Các dẫn chấtquinazolin đã được quan tâm nghiên cứu như là tác nhân mớitrong hóa trị liệu, có hiệu quả đáng kể đối với các khối u rắn và được biết đến là các chất ức chế mạnh thụ thể các
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
DƯƠNG MẠNH QUÂN
Mã sinh viên:
1201484
ỔNG HỢP VÀ THỬ ĐỘC TÍNH TẾ BÀO UNG THƯ CỦA MỘT SỐ
2-(2-ON
ỢC SĨ
Trang 21 Bộ môn Hóa hữu cơ-Đại học Dược Hà Nội
2 Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển thuốc-Viện Hóa sinh biển-Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
HÀ NỘI – 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đúng thời hạn, đạt được những mục tiêu đề ra, trong thời gian vừa qua, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tâm từ các thầy cô, bạn bè trong và ngoài trường Đại học Dược Hà Nội Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới:
TS.Văn Thị Mỹ Huệ, cô đã thường xuyên động viên, giúp đỡ, tạo mọi
điều kiện cho em thực hiện đề tài này
TS Lê Nguyễn Thành, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển thuốc –
Viện Hóa Sinh Biển–Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, thầy đã luôn theo dõi và giúp đỡ em trong quá trình làm khóa luận
Các thầy cô giáo trong Bộ môn Hóa Hữu cơ đã truyền đạt kiến thức quý báu trong suốt thời gian em học tập trong trường tạo nền tảng giúp em thực hiện tốt nhiệm vụ của khóa luận tốt nghiệp
Các anh chị cán bộ Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển thuốc, phòng Nghiên cứu cấu trúc – Viện Hóa học – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã giúp đỡ em trong quá trình thực nghiệm
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện để em có thể tập trung hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đúng hạn, thu được kết quả mong muốn
Hà Nội, ngày 18tháng5 năm 2017
Sinh viên Dương Mạnh Quân
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Hoạt tính kháng ung thư của dẫn chất 6-alkylamino và 2-(substituted phenyl)quinazolin-4-on 3
1.2 Hoạt tính kháng ung thư của dẫn chất thế N 3 quinazolin-4(3H)-on 9 1.3 Phương pháp tổng hợp dẫn chất thế N 3 của quinazolin-4(3H)-on 16 1.3.1 Phản ứng thế của quinazolin-4(3H)-on với dẫn chất halogen 16
1.3.2 Phản ứng tổng hợp đi từ 2-arylindol và muối amoni hoặc amin 16
1.3.3 Phản ứng ngưng tụ của dẫn chất benzamide của amin bậc 2 với acid formic 17
1.3.4.Phản ứng tổng hợp đi từ Benzo[d]-[1,3] oxazin-4-on 18
CHƯƠNG 2: NGUYÊN LIỆU, THIẾT BỊ, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Nguyên vật liệu, thiết bị 19
2.2 Thiết bị thí nghiệm 19
2.3 Nội dung nghiên cứu 20
2.4 Phương pháp nghiên cứu 20
2.3.1 Phương pháp tổng hợp 20
2.3.2 Phương pháp tinh chế và xác định cấu trúc 20
Trang 5CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
3.1 Tổng hợp hóa học 24
3.1.1.Tổng hợp dẫn chất trung gian 6-diethylamino-2-(2-trifluoromethoxy-phenyl) quinazolin-4-on 25
3.1.2.Tổng hợp các dẫn chất thế N 3 của 6-diethylamino-2-(2-trifluoromethoxy-phenyl)quinazolin-4-on (4a-d) 25
3.2 Kiểm tra độ tinh khiết, khẳng định cấu trúc 29
3.2.1 Kiểm tra độ tinh khiết 29
3.2.2 Khẳng định cấu trúc 31
3.3 Thử hoạt tính gây độc tế bào ung thư 36
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 38
4.1 Về tổng hợp hóa học 38
4.1.1 Tổng hợp dẫn chất trung gian 6-diethylamino-2-(2-trifluoromethoxy-phenyl) quinazolin-4-on 38
4.1.2 Tổng hợp các dẫn chất thế N 3 của 2-(2-trifluoromethoxy-phenyl) quinazolin-4-on 39
4.2 VỀ XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC 41
4.2.1.Phổ khối lượng MS: 41
4.2.2.Phổ hồng ngoại IR: 42
4.2.3 Phổ cộng hưởng từ hạt nhân proton ( 1 H-NMR) 43
4.2.3 Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 13 C ( 13 C-NMR) 45
4.3 Về hoạt tính kháng tế bào ung thư 47
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO 52 DANH MỤC PHỤ LỤC 2
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ED 50 (effective dose) Liều có tác dụng với 50% cá thể EGFR (epidermal growth factor receptor) Thụ thể yếu tố phát triển biểu bì
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1 :Sự gia tăng hoạt tính kháng ung thư của dẫn chất có nhóm thế N3
trong nghiên cứu của El-Azab (2010) 11
Bảng 1.2: So sánh hoạt tính của dẫn chất (XXII) với 2 chất chuẩn Methotrexat và 5-Florouracil 14
Bảng 2.1:Nguyên vật liệu dùng trong nghiên cứu 19
Bảng 3 1: Kết quả tổng hợp các dẫn chất 4a-d 29
Bảng 3.2: Giá trị Rf và Tnc của các dẫn chất 4a-d 30
Bảng 3.3: Kết quả phân tích phổ khối lượng của các dẫn chất 4a-d 31
Bảng 3 4: Số liệu phổ IR của các dẫn chất 4a-d 33
Bảng 3.5: Số liệu phổ 1H-NMR của các dẫn chất 4a-d 34
Bảng 3.6: Số liệu phổ 13C-NMR của các dẫn chất 4a-d 35
Bảng 3.7: Kết quả thử hoạt tính gây độc tế bào của 4a-d trên 2 dòng tế bào ung thư người 37
Bảng 4.1: Phổ 1H-NMR của dẫn chất (3) 38
Bảng 4 2:Số liệu phổ NMR của các dẫn chất 5a: 40
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
HÌNH VẼ Hình 1.1: Dẫn chất của 2,3-dihydro-2-phenyl-4-quinazolinon 3 Hình 1.2: Các dẫn chất với các nhóm thế khác nhau trên vòng thế phenyl
trong nghiên cứu của Mulakayala 4
Hình 1 3: Cấu trúc nhóm hợp chất 6-alkylamino- và
2,3-dihydro-3’-methoxy-2-phenyl-4-quinazolinon 5
Hình 1 4: Cấu trúc hợp chất
6-pyrolidin-(3’-methoxy-phenyl)-4-quinazolinon (IV) 5 Hình 1.5: Cấu trúc nhóm hợp chất 2-aryl-4-quinazolinon trong nghiên cứu
của Mann-Jen Hour (năm 2001) 5
Hình 1 6: Cấu trúc dẫn chất với nhóm thế methoxy tại vị trí 3’ có hoạt tính
cao nhất trong nghiên cứu của Mann-Jen Hour(2001) 6
Hình 1 7: Cấu trúc dãy 6-Pyrrolidinyl-2-(2-substituted
phenyl)-4-quinazolinon 7
Hình 1 8: Một số 2-arylquinazolinon IXa-c có hoạt tính tốt 7 Hình 1.9: Khung cấu trúc các dẫn chất quinazolinon với nhóm thế 6-
diethylamino và nhóm thế trên vòng thế phenyl 8
Hình 1.10: Cấu trúc dẫn chất 6-diethylamino-2-(2-trifluoromethoxy
phenyl)-3H-quinazolinon 9
Hình 1.11: Cấu trúc dẫn chất thế N3 của quinazolin-4-on trong nghiên cứu của Hao Wu (2010) 9
Hình 1 12: Các dẫn chất thế N3 trong nghiên cứu của Rhee HK 10
Hình 1 13: Cấu trúc dẫn chất thế N3 của quinazolinon có hoạt tính tốt trong nghiên cứu của Deepak Kumar 11
Trang 10Hình 1 14: Cấu trúc dẫn chất thế N3 thể hiện hoạt tính kháng ung thư tốt
trong nghiên cứu của Ramesh và cộng sự (2015) 12
Hình 1 15: Cấu trúc các dẫn chất thế N3 trong nghiên cứu của Nehad A El Sayed (2016) 13
Hình 1 16: Cấu trúc dẫn chất thế N3 trong nghiên cứu của Ahmed Kamal và các cộng sự 13
Hình 1.17: Cấu trúc các dẫn chất 2-(2-(4-substituted piperazine-1-yl)-5-phenylthiazol-4-yl)-3-aryl quinazolinon trong nghiên cứu của Ritesh N Sharma và Rasik Ravani 14
Hình 1 18: Cấu trúc dẫn chất N3 có khả năng kháng ung thư tốt trong nghiên cứu của Mohammad Mahdavi 15
Hình 1 19: Cấu trúc và hoạt tính của các dẫn chất thế N3 của 2-phenyl quinazolin-4-on trong nghiên cứu của Ahmed M Alafeefy và Abdelkader E Ashour 16
Hình 4 1: Phổ khối lượng của chất 4a 42
Hình 4 2: Phổ đồ hồng ngoại của chất 4a 43
Hình 4.3: Phổ cộng hưởng từ hạt nhân proton (1H-NMR) của chất 4a 44
Hình 4 4:Phổ cộng hưởng từ hạt nhân proton (1H-NMR) của chất 5a 45
Hình 4.5: Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 13C (13C-NMR) của chất 4a 46
Hình 4 6:Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 13C (13C-NMR) của chất 5a 47
Hình 4 7: Mô hình tương tác giữa dẫn chất 6-diethylamino-2-(2-trifluoromethyl phenyl) quinazolin-4(3H)-on với phức hợp topo-AND 48
Hình 4 8: Cấu trúc dẫn chất 6-diethylamino-2-(2-trifluoromethyl phenyl) quinazolin-4(3H)-on 48
Hình 4 9: Mô hình tương tác giữa dẫn chất dẫn đường (3):
6-diethylamino-2-(2-trifluoromethoxy phenyl) quinazolin-4(3H)-on với phức hợp topo-AND 49
Trang 11SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ phản ứng tổng hợp dẫn chất thế N3 trong nghiên cứu của
Rhee, 2011 16
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ phản ứng tổng hợp dẫn chất thế N3 đi từ 2-arylindol và amin/amoni 17
Sơ đồ 1.3: Con đường tổng hợp dẫn chất thế N3 của quinazolin-4(3H)-on trong nghiên cứu của Hao Wu (2010) 18
Sơ đồ 1 4: Tổng hợp dẫn chất thế N3 của Quinazolin-4-on trong nghiên cứu của Yarlagadda Rajesh Babu (2014) 18
Sơ đồ 3.1:Tổng hợp 6-diethylamino-2-(2-trifluoromethoxy-phenyl) quinazolin-4-on 24
Sơ đồ 3.2:Tổng hợp dẫn chất thế N3 của 6-diethylamino-2-(2-trifluoromethoxy-phenyl) quinazolin-4-on 24
Sơ đồ 3.3 : Tổng hợp dẫn chất 4a 25
Sơ đồ 3.4 : Tổng hợp dẫn chất 4b 26
Sơ đồ 3 5 : Tổng hợp dẫn chất 4c 27
Sơ đồ 3.6 : Tổng hợp dẫn chất 4d 28
Sơ đồ 4 1:Tổng hợp 6-diethylamino-2-(2-trifluoromethoxy-phenyl) quinazolin-4-on 38
Sơ đồ 4.2: Hiện tượng đồng phân hỗ biến của hợp chất trung gian quinazolin (3) 39
Sơ đồ 4 3:Tổng hợp dẫn chất thế N3 của 6-diethylamino-2-(2-trifluoromethoxy-phenyl) quinazolin-4-on tạo ra 2 sản phẩm thế 40
Trang 12Sơ đồ 4 4:Phương trình tổng hợp tạo 2 sản phẩm thế tại N3 và O 40
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư làmột trong những nguyên nhân đứng đầu gây tử vong trên toàn thế giới Tổng chi phí dành cho bệnh ung thư trong năm 2010 là khoảng 1,16 nghìn tỉ USD[34] Số ca tử vong do ung thư trên toàn thế giới dự kiến sẽ tăng lên 11 triệu vào năm 2030 [35].Tại Việt Nam, số ca mắc bệnh ung thư đang
có xu hướng ngày một gia tăng Bệnh gặp ở mọi tầng lớp xã hội, mọi lứa tuổi, mọi ngành nghề khác nhau Theo ghi nhận ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh
và một số tỉnh, ước tính mỗi năm có khoảng 150,000 người mới mắc và khoảng 50 – 70 nghìn người chết vì ung thư [1].Do đó việc tìm kiếm các thuốc điều trị ung thư là nhu cầu cấp thiết đối với toàn thế giới cũng như Việt Nam
Mặc dù đã có những tiến bộ quan trọng trong phương pháp hóa trị liệu, nhưng việc tìm kiếm các tác nhân chống ung thư mớivẫn rất quan trọng Các dẫn chấtquinazolin đã được quan tâm nghiên cứu như là tác nhân mớitrong hóa trị liệu, có hiệu quả đáng kể đối với các khối u rắn và được biết đến là các chất ức chế mạnh thụ thể các yếu tố tăng trưởng như EGFR (yếu tố tăng trưởng biểu bì)[11],do đó chúng có tiềm năng lớn trong điều trị các bệnh biểu
mô ác tính.Dẫn chất 2-aryl-quinazolin-4-on đang được nhiều quan tâm nghiên cứu về khả năng kháng tế bào ung thư Nghiên cứu đã được công bố cho thấy nhóm thế tại vị trí C6, đặc biệt là nhóm thế diethylamino đãthể hiện độc tính tốt với tế bào ung thư (IC50 dưới 1 µM, mạnh hơn chất đối chiếu là ellipticin nhiều lần) [2] Nghiên cứucủa nhóm TS Lê Nguyễn Thành và TS.Văn Thị
Mỹ Huệ đãphát hiện dẫn chất 3H-quinazolin-4-on có hoạt tính rất tốt trên một số dòng tế bào ung thư thử nghiệm[22]
6-diethylamino-2-(2-trifluoromethoxyphenyl)-Nhằm nghiên cứu mối quan hệ cấu trúc-hoạt tính trong các hợp chất quinazolinon, sử dụng dẫn chất 6-diethylamino-2-(2-trifluoromethoxy
Trang 14phenyl)-3H-quinazolin-4-on làm chất dẫn đường, khóa luận: “Tổng hợp và
thử độc tính tế bào ung thư của một số dẫn chất thế N 3 của trifluoromethoxy phenyl)-3H-quinazolin-4-on.” được tiến hành với 2 mục
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Hoạt tính kháng ung thư của dẫn chất 6-alkylamino và 2-(substituted phenyl)quinazolin-4-on
Quinazolin-4-on và các dẫn chất của nó được tìm thấy nhiều trong các hợp chấttự nhiên Nhiều loài thực vật có chứa alkaloid với nhân cấu trúc 4-quinazolinon đã được báo cáo là có những tác dụng dược lý đa dạng như: chống sốt rét, kháng viêm, kháng khuẩn, lợi tiểu, chống co giật, hạ huyết áp, chống đái tháo đường, ức chế cholinesterase, đặc biệt là tác dụng chống ung thư[4, 6, 9, 10, 13, 15, 16, 25, 28, 29, 40].Hiện nay các dẫn chất của quinazolin-4-on đã và đang được quan tâm nghiên cứu nhiều về khả năng chống ung thư
Các thử nghiệm in vitro và in vivovề hoạt tính kháng ung thư của một
số dẫn chất2,3-dihydro-2-phenyl-4-quinazolinon(I)được mô tả lần đầu tiên từ
bốn thập kỷ trước, nhưng những nỗ lực tại thời điểm đó để xác định cơ chế hoạt động của chúng đều không thành công[27, 38]
(I) Hình 1.1: Dẫn chất của 2,3-dihydro-2-phenyl-4-quinazolinon
Cho đến những năm gần đây, các nhà khoa học đã nghiên cứu, phát triển các chất tương tự 2-phenyl-4-quinazolinon như một tác nhân ức chế gián phân Các chất tương tự này đã được tổng hợp và đánh giá về khả năng gây độc tế bào cùng cơ chếức chếtrùng hợp tubulin [17, 37, 39]
Với mục đích phát triển các dẫn chất tương tự quinazolinon, nhiều nghiên cứu về các dẫn chất với nhóm thế khác nhau ở vị
Trang 162-phenyl-4-trí C6 và trên vòng 2-aryl đã được thực hiện và kết quả cho thấy các dẫn chất này đã thể hiện khả năng gây độc tế bào tốt
Năm 2012, nhóm nghiên cứu Ấn Độ:Mulakayalavà cộng sự đã tổng hợp
các hợp chất 2-aryl-4(3H)-quinazolinon(II)và đánh giá khả năng kháng ung
thư của các nhóm thế khác nhau trên vòng thế phenyl Các hợp chất này đã cho thấy hoạt tính kháng ung thư trên các dòng tế bào ung thư: ung thư máu, trực tràng, ung thư vú (K562; Colo-252; MDA-MB 231) với IC50= 8-52 μM
Nghiên cứu in vitro cho thấy sự ức chế surtuins (enzym deacetylase phụ thuộc
NAD loại III, là enzym quan trọng trong điều chỉnh của nhiều loại ung thư) có thể là cơ chế của khả năng kháng ung thư của các hợp chất này [26]
Hình 1.2: Các dẫn chất với các nhóm thế khác nhau trên vòng thế phenyl
trong nghiên cứu của Mulakayala
Một nghiên cứu khác về nhóm thế trên C6 và trên vòng thế 2-phenyl của quinazolin-4-on là nghiên cứu về tổng hợp dãy hợp chất 6-alkylamino và
2,3-dihydro-3’-methoxy-2-phenyl-4-quinazolinon (III)của Mann-Jen Hour và
các cộng sự
(III)
Trang 17Hình 1 3: Cấu trúc nhóm hợp chất 6-alkylamino- và
2,3-dihydro-3’-methoxy-2-phenyl-4-quinazolinon
Các dẫn chất tổng hợp đã được thử tác dụng gây độc tế trên10 dòng tế
bào ung thư (IA9, HCT-8, A-549, U-87-MG, HOS, KB, KB-VIN, PC3,
MCF-7, SKMEL-2).Kết quả cho thấy các dẫn chất 6-alkylamino có hoạt tính cao
với nhiều dòng tế bào ung thư (ED50<1,0 μg/ml), đồng thời hợp chất
6-pyrolidin-(3’-methoxy-phenyl)-4-quinazolinon (IV) thể hiện hoạt tính tốt nhất (Hình 1.4)[17]
Hình 1.4:Cấu trúc hợp chất
6-pyrolidin-(3’-methoxy-phenyl)-4-quinazolinon(IV)
Nhóm đã tiếp tục công bố nghiên cứu cho thấy vai trò quan trọng của nhóm thế trên vòng thế 2-phenyl đối với tác dụng gây độc tế bào của khung cấu trúc quinazolinon vào năm 2001
(V)(VI)
Hình 1.5: Cấu trúc nhóm hợp chất 2-aryl-4-quinazolinon trong nghiên cứu
của Mann-Jen Hour(năm 2001)
Trang 18Thông qua việc thử khả năng ức chế quá trình trùng hợp tubulin (ITB : inhibition of tubulin polymerization)và thử khả năng gây độc tế bào trên 7 dòng tế bào ung thư (KB, KB-VIN, SKMEL-2, HCT-8, MCF-7, A-549, 1A9),
nghiên cứu đã cho thấy hợpchất (VII)với nhóm thế methoxy tại vị trí 3’ trên
vòng thế 2-phenyl đã cho hoạt tính tốt nhất với : ITP IC50= 4,9 ( μM) và ED50(µg/ml) = 1,98 ( với dòng tế bào KB ) ; ED50 (µg/ml) = 4,70 ( với dòng tế bào
1A9 ) ( Hình 1.6) [37]
(VII) Hình 1.6:Cấu trúc dẫn chất với nhóm thế methoxy tại vị trí 3’ có hoạt tính
cao nhất trong nghiên cứu của Mann-Jen Hourn(2001) Trong các hợp chất đã tổng hợp và nghiên cứu, Mann-Jen Hour và các cộng sự thấy 2-(3- methoxyphenyl)-6-pyrrolidinyl-4-quinazolinon có hiệu lực kháng ung thư mạnh nhất, với khả năng ức chế gián phân tương đương với các hợp chất tự nhiên như colchicin, podophyllotoxin, combretastatin
Vì vậy, năm 2007, nhóm đã tiếp tục tiến hành nghiên cứu trên dãy hợp chất 6-Pyrrolidinyl-2-(2-substituted phenyl)-4-quinazolinon để đánh giá khả năng làm tăng hoạt tính kháng tế bào của vị trí thế 2’ trên vòng thế 2-phenyl[17].Các hợp chất này đã được tổng hợp và thử nghiệm độc tính tế bào
in- vitro với 6 dòng tế bào ung thư, bao gồm: tế bào bạch cầu đơn nhân người
(U937), tế bào bạch cầu đơn nhân chuột (WEHI-3),tế bào gan người (HepG2, Hep3B), tế bào ung thư biểu mô phổi người ( A549, CH27).Kết quả cho thấy khả năng kháng ung thư trên các tế bào bạch cầu đơn nhân của các hợp chất này đều tốt với giá trị IC50 = 0,30 ÷ 10,10 μM Trong đó các hợp chất có
Trang 19nhóm thế -OH, -OMe, -OCF3tại vị trí 2’ trên vòng thế phenyl(chất VIIIa, VIIIb, VIIIc) cho hoạt tính kháng ung thư cao nhất[18]
Hình 1 7:Cấu trúc dãy 6-Pyrrolidinyl-2-(2-substituted
phenyl)-4-quinazolinon
Tại Việt Nam, nghiên cứu về tổng hợp, thử độc tính trên tế bào ung thư các dẫn chất 2-aryl-4-quinazolinon của Nguyễn Thị Huyền đã cho nhiều kết quả khả quan Kết quả đánh giá hoạt tính độc tế bào của nghiên cứu đã cho
thấy dẫn chất với nhóm thế 6-dimethylamino (IXc) có hoạt tính tăng lên
Trang 20Gần đây, Daulat Bikram Khadka, Lê Nguyễn Thành, Văn Thị Mỹ Huệ
đã công bố nghiên cứu về các dẫn chất 2-arylquinazolinon, nghiên cứuđã cho
thấy nhóm thế diethylamin ở vị trí số 6 có vai trò quan trọng trong tác dụng
gây độc tế bào ung thư Các hợp chất quinazolinon với nhóm thế
6-diethylamino và các nhóm thế khác nhau trên vòng thế phenyl (X) đã thể hiện
độc tính với nhiều dòng tế bào ung thư HCT-15- ruột kết, T47D -biểu mô
tuyến vú, HeLa- cổ với giá trị IC50 ở khoảng nanomol[20]
X Hình 1.9: Khung cấu trúc các dẫn chất quinazolinon với nhóm thế 6-
diethylamino và nhóm thế trên vòng thế phenyl Tiếp tục nghiên cứu về mối liên quan cấu trúc-tác dụng, lấy dẫn chất 6- diethylamino-2-aryl-quinazolin-4-on làm chất dẫn đường, nhóm nghiên cứu
của Lê Nguyễn Thànhđã nghiên cứu vai trò của các nhóm thế ở vị trí 2’ trên
vòng thế 2-phenyl đối với khả năng kháng ung thư.Các nghiên cứu đã cho
thấy dẫn chất 6-diethylamino-2-(2-trifluoromethoxy phenyl)-3H-quinazolinon
(XI) có hoạt tính tốt trên 4 dòng tế bào ung thư thử nghiệm (biểu mô -KB,
gan -HepG2, phổi -LU, vúMCF-7) với IC50< 0,1 µg/ml[20, 22]
XI
Trang 21Hình 1.10: Cấu trúc dẫn chất 6-diethylamino-2-(2-trifluoromethoxy
phenyl)-3H-quinazolinon
Có thể thấy, nhiều nghiên cứu gần đây về khung cấu trúc quinazolinon đã cho thấy vai trò quan trọng của các nhóm thế tại vị trí C6 và nhóm thế 2’ trên vòng thế phenyl đối với khả năng gây độc tế bào
2-aryl-4-1.2.Hoạt tính kháng ung thư của dẫn chất thế N 3 quinazolin-4(3H)-on
Bên cạnh các nghiên cứu về nhóm thế tại vị trí C6 và vị trí 2’ trên vòng aryl của quinazolin-4-on, nhiều nghiên cứu đã được công bố và cho thấy các dẫn chất thế tại vị trí N3 cũng có hoạt tính kháng ung thư tốt
Nghiên cứu được công bố năm 2010 của Hao Wu và các cộng sự về nhóm thế N3 của quinazolin-4(3H)-on đã cho thấy 5 hợp chất tổng hợp được
có hiệu suất cao, hoạt tính tốt đối với các dòng tế bào ung thư : bạch cầu, phổi, đại tràng và ung thư hắc tố với GI50 = 0,11- 3,38 μM[36]
(XII)
Hình 1.11: Cấu trúc dẫn chất thế N3 của quinazolin-4-on trong nghiên cứu
của Hao Wu (2010) Nhóm nghiên cứu của Hee-Kyung Rhee đã công bố nghiên cứu về tổng hợp và thử hoạt tính của các dẫn chất tại vị trí N3 của 2-phenylquinazolin-4(3H)-on 6 dẫn chất thế N3 (XIIIa -f) được thử hoạt tính gây độc tế bào trên
5 dòng tế bào ung thư người: trực tràng (HCT-2S9), cổ tử cung (HeLa), tuyến tiền liệt (DU145), vú (MDA-MB231), bạch cầu (HL-60) Kết quả thu được
hợp chất có cấu trúc XIIIc có khả năng ức chế mạnh nhất với tất các dòng tế
bào ung thư thử nghiệm (IC50 từ 2,5- 8,6 µM), riêng với dòng tế bào HeLa,
O N N
R2
R1HN
Trang 22khả năng ức chế của hợp chất này (IC50 = 2,9 ±0,01 μM), cao hơn adriamycin (IC50 = 3,7 ±0,02 μM)[31]
XIIIc Phenyl
XIIIf
Trang 233,35 4,37 4,17
Bảng 1.1:Sự gia tăng hoạt tính kháng ung thư của dẫn chất có nhóm thế N3
trong nghiên cứu của El-Azab (2010)
Nghiên cứu thử hoạt tính kháng ung thư của một số dẫn chất thế
N3quinazolin-4-on của Deepak Kumar trên 4 dòng tế bào ung thư: HeLa (ung thư cổ tử cung), MCF-7 (ung thư vú), HL-60 (ung thư bạch cầu) và HepG2
(ung thư biểu mô tế bào gan)cho thấy dẫn chất XVI có hoạt tính kháng
MCF-7 (IC50 = 8,9± 0,29μM) mạnh gấp 3 lần so với Cisplatin(IC50 = 26,2± 0,68μM) Ngoài ra, giá trị IC50 của dẫn chất XVI đối với HeLa và HL-60
(41,8± 0,20μM và 6,6± 0,51μM) thì tương đương với Cisplatin (34,9±
0,32μM và 6,9± 0,51μM) Dẫn chất XVI đã cho thấy tiềm năng là một chất
chống ung thư hứa hẹn [21]
XVI Hình 1.13: Cấu trúc dẫn chất thế N3 của quinazolinon có hoạt tính tốt trong
nghiên cứu của Deepak Kumar
Gần đây, nhóm nghiên cứu Ramesh và các cộng sự đã công bố nghiên cứu về dãy dẫn chất thế 2,3,6-quinazolin-4-on Các dẫn chất thế này được thử hoạt tính kháng dòng tế bào ung thư tuyến tụy (PANC-1) bằng phương pháp
MTT Kết quả cho thấy ở nồng độ 100 μM, dẫn chất (XVII) đã thể hiện hoạt
Trang 24tính kháng ung thư tiềm năng bằng cách ức chế sự phát triển của tế bào PANC-1 >75% [30]
(R=3-pyridyl, 2-thienyl, 2-methyl-5-pyrimidyl, 5-pyrimidyl)
(XVII) Hình 1.14:Cấu trúc dẫn chất thế N3 thể hiện hoạt tính kháng ung thư tốt trong
nghiên cứu của Ramesh và cộng sự (2015)
Một nghiên cứu khác về dãy dẫn chất thế N3của Nehad A El Sayed và các cộng sự (2016) đã cho thấy các dẫn chất thế N3 của 6-iodo-2-(pyridinyl)-quinazolin-4-on có tác dụng kháng tế bào ung thư đáng kể Các hợp chất trong nghiên cứu đã được thử hoạt tính trên 9 dòng tế bào ung thư:ung thư vú (MCF-7,MDAMB-231, MDAMB-435 và HS-578T); ung thư đại tràng (HT-
29 và HCC-2998); ung thư bạch cầu (CCRF-CEM, K-562 và HL-60)
Trang 25Hình 1.15: Cấu trúc các dẫn chất thế N3 trong nghiên cứu của Nehad A El
Sayed (2016)
Các dẫn chất có cấu trúc XIX đã thể hiện hoạt tính chống ung thư đặc
hiệu: với dòng tế bào MCF-7 (IC50 = 0,010-0,022 nM), với dòng tế bào ung thư trực tràng:HT29 và HCC-2998 (IC50 = 0,0031–0,049 μM) [12]
Hoạt tính kháng ung thư của dẫn chất thế N3 quinazolin-4-on còn được thử nghiệm trong nghiên cứu về dãy 3-diarylethyn quinazolinon của Ahmed
Kamal và các cộng sự Các dẫn chất XXI(a-e) trong nghiên cứu đã cho thấy
độc tính tế bào ung thư đáng kể trên các dòng tế bào ung thư: MDA-MB-231, A549, MIAPaCa-2, Colo-205 và có hiệu quả cao trên dòng tế bào ung thư MCF-7 (tế bào ung thư vú) với giá trị IC50 trong khoảng 2,27-3,88 μM[19]
XXIa-e
XXIa: R1 = 3,4,5-trimethoxyphenylR= phenyl
XXIb: R1 = 3-hydroxy-4-methoxyphenylR= 4-tert-butyl phenyl
XXIc: R1 = 3,4-dimethoxyphenylR= 4-tert-butyl phenyl
XXId: R1 = 2,6-dichlorophenylR= 4-tert-butyl phenyl
XXIe: R1 = 4-quinolinylR= 4-tert-butyl phenyl
Hình 1.16:Cấu trúc dẫn chất thế N3 trong nghiên cứu của Ahmed Kamal và
các cộng sự
Nghiên cứu của Ritesh N Sharma và Rasik Ravani đánh giá hoạt tính kháng tế bào ung thư của dãy dẫn chất trên các dòng tế bào: NCI (tế bào ung
Trang 26thư phổi người), MCF-7 (tế bào ung thư vú) và HEK-293 (tế bào phôi thận người) đã cho thấy khả năng chống ung thư khá tốt của các dẫn chất nghiên
cứu Trong đó, dẫn chất XXIIcho hoạt tính tốt nhất mạnh hơn2 chất chuẩn
dùng trong thử nghiệmlà methotrexat và 5-florouracil [33]
Hình 1.17: Cấu trúc dẫn chất 2-(2-(4-substituted
piperazine-1-yl)-5-phenylthiazol-4-yl)-3-aryl quinazolinon trong nghiên cứu của Ritesh N
Sharma và Rasik Ravani
Nghiên cứu đánh giá khả năng kháng ung thư trên 3 dòng tế bào ung thư vú ở người bao gồm MCF-7, MDA-MB-231 và T-47D của dãy 2-aryl quinazolin-4-on, Mohammad Mahdavi và các cộng sự đã tổng hợp được dẫn
chất XXIII với nhóm thế sec-butyl- tại vị trí N3 đã thể hiện khả năng kháng tế bào ung thư rất tốt trên cả 3 dòng tế bào ung thư thử nghiệm (IC50< 5 µM), mạnh hơn cả chất chuẩn đem so sánh trong nghiên cứu: etoposid (với IC50trên 3 dòng tế bào ung thư lần lượt là 7,6; 10,3 và 8,9 µM)[24]
Trang 27XXIII
Hình 1 18: Cấu trúc dẫn chất N3 có khả năng kháng ung thư tốt trong nghiên
cứu của Mohammad Mahdavi
Ahmed M Alafeefy và Abdelkader E Ashour đã công bố nghiên cứu
về tiềm năng kháng ung thư của 22 dẫn chất quinazolinin Trong đó 3 dẫn chất thế N3 của 2-phenyl quinazolin-4-on (XXIVa-c) đã thể hiện hoạt tính chọn lọc trên dòng tế bào ung thư vú: MCF-7 Riêng dẫn chất XXIVc còn thể
hiện khả năng độc tính tốt đối với dòng tế bào HepG2 [5]
Dẫn chất
MCF-7 HeL
a HepG2
Trang 28Hình 1 19: Cấu trúc và hoạt tính của các dẫn chất thế N3 của 2-phenyl quinazolin-4-on trong nghiên cứu của Ahmed M Alafeefy và Abdelkader E
Ashour
Như vậy, dẫn chất thế tại C6 và nhóm thế tại vị trí 2’ trên vòng phenyl của quinazolin-4-on đã được nghiên cứu và thể hiện hoạt tính kháng ung thư tốt Đồng thời, việc gắn nhóm thế tại vị trí N3 của vòng quinazolin-4-on cũng cho thấy tiềm năng trong việc thể hiện hoạt tính gây độc đối với một số dòng
tế bào ung thư Vì vậy, chúng tôi lựa chọn dẫn chất trifluoromethoxyphenyl)-3H- quinazolin-4- on làm chất dẫn đường, tiến hành tổng hợp các dẫn chất với các nhóm thế khác nhau tại vị trí N3 với hi vọng nghiên cứu sâu hơn mối quan hệ cấu trúc-tác dụng của khung cấu trúc 2-aryl quinazolin-4-on
6-diethylamino-2(2-1.3 Phương pháp tổng hợp dẫn chất thế N 3 của quinazolin-4(3H)-on
1.3.1 Phản ứng thế của quinazolin-4(3H)-on với dẫn chất halogen
Nghiên cứu công bố năm 2011 của Rhee và các cộng sự đã tổng hợp các dẫn chất thế N3của quinazolin-4(3H)-on bằng phản ứng thế với dẫn chất halogenid (RX).Phản ứng thế được thực hiện với xúc tác K2CO3 trong dung môi DMF, khuấy ở 100oC trong 16h[31]
Trang 29Một nhóm nghiên cứu Trung Quốc đã thực hiện tổng hợp 43 dẫn chất thế N3 của 2-aryl quinazolin-4-on từ 2-arylindol và các muối amoni hoặc amin Phản ứng được thực hiện dưới xúc tác CuBrtrong môi trường N-methyl-2-pyrrolidon (NMP) ở 80oC, với sự có mặt của O2 Phản ứng khá đơn giản, điều kiện phản ứng nhẹ nhàng, thân thiện với môi trường, có thể tạo được sản phẩm đa dạng nhóm thế Hiệu suất của phản ứng cao, đặc biệt sản phẩm 2-(4-methoxyphenyl)quinazolin-4(3H)-on có hiệu suất lên tới 99% [14]
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ phản ứng tổng hợp dẫn chất thế N3 đi từ 2-arylindol và
Trang 30Sơ đồ 1.3: Con đường tổng hợp dẫn chất thế N3 của quinazolin-4(3H)-on
trong nghiên cứu của Hao Wu (2010) Phản ứng thu được các dẫn chất thế N3 của quinazolin-4-on với hiệu suất khá (50-70%) và độ tinh khiết cao
1.3.4.Phản ứng tổng hợp đi từ Benzo[d]-[1,3] oxazin-4-on
Năm 2014, Yarlagadda Rajesh Babu và các cộng sự đã công bố nghiên cứu về thiết kế, tổng hợp đánh giá khả năng gây độc tế bào, tác dụng trên EGFR Tyrosin Kinase của dẫn chất quinazolinon gắn với acridon Nghiên cứu
đã đưa ra phương pháp tông hợp dẫn chất thế quinazolinon tại vị trí N3 từ dẫn chất Benzo [1,3]oxazin-4-on [7]
Sơ đồ 1 4:Tổng hợp dẫn chất thế N3 của Quinazolin-4-on trong nghiên cứu
của Yarlagadda Rajesh Babu (2014) Trong khóa luận này, phương pháp tổng hợp dẫn chất thế N3 của 2-phenyl quinazolin-4(3H)-on đi từ phản ứng thế của dẫn chất halogen (RX) với quinazolin-4(3H)-on được lựa chọn do phương pháp này có ưu điểm là nguyên liệu ban đầu là hợp chất quinazolin-4(3H)-on đã được nghiên cứu tổng hợp trước đây, các alkyl halid dễ kiếm, sẵn có, thời gian phản ứng ngắn, quy trình đơn giản thích hợp với điều kiện của phòng thí nghiệm
Trang 31CHƯƠNG 2: NGUYÊN LIỆU, THIẾT BỊ, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nguyên vật liệu
Hóa chất sử dụng tại phòng thí nghiệm là các hóa chất thông thường của công ty hoá chất Trung quốc, hãng hóa chất Aldrich (USA), Merck Các hóa chất này được sử dụng trực tiếp không qua tinh chế thêm Các hóa chất được trình bày ở bảng dưới đây:
Bảng 2.1: Nguyên vật liệu dùng trong nghiên cứu
2 n-Hexan Trung Quốc 9 2-(Trifluoromethoxy)
benzaldehyd
Aldrich
Sigma-3 Ethylacetat Trung Quốc 10 K2CO3
Trung Quốc
Sigma-Aldrich
6 Benzyl
Aldrich
Sigma-7 KI Trung Quốc 14 4-Methoxybenzyl
clorid
Aldrich
Sigma-2.2 Thiết bị thí nghiệm
- Dụng cụ thủy tinh: bình cầu 10ml, 100ml, sinh hàn, cốc thủy tinh, bình nón, bình chiết, pipet 2ml, 5ml…
- Cân kỹ thuật điện tử Shimadzu
- Bơm hút chân không DIVAC.1.21
Trang 32- Máy cất quay Buchi R – 210
- Tủ sấy Memmert
- Sắc ký lớp mỏng (SKLM) được tiến hành trên bản mỏng silicagel Kieselgel
60 F254 (Merck)
- Máy khuấy từ gia nhiệt IKA-RTC
- Máy đo phổ cộng hưởng từ hạt nhân (1-H-NMR, 13C-NMR) AVANCE Spectrometer AV500 BRUKER
- Máy đo phổ khối lượng HPLC/MS Agilent tại Viện hóa sinh biển
- Máy đo phổ hồng ngoại FTIR Affinity - 1S tại bộ môn Hóa Vô Cơ, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội-Đại học Quốc Gia Hà Nội
- Máy đo nhiệt độ nóng chảy nhiệt điện Electrothermal digital
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Tổng hợp
6-diethylamino-2-(2-trifluoromethoxy-phenyl)-3H-quinazoline-4-on
- Tổng hợp một số dẫn chất thế N3 của phenyl)-3H-quinazoline-4-on
6-diethylamino-2-(2-trifluoromethoxy Kiểm tra độ tinh khiết và khẳng định cấu trúc của các chất tổng hợp được
- Thử hoạt tính gây độc trên một số dòng tế bào ung thư của các chất tổng hợp được
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 33- Sử dụng phương pháp sắc ký cột, kết tinh để tinh chế các hợp chất tổng hợp được
- Sử dụng các phương pháp phổ hiện đại để khẳng định cấu trúc hóa học của các hợp chất tổng hợp được như: phổ hồng ngoại (IR), phổ cộng hưởng từ hạt nhân (1H-NMR và 13C-NMR), phổ khối lượng (ESI-MS)
2.3.3 Phương pháp xác định hoạt tính kháng tế bào ung thư
Thực hiện tại phòng Hóa sinh ứng dụng - Viện hóa học – Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam Hoạt tính kháng tế bào ung thư của các dẫn chất tổng hợp được thử theo phương pháp MTT là phép thử độ độc tế bào chuẩn nhằm sàng lọc, phát hiện các chất có khả năng kìm hãm sự phát triển hoặc
diệt tế bào ung thư ở điều kiện in vitro [8][32]
Nguyên tắc:
Thử nghiệm hoạt tính kháng tế bào ung thư người được tiến hành theo phương pháp của Likhitwitayawuid và cộng sự là phương hiện đang được áp dụng tại Viện nghiên cứu ung thư Quốc gia của Mỹ (NCI)[23]
MTT là hợp chất có tên khoa học là diphenyltetrazolium bormid, có màu vàng được thêm vào mỗi giếng và tế bào được ủ ở 37oC, 5% CO2 Phương pháp MTT dùng để đánh giá khả năng gây độc tế bào của tác nhân nghiên cứu Phương pháp này dựa trên hoạt động của enzym reductase trong ty thể các tế bào sống Tế bào được nuôi trong đĩa 96 giếng Sau khi ủ 24 giờ, tế bào được xử lý với thuốc ở những nồng độ khác nhau trong 48 giờ Sau đó, dung dịch MTT 0,5 mg/ml và isopropanol: HCl (1:1) lần lượt được thêm vào Màu vàng của MTT biến đổi thành màu tím của formazan trong ty thể tế bào sống (có sự hoạt động của enzyme reductase) Số lượng tinh thể formazan tạo thành được đánh giá bằng phương pháp đo mật
3-(4,5-dimethyl-2-thiazolyl)-2,5-độ quang OD ở bước sóng 540-600 nm, sẽ phản ánh số lượng tế bào sống trong dịch nuôi cấy
Trang 34 Dòng tế bào thử nghiệm:
Các dòng tế bào ung thư ở người được cung cấp bởi ATCC gồm:
- KB (Human epidemic carcinoma) - tế bào ung thư biểu mô
- Hep-G2 (Hepatocellular carcinoma) - tế bào ung thư gan
Chất chuẩn dương tính: Dùng chất chuẩn có khả năng diệt tế bào là
Ellipticincủa hãng Sigma - Aldrich pha trong DMSO
Tiến hành:
a Chuẩn bị tế bào
- Các dòng tế bào được lưu giữ trong nitơ lỏng, đánh thức và duy trì trong môi trường DMEM (Dulbecco's Modified Eagle Medium) có bổ sung huyết thanh bê tươi 10%, dung dịch kháng sinh 1% (penicillin 50,000 units/L
và streptomycin 50 mg/L) Tế bào được nuôi cấy cho phát triển tới mức khoảng 70%, thay môi trường sạch, tế bào này được dùng làm thí nghiệm
- Mẫu thí nghiệm: Hòa mẫu thí nghiệm vào dung dịch DMSO 100% sao cho nồng độ gốc của các mẫu là 2 mg/ml Tiếp theo pha thuốc nghiên cứu thành thang nồng độ gồm 5 nồng độ 128; 32; 8; 2; 0,5 μg/ml Nồng độ của thuốc thử được dùng theo tiêu chuẩn sàng lọc thuốc chống ung thư có nguồn gốc dược liệu của tác giả Teicher 1997 Ellipticine được sử dụng làm chứng dương và dung dịch DMSO 0,1% được sử dụng làm chứng âm
b Quy trình xác định hoạt tính kháng tế bào ung thư
- Pha 200l dung dịch tế bào ở pha log nồng độ 3 x 104 tế bào/ml vào mỗi giếng (đĩa 96 giếng) trong môi trường DMEM cho các dòng tế bào HepG2, MCF7, KB, LU
- Mẫu thử được pha loãng sao cho đạt đến nồng độ cuối cùng là 128g/ml; 32g/ml; 8g/ml; 2g/ml; 0,5 g/ml Ủ ở 37oC, 5% trong 3 ngày
- Giếng điều khiển (đối chứng dương) chỉ gồm 200 l dung dịch tế bào 3 x
104 tế bào/ml
Trang 35- Sau 3 ngày nuôi cấy; ủ tiếp với MTT 0,2mg/ml ở 37oC trong 4 giờ
- Loại bỏ môi trường, thêm 100 l DMSO lắc đều để formazan có thể hòa tan hoàn toàn
- Đọc kết quả trên máy ELISA ở bước sóng 495 - 515nm Mật độ quang
phản ánh số lượng tế bào còn sống sót
c Tính kết quả:
Giá trị CS: là khả năng sống sót của tế bào ở nồng độ nào đó của chất thử tính theo % so với đối chứng Dựa trên kết quả đo được của chúng OD (ngày 0), DMSO 10% và so sánh với giá trị OD khi trộn mẫu để tìm giá trị CS (%) theo công thức :
CS% = OD (m u) – OD (ngày 0)
OD (DMSO) – OD (ngày 0) × 100
Trang 36CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Tổng hợp hóa học
Dẫn chất thế N3 của 2-(2-trifluoromethoxy-phenyl)-3H-quinazolin-4-on được tổng hợp theo 2 bước sau:
Bước 1: Tổng hợp dẫn chất trung gian phenyl) quinazolin-4-on bằng phản ứng ngưng tụ dẫn chất 2-amino benzamid với aldehyd thơm theo luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hoa [2]
Trang 373.1.1.Tổng hợp dẫn chất trung gian phenyl) quinazolin-4-on
Hỗn hợp 414mg (2mmol) hợp chất 1, 190 mg (1mmol) (trifluoromethoxy)benzaldehyd (2), 208mg (2mmol) NaHSO3 và 5ml DMAC được khuấy đều cho tan hoàn toàn và đun nóng ở nhiệt độ 150 0C Theo dõi
2-phản ứng bằng SKLM với hệ dung môi triển khai n-hexan/ ethylacetat Sau
khi kết thúc phản ứng để nguội bình phản ứng, đổ hỗn hợp phản ứng vào nước đá, thấy có kết tủa tạo thành Lọc hút rửa tủa nhiều lần bằng nước cất Rửa tiếp vài lần bằng ethylacetat Tủa được làm khô trong chân không thu
được sản phẩm 3 làchất bột màu vàng nhạt (249 mg, hiệu suất 66%)
3.1.2.Tổng hợp các dẫn chất thế N 3 của trifluoromethoxy-phenyl)quinazolin-4-on (4a-d)
6-diethylamino-2-(2-3.1.2.1
3-Benzyl-6-diethylamino-2-(2-trifluoromethoxy-phenyl)-3H-quinazolin-4-on(4a)
Sơ đồ 3.3 : Tổng hợp dẫn chất 4a
Trang 38Tiến hành:
Cho vào bình cầu hỗn hợp gồm 50
mg6-(diethylamino)-2-(2-(trifluoromethoxy)phenyl)quinazolin-4(3H)-on (3) (0,13 mmol) trong 5 mL
DMF được thêm 55mg K2CO3 (0,39 mmol) và 66,7mg benzylbromid(0,39 mmol),khuấy ở nhiệt độ 70oC trong 12h Theo dõi phản ứng bằng SKLM Kết thúc phản ứng, thêm 10 mL nước vào hỗn hợp, chiết với dung môi EtOAc (3x30 mL) Pha hữu cơ được rửa qua nước muối bão hòa và làm khan bằng
Na2SO4, cất loại dung môi dưới áp suất giảm Cắn thu được tinh chế bằng sắc
ký cột với hệ dung môi n-hexan:EtOAc 3:1 thu được sản phẩm 4a:
Là chất rắn màu vàng, khối lượng 38,0 mg, hiệu suất 61,4% (Bảng 3.1)
Trang 39Các bước tiến hành tổng hợp chất 4b tương tự chất 4a, từ 40 mg (0,11 mmol) chất (3); 45,8mg (0,33 mmol) iodomethan; 55 mg K2CO3 (0,39 mmol), khuấy
ở nhiệt độ 70oC trong 12h Sau khi tinh chế (hệ dung môi n-hexan: EtOAc
Các bước tiến hành tổng hợp chất 4c tương tự chất 4a, từ 50 mg (0,13 mmol) chất (3); 62,0mg (0,39 mmol) iodoethan; 55 mg K2CO3 (0,39 mmol), khuấy ở nhiệt độ 70oC trong 12h Sau khi tinh chế (hệ dung môi n-hexan: EtOAc
(3:1)) thu được sản phẩm 4c:
Là chất rắn màu vàng, khối lượng 17,3 mg, hiệu suất 32,2% (Bảng 3.1)
Nhiệt độ nóng chảy: 107 0C (Bảng 3.2)
Trang 40R f= 0,54 (TLC, silica gel 60 F254, hệ dung môi n-hexan: EtOAc (3:1)
Các bước tiến hành tổng hợp chất 4d tương tự chất 4a, từ 40 mg (0,11 mmol) chất (3); 34 mg (0,22 mmol) 4-methoxybenzyl clorid; 8,8mgKI (0,053
mmol),55 mg K2CO3 (0,39 mmol), khuấy ở nhiệt độ 70oC trong 2.5h Sau khi
tinh chế (hệ dung môi n-hexan: EtOAc (95:5 và 3:1)) thu được sản phẩm 4d:
Là chất rắn màu vàng, khối lượng 27,4mg, hiệu suất 50,1% (Bảng 3.1)