1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đề tài một số biện pháp nâng cao chính tả cho học sinh lớp 3

24 363 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 204 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu khoa học Một số biện pháp nâng cao chính tả cho học sinh lớp 3, đề tài tốt nghiệp môn Tiếng Việt hay cho các bạn tham khảo. Đề tài tốt nghiệp sư phạm ngành giáo dục tiểu học cho sinh viên hệ chính quy, vừa học vừa làm, từ xa.

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài: “ Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy chính tả cho học sinh lớp 3 ” được thực hiện từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 8 năm 2015 thì hoàn

thành Để hoàn thành được đề tài ngoài sự nổ lực, cố gắng của bản thân, phải cònnói đến sự tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của quý thầy, cô trongBan giám hiệu, khoa giáo dục Tiểu học, mà trực tiếp là Đồng thời, tôi cũng xinchân thành cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của Ban giám hiệu, thầy cô , tỉnhgiúp cho tôi nghiên cứu và hoàn thành đề tài

Lần đầu tiên được tiếp xúc với việc nghiên cứu đề tài nghiệp vụ sư phạm –Phương pháp dạy học Tiếng Việt, bản thân tôi còn nhiều bỡ ngỡ, hạn chế vềphương pháp, năng lực, nội dung,….nên đề tài ít nhiều khó trách khỏi nhữngthiếu sót nhất định Rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy, cô và cácbạn đồng nghiệp chia sẻ bổ sung ý kiến giúp cho đề tài hoàn thiện hơn để tài áp

dụng vào thực tế tại đơn vị đạt kết quả cao Tôi xin cam đoan đề tài: “ Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy chính tả cho học sinh lớp 3 ” là của riêng tôi

và xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

1.1.Yêu cầu của xã hội:

Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay đòi hỏi có sự đổi mới về nội dungphương pháp dạy học Đòi hỏi người chủ nhân tương lai của Đất nước vừa giỏichuyên môn vừa phải có đạo đức, phẩm chất và nhân cách tốt Như bất kì mônhọc nào khác, ở môn Tiếng Việt cũng có sự điều chỉnh về nội dung, phương phápdạy học để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội

Tiếng Việt là một môn học rất quan trọng đối với bậc Tiểu học nói riêng, trong

hệ thống giáo dục phổ thông ở Việt Nam nói chung, nó góp phần đắc lực thựchiện mục tiêu đào tạo giáo dục thế hệ trẻ ở Tiểu học theo đặc trưng bộ môn củamình Môn Tiếng Việt cung cấp cho học sinh những hiểu biết về cách thức sửdụng Tiếng Việt như một công cụ giao tiếp và tư duy; học sinh được rèn luyệncác kĩ năng nghe, nói, đọc, viết để sử dụng có hiệu quả Tiếng Việt trong học tập

và đời sống hàng ngày Trên cơ sở những mục tiêu cơ bản của môn Tiếng việt,phân môn chính tả giải quyết vấn đề dạy cho trẻ em biết chữ để học tiếng, dùngchữ để học các môn học khác và để sử dụng trong giao tiếp Vì vậy, dạy họcchính tả ở Tiểu học là một trong những vấn đề rất được quan tâm nhằm nâng caochất lượng của môn học Tiếng Việt Đồng thời, góp phần giữ gìn, bảo tồn sựtrong sáng của Tiếng Việt

1.2 Mục tiêu môn học:

Mục tiêu môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Chính tả nói riêng là rèn chohọc sinh một số kĩ năng, nghe, đọc, viết Đặc biệt là kỹ năng viết, viết là mộtdạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển lời nói có âm thanh sang hình thứcchữ viết Theo một số từ điển thì: Chính tả là viết đúng, là lối viết hợp chuẩn Cụthể, chính tả là hệ thống các quy tắc về cách viết thống nhất cho các từ của mộtngôn ngữ, cách viết hoa tên riêng, cách phiên âm tên riêng nước ngoài Phânmôn Chính tả giúp học sinh hình thành năng lực, thói quen viết đúng chính tả, đó

là thói quen viết đúng Tiếng Việt văn hóa, Tiếng Việt chuẩn mực, đồng thời nócòn là cơ sở của những môn học khác trong chương trình Tiểu học Phân mônChính tả được dạy liên tục trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học từ lớp 1 đếnlớp 5 với hai kiểu dạng bài chính tả như: Chính tả đoạn bài, chính tả âm - vần.Tùy yêu cầu của mỗi dạng bài khác nhau nhưng tất cả đều chú ý đến cách trìnhbày bài chính tả, viết chữ đẹp và đúng chính tả

Trang 3

Môn Tiếng Việt bước đầu dạy cho học sinh nhận biết được những tri thức sơgiản, cần thiết bao gồm ngữ âm, chữ viết, từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp, chính

tả Trên cơ sở đó rèn luyện các kỹ năng ngôn ngữ: Nghe, nói, đọc, viết, nhằmgiúp học sinh sử dụng Tiếng Việt có hiệu quả trong suy nghỉ và trong giao tiếp Dạy học tiếng Việt nhằm phát triển các năng lực trí tuệ và phát huy tính tíchcực hoạt động của học sinh Thông qua môn Tiếng Việt dạy cho học sinh nhữngthao tác tư duy cơ bản, dạy cách học tập và rèn luyện những thói quen cần có ởTiểu học

Môn Tiếng Việt cần gợi mở cho học sinh cảm nhận cái hay, cái đẹp của ngônngữ từ Tiếng Việt và hiểu được phần nào cuộc sống xung quanh Môn Tiếng Việtbồi dưỡng cho học sinh những tình cảm chân chính, lành mạnh như: tình cảm giađình, tình thầy trò, tình bạn, tình yêu quê hương, đất nước, con người, đồng thờihình thành và phát triển ở học sinh những phẩm chất tốt đẹp của người công dân Chương trình Tiếng Việt tiểu học mới đưa ra mục tiêu giao tiếp bằng tiếng Việthình thành kỹ năng nghe, nói, đọc, viết lên hàng ưu tiên Những kiến thức vềtiếng Việt cùng với các kiến thức về xã hội, tự nhiên và con người, văn hóa, vănhọc cũng được cung cấp cho học sinh một cách sơ giản Trong chương trình mới,hoạt động giao tiếp là mục đích số một, vừa là phương tiện của dạy học TiếngViệt Chú trọng hơn đến kỹ năng sử dụng tiếng Việt, Chương trình tiểu học mới (ban hành theo Quyết định ngày 09/11/2001 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) xácđịnh mục tiêu như sau:

Môn Tiếng Việt ở tiểu học nhằm:

- Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt ( nghe,nói, đọc, viết ) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứatuổi Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các tao tác tưduy

- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểubiết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, văn hóa, văn học của Việt Nam ranước ngoài

- Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng,giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xãhội chủ nghĩa trong thời đại mới

1.3 Nhiệm vụ của phân Chính tả:

Phân môn Chính tả có một vị trí rất quan trọng ở bậc Tiểu học vì giai đoạnTiểu học là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành kĩ năng chính tả chohọc sinh Chính tả được bố trí thành một phân môn độc lập, có tiết dạy riêngtrong khi bậc trung học cơ sở không có

Phân môn chính tả trong nhà trường có nhiệm vụ giúp học sinh nắm vững cácquy tắc chính tả và hình thành kĩ năng chính tả, nói cách khác giúp học sinh hìnhthành năng lực và thói quen viết đúng chính tả (đúng về phụ âm đầu, vần, âmcuối, dấu thanh, độ cao thấp của từng con chữ) Từ đó giúp học sinh viết đẹp,viết nhanh, nét chữ đều đặn, mềm mại Qua phân môn chính tả còn rèn luyện cho

Trang 4

các em một số phẩm chất như: Tính kỉ luật, tính cẩn thận, óc thẩm mĩ, đồng thờibồi dưỡng cho học sinh lòng yêu quý Tiếng Việt Cách biểu thị tình cảm đó trongviệc viết đúng chính tả

Phân môn chính tả ở chương trình Tiểu học có hai kiểu bài là chính tả đoạnbài và chính tả âm - vần Nội dung các bài chính tả âm vần là luyện viết đúngchữ ghi tiếng có âm, vần, dấu thanh dễ viết sai chính tả Thời gian dành cho bàitập chính tả âm - vần dù là rất ngắn so với chính tả đoạn bài, song việc rèn kĩnăng qua bài tập đó có ý nghĩa rất lớn đối với học sinh Qua các bài tập chính tả

âm - vần các em được rèn luyện để tránh việc viết sai chính tả các chữ ghi tiếng

có âm, vần, dấu thanh dễ lẫn nhằm đạt mục tiêu môn học

Tính chất nổi bật của phân môn chính tả là thực hành bởi vì chỉ có thể hìnhthành các kĩ năng kĩ xảo cho học sinh thông qua thực hành, luyện tập

lẫn lộn như: l/n; s/x; ch/tr; r/d/gi…, phổ biến nhất là hai âm l/n các vần khó như:

ưu; iu, ươu; uơ; uê; êu;… sai về âm cuối như: i/y; ch/nh; về thanh điệu đó lànhững thanh khó phân biệt như thanh (?); (~), các em viết còn sai rất nhiều…Bởi vậy việc tìm hiểu, khảo sát các lỗi viết sai chính tả của học sinh để từ đó cónhững biện pháp, phương hướng khắc phục các lỗi sai cho học sinh Đó là mộtviệc làm có ý nghĩa đối với việc nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt nóichung và việc dạy học chính tả cho học sinh lớp 3 nói riêng, đặc biệt tìm ranhững biện pháp nâng cao hiệu quả dạy chính tả cho học sinh lớp 3 là vấn đề rấtcần thiết Quá trình dạy chính tả cho học sinh không chỉ sử dụng một phươngpháp mà phải sử dụng phối hợp nhiều phương pháp một cách hợp lí nhằm đạt tớihiệu quả dạy học cao Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn và nghiên cứu đề

tài: “ Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy chính tả cho học sinh lớp 3 ”.

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:

Nhìn vào thực trạng dạy chính tả hiện nay cho thấy: Để nâng cao chất lượngdạy chính tả còn là một việc làm rất hạn chế Việc rèn luyện kĩ năng viết chưađược chú ý đúng mức nên học sinh còn viết sai rất nhiều lỗi và chữ viết còn chưađược đẹp Qua khảo sát điều tra thực tiễn tôi đã thu thập được một số vấn đề lưu

ý sau:

2.1 Về chương trình: ở bậc Tiểu học, chương trình của môn chính tả có nhiều

dạng từ đơn giản đến phức tạp theo lứa tuổi của học sinh Đồng thời chươngtrình chính tả ở các lớp cũng có tính đồng tâm Càng lên lớp trên càng được mởrộng, nâng cao dần và phức tạp hơn Ở lớp 3 phân môn chính tả một tuần có haitiết với ba hình thức chính tả là: Chính tả Tập chép, chính tả Nghe - viết, Chính

tả Nhớ - viết Với yêu cầu chữ viết đều nét, rõ ràng, sạch sẽ, không mắc lỗi thôngthường, tốc độ viết 70 chữ trong 15 phút Bài viết dài khoảng 60 chữ Các yêu

Trang 5

cầu và nội dung hình thức của chương trình lớp 3 đòi hỏi học sinh cao hơn hẳn

so với các khối lớp 1,2

2.2 Thực tiễn của giáo viên: Trong thực tiễn, mỗi buổi lên lớp, giáo viên phải

dạy nhiều tiết, soạn giảng nhiều môn, lớp lại có nhiều học sinh nên thường giáoviên chỉ truyền thụ cho học sinh hết kiến thức quy định chép (viết), ít có thờigian để rèn luyện kĩ năng cho học sinh Không ít giáo viên chỉ dạy qua loa, chiếu

lệ, chứ không đi sâu vào các quy tắc, mẹo luật chính tả, để giúp học sinh viếtthông thạo Tiết chính tả nhớ - viết, yêu cầu học sinh phải học thuộc lòng ( thuộcđoạn trích viết chính tả từ bài tập đọc đã học ) nhớ được cả các dấu thanh, cácloại dấu câu Bản thân giáo viên phát âm cũng phải đọc cho học sinh thật chuẩn

2.3 Về phía học sinh: Trên thực tế, đã có một số học sinh có sự chuẩn bị chu

đáo, tích cực nên đã học tốt môn chính tả Cơ bản nắm được quy tắc, mẹo luậtchính tả nên đã vận dụng tốt vào các bài tập làm văn, sử dụng câu văn đúng ngữpháp, viết đúng chính tả Tuy nhiên vẫn còn một số em chưa ý thức được tầmquan trọng của môn học chính tả Nên các em chưa có sự chuẩn bị và phươngpháp học tập tốt Nhìn chung phân môn chính tả ở bậc tiểu học chưa được giáoviên và học sinh nhận thức đúng tầm quan trọng của nó trong nhà trường Mặtkhác một số bài còn chưa thực tế và cũng chưa phù hợp với địa phương, cácdạng bài tập cũng chưa thực sự kích thích được học sinh học tốt hơn

Từ những vấn đề lưu ý đã nêu trên để đề tài “ Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy chính tả cho học sinh lớp 3 ” đạt kết quả bản thân tôi đưa ra một số

biện pháp để nâng cao hiệu quả dạy chính tả cho học sinh lớp 3 trường như sau:

- Khảo sát phân loại lỗi chính tả của học sinh lớp 3B

- Tìm ra nguyên nhân của các lỗi chính tả mà học sinh thường mắc phải

- Một số biện pháp thích hợp để khắc phục các lỗi chính tả của học sinh như:luyện phát âm, phân tích so sánh, giải nghĩa từ, giúp học sinh nhớ mẹo luật chính

tả, giúp học sinh viết đúng chính tả qua các bài tập, giúp học sinh viết đúngchính tả qua các môn học khác

3 Giả thiết khoa học:

Nếu những biện pháp mà bản thân đề xuất và thực nghiệm dạy chính tả chohọc sinh lớp 3 tại đơn vị, thì đề tài sẽ có kết quả trong việc nâng cao hiệu quảdạy chính tả cho học sinh, mà còn giúp cho học sinh rèn luyện kỹ năng nghe,nói, đọc, viết, rèn luyện tính cẩn thận, óc thẩm mỹ, đức tính cần cù, sáng tạo,nâng cao việc học tập các môn học khác có liên quan… đồng thời giúp cho các

em thêm yêu quý tiếng Việt, góp phần bảo tồn, giữ gìn sự trong sáng của tiếngnói, chữ viết của dân tộc

Trang 6

Để việc giảng dạy chính tả cho học sinh lớp 3 đạt được mục tiêu người giáoviên cần phải căn cứ vào các cơ sở sau:

a) Cơ sở ngôn ngữ, văn học của việc dạy chính tả:

Tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập – âm tiết tính Trong hệthống các đơn vị âm ngữ tiếng Việt, âm tiết có vị trí đặc biệt quan trọng Âm tiếtbiểu hiện tập trung nhất, đầy đủ nhất những đặc điểm của tiếng Việt về mặc ngữ

âm Đồng thời, âm tiết là đơn vị cơ bản trên bình diện biểu hiện của hệ thống cácđơn vị ngữ pháp và hệ thống các đơn vị từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt

Âm tiết tiếng Việt có thể trực tiếp mang nghĩa và có kích thước giới hạn trùngvới kích thước giới hạn của các đơn vị từ vựng và ngữ pháp: hình vị, từ, câu, Cấu trúc âm tiết tiếng Việt chặt chẽ thường bao gồm các thành phần âm vị có vịtrí cố định kết hợp theo một trật tự không thay đổi Trên chữ viết, mỗi âm tiếttiếng Việt được ghi thành một khối, tách rời với âm tiết đứng trước và đứng saubằng khoảng cách gián đoạn, cho dù âm tiết đó có thể chỉ là một thành tố của cấutrúc hình vị hay từ Cấu trúc chữ - âm tiết có sự tương ứng với từng phần trongcấu trúc âm tiết Nếu cấu trúc âm tiết bao gồm 5 thành phần: âm đầu, âm đệm,

âm chính, âm cuối và thanh điệu thì cấu trúc chữ - âm tiết cũng bao gồm 5 thànhphần: chữ phụ âm, chữ bán âm, chữ nguyên âm, chữ phụ âm ( hoặc bán âm) vàdấu thamh

Như vậy, chính tả tiếng Việt về cơ bản là chính tả âm tiết Viết đúng chính tảtiếng Việt chủ yếu là biết viết đúng các tổ hợp chữ cái ghi âm tiết Do đó việc lựachọn chữ - âm tiết làm đơn vị để dạy trong quá trình dạy tiếng Việt nói chung,dạy chính tả nói riêng, cần được coi là vấn đề hiển nhiển, rõ ràng

Về cơ bản, chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm, nghĩa là mỗi âm vị đượcghi bằng một con chữ Nói cách khác, giữa cách đọc và cách viết thống nhất vớinhau Đọc như thế nào viết như thế ấy, nếu đọc sai sẽ dẫn đến viết chữ sai Tronggiờ học chính tả học sinh sẽ xác định được cách viết đúng, (đúng chính tả) bằngviệc tiếp nhận chính xác âm thanh của lời nói (Ví dụ: Hình thức chính tả nghe -viết) Cơ chế của cách viết đúng là xác lập được mối liên hệ giữa âm thanh vàchữ viết Giữa đọc và viết, giữa tập đọc và viết chính tả (chính tả nghe - viết) cómối quan hệ mật thiết với nhau, nhưng lại có quy trình hoạt động trái ngượcnhau Nếu tập đọc là sự chuyển hoá văn bản viết thành âm thanh thì chính tả lại

là sự chuyển hoá văn bản dưới dạng âm thanh thành văn bản viết Tập đọc có cơ

sở chuẩn mực là chính âm, còn tập viết (viết chính tả) có cơ sở là chính tự (chính

tự là biểu hiện của quy tắc chính tả ở một đơn vị “từ, ” một từ xét về mặt chính

tả được gọi là một chính tự)

Ta thường nói rằng chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm học, giữa cách đọc

và cách viết thống nhất với nhau là nói về nguyên tắc chung, còn trong thực tế,

sự biểu hiện của mối quan hệ giữa đọc (phát âm) và viết (viết chính tả) kháphong phú và đa dạng, mà chính tả Tiếng Việt không dựa hoàn toàn vào cáchphát âm thực tế của các phương ngữ đều có những sai lệch so với chính âm, nênkhông thể thực hiện phương châm “Nghe như thế nào, viết như thế ấy” được

Trang 7

Mặc dù chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm học, nhưng trong thực tế muốnviết đúng chính tả thì việc nắm nghĩa của từ rất quan trọng Hiểu nghĩa của từ làmột trong những cơ sở giúp người học viết đúng chính tả: Ví dụ: Nếu giáo viênđọc một từ có hình thức ngữ âm là “Za” thì học sinh có thể lúng túng trong việcxác định hình thức chữ viết của từ này Nhưng nếu đọc là “gia đình” hoặc “dathịt” hay “ ra vào ” (đọc trọn vẹn từ, mỗi từ gắn với một nghĩa xác định) thì họcsinh dễ dàng viết đúng chính tả Vì vậy, có thể hiểu rằng chính tả Tiếng Việt còn

là loại chính tả ngữ nghĩa Đây là một đặc trưng quan trọng về phương tiện ngônngữ của chính tả Tiếng Việt

b) Cơ sở tâm lý học của việc dạy chính tả:

Chính tả tiếng Việt thuộc loại chính tả ngữ âm Viết chính tả tiếng Việt chủyếu là ghi âm tiết, thể hiện các thành phần âm vị trong cấu trúc âm tiết thành chữ

- âm tiết Các chữ cái biểu tượng âm thanh, nói đúng hơn là biểu tưởng thínhgiác âm thanh, được tiếp nhận qua thính giác lời nói Bên cạnh biểu tượng thínhgiác âm thanh, viết đúng chính tả còn là sự tái tạo các mẫu chữ, là kỹ năng ghinhớ các biểu tượng thị giác về chữ - âm tiết và cách viết âm tiết Biểu tượng thịgiác về dạng thức viết có quan hệ với nhau Mối liên hệ chữ - nghĩa được phảnánh trong qua trình tiếp nhận, ghi nhớ và thể hiện bằng chữ viết Như vậy, lí luậntâm lí học hiện đại đề cao vai trò của ý thức, phát huy tính tích cực tự động hóa

trong việc hình thành kỹ năng chính tả ( theo D.N Bôgôiavlenxki, Các nguyên

tắc tâm lí của việc dạy chính tả, người dịch Lê A) Xuất phát từ cơ sở tâm lí học,

trong dạy học chính tả cần sử dụng phương pháp thích hợp có tác dụng khiêu gợi

và kích thích sự chú ý, tích cực hóa hoạt động tư duy của học sinh, làm cho họcsinh nhận thức được đầy đủ ý nghĩa thực tiễn của chính tả trong hoạt động giaotiếp bằng ngôn ngữ viết Những yêu cầu của kỹ năng chính tả được học sinh tiếpnhận và tự giác rèn luyện để ứng dụng có hiệu quả trong thực tiễn

1.1.2 Phương pháp, nguyên tắc dạy học của việc dạy chính tả:

a) Nguyên tắc dạy học chính tả theo khu vực:

Nguyên tắc này đòi hỏi nội dung dạy chính tả phải sát với phương ngữ, nghĩa

là xuất phát từ tình hình thực tế mắc lỗi chính tả của học sinh ở từng khu vực,từng Miền để hình thành nội dung giảng dạy Có xác định được những trọngđiểm chính tả cần dạy cho từng khu vực, từng địa phương thì mới tối ưu hóa việcdạy chính tả Chẳng hạn:

- Phương ngữ Bắc Trung Bộ: Chưa phân biệt rõ hai thanh hỏi (?) và thanh (~)

- Phương ngữ Nam Bộ: Có hiện tượng đồng hóa hai phụ âm đầu v và z khi phát

âm Cũng tương tự, đồng hóa hai cặp phụ âm cuối: n và ng, t và c.

Từ những nguyên tắc trên giáo viên bên cạnh nắm vững các trọng điểm chính tả,giáo viên cần có sự miền dẻo, linh hoạt, sáng tạo trong giảng dạy những nội dung

cụ thể sao cho sát hợp với đối tượng học sinh mình dạy

b) Nguyên tắc kết hợp giữa chính tả có ý thức và không có ý thức của việc dạy chính tả:

Trang 8

Như chúng ta đã biết, mục đích của việc dạy chính tả là hình thành cho học sinhnăng lực viết thành thạo, thuần thục chữ viết Tiếng Việt theo các chuẩn mựcchính tả, nghĩa là giúp học sinh hình thành các kĩ xảo chính tả.

Hình thành cho học sinh kĩ xảo chính tả là giúp học sinh viết đúng chính tảmột cách tự động hoá, không cần phải trực tiếp nhớ tới các quy tắc chính tả Đểđạt được điều này có thể tiến hành theo hai cách:

* Có ý thức và không có ý thức:

- Cách không có ý thức (còn gọi là phương pháp máy móc cơ giới): Chủ trươngdạy chính tả không cần đến sự tồn tại của các quy tắc chính tả, không cần hiểumối quan hệ giữa ngữ âm và chữ viết, những cơ sở từ vựng và ngữ pháp củachính tả mà chỉ đơn thuần là việc viết đúng từng trường hợp, từng từ cụ thể:Cách dạy học này tốn nhiều thời gian công sức, không thúc đẩy được sự pháttriển của tư duy chỉ củng cố trí nhớ máy móc ở một mức độ nhất định

- Cách có ý thức (còn gọi là phương pháp có ý thức, có tính tự giác): Chủ trươngcần phải bắt đầu từ việc nhận thức các quy tắc, các mẹo luật chính tả

Trên cơ sở đó tiến hành luyện tập và từng bước đạt tới các kĩ xảo chính tả Việchình thành kĩ xảo chính tả bằng con đường có ý thức sẽ tiết kiệm được thời giancông sức Đó là con đường ngắn nhất và có hiệu quả cao Đối với học sinh Tiểuhọc, cần vận dụng cả hai cách có ý thức và không có ý thức Trong đó: Cáchkhông có ý thức chủ yếu được sử dụng ở các lớp đầu cấp Cách có ý thức cầnđược sử dụng thích hợp ở các lớp cuối cấp của bậc Tiểu học

1.2.Cở sở thực tiễn:

1.2.1 Nội dung dạy học chính tả:

Ở chương trình Tiểu học nội dung dạy học chính tả được phân bố như sau:

a) Phân bố chương trình dạy chính tả:

Chương trình sách giáo khoa ở Tiểu học gồm hai quyển sách giáo khoa TiếngViệt 3 ( Tập 1, Tập 2) được phân bố ở 35 tuần học, có 04 tuần giành cho ôn tập( tuần 9: ôn tập giữa học kỳ I, tuần 18: ôn tập cuối học kỳ I, tuần 27: ôn tập giữahọc kỳ II, tuần 35: ôn tập cuối học kỳ II), được bố trí xen kẽ với các phần Tậpđọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn theo từng tuần Trong đó phân môn chính tảđược phân bố 02 tiết / tuần / năm học ( 31 tuần x 2 tiết = 62 tiết, có 04 tiết chính

tả tập chép, mỗi tuần xen kẻ 01 tiết chính tả tập chép ở tuần 1, 3, 5, 7, có 06 tiếtchính tả nhớ viết, mỗi tuần xen kẻ 01 tiết chính tả nhớ viết ở tuần 8, 16, 21, 28,

30, 31 và 50 tiết chính tả nghe viết Nội dung chương trình sách giáo khoa mới

đã thể hiện khá đầy đủ các nội dung chính tả tiếng Việt Đó là việc giải quyết cácvấn đề cụ thể:

- Trước hết, phải “ chính tả” hình nét các chữ Mỗi chữ ( gọi là chữ cái, con chữ,tương đương với một âm vị, chữ, tương đương với âm tiết ) được thể hiện bằnghình nét thành dạng chữ, kiểu chữ

- Trong trường hợp giữa âm và chữ có sự tương ứng 1 - 1 thì chính tả phải đảmbảo sự tương ứng đó, nghĩa là biểu hiện một âm bằng một chữ cái tương ứng

Trang 9

- Thực hiện các quy tắc viết hoa cho tất cả các trường hợp viết hoa của chữ viếttiếng Việt hiện đại, các quy tắc phiên âm, dùng dấu câu,…

Với các nội dung chủ yếu này, hệ thống bài tập trong sách giáo khoa hiện naynhìn chung đã kế thừa những ưu điểm của sách giáo khoa chương trình cải cáchgiáo dục về nội dung, các yêu cầu kỹ năng chính tả cũng như cách trình bài cácbài chính tả Nội dung chính tả trên được phản ánh qua việc phân bố của chương

và sách giáo khoa Tiểu học ở lớp 3 như sau:

* Các mức độ rèn luyện:

- Chính tả đoạn, bài: Nghe – viết, nhớ – viết một bài hoặc một đoạn bài có độ

dài trên dưới 60 chữ ( tiếng)

- Chính tả âm, vần: Phân biệt các âm tiết dễ lẫn phụ âm, vần, thanh, viết theo vị

trí nhớ viết các bài học thuộc lòng

* Các chỉ tiêu cần đạt:

- Viết đúng mẫu chữ, đúng chính tả, không mắc quá 05 lỗi/ 1 bài/ 60 tiếng ( chữ).Học sinh không vừa đánh vần, vừa viết, có ý thức phân biệt các âm, vần dễ lẫntrên chữ viết

- Phần chính tả trong sách giáo khoa lớp 3 được bố trí xen kẽ với các phần Tậpđọc, Luyện từ và câu, Tập làm văn theo từng tuần

- Cấu tạo một bài chính tả trong sách giáo khoa nhìn chung gồm các phần sau:

+ Chính tả đoạn – bài: Quy định khối lượng bài học sinh phải viết trong giờ học

chính tả Ví dụ: Dạy Chính tả (Nghe - viết): Chiếc áo len - Viết đoạn 4 (TV3-Tập

1, trang 22)

+ Chính tả âm – vần : Luyện viết các âm, vần khó hay các âm, vần dễ lẫn do ảnh

hưởng tiêu cực của các phát âm địa phương Mỗi bài tập chính tả âm – vầnthường gồm nhiều bài tập nhỏ đồng dạng Tùy theo từng đối tượng học sinh cụthể, giáo viên có thể lượt bớt 1 hoặc 2 bài tập nhỏ đồng dạng hoặc giao cho mỗinhóm học sinh làm một bài rồi chữa chung để tất cả học sinh đều nắm được cáchviết Bài tập khắc phục lỗi chính tả do ảnh hưởng tiêu cực của phát âm địaphương là kiểu bài tập lựa chọn Giáo viên cần tiến hành điều tra co bản, khảosát tình hình mắc lỗi chính tả của học sinh địa phương mình để xác định đượccác trọng điểm chính tả

Ví dụ: Bài tập 3b) - TV3, Tập 1, trang 132

Chọn từ thích hợp trong ngoặc đơn điền vào chỗ trống trong các câu sau:

- (bão, bảo) : Mọi người … nhau dọn dẹp đường làng sau cơn …

Trang 10

- (vẽ, vẻ) : Em … mấy bạn … mặt tươi vui đang trò chuyện.

- (sữa, sửa): Mẹ em cho em bé uống … rồi … soạn đi làm

- Sĩ số học sinh không quá đông, thuận lợi cho việc kiểm tra (chấm bài viết chính

tả thường xuyên, phát hiện lỗi sai kịp thời để học sinh sữa chữa và khắc phụcviết đúng)

- Học sinh có đầy đủ vở chính tả và vở bài tập Tiếng Việt (ghi đầy đủ nội dungbài tập chính tả)

- Giáo viên có kế hoạch rèn học sinh viết đúng chính tả ngay từ tuần đầu nămhọc (thống kê phân loại học sinh học yếu chính tả để theo dõi thường xuyên vàonhững giờ chính tả)

b) Khó khăn:

- Tình hình thực tế học sinh lớp ba ở đây vốn từ các em còn hạn chế Các em chỉhiểu nghĩa của các từ ngữ ở mức độ đơn giản trong khi từ ngữ Tiếng Việt vôcùng phong phú

- Đa số gia đình các em sống về nghề nông còn nghèo, cha mẹ còn lo đi làmđồng để kiếm sống, chưa thực sự quan tâm đến việc học của các em

- Phần đông học sinh lớp chưa có ý thức về học chính tả

Tỷ lệ

Sốlượng

Tỷ lệ

Sốlượng

Tỷ lệ

Sốlượng

Tỷ lệ

Cụ thể qua bài chính tả khảo sát đầu năm số lỗi học sinh còn mắc lỗi rất nhiều(có 2 em mắc đến 14 lỗi) Số lỗi học sinh sai qua bài viết: sai 0 - 1 lỗi (4 em),

Trang 11

2 - 3 lỗi (8 em), 4 - 5 lỗi (6 em), 6 - 10 lỗi (7 em), 11- 14 lỗi (7 em) trong đó: một

em mắc 11 lỗi, một em mắc 12 lỗi và hai em mắc 14 lỗi

Điều đó cho thấy kĩ năng viết của các em còn hạn chế làm ảnh hưởng tới kết quảhọc tập ở môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác

1.2.2.2 Nhận định nguyên nhân học sinh thường mắc lỗi chính tả:

- Học sinh viết sai chính tả chủ yếu do các em bị mất căn bản từ lớp dưới, chưanắm vững âm, vần, chưa phân biệt được cách phát âm của giáo viên, chưa hiểu

rõ nghĩa của từ, chưa có ý thức tự học, tự rèn ở nhà, chưa chú ý khi viết chính tả

- Học sinh viết sai chính tả do một số lỗi sau:

+ Lỗi do vô ý, chưa cẩn thận (như thiếu dấu phụ, thiếu dấu thanh).Ví dụ: mongmuôn ( thiếu dấu sắc)

+ Lỗi về các vần khó (uya, uyu, uênh, oang, oeo, ươu, uyên, uyêt, uêch, …).+ Lỗi do phát âm sai (at/ac, et/ec, an/ang, iu/iêu, iêc/iêt, ươc/ươt, …)

+ Lỗi do không hiểu nghĩa của từ (để dành/tranh giành, dở dang/giang sơn, …).+ Lỗi do không nắm được quy tắc chính tả (g chỉ được ghép với a, ă, â, o, ô, ơ, u,

ư và gh, ngh chỉ ghép với e, ê, i )

Qua thống kê các loại lỗi, tôi thấy học sinh thường mắc các loại lỗi sau:

a) Về thanh điệu: Học sinh chưa phân biệt được hai thanh hỏi và thanh ngã.

* Ví dụ: nghĩ hè (từ đúng: nghỉ hè ); suy nghỉ (từ đúng: suy nghĩ ); sữa lỗi (từđúng: sửa lỗi ), …

b) Về âm đầu:

- Học sinh còn viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây:

+ g/ gh: đua ge, gi bài

+ ng/ ngh: ngỉ nghơi

+ c/ k: céo cờ, cẹp tóc

+ s/ x : sẻ gỗ, chim xẻ.

+ d/ gi: dữ gìn, da vị

Qua thực tế giảng dạy trong nhiều năm tôi nhận thấy lỗi về s/x ; g/gh; ng/ngh;

d/gi là phổ biến hơn cả

c) Về âm chính:

Học sinh hay mắc lỗi khi viết chữ ghi các âm chính trong các vần sau đây:+ ai/ay/ây: máy bây (máy bay)

+ ao/au/âu: lâu bàn ghế (lau bàn ghế)

+ oe/eo: sức khẻo (sức khỏe)

+ iu/êu/ iêu: kì dịu (kì diệu)

+ ăm/âm: đỏ thấm (đỏ thắm); tối tâm (tối tăm)

+ăp/âp: gập gỡ (gặp gỡ)

+ ip/iêp: nhân diệp (nhân dịp)

+ ui/ uôi: cuối đầu (cúi đầu); cúi cùng (cuối cùng)

+ ưi/ ươi: trái bửi (trái bưởi); khung cưỡi (khung cửi)

+ ưu/ươu: mươu trí (mưu trí); con hưu (con hươu)

d) Về âm cuối:

Trang 12

Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:

+ at/ac: đất các (đất cát)

+ an/ang: cái bàng (cái bàn)

+ ăt/ăc: mặt quần áo (mặc quần áo)

+ ăn/ăng: khăng quàng (khăn quàng)

+ ât/âc: gậc đầu (gật đầu)

+ ân/âng: vân lời (vâng lời)

+ êt/êch: lệch bệt (lệt bệt)

+ ên/ênh: bện tật (bệnh tật)

+ iêt/iêc: thiếc tha (thiết tha)

+ uôn/uông: mong muống (mong muốn)

+ uôt/uôc: suốc đời (suốt đời)

+ ươn/ương: vường rau (vườn rau)

e) Lỗi viết hoa:

Đây là loại lỗi phổ biến và trầm trọng nhất trong các bài viết của các em, trongtất cả bài viết của học sinh trong lớp thì chỉ có một em duy nhất không sai lỗinào đó là em: Võ Hoàng Linh

Lỗi viết hoa của các em thường gặp ở 2 dạng:

• Không viết hoa đầu câu, danh từ riêng (tên riêng), tên địa danh:

*Ví dụ: Dạy Chính tả (Nghe - viết): Chiếc áo len - Viết đoạn 4 (TV3-Tập 1,

trang 22)

- Câu: Nằm cuộn tròn trong chiếc chăn bông ấm áp, Lan ân hận quá Học sinh

viết: “Nằm cuộn tròn trong chiếc chăn bông ấm áp, lan ân hận quá”

• Viết hoa tùy tiện: có 12/28 em.

* Ví dụ: Nghe – viết: Người mẹ (TV3 - Tập 1), trang 30

- Câu: Thần không hiểu rằng: vì con người mẹ có thể làm được tất cả Học sinh

lại viết: “Thần không hiểu rằng: Vì con, Người Mẹ có thể làm được tất cả”

Ngoài ra ở một số bài viết, học sinh trong lớp còn mắc các lỗi khác như: Trình

bày chưa sạch, chữ viết còn thiếu nét, thừa nét (ví dụ: “mềm” lại viết là “mền”;

“miền Nam” lại viết “miềm Nam”).

Qua khảo sát thống kê tôi thấy hầu hết các loại lỗi chính tả các em đều mắc(kể cả học sinh khá, giỏi) số lỗi mà các em mắc nhiều nhất là lỗi viết hoa, lỗi phụ

âm đầu và lỗi âm chính So với yêu cầu về kĩ năng viết chính tả (không quá 5 lỗitrong một bài) thì trình độ kĩ năng viết chính tả của học sinh còn quá thấp (số bài

có từ 6 lỗi trở lên chiếm 41%: khảo sát chính tả đầu năm)

Thực trạng trên đây là rất đáng lo ngại Vì vậy, bản tôi tiến hành nghiên cứu và

chọn đề tài:“ Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy chính tả cho học sinh lớp 3 ” đề tìm ra nhiều biện pháp giúp đỡ cho học sinh khắc phục lỗi chính tả.

Sau đây tôi xin đề xuất một số biện pháp dạy học chính tả cho học sinh lớp bađược thể hiện ở chương 2 của đề tài

CHƯƠNG II

Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy chính tả cho

Ngày đăng: 30/09/2017, 20:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w