1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

chào bán chứng khoán ra công chúng

21 186 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 71,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 01/2010 NĐ – CP và Điểm a Khoản 12 Điều 6 Luật chứng khoán 2006 sửa đổi bổ sung năm 2010: "Chào bán chứng khoán riêng lẻ là việc tổ chức chào bán chứng

Trang 1

BÀI THẢO LUẬN

Đề tài: Chào bán chứng khoán ra công chúng

Thái Nguyên, ngày 03 tháng 10 năm 2017

Trang 2

MỤC LỤC

1. Những vấn đề lí luận về chào bán chứng khoán ra công chúng

1.1. Khái niệm chào bán chứng khoán và vai trò của chào bán chứng khoán

1.1.1.Khái niệm chào bán chứng khoán

Chào bán chứng khoán là hoạt động phát hành chứng khoán để thu hút vốn nhằm thỏa mãnnhu cầu về vốn của chủ thể chào bán chứng khoán Chủ thể chào bán rất đa dạng, có thể là chínhphủ, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp Chính phủ thường chào bán chứng khoán dướidạng trái phiếu chính phủ hoặc tín phiếu kho bạc để huy động vốn, đáp ứng nhu cầu chi tiêu củachính phủ khi nguồn thu của ngân sách nhà nước hoặc ngân sách địa phương không đủ để đáp ứngnhu cầu chi tiêu

Các doanh nghiệp có thể chào bán chứng khoán dưới dạng cổ phiếu hoặc cổ phiếu tùy từngloại hình doanh nghiệp, để gọi vốn, thỏa mãn nhu cầu kinh doanh Không phải tất cả các doanhnghiệp đều được chào bán chứng khoán mà quyền chào bán chứng khoán thường chỉ dành riêng chocông ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn Công ty cổ phần có quyền chào bán cổ phiếu vàtrái phiếu còn công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ có quyền chào bán trái phiếu

1.1.2.Vai trò chào bán chứng khoán

Chào bán chứng khoán có vai trò quan trọng không chỉ đối với chủ thể chào bán mà còn cóvai trò đối với cả nền kinh tế nói chung

Đối với chủ thể phát hành là chính phủ thì việc chào bán chứng khoán có khả năng giúp chínhphủ thu hút nguồn vốn lớn trên cả nước Như vậy, ngay cả khi ngân sách nhà nước thâm hụt chínhphủ vẫn có thể huy động vốn để thỏ mãn nhu cầu chi tiêu của mình đặc biệt là thực hiện các dự ánxây dựng cơ sở hạ tầng mà không cần dùng đến biện pháp tạo tiền có nguy cơ dẫn đến lạm phát.Ngày nay chính phủ của hầu hết các nước phát triển hoặc đang phát triển đều chào bán chứng khoán

Trang 3

Đối với nền kinh tế - xã hội chào bán chứng khoán sẽ đem lại nguồn vốn cần thiết để thúc đẩyphát triển nên kinh tế - xã hội Vai trò của chào bán chứng khoán đối với nền kinh tế - xã hội cònđược thể hiện ngay trong hoạt động chào bán chứng khoán của các doanh nghiệp

1.2. Phương thức chào bán chứng khoán

Phương thức chào bán chứng khoán là phương pháp và hình thức thực hiện việc chào bánchứng khoán Có hai phương thức chào bán chứng khoán gồm: Chào bán chứng khoán ra côngchúng và chào bán chứng khoán riêng lẻ

Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 01/2010 NĐ – CP và Điểm a Khoản 12 Điều 6 Luật

chứng khoán 2006 sửa đổi bổ sung năm 2010: "Chào bán chứng khoán riêng lẻ là việc tổ chức chào bán chứng khoán cho dưới 100 nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và không sử dụng phượng tiện thông tin đại chúng hay phương tiện internet."

Theo quy định tại Khoản 12 Điều 6 của Luật chứng khoán 2006 sửa đổi bổ sung 2010 thì :

"Chào bán chứng khoán ra công chúng là việc chào bán chứng khoán theo một trong các phương tiện sau đây:

a) Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả internet;

b) Chào bán chứng khoán cho 100 nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp

c) Chào bán cho một số lượng nhà đầu tư không xác định."

Điềm khác biệt của hai phương thức này là phương tiện chào bán căn cứ vào số lượng nhàđầu tư và thông qua phương tiện thông tin đại chúng hay phương tiện internet

Các doanh nghiệp được chào bán chứng khoán để gọi vốn, thỏa mãn nhu cầu về vốn Chỉcông ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn được phép chào bánchứng khoán: Công ty cổ phần

có quyền chào bán cổ phiếu và trái phiếu Công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ được quyền bán tráiphiếu

1.4. Chào bán chứng khoán ra công chúng

1.4.1.Khái niệm

Theo quy định tại Khoản 12 Điều 6 của Luật chứng khoán 2006 sửa đổi bổ sung 2010

thì :"Chào bán chứng khoán ra công chúng là việc chào bán chứng khoán theo một trong các phương tiện sau đây:

a) Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả internet;

b) Chào bán chứng khoán cho 100 nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp

Trang 4

c) Chào bán cho một số lượng nhà đầu tư không xác định."

1.4.2.Đặc điểm chào bán chứng khoán ra công chúng

- Việc chào bán chỉ được thực hiện sau khi tổ chức phát hành đăng kí chào bán

- Thường được tiến hành thông qua tổ chức trung gian là Tổ chức bảo kanhx phát hành chứngkhoán hoặc là đại lí phát hành chứng khoán

- Được thực hiện trên phạm vi lớn, thu hút lượng lớn nhà đầy tư

- Tổng giá trị chứng khoán đã chào bán thường phải đạt mức độ lớn nhất định

1.4.3.Những ưu thế và bất lợi của chào bán chứng khoán ra công chúng

1.4.3.1. Lợi thế của việc chào bán chứng khoán ra công chúng

Một là chào bán chứng khoán ra công chúng sẽ cho phép công ty huy động vốn một cách dễdàng để đáp ứng nhu cầu đa dạng về vốn trong quá trình hoạt động của công ty Công ty huy độngvốn từ các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức, trên phạm vi rộng cả trong nước và nước ngoài

Hai là chào bán chứng khoán ra công chúng đem lại tính thanh khoản cho chứng khoán củacông ty phát hành Chứng khoán của công ty đại chúng thường được giao dịch rộng rãi trong côngchúng, vì vậy thị giá của chứng khoán được hình thành và có thể mua đi, bán lại dễ dàng Lợi thếnày cho phép công ty thu hút và giữ chân nhân viên bằng cách chào bán chứng khoán, đặc biệt là cổphiếu cho họ với điều kiện ưu đãi Hơn nữa tính thanh khoản của chứng khoán công ty cho phép nhàđầu tư lựa chọn để giao dịch chứng khoán, tức mua vào bán ra dựa trên những phân tích thị trườngcủa mình hay của công ty tư vấn và vì thế tính thanh khoản của chứng khoán công ty càng tăng

Ba là chào bán chứng khoán ra công chúng có khả năng làm tăng uy tín của công ty phát hành

và đem lại nhiều thuận lợi cho công ty trong kinh doanh cũng như huy động vốn sau này Sauk hichào bán chứng khoán ra công chúng, công ty trở thành công ty đại chúng và sẽ được công chúngbiết đến nhiều hơn Điều này cho phép hàng hóa và dịch vụ của công ty đại chúng chiếm được thịphần lớn hơn; cho phép công ty đại chúng có khả năng tiếp cận với những nguồn vốn lớn hơn cũngnhư tiếp cận với các loại nguồn vốn khác nhau trong nền kinh tế

Bốn là chào bán chứng khoán ra công chúng giúp phản ánh giá trị đích thực của công ty đạichúng Khi đó, giá trị của công ty đại chúng sẽ được xác định bởi chính thị trường thong qua dunglượng và thị giá chứng khoán công ty được giao dịch trên thị trường, chứ không phải được xác địnhbởi những tiêu chí chủ quan được đưa ra bởi các tổ chức đánh giá chuyên biệt Vấn đề này rất hữuích cho các công ty đang có nhu cầu sát nhập hoặc thôn tính; và hữu ích cho cả các cổ đông trongviệc xác định trị giá của cổ phiếu của mình

Năm là chào bán chứng khoán ra công chúng có thể làm tăng giá trị tài sản của cổ đông Cổđông sang lập công ty thường tin rằng tài sản của họ trong công ty sẽ tang lên sau khi công ty chàobán cổ phần lần đầu ra công chúng Trước khi chào bán cổ hần lần đầu ra công chúng, tính thanhkhoản của cổ phần của họ thấp và giá bán thường mang tính chủ qua Sauk hi chào bán ra côngchúng lần đầu, công ty phát hành sẽ có vị thế tốt hơn và giá của những cổ phần này có thể xác địnhmột cách chắc chắn và khách quan hơn và thường tang so với trước

1.4.3.2. Bất lợi mà công ty chào bán chứng khoán ra công chúng

Trang 5

Một là, chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng thường rất đắt đỏ Vì công ty phải bỏtiền ra để sử dụng các dịch vụ pháp lý, kế toán, in ấn và các dịch vụ khác Tiền thuê bảo lãnh và pháthành thường chiếm từ 7 -10% tổng số lãi chào bán tùy thuộc vào kích cỡ vốn huy động và nhữngnhân tố khác Trừ tiền thuê bảo lãnh phát hành, những chi phí khác trong quá trình chào bán chứngkhoán ra công chúng không phụ thuộc nhiều vào lượng vốn huy động vì vậy chi phí huy động vốntrong chào bán chứng khoán ra công chúng sẽ càng giảm nếu lượng vốn huy động càng lớn.

Hai là, chế độ công bố thông tin áp dụng với công ty đại chúng thường rất nghiêm ngặt Một

khi công ty đã hoàn tất việc chào bán chứng khoán ra công chúng, công ty sẽ phải tuân thủ nhữngyêu cầu về công bố thông tin định kỳ và bất thường theo những biểu mẫu, báo cáo mà pháp luậtchứng khoán quy định

Ví dụ: Công ty phải công khai thông tin về lương của những cán bộ lãnh đạo chủ chốt, về cácgiao dịch với các bên có quan hệ với công, về xung đột lợi ích, về vị trí cạnh tranh,…

Để chấp hành chế độ công bố thông tin, công ty sẽ phải đối mặt với bất lợi:

+Công ty phải mất them thời gian và chi phí cho các dịch vụ pháp lý, và dịch vụ kế toán đểhoàn tất báo cáo theo đúng luật

+Việc công bố thông tin về những vấn đề như tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ, về lợi nhuận củacông ty, về vị trí cạnh tranh và những hợp đồng quan trọng mà công ty đã giao kết rất có thể đặtcông ty vào thế bất lợi trên thương trường

Ba là, người quản lý công ty có thể mất đi tính năng động để hành động kịp thời trong việc xử

lý những tình huống mà luật yêu cầu phải được sự phê chuẩn của dại hội cổ đông

Bốn là, các quyết định của người quản lý công ty có thể bị ảnh hưởng bởi giá trị cổ phiếu và

cảm giác rằng họ buộc phải làm cho thị trường phải thừa nhận cổ phiếu của công ty

Năm là, nếu giá cổ phiếu của công ty trên thị trường giảm, công ty có thể mất uy tín trên thị

trường Sự giảm giá trị của công ty có thể sẽ ảnh hưởng tới mắc độ tín nhiệm của công ty, tói giá cổphiếu sẽ chào bán thêm, tói khả năng của công ty trong việc duy trì đội ngũ nhân viên đang làm việctrong công ty và tiến tới tài sản của từng cá nhân các cổ đông của công ty

Sáu là, một khi công ty đã bán tỷ lệ lớn cổ phiếu ra công chúng công ty có thể trở thành mục

tiêu của các cuộc thôn tính, dẫn đến cổ đông mất kiểm soát sẽ mất quyền kiểm soát Thôn tính cóthể là kết quả của việc các cổ đông công ty bất bình với đội ngũ những người quản lý công ty và sẵnsàng tìm cơ hội để chào bán cổ phiếu hàng loạt Để chống lại những cuộc thôn tính thù địch đó công

ty sẽ phải tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc

2. Quy định pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng

Trang 6

Theo quy định tại Điều 11 Luật chứng khoán 2006 và Điều 10 Nghị định 58/2012/NĐ- CPthì hình thức chào bán chứng khoán ra công chúng như sau:

"1 Chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng bao gồm:

a) Chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng để huy động vốn cho tổ chức phát hành;

b) Chào bán chứng chỉ quỹ lần đầu ra công chúng để thành lập quỹ đầu tư chứng khoán; c) Chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng để trở thành công ty đại chúng thông qua thay đổi cơ cấu sở hữu nhưng không làm tăng vốn điều lệ của tổ chức phát hành;

d) Chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng để thành lập doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cơ sở

hạ tầng, lĩnh vực công nghệ cao, hoặc thành lập tổ chức tín dụng cổ phần;

đ) Chào bán hợp đồng góp vốn đầu tư ra công chúng.

2 Chào bán thêm chứng khoán ra công chúng bao gồm:

a) Công ty đại chúng chào bán thêm cổ phiếu ra công chúng hoặc phát hành quyền mua cổ phần cho cổ đông hiện hữu để tăng vốn điều lệ;

b) Công ty quản lý quỹ chào bán thêm chứng chỉ quỹ ra công chúng để tăng vốn điều lệ của Quỹ đầu tư.

3 Cổ đông lớn bán phần vốn sở hữu trong các công ty đại chúng ra công chúng, công ty đại chúng chào bán trái phiếu và các loại chứng khoán khác ra công chúng."

Như vậy, có ba hình thức chào bán chứng khoán ra công chúng gồm: chào bán lần đầu racông chúng; chào bán thêm ra công chúng; cổ đông lớn bán phần vố sở hữu trong công ty đại chúng

ra công chúng, công ty đại chúng chào bán trái phiếu và các loại chứng khoán khác ra công chúng

Có thể thấy rằng chào bán chứng khoán ra công chúng thông qua ba hình thức trên chủ yếu làchào bán cổ phiếu với mực đích để huy động vốn hoặc thành lập doanh nghiệp

2.2. Điều kiện chào bán

Chào bán chứng khoán ra công chúng là giao dịch quan trọng của công ty và sẽ làm phát sinhnghĩa vụ pháp lý đáng kể về hành chính, dân sự và hình sự khi công ty có hành vi vi phạm Luậtchứng khoán 2006 (2010) và các văn bản hướng dẫn thi hành có các quy định chặt chẽ về điều kiệnchào bán chứng khoán ra công chúng của doanh nghiệp, bao gồm cả hai loại hình công ty tráchnhiệm hữu hạn và công ty cổ phần Các quy định về pháp luật hiện nay về chứng khoán tập trungđiều chỉnh giao dịch chào bán cổ phiếu và trái phiếu ra công chúng

Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng được quy định chúng tại Điều 12 Luật chứngkhoán 2006 (2010) Và quy định riêng từng trường hợp cụ thể mang tính đặc thù tại Nghị định58/2012/NĐ-CP như: Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng của doanh nghiệp mới thuộclĩnh vực cơ sở hạ tầng (Điều 12); Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng để thành lậpdoanh nghiệp mới thuộc lĩnh vực công nghệ cao (Điều 13).v.v

Đối với điều kiện chung để chào bán chứng khoán ra công chúng được quy định tại Điều 12

LCK 2006 (2010): " 1.Điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng gồm:

a) Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;

Trang 7

b) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán;

c) Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua.

d) Công ty đại chúng đăng kí chào bán chứng khoán ra công chúng phải cam kết đưa chứng khoán vào giao dịch trên thị trường có tổ chức trong thời hạn một năm kể từ ngày kết thúc việc chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua."

Căn cứ vào quy định trên, các điều kiện áp dụng đối với giao dịch chào bán cổ phiếu ra côngchúng tập trung vào các điều kiện về quy mô vốn, tình hình tài chính, chấp thuận nội bộ và yêu cầuniêm yết hoặc giao dịch trên thị trường chứng khoán sau khi phát hành

Thứ nhất, về quy mô vốn của công ty phát hành: Công ty phát hành phải phát triển ở một mức

độ nhất định về vốn mới được phép phát hành cổ phiếu ra công chúng Luật chứng khoán 2006(2010) quy định công ty phát hành có vốn điều lệ đã góp ít nhất là 10 tỷ đồng tại thời điểm đăng kýchào bán cổ phiếu với Ủy ban chứng khoán nhà nước

Thứ hai, về tình hình tài chính của công ty phát hành: Công ty phát hành phải đạt đủ điều

kiện về tài chính để hoạt động và có khả năng sinh lời cho cổ đông Điều này được minh chứng quaviệc công ty phát hành phải có lãi trong năm liền trước năm đăng ký chào bán và không có lỗ lũy kếtính đến năm đăng ký chào bán

Thứ ba, về sự chấp thuận của cơ quan đăng ký nội bộ: Công ty phát hành phải có phương án

rõ ràng cho việc phát hành cổ phiếu, bên cạnh đó việc sử dụng nguồn vốn thu được và phương ánnày cần được chấp thuận của đại hội đồng cổ đông với tư cách là cơ quan quản lý nội bộ của công typhát hành

Thứ tư, điều kiện về niêm yết hoặc giao dịch trên thị trường chứng khoán trong vòng 01 năm Một đặc điểm của giao dịch chào bán cổ phiếu ra công chúng là việc chào bán không nhất thiết

phải xảy ra đồng thời với việc niêm yết hoặc giao dịch trên thị trường chứng khoán Quy định củaLuật Chứng khoán 2006 (2010) yêu cầu cổ phiếu chào bán ra công chúng của công ty đại chúngphải được niêm yết hoặc giao dịch trên thị trường chứng khoán trong vòng 01 năm kể từ ngày kếtthúc đợt chào bán

Điều kiện chào bán trái phiếu ra công chúng quy định tại Khoản 2 Điều 12 LCK 2006 (2010):"2 Điều kiện chào bán trái phiếu ra công chúng bao gồm:

a) Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;

b) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán, không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm;

c) Có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả nợ vốn thu được từ đợt chào bán được Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty thông qua;

Trang 8

d) Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện khác."

Các điều kiện về chào bán cổ phiếu ra công chúng và chào bán trái phiếu ra công chúng thì

có sự khác biệt nhất định và có thể nói giao dịch chào bán trái phiếu ra công chúng phải đáp ứngđiều kiện nhiều hơn

- Giống:

Điều kiện chào bán cổ phiếu, chào bán trái phiếu cũng cần đáp ứng các điều kiện là:

Quy mô vốn: Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từmười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán

Tình hình tài chính: Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải cólãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán, không có các khoản nợ phải trảquá hạn trên một năm

Chấp thuận nội bộ của công ty phát hành: Có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả

nợ vốn thu được từ đợt chào bán được Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữucông ty thông qua

- Khác:

Chỉ có một số loại trái phiếu nhất định do công ty đại chúng phát hành cần được niêm yếthoặc giao dịch trên thị trường chứng khoán trong vòng 01 năm kể từ ngày kết thúc đợt chào bán

Trái phiếu thường không chuyển đổi, không kèm theo chứng quyền, không bảo đảm và không

“được phát hành làm nhiều đợt” không cần được niêm yết hoặc giao dịch trên thị trường chứngkhoán trong vòng 01 năm từ ngày kết thúc đợt chào bán

Có hai điều kiện bổ sung áp dụng đối với giao dịch chào bán trái phiếu chứng khoán và haiđiều kiện này không áp dụng cho giao dịch chào bán cổ phiếu ra công chúng:

Thứ nhất, về điều kiện không có khoản nợ quá hạn trên 01 năm: Đây là điều kiện để đảm bảo

công ty phát hành trái phiếu ra công chúng có đủ khả năng trả nợ cho các nhà đầu tư trái phiếu vàđiều kiện này có phạm vi áp dụng rất rộng Nợ quá hạn có thể bao gồm nợ ngân hàng, các nhà cungcấp và bên thứ ba khác, là các khoản nợ được ghi nhận trong báo cáo tài chính của công ty pháthành

Thứ hai, về điều kiện cam kết thực hiện nghĩa vụ của công ty phát hành: Quyền của chủ sở

hữu trái phiếu không được quy định trong điều lệ và quy định hạn chế trong Luật doanh nghiệp

2014 Chính vì vậy quyền của chủ sở hữu trái phiếu cần được quy định trong các hợp đồng và thỏathuận giữa công ty phát hành trái phiếu và chủ sở hữu trái phiếu

Các trường hợp đặc thù của hình thức chào bán chứng khoán ra công chúng lần đầu được quyđịnh cụ thể tại Nghị định 58/2012/NĐ- CP từ Điều 12 đến Điều 21 và Điều 23

Điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng của doanh nghiệp thành lập mới thuộc lĩnh vực cơ

sở hạ tầng:

" Điều 12 Điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng của doanh nghiệp thành lập mới thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng

Trang 9

1 Là doanh nghiệp làm chủ đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng thuộc đề án phát triển kinh tế - xã hội của các Bộ, ngành và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

2 Có dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

3 Có cam kết chịu trách nhiệm liên đới của Hội đồng quản trị hoặc các cổ đông sáng lập đối với phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán.

4 Có cam kết bảo lãnh phát hành theo hình thức cam kết chắc chắn với công ty chứng khoán được phép hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán.

5 Có ngân hàng giám sát việc sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán.

6 Có cam kết của Hội đồng quản trị hoặc các cổ đông sáng lập về việc đưa cổ phiếu của công ty vào giao dịch trên thị trường chứng khoán tập trung trong thời hạn 01 năm kể từ ngày doanh nghiệp chính thức đi vào hoạt động."

Điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng để thành lập mới doanh nghiệp thuộc lĩnh vựccông nghệ cao:

"Điều 13 Điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng để thành lập mới doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghệ cao

1 Là doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghệ cao được khuyến khích đầu tư theo quy định của pháp luật.

2 Đáp ứng các điều kiện quy định tại Khoản 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 12 Nghị định này."

Điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng để thành lập tổ chức tín dụng cổ phần:

" Điều 14 Điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng để thành lập tổ chức tín dụng cổ phần

1 Được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận nguyên tắc cấp giấy phép thành lập và hoạt động.

2 Có cam kết chịu trách nhiệm của các cổ đông sáng lập đối với phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán.

3 Có cam kết của các cổ đông sáng lập về việc đưa cổ phiếu của tổ chức tín dụng vào giao dịch trên thị trường chứng khoán tập trung trong thời hạn 01 năm kể từ ngày khai trương hoạt động.

4 Các điều kiện khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam."

Điều kiện chào bán trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu có kèm theo chứng quyền:

" Điều 15 Điều kiện chào bán trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu có kèm theo chứng quyền

1 Tổ chức phát hành là doanh nghiệp hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần.

2 Có phương án chào bán và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua.

3 Đáp ứng các điều kiện quy định tại Điểm a, b và d Khoản 2 Điều 12 Luật chứng khoán

và Khoản 7 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán."

Điều kiện chào bán trái phiếu đảm bảo:

"Điều 16 Điều kiện chào bán trái phiếu đảm bảo

1 Đáp ứng các điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 12 Luật chứng khoán và Khoản 7 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán.

Trang 10

2 Có cam kết bảo lãnh thanh toán kèm theo tài liệu chứng minh năng lực tài chính của tổ chức bảo lãnh trong trường hợp bảo đảm bằng bảo lãnh thanh toán hoặc có tài sản đủ thanh toán trái phiếu trong trường hợp bảo đảm bằng tài sản Giá trị tài sản dùng bảo đảm tối thiểu bằng tổng giá trị trái phiếu đăng ký chào bán Việc định giá tài sản dùng bảo đảm do cơ quan, tổ chức thẩm định giá có thẩm quyền thực hiện và có giá trị không quá 12 tháng kể từ ngày định giá Tài sản dùng bảo đảm phải được đăng ký và xử lý theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm Quy định này không áp dụng đối với trường hợp tổ chức bảo lãnh thanh toán là Chính phủ hoặc Bộ Tài chính, thay mặt Chính phủ bảo lãnh thanh toán theo thẩm quyền.

3 Tổ chức phát hành phải chỉ định đại diện người sở hữu trái phiếu để giám sát việc thực hiện các cam kết của tổ chức phát hành Các đối tượng sau đây không được làm đại diện người sở hữu trái phiếu:

a) Tổ chức bảo lãnh việc thanh toán nợ của tổ chức phát hành;

b) Cổ đông lớn của tổ chức phát hành;

c) Tổ chức có cổ đông lớn là tổ chức phát hành;

d) Tổ chức có chung cổ đông lớn với tổ chức phát hành;

đ) Tổ chức có chung người điều hành với tổ chức phát hành hoặc cùng chịu sự kiểm soát của

tổ chức phát hành."

Điều kiện đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng cho nhiều đợt chào bán:

"Điều 17 Điều kiện đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng cho nhiều đợt chào bán

1 Tổ chức phát hành thực hiện chào bán cổ phiếu, trái phiếu ra công chúng chung cho nhiều đợt phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Các điều kiện quy định tại Khoản 1 hoặc Khoản 2 Điều 12 Luật chứng khoán và Khoản 7 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán;

b) Có nhu cầu huy động vốn làm nhiều đợt phù hợp với dự án đầu tư hoặc kế hoạch sản xuất kinh doanh được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

c) Có kế hoạch chào bán trong đó nêu rõ số lượng và thời gian dự kiến chào bán của từng đợt.

2 Tổ chức tín dụng đáp ứng các điều kiện quy định tại Điểm a và c Khoản 1 Điều này được đăng ký chào bán trái phiếu không chuyển đổi ra công chúng cho nhiều đợt trong thời hạn 12 tháng."

Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng của công ty cổ phần hình thành sau quá trìnhhợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp:

"Điều 18 Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng của công ty cổ phần hình thành sau quá trình hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp

1 Đáp ứng điều kiện quy định tại Điểm a và c Khoản 1 Điều 12 Luật chứng khoán đối với chào bán cổ phiếu hoặc điều kiện tại Điểm a và c Khoản 2 Điều 12 Luật chứng khoán đối với chào bán trái phiếu.

Ngày đăng: 03/10/2017, 08:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w