MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Xã hội hóa giáo dục là một chủ trương lớn, có tầm chiến lược của Đảng vàNhà nước, tạo động lực và phát huy mọi nguồn lực để phát triển một nền giáo dục tiên tiến, chất lượng ngày càng cao trên cơ sở có sự tham gia của toàn xã hội; là một phương thức thực hiện để mọi người dân đều có cơ hội được học tập. Nghị quyết Trung ương 4 ( Khóa VII), Nghị quyết Trung ương 2( Khóa VIII), kết luận hội nghị Trung ương 6 ( khóa IX), Nghị quyết Trung ương ( khóa XI) đã khẳngđinh: Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn dân là một giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục. Chủ trương xã hội hóa giáo dục là xuất phát từ quan điểm coi giáo dục là sự nghiệp của Đảng, của nhà nước và của nhân dân. Hiện nay giáo dục mầm non đang đứng trước những thử thách lớn. Đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển giáo dục mầm non và ngân sách đầu tư của nhà nước cho giáo dục mầm non còn hạn chế. Kinh phí đầu tư của nhà nước cho các trường còn hạn chế, tổng số trẻ đến trường mới chỉ chiếm 75% số trẻ trong độ tuổi mầm non. Dù vậy mặt bằng lương của giáo viên mầm non vẫn ở mức quá thấp, nhưng trách nhiệm, thời gian, công sức lại quá nặng nề. Từ những vấn đề đang đặt ra cho giáo dục mầm non, phương hướng phát triển của giáo dục mầm non trong giai đoạn tới là phải thực hiện thông qua hình thức tổ chức các nhà trẻ, mẫu giáo, đồng thời qua việc tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ trong xã hội. Do vậy giáo dục mầm non càng cần phải tiến hành xã hội hoá công tác giáo dục. Thực tế ở trường mầm non số 1 xã Cốc Mỳ, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai trong thời gian qua, công tác xã hội hóa có nhiều chuyển biến đáng kể, đã đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp giáo dục của địa phương. Nhà trường đã chủ động đề xuất biện pháp với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, phối hợp với gia đình và xã hội nhằm thống nhất quy mô, kế hoạch phát triển nhà trường. Đã đề ra biện pháp giáo dục trẻ em và quan tâm giúp đỡ những trường hợp trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Mặt khác nhà trường đã phối hợp với các tổ chức chính trị xã hội và các nhà hảo tâm, những cá nhân có liên quan để tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ cho các bậc cha mẹ và cộng đồng; thực hiện phòng bệnh, khám sức khỏe định kỳ cho trẻ huy động rất nhiều nguồn lực của cộng đồng chăm lo cho sự nghiệp giáo dục mầm non; góp phần xây dựng cơ sở vật chất; xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn tạo điều kiện để nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ. Bên cạnh những kết quả đó thì vẫn còn những bất cập, tồn tại. Trong những năm qua quan điểm phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu chưa được nhận thức đầy đủ trong xã hội, chưa thực sự chi phối sự chỉ đạo tổ chức thực tiễn của nhiềucán bộ quản lý và các cấp quản lý, kể cả việc đầu tư cho giáo dục và tạo cơ chế chotổ chức hoạt động giáo dục. Trong quản lý về giáo dục chưa tạo ra dược sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp, các lực lượng xã hội để phát triển sự nghiệp giáo dục. Mục tiêu cuối cùng của quá trình xã hội hóa giáo dục là nâng cao thêm mức hưởng thụ về giáo dục của nhân dân, nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần và vật chất của từng người dân. Nhưng hiện nay, xã hội hóa giáo dục trên thực tế chưa phát huy được thế mạnh của nó, bởi vì trong xã hội còn tồn tại nhiều nhận thức chưa thực toàn diện. Có quan điểm cho rằng xã hội hóa giáo dục chỉ đơn thuần là sự đa dạng hóa các hình thức tham gia của nhân dân và xã hội mà ít chú trọng tới mức hưởng thụ từ giáo dục của người dân. Vì vậy, có nơi công tác xã hội hóa giáo dục chỉ đơn thuần về mặt huy động tài chính, huy động cơ sở vật chất, ít quan tâm đến sức dân. Trái lại có nơi lại thụ động trông chờ vào sự bao cấp chủ yếu của nhà nước. Nhiều người dân vẫn còn thờ ơ với giáo dục, cho rằng giáo dục là sự nghiệp riêng của nhà trường. Nguyên nhân của những tồn tại trên đó chính là việc tuyên truyền để nâng cao nhận thức của toàn xã hội về giáo dục còn hạn chế, chất lượng giáo dục cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Công tác lãnh chỉ đạo xã hội hóa giáo dục cũng chưa thực sự có chiều sâu. Đứng trước những thử thách rất khó khăn này, trường thấy chủ trương huy động xã hội hoá giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay là một vấn đề cần thiết, vì nó góp phần nâng cao nhận thức của mọi người về tầm quan trọng của giáo dục mầm non. Trên cơ sở xã hội hoá giáo dục, tạo nguồn cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng, đồ chơi, tạo môi trường học tập tốt cho các cháu, đảm bảo mọi điều kiện phát của ngành giáo dục mầm non. Từ lý luận và thực tiễn trên tôi chọn đề tài “Công tác vận động toàn dân tham gia xã hội hóa giáo dục ở trường mần non số 1, xã Cốc Mỳ, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai” để làm tiểu luận tốt nghiệp. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu + Mục đích: Thông qua khảo sát, đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng công tác vận động toàn dân tham gia xã hội hóa giáo dục ở trường mầm non Cốc Mỳ số 1, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. + Nhiệm vụ: Khảo sát đánh giá trực trạng công tác vận động toàn dân tham gia xã hội hóa giáo dục ở trường mầm non Cốc Mỳ số 1, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng vận động toàn dân tham gia xã hội hóa giáo dục ở trường mầm non Cốc Mỳ số 1, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Khảo sát đánh giá trực trạng công tác vận động toàn dân tham gia xã hội hóa giáo dục năm học 20152016, đề ra một số giải pháp và kiền nghị năm học 2016 2017 ở trường mầm non Cốc Mỳ số 1, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. 4. Phương pháp nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu, tôi sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như: phân tích văn bản, điều tra, khảo sát thực tế, tổng hợp, so sánh... để thực hiện đề tài. 5. Kết cấu của tiểu luận: Ngoài phần mở bài và kết luận, tiểu luận gồm 3 chương 7 tiết. CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN THAM GIA XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC 1.1. Những vấn đề chung về xã hội hóa giáo dục Xã hội hoá các hoạt động giáo dục là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục và sự phát triển về thể chất và tinh thần của nhân dân. Xã hội hoá là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục. ở mỗi địa phương, đây là cộng đồng trách nhiệm của Đảng bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, các cơ quan nhà nước, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp đóng tại địa phương và của từng người dân. Xã hội hoá và đa dạng hoá các hình thức hoạt động giáo dục có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Bên cạnh việc củng cố các tổ chức của Nhà nước, cần phát triển rộng rãi các hình thức hoạt động do các tập thể hoặc các cá nhân tiến hành trong khuôn khổ chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đa dạng hoá chính là mở rộng các cơ hội cho các tầng lớp nhân dân tham gia chủ động và bình đẳng vào các hoạt động trên. Xã hội hoá là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội. Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn là chính sách lâu dài, là phương châm thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, không phải là biện pháp tạm thời, chỉ có ý nghĩa tình thế trước mắt do Nhà nước thiếu kinh phí cho các hoạt động này. Khi nhân dân ta có mức thu nhập cao, ngân sách nhà nước dồi dào vẫn phải thực hiện xã hội hoá, bởi vì giáo dục, y tế, văn hoá là sự nghiệp lâu dài của nhân dân, sẽ phát triển không ngừng với nguồn lực to lớn của toàn dân. Xã hội hoá không có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm của Nhà nước, giảm bớt phần ngân sách nhà nước; trái lại, Nhà nước thường xuyên tìm thêm các nguồn thu để tăng tỷ lệ ngân sách chi cho các hoạt động này, đồng thời quản lý tốt để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí đó.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xã hội hóa giáo dục là một chủ trương lớn, có tầm chiến lược của Đảng vàNhànước, tạo động lực và phát huy mọi nguồn lực để phát triển một nền giáo dục tiêntiến, chất lượng ngày càng cao trên cơ sở có sự tham gia của toàn xã hội; là mộtphương thức thực hiện để mọi người dân đều có cơ hội được học tập Nghị quyếtTrung ương 4 ( Khóa VII), Nghị quyết Trung ương 2( Khóa VIII), kết luận hội nghịTrung ương 6 ( khóa IX), Nghị quyết Trung ương ( khóa XI) đã khẳngđinh: " Đẩymạnh xã hội hóa giáo dục, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn dân là một giải phápquan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục" Chủ trương xã hội hóa giáo dục là xuấtphát từ quan điểm coi giáo dục là sự nghiệp của Đảng, của nhà nước và của nhân dân
Hiện nay giáo dục mầm non đang đứng trước những thử thách lớn Đó là mâuthuẫn giữa nhu cầu phát triển giáo dục mầm non và ngân sách đầu tư của nhà nướccho giáo dục mầm non còn hạn chế Kinh phí đầu tư của nhà nước cho các trường cònhạn chế, tổng số trẻ đến trường mới chỉ chiếm 75% số trẻ trong độ tuổi mầm non Dùvậy mặt bằng lương của giáo viên mầm non vẫn ở mức quá thấp, nhưng trách nhiệm,thời gian, công sức lại quá nặng nề Từ những vấn đề đang đặt ra cho giáo dục mầmnon, phương hướng phát triển của giáo dục mầm non trong giai đoạn tới là phải thựchiện thông qua hình thức tổ chức các nhà trẻ, mẫu giáo, đồng thời qua việc tuyêntruyền phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ trong xã hội Do vậy giáo dục mầmnon càng cần phải tiến hành xã hội hoá công tác giáo dục
Thực tế ở trường mầm non số 1 xã Cốc Mỳ, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai trongthời gian qua, công tác xã hội hóa có nhiều chuyển biến đáng kể, đã đóng góp khôngnhỏ cho sự nghiệp giáo dục của địa phương Nhà trường đã chủ động đề xuất biệnpháp với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, phối hợp với gia đình và xã hội nhằmthống nhất quy mô, kế hoạch phát triển nhà trường Đã đề ra biện pháp giáo dục trẻ
em và quan tâm giúp đỡ những trường hợp trẻ em có hoàn cảnh khó khăn Mặt khácnhà trường đã phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội và các nhà hảo tâm, những
Trang 2cá nhân có liên quan để tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ cho cácbậc cha mẹ và cộng đồng; thực hiện phòng bệnh, khám sức khỏe định kỳ cho trẻ huyđộng rất nhiều nguồn lực của cộng đồng chăm lo cho sự nghiệp giáo dục mầm non;góp phần xây dựng cơ sở vật chất; xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, an toàntạo điều kiện để nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ.
Bên cạnh những kết quả đó thì vẫn còn những bất cập, tồn tại Trong nhữngnăm qua quan điểm phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu chưa được nhận thứcđầy đủ trong xã hội, chưa thực sự chi phối sự chỉ đạo tổ chức thực tiễn của nhiềucán
bộ quản lý và các cấp quản lý, kể cả việc đầu tư cho giáo dục và tạo cơ chế chotổchức hoạt động giáo dục Trong quản lý về giáo dục chưa tạo ra dược sự phối hợpđồng bộ giữa các ngành, các cấp, các lực lượng xã hội để phát triển sự nghiệp giáodục
Mục tiêu cuối cùng của quá trình xã hội hóa giáo dục là nâng cao thêm mứchưởng thụ về giáo dục của nhân dân, nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần và vậtchất của từng người dân Nhưng hiện nay, xã hội hóa giáo dục trên thực tế chưa pháthuy được thế mạnh của nó, bởi vì trong xã hội còn tồn tại nhiều nhận thức chưa thựctoàn diện Có quan điểm cho rằng xã hội hóa giáo dục chỉ đơn thuần là sự đa dạng hóacác hình thức tham gia của nhân dân và xã hội mà ít chú trọng tới mức hưởng thụ từgiáo dục của người dân Vì vậy, có nơi công tác xã hội hóa giáo dục chỉ đơn thuần vềmặt huy động tài chính, huy động cơ sở vật chất, ít quan tâm đến sức dân Trái lại cónơi lại thụ động trông chờ vào sự bao cấp chủ yếu của nhà nước Nhiều người dân vẫncòn thờ ơ với giáo dục, cho rằng giáo dục là sự nghiệp riêng của nhà trường Nguyênnhân của những tồn tại trên đó chính là việc tuyên truyền để nâng cao nhận thức củatoàn xã hội về giáo dục còn hạn chế, chất lượng giáo dục cũng chưa đáp ứng được yêucầu của xã hội Công tác lãnh chỉ đạo xã hội hóa giáo dục cũng chưa thực sự có chiềusâu
Đứng trước những thử thách rất khó khăn này, trường thấy chủ trương huyđộng xã hội hoá giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay là một vấn đề cần thiết,
Trang 3vì nó góp phần nâng cao nhận thức của mọi người về tầm quan trọng của giáo dụcmầm non Trên cơ sở xã hội hoá giáo dục, tạo nguồn cơ sở vật chất, trang thiết bị đồdùng, đồ chơi, tạo môi trường học tập tốt cho các cháu, đảm bảo mọi điều kiện phát
của ngành giáo dục mầm non Từ lý luận và thực tiễn trên tôi chọn đề tài “Công tác vận động toàn dân tham gia xã hội hóa giáo dục ở trường mần non số 1, xã Cốc
Mỳ, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai” để làm tiểu luận tốt nghiệp.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
+ Mục đích: Thông qua khảo sát, đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu, đề
xuất các giải pháp nâng cao chất lượng công tác vận động toàn dân tham gia xã hộihóa giáo dục ở trường mầm non Cốc Mỳ số 1, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
+ Nhiệm vụ:
Khảo sát đánh giá trực trạng công tác vận động toàn dân tham gia xã hội hóagiáo dục ở trường mầm non Cốc Mỳ số 1, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng vận động toàn dân tham gia
xã hội hóa giáo dục ở trường mầm non Cốc Mỳ số 1, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Khảo sát đánh giá trực trạng công tác vận động toàn dân tham gia xã hội hóagiáo dục năm học 2015-2016, đề ra một số giải pháp và kiền nghị năm học 2016 -
2017 ở trường mầm non Cốc Mỳ số 1, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, tôi sử dụng nhiều phương pháp khác nhaunhư: phân tích văn bản, điều tra, khảo sát thực tế, tổng hợp, so sánh để thực hiện đềtài
5 Kết cấu của tiểu luận: Ngoài phần mở bài và kết luận, tiểu luận gồm 3
chương 7 tiết
Trang 4CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN THAM GIA
XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC 1.1 Những vấn đề chung về xã hội hóa giáo dục
Xã hội hoá các hoạt động giáo dục là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãicủa nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bướcnâng cao mức hưởng thụ về giáo dục và sự phát triển về thể chất và tinh thần củanhân dân
Xã hội hoá là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đốivới việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho cáchoạt động giáo dục ở mỗi địa phương, đây là cộng đồng trách nhiệm của Đảng bộ,Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, các cơ quan nhà nước, các đoàn thể quầnchúng, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp đóng tại địa phương và của từng ngườidân
Xã hội hoá và đa dạng hoá các hình thức hoạt động giáo dục có mối quan hệchặt chẽ với nhau Bên cạnh việc củng cố các tổ chức của Nhà nước, cần phát triểnrộng rãi các hình thức hoạt động do các tập thể hoặc các cá nhân tiến hành trongkhuôn khổ chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Đa dạng hoá chính là mởrộng các cơ hội cho các tầng lớp nhân dân tham gia chủ động và bình đẳng vào cáchoạt động trên
Xã hội hoá là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực,vật lực và tài lực trong xã hội Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực củanhân dân, tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá phát triển nhanhhơn, có chất lượng cao hơn là chính sách lâu dài, là phương châm thực hiện chínhsách xã hội của Đảng và Nhà nước, không phải là biện pháp tạm thời, chỉ có ý nghĩa
Trang 5tình thế trước mắt do Nhà nước thiếu kinh phí cho các hoạt động này Khi nhân dân ta
có mức thu nhập cao, ngân sách nhà nước dồi dào vẫn phải thực hiện xã hội hoá, bởi
vì giáo dục, y tế, văn hoá là sự nghiệp lâu dài của nhân dân, sẽ phát triển không ngừngvới nguồn lực to lớn của toàn dân
Xã hội hoá không có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm của Nhà nước, giảm bớtphần ngân sách nhà nước; trái lại, Nhà nước thường xuyên tìm thêm các nguồn thu đểtăng tỷ lệ ngân sách chi cho các hoạt động này, đồng thời quản lý tốt để nâng cao hiệuquả sử dụng các nguồn kinh phí đó
Thực hiện xã hội hoá các hoạt động giáo dục cũng là giải pháp quan trọng đểthực hiện chính sách công bằng xã hội trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội củaĐảng và Nhà nước Công bằng xã hội không chỉ biểu hiện về mặt hưởng thụ, tức làngười dân được xã hội và nhà nước chăm lo, mà còn biểu hiện cả về mặt người dânđóng góp, cống hiến cho xã hội theo khả năng thực tế của từng người, từng địaphương
Thực hiện công bằng trong chính sách xã hội phải vận dụng các nguyên tắcđiều chỉnh và ưu tiên; nhất thiết phải ưu tiên đối với người có công, phải trợ giúpngười nghèo, vùng nghèo; người có công, có cống hiến nhiều hơn, được xã hội vàNhà nước chăm lo nhiều hơn
Công bằng xã hội trong việc huy động các nguồn lực của nhân dân vào các hoạtđộng văn hoá, xã hội không phải là huy động bình quân, mà là vận dụng cách huyđộng và mức huy động tuỳ theo các lớp người có điều kiện thực tế khác nhau, có mứcthu nhập khác nhau Những người thuộc diện chính sách xã hội của Đảng và Nhànước được miễn, giảm phần đóng góp
Công bằng xã hội còn được thực hiện thông qua việc phát huy truyền thống "lálành đùm lá rách", người giàu giúp người nghèo, vùng giàu giúp vùng nghèo Pháttriển nhiều loại quỹ do nhân dân đóng góp tự nguyện làm việc nghĩa, như quỹ khuyếnhọc, quỹ từ thiện Nhà nước ban hành quy chế thành lập và quản lý các quỹ này theo
Trang 6hướng phát huy khả năng tự quản và giám sát của những người đóng góp, thực hiệnchế độ công khai hoá thu, chi.
Thực hiện xã hội hóa trong các lĩnh vực giáo dục với quan niệm đúng đắn vềcông bằng xã hội chính là thực hiện định hướng xã hội chủ nghĩa theo đường lối củaĐảng
1.2 Chủ trương của Đảng pháp luật của Nhà nước về công tác xã hội hóa giáo dục mầm non
Giáo dục mầm non (GDMN) là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốcdân, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và pháttriển của nhân cách con người Chính vì thế, hầu hết các quốc gia và các tổ chức quốc
tế đều xác định GDMN là một mục tiêu quan trọng của giáo dục cho mọi người
Ở nước ta, Đảng và Nhà nước cũng luôn coi trọng GDMN Thủ tướng Chínhphủ đã phê duyệt Đề án “Phát triển GDMN giai đoạn 2016 - 2020” với quan điểm chỉ
đạo là: “ Đẩy mạnh xã hội hóa, tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách để mọi
tổ chức, cá nhân và toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục mầm non” Quan điểm
chỉ đạo này hoàn toàn phù hợp với xu thế chung trên thế giới hiện nay về phát triểnnền giáo dục quốc dân Ở nhiều nước, không chỉ ở những nước nghèo mà ngay cả ởnhững nước giàu, để phát triển sự nghiệp giáo dục, họ đã tìm nhiều giải pháp để đẩymạnh XHHGD, trong đó có XHHGD mầm non (XHHGDMN) Trong nhận thứcchung, XHHGD được hiểu là sự huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên cáctầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhànước Ở nước ta, XHHGD cũng là một quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với sự nghiệpphát triển giáo dục nhằm làm cho hoạt động giáo dục thực sự là sự nghiệp của dân, do
dân và vì dân Điều 12 Luật giáo dục 2005 có nêu: “Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân.
Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường và hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển giáo dục.
Trang 7Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X cũng nêu rõ: “ Phấn đấu xây dựng nền giáo dục hiện đại, của dân, do dân và vì dân, bảo đảm công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.”
Xã hội hóa giáo dục có vai trò rất lớn, ảnh hưởng rất nhiều đến các thành tựu củangành giáo dục Quan điểm của đảng chỉ rõ:
Thứ nhất: Xã hội hóa giáo dục là khái niệm chỉ sự quản lý chú ý, hưởng ứng,quan tâm của xã hội đóng góp vật chất và tinh thần cho sự nghiệp giáo dục
Thứ hai: là khái niệm chỉ rõ sứ mệnh của ngành giáo dục, của nhà trường là làmcho người học được thích ứng nhanh với đời sống xã hội (xã hội hoá cá nhân)
Theo nghĩa rộng xã hội hoá giáo dục có nghĩa là nhà nước phải tạo ra khônggian xã hội, luật pháp và chính trị cho việc hình thành một khu vực giáo dục mà ở đấy
ai cũng có quyền đóng góp vì sự nghiệp giáo dục, thực hiện sự cạnh tranh về chấtlượng giáo dục, tức là giáo dục phải thuộc về xã hội Do đó xã hội hoá giáo dục cầnphải chỉ ra vai trò của xã hội trong sự nghiệp xã hội hoá giáo dục Nói cách khác, xã
hội phải tham gia vào việc hình thành chương trình giáo dục thông qua "xã hội hoá".
Thực tế cho thấy, công tác xã hội hoá giáo dục trong thời gian qua chủ yếu là vậndụng nên nhìn chung chưa có cơ chế, chưa có phương pháp chung Nơi nào biết làm,được nhân dân ủng hộ thì xã hội hoá phát huy được tốt tác dụng, nơi nào cấp uỷ chínhquyền ít quan tâm thì sự nghiệp giáo dục chỉ bó hẹp trong trách nhiệm của ngành giáodục và đương nhiên là hiệu quả giáo dục thấp
Bên cạnh đó, còn không ít cán bộ và nhân dân nhận thức chưa đầy đủ về bản chấtcủa xã hội hoá giáo dục và cho rằng nội dung cốt lõi của xã hội hoá là huy động tiềncủa trong nhân dân để giảm bớt ngân sách của Nhà nước cho giáo dục và đào tạo Vìthế, xã hội hoá được hiểu là chuyển gánh nặng từ vai Nhà nước sang nhân dân, nhiềucán bộ chỉ thiên về hô hào, vận động, chưa quan tâm đổi mới cơ chế chính sách
Trang 8Không những thế, rất nhiều người còn nhận thức xã hội hoá đồng nghĩa với việcthu tiền của dân làm nảy sinh tâm lý sợ hãi trong nhân dân mỗi khi nghe nói tới xã hộihoá Thực tế trong quá trình chỉ đạo cơ sở, mỗi khi triển khai được những hoạt động
lớn đòi hỏi phải có kinh phí, không ít cán bộ đã biến thuật ngữ “xã hội hoá” thành
những câu nói cửa miệng và đẩy chủ trương xã hội hoá thành những giải pháp tìnhthế, những cứu cánh trong lúc khó khăn
Một số người khác lại nhận thức xã hội hoá chỉ có nghĩa là “nhà nước và nhân dân cùng làm’’ Thật ra, “nhà nước và nhân dân cùng làm” chưa nói hết bản chất của
xã hội hoá Xã hội hoá chính là một chủ trương liên quan đến đổi mới cơ chế quản lý,xoá bỏ cơ chế bao cấp, coi trọng biện pháp tự quản của xã hội
Xã hội hoá giáo dục có tác động to lớn trong việc xây dựng cộng đồng tráchnhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và phát triển môi trường kinh tế,
xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục, tạo ra phong trào học tậpsâu rộng trong toàn xã hội theo nhiều hình thức, vận động toàn dân học tập suốt đời
để làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn và có cuộc sống tốt đẹp hơn, làm cho xã hội tatrở thành một xã hội học tập
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN THAM GIA XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG MẦM NON CỐC MỲ SỐ 1, XÃ CỐC MỲ,
HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI 2.1 Đặc điểm chung về trường mầm non Cốc mỳ số 1
Trường Mầm non Cốc Mỳ Số 1 được thành lập từ tháng 8 năm 2013 trên cơ sởtách ra từ Trường Mầm non Cốc Mỳ trụ sở chính đặt tại xã Bầu Bàng- xã Cốc Mỳ
Trường Mầm non Cốc Mỳ số 1 là trường thuộc xã 135 giai đoạn 2 của huyệnBát Xát Trường có tổng diện tích là 3087m2, trường có 01 điểm trường chính và 03điểm trường lẻ với 09 nhóm lớp công lập/202 trẻ, có 09 phòng học bán kiên cố
Trang 9Trường được công nhân đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 năm 2015, trường hạng 1
có đầy đủ các tổ chức đoàn thể với tổng số 21 cán bộ, giáo viên, nhân viên Trong đócán bộ quản lý: 03, giáo viên: 15, nhân viên: 03
` Trình độ chuyên môn: Đạt chuẩn trở lên là 21/21 đ/c trong đó trên chuẩn là17/21 đ/c
Có 01 chi bộ đảng với 11 đảng viên
Có tổ chức công đoàn cơ sở với 21 công đoàn viên
Có Chi đoàn thanh niên với 15 đoàn viên
Chức năng, nhiệm vụ: Tiếp nhận chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ mầmnon ( từ 24-72 tháng tuổi)
Xi măng Hoàng Liên Sơn: 7 tấn – Công ty mỏ tuyển đồng Sin quyền
Ngày công lao động: 691 công – Phụ huynh học sinh ủng hộ
Gạch bê tông không nung 2.500 viên
Đá hộc: 40m3 – Hợp tác xã đoàn 5
Cát : 25 m3 – Hợp tác xã đoàn 5
Đất san nền: 150m3 – CT Kim luyện màu Nghệ Tĩnh
Cổng sắt điểm trường Tân Long: 6m2 - Phụ huynh học sinh
Sân khấu ở điểm trường chính- Ngân hàng Agribank Bát Xát
Bên cạnh đó, nhà trường thực hiện có kết quả Đề án quy hoạch bậc học mầmnon đến năm 2020 của huyện Bát Xát, đó từng bước đáp ứng yêu cầu đồng bộ hoá,hiện đại hoá cơ sở vật chất trường lớp Nhà trường đã thu hút 30% trẻ em trong độ
Trang 10tuổi nhà trẻ và 95% trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo đến lớp; trẻ 5 tuổi vào mẫu giáo đạt
tỉ lệ 100% Cùng với việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên cũngkhông ngừng được phát triển cả về số lượng và chất lượng Tỉ lệ giáo viên mẫu giáođạt chuẩn là 100% và trên chuẩn là 80% Có được những kết quả như vậy là do BGHnhà trường đó tích cực, chủ động trong công tác tham mưu với cấp ủy và các cấp lãnhđạo địa phương để huy động tối đa các nguồn lực hỗ trợ cho các hoạt động giáo dụccủa nhà trường Sáng tạo trong công tác tuyên truyền đối với các tầng lớp dân cư vềgiáo dục mầm non và XHHGD Có nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng chăm sócgiáo dục trẻ trong nhà trường
2.2.2 Kết quả cụ thể trong công tác vận động toàn dân tham gia xã hội hóa giáo dục
2.2.2.1 Công tác phối hợp với phụ huynh
Công tác phối hợp với phụ huynh đặc biệt quan trọng khi thực hiện chươngtrình nuôi dạy chăm sóc giáo dục trẻ Phụ huynh hỗ trợ giáo viên rất nhiều trong việcthực hiện kế hoạch giáo dục, đặc biệt là giáo dục cá nhân trẻ Giáo viên là ngườithường xuyên tiếp xúc với phụ huynh vì vậy trường giao quyền chủ động cho giáoviên và tin tưởng vào những biện pháp kích thích tính sáng tạo, tính dám chịu tráchnhiệm ở giáo viên và gợi ý những kế hoạch phối hợp với phụ
Giáo viên tỏ thái độ thân mật, cởi mở, thân thiện với cha mẹ các cháu để họ cóthể xem mình như mình như người nhà trao đổi một cách tự nhiên về tình hình sứckhoẻ cũng như tính tình của các cháu, đồng thời góp ý chân tình cho giáo viên về cácmặt nuôi dạy trẻ
Kết hợp trong các cuộc họp phụ huynh để tư vấn cho các bậc phụ huynh vềtâm, sinh lý, bệnh lý và dinh dưỡng trẻ em Trong những cuộc tư vấn BGH có thể trựctiếp trao đổi giải đáp những thắc mắc, băn khoăn của các bậc phụ huynh trong tìnhhuống cụ thể trước những biểu hiện của cháu về mọi mặt thể chất lẫn tinh thần, có lúcchúng trường mời cán bộ y tế địa phương về tiếp xúc với phụ huynh để trao đổi, trìnhbày về cách thức nuôi dạy trẻ theo khoa học
Trang 11Thường xuyên thông báo kịp thời tình hình về mọi mặt của từng cháu cho phụhuynh biết để cùng có biện pháp xử lý cụ thể đối với từng trường hợp đặc biệt để tạo
sự nhất trí cao giữa nhà trường với gia đình
Biết lắng nghe những lời đóng góp của các bậc cha mẹ về mọi mặt chăm sócgiáo dục trẻ kể cả việc xây dựng trường lớp
Biết tiếp thu những ý kiến đúng của các bậc phụ huynh nhưng có chọn lọc.Phối hợp với y tế địa phương để được nhận những tranh, hình ảnh, tài liệutuyên truyền về vệ sinh an toàn thực phẩm, chăm sóc sức khoẻ, cách phòng bệnh, dịchbệnh…để phát tờ rơi cho phụ huynh
2.2.2.2 Tuyên truyền trên phương tiện thông tin đại chúng
Qua nhiều năm công tác, trường nhận thấy việc thông tin đại chúng qua đàitruyền thanh địa phương, Huyện… là rất quan trọng, có tác dụng rộng rãi trong quầnchúng Vì vậy trường phát động trong nhà trường viết bài và chọn lọc gửi cho đàitruyền thanh thông tin rộng rãi
Trường nhận thấy, sau khi có được những phát thanh rộng rãi trong quần chúngthì số lượng trẻ đến trường cũng ngày một tăng hơn và đạt tỉ lệ cao hơn năm trước
2.2.2.3 Tích cực tham mưu với các cấp lãnh đạo đảng, chính quyền địa phương
Để làm tốt công tác tham mưu với các cấp lãnh đạo với chính quyền địaphương trước hết bản thân trường tham gia đầy đủ tất cả các cuộc họp do đại phương
tổ chức, tham gia đóng góp ý kiến đối với những nội dung cần góp ý trong cuộc họpsau đó mới liên hệ đến hoạt động của nhà trường
Sau mỗi năm, trường tự tổng kết và tự rút kinh nghiệm trong công tác thammưu tìm ra những điểm khuyết để rút kinh nghiệm cho công tác tham mưu lần sau đạthiệu quả hơn
Sau khi hoàn thành công việc trường báo cáo lại với UBND xã và không quênnhấn mạnh sự quan tâm của hỗ trợ của Đảng uỷ, HĐND, UBND, UBMTTQVN xã
2.2.2.4 Đối với Ủy ban nhân dân xã