1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thành phần loài và đặc điểm phân bố nấm nội cộng sinh với loài sao đen (hopea odorata roxb) tại tỉnh đồng nai

77 249 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nghiên cứu về vấn đề này trong lâm nghiệp còn rất ít và chưa có một nghiên cứu nào về nấm nội cộng sinh với loài Sao đen được công bố.. Sử dụng phương pháp này đối với nội cộng sin

Trang 1

Tr-êng §¹i häc l©m nghiÖp

NGUYÔN THÞ HOµNG YÕN

THµNH PHÇN LOµI Vµ §ÆC §IÓM PH¢N Bè NÊM NéI

Trang 2

Mai, Chương Mỹ, Hà Tây

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Quang Thu

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Luận văn đã đuợc bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn cấp Nhà nước họp tại trường Đại học Lâm Nghiệp

Vào hồi: giờ, ngày tháng năm 2007

Có thể tìm hiểu luận văn tại thư viện Trường Đại học Lâm Nghiệp.

Trang 3

Bộ giáo dục và đào tạo bộ nông nghiệp và PTNT

Tr-ờng Đại học lâm nghiệp

NGUYễN THị HOàNG YếN

THàNH PHầN LOàI Và ĐặC ĐIểM PHÂN Bố NấM NộI

Hà Tây- 2007

Trang 6

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

MỘT SỐ KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN iv

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii

LỜI CẢM ƠN viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NGOÀI NƯỚC 3

1.1.1 Lịch sử hình thành tên gọi …………3

1.1.2 Phân loại bào tử 4

1.1.3 Kỹ thuật tách bào tử, quan sát bào tử, đếm số lượng bào tử ,6

1.1.4 Sự phát tán bào tử 8

1.1.5 Sinh thái học nấm nội cộng sinh 8

1.1.6 Ảnh hưởng của nấm nội cộng sinh đối với thực vật chủ 9

1.1.7 Những nghiên cứu về cây họ Dầu 11

1.1.8 Phương thức sử dụng nấm nội cộng sinh 12

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC 13

CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHẠM VI VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 17

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 17

2.2.1 Điều tra thành phần loài nấm nội cộng sinh 17

Trang 7

2.2.2 Một số đặc điểm phân bố nấm nội cộng sinh 17

2.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 18

2.4 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 18

2.5 PHƯƠNG PHÁP 18

2.5.1 Điều tra thành phần nấm nội cộng sinh 18

2.5.1.1 Thu thập mẫu 18

2.5.1.2 Phương pháp tách bào tử từ đất 19

2.5.1.3 Phân loại nấm nội cộng sinh 19

2.5.1.4 Xây dựng danh mục thành phần loài 19

2.5.2 Nghiên cứu một số đặc điểm phân bố của nấm nội cộng sinh 20

- Phân tích một số tính chất đất

- Nghiên cứu đặc điểm phân bố của nấm nội cộng sinh

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 21

3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA VÙNG NGHIÊN CỨU 21

3.2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC THU THẬP MẪU 22

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23

4.1 THÀNH PHẦN NẤM NỘI CỘNG SINH VỚI CÂY SAO ĐEN 23

4.1.1 Xây dựng bảng tra các loài nấm nội cộng sinh 23

4.1.2 Danh mục các loài 26

4.1.3 Mô tả đặc điểm sinh học của bào tử nấm nội cộng 28

4.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ NẤM NỘI CỘNG SINH 41

4.2.1 Phân bố nấm nội cộng sinh theo loại rừng hỗn giao 41

4.2.1.1 Phân bố số lượng bào tử nấm nội cộng sinh theo loại rừng hỗn giao 41

4.2.1.1.Phân bố thành phần nấm nội cộng sinh theo loại rừng hỗn giao ………43

4.2.2 Phân bố nấm nội cộng sinh theo tuổi cây……… 45

Trang 8

4.2.2.1 Phân bố số lượng bào tử nấm nội cộng sinh theo tuổi cây……45

4.2.2.2 Phân bố thành phần nấm nội cộng sinh theo tuổi cây…………47

4.2.3 Phân bố nấm nội cộng sinh theo độ sâu tầng đất……….48

4.2.3.1.Phân bố số lượng bào tử nấm nội cộng sinh theo độ sâu tầng đất………48

4.2.3.2 Phân bố thành phần nấm nội cộng sinh theo độ sâu tầng………

đất……… 53

4.2.4 Ứng dụng đặc điểm phân bố nấm nội cộng trong phát triển bền vững rừng sao đen 55

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 58

5.1 KẾT LUẬN 58

5.2 TỒN TẠI 59

5.3 KIẾN NGHỊ 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 9

MỘT SỐ KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG

TRONG LUẬN VĂN

Bảng 4.5 Bảng 4.7

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

STT TT

Bảng

2

4.2 Danh mục thành phần loài nấm nội cộng sinh và

4 4.4 Số lƣợng bào tử nấm nội cộng sinh theo tuổi cõy 46

5

4.5 Phõn bố thành phần chi theo tuổi cõy nấm nội cộng

7 4.7 Phân bố thành phần loài theo độ sâu tầng đất 54

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1: Bào tử nấm Acaulospora appendicula 28

Hình 4.2: Bào tử nấm Acaulospora edicate 28

Hình 4.3: Bào tử nấm Acaulospora dilatata……… 29

Hình 4.4: Bào tử nấm Acaulospora lacunose 29

Hình 4.5: Bào tử nấm Acaulospora myriocarpa 30

Hình 4.6: Bào tử nấm Acaulospora scrobiculata 30

Hình 4.7: Bào tử nấm Acaulospora bireticulata 31

Hình 4.8: Bào tử nấm Acaulospora eligans 31

Hình 4.9: Bào tử nấm Acaulospora rehmii 32

Hình 4.10: Bào tử nấm Acaulospora mellea 32

Hình 4.11: Bào tử nấm Acaulospora excavata 33

Hình 4.12 Bào tử nấm Entrophospora colombiana 33

Hình 4.13: Bào tử nấm Entrophospora schenckii 34

Hình 4.14: Bào tử nấm Entrophospora infrequens 34

Hình 4.15: Bào tử nấm Gigaspora candida 35

Hình 4.16: Bào tử nấm Gigaspora albida 35

Hình 4.17: Bào tử nấm Gigaspora decipiens 36

Hình 4.18: Bào tử nấm Glomus aggregatum 36

Hình 4.19: Bào tử nấm Glomus ambisporum 37

Hình 4.20: Bào tử nấm Glomus macrocarpus 37

Hình 4.21: Bào tử nấm Glomus australe 38

Hình 4.22: Bào tử nấm Glomus boreale 38

Hình 4.23: Bào tử nấm Glomus mosseae 39

Hình 4.24: Bào tử nấm Sclerocystis coccogena 39

Trang 12

Hình 4.25: Bào tử nấm Sclerocystis coremioides 40

Hình 4.26: Bào tử nấm Glomites rhyniensis……… 40

Hình 4.27: Số lƣợng bào tử nầm nội cộng sinh theo loại rừng hỗn giao 42

Hình 4.28: Phân bố số lƣợng bào tử theo tuổi cây 46

Hình 4.29: Phân bố số lƣợng bào tử theo độ sâu tầng đất loại rừng Sao đen – Keo lai 49

Hình 4.30: Phân bố số lƣợng bào tử theo độ sâu tầng đất loại rừng Sao đen – Điều 50

Hình 4.31: Phân bố số lƣợng bào tử theo độ sâu tầng đấtloại rừng Sao đen – Xoài 51

Trang 13

LỜI CẢM ƠN

Tr-ớc tiên tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa Sau đại học, Phòng Nghiên cứu Bảo vệ Thực vật rừng – Viện Nghiên cứu khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi đ-ợc học tập và làm

đề tài tốt nghiệp

Lời cảm ơn sâu sắc nhất xin dành cho thầy h-ớng dẫn khoa học PGS TS Phạm Quang Thu ng-ời đã trực tiếp giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Xin cảm ơn đến các thầy cô đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các bạn đồng nghịêp bộ môn Vi sinh vật – Viện Nông hoá Thổ nh-ỡng; các cán bộ Trung tâm Nghiên cứu Lâm Nghiệp Nam Bộ; phòng Kỹ Thuật khu bảo tồn Thiên nhiên

và di tích Vĩnh Cửu; phòng Kỹ thuật các lâm tr-ờng; chi cục Kiểm lâm huyện Vĩnh Cửu đã giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này

Trang 14

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cộng sinh là mối quan hệ phổ biến giữa nấm rễ và thực vật, 90% thực

vật có quan hệ cộng sinh với nấm rễ [21] Có bảy hình thức cộng sinh: Vesicular-Arbuscular Mcorrhizas (VAM); Ectomycorrhizas (ECM); Orchid mycorrhizas; Ericoid mycorrhizas; Ectendo mycorrhizas; Arbutoid mycorrhizas mycorrhizas; Monotropoid mycorrhizas [17] Trong đó, có hai hình thức cộng sinh được nghiên cứu chủ yếu là Vesicular-arbuscular mycorrhizas (nội cộng sinh) và Ectomycorrhizas (ngoại cộng sinh)

Khoảng 60 -80% các loài thực vật trên thế giới có quan hệ cộng sinh với nấm nội cộng sinh [20] Nấm nội cộng sinh gây ra rất ít thay đổi về hình thái rễ nhưng gây ra sự biến đổi lớn về sinh lý của cây chủ [32] Nhiều công trình khoa học đã chứng minh vai trò và hiệu quả to lớn mà nấm nội cộng sinh mang lại Chúng có thể làm tăng khả năng hấp thu khoáng trong đất như lân, đồng, kẽm…Chúng cũng được công nhận làm giảm mức độ ”sốc“ của cây có nguyên nhân do đất nhiễm mặn, đất quá ẩm, nhiệt độ đất cao và nhiều nguyên nhân khác [16] Vì vậy hình thức cộng sinh này đã và đang được nghiên cứu

và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất nông lâm nghiệp ở nhiều nước trên thế giới

Cây họ Dầu (Dipterocarps) trong đó có cây Sao đen đã được xác nhận rằng sự sinh trưởng và phát triển của chúng gắn liền với sự có mặt của nấm nội cộng sinh Cây họ Dầu (Dipterocarps) đã tạo nên một họ thực vật độc đáo

và đặc trưng của vùng nhiệt đới Hiện nay các loài cây họ Dầu đang chiếm thị phần lớn nhất trên thị trường gỗ trên thế giới nên rõ ràng chúng đóng vai trò quan trọng đối với nhiều nước đặc biệt là các nước Đông Nam Á Tại Việt Nam khu vực Đông Nam Bộ là vùng phân bố chủ yếu của cây họ Dầu trong

Trang 15

đó gồm cả loài Sao đen Tỉnh Đồng Nai là một trong những tỉnh có diện tích cây Sao đen lớn nhất khu vực Đông Nam Bộ Tuy nhiên diện tích rừng Sao đen nói riêng và rừng cây họ Dầu nói chung đang suy giảm cả về số lượng và chất lượng Vì vậy, Sao đen được xếp vào danh sách cây trồng chính trong chương trình 5 triệu hecta rừng của Chính phủ Chương trình 5 triệu hecta rừng không chỉ tập trung vào trồng rừng sản xuất, rừng kinh tế mà mục tiêu đồng thời là môi trường sinh thái

Trên thế giới, nấm nội cộng sinh được nghiên cứu từ rất lâu và về rất nhiều lĩnh vực: phân loại; sinh học, ảnh hưởng của chúng đối với thực vật Tuy nhiên nghiên cứu cụ thể nấm nội cộng sinh với loài Sao đen còn rất ít Đối với Việt Nam, những nghiên cứu về nấm nội cộng sinh mới được chú ý thời gian gần đây và tập trung chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp Những nghiên cứu về vấn đề này trong lâm nghiệp còn rất ít và chưa có một nghiên cứu nào về nấm nội cộng sinh với loài Sao đen được công bố

Từ những lí do trên những lí do nêu trên, tác giả tiến hành nghiên cứu

đề tài: “Thành phần loài và đặc điểm phân bố nấm nội cộng sinh với loài

Sao đen Hoperata Odorata Roxb tại tỉnh Đồng Nai” Ngoài ra, trên cơ sở

nghiên cứu này có thể tiến hành các nghiên cứu ứng dụng góp phần phát triển loài Sao đen và xây dựng một nền sản xuất lâm nghiệp bền vững

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NGOÀI NƯỚC

1.1.1 Lịch sử hình thành tên gọi

Năm 1885, Frank đưa ra khái niệm “mycorhiza” để chỉ sự cộng sinh đặc biệt giữa rễ cây và nấm ngoại cộng sinh Trong một bài viết năm 1887,

Frank đã chỉ ra sự khác biệt giữa nấm ngoại cộng sinh và nội cộng sinh, sự

khác biệt này dùng để chỉ nấm cộng sinh với Ericaceous và Orchid Sự cộng

sinh này đã từng được gọi là “phycomycetous endomycorrihiza” để phân biệt

với dạng cộng sinh của các nấm bậc cao với các loài trong họ Ericaceae và

Orchidaceae Tuy nhiên tên gọi này không tồn tại được lâu vì không có ý

nghĩa hệ thống Những nghiên cứu tiếp theo về cấu trúc đã dẫn đến sự thay

đổi tên gọi loại hình cộng sinh này Năm 1897, Janse đã gọi cấu trúc

intramatrical của bào tử là “vesicules” (gọi là thể V) Năm 1905 Gallaud

(1905) gọi những cấu trúc khác trong tế bào thường được quan sát thấy là

“arbuscular” (gọi là thể A) Vì vậy tên gọi “vesicular-arbuscular mycorrhiza”

được hình thành và tồn tại cho đến thời gian gần đây [26]

Vesicular-arbuscular mycorrhiza thường được viết tắt là VAM Ngoài ra, trong một số

bài báo, công trình khoa học còn sử dụng tên gọi “vesicular-arbuscular

mycorrhiza fungi” để chỉ loại hình cộng sinh này[18] Sau này, các nhà khoa học nhận ra không phải tất cả các nấm đều hình

thành vesicules (thể V) và thể A là đặc điểm chung nhất của các chi [35] Vấn

đề này đặt ra yêu cầu loại hình cộng sinh này phải được đổi lại tên là

Trang 17

“arbuscular mycorrhiza” [26] Những tranh luận xung quanh tên gọi của loại hình cộng sinh này vẫn tiếp diễn thời gian sau đó Trong một khoá học năm

2005 về nấm nội cộng sinh tổ chức tại Lisboa tại Portugal [20] tên gọi

“arbuscular mycorrhiza fungi” (AMF) được sử dụng để chỉ loại hình cộng sinh này Hiện nay, trong các tài liệu mới được công bố, thuật ngữ “arbuscular mycorrhiza fungi” đều được các nhà khoa học thống nhất sử dụng thay thế cho thuật ngữ “vesicular-arbuscular mycorrhiza”

1.1.2 Phân loại bào tử

Hiện nay, việc phân loại nấm nội cộng sinh có rất nhiều hạn chế Nguyên nhân là do tất cả các loài đều là vô tính, khó tồn tại trong môi trường nhân tạo, nhiều đặc điểm loài chồng chéo lên nhau, việc xác định đặc điểm thuộc sợi nấm và bào tử, thiếu khoá phân loại đầy đủ về loài và chi

Đầu tiên, việc phân loại dựa vào hình thái và đặc điểm cấu trúc của nấm Màu sắc của bào tử biến đổi và được sử dụng làm cơ sở cho việc phân loại [17] Khoảng đầu những năm 80, phương pháp kháng thể huỳnh quang cũng được đưa ra để phân loại nấm đất Sử dụng phương pháp này đối với nội cộng sinh chỉ đạt được hiệu quả khi theo dõi chặt chẽ các giai đoạn của nấm và bào

tử Sau đó, phương pháp phân loại dựa trên cơ sở huyết thanh học (Aldwell

và Hall 1987), điện di gen (Hepper 1987) và mức độ thay đổi axit béo (Bentivenga và Morton 1994) [26] Ngày nay phương pháp DNA được các nhà khoa học đánh giá rất cao Năm 1993, Simon đưa ra phương pháp huỳnh quang, phương pháp này có thể dùng để xác định sự xâm nhiễm của VAM trong rễ, nghiên cứu số lượng VAM và xác định VAM với cây chủ đặc trưng Năm 2001 SchuBler sử dụng dữ liệu phân tử chứng minh mối liên hệ giữa nấm nội cộng sinh và giữa nấm nội cộng sinh và nấm khác Thông thường việc phân loại nấm nội cộng sinh sẽ vẫn dựa chủ yếu vào các đặc điểm cấu

Trang 18

trúc Phương pháp ADN và giải phẫu sẽ được dùng để đánh giá quan hệ ở mức cao hơn [26] Một trong những cơ sở quan trọng để phân loại theo hình thái là bảng màu (Morton, 1992) Hiện nay, các tiêu chí dùng để phân loại bào

tử gồm: Sự sắp xếp bào tử, hình dạng bào tử, kích thước bào tử, mầu sắc của bào tử (phát hiện qua bảng màu chuẩn), sự phát triển của bào tử, cầu trúc bề mặt bào tử (thông qua phản ứng nhuộm Melzer), cấu trúc thành bào tử, kiểu nảy mầm của bào tử

Các hệ thống phân loại ngày nay được sử dụng đều dựa trên cơ sở hệ thống phân loại của Morton và Benny xây dựng năm 1990 Để có được hệ thống phân loại này phải trải qua một thời gian dài với sự đóng góp của nhiều công trình nghiên cứu Bắt đầu bằng việc hình thành chi Endogone năm 1908, tiếp đó chi Glomus mô tả lần đầu tiên do anh em Tulasne (1844) Năm 1849, Fries xây dựng nên họ Endogonaceae [26] Tuy nhiên họ này tiếp tục bị thay đổi Sau rất nhiều nghiên cứu, đây chính là thời điểm để hoàn thiện sự phân loại hoặc phương pháp nhận biết tất cả các loại bào tử của nấm nội cộng sinh Gerdermann và Nicolson, hai nhà bệnh học thực vật bằng quá trình thử nghiệm đi đến quyết định sử dụng tên Latinh trong hệ thống phân loại Moss, nhà giải phẫu thực vật và Bowen, nhà sinh thái học nỗ lực để đưa hệ thống mô

tả chủ yếu dựa trên cấu trúc vách tế bào, màu sắc và đặc điểm tế bào chất (Moss và Bowen 1968) Vào đầu những năm 70, Gerdermann và Trappe (Gerdermann và Trappe) thấy Endogone có số lượng loài rất lớn cần phải xem

xét lại Họ chia Endogone senulato thành 7 chi gồm Endogone, Modicella, Glaziella (không phải cộng sinh) và 4 chi cộng sinh Glomus, Sclerocystics và hai chi mới là Gigaspora, Acaulospora Sử dụng hệ thống phân loại của này,

Viện nghiên cứu của Ấn Độ đã phân lập từ đất vườn ươm 4 chi nấm nội cộng sinh : Glomus, Sclerocystics, Gigaspora, Acaulospora và một chi không phải cộng sinh chi Endogone Năm 1982, Trappe và Schenck Năm 1987, Walker

Trang 19

cũng cộng nhận đưa 5 chi nấm nội cộng sinh ra khỏi Sclerocystics và gộp thành Scutellospora Năm 1990 Morton và Benny đặt 5 chi của Walker vào 3

họ (Glomaceae, Gigasporaneae, Acaulosporaceae) và 2 bộ phụ (Glomineae, Gigasporineae), cả hai bộ phụ này được đặt trong một bộ mới là Glomales Năm 1990, Schenck và Pezer đưa ra con số 148 loài nấm nội cộng sinh [34] Sau đó, năm 2001 Morton và Benny công bố 2 họ nữa: Archacosporaceae và Paraglomaceae với 2 chi mới là Archacospora và Paraglomus [26] Năm 1998,

Trung tâm nghiên cứu nấm nội cộng sinh của Đài Loan (Arbuscular mycorrhizal fungal Collection center in Taiwan – ACT) đề nghị công nhận 2 chi mới là Glomites và Jimtrappea [35] Hiện nay hệ thống phân loại của

ACT thường được áp dụng đối với các nước châu Á

1.1.3 Kỹ thuật tách bào tử, quan sát thể xâm nhiễm, đếm số lượng bào

tử

Một phần công việc cần thiết cho phân loại là tách bào tử từ đất Thông thường có thể tách bào tử bằng sàng ướt và lọc, đây là phương pháp thường được sử dụng để lọc tuyến trùng từ đất và được Gerdermann cải biên cho phù hợp với nấm nội cộng sinh [21] Phương pháp thường được sử dụng để tách bào tử từ đất là phương pháp sàng ướt (wet sieving) qua rây kết hợp với ly tâm trong thang nồng độ của sucrose (dịch 50%) [17] Tách bào tử từ đất còn

là khâu quan trọng để xác định số lượng bào tử có trong đất

Thông thường, số lượng bào tử nấm nội cộng sinh có trong đất thể hiên mức độ chặt chẽ của mối quan hệ giữa thực vật và nấm nội cộng sinh Việc xác định số lượng bào tử cũng được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau Phương pháp thông dụng nhất ngày nay có lẽ được dựa trên cơ sở phương pháp đường chéo của Newman (1966) Phương pháp này đầu tiên để áp dụng với mycorrhizas năm 1975 (Sparling và Tinker 1975), sau đó được dùng để so

Trang 20

sánh với các phương pháp xác định khác [26] Ngày nay, máy đếm bào tử cũng được sử dụng dựa trên việc phân loại bào tử qua hình dạng và kích thước thay cho phương pháp đếm thủ công, tuy nhiên sai số lớn

Việc quan sát thể xâm nhiễm dựa trên cơ sở sử dụng Triphan Blue (0,05%) làm biến màu thể xâm nhiễm trong rễ của cây chủ Trong phương pháp này, đầu tiên nấm rễ cộng sinh được đun nóng bằng KOH 10%, sau đó rửa bằng axít HCl, và biến màu bởi Tryphan blue Thuốc màu sẽ ngấm sâu vào sợi nấm nhưng không ngấm sâu vào mô thực vật Phương pháp này nhìn chung thích hợp với cây nông nghiệp một số loài khác Năm 1980, Kormanik

đã mô tả kỹ thuật sử dụng axít fuschin để làm sạch và biến đổi màu những mẫu rễ thực vật để có thể quan sát thể xâm nhiễm Phương pháp này có hiệu quả hơn đối với thực vật có nhiều sắc tố trong rễ Năm 1984, Brundrett và cộng sự phát triển một phương pháp khác với chlorazol black E, với kỹ thuật mới này có thể quan sát được những giai đoạn của VAM trong rễ cây chủ rõ ràng hơn những phương pháp trên

Vấn đề chung gặp phải khi áp dụng các phương pháp trên để quan sát mẫu là mẫu bị phá huỷ và tốn thời gian Sự bắt màu và mức độ thay đổi màu

khác nhau đối với các mẫu rễ khác nhau Nhiều loài thuộc chi Gigaspora và Scutellospora biến đổi màu rất mạnh với Tryphan blue Những loài này có

khả năng biến màu rất mạnh cho dù chúng cộng sinh với bất kì loài thực vật

nào Nhưng có loài như Acaulospora trapei có sự biến màu trung gian với Tryphan blue Thậm chí có một số loài của chi Glomus như G leptoticum, G maculosum, hoặc Acaulospora myriocarpa không biến màu với tryphan blue

Ames và cộng sự (1982) đã đưa ra kỹ thuật không phá vỡ cấu trúc và tiến đến đánh giá sự chuyển hoá hoạt động trong cấu trúc ở trong và bên ngoài rễ

Cơ sở của phương pháp này dựa trên sử dụng fluorescein diacetate (FDA) [1]

Trang 21

tử VAM Trong đất, VAM được bảo vệ bởi chồi hoặc thân rễ

Số lượng bào tử nấm nội cộng sinh trong đất được coi là yếu tố chỉ thị quan trọng đánh giá ưu thế của loài Số lượng bào tử cũng như sự đa dạng loài trong đất được canh tác nhiều hơn so với đất tự nhiên Vì nấm nội cộng sinh không dễ phán tán nên tầng đất canh tác là vị trí tốt nhất cho biết số lượng bào

tử [1]

1.1.5 Sinh thái học nấm nội cộng sinh

Những nghiên cứu của McGonigle và Fitter năm 1990 đã bác bỏ những nghiên cứu trước đây Hai nhà khoa học này đã chứng minh rằng sự cộng sinh của VAM tại một vùng có thể chỉ ra mức độ đặc trưng riêng của hệ sinh thái vùng Sự phát triển mạnh của nấm nội cộng sinh phụ thuộc vào nhiệt độ

Một trong những vấn đề liên quan được các nhà khoa học quan tâm là những yếu tố ảnh hưởng đến nấm nội cộng sinh Các nhà khoa học đã khẳng định số lượng bào tử thay đổi theo tính chất mùa của thời tiết Số lượng bào

tử nhiều vào cuối mùa hè hoặc mùa thu và sẽ giảm vào mùa động, mùa xuân

và mùa hè [33] Khi nghiên cứu về nấm nội cộng sinh trong các khu rừng nhiệt đới, Jha.D.K, G.D Sharma và R.R Mishra nhận thấy nấm nội cộng sinh

ở đây có ưu thế hơn so với vùng rừng cận nhiệt đới Số lượng bào tử và sự phát triển của nấm nội cộng sinh tương quan nghịch với độ ẩm đất [28]

Trang 22

Loài cây chủ cũng được xác định có liên quan đến số lượng bào tử nấm nội cộng sinh trong đất Thí nghiệm nhân nuôi bào tử nấm nội cộng sinh trong chậu vại cho thấy cỏ và cây ngô có khả năng tạo ra số lượng bào tử nhiều hơn

so với cây đỗ tương

Một yếu tố khác ảnh hưởng tới số lượng bào tử là độ sâu tầng đất Năm

1972, Sutton & Barron đã thấy rằng số lượng nấm nội cộng sinh trong đất canh tác nông nghiệp giảm theo độ sâu tầng đất mặt [33] Đối với dạng lập địa

là cồn cát, sự xâm chiếm của nấm nội cộng sinh giảm tầng đất sâu [1] Mohankumar V và A Mahadevan cũng có những kết luận tương tự về rừng nhiệt đới ở Ấn Độ Khi tiến hành nghiên cứu tỷ lệ nhiễm trong mùa hè cao hơn mùa mưa, số lượng bào tử nấm nội cộng sinh giảm đi rõ rệt theo mức độ tăng của độ sâu tầng đất [27]

Về vai trò của lân đối với nấm cộng sinh đã được Harley và Smith (1983) tuyên bố, cung cấp lân rất cần thiết cho mọi loại nấm cộng sinh Sau này, một

số nhà nghiên cứu Malaysia kết luận, lân có ảnh hưởng thực sự tới sự hình thành nấm cộng sinh, lân làm tăng việc hình thành nấm cộng sinh

1.1.6 Ảnh hưởng của nấm nội cộng sinh đối với thực vật chủ

Đồng thời với những nghiên cứu về phân loại, tách bào tử, cấu trúc thì những nghiên cứu về ảnh hưởng của nấm nội cộng sinh đối với sinh trưởng của cây cũng được quan tâm từ rất sớm Năm 1943, Asai đã sử dụng đất không qua khử trùng như là một cách lây nhiễm nấm cộng sinh và đã chúng minh được rằng cây trồng phát triển nhanh hơn so với không có nấm cộng sinh Năm 1957, Mosse trong một báo cáo khoa học đã chỉ ra việc nhiễm nấm nội cộng sinh làm tăng sinh trưởng của cây táo con từ chồi Thí nghiệm với

Trang 23

cây ngô và yến mạch cũng cho kết quả tương tự, cây được nhiễm nấm sinh trưởng tốt hơn so với cây không được nhiễm nấm [26]

Trong nhiều năm những nghiên cứu về nấm nội cộng sinh chỉ tập trung vào vấn đề ảnh hưởng của chúng đối với sinh trưởng cây trồng mà không để ý rằng giá trị của nấm nội cộng sinh mang lại cho thực vật chủ còn lớn hơn nhiều (Roger.T.Koide và B Mosse, 2004) [26] Sau khi Barbara Mosse (1953) và J.W Gerdemann (1955) phát hiện ra bào tử của nấm nội cộng sinh

có thể sống cùng với thực vật trong chậu và đưa ra phương pháp nhân nuôi thì những nghiên cứu về nấm nội cộng sinh và ảnh hưởng của chúng đối với thực vật mới được tiến hành sâu rộng trên nhiều lĩnh vực [21] Các nhà khoa

đã chứng minh vai trò của nấm nội cộng sinh không chỉ làm tăng sinh trưởng

và quá trình phát triển của cây trồng mà chúng có thể làm tăng khả năng hấp thu khoáng trong đất như lân, đồng, kẽm… làm giảm mức độ ”sốc“ của cây

có nguyên nhân do đất nhiễm mặn, đất quá ẩm, nhiệt độ đất cao và nhiều nguyên nhân khác [17] Đối với đất bị nhiễm mặn, Dixon đã tiến hành nghiên cứu trồng cây bạch đàn trên đất mặn với hỗ trợ của nấm nội cộng sinh và cũng thu được những kết quả khả quan [19] Ngoài ra ảnh hưởng tích cực của nấm nội cộng sinh thể hiện khả năng kháng bệnh của cây Năm 1988 Bali bằng kết quả thực nghiệm của mình đã chứng minh hiệu quả của nấm nội cộng sinh đối với bệnh héo cây bông có nguyên nhân do nấm Fusarium [16] Đặc biệt ảnh hưởng của nấm nội cộng sinh thể hiện rất rõ đối với bệnh ở rễ VAM có thể làm giảm nguồn bệnh hoặc giảm ảnh hưởng của bệnh ở rễ có nguyên nhân do nấm và tuyến trùng gây ra [32] Đối với bệnh rễ gây ra bởi tuyến trùng, VAM

có thể cải thiện sức sống của cây chủ, từ đó làm giảm thiệt hại sản lượng gây

ra do tuyến trùng xâm nhiễm Đặc biệt, với những đất có hàm lượng lân thấp

và nếu cây được nhiễm VAM sớm trong quá trình sinh trưởng trước khi bị nhiễm tuyến trùng Tuy nhiên những tác dụng này đối với bệnh ở lá và virus

Trang 24

không thể hiện rõ [32] Ngoài ra, các nhà khoa học còn khám phá cơ chế gây

ra ảnh hưởng của VAM đối với sinh trưởng của thực vật

1.1.7 Những nghiên cứu về cây họ Dầu

Cây họ Dầu là loài cây đặc trưng của vùng Đông Nam Á Tuy nhiên không chỉ có các nhà nghiên cứu Đông Nam Á mà các nhà khoa học trên thế giới cũng rất quan tâm đến loài cây này

Nấm cộng sinh với cây họ Dầu được nghiên cứu từ rất sớm Báo cáo đầu tiên của các nhà khoa học Malaysia về nấm cộng sinh cây họ Dầu được Singh công bố năm 1966 Tại Malaysia, cây họ Dầu là một trong những loài cây rừng chủ yếu được nghiên cứu về nấm cộng sinh Những nhà khoa học

Malaysia sử dụng những hai chủng nấm Pisolithus tinctorius để nhiễm cho

cây con của 3 loài Nghiên cứu đã đi đến kết luận, mỗi chủng nấm thích hợp

với loài cây khác nhau Pisolithus tinctorius còn được một số công trình

nghiên dùng để nhiễm cho một số loài khác cũng thuộc cây họ Dầu Tại hội thảo về nấm cộng sinh lần đầu tiên của châu Á, Hadi, S và Erdy Satoso đã

công bố kết quả nhiễm nấm cộng sinh cho 5 loài họ Dầu (Hopea odorata, Vatica sumartana, Shorea stenoptera, S pinanga, S compessa) Ba loài nấm

khác nhau đã được sử dụng để nhiễm cho những cây này Tương tự kết luận của các nhà nghiên cứu Malaysia, họ cũng đưa ra kết luận mỗi loài nấm cộng sinh chỉ có tác dụng với một loài cây nhất định [21]

Khi nghiên cứu vùng đất Đông Kalimanta của Indonesia, các nhà khoa học đã nhận thấy nguyên nhân gây nên trở ngại trong việc tái tạo rừng và trồng rừng là do có độ phì thấp và chỉ có số lượng nhỏ nấm nội cộng sinh Trong một vài lập địa, có thể đạt sản lưọng cao nhờ vào việc sử dụng kết hợp nhiễm nấm và phân lân (Howeler & Sieverding 1983)

Trang 25

Người ta đã chứng minh được rằng sử dụng các sản phẩm than có thể cải thiện tình trạng của nấm VAM và tăng khả năng chống chịu bệnh tật cho cây con họ Dầu Những nghiên cứu về sử dụng phối hợp than và lân có nguồn gốc

tự nhiên được tập trung thực hiện nhằm cải thiện khả năng tái tạo và hình thành rừng cây họ Dầu [33]

Cải thiện sinh trưởng cây con họ Dầu cũng đã được nghiên cứu Lee và Alexander nghiên cứu việc hình thành nấm cộng sinh đối với cây con họ Dầu trong rừng tự nhiên Một số loài cây họ Dầu trong đó có Sao đen được nhiễm nấm cộng sinh để cải thiện tình hình sinh trưởng, hấp thu lân của cây con trong vuờn ươm Liên quan đến vấn đề nhiễm nấm cho cây con họ Dầu giai đoạn vườn ươm cũng còn có rất nhiều nghiên cứu khác Tuy nhiên phần lớn những nghiên cứu này sử dụng cây con trong vườn ươm và chưa nghiên cứu chi tiết nấm cộng sinh với cây trong tại rừng trồng [33] Về phân loại nấm cộng sinh, Makoto Ogawa đã phân lập và định danh được 33 loài nấm nhưng đều là nấm ngoại cộng sinh

Như vậy, nấm cộng sinh với cây họ Dầu được nghiên cứu khá nhiều nhưng phần lớn những nghiên cứu tập trung vào nấm ngoại cộng sinh Nấm nội cộng sinh cũng được đề cập tới nhưng không được nghiên cứu sâu

1.1.8 Phương thức sử dụng nấm nội cộng sinh

Mặc dù vai trò của VAM đã được khẳng đinh nhưng có một thời gian việc sử dụng nấm nội cộng sinh bị hạn chế do mức độ lây nhiễm thấp của VAM trong đất có hàm lượng P2O5 ở mức cao Vấn đề này hiện nay đã được giải quyết bằng cách nuôi cây trong môi trường đệm và nhiễm nấm từ giai đoạn cây con Nhiễm nấm nội cộng sinh làm tăng tỷ lệ sống của thực vật trong nhân giống vi mô Việc nhiễm nấm phải được thực hiện khi đưa cây ra khỏi

Trang 26

ống nghiệm Những cây được nuôi trong môi trường đệm và nhiễm nấm, hạt được thu hái và gieo trồng từ những cây này sẽ sinh trưởng tốt hơn, cho sản lượng cao hơn và có khả năng kháng bệnh cao hơn [35]

Như vậy, từ khi nấm nội cộng sinh được biết đến, phương thức sử dụng nấm nội cộng sinh đầu tiên là sử dụng tầng đất mặt có nấm nội cộng sinh như một phương thức lây nhiễm Tiếp theo là phương pháp chủ động tạo nguồn lây nhiễm bằng cách nhân nuôi bào tử nấm nội cộng sinh thuần khiết trong chậu cùng với cây chủ Không chỉ dừng lại ở việc nhân nuôi bào tử nấm nội cộng sinh trong môi trường có cây chủ, khoa học ngày nay còn có thể nhân nuôi nấm nội cộng sinh trong môi trường in-vitro Tại Ấn Độ, các nhà khoa học đã nghiên cứu chuyển ADN nấm nội cộng sinh vào rễ cây chủ và nhân nuôi trong môi trường đặc biệt Kết quả của nghiên cứu này đã tạo ra những sản phẩm nấm nấm nội cộng sinh từ môi trường in-vitro [36]

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC

Nghiên cứu về nấm cộng sinh ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ 20 Mặc dù đã đạt được một số kết quả nhưng phạm vi nghiên cứu khi

đó chỉ bao gồm nấm ngoại cộng sinh

Nghiên cứu đầu tiên về nấm cộng sinh trong lâm nghiệp là việc sử dụng đất tầng mặt rừng thông để gieo ươm cây con được coi như nhiễm nấm tự nhiên [2] Sau này Nguyễn Sỹ Giao (1976) đã nghiên cứu sử dụng nấm cộng sinh thuần chủng để tạo rễ nấm cho cây thông con Thử nghiệm cho kết quả

sự vượt trội về đường kính và chiều cao của những cây được nhiễm nấm so với công thức đối chứng từ 20 - 30% [3] Phương pháp sử dụng tầng đất mặt lấy từ rừng Thông để tạo hỗn hợp túi bầu khi gieo ươm cây Thông con đã được sử dụng như một biện pháp lâm sinh trong một thời gian khá dài Bên cạnh việc sử dụng nấm cộng sinh thúc đẩy sinh trưởng của cây con Nguyễn

Trang 27

Sỹ Giao còn nghiên cứu sử dụng nấm cộng sinh phòng bệnh vàng còi ở thông con và cũng đã đạt được kết quả nhất định, Nguyễn Sỹ Giao, 1970 [1]

Từ đầu những năm 1970 đến những năm, Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp nay là Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã tiến hành phân lập và nuôi cấy thuần chủng nấm cộng sinh Một vài thí nghiệm đã được tiến hành trên đất cằn với cây chủ là một số loài Thông nhập nội Tuy nhiên những thí nghiệm này sau đó đã phải dừng lại do nhiều lí do

Nghiên cứu ứng dụng nấm cộng sinh trong lĩnh vực lâm nghiệp trong giai đoạn tiếp theo bị ngưng trệ Năm 1998, Phạm Quang Thu và cộng sự tiếp tục tiến hành nghiên cứu về nấm cộng sinh Kết quả nghiên cứu đã xác định

được 37 loài nấm cộng sinh với 3 loài: Thông nhựa (Pinus merkussi), Thông

mã vĩ (Pinus massoniana), Thông caribe (Pinus caribaea) Những loài nấm

này được giám định thuộc 9 họ và 7 bộ [10] Đây dường như là sự khởi dầu lại cho những nghiên cứu về nấm cộng sinh Thành công của đề tài này là động lực tiếp tục thúc đẩy các nghiên cứu về đề tài nấm cộng sinh trong lĩnh vực lâm nghiệp Không chỉ dừng lại ở việc xác định thành phần loài nấm cộng sinh, năm 1998, Phạm Quang Thu và Nguyễn Đức Thắng còn tiến hành nghiên cứu sản xuất chế phẩm nấm cộng sinh Các tác giả đã đưa ra được điều

kiện tốt nhất để sản xuất chế phẩm Posilithus tinctorius [9] Nghiên cứu ứng

dụng chế phẩm nấm cộng sinh trong sản xuất cây con được nghiên cứu và đạt được những kết quả khả quan Cây con sinh trưởng tốt hơn và có khả năng kháng bệnh cao hơn (Phạm Quang Thu, 1999, 2002) [11,12] Nghiên cứu này không phải là nghiên cứu đầu tiên về ứng dụng nấm cộng sinh trong lâm nghiệp, nhưng điều quan trọng là nghiên cứu này giải quyết được vấn đề chủ động nguồn nấm lây nhiễm thông qua sản xuất chế phẩm Giá trị của nghiên cứu này còn nằm trong thực tiễn sản xuất

Trang 28

Nghiên cứu về nấm nội cộng sinh ở Việt Nam tập trung chủ yếu trong

lĩnh vực nông nghiệp và dược liệu Năm 2003, Nguyễn Hồng Hà tiến hành thu

thập bào tử nấm cộng sinh trong đất vùng rễ quyển thực vật Kết quả đã xác

định trong số bào tử thu được có 2 loại bào tử được xác định đó là Glomus và

Gigaspora [4] Về cây dược liệu, Lê Thị Minh Thành và cộng sự nghiên cứu

nấm nội cộng sinh ở rễ cây Sơn Thục Các tác giả nhận thấy có hai dạng cộng

sinh ở rễ cây Sơn Thục là dạng nội cộng sinh thông thường và cộng sinh

Ericoid Trong đó dạng nội cộng sinh thông thường chiếm tỷ lệ cao hơn [7]

Năm 2005, tập thể tác giả Nguyễn Văn Sức, Bùi Quang Xuân, Nguyễn Viết

Hiệp, Nguyễn Thị Nga, Viện Thổ nhưỡng Nông hoá khi tiến hành nghiên cứu

“Nấm rễ nội cộng sinh” (Vesicular arbuscular mycorrhiza) và quần thể vi

sinh vật đất trong đất trồng bưởi đặc sản Đoan Hùng, Phú Thọ” đã phát hiện

sự có mặt của nấm nội cộng sinh trong tất cả các mẫu thu thập được, nhưng tỷ

lệ xâm nhiễm nấm thấp chỉ đạt mức 3/5 hay 26% theo thang đánh giá của

Harley (1982), khả năng nảy mầm của các bào tử nấm rễ bưởi thấp, chỉ đạt

16% [5] Trong một nghiên cứu khác, các tác giả trên đã sử dụng 3 loại cây kí

chủ là cây ngô, cây cao lương, cây lúa mạch; 3 chủng nấm nội cộng sinh để

nhân bào tử và đi đến kết luận, khi nhân bào tử nhờ cây kí chủ, mỗi loài cây kí

chủ thích hợp cho một chủng nấm Riêng đối với cây Cao lương không thích

hợp cho việc dùng làm cây kí chủ để nhân nhanh bào tử nấm nội cộng sinh

Khi tiến hành nhân bào tử, thời gian thu bào tử tốt nhất là 25 - 40 ngày sau

khi cây kí chủ mọc (Nguyễn Văn Sức và cộng sự, 2006) [6]

Một điều rất đáng mừng đối với những nhà khoa học nghiên cứu về

nấm cộng sinh nói chung và nấm nấm nội cộng sinh nói riêng là hội thảo về

nấm cộng sinh lần đầu tiên của Việt Nam đã được tổ chức năm 2004 tại Viện

Thổ Nhưỡng Nông Hoá Tại cuộc hội thảo này có sự góp mặt của các nhà

nghiên cứu cơ bản ở Đại học quốc gia Hà Nội, các ngành Nông nghiệp, Lâm

Trang 29

nghiệp, Dược học Tuy các tham luận tại hội thảo này mang nhiều tính lí luận, chưa đề cập nhiều đến các kết quả nghiên cứu nhưng đây thực sự là bước tiến quan trọng Tại đây, nấm nội cộng sinh cũng được đề cập đến trong các tham luận như một nội dung chính của hội thảo Không chỉ đề cập đến những vấn

đề có liên quan mà một số nhà khoa học còn nêu lên định hướng nghiên cứu nấm nội cộng sinh

Trang 30

CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHẠM VI VẬT LIỆU VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Xác định thành phần loài và xây dựng bảng tra về loài nội cộng sinh với Sao đen tại huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai

- Xác định một số đặc điểm phân bố của nấm nội cộng sinh với cây Sao đen

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.2.1 Điều tra thành phần loài nấm nội cộng sinh

- Xây dựng bảng tra thành phần loài

- Xây dựng danh mục thành phần loài nấm nội cộng sinh

- Mô tả đặc điểm sinh học các loài nấm nội cộng sinh

2.2.2 Một số đặc điểm phân bố nấm nội cộng sinh

2.2.2.1 Phân bố của nấm nội cộng sinh theo loaị rừng hỗn giao

2.2.2.1.1 Phân bố số lượng bào tử theo loại rừng hỗn giao

2.2.2.1.2 Phân bố thành phần nấm nội cộng sinh theo loại rưng hỗn giao

2.2.2.3 Đặc điểm phân bố của nấm nội cộng sinh theo tuổi cây

2.2.2.3.1 Phân bố số lượng bào tử nấm nội cộng sinh theo tuổi cây

2.2.2.3.2 Phân bố thành phần nấm nội cộng sinh theo tuổi cây

2.2.2.4 Đặc điểm phân bố của nấm nội cộng sinh theo độ sâu tầng đất

2.2.2.4.1 Phân bố số lượng bào tử nấm nội cộng sinh theo độ sâu tầng đất

Trang 31

2.2.2.4.2 Phân bố thành phần nấm nội cộng sinh theo độ sâu tầng đất

2.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Nấm nội cộng sinh với loài Sao đen trồng hỗn giao trên nhóm đất xám huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai

- Tuổi rừng lấy mẫu: rừng thuộc cấp tuổi 1

- Các loài cây hỗn giao: Keo lai (Acacia hybrid); Điều (Annacardium occidentale L.*), Xoài (Mangifera indica L.)

- Tầng lấy mẫu: 0-10cm; 10-20cm

2.4 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

Mẫu đất: Đất trồng Sao đen tầng 0 -10 cm và 10-20 cm

Thiết bị : Bộ rây với các kích cỡ, Kính hiển vi quang học; đĩa petri; Bộ

vi gắp; Hệ thống hút chân không áp suất thấp; Phễu hút kèm giấy lọc Whatman số 1 – 4

Hoá chất: Một số hoá chất chính như Glycerol, Sucrose, Tryphan blue, Formaldehyde, Phenol, Axit lactic, Axit axetic

2.5 PHƯƠNG PHÁP

2.5.1 Điều tra thành phần nấm nội cộng sinh

2.5.1.1 Thu thập mẫu

- Điều tra hiện trạng rừng Sao đen: Thu thập tài liệu từ phần mềm thống kê

hiện trạng rừng của Cục Kiểm Lâm và điều tra trực tiếp, sơ bộ hiện trạng rừng Sao đen của tỉnh Đồng Nai: tổng diện tích, diện tích trồng thuần loài, hỗn loài

- Mô tả hiện trạng lâm phần lấy mẫu: năm trồng, diện tích, phương thức trồng

Trang 32

- Tầng lấy mẫu : lấy mẫu tại tầng 0 -10 cm và 11 -20 cm

- Số lượng mẫu: Đối với mỗi loại hình rừng hỗn giao thu thập mẫu tại 4 tuổi (13, 10, 7, 4 tuổi), m ỗi tuổi rừng thu mẫu tại 3 cây ngẫu nhiên, tại mỗi cây lấy mẫu tại 4 vị trí vuông góc trong phạm vi tán cây Như vậy, số lượng mẫu thu thập đối với mỗi tầng lấy mẫu cho một loại hình rừng hỗn giao là 48 mẫu, cho cả 3 loại hình rừng hỗn giao là144 mẫu Tổng số mẫu thu thập là 288 mẫu

- Cách lấy mẫu: Theo phương pháp của Hayman (1982), Rich và Barnard (1984) [16]

2.5.1.2 Phương pháp tách bào tử từ đất

- Tách bào tử từ đất: Sử dụng kỹ thuật sàng ướt (wet sieving) qua rây kết hợp với ly tâm trong dung dịch đường sucrose 50% (Daniel và Skipper, 1982; Tommerup, 1992) [16]

- Mỗi mẫu được phân tích lặp lại 4 lần

2.5.1.3 Phân loại nấm nội cộng sinh

- Mô tả các đặc điểm của bào tử khi tách từ mẫu đất Các đặc điểm hình thái, cấu trúc mô tả: sự sắp xếp bào tử, hình dạng bào tử, kích thước bào tử, màu sắc, cấu trúc bề mặt bào tử, sự nảy mầm của bào tử

- So sánh các đặc điểm quan sát được với khoá phân loại của N C Schenck

& Yvonne Perrez, 1988[35]

2.5.1.4 Xây dựng danh mục thành phần loài,

Thống kê các loài đã mô tả và tần xuất xuất hiện của chúng Có mặt (+); không có mặt (-)

Tần suất xuất hiện được xác định như sau:

Trang 33

- Phổ biến: loài nấm xuất hiện 3/3 loại rừng hỗn giao

- Khá phổ biến: loài nấm xuất hiện 2/3 loại rừng hỗn giao

- Không phổ biến: loài nấm chỉ xuất hiện tại 1/3 loại rừng hỗn giao

2.5.2 Nghiên cứu một số đặc điểm phân bố của nấm nội cộng sinh

- Mẫu đất được phân tại Viện Thổ Nhưỡng Nông Hoá Các chỉ tiêu phân tích pH: chiết rút bằng dung dich KCl 1N; lân tổng số bằng phương pháp Oniani; kali dễ tiêu bằng phương pháp kiecxanop; mùn tổng số bằng phương pháp waleyblack

- Bào tử sau khi tách khỏi đất và rửa bằng nước cất, được đếm theo phương pháp lưới ô vuông [16] Số lượng bào tử được xác định theo chi ở từng độ sâu tầng đất đối với mỗi loại rừng hỗn giao Số lượng bào tử/ mẫu được lấy theo giá trị nguyên trên cơ sở giá trị trung bình của 4 mẫu

- Xây dựng tương quan bậc nhất về số lượng bào tử phân bố theo độ sâu tầng đất theo phương pháp bình phương bé nhất

Trang 34

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA VÙNG NGHIÊN CỨU

Đồng Nai là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ nước Cộng Hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có diện tích 5.894,73km2, chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và chiếm 23,5% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ Dân số toàn tỉnh theo số liệu thống kê năm 2006 là 2.246.192 người, mật độ dân số: 381người/ km2. Tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: Thành phố Biên Hoà, Thị xã Long Khánh và 9 huyện: Long Thành, Nhơn Trạch, Vĩnh Cửu, Trảng Bom, Thống Nhất, Cẩm Mỹ, Xuân Lộc, Định Quán, Tân Phú

Là một tỉnh nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam, tỉnh Đồng Nai tiếp giáp với các vùng sau:

* Đông giáp tỉnh Bình Thuận

* Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng

* Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước

* Nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

* Tây giáp thành phố Hồ Chí Minh

Đồng Nai có địa hình trung du chuyển từ cao nguyên Nam Trung Bộ đến đồng bằng Nam Bộ Nhìn chung địa hình tương đối bằng phẳng, 82% đất

có độ dốc nhỏ hơn 80, 10% đất có độ dốc nhỏ hơn150, 8% đất có độ dốc lớn hơn 150 Tong đó đất phù sa, đất gley, đất cát có địa hình bằng phẳng

Đồng Nai nằm trong vùng nhiệt đới khí hậu gió mùa Nhiệt độ trung bình năm 25 -27 0C Trong năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến

Trang 35

tháng11, lượng mưa tương đối lớn, trung bình năm 1.700 – 1.800 mm Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, thời tiết nắng nóng, độ ẩm thấp có khi xuống dưới 70%

Đất Đồng Nai được chia thành 10 nhóm đất chính: đất phù sa, đất gley, đất tầng mỏng, đất cát, đất đá bọt, đất đen, đất nâu, đất xám, đất đỏ, đất loang

lổ chua Trong đó đất xám là loại đất có diện tích lớn nhất với 234.846 ha, chiếm 40,05% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Đất xám phân bố ở hầu hết các huyện ở Đồng Nai, tập trung nhiều ở các huyện Vĩnh Cửu, Định Quán, Tân Phú, Long Thành (Theo ranh giới hành chính cũ gồm 9 huyện thị) Nhìn chung đất xám có thành phần cơ giới nhẹ, đất chua Đất đen chiếm 22,44%, đất đỏ chiếm 19,27%, đất đá bọt chỉ chiếm 0,02%

Diện tích rừng, số liệu thống kê năm 2005 là 153.000 ha, trong đó 110.000 ha rừng tự nhiên, 43.000 ha rừng trồng [36] Tỷ lệ che phủ của rừng năm 1976 là 47,8%, năm 1981 là 21,5% Đến năm 2004 là 26% tổng diện tích

tự nhiên

3.2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC THU THẬP MẪU

Diện tích đất tự nhiên: 109.255,2 ha, trong đó diện tích có rừng 61.043,4 ha Độ che phủ: 55,2%

Là vùng có lượng mưa phân bố không đều, có lưu lượng lớn nhất vào tháng 8 từ 2.000 – 2.500 mm

Đất đai : có 3 loại đất chính, đất phù sa, đất đỏ trên đá phiến thạch biến chất, đất nâu vàng trên phù sa cổ và phiến thạch sét

Tài nguyên rừng : huyện có 2 lâm trường và 1 khu bảo tồn thiên nhiên

có tổng diện tích là 72.799 ha với nhiều loài gỗ quý như Cẩm lai, Sao đen, Gõ

Trang 36

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 THÀNH PHẦN NẤM NỘI CỘNG SINH VỚI CÂY SAO ĐEN 4.1.1 Xây dựng bảng tra các loài nấm nội cộng sinh

Bảng 4.1: Bảng tra các loài nấm nội cộng sinh

1 Dạng bào tử 2 1’Dạng quả bào tử 25 2(1) Chỉ có một hình dạng 3 2’(1) Có nhiều hơn một hình dạng 12 3(2’) Hình cầu 4 3’(2’) Không phải hình cầu 10 4(3) Bề mặt có lưới đa giác

Acaulospora beriticulate Rothwell & Trappe

4’(3) Bề mặt không có lưới đa giác 5 5(4’) Thành có cấu trúc 2 lớp 6 5’(4’) Thành có nhiều hơn 2 lớp 8

6(5) Bào tử không màu Gigaspora candida

Bhattacharjee, Mukẹri, Tewari & Skoropad 6’(5) Bào tử có màu 7 7(6’) Nâu, nâu vàng

Entrophospora infrequens (Hall) Ames & Schneider

7’(6’) Glomites rhyniensis

8(5’) Kích thước 100µm Acaulospora melea Spain & Schenck

Trang 37

8’(5’) Kích thước lớn hơn 100 µm 9

9(8’) Bề mặt bào tử có các túi

Acaulospora excavata Ingleby & Walker sp nov

9’(8’) Bào tử màu vàng, nâu đỏ Gigaspora depiciens Hall & Abbott

10(3’) Hình elip 11

10’(3’) Hình trứng, không có gai Acaulospora myriocarpa

Spain, Sievrerding & Schenck

14(13) Cuống đính lệch Glomas aggregatum

Schenck & Smith emend Koske

14’(13’) Cuống đính thẳng 15

15(13’) Kích thước bào tử 130 - 160 µm

Glomus australe (Berk) Berch

15’(13’) Kích thước bào tử 170 -200 µm Acaulospora appendicula

Spain, Sieverding & Schenck

16(13’) Thành có 1 lớp Glomus macrocapus Tul & Tul

16’(13’) Thành có nhiều hơn 1 lớp 17

17(16’) Cấu trúc thành chia nhóm, màu đỏ vàng

Acaulospora lacunose Morton

17’(16’) Cấu trúc thành không chia nhóm 18

Trang 38

Acaulospora scrobiculata Trappe

20’(19’) Bề mặt không có vết lõm

Gigaspora albida Schenck & Smith

21(19’) Hình cầu, gần cầu và elip 22

21’(19’) Gần cầu, elip, kích thước 50-60 µm Entrophospora schenckii

Sieverding & Toro 22(21) Bề mặt bào tử có gai nhỏ

Acaulospora eligan Trappe & Gerdermann

22’(21) Bề mặt không có gai nhỏ 23 23(22’) Bào tử có không bào

Glomus mossea (Nicol & Gerd) Gerdermann & Trappe

23’(22’) Không có không bào 24

24 (23’) Thành bào tử 5 lớp

Acaulospora dilatata Sievrerving & Toro

24’ (23’) Thành bào tử 1 lớp

Glomus ambisporum Smith & Schenck

25(1’)Bào tử sắp xếp xuyên tâm

Sclerocystis coremioides Berk& Broome 25’(1’) Sắp xếp theo kiểu đồng tâm .Sclerocystis coccogena (Pat) von H

Ngày đăng: 03/10/2017, 10:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.5  Bảng 4.7 - Thành phần loài và đặc điểm phân bố nấm nội cộng sinh với loài sao đen (hopea odorata roxb) tại tỉnh đồng nai
Bảng 4.5 Bảng 4.7 (Trang 9)
Hình dạng bào tử: gần cầu. Bào tử có màu đỏ vàng, kích thước bào tử - Thành phần loài và đặc điểm phân bố nấm nội cộng sinh với loài sao đen (hopea odorata roxb) tại tỉnh đồng nai
Hình d ạng bào tử: gần cầu. Bào tử có màu đỏ vàng, kích thước bào tử (Trang 42)
Hình 4.11: Bào tử nấm  Acaulospora excatava - Thành phần loài và đặc điểm phân bố nấm nội cộng sinh với loài sao đen (hopea odorata roxb) tại tỉnh đồng nai
Hình 4.11 Bào tử nấm Acaulospora excatava (Trang 46)
Hình 4.17: Bào tử nấm   Gigaspora decipien - Thành phần loài và đặc điểm phân bố nấm nội cộng sinh với loài sao đen (hopea odorata roxb) tại tỉnh đồng nai
Hình 4.17 Bào tử nấm Gigaspora decipien (Trang 49)
Hình 4.21: Bào tử nấm  Glomus australe - Thành phần loài và đặc điểm phân bố nấm nội cộng sinh với loài sao đen (hopea odorata roxb) tại tỉnh đồng nai
Hình 4.21 Bào tử nấm Glomus australe (Trang 51)
Hình 4.25: Bào tử nấm  Sclerocystis coremioides - Thành phần loài và đặc điểm phân bố nấm nội cộng sinh với loài sao đen (hopea odorata roxb) tại tỉnh đồng nai
Hình 4.25 Bào tử nấm Sclerocystis coremioides (Trang 53)
Bảng 4.3: Số lƣợng bào tử nầm nội cộng sinh theo loại rừng hỗn giao - Thành phần loài và đặc điểm phân bố nấm nội cộng sinh với loài sao đen (hopea odorata roxb) tại tỉnh đồng nai
Bảng 4.3 Số lƣợng bào tử nầm nội cộng sinh theo loại rừng hỗn giao (Trang 54)
Hình 4.27: Số lƣợng bào tử nấm cộng sinh với cây Sao đen theo loại hình - Thành phần loài và đặc điểm phân bố nấm nội cộng sinh với loài sao đen (hopea odorata roxb) tại tỉnh đồng nai
Hình 4.27 Số lƣợng bào tử nấm cộng sinh với cây Sao đen theo loại hình (Trang 55)
Hình 4.18: Phân bố số lƣợng bào tử theo tuổi cây - Thành phần loài và đặc điểm phân bố nấm nội cộng sinh với loài sao đen (hopea odorata roxb) tại tỉnh đồng nai
Hình 4.18 Phân bố số lƣợng bào tử theo tuổi cây (Trang 59)
Bảng 4.4: Số lƣợng bào tử theo tuổi cây - Thành phần loài và đặc điểm phân bố nấm nội cộng sinh với loài sao đen (hopea odorata roxb) tại tỉnh đồng nai
Bảng 4.4 Số lƣợng bào tử theo tuổi cây (Trang 59)
Bảng 4.5: Phân bố thành phần chi nấm theo tuổi cây - Thành phần loài và đặc điểm phân bố nấm nội cộng sinh với loài sao đen (hopea odorata roxb) tại tỉnh đồng nai
Bảng 4.5 Phân bố thành phần chi nấm theo tuổi cây (Trang 61)
Hình  Sao đen –  Keo Lai  thể  hiện sự phân  bố thành phần  chi  theo  tuổi  tương  đối rõ - Thành phần loài và đặc điểm phân bố nấm nội cộng sinh với loài sao đen (hopea odorata roxb) tại tỉnh đồng nai
nh Sao đen – Keo Lai thể hiện sự phân bố thành phần chi theo tuổi tương đối rõ (Trang 62)
Hình 4.29: Phân bố số lƣợng bào tử theo độ sâu tầng đất - Thành phần loài và đặc điểm phân bố nấm nội cộng sinh với loài sao đen (hopea odorata roxb) tại tỉnh đồng nai
Hình 4.29 Phân bố số lƣợng bào tử theo độ sâu tầng đất (Trang 63)
Hình 4.30: Phân bố số lƣợng bào tử theo độ sâu tầng đất - Thành phần loài và đặc điểm phân bố nấm nội cộng sinh với loài sao đen (hopea odorata roxb) tại tỉnh đồng nai
Hình 4.30 Phân bố số lƣợng bào tử theo độ sâu tầng đất (Trang 64)
Hình 4.31: Phân bố số lƣợng bào tử theo độ sâu tầng đất - Thành phần loài và đặc điểm phân bố nấm nội cộng sinh với loài sao đen (hopea odorata roxb) tại tỉnh đồng nai
Hình 4.31 Phân bố số lƣợng bào tử theo độ sâu tầng đất (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w