BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO NGUYỄN VĂN TUẤN NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
NGUYỄN VĂN TUẤN
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÕNG
Chuyên ngành: Giáo dục thể chất
Mã số: 62140103
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2Công trình đƣợc hoàn thành tại: Viện Khoa học Thể dục thể thao
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
1 Thư viện Quốc gia Việt Nam;
2 Thư viện Viện Khoa học TDTT;
3 Thư viện Trường Đại học Hải Phòng
Trang 3
A GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Đổi mới giáo dục và đào tạo phù hợp với sự phát triển của xã hội luôn được Đảng và nhà nước ta đặt ra như một trong những yêu cầu cấp thiết nhất trong sự nghiệp phát triển đất nước Cùng với mục tiêu đổi mới chung của ngành giáo dục, các trường đại học, cao đẳng đã và đang phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện, coi việc nâng cao chất lượng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của các trường trong giai đoạn hiện nay
Những năm gần đây, việc tăng quy mô tuyển sinh của trường Đại học Hải Phòng có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng công tác GDTC cho sinh viên, bởi cơ sở vật chất phục vụ công tác GDTC và đội ngũ giáo viên không thể đáp ứng kịp sự phát triển về quy mô của trường, hơn nữa chất lượng “đầu vào” thấp cũng ảnh hưởng tới kết quả “đầu ra” Chất lượng GDTC của Trường ĐHHP chưa đáp ứng được mục tiêu GDTC Để thoát khỏi hiện trạng đó, cần có sự nhìn nhận đánh giá một cách toàn diện, khách quan những khó khăn, đồng thời nghiên cứu đề xuất các biện pháp thích hợp, khả thi, từng bước nâng cao chất lượng GDTC Đây là một nhiệm vụ rất quan trọng, cấp bách cần phải thực hiện Nhưng thực hiện như thế nào, bắt đầu từ đâu? luôn là những câu hỏi gây ra sự lúng túng, khó khăn cho các nhà quản lý và giảng viên GDTC của các trường đại học nói chung, Trường ĐHHP nói riêng
Để đáp ứng yêu cầu cấp bách đó, việc nghiên cứu lựa chọn giải pháp nâng cao chất lượng công tác GDTC cho sinh viên sẽ là một trong những giải pháp hữu hiệu giúp cho Trường ĐHHP đạt được mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phù hợp với thực tiễn nhu cầu của nhà trường và nhu cầu xã hội
Nghiên cứu về công tác GDTC của Trường ĐHHP nói chung, các giải pháp nâng cao chất lượng GDTC Trường ĐHHP nói riêng, cho đến nay chưa có công trình nào đề cập đến Vì những lý do nêu trên, tôi lựa
chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu lựa chọn giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Hải Phòng”
Trang 4Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác GDTC, đề tài xác định các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế và ứng dụng để kiểm nghiệm, xác định hiệu quả của các giải pháp đã lựa chọn trong thực tiễn GDTC cho sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Trường ĐHHP
Mục tiêu nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài đặt ra 3 mục tiêu nghiên cứu sau:
Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng công tác GDTC của Trường
ĐHHP
Mục tiêu 2: Lựa chọn các giải pháp nâng cao chất lượng công
tác GDTC cho sinh viên Trường ĐHHP
Mục tiêu 3: Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng công tác GDTC cho sinh viên Trường ĐHHP
Giả thuyết khoa học
Qua nghiên cứu thực tiễn cho thấy chất lượng công tác GDTC của Trường ĐHHP còn có những hạn chế Vì vậy, nếu lựa chọn được các giải pháp phù hợp, tổ chức ứng dụng một cách khoa học, chặt chẽ
và đồng bộ sẽ nâng cao được chất lượng GDTC cho sinh viên Trường ĐHHP
2 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Kết quả nghiên cứu của luận án đã đánh giá khách quan và khoa học thực trạng chất lượng và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác giáo dục thể chất của trường đại học Hải Phòng Đây là những luận
cứ khoa học quan trọng để lựa chọn các giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất
Luận án đã lựa chọn được 6 giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất cho sinh viên: 1) Nâng cao nhận thức của sinh viên về mục đích, tác dụng, vai trò của giáo dục thể chất và thể thao trường học; 2) Tăng cường cơ sở vật chất và khai thác hiệu quả cơ sở vật chất phục vụ công tác giáo dục thể chất; 3) Cải tiến nội dung chương trình giáo dục thể chất, đổi mới phương pháp đánh giá kết quả học tập của người học; 4) Tổ chức các hoạt động thể thao ngoại khóa cho sinh viên; 5) Thành lập các câu lạc bộ thể dục thể thao, tổ chức các giải đấu thể thao cho sinh viên; 6) Bồi dưỡng kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ giảng viên
Trang 5Kết quả ứng dụng các giải pháp bước đầu đã có giá trị trong việc nâng cao nhận thức của sinh viên về lợi ích, tác dụng của giáo dục thể chất; nâng cao tính tích cực trong học tập; phát triển thể lực
và cải thiện kết quả học tập của sinh viên nhóm thực nghiệm
3 CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Luận án được trình bày trong 148 trang bao gồm các phần: Đặt vấn đề (4 trang); Chương 1- Tổng quan các vấn đề nghiên cứu (48 trang); Chương 2-Đối tượng, phương pháp và tổ chức nghiên cứu (11 trang); Chương 3- Kết quả nghiên cứu và bàn luận (82 trang); Phần kết luận và kiến nghị (3 trang) Trong luận án có 62 bảng, 16 biểu đồ Ngoài ra, luận án đã sử dụng 101 tài liệu tham khảo, trong đó có 96 tài liệu viết bằng tiếng Việt, 5 tài liệu tiếng Anh và phần Phụ lục
B NỘI DUNG LUẬN ÁN Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác giáo dục thể chất và đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục
Trong suốt các chặng đường của cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng công tác GDTC trong trường học, coi GDTC là bộ phận không thể thiếu để đạt được mục đích giáo dục con người toàn diện Từ đó có những chỉ thị, nghị quyết chỉ đạo phương hướng phát triển đúng đắn cho sự nghiệp GD&ĐT nói chung và GDTC nói riêng
1.2 Những cách tiếp cận về khái niệm chất lượng, giải pháp, đánh giá chất lượng GDTC
Chất lượng GDTC là kết quả tổng hợp của quá trình GDTC, phản ánh trong các phẩm chất và năng lực, đặc biệt là các năng lực thể chất của người học, phù hợp với mục tiêu GDTC cho từng cấp học, bậc học và ngành nghề đào tạo
Giải pháp là toàn bộ những ý nghĩ có hệ thống cùng với những quyết định và hành động theo sau, dẫn tới việc sẽ khắc phục một khó khăn nào đó
Trang 61.3 Giáo dục thể chất trong trường đại học
GDTC trong nhà trường là một nội dung giáo dục, môn học bắt buộc thuộc chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho học sinh, SV các kiến thức, kỹ năng vận động
cơ bản, hình thành thói quen tập luyện TDTT để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện
1.4 Đặc điểm tâm lý, sinh lý và đặc điểm xã hội của SV
Sinh viên với độ tuổi từ 18-24 là những người đã trưởng thành
về mặt cấu trúc giải phẫu và sinh lý, hệ cơ - xương đã phát triển tương đối hoàn chỉnh Đặc điểm tâm lý của SV chịu sự chi phối bởi những đặc điểm phát triển thể chất, trí tuệ, môi trường và vai trò xã hội cụ thể mà trong đó họ sống và hoạt động
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng GDTC ở trường đại học
Chất lượng GDTC phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan và khách quan, trong đó: Nhận thức của SV về mục đích, tác dụng của môn học GDTC; Phẩm chất và năng lực chuyên môn của của người thầy
là các yếu tố có vai trò quan trọng, quyết định đến chất lượng GDTC Bên cạnh đó cơ sở vật chất và thiết bị giảng dạy đóng vai trò hỗ trợ tích cực cho quá trình dạy - học
1.6 Thực trạng vấn đề nghiên cứu và những công trình nghiên cứu có liên quan đến giáo dục thể chất: Được trình bày cụ
thể trong luận án
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp nâng chất lượng công tác
giáo dục thể chất cho sinh viên Trường ĐHHP
Khách thể nghiên cứu: Khách thể nghiên cứu của đề tài bao
gồm đối tượng phỏng vấn, đối tượng kiểm tra sư phạm và đối tượng thực nghiệm:
Đối tượng phỏng vấn: gồm SV năm thứ nhất, năm thứ hai và
năm thứ ba (K15, K14, K13), số lượng 1900 SV, 35 CBGV
Trang 7Đối tượng kiểm tra sư phạm: Đánh giá thực trạng thể lực:
2170 SV
Đối tượng thực nghiệm: 365 SV (175 nam, 190 nữ), trong đó
nhóm thực nghiệm gồm 175 SV, nhóm đối chứng gồm 190 SV
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu; Phương pháp phỏng vấn, toạ đàm; Phương pháp quan sát sư phạm; Phương pháp kiểm tra sư phạm; Phương pháp thực nghiệm sư phạm; Phương pháp toán học thống kê
2.3 Tổ chức nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Luận án được tiến hành nghiên cứu từ
tháng 10/2013 đến tháng 10/2017
Địa điểm nghiên cứu: Viện khoa học Thể dục thể thao và
Trường Đại học Hải Phòng
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 3.1 Thực trạng công tác giáo dục thể chất Trường ĐHHP
3.1.1 Thực trạng các yếu tố đảm bảo chất lượng công tác giáo dục thể chất của trường Đại học Hải Phòng
3.1.1.1 Chương trình GDTC hiện hành của Trường ĐHHP
Từ năm 2010 đến nay, Trường ĐHHP thực hiện đào tạo theo tín chỉ, chương trình GDTC được cấu trúc lại với 5 tín chỉ, với tổng khối lượng là 130 tiết phân bố thành 5 học phần, 3 học phần bắt buộc, 2 học phần tự chọn, số môn thể thao tự chọn là 3 môn
Trường ĐHHP thực hiện Quy định đánh giá kết quả học tập của người học của Trường với các điểm thành phần: Điểm kiểm tra thường xuyên chiếm 20%; điểm chuyên cần chiếm 10%; điểm thi kết thúc học phần chiếm 70% Điểm tổng hợp được tính theo điểm chữ với các mức độ A, B, C, D, F
3.1.1.2 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ công tác giáo dục thể chất của Trường Đại học Hải Phòng
Kết quả điều tra thực trạng cơ sở vật chất của Trường ĐHHP cho thấy: Chất lượng cơ sở vật chất ở mức trung bình chiếm đa số (có 17/25 loại cơ sở vật chất đạt chất lượng mức trung bình) Tổng diện tích xây dựng các công trình thể thao của trường là 16.000 m2
Trang 8
3.1.1.3 Thực trạng nguồn nhân lực phục vụ công tác giáo dục thể chất của Trường Đại học Hải Phòng
Số lượng CBGV giảng dạy GDTC của trường ĐHHP tăng theo từng giai đoạn Hiện tại, về trình độ đội ngũ cán bộ giảng viên đáp ứng chuẩn giảng viên đại học là 81,4% Tỷ lệ trung bình về số SV/giảng viên của nhà trường là 450 SV/giảng viên Về khối lượng lao động, giai đoạn 2011-2014, trung bình mỗi giảng viên thực hiện 670 giờ chiếm 159,5% định mức (định mức 420 giờ/năm) Đây cũng là một hạn chế ảnh hưởng đến chất lượng công tác GDTC của nhà trường
3.1.1.4 Thực trạng công tác quản lý và tổ chức các hoạt động giáo dục thể chất của Trường Đại học Hải Phòng
Công tác quản lý: Hoạt động dạy học nội khóa do cán bộ giảng
viên của khoa TDTT đảm nhận, Ban chủ nhiệm khoa căn cứ định mức lao động và khối lượng công việc kiêm nhiệm của cán bộ giảng viên, phân công khối lượng lao động cho từng giảng viên, phối hợp với Phòng Đào tạo xây dựng thời khóa biểu giảng dạy của tất cả giảng viên trên cơ
sở đăng ký của mỗi cá nhân
Hoạt động giảng dạy môn GDTC: Hoạt động giảng dạy các học
phần GDTC do cán bộ giảng viên của khoa TDTT đảm nhận, giảng viên căn cứ thời khóa biểu và vị trí lớp học (sân tập) lên lớp Khoa TDTT đảm nhận nhiệm vụ triển khai các hoạt động GDTC, phòng Đào tạo phối hợp với ban chủ nhiệm khoa TDTT kiểm tra việc thực hiện chương trình, Trung tâm GDTC phục vụ sân bãi, dụng
cụ tập luyện
3.1.2 Thực trạng chất lượng công tác giáo dục thể chất của trường Đại học Hải Phòng
3.1.2.1 Thực trạng nhận thức về mục đích, tác dụng, vai trò của GDTC và thể thao trường học của sinh viên Trường ĐHHP
Để đánh giá nhận thức của SV về mục đích, vai trò, tác dụng của GDTC, đề tài tiến hành phỏng vấn SV (phụ lục 1) Đối tượng phỏng vấn là SV năm thứ nhất, năm thứ hai và năm thứ ba đại diện cho 3 khối: khối Công nghệ Kỹ thuật, khối Sư phạm, khối Kinh tế với tổng số SV được phỏng vấn là 1900 SV Kết quả phỏng vấn trình bày trong bảng 3.4
Trang 9Bảng 3.4 Kết quả phỏng vấn đánh giá nhận thức của SV về mục đích, vai trò và tác dụng của GDTC (n= 1900)
Mục đích
của GDTC
Nhận thức đúng, đầy đủ 1120 58.95 1120 58.95 Nhận thức chưa đầy đủ 695 36.58
780 41.05 Nhận thức chưa đúng 85 4.47
Tác dụng
của GDTC
Nhận thức đúng, đầy đủ 1165 61.32 1165 61.32 Nhận thức chưa đầy đủ 655 34.47
735 38.68 Nhận thức chưa đúng 80 4.21
* Đánh giá tính tích cực trong học tập môn GDTC của sinh viên
Kết quả phỏng vấn đánh giá tính tích cực trong học tập môn GDTC của SV được trình bày ở bảng 3.5 (trong luận án) cho thấy: Phần lớn SV tham dự đủ số buổi học theo qui định (83,16%) nhưng tính tích cực trong học tập không cao (39.21% SV tập luyện vì sự ràng buộc, 29.42% SV không tập luyện hoặc né tránh tập luyện) Nguyên nhân làm giảm hứng thú trong tập luyện có rất nhiều, qua kết quả phỏng vấn cho thấy có hai nguyên nhân chính Thứ nhất, nội dung học không hấp dẫn, không phù hợp chiếm 28.95% Thứ hai, SV cho rằng GDTC là môn phụ, không quan trọng chiếm 35.53%
Trang 103.1.2.2 Thực trạng hoạt động ngoại khoá và nhu cầu tập luyện thể thao của sinh viên Trường Đại học Hải Phòng
- Hoạt động ngoại khóa của SV: Để có các thông số về tình hình
hoạt động TDTT ngoại khóa của SV hiện nay trong các khối ngành của trường ĐHHP, đề tài tiến hành phỏng vấn 1900 SV trong ba khối; khối CNKT, khối Sư phạm, khối Kinh tế Kết quả được trình bày trong bảng 3.6
Bảng 3.6 Thực trạng hoạt động ngoại khóa của SV Trường ĐHHP (n =1900)
có 454 SV trả lời “Luyện tập thường xuyên”, chiếm tỷ lệ 23,89%;
874 SV có ý kiến cho rằng “Tập luyện không thường xuyên”, chiếm
Trang 11tỷ lệ 46,00%; còn lại 572 SV có ý kiến trả lời hoàn toàn không tập luyện, chiếm tỷ lệ 30,11% Trong số SV có tập luyện TDTT ngoại khóa thường xuyên và không thường xuyên có 541 SV tự tập theo hình thức cá nhân, chiếm 40,74%; 274 SV tự tập luyện theo nhóm chiếm 20,63% Điều đó cho thấy việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa của trường chưa thu hút được đông đảo SV tham gia
- Nhu cầu tập luyện thể thao của SV Trường ĐHHP: Kết quả
phỏng vấn đánh giá nhu cầu và sở thích tập luyện thể thao của SV trình bày trong bảng 3.7, bảng 3.8 (trong luận án) cho thấy có 61.84% SV sẵn sàng tập luyện khi được tổ chức hướng dẫn, số SV còn phân vân chiếm
31.05%, số SV không tham gia tập luyện chiếm 7.11% Các môn thể
thao được đông đảo SV yêu thích gồm: Bóng đá (22,53%), Cầu lông (20,68%), Bóng chuyền (18,42), Bóng rổ (19,0%) và Đá cầu (14,26%)
3.1.2.3 Thực trạng thể lực sinh viên Trường Đại học Hải Phòng
Để có được số liệu tổng quát về thực trạng thể lực SV, chúng tôi tiến hành đánh giá thể lực của SV năm thứ nhất và SV năm thứ hai Trường ĐHHP Luận án sử dụng 6 nội dung kiểm tra theo quyết định
số 53/2008/QĐ-BGDĐT- Quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên, thời điểm khảo sát là tháng 11 năm 2014
- So sánh thể lực SV Trường ĐHHP với mức trung bình của
người Việt Nam theo công bố của Viện Khoa học TDTT
Để có cơ sở trong việc đánh giá thể lực SV, Đề tài tiến hành so sánh thể lực SV Trường ĐHHP với mức trung bình của người Việt Nam theo công bố kết quả điều tra “Thực trạng thể chất người Việt Nam từ 6 - 20 tuổi” do Viện Khoa học TDTT chủ trì Thể lực SV năm thứ nhất so sánh với mức trung bình thể lực của người Việt Nam lứa tuổi 19, thể lực SV năm thứ hai so với mức trung bình thể lực của người Việt Nam lứa tuổi 20 Kết quả so sánh được trình bày trong các bảng 3.20 đến bảng 3.23 trong luận án
Trang 12Qua so sánh thể lực của SV-N1 Trường ĐHHP với mức trung bình của người VN lứa tuổi 19 cùng giới cho thấy: Nam SV có 5 chỉ
số thấp hơn mức trung bình của người VN, 01 chỉ số ngang bằng với mức trung bình của người VN; Nữ SV có 3 chỉ số thấp hơn mức trung bình của người VN, 3 chỉ số ngang bằng với mức trung bình của người VN cùng lứa tuổi, cùng giới
Kết quả so sánh thể lực của SV-N2 Trường ĐHHP với mức trung bình của người VN lứa tuổi 20 cho thấy: Tất cả các nội dung kiểm tra của nam SV-N2 Trường ĐHHP đều thấp hơn mức trung bình của nam người VN lứa tuổi 20; Nữ SV có 3 chỉ số thấp hơn mức trung bình của người VN, 3 chỉ số ngang bằng với mức trung bình của người VN cùng lứa tuổi, cùng giới
- Kết quả xếp loại thể lực sinh viên Trường ĐHHP theo Tiêu
chuẩn đánh giá thể lực sinh viên của Bộ GD&ĐT
Đề tài tiến hành xếp loại thể lực SV Trường ĐHHP theo TCĐGTL do Bộ GD&ĐT quy định Bốn nội dung được đánh giá bao gồm: Bật xa tại chỗ, Chạy tùy sức 5 phút, Nằm ngửa gập bụng và Chạy thoi 4 x10m Kết quả cụ thể được trình bày trên bảng 3.24
Bảng 3.24 Xếp loại thể lực sinh viên Trường ĐHHP theo Tiêu chuẩn đánh giá thể lực sinh viên của Bộ GD&ĐT
Trang 13đạt ở nữ SV cao hơn nam SV Trung bình có 11,34% SV-N1 xếp loại thể lực tốt; 58,48% xếp loại đạt và có 30,18% xếp loại không đạt
Tương tự, đối với SV năm thứ hai, tỷ lệ thể lực loại tốt và loại đạt của nam SV cao hơn nữ SV, tỷ lệ không đạt ở nữ SV cao hơn nam SV (nam 27,20%, nữ 37,27%) Trung bình có 9,33% SV-N2 xếp loại thể lực tốt; 58,19% xếp loại đạt và có 32,48% xếp loại không đạt
3.1.2.4 Kết quả học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên trường Đại học Hải Phòng
Kết quả khảo sát điểm tổng hợp 5 học phần GDTC sau lần thi thứ nhất của của 2470 SV thuộc 3 khóa (K13, K14, K15) trong hai năm học cho thấy: Tỷ lệ SV đạt điểm A chiếm 3.3%, điểm B chiếm 4.0%, điểm C chiếm 21.0%, điểm D chiếm 44.5%, điểm F (không đạt) chiếm 27.2% Như vậy, lượng SV đạt điểm D chiếm tỷ lệ cao nhất, sau đó là lượng SV không đạt (điểm F), tỷ lệ đạt điểm A và điểm B rất thấp
3.1.3 Bàn luận về thực trạng công tác GDTC của trường ĐHHP
- Bàn luận về chương trình GDTC hiện hành của Trường ĐHHP:
Chương trình GDTC của Trường ĐHHP hiện đang thực hiện có
số học phần tự chọn ít hơn học phần bắt buộc, số môn thể thao trong chương trình tự chọn chỉ có 3 môn là Bóng đá, Bóng chuyền, Bóng
rổ Với lượng lớn SV là nữ, nhiều môn thể thao chưa thật sự phù hợp với sở thích của các em trong khi số lượng môn thể thao tự chọn chỉ
có 3 môn, SV phải chọn 2 trong 3 môn để học ở 2 học kỳ, như vậy sự lựa chọn rất hạn hẹp Một vấn đề nữa còn tồn tại là: thực tế Trường ĐHHP chỉ
có một chương trình GDTC duy nhất cho mọi đối tượng, trong khi đó Bộ GD&ĐT chỉ đạo các trường phải xây dựng chương trình cho mọi đối tượng, dựa trên sự phân loại sức khỏe, trình độ thể thao Như vậy, chương trình GDTC của Trường ĐHHP hiện tại chưa phù hợp với thực tế, chưa đảm bảo tính khoa học
- Bàn luận về nhận thức của sinh viên Trường ĐHHP về vai trò, tác dụng của GDTC và tính tích cực trong học tập môn GDTC: Kết
quả phỏng vấn đánh giá nhận thức của SV về vai trò, tác dụng của
Trang 14GDTC được trình bày trong bảng 3.4 cho thấy: Trung bình chung có
58,16% có nhận thức đúng đắn, 41,84% có nhận thức chưa đầy đủ và nhận thức không đúng về mục đích, tác dụng, vai trò, vị trí của môn học GDTC So sánh với kết quả nghiên cứu của các công trình khác cho thấy: Nhận thức đúng đắn của SV Trường ĐHHP về vai trò, tác dụng của môn học GDTC cao hơn SV các trường cao đẳng thành phố Nam Định theo công bố của Lê Hồng Cường (58,16% so với 56.6%), nhưng thấp hơn SV các trường đại học ở thành phố Hồ Chí Minh theo công bố của Nguyễn Đức Thành (58,16% so với 89.92%) Nhận thức chưa đúng đắn về vai trò, tác dụng của GDTC sẽ ảnh hưởng đến tính tích cực trong học tập
- Bàn luận về thực trạng hoạt động TDTT ngoại khoá của SV Trường ĐHHP: Số SV tham gia tập luyện ngoại khóa (mức độ
thường xuyên và không thường xuyên) của Trường ĐHHP thấp hơn
so với SV Đại học Huế theo công bố của Nguyễn Gắng (69,89% so với 71,25%); Số SV tập luyện ngoại khóa thường xuyên của Trường ĐHHP thấp hơn SV các trường đại học ở thành phố Hồ Chí Minh theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Thành (23,89% so với 30,81%) Điều đó cho thấy việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa của trường chưa thu hút được đông đảo SV tham gia, phong trào tập luyện TDTT ngoại khóa của SV Trường ĐHHP rất thấp, SV tập luyện chủ yếu là không có hướng dẫn
- Bàn luận về thực trạng thể lực sinh viên Trường ĐHHP:
Qua bảng 3.24 cho thấy về thể lực SV năm thứ nhất: tỷ lệ không đạt của nam SV-N1 Trường ĐHHP là 25,96%; Nữ SV-N1 là 33,83% Đối với SV-N2, tỷ lệ không đạt của nam SV-N2 là 27,2%; nữ SV-N2 là 37,27% Kết quả trên có thể lý giải với 2 lý do; thứ nhất, về nội chương trình GDTC của trường ĐHHP chỉ chú trọng rèn thể lực trong học kỳ 1 với nội dung chạy bền, các học phần sau đó học thể dục, chạy ngắn không chú trọng rèn luyện thể lực; thứ hai là do tinh thần tự học, tự tập luyện của SV chưa cao, đặc biệt là nữ SV ít tham gia các hoạt động thể
Trang 15thao ngoại khóa nên thể lực chung giảm sút rõ rệt, đặc biệt là khả năng sức bền được thể hiện qua kết quả chạy tùy sức 5 phút
- Bàn luận về kết quả học tập môn giáo dục thể chất của sinh viên Trường ĐHHP: Kết quả học tập các học phần GDTC của SV
chưa cao, điều này có thể do các nguyên nhân: tính tích cực của SV, sự phù hợp về nội dung chương trình, yêu cầu trong công tác kiểm tra đánh giá Kết quả khảo sát trên phần nào cũng phản ánh tính tích cực trong học tập của SV, do chưa có nhận thức đúng đắn về vai trò tác dụng của môn học GDTC, chưa tích cực trong học tập nên kết quả học tập chưa cao
3.2 Xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Hải Phòng
3.2.1 Xác định các nguyên tắc và căn cứ lựa chọn giải pháp nâng cao chất lượng công tác GDTC cho SV Trường ĐHHP: Được trình bày cụ thể trong luận án
3.2.2 Lựa chọn các giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất cho sinh viên trường Đại học Hải Phòng
3.2.2.1 Xác định và lựa chọn giải pháp nâng cao chất lượng công tác GDTC cho sinh viên Trường ĐHHP
Trên cơ sở các nguyên tắc và căn cứ lựa chọn giải pháp, đề tài
đã xác định sơ bộ được 7 giải pháp nâng cao chất lượng công tác GDTC cho SV Trường ĐHHP Các giải pháp bao gồm:
1) Nâng cao nhận thức của sinh viên về mục đích, tác dụng, vai
trò của GDTC và thể thao trường học; 2) Tăng cường cơ sở vật chất
và khai thác hiệu quả cơ sở vật chất phục vụ công tác GDTC; 3) Cải tiến nội dung chương trình GDTC, đổi mới phương pháp đánh giá kết quả học tập của người học; 4) Tổ chức các hoạt động thể thao ngoại khóa cho SV; 5) Thành lập các CLB TDTT, tổ chức các giải thi đấu thể thao cho sinh viên; 6) Bồi dưỡng kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ giảng viên; 7) Tăng cường đội ngũ giảng
Trang 16viên giảng dạy GDTC, có chế độ chính sách thoả đáng đối với cán
bộ, giảng viên giảng dạy GDTC;
Sau khi xác định được 7 giải pháp, để tiếp thu kinh nghiệm
và sự đóng góp của cán bộ giảng viên, đề tài tiến hành tổ chức hội thảo phân tích tính khoa học, tính thực tiễn, tính khả thi của các giải pháp
Kết quả hội thảo và phỏng vấn: Trong số 7 giải pháp của đề tài
đề xuất, ngoài giải pháp 7 tăng cường đội ngũ giảng viên giảng dạy GDTC, có chế độ chính sách thoả đáng đối với cán bộ, giảng viên TDTT Do tính khả thi thấp nên không được sự đồng thuận cao của các thành viên trong hội thảo Còn 6 giải pháp đều đạt tỷ lệ tán đồng
Qua bảng 3.26 cho thấy: có 6 giải pháp (giải pháp 1 đến giải pháp 6) được CBGV và SV lựa chọn trên 80%, riêng giải pháp 7 CBGV có ý kiến lựa chọn 52.0%, còn SV có ý kiến lựa chọn 50.96% Như vậy, ý kiến lựa chọn 6 giải pháp (từ giải pháp 1 đến giải pháp 6) của CBGV và SV là rất đồng thuận; riêng giải pháp 7 cả hai đối tượng đều không nhất trí cao
Căn cứ kết quả hội thảo và phỏng vấn CBGV, SV đề tài lựa chọn ra 6 giải pháp có ý kiến lựa chọn đạt trên 80% đưa vào kiểm chứng trong thực tiễn công tác GDTC tại Trường ĐHHP, các giải pháp được lựa chọn là:
- Nâng cao nhận thức của SV về mục đích, tác dụng, vai trò của GDTC và thể thao trường học;
Trang 17Bảng 3.26 Kết quả phỏng vấn CBGV và SV lựa chọn các
giải pháp
TT Tên giải pháp
Lựa chọn của CBGV
n = 35
Lựa chọn của sinh viên
n = 500 Tổng
điểm
Tỷ lệ
%
Tổng điểm
Tăng cường cơ sở vật chất
và khai thác hiệu quả cơ sở
Bồi dưỡng kiến thức, nâng
cao trình độ chuyên môn
cho đội ngũ giảng viên
145 82.86 2030 81.20
7
Tăng cường đội ngũ giảng
viên giảng dạy GDTC, có
chế độ chính sách thoả đáng
đối với cán bộ, giảng viên
TDTT
91 52.00 1274 50.96