Bài 39. Tình hình kinh tế - xã hội nửa đầu thế kỉ XIX tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án, bài tập l...
Trang 1Bài 39:
TẾ-XÃ HỘI NỬA ĐẦU THẾ KỶ
XIX
Trang 21.Tình hình kinh tế
• Vào nửa đầu thế kỉ XIX, nhà Nguyễn ra sức phục
hồi nền kinh tế trên cơ sở coi trọng ruộng đất và sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, trong giai đoạn suy tàn của chế độ phong kiến, nhiều chính sách của nhà Nguyễn đã không còn ý nghĩa tích cực, làm cho nền kinh tế đất nước vốn đã trì trệ lại
càng thêm bế tắc, đời sống nông dân lâm vào
tình trạng khốn cùng Mâu thuẫn xã hội dưới thưòi Nguyễn ngày càng gay gắt, dẫn đến sự bùng nổ của hàng loạt cuộc khởi nghĩa nông dân rộng lớn, làm cho tình hình xã hội ngày càng rối ren, phức tạp
Trang 3ngay khi mới lên
ngôi, Gia Long đã
ra lệnh đo đạc lại
toàn bộ ruộng đất,
lập địa bạ cho từng
Trang 4• Năm 1804, Gia Long ban hành chính sách quân điền Mặc dù nhà Nguyễn đã có
nhiều cố gắng, nhưng vẫn không thoát
khỏi lối mòn của các triều đại phong kiến trước trong chính sách bảo vệ công điền, khi ruộng đất công chỉ còn lại khoảng 20% tổng diện tích ruộng đất cả nước Chính
sách quân điền của nhà Nguyễn, do đó, chỉ mang ý nghĩa tượng trưng; về thực chất,
chỉ là một hình thức cấp ruộng cho các
quan lại và binh lính
Trang 6• Trong các biện pháp trọng nông, chính sách khai hoang dưới hình thức doanh điền là có hiệu quả
hơn cả.
Những người lưu tán và không có ruộng đất cày cấy được tập hợp lại dưới sự chỉ đạo của một quan chức nhà nước, được nhà nước cấp vốn ban đầu để tiến hành khai hoang, lập làng trên những vùng đất mới bồi lấp ở ven biển.
• Chỉ tính riêng vùng hạ lưu sông Hồng, Doanh điền
sứ Nguyễn Công Trứ đã tổ chức khai khẩn, lập ra hai huyện mới là Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình)
Trang 7• Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ
Trang 8• Huyện Kim Sơn
Trang 9• Tuy số ruộng đất khai khẩn thêm là khá lớn, nhưng vẫn không thể bù đắp được số ruộng đất để hoang hoá.
• Chính sách doanh điền, khai hoang của nhà Nguyễn không thể giải quyết được
những mâu thuẫn đang đặt ra cho nông nghiệp Việt Nam
Trang 10Thủ công nghiệp
• Đối với sản xuất thủ công nghiệp, cùng với sự
phát triển của các nghề thủ công truyền thống
trong dân gian, nhà Nguyễn có khuynh hướng
tăng cường xây dựng các quan xưởng, chủ yếu
tập trung ở Huế
• Trong chính quyền, hình thành những cơ quan
chức năng chuyên trách về từng loại sản phẩm Quản lý chung các ngành, nghề thủ công của nhà nước là ti Vũ khố chế tạo, gồm 57 cục trông coi từng ngành cụ thể như đúc súng, làm đồ trang
Trang 11• Một trong những hoạt động kinh tế có ý
nghĩa quan trọng trong giai đoạn này là
khai khoáng Phần lớn số mỏ được giao
cho các thương nhân (chủ yếu là Hoa
kiều), các tù trưởng miền núi lĩnh trưng,
hằng năm nộp thuế cho nhà nước Đối với một số mỏ quan trọng, nhà Nguyễn trực
tiếp tổ chức khai thác Tuy nhiên, các mỏ
do nhà nước khai thác thường kém hiệu
quả và chỉ hoạt động được trong một thời gian ngắn rồi lại phải giao cho tư nhân lĩnh trưng
Trang 12Thương nghiệp
• Sang thế kỉ XIX, thương nghiệp có chiều
hướng suy thoái Nhà Nguyễn thi hành
chính sách thuế khoá phức tạp và chế độ kiểm soát ngặt nghèo đối với các hoạt
Trang 13• Cùng với sự sa sút của kinh tế thương
nghiệp, các đô thị ngày càng suy thoái Ở Thăng Long, đến cả khu vực 36 phố
phường sầm uất, cũng nhanh chóng bị
nông thôn hoá
• Phố Hiến, Thanh Hà, Hội An sa sút không còn khả năng phục hồi Cho đến thế kỉ XIX, nền kinh tế đất nước đã trở nên hết sức trì trệ
Trang 14• 36 phố phường ở Thăng Long thế kỷ XIX
Trang 152 Tình hình xã hội
* Trong bối cảnh nền kinh tế bế tắc, đời sống nhân dân khốn cùng, nhà Nguyễn chẳng những đã bất lực không cải thiện được tình hình mà trái lại, bộ máy chính quyền ngày càng quan liêu, tha hoá Mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt, làm bùng lên làn sóng đấu tranh quyết liệt của các tầng lớp
xã hội ở khắp mọi miền đất nước chống lại chế độ thống trị của nhà Nguyễn
*Chỉ tính riêng trong nửa đầu thế kỉ XIX đã có gần
400 cuộc khởi nghĩa, trong đó, riêng thời Minh
Trang 16Những cuộc khởi nghĩa tiêu
biểu
• Khởi nghĩa Phan Bá Vành (1821 – 1827) ở
hạ lưu châu thổ sông Hồng, thuộc các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Quảng Ninh và Hải Phòng
Trang 17• Phan Bá Vành, còn được gọi là
Ba Vành (? – 1827) thủ lĩnh phong trào khởi nghĩa nông dân Bắc Kỳ đầu thế kỷ 19
Cuộc khởi nghĩa đã tập hợp được đông đảo dân nghèo vùng Nam Định, Thái Bình chống lại triều đình phong kiến nhà Nguyễn, lấy của nhà giàu chia cho người nghèo Khi cuộc khởi nghĩa thất bại, Ba Vành đã chọn cho mình cái chết phi thường để khỏi sa vào tay giặc.
Trong dân gian, còn truyền tụng mãi câu ca dao:
Trên trời có ông sao tua
Trang 18• Khởi nghĩa của Ba Nhàn, Tiền Bột (1833 – 1843) ở vùng Phú Thọ và Tuyên Quang
Trang 19• Khởi nghĩa Lê Duy Lương (1833 – 1834) ở miền núi Hoà Bình, Thanh Hoá
Trang 20• khởi nghĩa Lê Văn Khôi (18/5/1833 –
9/1835) ở Gia Định
• Lê Văn Khôi (? – 1834) tên thật là Bế -
Nguyễn Nghê , còn được gọi là Hai Khôi, Nguyễn Hựu Khôi hay Bế Khôi, là con
nuôi, là thuộc tướng của Lê Văn Duyệt
và là người thủ lĩnh cuộc nổi dậy chống lại nhà Nguyễn ở thành Phiên An (tức vùng
Gia Định cũ, nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam)
Trang 21• Gia Định trước năm
1835
Trang 22• Khởi nghĩa Nông Văn Vân ở Tuyên Quang, Cao Bằng (1833 – 1835)
Trang 23• Khởi nghĩa Cao Bá Quát (1854 – 1856) ở
Hà Tây…
• Cao Bá Quát sinh ra, trong một cặp song sinh, ở một gia đình khoa bảng Ông nổi tiếng thông minh, học giỏi ngay từ nhỏ
Người anh em song sinh với ông là Cao Bá Đạt cũng là cha của một nhà thơ sau này, Cao Bá Nhạ Cha ông là Cao Tửu Chiếu là một nhà nho hay chữ
Trang 24• Ông sinh năm 1809 tại làng Phú Thị,
huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, nay là thôn Phú Thị, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà
Nội Có tài liệu cho rằng quê gốc của ông ở
xã Hải Yến, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh
Hoá
Trang 25• Chu thần Cao Bá Quát
Trang 26• Mặc dù các cuộc khởi nghĩa cuối cùng đều
bị đàn áo nhưng đã làm rệu rã nền thống trị của nhà Nguyễn Xã hội Việt Nam dưới thời Nguyễn ngày càng trở nên rối ren và phức tạp