu cuốn lá vừng A catalaunalis, theo kết quả nghiên cứu
này, trứng loài sâu cuốn lá vừng A catalaunalis được đẻ rải rác hoặc thành cụm
trên bề mặt lá Sâu non có 5 tuổi Nhộng hóa luôn trong tổ hoặc trên mặt đất những
chỗ kín Vòng đời biến động nhiều 22 - 39 ngày Trưởng thành thường giao phối
vào buổi sang, đẻ trứng trong khoảng 3-4 ngày, sức đẻ trứng đạt 30 - 90 quả/cái
Gần đây Joop (2009) nghiên cứu về khả năng di chuyển và di trú của sâu
cuốn lá/đục quả vừng (A catalaunalis), ông cho biết, loài sâu cuốn lá vừng
A catalaunalis có khả năng bay cao, bay xa trong quá trình di chuyển Vào tháng
9 năm 2006, 6 mẫu loài sâu cuốn lá vừng A catalaunalis được ghi nhận ở các
vùng khác nhau thuộc Hà Lan Sự di cư này cũng được quan sát thấy ở 6 quốc gia
khác thuộc châu Âu cũng vào tháng 9 năm 2006 (Bỉ, Anh, Na Uy, Cộng Hòa
Ailen, Đan Mạch and Thủy Điển) Họ khẳng định, loài sâu cuốn lá vừng
A catalaunalis là loài mới ghi nhận vào Hệ động vật của Bỉ và Hà Lan Theo
ông, để tìm kiếm và xác định nguồn gốc của sự di cư, họ đã sử dụng thiết bị gọi là
Mô hình TRAJKS của Viện Khí tượng hoàng gia Hà Lan (KNMI) Bằng thiết bị
này họ đã xác định được loài sâu cuốn lá vừng A catalaunalis bắt đầu hành trình
di cư hàng ngày khoảng 30 phút sau khi mặt trời lặn và dừng bay cũng khoảng 30
phút trước khi mặt trời mọc Kết quả là đã xác định được khoảng cách bay của
loài sâu cuốn lá vừng A catalaunalis tối đa có thể tới 192 km/đêm ở độ cao 200 -
400 m so với bề mặt ở nơi mà chúng khởi hành bay Khoảng cách bay di cư của
chúng có thể tới 1000 km hoặc xa hơn Chúng có thể bay di cư ngay cả khi thời
tiết có gió mạnh (20m/s tương đương 72 km/h)
Trang 29Cũng theo Joop (2009) ở miền khí hậu ôn đới thuộc châu Âu, loài sâu cuốn
lá vừng A catalaunalis cũng được tìm thấy nhiều lần như là một loài di cư trong suốt 12 năm ở Anh Ở Đan Mạch, loài sâu cuốn lá vừng A catalaunalis lần đầu
tiên được ghi nhận là vào năm 1984 Phần lớn những ghi nhận sự hiện diện của loài
sâu cuốn lá vừng A catalaunalis là bằng bẫy đèn
Về ngưỡng nhiệt độ thấp của loài sâu cuốn lá A catalaunalis thì Joop
Ngoài cây vừng, sâu cuốn lá vừng A catalaunalis còn sử dụng một số loài
Helianthemum (rock-rose), Linaria vulgaris, các loài thuộc họ Scrophulariaceae
và họ Pedaliaceae (Plantwise Knowledge Bank, 2014)
1.2.1.4 Những nghiên cứu về thiên địch của sâu cuốn lá vừng (A catalaunalis)
Kẻ thù tự nhiên của sâu cuốn lá vừng rất quan trọng và có ý nghĩa Chúng là những tác nhân sinh vật có khả năng kiềm chế sự phát triển của loài sâu cuốn lá
vừng trên đồng ruộng
Theo Hallman and Sanchez (2006) trên đồng ruộng vừng, hầu như không
thu được ong ký sinh trứng của sâu cuốn lá vừng A catalaunalis Mặc dù trong điều kiện phòng thí nghiệm, ong Trichogramma pertiosum (Riley) (Hym.: Trichogrammatidae) thường ký sinh lên trứng của sâu cuốn lá vừng A catalaunalis
được đẻ ở trên giấy, song chúng không đẻ trứng ký sinh lên trứng của sâu cuốn lá
vừng A catalaunalis nếu trứng của sâu cuốn lá vừng được đẻ trên những lá cây vừng Giai đoạn sâu non sâu cuốn lá vừng xuất hiện hai loài ký sinh Euplectrus sp (Hym.: Eulophidae) và Bracon sp (Hym.: Braconidae) Cả hai xuất hiện với số
lượng thấp, vào cuối mùa thu hoạch và không xuất hiện trong tất cả các mùa quan
sát Có hai loài ký sinh vũ hóa ở giai đoạn nhộng sâu cuốn lá vừng A catalaunalis
là Spilochalci sp và Brachymeria sp (Hym.: Chalcididae) Hai loài ký sinh này
cũng không xuất hiện trong tất cả các vụ nghiên cứu Nghiên cứu này nhận thấy rằng các loài côn trùng ký sinh này cũng góp phần kiểm soát số lượng sâu cuốn lá
vừng A catalaunalis ở Colombia
Trang 30Cũng theo Hallman and Sanchez (2006), Elasmus sp là ong ngoại ký sinh
trong phần lớn sâu non bộ cánh vảy Lepidoptera, trong đó có sâu cuốn lá vừng Có
19 loài côn trùng và một loài tuyến trùng ký sinh trên sâu cuốn lá vừng
bố trước đây, rất nhiều loài ký sinh phổ biến và thường tấn công các loài dịch hại
khác trên cây vừng
Theo Mahmoud (2012) trong 13 loài thiên địch thu thập được trên cây vừng
tại Ai Cập trong 2 năm 2010 - 2011, chỉ có duy nhất một loài ong ký sinh
Diadegma sp được xác định là thiên địch của sâu cuốn lá vừng A catalaunalis ở
giai đoạn nhộng với tỷ lệ ký sinh 11,7% năm 2010 và 20,0% năm 2011
1.2.1.5 Những nghiên cứu về biện pháp phòng chống sâu cuốn lá vừng (A catalaunalis)
Các giống vừng khác nhau với kiêu gen khác nhau, có khả năng chống chịu sâu cuốn
lá vừng khác nhau
Theo Singh (2002) nhiều kiểu gen khác nhau và trong đó có một số it kiểu
gen trong các giống vừng có ít đường trong lá, và có hoạt chất phenol trong lá và
hoa cao hơn thì nhận thấy rằng: Thiệt hại do sâu cuốn lá vừng A catalaunalis gây
ra là ít hơn
Sâu non cuốn lá vừng A catalaunalis, sinh trưởng và phát triển rất nhanh
trên các giống nhiểm (Singh, 2002), chỉ số tăng trưởng giảm khi sâu cuốn lá vừng
A catalaunalis ăn lá các giốngvừng có các kiểu gen kháng sâu cuốn lá vừng Kết
quả thí nghiệm cho thấy rằng các kiểu gen ES 22, SI 250 và UMA có thể là một
nguồn gen kháng sâu cuốn lá và đã cho thấy hạn chế đáng kể sinh trưởng và phát
triển của sâu cuốn lá vừng, cơ chế kháng sinh của cây vừng cũng cho kết quả là
giảm thiệt hại khi bị sâu cuốn lá vừng A catalaunalis tấn công
Nghiên cứu của Shrivastava et al (2002) chỉ ra rằng: tác hại của sâu cuốn
lá vừng/đục quả A catalaunalis rất lớn trên cây vừng ở Ấn Độ, nên họ đã đầu tư
nghiên cứu phép thử (test) cho 708 dòng tế bào mầm cây vừng Kết quả thu
được 7 dòng tế bào mầm có phản ứng dương với sâu A catalaunalis (SI-1729,
Trang 31SI-3239, IC-132246, IC-204137, IC-205071, IC-2050S2 and IC-205304), có thể
sử dụng trong chương trình lai tạo giống vừng chống chịu sâu cuốn lá vừng/đục
quả A catalaunalis
Để bảo vệ sự phát triển của cây vừng và giữ cho năng suất ổn định, các biện
pháp phòng chống sâu hại vừng khác nhau đã được áp dụng, mặc dù con người đã
cố gắng bảo vệ cây trồng bằng mọi hình thức, song sản phẩm cây trồng vẫn bị mất
đi khoảng một phần ba sản lượng hàng năm (Raghavendra et al., 2006)
Những nghiên cứu về biện pháp hóa học phòng chống sâu cuồn lá vừng
A catalaunalis: Một số công thức thuốc trừ sâu dạng lỏng và dạng bột đã được
khuyến khích sử dụng trong phòng chống sâu cuốn lá A catalaunalis trên cây
vừng, chúng bao gồm các pyrethroid như entofentrox, cypermethrin, và
decamethrin Các tác giả Selvanarayanan and Baskaran (2000) cho thấy,
entofenprox có hiệu lực tốt hơn trong phòng chống sâu A catalaunalis, tiếp theo
dimethoate Entofenprox áp dụng với liều lượng 1 kg/ha cho thấy giảm tỷ lệ phần
trăm cao nhất đối với quần thể sâu non A catalaunalis Họ khuyến cáo sử dụng
Triazopho 40% EC 50-60 ml/20 lít nước hoặc carbosulfan 20% EC 60 ml/20 lít
nước Áp dụng Dimethoate 50% EC, vào thời điểm 38 ngày sau khi vừng mọc và
khoảng 10 ngày sau đó phun tiếp lần 2 Ogwal et al (2003) cho rằng, Bulldock
025EC là thuốc trừ sâu có hiệu lực phòng chống các côn trùng gây hại cây vừng
cao nhất Tiếp theo Contra-Z (Chloropyrifos + Cypermetrin 400/50) Tại Uganda,
việc sử dụng thuốc trừ sâu hạn chế hơn so với nông dân các quốc gia khác, có lẽ
vì chi phí thuốc trừ sâu cao, hoặc nông dân ít được tập huấn sử dụng
Tripathi et al (2007) đã tiến hành thí nghiệm 8 loại thuốc hóa học, thuốc có
nguồn gốc sinh học và thuốc thảo mộc để trừ sâu cuốn lá vừng A catalaunalis Tác
giả đã điều tra mật độ sâu sau khi phun 3, 7 và 14 ngày Kết quả cho thấy 3 loại
thuốc hóa học (Carina (profenofos) 0,05%; Rocket (profenofos + cypermethrin)
0,05% và Colophos (ethion + cypermethrin) 0,05% là những loại thuốc có hiệu lực
cao bởi sau phun 7 ngày, mật độ sâu A catalaunalis chỉ còn 1,33 - 1,66 con/cây;
trong khi mật độ sâu này ở công thức đối chứng là 3,33 con/cây Sự sai khác mật
độ sâu ở thí nghiệm này có ý nghĩa rõ rệt ở mức Pα ≤ 0.05 Hai thuốc thảo mộc
Trang 32Neemarin và Didi herban có hiệu lực thấp nhất (7 ngày sau phun mật độ sâu còn
2,6 và 3,0 con/cây) Còn các thuốc khác (Dimethoate, Deltamethrin (Decis) và
Monocrotophos) có hiệu lực ở mức trung bình Tỷ lệ quả bị hại ở công thức phun
monocrotophos và endosulfan là 21,14% so với 42,99% ở công thức đối chứng
Vishnupriya et al (2004) đã khảo nghiệm thuốc hóa học và 6 loại thuốc thảo
mộc (dầu Neem A, dầu Neem C, NoPo, NSD20D, lá cây Ngũ Trảo (Vitex negundo)
và dịch chiết từ hạt cây đậu dầu (Pongamia glabra) để phòng chống sâu
A catalaunalis tại Trạm nghiên cứu cây có dầu (TNAU) thuộc Tindivanam, Tamil
Nadu (Ấn Độ) Kết quả cho thấy thuốc hóa học Endosulphan 35 EC với liều lượng
1,5 l/ha cho hiệu lực cao nhất Hai dịch chiết suất từ cây xoan: dầu Neem A (Acetic
acid) 3% và dầu Neem C (Citric acid) 3% cũng cho hiệu lực khả quan so với 4 loại
thảo mộc khác
Tác giả Egonyu et al (2009) làm thí nghiệm với loại thuốc hóa học trừ sâu
cuốn lá vừng (Cypercal P 720EC có chứa 2 hoạt chất: 120 g/l cypermethrin và 600
g/l profenofos) với 7 công thức phun thuốc (số lần) ở các giai đoạn sinh trưởng
khác nhau Kết quả cho thấy, phun 2 lần vào giai đoạn 2 tuần và 4 tuần sau gieo,
cho hiệu lực phòng trừ cao nhất (mật độ sâu chỉ còn 0,5 con/10 cây) và năng suất
cũng cao nhất (1.039 kg/ha) so với công thức phun định kỳ hàng tuần trong suốt vụ
(1.161 kg/ha)
Theo nghiên cứu của Biswas and Das (2011), ở Bangladesh người ta áp
dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM) để hạn chế sâu hại chủ yếu trên cây có
dầu nói chung và trên cây vừng nói riêng rất có hiệu quả
Tại Ấn Độ việc trồng xen cây vừng với các cây trồng khác như đậu xanh,
kê, lạc đã hạn chế được sâu cuốn lá vừng A catalaunalis Bên cạnh đó các côn
trùng bắt mồi như bọ xít hoa Cantheconela furcellata, các loài hổ trùng Cicindella
spp và côn trùng ký sinh Trathala flavo-orbitalis, Campoplex sp., Erioborus sp.,
Temelucha biguttula, Apanteles spp., Cremastus flavoorbitalis là những loài có vai
trò rất lớn trong việc kiểm soát số lượng sâu cuốn lá vừng A catalaunalis trên cây
vừng (Singh, 2003)
Trang 33Gần đây, các nghiên cứu đã đi vào tìm hiểu vai trò của thiên địch và hướng
lợi dụng chúng trong việc kìm hãm sự phát triển của quần thể sâu hại Các tác giả
đều đi đến thống nhất coi biện pháp sinh học là thành phần quan trọng và chủ chốt
của chương trình quản lý dịch hại tổng hợp trên cây vừng nói riêng và trên cây
trồng nói chung
Một trong những biện pháp kỹ thuật cổ điển nhất nhưng mang lại hiệu quả
cao trong việc trừ loài sâu cuốn lá vừng A catalaunalis ở những khu ruộng có diện
tích canh tác không lớn là thăm đồng thường xuyên và bắt sâu bằng tay, bên cạnh
đó việc trồng xen các cây trồng là ký chủ chính của sâu cuốn lá vừng
A catalaunalis với các cây trồng khác nhằm hạn chế sự gây hại của sâu cuốn lá
vừng A catalaunalis
cuốn lá vừng A.catalaunalis nói riêng thì việc sử dụng đơn lẻ các biện pháp đều
không đem lại hiệu quả cao nhất Cần có sự phối hợp các biện pháp trong phòng trừ
dịch hại tổng hợp để phát huy hiệu quả cao nhất Sử dụng các biện pháp kỹ thuật
canh tác, biện pháp sinh học, sử dụng giống chống chịu, thuốc hóa học… dựa trên
sự hiểu biết về mối quan hệ và tác động qua lại giữa 3 yếu tố: cây trồng - sâu hại -
môi trường mới đem hiệu quả tốt nhất
1.2.2 Tổng quan nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.2.1 Tình hình sản xuất vừng
Ở Việt Nam, vừng được trồng lâu đời ở miền Bắc, là cây lấy dầu quan trọng
được trồng ở khắp các vùng sinh thái với các vùng trồng tập trung ở các tỉnh thuộc
Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ Vừng có thể trồng 2 -
3 vụ/năm tùy thuộc vào điều kiện canh tác của từng vùng (Phạm Văn Thiều, 2005)
Theo số liệu thống kê của FAO (2013), năm 1989 thì diện tích cây vừng ở
Việt Nam có khoảng 44000 hécta với sản lượng là 24000 tấn, các chỉ số này đến
năm 1999 lần lượt là 30300 hécta và 13900 tấn, đến năm 2009 đạt 46000 hécta và
24000 tấn Điều này đã cho thấy năng suất và sản lượng vừng ở Việt Nam còn
nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng phát triển cây vừng ở nước ta
Trang 34Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)
Hình 1.1 Diện tích và sản lượng vừng của Việt Nam
Năm
Diện tích Sản lượng
Trang 35Diện tích trồng vừng ở Hà Tĩnh năm cao nhất 2006 có 1120 ha sau đó giảm
đáng kể đến năm 2011 còn 580 ha, lý do từ nhiều nguyên nhân và ảnh hưởng đến
truyền thống sản xuất vừng của Hà Tĩnh Sự thay đổi này chịu sự chi phối rất lớn từ
nhu cầu thị trường tiêu dùng, hiệu quả kinh tế, tập quán canh tác, cơ cấu cây trồng và
ảnh hưởng của nhiều loại sâu bệnh gây hại trên đồng ruộng, trong đó, trước tiên phải
kể đến là sâu cuốn lá vừng A catalaunalis.
Người nông dân bị thiệt hại nhiều trong sản xuất vừng, nhiều ruộng vừng đã
bị mất trắng do sâu cuốn lá vừng gây hại thời kỳ cây con hoặc giảm năng suất
nghiêm trọng dẫn tới hiệu quả kinh tế thấp Sâu cuốn lá vừng A catalaunalis là đối
tượng sâu hại quan trọng và phổ biến có tác hại rất lớn, trong khi đó biện pháp bảo
vệ thực vật của người sản xuất vừng còn sơ sài hoặc chưa hiểu biết cụ thể đối
tượng gây hại, qui luật phát sinh, phát triển và biện pháp khoa học kỹ thuật phòng
chống loài sâu hại này một cách hiệu quả
1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu sâu hại vừng
Tại Việt Nam, trong “Kết quả điều tra cơ bản côn trùng trong hai năm 1967
- 1968” Viện BVTV (1976) đã thống kê được 28 loài sâu hại vừng Cho đến nay đã
biết sâu hại vừng ở Việt Nam có 39 loài thuộc 5 bộ: cánh vảy, cánh cứng, cánh
nửa, cánh tơ, cánh giống
Tại Nghệ An, theo kết quả điều tra nghiên cứu trên sinh quần ruộng vừng
V6, vừng đen và vừng vàng trong hai vụ vừng xuân và vụ vừng hè thu của Trần
Ngọc Lân và cs (2005), tại Yên Thành và Nghi Lộc đã thu thập được 32 loài sâu
hại, trong đó chủ yếu là sâu hại thuộc bộ cánh vảy (Lepidoptera) có tới 17 loài
Trong số 17 loài của bộ cánh vảy có 3 loài sâu phổ biến và có mức độ phá hại
nghiêm trọng nhất
1.2.2.3 Tình hình nghiên cứu sâu cuốn lá vừng A catalaunalis
Ở Việt Nam hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu về sâu cuốn lá vừng
A catalaunalis
1.2.2.4 Tình hình nghiên cứu thiên địch của sâu hại vừng
Ở Việt Nam những năm gần đây việc nghiên cứu thiên địch của các loài sâu
hại chỉ mới tập trung vào các cây trồng phổ biến như thiên địch sâu hại lúa, lạc, đậu
Trang 36tương, còn về thiên địch của sâu hại vừng thì việc nghiên cứu còn rất ít; các nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở mức độ thống kê các loài côn trùng ký sinh như nghiên cứu của Trần Ngọc Lân và cs (2005) đã thu được 14 loài côn trùng ký sinh thuộc 7 họ của 2 bộ, các loài chủ yếu tập trung vào bộ Hymenoptera (12 loài) Trong số 14 loài côn trùng ký sinh sâu bộ cánh phấn gây hại vừng V6 và vừng đen
có 7 loài ong ký sinh ở 2 loài sâu hại: Microplitis prodeniae ký sinh của loài sâu khoang (S litura) và sâu đo (Anomis flava) (pha sâu non); Xanthopimpla punctata
ký sinh ở loài sâu cuốn lá (Lamprosema indicata) và sâu xanh (H armigera) (ký sinh pha nhộng) Brachymeria sp Ký sinh ở pha nhộng loài sâu đo xanh (Argyrogram agnata) và sâu cuốn lá (L indicata), Brachymeria spl Ký sinh ở pha nhộng loài sâu đo xanh (Argyrogram agnata) và sâu xanh (H armigera),
Trichomalopsis sp ký sinh ở pha sâu non; Tachinidae paribaea ký sinh ở sâu khoang (S litura) và sâu xanh (H armigera), ký sinh ở pha sâu non
Theo Phan et al (2011), côn trùng ký sinh sâu hại vừng có 7 loài thuộc 1 bộ,
4 họ; các loài đều tập trung ở bộ cánh màng (Hymenoptera) Có 4 loài thường xuyên
xuất hiện trên đồng ruộng vừng là: Elasmus sp., Trathala flavo-orbitalis, Apanteles
hanoii , Microplitis manilae Hai loài có vai trò lớn trong việc điều hòa số lượng sâu cuốn lá vừng A catalaunalis là Elasmus sp và Trathala flavo- orbitalis Công trình
đã đề cập đến một số đặc điểm sinh học, sinh thái của ong ngoại ký sinh Elasmus sp trên sâu cuốn lá vừng A catalaunalis
1.2.3 Những vấn đề cần quan tâm
Dịch chuyển cơ cấu cây trồng và tác động của biến đổi khí hậu là vấn đê cần được quan tâm trong sản xuất nông nghiệp hiện nay ở nhiều địa phương trên cả nước Vì vậy, cần phải thay đổi cơ cấu cây trồng, để đáp ứng nhu cầu thị trường là
có các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, hữu ích, tốt cho sức khỏe con người
và môi trường sống Mặt khác, hiện tượng sa mạc hóa các vùng đất cát ven biển rất cần những cây trồng có khả năng chống chịu khô hạn mà vẫn cho phép thu hoạch sản phẩm có giá trị, cần cho nhu cầu chế biến thực phẩm, đáp ứng thị trường trong nước và xuất khẩu Vì vậy, cần xây dựng chiến lược cho từng vùng miền dựa trên
Trang 37lợi thế sẵn có về khí hậu, đất đai và từ bộ giống cây trồng bản địa, làm cơ sở cho việc qui hoạch, xây dựng thương hiệu riêng cho đặc sản của địa phương mình Chính vì vậy, cây vừng là cây công nghiệp hội đủ tiêu chuẩn đáp ứng các mối quan tâm trên tại Lộc Hà, Hà Tĩnh
Mặt khác, tình hình gây hại của các loài sâu hại vừng nói chung và sâu cuốn lá vừng nói riêng đã được ghi nhận ở nhiều vùng sản xuất vừng và thực tế
là người nông dân còn lúng túng trong phòng trừ, phải chịu tổn thất nặng, là vì chưa nắm bắt được qui luật phát sinh gây hại và biện pháp phòng chống Cũng cần nói thêm rằng: Việc sử dụng tràn lan các loại thuốc hóa học trên đồng ruộng như hiện nay là vấn đề rất cần được quan tâm trong việc bảo vệ môi trường sinh thái và sức khỏe cộng đồng
Trang 38Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Một vài nét về địa điểm nghiên cứu
* Vị trí địa lý
Hà Tĩnh thuộc vùng Bắc Trung bộ (vùng duyên hải miền Trung), có toạ
độ địa lý từ 17053'50'' đến 18045'40'' vĩ độ Bắc và 105005'50'' đến 106o30'20'' kinh độ Đông (UBND tỉnh Hà Tĩnh, 2006)
- Phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An;
- Phía Nam giáp Quảng Bình;
- Phía Đông giáp biển Đông với 137 km bờ biển;
- Phía Tây giáp với nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào với 145 km đường biên giới
* Đặc điểm địa hình
Hà Tĩnh nằm phía Đông dãy Trường Sơn có địa hình hẹp và dốc nghiêng dần từ Tây sang Đông Địa hình đồi núi chiếm gần 80% diện tích tự nhiên, đồng bằng có diện tích nhỏ, bị chia cắt bởi các dãy núi, sông suối, có 4 dạng địa hình sau:
1) Núi trung bình uốn nếp khối nâng lên mạnh: Kiểu địa hình này tạo thành một dãy hẹp nằm dọc theo biên giới Việt Lào, bao gồm các núi cao từ 1000 m trở lên, trong đó có một vài đỉnh cao trên 2.000 m như Pulaleng (2.711 m), Rào cỏ (2.335 m)
2) Núi thấp uốn nếp nâng lên yếu: Kiểu địa hình này chiếm phần lớn diện tích của tỉnh có độ cao dưới 1.000 m, cấu trúc địa chất tương đối phức tạp
3) Thung lũng kiến tạo - xâm thực: Kiểu địa hình này chiếm một phần diện tích nhỏ nhưng có nhiều thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Độ cao chủ yếu dưới 300 m, bao gồm các thung lũng sông Ngàn Sâu, nằm theo hướng song song với các dãy núi, cấu tạo chủ yếu bởi các trầm tích vụn bở, dễ bị xâm thực
Trang 394) Vùng đồng bằng Hà Tĩnh nằm dọc theo ven biển với có địa hình trung bình trên dưới 3m, bị uốn lượn theo mức độ thấp ra cửa biển từ vùng đồi núi phía Tây, càng về phía Nam càng hẹp Nhìn chung, địa hình tương đối bằng phẳng nhất
là vùng hình thành bởi phù sa các sông suối lớn trong tỉnh, đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến nhẹ
* Đặc điểm khí hậu
Hà Tĩnh nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng của khí hậu miền Bắc có mùa đông lạnh Tuy nhiên, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc từ lục địa Trung Quốc tràn về bị suy yếu nên mùa đông đã bớt lạnh hơn và ngắn hơn so với các tỉnh miền Bắc và chia làm hai mùa rõ rệt, mùa lạnh và mùa nóng Nhiệt độ bình quân ở Hà Tĩnh thường cao Nhiệt độ không khí vào mùa đông chênh lệch thấp hơn mùa hè
màu sắc đất, độ che phủ và độ ẩm của đất
Hà Tĩnh có lượng mưa nhiều, trừ một phần nhỏ ở phía Bắc, còn lại các vùng khác có lượng mưa bình quân hàng năm đều trên 2000 mm, cá biệt có nơi trên
Nguồn: UBND tỉnh Hà Tĩnh, 2006
Trang 40* Tình hình sử dụng đất năm 2008 như sau (602.560 ha):
* Huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh
Địa giới hành chính huyện Lộc Hà: phía Đông giáp Biển Đông; phía Tây giáp huyện Can Lộc; phía Nam giáp huyện Thạch Hà và thành phố Hà Tĩnh; phía Bắc giáp huyện Nghi Xuân
Diện tích tự nhiên là 11.830,85 ha, diện tích đất nông nghiệp là 7.119 ha, dân số 86.213 người và có 13 đơn vị hành chính cấp xã
Địa hình huyện Lộc Hà tương đối bằng phẳng, thấp dần về phía biển, khí hậu Bắc Trung Bộ, có hai mùa rõ rệt là mùa đông khô và lạnh kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4, mùa hè nóng ẩm từ tháng 5 đến tháng 10 Nhiệt độ trung bình năm là:
tuyệt đối: 7oC
tiếp giáp con sông Nghèn, đất thịt nhẹ, tưới tiêu tương đối chủ động, đất thấp trồng lúa, vùng đất cao trồng luân canh Ngô - Vừng, gieo trồng giống vừng đen địa phương và giống vừng đen V36, đầu tư phân bón: Phân vi sinh + phân chuồng
vị trí trung tâm huyện Lộc Hà Tính chất đất thịt pha cát, tưới tiêu bị động chủ yếu qua các đợt mưa, ruộng nơi cao đất khô ráo thoát nước trồng các loại cây, luân canh Lạc- Vừng - Khoai lang, giống vừng đen V36, vừng đen địa phương, đầu tư phân bón phân NPK + Phân chuồng
vị trí tiếp giáp với Biển Đông, tính chất đất cát ven biển, ruộng cao đất khô thoát nước tốt, tưới nước chủ yếu bằng mưa trời, luân canh Dưa hấu - Vừng - Ngô, giống vừng vàng V6, vừng đen địa phuong, đầu tư phân bón chủ yếu bằng phân chuồng + phân vi sinh