1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của tòa án. Những hạn chế và giải pháp khắc phục

9 791 14

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 69 KB
File đính kèm Giải quyết tranh chấp KD,TM của tòa án.rar (12 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu thực tiễn về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án được nhiều người quan tâm. Đồng thời việc giải quyết tranh chấp này còn góp phần đảm bảo quyền và lợi ích của đương sự, đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh và an ninh quốc gia. Xuất phát từ vị trí, vai trò và ý nghĩa của phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án. Chính vì những lý do trên, tôi chọn chuyên đề tài: “Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của tòa án. Những hạn chế và giải pháp khắc phục” làm tiểu luận nghiên cứu của mình.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, các tranh chấp về kinh doanh, thương mại ngày càng đa dạng và phức tạp Mặt khác khi nước ta đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) Nhiều quan hệ kinh tế cũng mang những diện mạo sắc thái mới Tương ứng với sự đa dạng phong phú của các quan hệ này, các tranh chấp kinh doanh, thương mại ngày càng muôn hình muôn vẻ và với số lượng lớn Ở Việt Nam các đương sự thường lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại bằng Toà án như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ có hiệu quả nhất các quyền và lợi ích của mình khi thất bại trong việc sử dụng cơ chế thương lượng, hoà giải, trọng tài Chính

vì vậy, Toà án có vai trò vô cùng quan trọng Hơn nữa, Toà án là một thiết chế của Nhà nước; hoạt động của Toà án là một hoạt động rất đặc biệt và mang tính kỹ năng nghề nghiệp cao Vì lẽ đó, hoạt động xét xử của Toà án phải đảm bảo công minh, nhanh chóng, chính xác và kịp thời tránh tình trạng tồn đọng án, giải quyết án kéo dài, dễ gây phiền hà, mệt mỏi cho các bên đương sự Do vậy, việc nghiên cứu thực tiễn về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án được nhiều người quan tâm Đồng thời việc giải quyết tranh chấp này còn góp phần đảm bảo quyền và lợi ích của đương sự, đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh và an ninh quốc gia Xuất phát từ

vị trí, vai trò và ý nghĩa của phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án Chính vì những lý do trên, tôi chọn chuyên đề tài:

“Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của tòa án Những hạn chế và giải pháp khắc phục” làm tiểu luận nghiên cứu của mình

Trang 2

I KHÁI NIỆM VỀ TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI VÀ

Ý NGHĨA CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN

1 Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại

Trong quá trình giải quyết tranh chấp, một trong những công việc đầu tiên mà Toà án cần làm là xem xét tranh chấp đó có thuộc thẩm quyền của mình hay không, và việc xác định thế nào là tranh chấp kinh doanh, thương

có ảnh hưởng lớn đến thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết các tranh chấp này

Trước ngày 01.01.2005, người ta dùng thuật ngữ “tranh chấp kinh tế”

để diễn đạt về vấn đề này Theo đó việc xác định tranh chấp kinh tế dựa trên

cơ sở xác định hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế Vì vậy khi xác định thẩm quyền giải quyết phải dựa trên những tiêu chí phân biệt giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế

Từ ngày 01.01.2005, Bộ luật tố tụng dân sự 2004 có hiệu lực Tại điều

29 của Bộ luật này quy định về các tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án trên cơ sở Luật thương mại và Luật doanh nghiệp

Dưới góc độ pháp luật tố tụng hiện hành ở Việt Nam hiện nay, tranh chấp kinh doanh, thương mại là tranh chấp giữa các chủ thể cùng có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận

Theo quan điểm của tôi, tranh chấp kinh doanh, thương mại cần được hiểu là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình hoạt động thương mại hoặc các hoạt động kinh tế khác được pháp luật quy định là tranh chấp kinh doanh, thương mại

2 Ý nghĩa của phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại toà án

2.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại được hiểu là các hình thức, các phương pháp nhằm giải quyết các bất đồng về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể

có tranh chấp

2.2 Ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

Đảm bảo việc giải quyết tranh chấp nhanh chóng kịp thời, chính xác, nghiêm minh, đúng pháp luật

Đảm bảo các cho các phán quyết của Toà án được thực thi một cách nghiêm chỉnh đúng pháp luật Đồng thời, bảo đảm đến mức tối đa sự gián đoạn trong hoạt động kinh doanh của các chủ thể tranh chấp

Trang 3

II THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI CỦA TÒA ÁN

1 Thẩm quyền của Tòa án theo cấp:

- Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp nêu tại khoản 1 Điều 29 BLTTDS, trừ trường hợp những tranh chấp mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài (Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011)

- Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp kinh doanh thương mại sau:

+ Tranh chấp kinh doanh thương mại nêu tại khoản 1 Điều 29 BLTTDS

mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà

án nước ngoài;

+ Các tranh chấp kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự;

+ Những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện mà Tòa án cấp tỉnh lấy lên để giải quyết

2 Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ:

- Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn

có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức;

- Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi

có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại;

3 Thẩm quyền của Toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn:

Nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án giải quyết tranh chấp về dân sự trong các trường hợp sau đây:

- Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;

- Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;

- Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;

Trang 4

- Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn

có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết;

- Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết;

- Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết

III NHỮNG HẠN CHẾ VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

1 Những hạn chế của pháp luật hiện hành về quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

Pháp luật nội dung trong thời gian qua ở nước ta đã có nhiều bước tiến đáng kể theo hướng văn minh, hiện đại Việc xác định một vụ việc tranh chấp

Trang 5

có phải là tranh chấp về kinh doanh, thương mại và vụ việc đó có thuộc thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của Toà án hay không,

nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thụ lý, chuẩn bị hồ sơ và giải quyết tranh chấp cũng như việc thi hành quyết định, bản án của Toà án Vậy chúng ta cùng đi tìm hiểu việc quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của tòa án có những tồn tại, hạn chế gì

1.1 Hạn chế về thẩm quyền theo vụ việc

Một là: khi thẩm phán áp dụng BLTTDS năm 2004, thì trong đó không

sử dụng thuật ngữ Tranh chấp hợp đồng kinh tế như trước đây mà dùng thuật ngữ tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại Vì vậy, chưa rõ là các tranh chấp khác, cũng phát sinh trực tiếp từ hoạt động kinh doanh, thương mại như các tranh chấp liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh hay các tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng… có được

áp dụng khoản 1 Điều 29 BLTTDS hay không?

Hai là: BLTTDS sử dụng phương pháp liệt kê để xác định các hoạt động được coi là hoạt động kinh doanh, thương mại và không thể liệt kê hết các hoạt động kinh doanh, thương mại trong thực tế Bởi vậy, không rõ là những tranh chấp phát sinh từ các lĩnh vực ngoài 14 lĩnh vực được liệt kê tại khoản 1 Điều 29 BLTTDS năm 2004 Ví dụ : tranh chấp phát sinh từ quan hệ giám định, đấu thầu, đấu giá… có được coi là tranh chấp kinh doanh, thương mại hay không?

Ba là: Để áp dụng khoản 1 Điều 29 BLTTDS thì các bên tranh chấp phải có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận khi tham gia quan

hệ Nhưng thực tế hiện nay đang tồn tại nhiều quan hệ hợp đồng kinh tế được

ký giữa một bên không có đăng ký kinh doanh và không có mục đích lợi nhuận Nhưng theo khoản 1 Điều 29 BLTTDS thì đây không phải là tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại vì một bên không có đăng ký kinh doanh Mặt khác, cũng không thể coi đây là tranh chấp về dân

sự vì khoản 3 Điều 25 BLTTDS quy định tranh chấp dân sự là các tranh chấp

về hợp đồng dân sự Do vậy, gây nhiều khó khăn cho các thẩm phán khi tham gia nhận dạng một vụ tranh chấp kinh tế

1.2 Hạn chế trong thẩm quyền của Toà các cấp

Một là: theo cách phân định thẩm quyền theo cấp Toà án của BLTTDS thì thực tế áp dụng có thể dẫn đến một số tranh chấp rất phức tạp lại thuộc thẩm quyền của Toà án cấp huyện trong khi đó một số tranh chấp khác, đơn giản hơn lại thuộc thẩm quyền của Toà án cấp tỉnh

Hai là: nhu cầu uỷ thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự quán của Việt Nam hoặc cho Toà án nước ngoài, trong nhiều trường hợp thường chỉ rõ sau khi Toà án đã thụ lý vụ án Trong khi đó việc xác định chính xác Toà án theo cấp xét xử đã phải làm từ khi Toà án quyết định thụ lý vụ án Tất nhiên, Thẩm phán cấp huyện được phân công giải quyết vụ án có thể chọn giải pháp chuyển vụ án cho Toà cấp tỉnh nếu phát hiện cần phải uỷ thác tư pháp Nhưng

Trang 6

việc chuyển vụ án như vậy sẽ làm chậm quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

1.3 Hạn chế trong thẩm quyền theo lãnh thổ

Theo điểm b khoản 1 Điều 35 BLTTDS ghi nhận quyền của các đương

sự được tự thoả thuận với nhau bằng văn bản để yêu cầu Toà án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn giải quyết vụ việc Quy định này đã tháo gỡ các vướng mắc phát sinh trong thực tế, đó là khi ký kết hợp đồng, các bên thoả thuận lựa chọn Toà án nơi một trong các bên giải quyết tranh chấp nhưng khi tranh chấp xảy ra thì nguyên đơn lại khởi kiện đến Toà án khác yêu cầu giải quyết làm cho Toà án này rất lúng túng trong việc quyết định thụ lý hay không thụ lý vụ kiện

Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn Theo điểm g khoản 1 Điều 36 quy định: “Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết” Mặc dù BLTTDS đã sử dụng cụm từ “hợp đồng được thực hiện” thay cho cụm từ

“thực hiện hợp đồng” nhưng vẫn chưa rõ ràng là nếu trong hợp đồng các bên quy định một địa điểm thực hiện hợp đồng nhưng trên thực tế hợp đồng hoàn toàn không được thực hiện và giữa các bên có tranh chấp thì Toà án địa phương, nơi các bên thoả thuận thực hiện hợp đồng có thẩm quyền giải quyết tranh chấp hay không? vấn đề này cần được hướng dẫn cụ thể để áp dụng thống nhất trong thực tế

2 Những giải pháp khắc phục

2.1 Cần phân biệt rõ giữa tranh chấp kinh doanh, thương mại và tranh chấp dân sự Khi giải quyết các tranh chấp kinh tế, thương mại cần phải phân biệt tranh chấp về Dân sự Nếu không được coi là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì sẽ được coi là tranh chấp về dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án như một vụ án dân sự Cách làm này sẽ loại bỏ được những vướng mắc khi phải xác định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh

từ những quan hệ nằm ngoài các nhóm tranh chấp về dân sự qui định tại Điều

25 và tranh chấp về kinh doanh, thương mại qui định tại Điều 29 BLTTDS

2.2 Cần xây dựng và ban hành hệ tiêu chí cụ thể minh bạch để xác định tính chất phức tạp của tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại và nhu cầu uỷ thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở Nước ngoài hoặc do Toà án Nhà nước nhằm phân định chính xác thẩm quyền của Toà án cấp tỉnh, qua đó hạn chế tình trạng chuyển vụ án từ huyện lên tỉnh và

từ tỉnh xuống huyện một cách tuỳ tiện

2.3 Cần hướng dẫn theo hướng mở rộng quyền thoả thuận của các bên

để lựa chọn Toà án thích hợp giải quyết các tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh BLTTDS mới quy định một trường hợp các bên tranh chấp được quyền thoả thuận lựa chọn Toà án giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại theo Điểm b khoản 1 Điều 35 thì các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toà án, nơi nguyên đơn có trụ sở hoặc cư trú giải quyết

Trang 7

tranh chấp Nhưng trên thực tế có rất nhiều trường hợp các bên tham gia quan

hệ thoả thuận trước với nhau lựa chọn Toà án của một địa phương cụ thể giải quyết tranh chấp; ví dụ: Toà án nơi thực hiện hợp đồng, Toà án nơi một bên

có chi nhánh… thì thoả thuận đó có giá trị ràng buộc các bên hay không?

2.4 Việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án phải tuân theo các trình tự thủ tục tố tụng nghiêm ngặt nên các bên tranh chấp thường thấy “gò bó” hơn so với tố tụng Trọng tài Vì vậy, xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Toà án vừa đảm bảo thủ tục luật định vừa phù hợp với tính chất của loại tranh chấp này: Hình thức tổ chức phiên toà theo hướng hội nghị bàn tròn và tiến hành tranh tụng với các bên tham gia để hạn chế bớt tâm lý nặng nề; đảm bảo bí mật trong kinh doanh khi các bên yêu cầu và Toà án xét thấy hợp lý có thể hạn chế số lượng người tham gia phiên toà nhất là các bên đang cạnh tranh muốn có các thông tin tung ra thị trường gây hoang mang cho các chủ thể đang hợp tác, làm ăn với doanh nghiệp; tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp Ngoài

ra, để giải quyết các tranh chấp kinh tế, thương mại có hiệu quả, bên cạnh việc hoàn thiện cơ quan có thẩm quyền giải quyết, cơ chế giải quyết thì việc hoàn thiện pháp Luật kinh tế làm cơ sở pháp lý cho quá trình giải quyết tranh chấp như sửa đổi các quy định về Hợp đồng trong Bộ Luật Dân sự bao gồm

cả Hợp đồng kinh tế và các lĩnh vực pháp luật kinh tế khác trong phạm vi thẩm quyền giải quyết của Toà án theo Điều 29 BLTTDS

2.5 Phạm vi các tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo điều 29 BLTTDS mở rộng đến nhiều lĩnh vực nên các tranh chấp ngày càng đa dạng, phức tạp hơn Do đó, cần xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác xét xử các tranh chấp kinh tế, thương mại là vấn đề cần được đặt ra

KẾT LUẬN

Qua việc nghiên cứu đề tài, cho chúng ta thấy rằng bên cạnh các phương pháp thương lượng, hoà giải, trọng tài thì phương thức giải quyết bằng Toà án đã đang và ngày càng đóng vai trò quan trọng không chỉ ở nhiều nước mà ngay cả ở Việt Nam bởi những ưu thế riêng của phương pháp này

Trang 8

Khi nghiên cứu chuyên đề này, nó đã giúp tôi hiểu như thế nào về quá trình thụ lý giải quyết một vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại như thế nào; biết được thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của Tòa án Thông qua chuyên đề, còn giúp cho tôi hiểu hơn về lí luận đã được học trên giảng đường Ngoài ra, nó còn giúp ích cho tôi trên con đường sự nghiệp sau này

Do thời gian có hạn, tiểu luận không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của các thầy cô trong Khoa kinh tế -Đại học Huế Và cuối cùng cho phép tôi xin chân thành cảm ơn

Trang 9

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Luật Thương Mại năm 2005;

2 Luật Doanh nghiệp năm 2005;

3 Luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011

Ngày đăng: 01/10/2017, 14:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w