1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tiểu luận cao học Chuyên đề: PHÂN TÍCH TÍNH BỀN VỮNG CHO MÔ HÌNH QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ CHƯ BẲH THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI

7 382 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Công tác tổ chức bảo vệ rừng của cộng đồng: Thời gian đầu có kinh phí dự án hỗ trợ người dân tích cực tham gia.. - Việc thực hiện công nhận quyền sử dụng, sở hữu đất, rừng: Năm 2007 gi

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

BÀI TẬP MÔN: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

Lớp : Cao học Lâm học K22c

Chuyên đề:

PHÂN TÍCH TÍNH BỀN VỮNG CHO MÔ HÌNH QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ CHƯ BẲH THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI

Huế, tháng 9 năm 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

BÀI TẬP MÔN: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

Lớp : Cao học Lâm học K22c

Chuyên đề:

PHÂN TÍCH TÍNH BỀN VỮNG CHO MÔ HÌNH QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ CHƯ BẲH THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH

GIA LAI GVHD: TS NGÔ TRÍ DŨNG Học viên thực hiện: Phạm Xuân Thủy

Trang 3

I ĐẶT VẤN ĐỀ.

Rừng cộng đồng đã tồn tại từ lâu đời, nó gắn với lợi ích cuộc sống của người dân, gắn với tâm linh, tự do tín ngưỡng của cộng đồng Những năm gần đây, thực hiện chính sách của Nhà nước về quản lý rừng, một số địa phương đã triển khai giao đất giao rừng cho cộng đồng quản lý và sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp Cộng đồng còn được tham gia nhận giao khoán quản lý, bảo vệ rừng, khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh, làm giàu rừng và trồng rừng Mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng sống gần rừng cho thấy có hiệu quả, nó phù hợp với tập quán của đông đảo đồng bào các dân tộc

Tuy nhiên, về góc độ pháp lý thì cộng đồng vẫn chưa được Nhà nước thừa nhận quyền sử dụng đất và quyền hưởng lợi Như vậy có nhiều bất cập xảy ra, như vai trò của cộng đồng trong hệ thống tổ chức quản lý rừng ở Việt Nam như thế nào? Có lên tiếp tục giao rừng cho cộng đồng? Các sản phẩm của rừng cộng đồng khi lưu thông và tiêu thụ tính pháp lý ra sao? Những vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển rừng cộng đồng như thế nào khi mà luật tục của cộng đồng bị phá

vỡ và không phù hợp với tính pháp lý,…

Thực tế công tác quản lý rừng cộng đồng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết

Đó là hiện có hàng triệu hécta rừng đang do cộng đồng quản lý, liệu có thể tồn tại được không khi Nhà nước không thừa nhận về mặt pháp lý cộng đồng là chủ rừng?

Ai sẽ là người thay thế cộng đồng quản lý diện tích rừng nói trên? Một số địa phương hình thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng theo luật tục truyền thống vốn hiệu quả trước đây thì hiện mất dần hiệu lực bởi phong tục truyền thống bị phá vỡ, vai trò của già làng, trưởng thôn lu mờ, trong đó hình thức quản lý rừng tập trung thông qua các tổ chức nhà nước lại chưa gắn bó chặt chẽ với lợi ích của cộng đồng dẫn đến quản lý rừng kém hiệu quả

Năm 2007, Dự án chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng đồng 2006-2007

do quỹ ủy thác ngành lâm nghiệp tài trợ xây dựng và áp dụng thí điểm giao rừng cho cộng đồng tại 02 buôn Chư Băh A và B xã Chư Băh Dự án hỗ trợ xã Chư Băh 4.000 Euro (tương đương 93.250.000 đồng) trong quá trình thí điểm Thời gian thực hiện dự án từ năm 2007 đến 2013

II CÁC KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

1 Kết quả giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư dân tộc thiểu số.

- Tổng diện tích rừng:

+ Diện tích đã giao theo dự án thí điểm lâm nghiệp cộng đồng (cho buôn Chư Băh A và B) 2007 - 2016: 404 ha

Trang 4

+ Tỷ lệ so với kế hoạch dự kiến: 100%.

+ Diện tích đã được cấp quyền sử dụng đất: 0 ha

- Số cộng đồng được giao: 02 cộng đồng

- Số cộng đồng được cấp quyền sử dụng đất: 0

- Các loại đất đã giao cho cộng đồng:

+ Rừng tự nhiên: 404 ha

+ Rừng trồng: 0 ha

+ Đât trống: 0 ha

2 Công tác quản lý, tổ chức sản xuất của cộng đồng dân cư.

- Công tác tổ chức bảo vệ rừng của cộng đồng: Thời gian đầu có kinh phí dự

án hỗ trợ người dân tích cực tham gia Khi dự án kết thúc chuyển sang chi trả theo dịch vụ môi trường rừng kinh phí hỗ trợ thấp hơn dự án thí điểm nên cộng đồng thiếu kinh phí để duy trì hoạt động quản lý

- Công tác tổ chức sản xuất: Do nguồn nhân lực hạn chế, đời sống khó khăn nên công tác tổ chức, sản xuất hầu như không đáng kể

- Diện tích rừng được trồng từ năm 2007 - 2016: 0 ha

- Diện tích rừng được bổ sung, trồng mới, rừng tái sinh tự nhiên: Không

- Thực hiện các nghĩa vụ khác: Từ năm 2007 đến nay cộng đồng chưa thực hiện các nghĩa vụ nào khác

3 Quyền lợi của cộng đồng và hộ gia đình khi được giao rừng.

- Việc thực hiện công nhận quyền sử dụng, sở hữu đất, rừng: Năm 2007 giao rừng cho 02 cộng đồng quản lý bảo vệ, chưa cấp chứng nhận quyền sử dụng đất

- Việc thực hiện quyền chuyển đổi, cho thuê, bảo lãnh, góp vốn, thừa kế: không

- Hưởng lợi từ các sản phẩm rừng, tiền, vật tư từ các chương trình, dự án: Được dự án thí điểm rừng cộng đồng trả tiền công quản lý bảo vệ rừng

- Hưởng lợi từ chi trả dịch vụ môi trường theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ

Thực hiện chính sách chi trả tiền DVMTR của Chính phủ từ năm 2011 đến

2016 hàng năm Sở Nông nghiệp và PTNT giao Hạt Kiểm lâm nghiệm thu diện tích rừng cộng đồng quản lý để chi trả cho cộng đồng qua tài khoản UBND xã

Cộng đồng Chư Băh A Chư Băh 67,8 triệu đồng, cộng đồng Chư Băh B

-xã Chư Băh 24 triệu đồng

Trang 5

III ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP

LUẬT VỀ GIAO ĐẤT, GIAO RỪNG CHO CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ

I Nhận định đánh giá

1.1 Tính đúng đắn của các chủ trương, chính sách:

Giao rừng cộng đồng là chủ trương lớn, đúng đắn của nhà nước trong công tác quản lý rừng chủ yếu do UBND xã quản lý chuyển sang giao rừng cộng đồng quản lý là giải pháp có hiệu quả phù hợp với điều kiện thực tế đặc thù vùng đồng bào dân tộc thiểu số

1.2 Công tác tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách:

Thực hiện chủ trương văn bản hướng dẫn của Bộ, ngành, Trung ương, của tỉnh, UBND thị xã đã giao cho các cơn quan, ban ngành liên quan, UBND xã Chư Băh phối hợp lựa chọn cộng đồng giao đất giao rừng Trong thời gian qua công tác giao rừng cộng đồng đã đạt được những kết quả nhất định

1.3 Đánh giá về công tác tổ chức quản lý rừng của cộng đồng.

- Dự án thí điểm rừng cộng đồng (2007-2013) kết thúc, nên nguồn kinh phí gần đây còn hạn hẹp nên khó khăn trong công tác quản lý

- Văn bản quy định chính sách hưởng lợi từ rừng chưa được đầy đủ, còn phức tạp nên người dân vẫn chưa hiểu được cụ thể chủ trương giao đất, giao rừng nên chưa tích cực trong công tác quản lý bảo vệ rừng

- Dự án đã kết thúc từ năm 2013 đến nay nên cần tổ chức điều tra, khảo sát lại nhu cầu của người dân để giao đất giao rừng có hiệu quả hơn

1.4 Đánh giá về hiệu quả tác động sau khi thực hiện công tác giao đất, giao rừng.

- Về tăng thu nhập, giải quyết việc làm nâng cao đời sống của người dân: Tăng thu nhập thông qua chương trình dự án hỗ trợ tiền công bảo vệ rừng trước đây và hiện tại là tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng

- Bảo tồn, quản lý các khu di tích lịch sử, văn hóa đồng bào các dân tộc gắn với giao đất, giao rừng:

Rừng giao cho cộng đồng được pháp luật công nhận, kết hợp với phong tục tập quán, truyền thống nên đã được quản lý bảo vệ tốt hơn

- Việc giao đất giao rừng cho cộng đồng hạn chế việc khai thác, phá rừng bừa bãi

2 Tồn tại, yếu kém.

2.1 Những hạn chế, bất cập trong việc ban hành cơ chế, chính sách.

- Đến nay vẫn còn một số tồn tại về vị trí pháp lý, quyền lợi, nghĩa vụ, quyền

sở hữu, trách nhiệm của cộng đồng như một chủ rừng thực sự Trong thực tế cộng đồng dân cư buôn không phải là một cấp quản lý (là trưởng thôn/già làng) là chủ rừng thực sự nên chưa đủ tư cách pháp nhân để ký hợp đồng với tổ chức, cá nhân; vay tín dụng ngân hàng để đầu tư phát triển rừng Trong trường hợp để xảy ra cháy rừng, phá rừng rất khó khăn để xử lý trách nhiệm cộng đồng

Trang 6

- Các văn bản pháp luật chưa quy định rõ quyền sở hữu rừng đối với trường hợp cộng đồng tự đầu tư phục hồi rừng tự nhiên nghèo kiệt, khoanh nuôi đất lâm nghiệp chưa có rừng Chưa quy định về trách nhiệm, người được đại diện của cộng đồng trước pháp luật

2.2 Những hạn chế, bất cập trong tổ chức thực hiện.

- Việc xác định khu rừng giao cho cộng đồng quản lý chưa thật sự gắn liền với đời sống văn hóa, tập tục, truyền thống của cộng đồng nên việc quản lý bảo vệ rừng của cộng đồng chưa thực sự được xem trọng

IV TÍNH BỀN VỪNG TRONG MÔ HÌNH QUẢN LÝ RỪNG CỘNG

ĐỒNG

1 Bền vững về Môi trường.

Qua các kết quả đạt được cho thấy việc giao cho cộng đồng quản lý, diện tích rừng được bảo vệ nguyên vẹn Do đó, môi trường sinh thái sẽ được cải thiện đáng

kể nhờ diện tích rừng hiện có của cộng đồng được bảo vệ Hạn hán, lũ lụt sẽ giảm thiểu nhờ tính năng phòng hộ của rừng được phát huy

2 Bền vững về xã hội:

Khi rừng thật sự có chủ sẽ không còn tình trạng phá rừng, tranh chấp đất đai trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân canh tác trên đất của mình nhằm đảm bảo sự công bằng, ổn định an ninh, trật tự trên địa bàn

Ở diện tích rừng được giao, cộng đồng thôn, làng thường phân công nhau tổ chức kiểm tra, tuần tra ngăn chặn tình trạng phá rừng, khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật; kịp thời ngăn chặn người dân và các đối tượng từ nơi khác đến

có ý đồ xâm hại rừng

3 Bền vững về kinh tế

Từ nguồn tiền hỗ trợ từ dự án và tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng hằng năm, 2 cộng đồng dân cư Cộng đồng Chư Băh A và Chư Băh B đã trích ra đến nay

là 70 triệu nhờ UBND xã quản lý và cho các hộ khó khăn trong cộng đồng vay để phát triển kinh tế gia đình theo hình thức vay vòng tròn Đến nay, quy này vẫn phát huy tác dụng tốt Qua đó cải thiện đời sống kinh tế của người dân trong 2 cộng đồng, họ yên tâm quản lý, bảo vệ rừng hiện có và được quyền vay tiền trong quỹ để đầu tư chăn nuôi, sản xuất khi gặp khó khăn

4 Bền vững về giá trị văn hóa.

Việc giao rừng cộng đồng gắn với lợi ích cuộc sống của người dân, gắn với tâm linh, tự do tín ngưỡng của cộng đồng phù hợp với tập quán của đông đảo đồng bào các dân tộc thiểu số, đảm bảo bảo tồn giá trị văn hóa của người dân bản địa

5 Bền vững về giá trị đa dạng sinh học.

Trang 7

Việc giao rừng cho cộng đồng quản lý, diện tích rừng được bảo vệ nguyên vẹn đã góp phần vào việc bảo tồn tính đa dạng sinh học trong rừng góp phần hạn chế nguy cơ mất môi trường sống của các loài động, thực vật rừng

V KẾT LUẬN

Thôn bản vốn không phải là đơn vị kinh tế mà là đơn vị xã hội quản lý sử dụng rừng vì mục tiêu văn hóa xã hội và lợi ích chung của cộng đồng thôn bản Tuy nhiên, khi thực hiện chính sách về giao đất giao rừng cho cộng đồng lại thường chú trọng mục tiêu phát triển kinh tế rừng, do đó thường tập trung lựa chọn giao các khu rừng sản xuất để có cơ sở hỗ trợ khai thác và chia sẻ lợi ích từ rừng theo hướng kinh tế rừng Tuy nhiên, khả năng được hưởng lợi kinh tế từ rừng trên thực

tế rất khó thực hiện vì rừng giao cho cộng đồng phần lớn là rừng nghèo nên phải chờ thời gian dài (trên 10 năm) mới có sản phẩm khai thác Bên cạnh đó, thủ tục khai thác hưởng lợi rất phức tạp, chi phí đánh giá trữ lượng cao không phù hợp với điều kiện người dân nên hầu hết các địa phương không thực hiện được Mặt khác, cộng đồng được giao rừng tự nhiên chưa được chi trả công tác bảo vệ rừng như các

tổ chức nhà nước nên không có kinh phí trang trải cho công tác bảo vệ rừng, do đó, rất khó bảo vệ được rừng Do đó trong công tác giao rừng cho cộng đồng quản lý lâu dài thường có những bất cập sau:

Về cơ chế chính sách: Phải thừa nhận cộng đồng là một chủ thể tham gia quản lý tài nguyên rừng

Xác định và làm rõ quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng và đất rừng đối với cộng đồng; Quy định rõ tình trạng rừng giao cho cộng đồng quản lý; Rừng làng, rừng bản đã được cộng đồng tự công nhận và quản lý theo truyền thống từ trước đến nay Chính quyền địa phương mặc nhiên công nhận, do đó cần phải giải quyết vướng mắc này trong việc hợp pháp hóa loại rừng này Chỉ giao rừng cho cộng đồng quản lý khi ở đâu mà phong tục còn giữ được, già làng, trưởng thôn còn có

uy, rừng còn nhiều lâm sản, mang lợi ích thiết thực cho cộng đồng thì quản lý rừng cộng đồng mới có hiệu quả

Ngày đăng: 02/10/2017, 13:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w