1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tăng cường quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn tỉnh bắc giang

111 295 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tiêu của Nhà nước, NSNN cũng phải không ngừng đổi mới về mọi mặt từ việc xây dựng hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật đến khâu tổ chức, quản lý, điều hành, kế toán, quyết toán nhằm

Trang 1

MỤC LỤC

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục iv

Danh mục các chữ viết tắt vii

Danh mục bảng viii

Danh mục sơ đồ và biểu đồ viii

PHẦN I MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4

2.1 Cơ sở lý luận 4

2.1.1 Các khái niệm có liên quan 4

2.1.2 Vai trò của chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục 10

2.1.3 Nguyên tắc quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục 14

2.1.4 Nội dung quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục 17

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục 26

2.2 Cơ sở thực tiễn về tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục 29

Trang 2

2.2.1 Chủ trương của Đảng về quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự

nghiệp Giáo dục ở Việt Nam 29

2.2.2 Kinh nghiệm của một số quốc gia và một số địa phương về quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục 31

2.2.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan 37

2.2.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Bắc Giang 38

PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 40

3.1.1 Vị trí địa lý 40

3.1.2 Khái quát những đặc điểm kinh tế- xã hội của tỉnh có ảnh hưởng đến Giáo dục & Đào tạo 40

3.1.3 Khái quát về Giáo dục & Đào tạo trên địa bàn tỉnh 42

3.1.4 Hệ thống quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho giáo dục tỉnh Bắc Giang 44

3.2 Phương pháp nghiên cứu 46

3.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 46

3.2.2 Phương pháp phân tích dữ liệu 47

3.2.3 Hệ thống chỉ tiêu dùng trong phân tích 48

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 49

4.1 Thực trạng quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2012-2014 49

4.1.1 Thực trạng chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục tỉnh Bắc Giang 2012-2014 49

4.1.2 Thực trạng quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục của Bắc Giang giai đoạn 2012-2014 53

4.1.3 Đánh giá chung về quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục của Bắc Giang giai đoạn 2012-2014 67

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện giải pháp tăng cường quản lý chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục 73

4.2.1 Trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý chi ngân sách nhà nước 73

Trang 3

4.2.2 Bộ máy tổ chức và sự phân cấp quản lý của cơ quan tài chính 75

4.2.3 Chính sách của Nhà nước 77

4.2.4 Cơ chế quản lý có ảnh hưởng đến quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục 78

4.2.5 Trình độ và phương pháp quản lý của các cơ sở giáo dục 78

4.3 Giải pháp tăng cường quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục tỉnh Bắc Giang 79

4.3.1 Các căn cứ để đưa ra giải pháp 79

4.3.2 Một số giải pháp chủ yếu tăng cường quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho giáo dục tỉnh Bắc Giang 82

PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96

5.1 Kết luận 96

5.2 Kiến nghị 97

5.2.1 Đối với Trung ương 97

5.2.2 Đối với tỉnh 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

PHỤ LỤC 103

Trang 4

Giáo dục đào tạo Giáo dục & Đào tạo Hành chính sự nghiệp Hội đồng nhân dân Kho bạc nhà nước

Kế hoạch tài chính Kinh tế xã hội Ngân sách nhà nước Ngân sách địa phương

Sự nghiệp giáo dục Tài chính - Kế hoạch Trung học cơ sở Trung học phổ thông Thường xuyên ngân sách nhà nước

Uỷ ban nhân dân Xây dựng cơ bản

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Số bảng Tên bảng Trang 3.1 Số liệu về tình hình kinh tế của tỉnh BG (Tổng sản phẩm theo giá

hiện hành phân theo khu vực kinh tế) 41

3.2 Quy mô trường lớp các bậc học tỉnh Bắc Giang năm học 2013-2014 42

4.1 Cơ cầu chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục tỉnh BG 49

4.2 Cơ cấu chi thường xuyên NSNN cho các ngành học trong hệ thống giáo dục tỉnh Bắc Giang 50

4.3 Mức thu học phí tại tỉnh BG năm học 2011-2012 đến năm học 2014-2015 52

4.4 Tổng hợp tình hình thực hiện kế hoạch chi thường xuyên từ NSNN 55

4.5 Đánh giá về công tác lập dự toán chi thường xuyên 57

4.6 Tổng hợp thực hiện dự toán chi thường xuyên từ NSNN cấp theo nhóm mục chi 59

4.7 Tổng hợp thực hiện dự toán chi thường xuyên từ nguồn thu học phí theo nhóm mục chi 59

4.8 Đánh giá về công tác thực hiện dự toán chi TXNSNN tại cơ sở giáo dục 62

4.9 Đánh giá về công tác quyết toán chi TXNSNN tại cơ sở giáo dục 64

4.10 Thanh tra, kiểm tra các đơn vị cơ sở giáo dục giai đoạn 2012-2014 tại tỉnh Bắc Giang 65

4.11 Đánh giá về công tác thanh tra kiểm tra, giám sát chi thường xuyên 66

4.12 Những kết quả đạt được năm học 2013-2014 so với năm học 2011-2012 của giáo dục Bắc Giang 68

4.13 Số lượng, trình độ đội ngũ cán bộ quản lý tài chính 73

4.14 Đánh giá về năng lực của cán bộ làm công tác quản lý chi TXNSNN 74

4.15 Ảnh hưởng của bộ máy đến công tác quản lý chi TXNSNN 76

4.16 Một số quy định của chính sách ảnh hưởng đến công tác quản lý chi TXNSNN 77

4.17 Ảnh hưởng của cơ sở vật chất, trình độ và phương pháp quản lý đến công tác quản lý chi TXNSNN cho sự nghiệp giáo dục 78

Trang 6

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

STT Tên sơ đồ, biểu đồ Trang

Sơ đồ 2.1 Mô hình cấp phát ngân sách cho GD&ĐT 20

Sơ đồ 3.1 Mô hình bộ máy quản lý chi NSNN cho GDĐT 44 Biểu đồ 4.1 Mô tả chi ngân sách nhà nước cho GD&ĐT tỉnh Bắc Giang 51

Trang 7

PHẦN I

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đầu tư cho giáo dục từ chỗ được xem là phúc lợi xã hội chuyển sang đầu tư cho phát triển, kinh nghiệm cho thấy những nước phát triển kinh tế mạnh mẽ như Mỹ, Nhật Bản, các nước Tây Âu và các nước công nghiệp mới (NIC) như: Singapore, Hàn Quốc, khu vực Đài Loan đều là những nước có quan tâm và đầu tư cao nhất cho GDĐT con người Nguồn lực con người là nhân tố quyết định đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, nói đến nguồn lực con người chính là đề cập đến sức mạnh trí tuệ và trình độ của họ Song, trí tuệ và trình độ của con người không phải tự nhiên mà có, nó là kết quả của sự giáo dục, đào tạo và tự rèn luyện lâu dài Có thể nói, sự nghiệp giáo dục là mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia, nhằm tạo ra một nguồn nhân lực có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, đáp ứng ở mức cao nhất những yêu cầu của xã hội vì vậy, sự nghiệp giáo dục đã trở thành sự nghiệp sống còn của mỗi quốc gia

Tuy nhiên, đến nay GD&ĐT nước ta vẫn chưa thực sự là quốc sách hàng đầu, động lực quan trọng nhất cho phát triển Chất lượng GD&ĐT chưa đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH Quản lý sự nghiệp giáo dục còn nhiều bất cập, thiếu dự báo nhu cầu nguồn nhân lực cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đầu tư cho giáo dục còn mang tính bình quân; cơ sở vật chất

kỹ thuật của các cơ sở giáo dục còn thiếu và lạc hậu Chế độ, chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục chưa thỏa đáng Để khắc phục những tồn tại hạn chế nêu trên, Nghị quyết Trung ương 6 Khóa XI năm 2012 cũng đã chỉ rõ: Đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT là một yêu cầu khách quan và cấp bách của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Thực hiện chủ trương quan trọng đó của Đảng với vai trò điều tiết vĩ

mô nền KT-XH, là công cụ huy động nguồn lực để đảm bảo các nhu cầu chi

Trang 8

tiêu của Nhà nước, NSNN cũng phải không ngừng đổi mới về mọi mặt từ việc xây dựng hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật đến khâu tổ chức, quản lý, điều hành, kế toán, quyết toán nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu thực tiễn cũng như mục tiêu, định hướng của Đảng, của đất nước về phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay, để giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu, động lực quan trọng nhất cho phát triển đất nước Đặc biệt trong bối cảnh của tỉnh

BG là một tỉnh miền núi có nguồn thu ngân sách thấp, hàng năm luôn bội chi với mức thâm hụt lớn; chi thường xuyên ngân sách cho sự nghiệp giáo dục chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng chi thường xuyên ngân sách địa phương, thì vấn đề quản lý chặt chẽ, tiết kiệm, có hiệu quả các khoản chi ngân sách cho sự nghiệp giáo dục lại càng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng là yêu cầu cấp bách đặt ra cho địa phương trong giai đoạn hiện nay

Chính vì vậy, tôi chọn và nghiên cứu đề tài Luận văn: “Tăng cường quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn tỉnh Bắc Giang”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng về quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn tỉnh BG, đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn Tỉnh

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

1) Ngân sách nhà nước, chi ngân sách nhà nước và quản lý chi TXNSNN cho sự nghiệp giáo dục có vai trò và nội dung gì?

Trang 9

2) Kinh nghiệm quản lý chi TXNSNN cho sự nghiệp giáo dục ở một nước trên thế giới và địa phương trong nước nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm vận dụng vào thực tiễn của tỉnh BG?

3) Công tác quản lý chi TXNSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn tỉnh

BG những năm qua như thế nào?

4) Ưu, nhược điểm trong công tác quản lý chi TXNSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn tỉnh BG hiện nay là gì?

5) Giải pháp nào tăng cường quản lý chi TXNSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn tỉnh BG trong thời gian tới?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Tập trung nghiên cứu công tác quản lý chi TXNSNN cho sự nghiệp giáo dục địa bàn tỉnh BG Luận văn không xem xét đến khía cạnh chi đầu tư, thu quản lý các khoản thu khác của các cơ sở giáo dục

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách tại tỉnh BG: Quy trình lập, phân bổ dự toán; Chấp hành chi TXNSNN cho sự nghiệp giáo dục và quyết toán ngân sách cho sự nghiệp giáo dục trong những năm qua, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý chi TXNSNN cho sự nghiệp giáo dục những năm tiếp theo

- Về thời gian: Nghiên cứu giai đoạn 2012-2014, các đề xuất được thực hiện đến năm 2020 Thời gian nghiên cứu đề tài: Từ tháng 8/2014 đến tháng 10/2015

- Về không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn tỉnh BG

Trang 10

PHẦN II

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Các khái niệm có liên quan

2.1.1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước

Các nhà nước khác nhau đều tạo lập và sử dụng NSNN, thế nhưng người ta vẫn chưa có sự nhất trí về NSNN là gì? có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm NSNN mà phổ biến là:

Thứ nhất: NSNN là bản dự toán thu, chi tài chính của Nhà nước trong

một thời gian nhất định (thường là 1 năm) được Quốc hội thông qua để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Thứ hai: NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, là kế hoạch tài

chính cơ bản của Nhà nước

Thứ ba: NSNN là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình Nhà

nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau

Các ý kiến trên xuất phát từ cách tiếp cận vấn đề khác nhau và có nhân

tố hợp lý của chúng song chưa đầy đủ Khái niệm NSNN là một khái niệm trừu tượng nhưng NSNN là hoạt động tài chính cụ thể của Nhà nước, nó là một bộ phận quan trọng cấu thành tài chính nhà nước Vì vậy, khái niệm NSNN phải thể hiện được nội dung KT-XH của NSNN, phải được xem xét trên các mặt hình thức, thực thể và quan hệ kinh tế chứa đựng trong NSNN (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Tuy vậy, xét về các quan hệ kinh tế chứa đựng trong NSNN, các khoản thu - luồng thu nhập quỹ NSNN, các khoản chi - xuất quỹ NSNN đều phản ảnh những quan hệ kinh tế nhất định giữa Nhà nước với người nộp, giữa Nhà nước với cơ quan đơn vị thụ hưởng quỹ Hoạt động thu chi NSNN là hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ NSNN làm cho vốn tiền tệ, nguồn tài chính vận động giữa một bên là Nhà nước với một bên là các chủ thể phân phối và ngược lại trong quá trình phân phối các nguồn tài chính Hoạt động đó đa

Trang 11

dạng, phong phú được tiến hành trên mọi lĩnh vực và có tác động đến mọi chủ thể KT-XH Những quan hệ thu nộp và cấp phát qua quỹ NSNN là những quan hệ được xác định trước, được định lượng và Nhà nước sử dụng chúng để điều chỉnh vĩ mô KT-XH (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Như vậy, NSNN, nếu nhìn nhận ở hình thức biểu hiện bên ngoài, là một bản dự toán thu, chi bằng tiền của Nhà nước trong một năm Nếu xét về bản chất bên trong và trong suốt quá trình vận động, NSNN được coi là một phạm trù kinh tế, phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể kinh tế-xã hội Nó là khâu cơ bản, chủ đạo của tài chính Nhà nước, được Nhà nước sử dụng để động viên, phân phối một bộ phận của cải xã hội dưới dạng tiền tệ về tay Nhà nước để đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước và thực hiện các chức năng nhiệm vụ về kinh

tế, chính trị, xã hội, mà Nhà nước phải gánh vác

Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được

cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước (Quốc hội, 2002)

2.1.1.2 Khái niệm chi ngân sách nhà nước

Chi NSNN là việc phân phối, sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định Chi NSNN là quá trình phân phối lại các nguồn lực tài chính được tập trung vào NSNN và đưa chúng đến mục đích sử dụng Do vậy, chi NSNN là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động

và từng công việc thuộc chức năng của Nhà nước (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006;

Lê Hồng Hạnh, 2014)

Chi NSNN phản ảnh mục tiêu hoạt động của ngân sách, đó là đảm bảo

về mặt vật chất (tài chính) cho hoạt động của Nhà nước, với tư cách là chủ thể của NSNN trên hai phương diện:

- Duy trì sự tồn tại và hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước;

- Thực hiện các chức năng nhiệm vụ mà Nhà nước phải gánh vác Chi NSNN bao gồm hai giai đoạn kế tiếp nhau Giai đoạn thứ nhất là

Trang 12

phân phối (phân bổ) quỹ NSNN cho các đối tượng, mục tiêu khác nhau Quá trình phân phối được thực hiện trên dự toán và trên thực tế (chấp hành NSNN), dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau như chức năng, nhiệm vụ, quy mô hoạt động, đặc điểm tự nhiên, xã hội thể hiện cụ thể dưới dạng định mức, tiêu chuẩn, chế độ chi ngân sách Giai đoạn tiếp theo là việc sử dụng phần quỹ ngân sách đã được phân phối của các đối tượng được hưởng thụ, hay còn gọi là quá trình thực hiện chi tiêu trực tiếp các khoản tiền của NSNN NSNN được sử dụng ở các khâu tài chính Nhà nước trực tiếp, gián tiếp và các khâu tài chính khác phi Nhà nước Chi ngân sách kết thúc khi tiền đã thực sự được

sử dụng cho các mục tiêu đã định (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Các khoản chi NSNN rất đa dạng và phong phú nên có nhiều cách phân loại chi NSNN khác nhau:

- Theo tính chất phát sinh các khoản chi, chi NSNN bao gồm chi thường xuyên và chi không thường xuyên Chi thường xuyên: Là những khoản chi phát sinh tương đối đều đặn cả về mặt thời gian và quy mô các khoản chi Nói cách khác là những khoản chi được lặp đi lặp lại tương đối ổn định theo những chu kỳ thời gian cho những đối tượng nhất định Chi không thường xuyên: Là những khoản chi ngân sách phát sinh không đều đặn, bất thường như chi đầu tư phát triển, viện trợ, trợ cấp thiên tai, địch hoạ, trong đó, chi đầu tư phát triển được coi là phần chủ yếu của chi không thường xuyên (Quốc hội, 2002; Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

- Theo mục đích sử dụng cuối cùng, chi NSNN được chia thành chi tích luỹ và chi tiêu dùng Chi tích luỹ là các khoản chi mà hiệu quả của nó có tác dụng lâu dài các khoản chi này chủ yếu được sử dụng trong tương lai như: Chi đầu tư hạ tầng kinh tế-kỹ thuật, chi nghiên cứu khoa học công nghệ, công trình công cộng, bảo vệ môi trường, Chi tiêu dùng là những khoản chi nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu trước mắt và hầu như được sử dụng hết sau khi đã chi như: Chi cho bộ máy Nhà nước, an ninh, quốc phòng, văn hoá,

xã hội, Cụ thể, đó là các khoản chi lương, các khoản có tính chất lương và chi hoạt động Nhìn chung, chi tiêu dùng là những khoản chi có tính chất thường xuyên (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Trang 13

- Theo mục tiêu, chi NSNN được phân loại thành chi cho bộ máy Nhà nước và chi thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Chi cho bộ máy nhà nước: bao gồm chi đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm các trang thiết

bị cần thiết, chi trực tiếp cho đội ngũ cán bộ, công chức, chi phí thường xuyên để duy trì hoạt động của các cơ quan Nhà nước (văn phòng phí, hội nghị, công tác phí ) Chi thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước: Bao gồm chi cho

an ninh quốc phòng (những khoản chi duy trì hoạt động bình thường của các lực lượng an ninh, quốc phòng như chi đầu tư, chi mua sắm, chi hoạt động), chi phát triển văn hoá, GD&ĐT, giáo dục, đảm bảo xã hội, chi phát triển kinh tế là những khoản đầu tư cơ sở hạ tầng quan trọng cho nền kinh tế (Giao thông, điện và chuyển tải điện, thông tin liên lạc, thuỷ lợi và cấp thoát nước, sự nghiệp nhà ở) và một số nhiệm vụ khác như: Hỗ trợ các Đoàn thể chính trị - xã hội, đối ngoại (Chính phủ, 2003; Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

- Với tư cách là quỹ tiền tệ để thanh toán cho các nhu cầu của nhà nước

và tài trợ cho các đối tượng khác nhau trong xã hội (nhà nước với tư cách là người mua của thị trường), chi NSNN bao gồm: Chi thanh toán là chi trả cho việc Nhà nước được hưởng những hàng hoá, dịch vụ mà xã hội cung cấp cho nhà nước Chi thanh toán gắn với hai luồng đi lại: Tiền và hàng hoá, dịch vụ; Chi chuyển giao là những khoản chi mang tính chất một chiều từ phía nhà nước như tài trợ, trợ cấp, cứu trợ (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

- Theo quan điểm của kinh tế học công cộng, NSNN được xem là công cụ cung cấp nguồn lực để nhà nước thực hiện việc sản xuất và cung cấp những hàng hoá, dịch vụ cho xã hội Theo quan điểm này hàng hoá, dịch vụ được phân thành những hàng hoá, dịch vụ cá nhân (dùng cho những cá nhân) và hàng hoá, dịch vụ công cộng (nhiều người cùng sử dụng một lúc, khó hoặc không thể loại trừ được một người nào đó muốn sử dụng hàng hoá, dịch vụ đó)

Điểm phân biệt nổi bật của hai loại hàng hoá, dịnh vụ này thể hiện qua vấn đề thu hồi chi phí cung cấp chúng

Đối với hàng hoá, dịch vụ cá nhân thì chi phí cung cấp được thu hồi qua thị trường bằng việc mua bán thông qua giá cả Vì vậy, tư nhân sẵn sàng cung cấp những hàng hoá, dịch vụ cá nhân

Trang 14

Vấn đề thu hồi chi phí cung cấp đối với những hàng hoá dịch vụ công cộng không đơn giản, cơ chế giá của thị trường nhiều khi không thể áp dụng được vì không thể phân bổ để thu

Đối với những hàng hoá dịch vụ công cộng hữu hình, chúng có thể đo đếm được thì có thể áp dụng cơ chế giá nhưng không hoàn hảo bằng đối với hàng hoá dịch vụ cá nhân

Đối với những hàng hoá dịch vụ vô hình mà người ta có thể cảm nhận được bằng giác quan bình thường (như phát thanh truyền hình, giáo dục, GD&ĐT ) việc phân bổ theo khẩu phần rất khó khăn hoặc không thực hiện được Lúc này cơ chế giá thị trường hầu như không áp dụng được mà phải dùng cơ chế phí (mỗi người trả một số tiền nhất định, tổng số tiền của nhiều người sử dụng có thể đủ trang trải chi phí cung cấp dịch vụ đó) Tư nhân không hứng thú trong việc cung cấp những dịch vụ loại này, trừ một số dịch

vụ công cộng nhóm có tính loại trừ và tính phân bổ khẩu phần tương đối cao như trong giáo dục,

Đối với những hàng hoá, dịch vụ công cộng vô hình mà người ta không cảm nhận được bằng các giác quan bình thường mà qua tư duy mới cảm nhận được như đảm bảo quốc phòng - an ninh, môi trưòng, biện pháp bảo đảm trước thiên tai (các hàng hoá dịch vụ thuần tuý công cộng) thì tính loại trừ là không thể, cơ chế phí cũng không thực hiện được Cơ chế duy nhất là Nhà nước thực hiện cơ chế thuế (về bản chất là phân bổ chi phí bình quân theo đầu người được hưởng, dùng nghĩa vụ để bắt buộc) Do tư nhân không có quyền lực về chính trị - kinh tế to lớn như Nhà nước nên không thực hiện cơ chế này, do đó họ không tham gia cung cấp những hàng hóa, dịch vụ loại này Tuy nhiên, những hàng hoá, dịch vụ công cộng vô hình không cảm nhận được lại là những hàng hoá, dịch vụ rất quan trọng nên trách nhiệm cung cấp chính

là của Nhà nước

2.1.1.3 Khái niệm chi thường xuyên ngân sách nhà nước

Chi thường xuyên là một bộ phận của chi NSNN, nó phản ánh quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN để thực hiện các nhiệm vụ chi thường xuyên về

Trang 15

quản lý KT-XH của Nhà nước Xét về tính chất kinh tế, chi thường xuyên của NSNN bao gồm các khoản chi lương, phụ cấp lương, chi hàng hoá và dịch vụ phát sinh thường xuyên của Nhà nước (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006; Lê Hồng Hạnh, 2014)

2.1.1.4 Khái niệm quản lý chi ngân sách nhà nước

Quản lý chi NSNN là một bộ phận trong công tác quản lý NSNN nói chung Theo nghĩa rộng, quản lý chi NSNN là việc sử dụng NSNN làm công cụ quản lý

hệ thống xã hội thông qua việc sử dụng những chức năng vốn có của nó Còn theo nghĩa hẹp, quản lý chi NSNN là quản lý phần đầu ra của ngân sách thông qua các định mức, qui định chi tiêu hiện hành của mỗi quốc gia Quản lý chi thường xuyên

là một phần của quản lý chi NSNN (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

2.1.1.5 Khái niệm quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

Quản lý chi TXNSNN cho sự nghiệp giáo dục chính là việc sử dụng nguồn vốn từ ngân sách làm công cụ, thực hiện các hoạt động giáo dục hay chính là quản

lý đầu ra của ngân sách thông qua các chế độ, định mức hiện hành Chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục bao gồm các khoản chi cho bộ máy, con người như: Thanh toán cho các nhân, chi cho công việc hành chính Chi nghiệp vụ chuyên môn gắn với nhiệm vụ cụ thể của mỗi cơ sở giáo dục phục vụ cho việc dạy và học

(Nguyễn Ngọc Hùng, 2006; Nguyễn Việt Hải, 2010; Dương Thị Hoàn, 2014) 2.1.1.6 Sự nghiệp giáo dục

Theo nghĩa rộng, giáo dục là sự truyền đạt trí tuệ, kinh nghiệm của thế hệ trước cho thế hệ sau những kinh nghiệm sản xuất, đời sống và sinh hoạt Theo nghĩa hẹp, giáo dục trang bị những kiến thức hình thành nhân cách con người Giáo dục không phải sự áp đặt khuôn mẫu và càng không phải ngăn chặn sự nảy sinh các nhu cầu mà thông qua giáo dục để khơi dậy những hoài bão, những khát vọng và các nhu cầu chân chính (Dương Thị Hoàn, 2014)

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: "Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo

Trang 16

đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý

là khâu then chốt"; đồng thời, xác định đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao kết hợp với phát triển khoa học - công nghệ là một trong ba khâu đột phá của chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020

2.1.1.7 Chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

Nhằm mục đích nâng cao phúc lợi xã hội về mặt giáo dục và phát triển về thể chất, tinh thần của nhân dân Chi NSNN cho giáo dục là điều kiện không thể thiếu cho sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân nhằm nâng cao chất lượng dạy và học “Tiêu chuẩn hoá và hiện đại hoá các điều kiện dạy và học”, chi của NSNN cho sự nghiệp giáo dục là nhằm thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ đặt ra cho giáo dục kết hợp với các nguồn kinh phí khác (Quốc hội, 2002; Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Xét trên góc độ quản lí các khoản chi cho từng nhóm mục chi thì chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục bao gồm một số nhóm chi chủ yếu sau:

- Chi thường xuyên:

Nhóm 1: Chi thanh toán cho cá nhân (chi cho con người);

Nhóm 2: Chi hoạt động chuyên môn nghiệp vụ;

Nhóm 3: Chi về mua sắm, sửa chữa;

Nhóm 4: Các khoản chi khác

- Chi đầu tư xây dựng cơ bản

- Chi cho các chương trình, mục tiêu

2.1.2 Vai trò của chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

- NSNN là nguồn tài chính cơ bản, to lớn và ổn định để duy trì và phát triển hệ thống giáo dục quốc dân theo đúng chủ trương và đường lối của Đảng

- NSNN đảm bảo đời sống ổn định cho đội ngũ giáo viên, viên chức, nhân viên toàn ngành Giáo dục

- Đầu tư của NSNN tạo điều kiện ban đầu để khuyến khích người dân đóng góp xây dựng và sửa chữa trường lớp

- Thông qua chi NSNN để điều phối cơ cấu giáo dục toàn ngành

Trang 17

- Chi NSNN cho GDĐT là quá trình phân phối sử dụng một phần vốn tiền tệ từ quỹ NSNN để duy trì, phát triển sự nghiệp giáo dục theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp Vai trò của chi ngân sách không chỉ đơn thuần là cung cấp nguồn lực tài chính để duy trì, củng cố các hoạt động GDĐT mà còn

có tác dụng định hướng, điều chỉnh các hoạt động giáo dục phát triển theo đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006; Vũ Thị Nhài, 2007)

Trong thời kỳ phát triển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, toàn bộ vốn đầu tư cho GDĐT do NSNN đài thọ Nguồn kinh phí này đã đóng vai trò quyết định trong việc phát triển sự nghiệp GDĐT, góp phần phát triển nâng cao trình độ dân trí, đào tạo ra những lớp người có đủ năng lực, trí tuệ đóng góp vào sự nghiệp phát triển KT-XH của đất nước (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006; Vũ Thị Nhài, 2007)

Ngày nay, trong điều kiện phát triển nền kinh tế tri thức với quan điểm giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, Đảng và Nhà nuớc ta đã có chủ trương

xã hội hoá GDĐT Gắn liền với chủ trương đó, Nhà nước thực hiện mở rộng

đa dạng hoá các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục kể cả trong nước và nước ngoài, ưu tiên đầu tư và khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006; Vũ Thị Nhài, 2007)

Trong điều kiện có nhiều nguồn vốn đầu tư cho GDĐT như vậy những nguồn vốn đầu tư từ NSNN vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng Vai trò chủ đạo của chi NSNN cho GDĐT được thể hiện trên các mặt sau:

Thứ nhất: NSNN luôn là nguồn chủ yếu cung cấp tài chính để duy trì,

định hướng sự phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước Giáo dục, đào tạo là một lĩnh vực hoạt động xã hội rộng lớn mà Nhà nước luôn phải quan tâm và có sự đầu tư thích đáng, NSNN phải giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực cho GDĐT Chính

vì vậy mà nguồn vốn đầu tư của NSNN luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư cho GDĐT Mặc dù thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách để huy động nguồn lực ngoài ngân sách đầu tư

Trang 18

cho giáo dục như chính sách về đóng góp học phí, lệ phí tuyển sinh, đóng góp phí đào tạo từ phía các cơ sở sử dụng lao động, các chính sách ưu đãi về thuế, huy động các nguồn tài trợ khác cho GDĐT Tuy nhiên, do việc xã hội hoá trong lĩnh vực GDĐT thực hiện chậm, các thành phần kinh tế phi Nhà nước phát triển chưa mạnh nên sự đóng góp cho giáo dục còn hạn chế (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006; Vũ Thị Nhài, 2007)

Thứ hai: Chi NSNN đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố, tăng

cường số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy Hai yếu tố này lại ảnh hưởng có tính chất quyết định đến chất lượng hoạt động GDĐT

Có thể nói ngân sách giáo dục chủ yếu dành cho những chi phí liên quan đến con người Trong đó, chi lương và phụ cấp cho giáo viên luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi thường xuyên cho GDĐT Hiện nay, trừ một phần nhỏ các trường dân lập, bán công thì lương và phụ cấp cho giáo viên đều do NSNN đảm bảo Phải thấy rằng, lương của giáo viên là một vấn đề có ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc của giáo viên Một chính sách lương hợp lý cho phép giáo viên không cần kiếm việc làm thêm, ngược lại nếu mức lương giáo viên không đủ để trang trải những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống và không khuyến khích giáo viên toàn tâm toàn ý cho việc dạy học thì họ sẽ tìm mọi cách để có thêm thu nhập Ví dụ như dạy tư (thường là dạy chính những học sinh ở trường công) hoặc bằng nhiều hoạt động kinh doanh khác Hậu quả là

nó tác động tiêu cực đến chất lượng giáo dục được cung cấp qua hệ thống của Nhà nước (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006; Vũ Thị Nhài, 2007)

Trong xu hướng xã hội hoá GDĐT hiện nay, mặc dù một số gánh nặng về chi phí cho GDĐT được chia sẻ với khu vực tư nhân, song chi tiêu của tư nhân không tự nó dẫn đến chất lượng giáo dục tốt hơn, vì vậy vẫn cần nguồn kinh phí lớn và tăng nhanh từ NSNN để đáp ứng sự gia tăng về số học sinh, do sức ép dân số và chi phí để nâng cao chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực GDĐT (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006; Vũ Thị Nhài, 2007)

Thứ ba: Nguồn vốn NSNN là nguồn duy nhất đảm bảo kinh phí để thực

hiện các chương trình - mục tiêu quốc gia về giáo dục như: Dự án “Hỗ trợ thực hiện phổ cập giáo dục THCS duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và

Trang 19

hỗ trợ phổ cập giáo dục trung học; Dự án đổi mới chương trình giáo dục, sách giáo khoa và tài liệu giảng dạy; Dự án đào tạo cán bộ tin học và đưa tin học vào nhà trường; Dự án đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục; Dự án hỗ trợ giáo dục miền núi, vùng dân tộc thiểu số và vùng có nhiều khó khăn; Dự án tăng cường cơ sở vật chất các trường học Đây là những chương trình mục tiêu lớn, cấp bách cần phải thực hiện và đòi hỏi phải có sự đầu tư kinh phí khá lớn Vì vậy, Nhà nước phải tập trung ngân sách đầu tư thực hiện cho được các chương trình này (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006; Vũ Thị Nhài, 2007).\

Thứ tư: Thông qua cơ cấu, định mức ngân sách cho giáo dục có tác

dụng điều chỉnh cơ cấu, quy mô giáo dục trong toàn ngành Trong điều kiện

đa dạng hoá GDĐT như hiện nay thì vai trò định hướng của Nhà nước thông qua chi ngân sách để điều phối quy mô, cơ cấu giữa các cấp học, ngành học, giữa các vùng là hết sức quan trọng đảm bảo cho GDĐT phát triển cân đối, theo đúng định hướng đường lối của Đảng, Nhà nước (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006; Vũ Thị Nhài, 2007)

Thứ năm: Sự đầu tư của NSNN có tác dụng hướng dẫn, kích thích thu

hút các nguồn vốn khác đầu tư cho GDĐT Nhà nước đầu tư hình thành nên các trung tâm giáo dục có tác dụng thu hút sự đầu tư của các tổ chức, cá nhân phát triển các loại dịch vụ phục vụ cho trung tâm giáo dục đó Mặt khác, trong điều kiện các tổ chức, cá nhân chưa có đủ tiềm lực đầu tư độc lập cho các dự án giáo dục thì sự đầu tư vốn của NSNN là số vốn đối ứng quan trọng

để thu hút các nguồn lực khác cùng đầu tư cho giáo dục Thông qua sự đầu tư của Nhà nước vào cơ sở vật chất và một phần kinh phí hỗ trợ đối với các trường bán công, tư thục, dân lập có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ phong trào

xã hội hoá giáo dục về mặt tài chính (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006; Vũ Thị Nhài, 2007)

Qua phân tích các vấn đề trên cho thấy, mức độ đầu tư của NSNN được coi như một trong các yếu tố tác động có tính chất quyết định đối với việc hình thành, mở rộng và phát triển hệ thống giáo dục quốc gia Từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông đến giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề, giáo dục đại học và sau đại học

Trang 20

Sự tăng cường đầu tư ngân sách cho giáo dục sẽ dẫn đến kết quả là nguồn nhân lực phát triển, tạo ra sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, trên cơ sở

đó NSNN tăng thu và có điều kiện để đầu tư trở lại cho GDĐT cao hơn nữa

Đó là mối quan hệ nhân quả giữa đầu tư cho GDĐT với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội, đó cũng chính là con đường nhanh nhất, ngắn nhất để đạt được các mục tiêu KT-XH đã đặt ra (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006; Quốc hội, 2002)

2.1.3 Nguyên tắc quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

- Nguyên tắc quản lý theo dự toán: Đây là nguyên tắc xuất phát từ yêu

cầu bắt buộc của chu trình quản lý tài chính nhà nước Những khoản chi thường xuyên một khi đã được ghi vào dự toán chi và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt được coi là chỉ tiêu pháp lệnh Xét trên giác độ quản lý, số chi thường xuyên đã được ghi trong dự toán thể hiện sự cam kết của cơ quan chức năng quản lý tài chính nhà nước với các đơn vị thụ hưởng NSNN Lập dự toán là khâu đầu tiên và cũng là khâu quan trọng nhất cho toàn bộ chu trình chi thường xuyên, nó quyết định số lượng, chất lượng phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính Lập dự toán còn là căn cứ quan trọng cho việc quản lý và kiểm soát chi thường xuyên phát sinh hàng năm Hay nói cách khác, quản lý theo dự toán đối với chi thường xuyên là cơ sở để đảm bảo cân đối NSNN, tạo điều kiện cho việc điều hành ngân sách, hạn chế tính tuỳ tiện của các đơn vị trong quá trình sử dụng ngân sách Tuy vậy, điều quan trọng ở đây là cần phải nâng cao chất lượng lập

và xét duyệt dự toán trên cơ cở bố trí ngân sách sát, đúng với thực tế nhiệm vụ của từng đối tượng, từng loại hình hoạt động Mức chi cho mỗi hoạt động được xác định theo đối tượng riêng, định mức riêng, hoặc ngay giữa các cơ quan trong cùng một lĩnh vực hoạt động nhưng điều kiện về trang bị cơ sở vật chất có sự khác nhau, qui mô và tính chất hoạt động có sự khác nhau sẽ dẫn đến mức chi từ NSNN cho các cơ quan đó cũng có sự khác nhau (Quốc hội, 2002; Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

- Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả, tiết kiệm

Một trong những điều kiện để đạt được hiệu quả là tiết kiệm Hiệu quả ở đây là phải gắn với mục tiêu của các khoản chi và mức chi phí cần thiết tối thiểu

Trang 21

để đạt được mục tiêu đó Tiết kiệm và hiệu quả là nguyên tắc chủ đạo của mọi hoạt động kinh tế, tài chính nói chung và hoạt động chi thường xuyên nói riêng, bởi khả năng cung ứng nguồn tài chính có hạn trong khi nhu cầu chi tiêu lại gia tăng với tốc độ nhanh Do vậy, trong quá trình phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính phải tính toán sao cho với chi phí thấp nhất nhưng vẫn đạt hiệu quả một cách tốt nhất (Quốc hội, 2002; Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Ngoài ra, do đặc thù hoạt động của NSNN diễn ra trên phạm vi rộng, đa dạng

và phức tạp, nhu cầu chi từ NSNN luôn gia tăng với tốc độ nhanh trong khi khả năng huy động nguồn thu có hạn nên càng phải tôn trọng nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả trong quản lý chi thường xuyên của NSNN

Phải xây dựng được các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu phù hợp với từng đối tượng hay tính chất công việc, đồng thời lại phải có tính thực tiễn cao Chỉ có như vậy các định mức, tiêu chuẩn chi của NSNN mới trở thành căn cứ pháp lý xác đáng phục vụ cho quá trình quản lý chi (Quốc hội, 2002; Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Phải thiết lập các hình thức cấp phát đa dạng và lựa chọn hình thức cấp phát áp dụng cho mỗi loại hình đơn vị một cách phù hợp với yêu cầu quản lý của từng nhóm mục chi (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Biết lựa chọn thứ tự ưu tiên cho các loại hình hoạt động hoặc theo nhóm các mục chi sao cho với tổng số chi có hạn nhưng khối lượng công việc vẫn được hoàn thành và đạt chất lượng cao Để đạt được điều này, đòi hỏi phải có các phương án phân phối và sử dụng kinh phí khác nhau, trên cơ sở đó mà lựa chọn phương án tối ưu nhất cho cả quá trình lập dự toán, phân bổ và sử dụng kinh phí

Có thể nói tiết kiệm, hiệu quả là hai mặt của nguyên tắc này, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau Vì vậy, khi xem xét đến vấn đề tiết kiệm các khoản chi từ NSNN phải đặt trong sự ràng buộc với hiệu quả và ngược lại (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Khi đánh giá tính hiệu quả của chi NSNN phải có quan điểm toàn diện, phải xem xét mức độ ảnh hưởng của mỗi khoản chi thường xuyên tới các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội khác và tính đến thời gian phát huy tác dụng của nó Vì

Trang 22

vậy, khi nói tới hiệu quả của chi TXNSNN người ta hiểu đó là những lợi ích về kinh tế và xã hội mà toàn xã hội được thụ hưởng

Sự tôn trọng nguyên tắc quản lý theo dự toán đối với các khoản chi thường xuyên của NSNN được nhìn nhận qua các giác độ: Mọi nhu cầu chi thường xuyên dự kiến cho năm kế hoạch nhất thiết phải được xác định trong dự toán kinh phí từ đơn vị cơ sở thông qua các bước xét duyệt của các cơ quan quyền lực nhà nước từ thấp đến cao Quyết định cuối cùng cho dự toán chi thường xuyên thuộc về Quốc hội, HĐND các cấp Chỉ sau khi dự toán đã được Quốc hội, HĐND các cấp phê duyệt và thông qua mới trở thành căn cứ chính thức

để phân bổ số chi thường xuyên cho mỗi ngành, mỗi cấp Do vậy, quyết định của Quốc hội, HĐND các cấp về việc thông qua dự toán chi thường xuyên từ NSNN cho các cấp, các ngành như là một đạo luật điều chỉnh đến hoạt động của lĩnh vực này Vì vậy, các cấp, các ngành phải có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh các chỉ tiêu thuộc dự toán chi thường xuyên đã được thông qua (Quốc hội, 2002; Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Trong quá trình tổ chức thực hiện dự toán chi thường xuyên mỗi ngành, mỗi cấp, mỗi đơn vị phải căn cứ vào dự toán kinh phí đã được duyệt mà phân bổ

và sử dụng cho các khoản, mục đó và hạch toán theo đúng mục lục NSNN đã quy định (Vũ Thị Nhài, 2007; Quốc hội, 2002)

- Nguyên tắc chi trực tiếp qua KBNN

Quản lý quỹ NSNN là một trong những chức năng quan trọng của KBNN

Vì vậy, KBNN vừa có quyền, vừa có trách nhiệm phải kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chi NSNN, đặc biệt là các khoản chi thường xuyên; chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục là chi thường xuyên nên phải quán triệt nguyên tắc này Thực hiện kiểm soát chi trực tiếp qua KBNN sẽ nâng cao trách nhiệm cũng như phát huy vai trò của các cấp, các ngành, các đơn vị có liên quan đến công tác quản lý

và sử dụng NSNN góp phần lập lại kỷ cương tài chính (Bộ Tài chính, 2011; Quốc hội, 2002)

Một số vấn đề cơ bản khi thực hiện nguyên tắc chi trực tiếp qua KBNN đó là: Một là, mọi khoản chi NSNN phải được kiểm tra, kiểm soát trước, trong

và sau quá trình cấp phát, thanh toán Các khoản chi phải có trong dự toán được duyệt, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trang 23

qui định đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng kinh phí chuẩn chi (Bộ Tài chính, 2011; Quốc hội, 2002)

Hai là, tất cả các cơ quan, đơn vị, các chủ dự án sử dụng kinh phí NSNN (gọi chung là đơn vị sử dụng kinh phí NSNN) phải mở tài khoản tại KBNN, chịu

sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan tài chính, KBNN trong quá trình lập dự toán, phân bổ hạn mức, cấp phát, thanh toán, hạch toán và quyết toán NSNN (Bộ Tài chính, 2011; Quốc hội, 2002)

Ba là, KBNN có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi

và thực hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi NSNN theo đúng qui định, tham gia với các cơ quan tài chính, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụng NSNN và xác nhận số thực chi NSNN qua kho bạc của các đơn vị KBNN có quyền tạm đình chỉ, từ chối thanh toán, chi trả

và thông báo cho các đơn vị sử dụng NSNN biết đồng thời gửi cho cơ quan tài chính đồng cấp giải quyết trong các trường hợp như: Chi không đúng mục đích, đối tượng theo dự toán được duyệt; chi không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu tài chính của nhà nước; không đủ các điều kiện về chi theo quy định (Bộ Tài chính, 2011; Quốc hội, 2002)

Bốn là, mọi khoản chi đều phải được hạch toán bằng đồng Việt Nam theo

từng niên độ ngân sách, cấp ngân sách và mục lục NSNN Các khoản chi bằng ngoại tệ, hiện vật, ngày công lao động được qui đổi và hạch toán bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá ngoại tệ, giá hiện vật, ngày công lao động do cơ quan nhà nước

có thẩm quyền qui định (Bộ Tài chính, 2011; Quốc hội, 2002)

Năm là, trong quá trình quản lý, cấp phát, quyết toán chi NSNN, các

khoản chi sai phải thu hồi giảm chi Căn cứ vào quyết định của cơ quan tài chính hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, KBNN thực hiện việc thu hồi giảm chi NSNN (Bộ Tài chính, 2011; Quốc hội, 2002)

2.1.4 Nội dung quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

Công tác quản lý chi TXNSNN cho sự nghiệp giáo dục là quá trình phân

Trang 24

giáo dục Đây là một khoản chi hết sức quan trọng, được diễn ra một cách thường xuyên, liên tục, đòi hỏi phải nắm rõ nội dung cụ thể của từng khoản chi để tiến hành chính xác, hiệu quả Để làm được điều đó, Nhà nước phải sử dụng nhiều biện pháp và công cụ khác nhau đó là:

2.1.4.1 Tổ chức bộ máy quản lý chi

Tổ chức quản lý của ngành Giáo dục đã trải qua nhiều thay đổi nhất là do

xu hướng phân cấp nhiều hơn Theo quy định chung thì Sở GD&ĐT quản lý các trường THPT trên địa bàn tỉnh, UBND huyện quản lý các trương mầm non, tiểu học và THCS trên địa bàn huyện; và một số trường đào tạo dạy nghề do bộ quản

lý, trường cao đẳng do UBND tỉnh quản lý (Bộ Tài chính, 2011; Quốc hội, 2002; Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Bộ máy quản lý tài chính cho GDĐT được thực hiện từ cấp trung ương đến địa phương Để đảm bảo hiệu lực và hiệu quả của quản lý nhà nước trong điều kiện cơ chế thị trường, bộ máy quản lý nhà nước phải được đổi mới một cách đồng

bộ Con người làm công tác tài chính phải có trình độ chuyên môn, đáp ứng được nhiệm vụ ngày càng phức tạp của cơ chế tài chính Những nhà quản lý kinh tế phải

có tầm nhìn xa, sáng tạo trong hoạch định tài chính tương lai (Bộ Tài chính, 2011; Quốc hội, 2002; Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Về hệ thống cơ quan tham gia quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục:

- Các cơ quan Trung ương: Bộ Tài chính, Bộ GD&ĐT và KBNN Trung ương;

- Các cơ quan quản lý ở địa phương: Sở Tài chính, Sở GD&ĐT và KBNN tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, KBNN các huyện, thị xã, thành phố nơi đơn vị sử dụng ngân sách giao dịch; các phòng TC-KH, phòng GD&ĐT huyện thực hiện nhiệm vụ quản lý tài chính đối với các đơn vị sử dụng NSNN trực thuộc ngành GD&ĐT.

2.1.4.2 Lập dự toán chi thường xuyên

Lập dự toán NSNN là khâu đầu tiên của chu trình ngân sách Đây là quá trình phân tích, đánh giá giữa khả năng và nhu cầu các nguồn tài chính của Nhà

Trang 25

nước để từ đó xác lập các mục tiêu thu, chi, dự trữ ngân sách hàng năm một cách đúng đắn, có căn cứ khoa học và thực tiễn, đồng thời trên cơ sở đó có thể xác lập những biện pháp lớn về KT-XH nhằm tổ chức thực hiện tốt chỉ tiêu đã đề ra Dự toán chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp Giáo dục áp dụng theo phương pháp lập dự toán truyền thống

Căn cứ lập dự toán chi thường xuyên: Các nội dung này tác giả căn cứ

vào các quy định tại Điều 37 của Luật NSNN Việt Nam và Điều 30 của Nghị định số 60/2003/NĐ-CP để nghiên cứu Cụ thể:

Một là, căn cứ vào chủ trương của Đảng và Nhà nước về duy trì sự nghiệp

GD & ĐT trong từng thời kỳ

Hai là, căn cứ vào kết quả phân tích đánh giá tình hình quản lý và sử dụng kinh phí của năm trước

Ba là, căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch phát triển GD&ĐT, đặc biệt là các chỉ tiêu có liên quan trực tiếp đến việc cấp phát kinh phí của ngân sách trong năm như chỉ tiêu về số lượng trường lớp, biên chế, số lượng học sinh

Bốn là, căn cứ vào nhu cầu kinh phí, khả năng huy động các nguồn vốn

ngoài ngân sách cũng như khả năng đáp ứng của NSNN trong năm để lập dự toán chi

Năm là, căn cứ các chính sách, chế độ tiêu chuẩn, định mức chi tiêu sử

dụng kinh phí NSNN hiện hành và dự đoán những điều chỉnh hoặc thay đổi có thể xảy ra trong năm

Qui trình lập dự toán chi thường xuyên (Quy định tại Điều 34, Nghị định

60/2003/NĐ-CP): Quy trình lập dự toán và cấp phát NSNN cho GD&ĐT được thực hiện như sau:

+ Các đơn vị tiến hành lập dự toán thu, chi thuộc nhiệm vụ được giao gửi

cơ quan quản lý giáo dục cấp trên trực tiếp, cơ quan quản lý giáo dục cấp trên tổng hợp, xem xét, điều chỉnh để hoàn thiện, sau đó phối hợp với cơ quan tài chính cùng cấp dự thảo kế hoạch ngân sách và trình UBND tỉnh phê duyệt (Chính phủ, 2003)

Trang 26

+ Trên cơ sở quyết định của Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Sở Tài chính có trách nhiệm giúp UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định dự toán thu, chi ngân sách tỉnh, phương án phân bổ ngân sách cấp tỉnh và mức phân bổ từ ngân sách cấp tỉnh cho ngân sách cấp dưới (Chính phủ, 2003)

+ Căn cứ vào định mức phân bổ ngân sách Thủ tướng Chính phủ quyết định, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương dựa vào khả năng tài chính ngân sách và đặc điểm tỉnh hình ở địa phương trình HĐND ban hành định mức phân bổ chi ngân sách cho giáo dục để làm căn cứ xây dựng dự toán và phân bổ ngân sách giáo dục địa phương Mỗi địa phương khi phân bổ ngân sách chi thường xuyên cho các cơ sở giáo dục thường sử dụng các tiêu chí sau: Số học sinh, số giáo viên, số lớp, vùng, loại hình trường (Chính phủ, 2003)

+ Căn cứ vào Nghị quyết HĐND cấp tỉnh, Sở Tài chính trình UBND quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc tỉnh Sở GD&ĐT, UBND các huyện, thành phố (theo phân cấp) sau khi nhận được dự toán thu, chi ngân sách giáo dục được cơ quan có thẩm quyền giao tiến hành phân bổ và giao dự toán thu, chi ngân sách cho từng cơ sở giáo dục trực thuộc (Bộ Tài chính, 2011; Quốc hội, 2002; HĐND tỉnh Bắc Giang, 2010)

Các trường trực thuộc phòng GD&ĐT Các trường trực thuộc

Sở GD&ĐT

Trang 27

2.1.4.3 Tổ chức thực hiện chi thường xuyên

Tổ chức thực hiện chi hay còn gọi là chấp hành dự toán chi, đây là khâu tiếp theo khâu lập dự toán của một chu trình ngân sách, sau khi được cơ quan có thẩm quyền giao kế hoạch Chấp hành dự toán chi chính là quá trình quản lý và

sử dụng các nguồn tài chính cho GD&ĐT sao cho tiết kiệm và hiệu quả

- Đối với nguồn NSNN:

Các đơn vị giáo dục căn cứ vào dự toán của cơ quan có thẩm quyền giao

để chi trả tiền lương, tiền công cho người lao động, chi chuyên môn nghiệp vụ, chi tăng cường cơ sở vật chất

Thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ về quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập; Thông tư 71/2006/TT-BTC ngày 09/8/2006 của Bộ Tài chính hường dẫn thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP; Thông tư 81/2006/TT-BTC ngày 06/9/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kiểm soát chi đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính Hầu hết các cơ sở giáo dục được tự chủ về tài chính, được chủ động bố trí kinh phí trên cơ sở chế độ, chi tiêu tài chính hiện hành của Nhà nước để đảm bảo thực hiện giảng dạy, học tập và phù hợp với đặc điểm của nhà trường Các đơn vị tự chủ về tài chính xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ để quy định các mức chi quản lý hành chính (công tác phí, hội nghị, điện thoại ), chi nghiệp vụ chuyên môn, các định mức chi có thể cao hơn hoặc thấp hơn mức chi

do Nhà nước quy định trong phạm vi nguồn kinh phí của đơn vị

Hàng năm sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp khác theo quy định, phần kinh phí tiết kiệm chi, chênh lệch thu lớn hơn chi của các hoạt động dịch vụ (nếu có) được sử dụng chi thu nhập tăng thêm, trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, trích lập quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi,quỹ

dự phòng ổn định thu nhập theo quy định

- Đối với các khoản thu sự nghiệp:

Trang 28

Ngoài dự toán NSNN cấp hàng năm, các cơ sở giáo dục còn có các nguồn thu học phí, lệ phí thi, các nguồn thu dịch vụ, thu khác Các nguồn thu này đơn

vị xây dựng dự toán thu, chi trong năm và quản lý, sử dụng như nguồn NSNN cấp Thu học phí và lệ phí thi được thực hiện theo hình thức ghi thu, ghi chi vào NSNN Số thu được để lại nếu chưa chi hết được chuyển sang năm sau sử dụng

Với nguồn thu từ học phí, theo quy định các trường dành tối thiểu 40% số thu học phí để bổ sung quỹ lương theo chế độ, số còn lại chi công tác quản lý thu, chi nghiệp vụ chuyên môn, chi tăng cường cơ sở vật chất

2.1.4.4 Kiểm tra, kiểm soát chi

Xuất phát từ tính chất, đặc điểm các khoản chi TXNSNN có phạm vi rộng, tác động đến nhiều lĩnh vực trong xã hội nên cơ chế kiểm soát luôn đặt ra cần thiết và cấp bách

Công tác kiểm soát chi là nhiệm vụ của tất cả các cấp, các ngành, các đơn vị Luật NSNN qui định chi ngân sách chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện:

+ Đã có trong dự toán được duyệt (Quốc hội, 2002);

+ Đúng chế độ tiêu chuẩn định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định (Quốc hội, 2002);

+ Đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người ủy quyền chuẩn chi (Quốc hội, 2002)

- Các bước tiến hành kiểm tra, kiểm soát chi:

Một là, Kiểm soát trước khi chi: Kiểm soát các hồ sơ trước khi gửi đến cơ

quan tài chính, KBNN khi đơn vị sử dụng ngân sách xin được cấp phát kinh phí Mục đích là để giám sát việc chấp hành các điều kiện thanh toán, đảm bảo đơn vị thủ hưởng ngân sách phải lập dự toán kinh phí hàng năm, được cấp có thẩm quyền phê duyệt trên cơ sở đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu NSNN do cơ quan

có thẩm quyền quy định Hoạt động này được thực hiện trong suốt quá trình từ khi đơn vị thụ hưởng ngân sách gửi dự toán chi tới cơ quan tài chính cho đến khi khoản chi đó được cơ quan tài chính xem xét, thông báo chi, được thủ trưởng đơn

vị chuẩn chi và được đưa tới KBNN để thanh toán (Bộ Tài chính, 2008)

Trang 29

Hai là, Kiểm soát trong khi chi: Kiểm soát trong khi chi nhằm đảm bảo

chi đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức Đảm bảo tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ thanh toán và thỏa mãn các điều kiện quy định đối với việc thực hiện chi NSNN (Bộ Tài chính, 2008)

Ba là, Kiểm soát sau khi chi: Thực chất là giai đoạn kiểm tra việc chấp

hành pháp luật NSNN trong hoạt động quản lý tài chính của đơn vị sử dụng NSNN KBNN có trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát báo cáo thực chi của đơn vị để thực hiện thủ tục cấp phát thanh toán và thu hồi tạm ứng theo quy định (Bộ Tài chính, 2008)

Việc kiểm tra giám sát của cơ quan thanh tra, kiểm toán, KBNN luôn cần thiết là một khâu trong quản lý tài chính tại đơn vị Bởi trong quá trình điều hành ngân sách, thực thi các nhiệm vụ của mình, đơn vị có thể vấp phải những sai sót Việc kiểm tra, thanh tra sẽ tìm ra những thiếu sót trong chi thường xuyên NSNN từ đó kịp thời đưa ra các biện pháp khắc phục, ngăn ngừa tình trạng tham

ô, tham nhũng, lãng phí Giúp cho chi NSNN tiết kiệm và hiệu quả hơn

2.1.4.5 Công tác quyết toán chi thường xuyên

Quyết toán NSNN là khâu cuối cùng của chu trình ngân sách, đây là quá trình kiểm tra, tổng hợp số liệu về tình hình chấp hành dự toán trong kỳ và là cơ

sở để phân tích, đánh giá kết quả chấp hành dự toán từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho các kỳ tiếp theo Để có thể tiến hành quyết toán thu chi, các đơn

vị phải hoàn tất hệ thống báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán ngân sách (Bộ Tài chính, 2003; Chính phủ, 2003; Quốc hội, 2002)

Các đơn vị tiến hành lập báo cáo tài chính Báo cáo tài chính của các đơn vị chủ yếu phản ánh tình hình tiếp nhận các nguồn kinh phí và sử dụng nguồn kinh phí đó phục vụ cho hoạt động của trường học Báo cáo hàng năm của các trường là

cơ sở để cấp chủ quản thẩm định và phê duyệt quyết toán tài chính, cơ quan chủ quản và các cơ quan khác có thể thấy rõ toàn bộ các hoạt động của trường học, từ

đó rút ra những kinh nghiệm cần thiết trong công tác quản lý Nếu lập dự toán thu, chi là khâu đầu của hoạt động tài chính thì lập báo cáo quyết toán và phê duyệt

Trang 30

quyết toán tài chính là khâu cuối cùng của hoạt động tài chính Quản lý quá trình quyết toán các khoản chi phải thực hiện được một số nội dung sau:

- Phải đảm bảo tính chính xác của số liệu quyết toán:

Sau khi thực hiện xong công tác khóa sổ cuối năm trên sổ sách kế toán, cơ

sở giáo dục phải được đối chiếu, đảm bảo cân đối và khớp đúng với số liệu của

cơ quan tài chính và KBNN cả về tổng số và chi tiết Khi đó đơn vị mới được tiến hành lập báo cáo quyết toán năm

Ngoài ra, để đảm bảo được yêu cầu quản lý chi các đơn vị phải lập đầy đủ các biểu mẫu quyết toán theo quy định của Nhà nước gửi cơ quan chủ quản cấp trên và cơ quan tài chính đồng cấp đúng thời gian quy định

- Phải xác định được thẩm quyền xét duyệt quyết toán:

Đối với đơn vị dự toán: Đơn vị dự toán cấp trên xét duyệt quyết toán của đơn vị dự toán cấp dưới Sau đó đơn vị dự toán cấp 1 có nhiệm vụ tổng hợp và lập báo cáo quyết toán năm gửi cơ quan tài chính đồng cấp

Các cấp ngân sách địa phương có trách nhiệm xét duyệt báo cáo quyết toán năm của các đơn vị dự toán trực thuộc và thẩm tra báo cáo quyết toán chi cho GD&ĐT của ngân sách cấp dưới Sau đó tổng hợp thành báo cáo chi ngân sách địa phương cho GD&ĐT gửi HĐND và UBND cùng cấp đồng thời gửi cho cơ quan tài chính cấp trên (Bộ Tài chính, 2003; Chính phủ, 2003; Quốc hội, 2002)

Việc quyết toán tài chính cho GD&ĐT được thực hiện cùng với quyết toán NSNN hàng năm của các Bộ, cơ quan Trung ương và địa phương theo quy định của Luật NSNN hiện hành (Quốc hội, 2002)

2.1.4.6 Đánh giá thực hiện chi

Mục đích chủ yếu của khâu công việc này là tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chi từ đó rút ra những ưu nhược điểm trong quản lý để có biện pháp khắc phục trong thời gian tiếp theo Công việc cụ thể được tiến hành là kiểm tra, quyết toán các khoản chi

Trong quá trình kiểm tra, quyết toán các khoản chi phải chú ý đến các yêu cầu cơ bản sau:

Phải lập đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời cho các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt theo quy định

Trang 31

- Số liệu trong báo cáo phải đảm bảo tính chính xác, trung thực, nội dung các báo cáo tài chính phải theo đúng nội dung ghi trong dự toán được duyệt và theo đúng mục lục NSNN quy định hiện hành (Bộ Tài chính, 2003; Chính phủ, 2003)

- Báo cáo quyết toán năm của các đơn vị trước khi trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phải có xác nhận của KBNN đồng cấp (Bộ Tài chính, 2003; Chính phủ, 2003)

- Báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán không được để xẩy ra tình trạng quyết toán chi lớn hơn thu (Bộ Tài chính, 2003; Chính phủ, 2003)

Chỉ một khi các yêu cầu trên được tôn trọng đầy đủ thì công tác quyết toán các khoản chi NSNN cho GDĐT mới tiến hành được thuận lợi đồng thời, nó mới tạo cơ sở vững chắc cho việc phân tích đánh giá quá trình chấp hành dự toán một cách chính xác, trung thực và khách quan

Tóm lại:

Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng về giáo dục đang diễn ra ở quy mô toàn cầu tạo cơ hội thuận lợi để tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới, những mô hình giáo dục hiện đại, tạo thời cơ, cơ hội rất lớn để phát triển giáo dục Tuy nhiên, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường cũng làm nảy sinh những vấn đề mới có thể gây nhiều rủi ro lớn đối với giáo dục nước ta, đặt ra yêu cầu phải đổi mới cả về lý luận cũng như những giải pháp thực tiễn phù hợp để phát triển giáo dục Trong điều kiện đó, xuất phát từ vị trí, vai trò

vô cùng quan trọng của GDĐT trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay, ngành Giáo dục & Đào tạo đã và đang phải giải một bài toán rất khó

là phải thoả mãn đồng thời yêu cầu tăng số lượng, đảm bảo chất lượng nâng cao hiệu quả GDĐT trong điều kiện nguồn lực còn hạn hẹp Bài toán này cũng khó như bài toán chung hiện nay của đất nước là phải tạo ra một sự tăng trưởng nhanh chóng từ một điểm xuất phát rất thấp Để giải được bài toán đó, hay nói cách khác, là để tạo ra sự chuyển biến cơ bản, toàn diện về GDĐT đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bên cạnh các chính sách tăng đầu tư cho

Trang 32

giáo dục từ NSNN và đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, đào tạo thì việc đổi mới

và kiện toàn lại hệ thống chính sách tài chính tiền tệ đảm bảo sử dụng NSNN chủ động và có hiệu quả, tăng cường kiểm soát các khoản chi, kiên quyết chống lãng phí, thất thoát, nâng cao hiệu quả đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách cho GDĐT là một trong những nhu cầu thiết yếu trong giai đoạn hiện nay và sắp tới Vì vậy, có thể nói việc tăng cường công tác quản lý chi ngân sách cho GDĐT là một đòi hỏi có tính tất yếu khách quan trên bình diện quốc gia cũng như đối với bất cứ một địa phương, đơn vị nào

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

Một số nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục bao gồm:

Thứ nhất, trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý chi NSNN

Con người luôn là yếu tố trung tâm, quyết định mọi sự thành công hay thất bại Cho dù các điều kiện khác có tốt đến mấy mà con người không có trình

độ để làm chủ thì hiệu quả đem lại là rất thấp Ngành GD&ĐT cũng không nằm ngoài quy luật đó Hiện nay, hầu hết các cán bộ quản lý ngành GD&ĐT nhất là cán bộ quản lý tài chính tại các đơn vị GD&ĐT là những người giỏi về chuyên môn nhưng chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về quản lý kinh tế Với cơ chế giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm ngày càng lớn, đòi hỏi phải có kiến thức

về huy động vốn và sử dụng nguồn vốn có hiệu quả Nếu có kiến thức quản lý trong lĩnh vực GD&ĐT họ sẽ khai thác hiệu quả các nguồn vốn, biết được cần đầu tư cái gì, đầu tư trong lĩnh vực nào, mức độ đầu tư ra sao, quản lý vốn như thế nào, tiết kiệm khâu gì, tăng thu nhập cho người lao động ra sao ? (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Thứ hai, bộ máy tổ chức và sự phân cấp quản lý của cơ quan tài chính

Tính hợp lý hay không hợp lý trong việc tổ chức mạng lưới GDĐT sẽ tác động mạnh tới số chi, một mạng lưới giáo dục vừa gọn nhẹ vừa đủ, bố trí trường lớp hợp lý đảm bảo được chất lượng công tác quản lý, giảng dạy thì phần nào sẽ giảm chi cho NSNN và ngược lại trường lớp bố trí không hợp lý,

Trang 33

bộ máy quản lý cồng kềnh, biên chế giáo viên giảng dạy quá nhiều, không xếp

đủ số giờ, số tiết tiêu chuẩn theo quy định của Nhà nước thì chi NSNN sẽ tăng lên, hiệu quả sử dụng NSNN sẽ giảm xuống Với ảnh hưởng của nhân tố này theo quan điểm về lâu dài là từng bước hợp lý hoá mạng lưới tổ chức, tinh giản biên chế gọn nhẹ, nâng cao chất lượng giảng dạy, phục vụ, từng bước cải cách hành chính trong hệ thống GDĐT Ngành Tài chính cần có biện pháp xác định quản lý số chi NSNN cho GDĐT để khoản chi đó có tác dụng tích cực tới

tổ chức mạng lưới GDĐT (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Thứ ba, cơ sở vật chất phục vụ công tác quản lý

Thực trạng trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho GDĐT Nhân tố này

có ảnh hưởng đến các khoản chi có tính chất không thường xuyên của NSNN cho GDĐT như khoản chi sửa chữa, mua sắm máy móc, thiết bị cho hoạt động giảng dạy, khoản chi này không có định mức quản lý và được xác định tuỳ thuộc vào thực trạng của nhà trường (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Thứ tư, chính sách của nhà nước

Trước kia với cơ chế quản lý quan liêu bao cấp hầu hết mọi nhu cầu học hành, sinh hoạt của học sinh đều được Nhà nước bao cấp, do vậy số chi NSNN cho GDĐT rất cao Ngày nay khi nền kinh tế chuyển sang kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, phạm vi bao cấp của Nhà nước giảm, Nhà nước chỉ đảm bảo kinh phí để duy trì sự đảm bảo của nhà trường, phần còn lại phải huy động qua chính sách thu học phí của học sinh Do vậy, số chi NSNN cho GDĐT đã giảm nhẹ mà chỉ mang tính chất định hướng quản lý vĩ

mô GDĐT (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Giáo dục ngày nay có tầm quan trọng hơn bao giờ hết Sự phát triển của GDĐT có ảnh hưởng đến hầu hết các lĩnh vực trong xã hội, đặc biệt là việc phát triển kinh tế Nhằm phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đưa nước ta trở thành một quốc gia phát triển, Đảng và Nhà nước ta đã coi GDĐT là quốc sách hàng đầu Xuất phát từ chủ trương chính sách ấy mà Nhà nước ta có sự thay đổi về phương thức quản lý, đặc biệt là quản lý tài chính đối với sự nghiệp GD&ĐT Bước ngoặc đầu tiên là Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002,

Trang 34

với Nghị định này đơn vị sự nghiệp có thu được trao quyền tự chủ về tài chính, giúp tháo gỡ cho đơn vị những khó khăn vướng mắc trong điều hành ngân sách,

tự chủ trong chi tiêu từ đó hạn chế những tiêu cực, lãng phí làm tăng thu, tiết kiệm chi, nâng cao thu nhập cho cán bộ, nhân viên làm việc trong lĩnh vực giáo dục Tiếp đó là Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 thay thế Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002; Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 thay thế Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 Theo đó, đơn vị sự nghiệp công lập không những được giao quyền tự chủ tài chính mà còn được giao quyền

tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và biên chế

Cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu, hoạt động trong lĩnh vực GD&ĐT là một bước cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng của các đơn vị sự nghiệp

Thứ năm, Trình độ đội ngũ kế toán của các cơ sở giáo dục

Trong những năm gần đây, công tác tổ chức cán bộ làm quản lý ngân sách nói chung, kế toán các đơn vị sự nghiệp giáo dục nói riêng luôn được UBND tỉnh và các cấp, các ngành quan tâm, đảm bảo ưu tiên tuyển dụng những người có đủ năng lực chuyên môn, vững và hiểu biết công tác kế toán, quản lý ngân sách Đội ngũ kế toán các đơn vị sự nghiệp giáo dục luôn được kiện toàn và được tham dự các lớp tập huấn về nghiệp vụ chuyên môn, đảm bảo vận hành được hoạt động của bộ máy Đội ngũ kế toán các đơn vị sự nghiệp giáo dục hiện nay của tỉnh BG, trình

độ chuyên môn từ trung cấp trở lên

Thứ sáu, ý thức chấp hành pháp luật của các đơn vị chi ngân sách

Trong những năm qua do hệ thống tiêu chuẩn, định mức chi tiêu ngân sách đối giáo dục còn chưa được ban hành đầy đủ; năng lực, trình độ quản lý tài chính của chủ tài khoản, kế toán trong các nhà trường còn quá hạn chế, thiếu được bồi dưỡng thường xuyên; một số đơn vị còn lợi dụng cơ chế tự chủ

để tự quyết định chi một số nội dung chưa sát với nhiệm vụ chuyên môn của nhà trường, chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng còn hạn chế, chưa sâu sát, thậm chí có nơi còn buông lỏng quản lý để xảy ra nhiều sai phạm đáng tiếc

Trang 35

2.2 Cơ sở thực tiễn về tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

2.2.1 Chủ trương của Đảng về quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp Giáo dục ở Việt Nam

GD&ĐT là một vấn đề hết sức quan trọng trong đời sống chính trị của mỗi quốc gia, là biểu hiện trình độ phát triển của mỗi nước Chính vì vậy, ngay

từ khi Việt Nam giành được chính quyền, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ "một dân tộc dốt là một dân tộc yếu" Do đó, xác định GD&ĐT là một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Nam Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng (năm 1979)

đã ra Nghị quyết số 14-NQ/TW về cải cách giáo dục với tư tưởng: Xem giáo dục

là bộ phận quan trọng của cuộc cách mạng tư tưởng; thực thi nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ từ nhỏ đến lúc trưởng thành; thực hiện tốt nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành và giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường Tư tưởng chỉ đạo trên được phát triển bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu thực tế qua các kỳ Đại hội VI, VII, VIII, IX, X, XI của Đảng Cộng sản Việt Nam Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển KT-XH Việc đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục-đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và tăng cường cơ sở vật chất trường học là nhiệm vụ trọng tâm của GD&ĐT Trong Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa XI đã khẳng định GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân (Ban Chấp hành Trung ương, 2013)

Đó là, việc tăng đầu tư từ NSNN, huy động mọi nguồn lực trong xã hội để phát triển giáo dục; đổi mới cơ chế quản lý tài chính Chuẩn hoá và hiện đại hóa trường lớp và trang thiết bị giảng dạy và học tập Các địa phương xây dựng kế hoạch kiên cố hoá trường lớp để tăng cơ sở vật chất phòng học, tăng cường và hiện đại hoá trang thiết bị phục vụ đổi mới chương trình nội dung sách giáo khoa (Ban Chấp hành Trung ương, 2013)

Trang 36

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII và các chủ trương của Đảng, Nhà nước về định hướng chiến lược phát triển GD&ĐT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa lĩnh vực giáo dục nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính và huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục

Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư phát triển giáo dục, ngân sách nhà nước chi cho sự nghiệp giáo dục tối thiểu ở mức 20% tổng chi ngân sách nhà nước; chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN Từng bước bảo đảm đủ kinh phí hoạt động chuyên môn cho các cơ sở giáo dục, đào tạo công lập, hoàn thiện chính sách học phí (Ban Chấp hành Trung ương, 2013)

Đối với giáo dục mầm non và phổ thông: Nhà nước ưu tiên tập trung đầu

tư xây dựng, phát triển các cơ sở giáo dục công lập và có cơ chế hỗ trợ để bảo đảm từng bước hoàn thành mục tiêu phổ cập theo luật định; khuyến khích phát triển các loại hình trường ngoài công lập và đáp ứng nhu cầu xã hội về giáo dục chất lượng cao ở khu vực đô thị (Ban Chấp hành Trung ương, 2013)

Đối với giáo dục đại học và đào tạo nghề nghiệp: Nhà nước tập trung đầu

tư xây dựng một số trường đại học đào tạo trọng điểm; thực hiện cơ chế đặt hàng trên cơ sở hệ thống định mức kinh tế-kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng của một số loại hình dịch vụ đào tạo (không phân biệt loại hình cơ sở đào tạo), bảo đảm chi trả tương ứng với chất lượng, phù hợp với ngành nghề và trình độ đào tạo; minh bạch các hoạt động liên doanh, liên kết đào tạo, sử dụng nguồn lực công, bảo đảm sự hài hòa giữa các lợi ích với tích luỹ tái đầu tư (Ban Chấp hành Trung ương, 2013)

Khuyến khích cá nhân và các doanh nghiệp sử dụng lao động tham gia hỗ trợ hoạt động đào tạo; xây dựng cơ chế, chính sách tài chính phù hợp đối với các loại hình cơ sở giáo dục; có cơ chế ưu đãi tín dụng cho các cơ sở giáo dục; thực hiện định kỳ kiểm toán các cơ sở giáo dục Tiếp tục thực hiện mục tiêu kiên cố hóa trường, lớp học; có chính sách hỗ trợ để có mặt bằng xây dựng trường Từng

Trang 37

bước hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin Bảo đảm đến năm 2020 số học sinh mỗi lớp không vượt quá quy định của từng cấp học (Ban Chấp hành Trung ương, 2013)

2.2.2 Kinh nghiệm của một số quốc gia và một số địa phương về quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

2.2.2.1 Khái quát chung về quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục của một số nước trên thế giới

Các quốc gia đều nhận thức rất rõ tầm quan trọng đặc biệt của phát triển giáo dục trong chiến lược phát triển KT-XH, coi phát triển giáo dục là chìa khoá

để bảo đảm sự thành công trong cạnh tranh trên mọi phương diện của quá trình hội nhập quốc tế Với nhận thức đó, các quốc gia đã và đang thực hiện những biện pháp để tăng ngân sách cho giáo dục gắn liền với các mục tiêu ưu tiên rõ ràng, nhằm thúc đẩy sự phát triển của giáo dục quốc gia đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của xã hội, đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục, nâng cao dân trí và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu phát triển KT-XH, đủ sức hội nhập với nền giáo dục của các nước trên thế giới

Các nước đang phát triển ở Châu Á nhìn chung có nét đặc trưng là tỉ lệ phát triển dân số cao, phần lớn kinh tế còn nghèo nàn, mức sống người dân thấp, kinh phí đáp ứng nhu cầu đi học bị hạn chế Nhà nước đầu tư cho giáo dục theo

xu hướng chung là để thực hiện giáo dục đại trà cho các cấp trường học phổ thông (xóa mù chữ, phổ cập tiểu học, phổ cập THCS) Hệ thống GDĐT ở các nước Châu Á thường gồm 4 cấp học: Mẫu giáo, tiểu học, trung học và đại học ngoài ra còn có đào tạo nghề, đào tạo sau đại học và đào tạo lại Phần lớn các nước Châu Á cưỡng bức học tiểu học, số học sinh tiểu học của các nước Châu Á tăng lên, thu hút các em ở độ tuổi đến trường đạt gần 90% Ở các nước Châu Á tồn tại 2 hệ thống: Trường của nhà nước và trường tư thục Học phí tương đối cao, giáo dục đại học ở các nước này thời gian gần đây đã có những bước phát triển đáng kể Ở các nước có xu thế phát triển tư bản, học đại học phải đóng học phí, ở một số nước giáo dục đại học dành hoàn toàn cho những người có tiền (Ấn

Trang 38

Vấn đề đầu tư quản lý GDĐT ở các nước tư bản phát triển có những đặc trưng riêng Ở phương tây, về lịch sử đã hình thành hai hệ thống quản lý nhà trường: Trung ương và phi trung ương

Hệ thống quản lý trung ương thể hiện rõ nhất ở Pháp: Các kế hoạch và chương trình dạy học, nhiệm vụ trách nhiệm bổ nhiệm và bãi miễn các nhân viên thuộc các trường nhà nước, đều do Bộ Giáo dục quy định chi tiết thông qua các chỉ thị, công văn, quyết định Ngược lại với hệ thống quản lý trung ương là phi trung ương được hình thành lâu đời ở các bang của Vương quốc Anh và Cộng hòa Liên bang Đức Ở những nước này, thậm chí mỗi vùng có một chủ quyền riêng về giáo dục kể cả việc đề ra Bộ luật Giáo dục (Hoàng Xuân Hòa, 2010)

* Kinh nghiệm ở Trung Quốc

Phân tích kinh nghiệm cải cách và phát triển giáo dục ở Trung Quốc trong những năm qua, Ủy ban Giáo dục quốc gia Trung Quốc đã đúc rút thành các nguyên lý có thể tóm tắt được như sau:

+ Cải cách và phát triển GDĐT phải dựa trên cơ sở phát triển một cách toàn diện quy mô, chất lượng, cơ cấu và hiệu quả

+ Cải cách và phát triển GDĐT phải đáp ứng được yêu cầu của đất nước dựa trên nền tảng kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa

+ Phát triển GDĐT phải dần dần hướng vào con đường quản lý theo luật

và hoạch định chính sách phải tiến hành một cách dân chủ và khoa học

+ Cải cách về quan niệm GDĐT là điều kiện tiền đề cho các hoạt động cải cách giáo dục

Luật Giáo dục của Trung Quốc đã quy định rằng: Nguồn NSNN là thành phần chính trong các nguồn vốn cho GDĐT, đồng thời đa dạng hóa các nguồn vốn tự tạo khác để hỗ trợ, bổ sung nguồn vốn cho NSNN Tỷ lệ đầu tư nguồn vốn

từ NSNN cho GDĐT trong tổng chi NSNN phải tăng dần cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế Nhà nước thiết lập thể chế lấy kinh phí từ NSNN làm chính, và tranh thủ kinh phí hỗ trợ GDĐT từ các nguồn khác làm cho GDĐT phát triển tương ứng với trình độ phát triển KT-XH (Khuyết danh, 2005)

Trang 39

Chi ngân sách GDĐT của Trung Quốc tăng trung bình hàng năm là 10%

Tỷ lệ chi ngân sách cho GDĐT chiếm 14% trong tổng chi NSNN Tỷ lệ chi ngân sách cho GDĐT chiếm 3,1% trong GDP Nếu so sánh quốc tế thì mức chi tiêu GDĐT nêu trên của Trung Quốc là thấp hơn mức trung bình của các nước đang phát triển (4,1%) và mức trung bình của các nước phát triển (5.6%)

Về quy mô giáo dục: Hiện nay Trung Quốc đang thực hiện trên quy mô toàn diện chính sách giáo dục bắt buộc 9 năm Hiện có 99,08% trẻ em trong độ tuổi đi học đã được cắp sách tới trường, 95,45% trong số đó đã vào các trường THCS Ngoài ra, 59% học sinh THCS đã vào học tại các trường cao hơn (Khuyết danh, 2005)

Ở Trung Quốc cùng với việc xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, GDĐT cũng đang trong quá trình chuyển đổi mạnh mẽ Quá trình chuyển đổi này đã dẫn đến sự đa dạng hóa các nguồn vốn và sự phát triển uyển chuyển của chúng: Từ chỗ chỉ phụ thuộc vào NSNN chuyển sang đa dạng hóa các nguồn vốn Do vậy, vấn đề thiếu hụt vốn trở thành một vấn đề được rất nhiều người quan tâm (Khuyết danh, 2005)

Trước cuộc cải cách ở thập kỷ 80, các cơ sở GDĐT của Trung Quốc nhận chi phí đào tạo từ Chính phủ theo kế hoạch ngân sách thống nhất của nhà nước Căn cứ vào phần kinh phí phân bổ của năm trước, Chính phủ có thể điều chỉnh (tăng lên) tùy thuộc và nhu cầu của nhà trường, các cơ sở GDĐT và khả năng về ngân sách cho GDĐT Kinh phí không sử dụng hết phải trả lại cho nhà nước vào cuối năm Như vậy, hệ thống ngân sách kiểm soát chặt chẽ đã không tạo ra sự khuyến khích cho việc nâng cao hiệu quả, hạn chế tính chủ động, sáng tạo của các cơ sở GDĐT và cấp chính quyền địa phương (Khuyết danh, 2005)

Trong quá trình cải cách, đặc biệt từ thập kỷ 90 Trung Quốc đã thực hiện một số cải cách đáng kể như phi tập trung hóa tài chính, thay đổi trong cơ chế quản lý tài chính mới và đa dạng hóa nguồn vốn cho GDĐT Điều đó thể hiện ở việc Chính phủ trung ương đã phân cấp trách nhiệm cho tỉnh và Bộ trong việc cung cấp tài chính cho GDĐT, đa dạng hóa nguồn vốn cho GDĐT Đồng thời khuyến khích các cơ sở GDĐT đa dạng hóa các kênh tạo nguồn vốn, đó là các

Trang 40

nguồn thu: Thu nhập tự tạo của các cơ sở GDĐT (thu nhập từ doanh nghiệp của trường, thu nhập từ các hoạt động đào tạo và chương trình liên kiết đào tạo, thu nhập từ nghiên cứu khoa học và dịch vụ tư vấn, thu nhập từ các hoạt động quyên góp từ thiện, biếu tặng, ) và nguồn thu học phí (Khuyết danh, 2005)

* Kinh nghiệm ở Úc

Ở Úc áp dụng hệ thống đóng góp cho GDĐT Chính phủ sau khi xác định ngân sách cho các cơ sở GDĐT, cấp chi phí trọn gói 3 năm liền và hàng năm kiểm tra đầu ra, nghĩa là với số tiền như vậy phải cung cấp cho xã hội bao nhiêu học sinh, sinh viên tốt nghiệp Đối với sinh viên phải đóng góp 23% so với tổng chi phí đào tạo Họ có thể lựa trọn 1 trong 2 cách đóng góp: Đóng ngay khi đang học sẽ giảm 25% so với số tiền phải đóng và trả dần khi đã tốt nghiệp có việc làm trả theo mức thu nhập bình quân/năm

Cơ chế, chính sách tài chính đối với GDĐT ở Úc rất ổn định, xác định rõ trách nhiệm của nhà nước và người học, quyền điều hành tài chính của cơ sở GDĐT đảm bảo thực hiện nghĩa vụ nhà nước (cung cấp đủ học sinh tốt nghiệp, nếu không đủ thì trừ kinh phí các năm tiếp theo ở các cơ sở giáo dục công lập, đối với cơ sở ngoài công lập có uy tín nhà nước cũng ký hợp đồng giao đào tạo một số ngành nghề mà xã hội có nhu cầu và nhà nước cấp kinh phí) và thể hiện

sự ưu tiên với người học trong khi học và sau tốt nghiệp phù hợp với hoàn cảnh kinh tế của người học Đây là cơ chế, chính sách cơ bản không có quá nhiều sự hướng dẫn chồng chéo khác đối với các cơ sở GDĐT (Phạm Phụ, 2006; Lê Văn Hảo, 2008)

2.2.2.2 Kinh nghiệm hoàn thiện cơ chế quản lý chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục của một số tỉnh ở Việt Nam

* Tỉnh Ninh Bình

Nước ta cũng có một số địa phương đã thực hiện quản lý chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục khá tốt như ở Ninh Bình Ninh Bình là tỉnh còn nghèo song đã có những cơ chế tích cực huy động nguồn vốn ngoài ngân sách để phát triển cho giáo dục Việc đầu tư cho giáo dục hiện nay từ nguồn vốn ngân sách vẫn là chủ yếu, song đầu tư cho giáo dục vẫn chưa tương xứng với sự phát

Ngày đăng: 29/09/2017, 21:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ương (2013). Nghị quyết Trung ương 8 Khóa XI năm 2013 Khác
2. Bộ GD&ĐT, Bộ Nội vụ (2006). Thông tư Liên tịch số 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 23/8/2006 của Bộ GD&ĐT, Bộ Nội vụ hướng dẫn định mức biên chế viên chức ở các cơ sở giáo dục phổ thông công lập Khác
3. Bộ GD&ĐT, Bộ Nội vụ (2007). Thông tư Liên tịch số 71/2007/TTLT-BGDĐT- BNV ngày 28/11/2007 của Bộ GD&ĐT, Bộ Nội vụ về định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở giáo dục mầm non công lập Khác
4. Bộ GD&ĐT, Bộ Nội vụ (2008). Thông tư Liên tịch số 59/2008/TTLT-BGDĐT- BNV ngày 31/10/2008 của Bộ GD&ĐT, Bộ Nội vụ hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp giáo dục ở các trường chuyên biệt công lập Khác
5. Bộ Tài chính (2003). Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN Khác
6. Bộ Tài chính (2008). Thông tư 81/2006/TT-BTC ngày 6/9/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kiểm soát chi đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính Khác
7. Chính phủ (2003). Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN Khác
8. Chính phủ (2006) Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nghĩa vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Khác
9. Chính phủ (2008). Nghị định số 69/2008/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, giáo dục, văn hóa, thể thao, môi trường Khác
10. Chính phủ (2010). Nghị định số 49/2010/NĐ-CP quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014- 2015 Khác
11. Cục Thống kê tỉnh BG (2011, 2012, 2013,2014), Niên giám thống kê Khác
12. Dương Thị Hoàn (2014). Tăng cường quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang, Luận văn có tổng số 122 tr, Học viện Nông nghiệp Việt Nam Khác
13. HĐND tỉnh BG (2007), Nghị quyết số 12/2007/NQ-HĐND ngày 19/7/2007 Quy hoạch phát triển GD&ĐT và nguồn nhân lực tỉnh BG đến năm 2020 Khác
14. HĐND tỉnh BG (2010). Nghị quyết số 30/NQ-HĐND ngày 10/12/2010 Ban hành Quy định phân cấp ngân sách cấp chính quyền địa phương tỉnh BG giai đoạn 2011-2015 Khác
15. HĐND tỉnh BG (2010). Nghị quyết số 31/NQ-HĐND ngày 10/12/2010 Ban hành quy định dự toán chi thường xuyên NSNN năm 2011 của cấp chính quyền địa Khác
16. Hoàng Xuân Hòa (2010). Những nền giáo dục tiên tiến ở Đông Á, Tạp chí Mặt trận, (83) Khác
17. Khuyết danh (2005). Vài nét về nền giáo dục hiện đại của Trung Quốc, Mạng Giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo Khác
18. Lê Hồng Hạnh (2014). Hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp Y tế tại Sở Tài chính Bắc Ninh, luận văn có tổng số 109 tr, Học viện Nông nghiệp Việt Nam Khác
19. Nguyễn Ngọc Hùng (2006). Quản lý ngân sách nhà nước, Nxb Thống kê Khác
20. Nguyễn Việt Hải (2010). Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho Giáo dục - đào tạo tại tỉnh Sơn La, chuyên đề tốt nghiệp có tổng số 67 tr, Học viện Tài chính Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w