1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm lợn giống tại công ty cổ phần lợn giống dân quyền, tỉnh thanh hóa

92 137 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm lợn giống tại Công ty công ty cổ phần lợn giống Dân Quyền tỉnh Thanh hóa, phân tích các yếu

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Quốc Chỉnh

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Nga

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Quốc Chỉnh đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Quản trị kinh doanh, Khoa Kế toán và quản trị kinh doanh - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức công ty cổ phần lợn giống Dân Quyền, tỉnh Thanh hóa đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận án

Hoàng Thị Nga

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục iv

Danh mục bảng vi

Danh mục sơ đồ vii

Danh mục chữ viết tắt viii

Trích yếu luận văn ix

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Câu hỏi nghiên cứu 3

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm lợn giống 4

2.1 Cơ sở lý luận 4

2.1.1 Khái niệm phát triển 4

2.1.2 Khái niệm sản xuất và tiêu thụ sản phẩm 4

2.1.3 Nội dung phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm 8

2.1.4 Khái niệm giống, công tác giống và ý nghĩa của công tác giống trong chăn nuôi 13

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất và tiêu thụ lợn giống 16

2.2 Cơ sở thực tiễn 21

2.2.1 Kinh nghiệm phát triển sản xuất và tiêu thụ lợn giống của các doanh nghiệp trên thế giới 20

2.2.2 Kinh nghiệm phát triển sản xuất và tiêu thụ lợn giống của các doanh nghiệp trong nước 24

2.2.3 Bài học kinh nghiệm phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cho công ty cổ phần lợn giống Dân Quyền 29

Phần 3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 30

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 30

Trang 5

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty 30

3.1.2 Bộ máy tổ chức của công ty 31

3.1.3 Tình hình lao động của công ty 33

3.1.4 Tình hình tài sản và nguồn vốn của công ty 36

3.1.5 Kết quả sản xuất kinh doanh 39

3.2 Phương pháp nghiên cứu 40

3.2.1 Khung nghiên cứu đề tài 40

3.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp 41

3.2.3 Phương pháp phân tích 41

3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 42

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 44

4.1 Thực trạng phát triển sản xuất lợn giống tại công ty cổ phần lợn giống dân quyền, tỉnh thanh hóa 44

4.1.1 Thực trạng phát triển về số lượng 44

4.1.2 Thực trạng phát triển về chất lượng 54

4.2 Yếu tố ảnh hưởng đến phát triển và tiêu thụ lợn giống của công ty 62

4.3 Định hướng và giải pháp nhằm phát triển sản xuất và tiêu thụ lợn giống tại công ty cp lợn giống dân quyền, tỉnh thanh hóa 67

4.3.1 Định hướng, mục tiêu phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm lợn giống của công ty giai đoạn 2016 -2020 67

4.3.2 Đánh giá chung về thực trạng phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tại công ty CP lợn giống Dân Quyền 68

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 77

5.1 Kết luận 77

5.2 Kiến nghị 78

5.2.1 Đối với các tổ chức cấp trên 78

5.2.2 Đối với tỉnh Thanh Hóa 78

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Tình hình lao động của công ty 34

Bảng 3.2 Tình hình tài sản và nguồn vốn của công ty 36

Bảng 3.3 Kết quả kinh doanh của công ty qua 3 năm 2013 – 2015 39

Bảng 3.4 Nội dung thu thập số liệu thứ cấp 41

Bảng 4.1 Thực trạng phát triển lợn giống ông bà từ năm 2013 đến 2015 44

Bảng 4.2 Thực trạng phát triển về chủng loại đàn lợn giống 47

Bảng 4.3 Thực trạng phát triển về quy mô đàn lợn giống 48

Bảng 4.4 Thực trạng phát triển về giá trị đàn lợn giống 49

Bảng 4.5 Thị trường tiêu thụ lợn giống qua các năm 51

Bảng 4.6 Doanh số tiêu thụ sản phẩm lợn giống qua các năm 52

Bảng 4.7 Sự phát triển về cơ cấu đàn lợn ông bà qua các năm 53

Bảng 4.8 Tình hình đàn lợn giống qua các năm 55

Bảng 4.9 Vốn đầu tư cho chăn nuôi lợn qua các năm 56

Bảng 4.10 Kết quả và hiệu quả nuôi một nái ông bà qua 3 năm 2013 đến 2015 57

Bảng 4.11 Doanh thu tiêu thụ lợn giống của công ty qua các năm 59

Bảng 4.12 Biến động giá bán lợn giống qua các năm 60

Bảng 4 13 Số lượng lợn giống tiêu thụ tại các thị trường trong nước 62

Trang 7

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Các kênh phân phối sản phẩm 7

Sơ đồ 2.2 Mô hình hệ thống sản xuất của công ty CPV 28

Sơ đồ 3.1 Bộ máy tổ chức công ty 31

Sơ đồ 3.2 Khung nghiên cứu đề tài 40

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên đề tài: Phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm lợn giống tại công ty cổ phần lợn giống Dân Quyền, tỉnh Thanh hóa

Học viên: Hoàng Thị Nga

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 60.34.04.10

Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Quốc Chỉnh

Con giống giữ vai trò rất quan trọng, quyết định đến năng suất, chất lượng và hiệu quả chăn nuôi Tuy nhiên, hiện tượng các giống lợn kém chất lượng bán trên thị trường nông thôn vẫn khá phổ biến, do vậy người chăn nuôi gặp khá nhiều khó khăn trong việc gây dựng đàn lợn ban đầu Thống kê cho thấy, Thanh Hoá hiện có trên 1.700 con lợn giống gốc được tỉnh hỗ trợ để mỗi năm sản xuất, cung cấp cho người chăn nuôi trên địa bàn tỉnh gần 7.000 con lợn nái hậu bị bố mẹ đảm bảo chất lượng Mặc dù nguồn cung ứng giống vật nuôi được quan tâm nhưng cũng chỉ mới đáp ứng được hơn 30% nhu cầu giống vật nuôi bố mẹ trên địa bàn toàn tỉnh Công ty cổ phần lợn giống Dân Quyền là đơn vị có nhiều năm kinh nghiệm trong sản xuất giống vật nuôi và là 1 trong 8 công ty chăn nuôi được Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Thanh Hoá lựa chọn ký hợp đồng tham gia chăn nuôi giống gốc để sản xuất con giống cấp bố mẹ Với nhu cầu phát triển chăn nuôi và thị trường rộng lớn như vậy vừa là cơ hội vừa là thách thức cho công ty trong việc tìm kiếm các hướng phát triển kinh tế bền vững và hiệu quả hơn

Chính vì những lý do đó mà tôi lựa chọn đề tài : “Phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm lợn giống tại công ty cổ phần lợn giống Dân Quyền, tỉnh Thanh hóa” làm luận

văn tốt nghiệp

1 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm lợn giống tại Công ty công ty cổ phần lợn giống Dân Quyền tỉnh Thanh hóa, phân tích các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất và tiêu thụ sản

phẩm lợn giống tại công ty trong thời gian tới

2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp thống kê mô tả, so sánh và phương pháp chuyên gia để so sánh và đánh giá thực trạng phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

của công ty

Trang 10

3 Kết quả nghiên cứu

- Thực trạng quy mô sản xuất của công ty về số lượng, chất lượng đàn lợn giống ông bà, đàn lợn giống bố mẹ và đàn lợn giống thương phẩm Qua số liệu 3 năm nghiên cứu quy mô đàn lợn giống của công ty ổn định và có xu hướng phát triển, chất lượng đàn lợn giống được đầu tư hiệu quả

- Thực trạng tiêu thụ các sản phẩm lợn giống của công ty về doanh số tiêu thụ, thị trường và khách hàng tiêu thụ Thị trường và doanh số tiêu thụ của công ty được giữ ổn định và có xu hướng gia tăng

- Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Chủ yếu là

sự biến động của thức ăn chăn nuôi và chi phí khấu hao hệ thống chuồng trại làm ảnh

hưởng đến chi phí sản xuất và làm tăng giá bán các sản phẩm lợn giống của công ty

4 Kết luận chủ yếu

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy công ty đã đạt được một

số thành tích đáng kể trong phát triển quy mô và chất lượng đàn lợn giống, gia tăng quy

mô thị trường và doanh số tiêu thụ sản phẩm Từ đó tìm ra các nguyên nhân nhằm đề xuất các giải pháp phát huy những lợi thế và hạn chế những tồn tại trong phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của công ty

Trang 11

THESIS ABSTRACT

Project title: Development of production and consumption of products of pigs in pig breeding stock companies Civil Rights, Thanh Hoa Province

Students: Hoang Thi Nga

Major in business administration

Code: 60.34.04.10

Instructors: Dr Nguyen Quoc Chinh

Seed very important role, deciding on productivity, quality and efficiency of livestock However, the phenomenon of poor quality pigs sold in rural markets is still quite popular, so farmers face many difficulties in building the original herd Statistics show that currently there are over 1,700 Thanh Hoa pigs are native to the province each year to support the production and supply to farmers in the province nearly 7,000 children parent gilts quality assurance Although the supply of domestic animal breeds are concerned, but also to meet the needs of more than 30% of livestock breeds parents

in the province JSC pigs Civil Rights is a unit with many years of experience in the production of livestock breeds and is 1 in 8 companies raising is DARD of Thanh Hoa choice of contracted participating livestock original species to produce children same parent level With demand for livestock development and such large market is both an opportunity and a challenge for the company in finding the direction of sustainable economic development and more efficient Because of these reasons that I selected the theme: "Development of production and consumption of products of pigs in pig

breeding stock companies Civil Rights, Thanh Hoa province" as a thesis

1 Objectives of the study

Based on the situation analysis to develop production and product consumption

in pig breeding company stock companies Civil Rights pigs Thanh Hoa province, analyzes the influencing factors and proposes a number of measures to develop

production and marketing of products in pig breeding companies in the future

Trang 12

- Actual consumption products pig breeding company in sales, marketing and consumer customers Marketing and sales of the company is stable and tends to increase

- Factors affecting the production and consumption of products Mainly the volatility of feed and depreciation expenses housing systems affect the cost of production and

increase the price of products of the company piglets

4 Conclusion mainly

On the basis of the findings of the research show that the company has achieved

a number of significant achievements in the development of the scale and quality of pig breeding, increase market size and product sales Then find out the reasons for the proposed measures to promote the advantages and limitations exist in the development

of production and consumption of products of the company

Trang 13

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Con giống giữ vai trò rất quan trọng, quyết định đến năng suất, chất lượng

và hiệu quả chăn nuôi Tuy nhiên việc quản lý con giống cũng là vấn đề nan giải

và nhiều thách thức, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN & PTNT) cũng đã ban hành nhiều văn bản về công tác quản lý giống lợn trong cả nước Hiện tượng các giống lợn kém chất lượng bán trên thị trường nông thôn vẫn khá phổ biến, do vậy người chăn nuôi gặp khá nhiều khó khăn trong việc gây dựng đàn lợn ban đầu Vấn đề đặt ra là các địa phương cần xây dựng các cơ sở giống lợn của địa phương mình để cung cấp giống lợn tốt cho nông dân Công tác này trong những năm qua theo chương trình Khuyến nông, nhiều cơ sở sản xuất con giống bước đầu đã đáp ứng yêu cầu nông dân Chăn nuôi lợn trong cả nước đã có nhiều thành công đáng kể như đàn lợn đã tăng tỷ lệ nạc từ 33,6% ở lợn nội lên 40,6% ở lợn lai miền Bắc và 34,5% lợn nội lên 42% tỷ lệ lợn nạc ở lợn lai (miền Nam) Đối với lợn lai 3 máu ngoại (Landrace x Yorkshire ) x Duroc tỷ lệ nạc trong nghiên cứu đạt 58 – 61%, trong đại trà sản xuất đạt 52 – 56%

Vì thế, để có được nguồn giống tốt, những năm qua, tỉnh Thanh Hóa đã có nhiều chính sách hỗ trợ một số đơn vị sản xuất giống gốc nhằm cung cấp giống

bố mẹ đảm bảo chất lượng cho phát triển chăn nuôi của tỉnh Thống kê cho thấy, Thanh Hoá hiện có trên 1.700 con lợn giống gốc được tỉnh hỗ trợ để mỗi năm sản xuất, cung cấp cho người chăn nuôi trên địa bàn tỉnh gần 7.000 con lợn nái hậu bị

bố mẹ đảm bảo chất lượng Mặc dù nguồn cung ứng giống vật nuôi được quan tâm nhưng cũng chỉ mới đáp ứng được hơn 30% nhu cầu giống vật nuôi bố mẹ trên địa bàn toàn tỉnh Như vậy, hiện vẫn còn khoảng 70% nhu cầu nguồn giống phụ thuộc vào các hộ gia đình, các trang trại tự nuôi với quy trình sản xuất không đạt yêu cầu, dẫn đến con giống kém chất lượng, ảnh hưởng đến hiệu quả và giá trị của ngành chăn nuôi

Công ty cổ phần (CP) lợn giống Dân Quyền là đơn vị có nhiều năm kinh nghiệm trong sản xuất giống vật nuôi và là 1 trong 8 công ty chăn nuôi được Sở NN&PTNT Thanh Hoá lựa chọn ký hợp đồng tham gia chăn nuôi giống gốc để sản xuất con giống cấp bố mẹ Những năm qua, để nâng cao hiệu quả sản xuất, công ty đã đầu tư cơ sở vật chất, hệ thống chuồng trại đảm bảo tiêu chuẩn, đồng thời nhập nguồn giống lợn nái ông bà có chất lượng Với nhu cầu phát triển chăn nuôi và thị trường rộng lớn như vậy vừa là cơ hội vừa là thách thức cho công ty

Trang 14

trong việc tìm kiếm các hướng phát triển kinh tế bền vững và hiệu quả hơn Vì vậy, việc nghiên cứu phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm lợn giống tại công

ty cổ phần lợn giống Dân Quyền, tỉnh Thanh hóa là một vấn đề quan trọng không chỉ trong phát triển của công ty mà còn có ý nghĩa trong phát triển chăn nuôi nói

chung Chính vì những lý do đó mà tôi lựa chọn đề tài : “Phát triển sản xuất và

tiêu thụ sản phẩm lợn giống tại công ty cổ phần lợn giống Dân Quyền, tỉnh Thanh hóa” làm luận văn tốt nghiệp

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm lợn giống tại Công ty công ty cổ phần lợn giống Dân Quyền tỉnh Thanh hóa, phân tích các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản

xuất và tiêu thụ sản phẩm lợn giống tại công ty trong thời gian tới

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất

và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp chăn nuôi lợn giống

- Phân tích thực trạng phát triển sản xuất, tiêu thụ sản phẩm lợn giống và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tại Công ty trong thời gian vừa qua

- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất và tiêu thụ

sản phẩm lợn giống tại Công ty trong thời gian tới

Các giải pháp áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020

- Phạm vi về nội dung:

+ Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm + Thực trạng phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm lợn giống của Công

ty Cổ phần lợn giống Dân Quyền

+ Giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm lợn

giống tại Công ty trong thời gian tới

Trang 15

1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

- Thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm lợn giống tại công ty trong những năm gần đây như thế nào?

- Những yếu tố nào ảnh hưởng hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm lợn giống?

- Cần áp dụng những biện pháp nào để phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm lợn giống tại công ty?

1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm lợn giống tại công ty cổ phần lợn giống Dân Quyền, tỉnh Thanh Hóa trong những năm gần đây, đề tài có những đóng góp mới như sau

Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm lợn giống

Một số giải pháp phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm lợn giống nhằm giúp công ty phát triển sản xuất sản phẩm đồng thời đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng con giống của ngành chăn nuôi tỉnh Thanh hóa nói riêng và ngành chăn nuôi nói chung

Trang 16

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM LỢN GIỐNG

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Khái niệm phát triển

Trong thời đại ngày nay có nhiều quan niệm khác nhau về sự phát triển Raman Weitz (1995) cho rằng ‘‘phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội” Ngân hàng thế giới đưa ra khái niệm có ý nghĩa rộng lớn hơn, bao gồm những thuộc tính quan trọng liên quan đến hệ thống giá trị của con người, đó là “sự bình đẳng hơn về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự

do công dân để củng cố niềm tin trong cuộc sống của con người trong mối quan

hệ với Nhà nước, với cộng đồng, ”

Lưu Đức Hải (2001) cho rằng phát triển là một quá trình tăng trưởng bao gồm nhiều yếu tố cấu thành khác nhau như kinh tế, chính trị, xã hội, kỹ thuật, văn hoá,v.v

Bùi Ngọc Quyết (2000) có khái niệm phát triển hay nói một cách đầy đủ hơn là phát triển kinh tế xã hội của con người là quá trình nâng cao về đời sống vật chất và tinh thần bằng phát triển sản xuất, tăng cường chất lượng các hoạt động văn hoá

Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về sự phát triển, nhưng tựu trung lại các ý kiến cho rằng: Phạm trù của sự phát triển là phạm trù vật chất, phạm trù tinh thần, phạm trù về hệ thống giá trị của con người Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội và quyền tự

do công dân của mọi người dân

2.1.2 Khái niệm sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

2.1.2.1 Khái niệm sản xuất

Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hoà các yếu tố đầu vào (tài nguyên hoặc các yếu tố sản xuất để tạo ra sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ (đầu ra) Nếu giả thiết sản xuất sẽ diễn biến một cách có hệ thống với trình độ sử dụng đầu vào hợp lý, người ta mô tả mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra bằng một hàm sản xuất:

Q= f (X1,X2, Xn)

Trang 17

Trong đó:

Q: Số lượng một loại sản phẩm nhất định

Ta cần chú ý mối quan hệ giữa yếu tố và sản phẩm:

+ Sản phẩm cận biên (MP) của yếu tố đầu vào thay đổi Đây là sự biến đổi lượng đầu ra do thay đổi một đơn vị yếu tố đầu vào Khi sản phẩm cận biên bằng

+ Lực lượng lao động: Là yếu tố đặc biệt quan trọng của quá trình sản xuất Mọi hoạt động sản xuất đều do lao động của con người quyết định, nhất là người lao động có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm và kỹ năng lao động Do đó, chất lượng lao động quyết định kết quả và hiệu quả sản xuất

+ Đất đai: Là yếu tố sản xuất không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với ngành nông nghiệp, mà còn rất quan trọng với sản xuất công nghiệp và dịch vụ Đất đai là yếu tố có vị trí cố định lại bị giới hạn bởi qui mô, nên người ta phải đầu tư thêm vốn và lao động trên một diện tích nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai Các loại tài nguyên khác trong lòng đất như khoán sản, tài nguyên rừng, biển và tài nguyên thiên nhiên đều là những đầu vào quan trọng của sản xuất + Khoa học công nghệ: Quyết định đến sự thay đổi năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Những phát minh sáng tạo mới được ứng dụng trong sản xuất đã giải phóng được lao động nặng nhọc, độc hại cho người lao động và tạo

ra sự tăng trưởng nhanh chóng, góp phần vào sự phát triển kinh tế của xã hội + Ngoài ra còn có một số yếu tố khác: Quy mô sản xuất, các hình thức tổ chức sản xuất, mối quan hệ sân đối tác động qua lại lẫn nhau giữa các ngành, giữa các thành phần kinh tế, các yếu tố về thị trường nguyên liệu, thị trường tiêu thụ sản phẩm,v.v cũng có tác động tới quá trình sản xuất

Trang 18

2.1.2.2 Khái niệm tiêu thụ sản phẩm

- Tiêu thụ là quá trình thực hiện giá trị cũng như giá trị sử dụng của hàng hoá Quá trình tiêu thụ thì hàng hoá chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị và vòng chu chuyển vốn được hình thành

- Tiêu thụ sản phẩm được coi là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp cũng như người sản xuất Do đó hoạt động tiêu thụ sản phẩm được cấu thành bởi các yếu tố:

+ Chủ thể kinh tế tham gia là người bán và người mua;

+ Đối tượng là sản phẩm hàng hoá tiền tệ;

+ Thị trường là nơi gặp gỡ giữa những người bán và người mua

Doanh nghiệp tiêu thụ hàng hoá phải thông qua thị trường Thị trường được coi là một nơi mà ở đó người bán và người mua tự tìm đến với nhau để thoả mãn những nhu cầu của hai bên

Chức năng của thị trường: Chức năng thừa nhận hoặc chấp nhận hàng hoá dịch vụ; chức năng thực hiện; chức năng điều tiết hoặc kích thích sản xuất và tiêu dùng xã hội; chức năng thông tin

Các qui luật của thị trường: Quy luật giá trị; quy luật cung cầu; quy luật cạnh tranh; quy luật giá trị thặng dư

2.1.2.3 Kênh phân phối sản phẩm

- Khái niệm: Kênh phân phối sản phẩm là sự kết hợp qua lại với nhau giữa người sản xuất và người trung gian để thực hiện việc chuyển giao hàng hoá một cách hợp lý nhất, thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng cuối cùng

- Các yếu tố cấu thành hệ thống kênh phân phối sản phẩm

+ Người cung ứng: Người sản xuất hoặc công ty thương mại;

+ Người trung gian: Người bán buôn, đại lý, người bán lẻ và môi giới; + Người tiêu dùng: Là người cuối cùng của kênh phân phối, họ mua sản phẩm để tiêu dùng cho cuộc sống

- Các loại kênh phân phối sản phẩm

+ Kênh trực tiếp: Nhà sản xuất bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng, không thông qua khâu trung gian Người sản xuất kiêm luôn bán hàng Họ có hệ thống cửa hàng, siêu thị để bán sản phẩm sản xuất ra

+ Kênh gián tiếp: Người sản xuất bán hàng cho người tiêu dùng cuối cùng

Trang 19

thông qua hệ thống trung gian

Các kênh phân phối có thể được mô tả bằng số lượng các cấp trung gian của nó Mỗi người trung gian sẽ thực hiện một số công việc nhất định nhằm đem sản phẩm tới gần người tiêu dùng hơn và tạo thành một cấp trong kênh phân phối Vì nhà sản xuất và người tiêu dùng là điểm đầu và điểm cuối của mỗi kênh phân phối, nên họ cũng là những bộ phận của kênh Chúng ta sẽ dùng số cấp trung gian để chỉ độ dài của một kênh phân phối Do đặc điểm khác nhau của sản phẩm và dịch vụ mà các kênh phân phối cũng được thiết kế khác nhau, bao gồm kênh phân phối hàng tiêu dùng, kênh phân phối tư liệu sản xuất và kênh phân phối dịch vụ

Sơ đồ 2.1 Các kênh phân phối sản phẩm

Kênh không cấp (còn được gọi là kênh phân phối trực tiếp) gồm người sản xuất bán hàng trực tiếp cho khách hàng cuối cùng Những hình thức của marketing trực tiếp chính là bán hàng lưu động, bán hàng dây chuyền, đặt hàng qua bưu điện, marketing qua điện thoại, bán hàng qua internet và các cửa hàng của người sản xuất Kênh một cấp (kênh phân phối gián tiếp) có một người trung gian, như người bán lẻ Kênh hai cấp có hai người trung gian Trên các thị trường hàng tiêu dùng thì đó thường là người bán sỉ và một người bán lẻ Kênh ba cấp

Trang 20

có ba người trung gian Giữa người bán sỉ và người bán lẻ có thể có thêm một người bán sỉ nhỏ Ngoài ra có thể có kênh phân phối nhiều cấp hơn Tuy nhiên số cấp của kênh tăng lên thì việc thu nhận thông tin về những người sử dụng cuối cùng và thực hiện việc kiểm soát các trung gian sẽ khó khăn hơn

Trong các kênh phân phối tư liệu sản xuất, người sản xuất có thể sử dụng lực lượng bán hàng của mình để bán hàng trực tiếp cho khách hàng mua tư liệu sản xuất để sản xuất sản phẩm Họ cũng có thể bán hàng cho những người phân phối tư liệu sản xuất để những người này bán lại cho khách hàng sản xuất hay bán qua những người đại diện, và qua các chi nhánh tiêu thụ của mình trực tiếp cho khách hàng sản xuất Những kênh phân phối không cấp, một cấp và hai cấp rất phổ biến trên thị trường tư liệu sản xuất

2.1.3 Nội dung phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

2.1.3.1 Nội dung về phát triến sản xuất sản phẩm

Sản xuất là quá trình kết hợp tư liệu sản xuất với sức lao động để tạo ra sản phẩm Phát triển sản xuất được coi là một quá trình tăng tiến về qui mô (sản lượng) và hoàn thiện về cơ cấu Như vậy, phát triển sản xuất sản phẩm là một quá trình tăng tiến về qui mô sản xuất và hoàn thiện về cơ cấu chủng loại

Phát triển sản xuất cũng được coi là một quá trình tái sản xuất mở rộng, trong đó qui mô sản xuất sau lớn hơn quy mô sản xuất trước trên cơ sở thị trường chấp nhận

Như vậy, các doanh nghiệp phải có các chiến lược kinh doanh phù hợp Trong đó các chiến lượng về sản phẩm: Phải xác định được số lượng, cũng như chất lượng của sản phẩm, xác định chu kỳ sống của sản phẩm Phải có chiến lược đầu tư mua sắm máy móc thiết bị và lựa chọn công nghệ thích hợp Trong đó, chú ý đến chiến lược đi tắt đón đầu trong việc đầu tư công nghệ hiện đại

Chú ý trong phát triển sản xuất phải đảm bảo tính bền vững, tức là sản xuất tìm nguồn đầu vào, đầu ra sao cho bền vững nhất và không làm ảnh hưởng

Trang 21

đến nguồn tài nguyên.

- Số lượng cơ sở sản xuất

Gia tăng số lượng cơ sở sản xuất tức là phát triển về mặt quy mô sản xuất Việc gia tăng này sẽ góp phần vào việc tăng số lượng sản phẩm sản xuất, đồng thời mỗi cơ sở sản xuất được mở mới đều được tính toán dựa trên khả năng về thị trường tiêu thụ, vì vậy việc gia tăng các cơ sở sản xuất đều giúp cho doanh nghiệp tăng thêm về quy mô lại có thể giảm bớt những chi phí vận chuyển và bảo quản hàng hóa khi tiêu thụ tại các điểm xa, do đó đều mang lại lợi ích cho doanh nghiệp Tuy nhiên, việc tính toán mở mới các cơ sở sản xuất đều phải được tính toán một cách hợp lý để đảm bảo việc gia tăng này có thể giúp doanh nghiệp phát triển bền vững

- Số lượng sản phẩm từng loại

Mỗi sản phẩm đều mang lại một lợi ích nhất định cho doanh nghiệp, vì vậy

sự phát triển về mặt số lượng sản phẩm đều đóng góp vào sự phát triển Tuy nhiên,

số lượng sản phẩm sản xuất còn phụ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp, tình hình tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩm, việc ký kết hợp đồng tiêu thụ, việc vận chuyển, giao hàng và thanh toán tiền hàng Vì vậy, doanh nghiệp cần phải tính toán hợp lý ngay từ khâu chuẩn bị khi ký kết các hợp đồng kinh tế với các đơn vị mua hàng, đảm bảo tổ chức đóng gói, vận chuyển nhanh chóng, thanh toán bằng nhiều hình thức thích hợp, xác định và giữ vững kỷ luật thanh toán đối với đơn vị

mua hàng, tính toán và xác định chính xác khối lượng sản phẩm tiêu thụ

b Phát triển về chất lượng

- Nâng cao chất lượng sản phẩm

Việc sản xuất kinh doanh phải gắn liền với việc đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm Chất lượng hàng hóa, sản phẩm không chỉ ảnh hưởng tới giá bán

mà còn ảnh hưởng đến khối lượng sản phẩm tiêu thụ, do đó ảnh hưởng đến doanh thu tiêu thụ Ở các doanh nghiệp sản xuất, số lượng sản phẩm sản xuất ra có thể phân thành những phẩm cấp khác nhau như loại I, loại II, loại III và đương nhiên giá bán cũng khác nhau Sản phẩm có phẩm chất cao sẽ có giá bán cao hơn, vì vậy chất lượng sản phẩm là giá trị được tạo thêm, tạo điều kiện tiêu thụ dễ dàng, nhanh chóng thu được tiền bán hàng và tăng doanh thu tiêu thụ sản phẩm

- Đổi mới quy trình công nghệ

Thuật ngữ khoa học và công nghệ là sự thể hiện, đồng hành gắn bó giữa lý luận, lý thuyết và thực tiễn, thực hành, giữa nghiên cứu và ứng dụng thực tế

Trang 22

Phát triển sản xuất về lâu dài phải phát triển theo chiều sâu bằng cách đầu

tư, đổi mới trang thiết bị, khoa học công nghệ Trong kỷ nguyên của sự bùng nổ thông tin ngày nay, khoa học công nghệ được xác định là một trong những nhân

tố quyết định đến việc sản xuất sản phẩm cả về số lượng, chất lượng và giá thành Đặc biệt việc phát triển về khoa học kỹ thuật sẽ giúp doanh nghiệp chống lại những tác động của hao mòn vô hình và làm gia tăng thêm giá trị sản phẩm

- Tăng mức độ đầu tư cho sản xuất

Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất,

nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội Việc đầu tư cho sản xuất yêu cầu phải có vốn Vốn có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như máy móc thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, giá trị quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, các nguồn tài nguyên khác Vốn có thể là nguồn vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn,

ngắn hạn Kế đến là thời gian tương đối dài, thường từ 2 năm trở lên, có thể đến

50 năm, nhưng tối đa cũng không quá 70 năm Lợi ích do đầu tư mang lại được biểu hiện trên hai mặt: lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh

tế xã hội Mỗi doanh nghiệp phát triển lâu dài đều thể hiện ở quá trình đầu tư cho sản xuất thể hiện ở cả số vốn kinh doanh và thời gian đầu tư để mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp

- Đổi mới cơ cấu sản phẩm theo hướng hợp lý hơn

Việc thay đổi cơ cấu sản phẩm sản xuất cũng có ảnh hưởng đến phát triển của doanh nghiệp Khi sản xuất có thể có những mặt hàng chi phí thấp nhưng đem lại nhiều lợi nhuận và ngược lại Tuy nhiên, mỗi sản phẩm đều mang lại những mặt lợi ích nhất định trong sự phát triển chung của doanh nghiệp Hơn nữa, doanh nghiệp càng phát triển lại càng phải đa dạng hóa sản phẩm để tập trung đáp ứng được cơ bản nhu cầu của thị trường Do đó, trong việc phát triển nói chung của doanh nghiệp không nên chỉ chú trọng đến một ngành hàng mà càng đa dạng các mặt hàng càng thể hiện sự phát triển của doanh nghiệp

- Giảm giá thành sản phẩm

Giảm giá thành sản phẩm là một trong những nhiệm vụ chủ yếu để doanh nghiệp có thể đứng vững trong cạnh tranh trên thị trường Trong phạm vi doanh nghiệp, việc hạ thấp giá thành làm cho lợi nhuận tăng lên, các quỹ doanh nghiệp

mở rộng, tạo điều kiện cho phát triển doanh nghiệp về mọi mặt Doanh nghiệp có thể hạ giá thành cho thấy trình độ quản lý về sản xuất đạt ở mức độ cao từ khâu

Trang 23

sử dụng nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, tổ chức sử dụng lao động đến toàn bộ các mặt khác trong doanh nghiệp

Như vậy, phát triển về mặt chất lượng có ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ kết quả sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp Các doanh nghiệp phải quan tâm đến tất cả các yếu tố phát triển chất lượng sản phẩm, tùy từng giai đoạn mà có những chiến lược phù hợp Tuy nhiên, việc ứng dụng các tiến bộ khoa học trong sản xuất kinh doanh là vấn đề có tính chất quyết định đến mọi mặt trong sản xuất

sản phẩm

2.1.3.2 Nội dung về phát triển tiêu thụ

a Phát triển về số lượng

- Mở rộng địa bàn tiêu thụ sản phẩm (số lượng tỉnh, huyện)

Một doanh nghiệp có phát triển được hay không, trước tiên có thể thấy ở số địa bàn tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp đó Khi càng chiếm lĩnh được nhiều thị trường thì khả năng cạnh tranh với các đối thủ tăng cao và cơ hội tiêu thụ sản phẩm ngày càng nhiều Do đó, việc xem xét tính toán phát triển số lượng các huyện và tỉnh thành thể hiện sức mạnh và khả năng phát triển của doanh nghiệp

- Tăng số lượng các trung gian phân phối (số lượng đại lý, nhà bán buôn, khách hàng, )

Việc mở rộng các trung gian phân phối tạo cho các doanh nghiệp các kênh phân phối chuyên nghiệp, tạo thành một hệ thống phân phối Càng nhiều trung gian tham gia vào kênh phân phối càng chứng tỏ sự phát triển trong quá trình tiêu thụ của doanh nghiệp Song song với việc mở rộng địa bàn tiêu thụ sản phẩm chính là việc mở rộng hệ thống phân phối trung gian tại các địa bàn này

- Số lượng sản phẩm từng loại

Số lượng đơn đặt hàng càng nhiều chứng tỏ uy tín của sản phẩm và uy tín của doanh nghiệp càng gia tăng, từ đó cho thấy sản phẩm của doanh nghiệp đã đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng và cũng cho thấy sự phát triển của doanh nghiệp Do đó, việc gia tăng số lượng sản phẩm không chỉ góp phần vào việc mở rộng quy mô sản xuất mà còn là mục tiêu mà các doanh nghiệp hướng tới khi tham

gia vào các thị trường tiêu thụ sản phẩm

b Phát triển về chất lượng

- Tăng doanh số

Doanh số là bộ phận quan trọng quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp, có doanh thu chứng tỏ doanh nghiệp vẫn tồn tại Doanh số của sản phẩm gia tăng chứng tỏ số lượng hoặc giá bán sản phẩm được tăng lên hoặc cả hai, điều này cho

Trang 24

thấy mục tiêu của doanh nghiệp về phát triển tiêu thụ đã thành công Doanh số ngày càng gia tăng chứng tỏ doanh nghiệp ngày càng phát triển Tuy nhiên, cần phải chú

ý việc gia tăng doanh số cũng đồng nghĩa với việc gia tăng chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, vì vậy tốc độ gia tăng doanh số bình quân phải cao hơn tốc độ gia tăng chi phí mới thể hiện được sự phát triển của doanh nghiệp

- Thay đổi cơ cấu sản phẩm theo hướng hợp lý hơn

Thay đổi cơ cấu sản phẩm tiêu thụ đem lại sự phong phú các mặt hàng khi tiếp cận khách hàng cũng như trong quá trình mở rộng thị trường, mở rộng các đối tác kinh doanh Sự đa dạng này cho thấy doanh nghiệp có khả năng thích ứng cao trong kinh doanh và có khả năng đáp ứng các nhu cầu đa dạng của thị trường

- Giảm chi phí tiêu thụ sản phẩm

Cùng với sự gia tăng về mặt doanh số, việc giảm chi phí là một trong những yếu tố tạo ra lợi ích cho doanh nghiệp Chi phí tiêu thụ sản phẩm bao gồm các chi phí quảng cáo, bao bì, vận chuyển, hội nghị khách hàng Giảm các chi phí tiêu thụ sản phẩm làm cho giá thành sản phẩm hạ thấp tạo ra nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp Giảm chi phí còn có thể giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường tạo đà cho doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường

Phát triển tiêu thụ được coi là một quá trình, trong đó lượng sản phẩm được tiêu thụ ngày càng tăng về số lượng, cơ cấu sản phẩm tiêu thụ được hoàn thiện dần theo hướng có lợi cho nhà sản xuất và người tiêu dùng Như vậy, phát triển tiêu thụ

là sự tăng cả về số lượng, cơ cấu sản phẩm được tiêu thụ trên thị trường đem lại lợi nhuận cho nhà sản xuất và người tiêu dùng Để đạt mục tiêu như vậy, các doanh nghiệp kinh doanh phải có chiến lược tiêu thụ sản phẩm, phải có phương thức bán hàng phù hợp nhất, có chính sách yểm trợ cho tiêu thụ sản phẩm, xác định thương hiệu sản phẩm và phương thức thanh toán phù hợp

Đặc biệt chú ý đến việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm Chú ý thị trường mục tiêu, thị trường tiềm năng và thị trường ngách

Trong phát triển tiêu thụ phải chú ý đến giá cả các loại sản phẩm Giá cả khác nhau có tác dụng khuyến khích hoặc hạn chế sự phát triển sản xuất Mặt khác, giá cả các loại sản phẩm phân phối trên thị trường theo các kênh cũng khác nhau Trong đó phân phối trực tiếp cho người tiêu dùng thì nhà sản xuất có lợi hơn cả, nhưng chỉ tiêu thụ được một khối lượng nhỏ, do đó phải phân phối sản phẩm theo hệ thống kênh gián tiếp Cần chú trọng chất lượng sản phẩm và thị hiếu khách hàng trong quá trình phát triển tiêu thụ sản phẩm

- Nghiên cứu thị trường: Khâu này rất quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh Nó mở rộng đường cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của

Trang 25

nhà sản xuất Nghiên cứu thị trường là nắm vững sức mua của thị trường tức là phải nắm được nhu cầu tiêu dùng của hàng hoá và khả năng thanh toán của khách hàng, mức độ thu nhập và triển vọng mở rộng thị trường tiêu thụ

Để đạt được những mong muốn hay đưa ra được những quyết định đúng đắn trong sản xuất đòi hỏi người sản xuất phải thu thập, xử lý các thông tin về thị trường một cách khách quan, chính xác và phù hợp với thực tiễn

- Xây dựng, lựa chọn chiến lược sản phẩm, chiến lược thị trường

+ Chiến lược sản phẩm là tìm hiểu xem sản phẩm mình sản xuất ra có được người tiêu dùng và thị trường chấp nhận không? chủng loại và chất lượng sản phẩm, mẫu mã, kiểu dáng như thế nào? Nếu không thì phải tiến hành đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao chất lượng, giảm chi phí

+ Chiến lược thị trường là phải xác định được đặc điểm chủ yếu của thị trường tiêu thụ, xác định được những thuận lợi và khó khăn, giá cả chủng loại sản phẩm và những chi phí có liên quan đến thị trường

- Công tác hỗ trợ tiêu thụ: Bên cạnh việc tổ chức nghiên cứu thị trường, lựa chọn chiến lược sản phẩm thì việc tổ chức các hoạt động hỗ trợ trong công tác tiêu thụ có ý nghĩa rất lớn đối với tiêu thụ sản phẩm Đó là các hình thức giới thiệu sản phẩm, tham gia hội chợ triển lãm, quảng cáo, tiếp thị và nhiều hoạt động khác

- Lựa chọn phương án tiêu thụ: Phương án tiêu thụ sản phẩm thực chất là

hệ thống các phương pháp và biện pháp mang tính kỹ thuật nhằm tối đa hoá khối lượng sản phẩm bán ra Có nhiều phương pháp tiêu thụ sản phẩm khác nhau như:

+ Tiêu thụ trực tiếp: Hàng hoá được bán trực tiếp từ tay người sản xuất đến tay người tiêu dùng

+ Tiêu thụ gián tiếp: Hàng hoá được chuyển qua trung gian là các nhà buôn, người thu gom, người bán lẻ rồi mới đến tay người tiêu dùng Hình thức tiêu thụ gián tiếp có thể có một hoặc có nhiều khâu trung gian

+ Tiêu thụ hỗn hợp: Là hình thức phối hợp hai hình thức tiêu thụ trên

2.1.4 Khái niệm giống, công tác giống và ý nghĩa của công tác giống trong chăn nuôi

2.1.4.1 Khái niệm giống, công tác giống

Khái niệm giống: Giống vật nuôi là một tập hợp các vật nuôi (quần thể vât nuôi) có chung nguồn gốc, được hình thành do quá trình chọn lọc và nhân giống của con người Các vật nuôi trong cùng một giống có đặc điểm về ngoại hình, sinh lý, sinh hóa, tính năng sản xuất, lợi ích kinh tế giống nhau và các đặc điểm

Trang 26

này di truyền được cho đời sau

Một vật nuôi được coi là giống cần có các điều kiện sau

- Có nguồn gốc lịch sử rõ ràng

- Có một số lượng nhất định

- Có đặc điểm riêng biệt của giống, các đặc điểm này khác biệt với các giống khác và được di truyền một cách tương đối ổn định cho đời sau

- Được hội đồng giống vật nuôi quốc gia công nhận là một giống

Khái niệm công tác giống: Công tác giống là việc cho các nhóm vật giống đực và cái phối giống với nhau nhằm tạo ra thế hệ sau có năng suất, chất lượng tốt hơn thế hệ trước và thu được hiệu quả kinh tế cao hơn

Công tác giống vật nuôi gồm hai nhiệm vụ cơ bản là chọn giống và nhân giống vật nuôi Những người làm công tác giống vật nuôi cần thành thạo ba kỹ năng chủ yếu

- Phải nắm được những biến đổi di truyền nào là có giá trị

- Phải chọn chính xác và có hiệu quả được những con giống tốt

- Tìm được cách cho phối giống giữa những vật giống tốt nhằm đem lại hiệu quả tốt về di truyền và kinh tế

Đăc điểm, yêu cầu của giống trong chăn nuôi

Đối với nái hậu bị là những lợn cái được chọn làm giống kể từ sau cai sữa cho tới lúc phối giống lần đầu, thông thường lợn có độ tuổi từ 2 đến 8 tháng tuổi Đây là bước đầu của nghề nuôi lợn nái nên nó có ý nghĩa quyết định đến chất lượng đàn nái và hiệu quả kinh tế chăn nuôi sau này Do vậy, việc nuôi lợn nái trong giai đoạn hậu bị phải đảm bảo các yêu cầu:

- Lợn sinh trưởng phát triển bình thường (lợn ngoại 600- 650g/ngày, lợn nội 350 – 400g/ngày)

- Lợn có ngoại hình cân đối và đạt được các tiêu chuẩn làm giống

- Lợn nái hậu bị khỏe mạnh

- Lợn nái hậu bị có biểu hiện động dục bình thường (lợn ngoại 8-9 tháng tuổi, lợn nôi 5-6 tháng tuổi là thích hợp)

- Có triệu chứng điểm hình và có khả năng phối giống có kết quả

Muốn có một đàn nái tốt, trước hết cần phải chọn lọc và nuôi dưỡng tốt Khi chọn nái hậu bị cần phải chọn lọc theo hệ phổ và chọn lọc bản thân

Trang 27

- Chọn qua hệ phổ Quy trình chọn hiện nay như sau

+ Nếu chọn nái giống thì ít nhất bố phải đạt từ cấp 1 trở lên, mẹ từ cấp 2 trở lên + Nếu chọn để làm nái thương phẩm thì bố mẹ phải đạt từ cấp 2 trở lên

Chọn nái hậu bị nên chọn những con có khả năng sinh sản cao để thừa hưởng tính di truyền của tổ tiên

- Chọn qua bản thân Chọn lọc bản thân đóng vai trò quan trọng nhất Quy trình chọn hiện nay như sau

+ Chọn ngay khi cai sữa: Chọn con điển hình của phẩm giống, chọn con to trong đàn (nái hậu bị nội có trọng lượng >7kg, nái hậu bị ngoại có trọng lượng ở 60 ngày tuổi >20kg, con khỏe mạnh (lông thưa, da mỏng), ngoại hình cân đối, tai to, mõm bẹ, lưng dài, thăng, vai mông nở, 4 chân cao khỏe đi bằng móng, bụng to nhưng gọn, có 12 – 14 vú, phàm ăn

+ Chọn trong quá trình nuôi: Trong quá trình nuôi phải tiếp tục theo dõi khả năng

ăn uống sức khỏe, tốc độ sinh trưởng phát dục, thành thục, biểu hiện hoạt động sinh dục để chọn chính xác Đối với lợn nái ngoại cần có theo dõi xuất hiện động dục chặt chẽ hơn

Đối với đực hậu bị tốt một là phải có tổ tiên ông bà, bố mẹ tốt, có lý lịch

rõ ràng và những con lợn tổ tiên đó phải là đều đủ tiêu chuẩn để làm giống Tốt nhất ông bà, bố mẹ của nó đều có các thành tích xuất sắc về sức sinh sản, về sinh trưởng phát dục và phẩm chất thịt xẻ Đồng thời tiến độ di truyền hàng năm thông qua các thế hệ có chiều hướng tăng dần Hai là bản thân lợn đực giống đó được chọn phải được theo dõi rõ ràng về các mặt sau: Sinh trưởng phát dục tốt từ

cai sữa đến lúc trưởng thành; trước khi được phối giống lần đầu thì lợn đực

giống đó phải đạt tiêu chuẩn cấp I (C1) trở lên, hàng năm phải giám định giống

và xếp cấp lại cho từng lợn đực giống; lợn đực hậu bị muốn bán làm giống cần phải có giấy chứng nhận của cơ quan quản lý lợn giống cấp Lợn đực giống khi xuất bán cần phải được khảo sát theo phương pháp kiểm tra đời sau Từ đó, muốn chọn lợn đực giống tốt thì việc ghi chép lý lịch, hệ phả phải thật rõ ràng, chính xác Bởi vì qua thông tin từ lý lịch sẽ giúp ta biết lợn đực đó thuộc dòng nào, họ nào, giá trị giống như thế nào và bản thân nó so với ông bà cha mẹ nó đã được cải tiến ở những điểm nào, mặt khác nó giúp cho những nhà chọn giống thấy được hướng đi và cần cải tiến tiếp những đặc điểm nào Trong điều kiện ở nước ta, do chúng ta chưa có hệ thống quản lý giống chặt chẽ như ở các nước tiên tiến mà chỉ có các trại giống Nhà nước hay các doanh nghiệp và một số tư nhân có qui mô lớn mới theo dõi được khá tốt lý lịch con giống, có quy trình

Trang 28

nuôi dưỡng đảm bảo Do đó, mua lợn đực giống tốt nên mua từ các trại giống Nhà nước hay các doanh nghiệp có đăng ký sản xuất giống lợn Ngoài việc chọn

về lý lịch ra thì chọn ngoại hình trên bản thân lợn đực giống cũng hết sức quan trọng Về ngoại hình ta chọn những con có thân hình khỏe mạnh, cân đối, 4 chân vững chắc, lông, da bóng mượt, tinh nhanh, động tác đi lại tự nhiên vững chắc, đầu cổ kết hợp tốt, ngực sâu rộng, lưng rộng phẳng, dài, lưng và mông kết hợp tốt, đặc biệt hai hòn cà phải cân đối, to, lộ rõ ra ngoài, tính tình ưa hoạt động, có thể dữ tợn Ngoài ra có thể kết hợp các việc đo các chiều như: Dài thân và vòng ngực… để chọn cho chính xác hơn

2.1.4.2 Ý nghĩa của công tác giống trong chăn nuôi

- Công tác giống trong chăn nuôi có ý nghĩa quan trọng trong chăn nuôi Cùng với dinh dưỡng, chăm sóc, quản lý và vệ sinh phòng bệnh, giống là một trong những biện pháp cơ bản của sản xuất chăn nuôi

Cải thiện điều kiện dinh dưỡng, chăm sóc quản lý và vệ sinh thú y có thể cải tiến được năng suất vật nuôi, phẩm chất chăn nuôi Tuy nhiên, cho dù có cải tạo được những giải pháp kỹ thuật tối ưu nhất về các điều kiện này, năng suất và phẩm chất vật nuôi cũng chỉ dừng lại ở một giới hạn nhất định trong phạm vi cá thể, nhóm, đàn hoặc giống vật nuôi đó Chọn và nhân giống vật nuôi là biện pháp

kỹ thuật có thể cải tạo nên những giới hạn cao hơn, phạm vi rộng hơn, phong phú

và đa dạng hơn về năng suất vật nuôi và phẩm chất chăn nuôi

- Làm tốt công tác giống sẽ tạo được những cá thể, nhóm đàn vật nuôi có tiềm năng di truyền tốt, có khả năng cho năng suất cao và chất lượng sản phẩm tốt Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, những vật nuôi đó cần được nuôi dưỡng trong những điều kiện phù hợp mới phát huy được tiềm năng di truyền sẵn có của chúng Cải tiến di truyền phải kết hợp chặt chẽ với nuôi dưỡng chăm sóc và quản

lý mới có thể nâng cao năng suất, tăng chất lượng sản phẩm chăn nuôi và mang lại hiệu quả thiết thực cho sản xuất chăn nuôi

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất và tiêu thụ lợn giống

a) Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất

- Yếu tố di truyền

Sự phát triển của động vật do các gen bên trong cơ thể quy định, do đó ở mỗi loài động vật, sự phát triển có khác nhau Trong mỗi loài cũng có sự khác nhau giữa giống, dòng và giới tính Nếu lựa chọn được giống tốt thì khả năng sản xuất được sản phẩm có chất lượng tốt Yếu tố gen do truyền quyết định không

Trang 29

nhỏ trong phát triển của vật nuôi Đặc biệt là đối với đực giống, khả năng sản xuất của một con lợn đực giống phụ thuộc rất nhiều vào loại giống và khả năng

di truyền các tính trạng Một đực giống tốt mỗi năm có thể truyền những thông tin di truyền về các tính trạng kinh tế (tăng trọng cao, tiêu tốn thức ăn thấp, …) cho hàng ngàn con ở thế hệ sau, một nái tốt chỉ có thể truyền cho khoảng 20 lơn con Ngoài ra, việc lựa chọn được những con giống có gia phả tốt có thể giúp việc tiêu thụ sản phẩm dễ dàng với giá tiêu thụ cao hơn do chất lượng đảm bảo được di truyền từ các thế hệ trước

- Yếu tố ngoại cảnh

+ Thức ăn: Là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất Đối với cả đực giống và nái giống, thức ăn đều ảnh hưởng đến sự phát triển và khả năng sản xuất Nếu đảm bảo chế độ dinh dưỡng tốt thì sự phát triển của đực giống sẽ đảm bảo về thể lực

và chất lượng tinh dịch sẽ đảm bảo cho một lứa lợn con ra đời năng suất và hiệu quả Thời gian mang thai ảnh hưởng của nuôi dưỡng rất rõ Nuôi dưỡng lợn nái tốt trong thời gian mang thai sẽ giúp lợn nái mẹ sinh nhiều con và khỏe mạnh Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng không những tới bố mẹ mà ảnh hưởng đến sự phát triển của cả thế hệ sau Việc cung cấp khẩu phần thức ăn cân đối và phù hợp là yếu tố rất quan trọng đối với con giống trong thời gian đang khai thác Sự thiếu hụt các chất khoáng đa lượng và vi lượng, thiếu đạm, các vitamin, …trong khẩu phần hoặc thức ăn có chất lượng kém (bị ôi chua, mốc, …) là những yếu tố trực tiếp dẫn đến chất lượng con giống kém, ảnh hưởng đến con lai đời sau

+ Khí hậu: Điều kiện về khí hậu quyết định đến quá trình sinh trưởng và phát triển cũng như chất lượng của lợn Khí hậu khắc nghiệt không chỉ ảnh hưởng đến

sự phát triển mà còn thậm chí còn gây ra chết đối với đàn lợn Ngược lại các khu vực có khí hậu thuận lợi, việc phát triển sản xuất chăn nuôi lợn được phát triển mạnh Nếu nhiệt độ môi trường thay đổi quá đột ngột sẽ ảnh hưởng đến quá trình điều hòa thân nhiệt của cơ thể, làm lợn bị stress, sức đề kháng cơ thể giảm ảnh hưởng đến chất lượng con giống Vì vậy để sản xuất và tiêu thụ lợn giống cần phải lựa chọn các khu vực có khí hậu thuận lợi, hoặc phải đầu tư công nghệ hiện đại trong sản xuất để hạn chế tối đa ảnh hưởng của khí hậu lên con giống, điều này sẽ mang lại sự ổn định cho sản xuất và tiêu thụ lợn giống

+ Chăm sóc, nuôi dưỡng: Nếu các yếu tố khác đều thuận lợi cộng với sự chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ cho ra sản phẩm mang chất lượng tốt và giảm thiểu những chi phí, thiệt hại Việc chăm sóc tốt sẽ giúp phát hiện ra các triệu chứng bất thường kịp thời để đưa ra các biện pháp giải quyết hợp lý mang lại hiệu quả kinh

Trang 30

tế cao Ngoài ra việc đảm bảo các quy trình phòng và chữa bệnh sẽ giúp đàn lợn tránh được những thiệt hại do dịch bệnh trên diện rộng

- Yếu tố nguồn lực

+ Yếu tố con người: Con người là trung tâm của quá trình sản xuất, là yếu tố quyết định đến tất cả các hoạt động sản xuất Trong quá trình chăn nuôi và tiêu thụ lợn giống, con người đóng vai trò vô cùng quan trọng Nếu lực lượng lao động có đầy đủ những phẩm chất, trình độ, đặc biệt là kinh nghiệm thì hoạt động sản xuất chắc chắn sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn Trình độ tổ chức và quản

lý giúp con người sử dụng đầy đủ và hợp lý nguồn lực tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao nhất với chi phí là thấp nhất

+ Yếu tố vốn: Vốn luôn là một trong những nhân tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất lợn giống vì chi phí để sản xuất lợn giống cao Ngoài ra các chi phí liên quan đến việc sản xuất như thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, chi phí cho công nhân chăm sóc cũng đều cao, chưa kể đến việc đầu tư xây dựng hệ thống chuồng trại hiện đại với khoa học công nghệ cao đều phụ thuộc vào yếu tố vốn Vốn còn quyết định tới việc tái sản xuất giản đơn hay tái sản xuất mở rộng

do đó để phát triển sản xuất đòi hỏi công ty cần có nguồn vốn để chủ động đối phó với các rủi ro thời tiết, dịch bệnh, giá trị đầu vào tăng cao,

- Yếu tố công nghệ, kỹ thuật

Sản xuất lợn giống đòi hỏi đầu tư nhiều lao động sống với trình độ, tay nghề bởi vì lợn là con vật sống, vì vậy đòi hỏi người lao động phải thường xuyên quan tâm chăm sóc Để cho ra được những sản phẩm như ý đòi hỏi phải đảm bảo các quy trình lựa chọn, chăm sóc, nuôi dưỡng và tiêm phòng Hệ thống công nghệ khép kín chuồng trại sẽ giúp đảm bảo cung cấp không khí sạch, hệ thống nước được thiết kế hhoa học sẽ đảm bảo cung cấp nguồn nước đảm bảo chất lượng, hệ thống máng ăn theo dây tự động sẽ giảm thiểu chi phí nhân công chăm sóc Như vậy, trong bất kỳ lĩnh vực nào, khoa học công nghệ đều góp phần đảm bảo cho quá trình sản xuất hiệu quả và an toàn

- Yếu tố dịch vụ cung ứng giống, vật tư sản xuất và tiêu thụ lợn giống

Các yếu tố phát triển sản xuất lợn giống là giống, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, hệ thống máng ăn đều cần thiết với nhà sản xuất Để đảm bảo sản xuất có hiệu quả, việc cung ứng các yếu tố trên thị trường hiện nay khá thuận lợi Các dịch vụ cung ứng và các phương tiện hỗ trợ việc sản xuất và tiêu thụ sẽ góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cao

- Yếu tố giá cả thị trường và hệ thống phân phối sản phẩm

Trang 31

Sản xuất muốn phát triển đòi hỏi cần có thị trường và luôn tìm cách đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường và hệ thống phân phối sản phẩm Bất kỳ ngành sản xuất nào cũng liên quan đến thị trường đầu vào và đầu ra Sự biến động giá cả ở cả hai thị trường đều tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất và thu nhập của công ty Việc định giá cả đầu ra cũng như nguồn cung ứng các vật tư đầu vào, tạo lập và mở rộng thị trường tiêu thụ sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao

Trong những năm gần đây giá cả đầu vào của thức ăn chăn nuôi biến động nhiều, do đó cũng gây ra những biến động lớn đối với sản xuất và tiêu thụ lợn giống Giá đầu ra cũng là yếu tố hết sức quan trọng ảnh hưởng tới nghề chăn nuôi Trên thực tế đã cho thấy, nếu giá của một lợn năm nay cao và bán chạy thì nguồn cung năm sau đó sẽ tăng cao Điều đó làm cho giá cả năm đó sẽ giảm do cung vượt cầu

b) Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm

- Yếu tố giá cả hàng hóa

Giá cả hàng hóa là một trong những nhân tố chủ yếu tác động đến tiêu thụ hàng hóa trên thị trường Giá cả hàng hóa có thể kích thích hoặc hạn chế cung cầu trên thị trường do đó ảnh hưởng đến tiêu thụ Xác định đúng giá sẽ thu hút được khách hàng đảm bảo khả năng tiêu thụ thu được lợi nhuận cao nhất, tranh ứ đọng, hạn chế thua lỗ Tùy từng thị trường doanh nghiệp xác định giá bán phù hợp và linh hoạt nhằm thu hút khách hàng cũng như đảm bảo chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Giá cả có ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu thụ do đó được

sử dụng như một đòn bẩy để kích thích tiêu thụ đặc biệt là trong điều kiện thu nhập dân cư thấp Tuy nhiên, nếu lạm dụng yếu tố giá có thể dẫn đến tác động ngược lại, làm ảnh hưởng đến doanh nghiệp Do đó, doanh nghiệp phải có chinhs sách giá phù hợp với từng giai đoạn để đảm bảo mục tiêu kinh doanh của mình

- Yếu tố chất lượng sản phẩm

Khi nói tới chất lượng sản phẩm hàng hóa là nói tới các yếu tố nội tại của sản phẩm được xác định bằng những thông số sản phẩm có thể đo được hoặc so sánh được phù hợp với điều kiện hiện tại và thỏa mãn được những nhu cầu hiện tại của xã hội Một sản phẩm xuất hiện trên thị trường thông thường đều được sản xuất bởi nhiều doanh nghiệp khác nhau có chất lượng sản phẩm khác nhau và cùng mong muốn thỉa mãn các nhu cầu của người tiêu dùng Vì vậy, để tiêu thụ được nhiều sản phẩm của doanh nghiệp các sản phẩm này phẩm đảm bảo thỏa mãn nhiều nhất nhu cầu của khách hàng Khi chất lượng sản phẩm được đảm bảo

sẽ mang lại cho doanh nghiệp uy tín, tạo cơ hội cạnh tranh bền vững Từ đó giúp doanh nghiệp giữ vững được các thị trường truyền thống và mở rộng thêm các thị trường tiềm năng khác

Trang 32

Mục tiêu cao nhất của doanh nghiệp là lợi nhuận, vì vậy ngoài yếu tố giá cả, yếu tố chất lượng sẽ tạo cho doanh nghiệp lợi thế lớn trong cạnh tranh, thu hút khách hàng lâu dài, bền vững và trung thành với doanh nghiệp

- Yếu tố cơ cấu mặt hàng

Cơ cấu mặt hàng có ảnh hưởng đến tốc độ tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp bởi vì nhu cầu trên thị trường rất đa dạng, phong phú vì vậy để đáp ứng tối đa nhu cầu trên thị trường cơ cấu sản phẩm của doanh nghiệp phải đa dạng Hơn nữa, cơ cấu sản phẩm phong phú sẽ giúp doanh nghiệp đáp ứng nhanh sự thay đổi nhu cầu trên thị trường đồng thời giảm rủi ro cho doanh nghiệp

- Các biện pháp quảng cáo

Trong thời kỳ cạnh tranh gay gắt như hiện nay, quảng cáo đóng vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm quảng cáo nhằm giới thiệu sản phẩm tới người tiêu dùng và kích thích nhu cầu của họ Chi phí quảng cáo rất lớn nên doanh nghiệp phải có kế hoạch phù hợp đảm bảo giảm thiểu nhất chi phí và mang lại hiêu quả tương ứng Doanh nghiệp có thể quảng cáo trên các phương tiện truyền thông, thư chào hàng…Có rất nhiều doanh nghiệp nhờ quảng cáo đã thúc đẩy hiệu quả của tiêu thụ sản phẩm Ngược lại, có doanh nghiệp sử dụng chiến lược quảng cáo không phù hợp nên có ảnh hưởng tiêu cực đến tiêu thụ sản phẩm Vì vậy, doanh nghiệp phải chọn phương án phù hợp nhất trong từng giai đoạn để đảm bảo tiêu thụ tối đa sản phẩm

- Mạng kênh phân phối và dịch vụ sau bán hàng

Tổ chức tốt kênh phân phối và dịch vụ sau bán hàng sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa Các kênh phân phối được tổ chức tốt sẽ chiếm lĩnh được không gian thị trường, tạo điều kiện cho người tiêu dùng và kích thích hơn nữa nhu cầu mua sắm của họ

Để đảm bảo tiêu thụ tốt doanh nghiệp cần đảm bảo văn minh, lịch sự đúng hẹn trong giao dịch, tạo mọi điều kiện có lợi nhất cho khách hàng Hơn nữa, phải mềm dẻo linh hoạt trong phương thức thanh toán, giai nhận hàng hóa đảm bảo hai bên cùng có lợi tranh gây khó khăn cho khách hàng Ngoài ra những dịch vụ sau bán hàng cũng góp phần đảm bảo cho khách hàng khi mua sắm sản phẩm, làm cho khách hàng có niềm tin và yên tâm hơn khi lựa chọn sản phẩm của doanh nghiệp từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm

Trang 33

bắt đầu phát triển ở châu Mỹ và thế kỷ XVIII phát triển ở châu Úc Đến nay, nuôi lợn đã trở thành một nghề truyền thống của nhiều quốc gia Ở nhiều nước, chăn nuôi lợn có công nghệ cao và có tổng đàn lợn lớn như: Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Hà Lan, Đan Mạch, Thụy Điển, Đức, Ý, Úc, Trung Quốc, Singapho, Đài Loan…Nói chung ở các nước tiên tiến có chăn nuôi lợn phát triển theo hình thức công nghiệp và đạt trình độ chuyên môn hóa cao

Tuy vậy, đàn lợn trên thế giới phân bố không đồng đều ở các châu lục Có tới 70% số đầu lợn được nuôi ở châu Á và châu Âu, khoảng 30% ở các châu lục khác Trong đó, tỷ lệ đàn lợn được nuôi nhiều nhất ở các nước có chăn nuôi tiên tiến Nơi nào có nhu cầu thịt lợn cao, nơi đó nuôi nhiều lợn Tính đến nay chăn nuôi lợn ở các nước châu Âu chiếm khoảng 52%, châu Á 30,4%, châu Úc 5,8%, châu Mỹ 8,6%

Nhìn chung, sản phẩm của các ngành chăn nuôi lợn được sử dụng rộng rãi khắp nơi trên thế giới (trừ một số nước theo tín ngưỡng Hồi giáo) Giá trị dinh dưỡng cao của thịt lợn là nguồn cung cấp thực phẩm tốt cho con người, không những thế nghề chăn nuôi lợn đã đem lại lợi nhuận không nhỏ cho nền kinh tế

của các nước này

2.2.1.1 Kinh nghiệm phát triển sản xuất và tiêu thụ lợn giống của các doanh nghiệp Đan Mạch

Hiện nay Đan Mạch cũng sản xuất 28 triệu con lợn mỗi năm, nhưng chỉ sử dụng hết 10%, 90% còn lại xuất khẩu sang các nước Hệ thống chăn nuôi ở Đan Mạch hiện chỉ có 4.700 người nuôi lợn trong 4.000 trại nuôi chuyên nghiệp Đan Mạch đang có 1,1 triệu con lợn giống 70% số lợn nái được tập trung trong các trại chăn nuôi rộng rãi và thoáng mát Mỗi lợn nái của Đan Mạch cho trung bình

28 lợn con mỗi năm, có những trại lợn giống lên đến 32 lợn con/năm Lợn ở Đan Mạch cũng không mắc các dịch bệnh như tai xanh, lở mồm long móng do dược tuyển chọn gen và giống rất kỹ

Giống Landrace là giống lợn Đan Mạch nổi tiếng khắp thế giới, là giống lợn cho nhiều nạc Hiện nay giống lợn này được xuất đi khắp nơi để cải thiện giống lợn của nhiều nước và trở thành các giống lợn Landrace Mỹ, Landrace Anh, Landrace Pháp, Landrace Canada…(Nguồn: Nhandan.com.vn)

Những người nuôi lợn Đan Mạch dẫn đầu thế giới Sự thành công của họ dựa trên một sự phối hợp các doanh nghiệp mạnh về thiết kế, công nghệ chất lượng cao, giống lợn tốt nhất và sử dụng các nguyên tắc quản lý cũng như bí quyết hiện đại

Trang 34

Các công ty chăn nuôi Đan Mạch như Danish Farm Concept © đang cung cấp mô

hình trang trại lợn Đan Mạch hoàn chỉnh cho người nuôi lợn Trung Quốc gồm một thiết kế trang trại thân thiện với môi trường, giống lợn Đan Mạch, gói công nghệ, đào tạo và tập huấn nhân viên cũng như quản lý trang trại Tiêu chuẩn của tất cả trại nuôi lợn Đan Mạch là 30 con trên nái trên năm Chìa khóa thành công của các công ty Đan Mạch chính là sự phối hợp giữa các yếu tố

Các trại nuôi lợn được thiết kế phù hợp với các yêu cầu và năng suất của giống lợn Đan Mạch: An ninh sinh học cao, bảo vệ môi trường, công nghệ hiệu quả, chương trình dinh dưỡng, giải pháp bền vững về chất thải chăn nuôi, đào tạo và quản lý

Mô hình trang trại ở Đan Mạch

2.2.1.2 Kinh nghiệm sản xuất và tiêu thụ lợn giống của các doanh nghiệp Mỹ

Trang 35

Nông nghiệp ở Hoa Kỳ đứng đầu thế giới về sản lượng ngũ cốc (lúa mì, ngô ) Mặc dù nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 1,1% GDP nhưng mỗi năm cũng thu về cho Mỹ 240 - 260 tỷ USD, giá trị xuất khẩu 80 - 100 tỉ USD Trong đó, ngành chăn nuôi lợn tại Mỹ phát triển ở trình độ rất cao với sự liên kết chặt chẽ của "bốn nhà": nhà nước, nhà khoa học, nhà kinh doanh và nhà chăn nuôi

Hằng năm, việc tổ chức các hội chợ để các nhà đầu tư, các chủ trang trại, các nhà khoa học và những người quan tâm đến ngành chăn nuôi nước Mỹ gặp

gỡ, trao đổi, học hỏi lẫn nhau Chính vì có sự liên kết giữa “bốn nhà” mà việc phát triển sản xuất và tiêu thụ lợn giống không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế từ bản thân nước Mỹ mà còn mở rộng thị trường xuất khẩu sang rất nhiều các nước trên thế giới

Một trong những giống lợn nổi tiếng có nguồn gốc từ Mỹ là giống lợn Duroc, sắc lông đỏ nâu, bốn móng ở mỗi chân màu đen huyền, khi lai có màu

vàng nhạt và xuất hiện đốm bông đen (thường ở đùi, mông, bụng)

2.2.1.3 Kinh nghiệm sản xuất và tiêu thụ lợn giống của các doanh nghiệp Nga

Về lâu dài, Nga có thể là một quốc gia cung cấp lớn trên toàn cầu trong ngành chăn nuôi lợn do giá ngũ cốc thấp và diện tích đất rộng lớn thuận lợi cho công tác chăn nuôi Tuy nhiên, việc chăn nuôi ở nước Nga hiện nay không đạt được như mong muốn Tại Nga, có nhiều doanh nghiệp chăn nuôi lợn nhưng việc quản lý kém và chi phí sản xuất cao Các doanh nghiệp Nga tự mình làm tất cả mọi thứ vừa làm trại giống hạt nhân lại vừa làm trại sinh sản, bảo dưỡng riêng, vận chuyển riêng, các phòng thí nghiệm thú y riêng Chương trình cải tạo di truyền trong đàn lợn riêng thường không tạo nên tiến bộ di truyền như các công

ty chọn giống độc lập Đây chính là những nội dung cần phải rút kinh nghiệm trong sản xuất chăn nuôi ở Nga Do nước Nga phải nhập khẩu một lượng thịt lớn nên ngành chăn nuôi của Nga hiện nay đang được chính phủ quan tâm và coi là

nhiệm vụ trọng tâm, trong đó là ngành chăn nuôi lợn

2.2.1.4 Kinh nghiệm sản xuất và tiêu thụ lợn giống của các doanh nghiệp Pháp

Lúa mì, gia cầm, sữa, thịt bò, thịt lợn và rượu vang Pháp nổi tiếng khắp thế giới Đây cũng là các mặt hàng xuất khẩu nông nghiệp hàng đầu của nước này Trong tổng số hơn 550.00 km2 đất tự nhiên, diện tích đất dành cho nông, lâm nghiêp của Pháp chiếm gần 82%.Với những vùng đất rộng rãi và màu mỡ, việc áp dụng kỹ thuật hiện đại cũng như các biện pháp hỗ trợ của EU, Pháp trở thành nước sản xuất và xuất khẩu nông nghiệp hàng đầu Châu Âu

Trang 36

Các công ty sản xuất và tiêu thụ sản phẩm lợn của Pháp luôn tuân thủ các quy định nghiêm về việc đảm bảo chất lượng sức khỏe và an toàn sinh học Ở Pháp, việc chăn nuôi theo mô hình chăn nuôi hữu cơ đang phát triển và đây là nhu cầu ngày càng gia tăng của người tiêu dùng về sản phẩm hữu cơ Châu Âu và Bắc Mỹ hiện là hai thị trường tiêu thụ nông sản hữu cơ nhiều nhất thế giới với nhu cầu không ngừng tăng Nông nghiệp hữu cơ hiện đã có mặt tại 130 quốc gia trên thế giới

Frannce Hybirides là một trong những công ty sản xuất và tiêu thụ lợn giống tại Pháp Để tiêu thụ được những sản phẩm của mình sang thị trường các nước thế giới, lợn giống của công ty được đảm bảo về mặt chất lượng Kể cả khi dịch cúm H1N1 hoành hành nhưng công ty vẫn xuất các lô hàng giống lợn sang thị trường Trung Quốc, điều này minh chứng cho việc đảm bảo chất lượng về

mặt sức khỏe và an toàn sinh học của các sản phẩm của công ty

2.2.2 Kinh nghiệm phát triển sản xuất và tiêu thụ lợn giống của các doanh nghiệp trong nước

Chăn nuôi lợn ở Việt Nam có từ lâu đời Theo số tài liệu của khảo cổ học, nghề chăn nuôi lợn ở Việt Nam có từ thời đồ đá mới, cách đây khoảng 1 vạn năm Từ khi con người biết sử dụng công cụ lao động là đồ đá họ đã biết săn bắn

và bắt được nhiều thú rừng, trong đó có nhiều lợn rừng Khi đó họ bắt đầu có ý thức tích trữ thực phẩm và lương thực cho những ngày không săn bắn và hái lượm được Họ đã giữ lại những con vật bắt được để thuần dưỡng chúng Cũng bắt đầu từ đó nghề chăn nuôi lợn bắt đầu hình thành Có nhiều tài liệu cho rằng nghề chăn nuôi lợn và nghề trồng lúa nước gắn liền với nhau và phát triển theo văn hóa Việt Theo các tài liệu khảo cổ học và văn hóa cho rằng nghề nuôi lợn và trồng lúa nước phát triển vào giai đoạn văn hóa Gò Mun và Đông Sơn, đặc biệt vào thời kỳ các vua Hùng Trải qua thời kỳ Bắc thuộc và dưới ách đô hộ của phong kiến phương Bắc, đời sống của nhân dân ta rất khổ sở, ngành nông nghiệp nói chung và ngành chăn nuôi không phát triển được Vào khoảng cuối thế kỷ XVIII, khi có trao đổi văn hóa giữa Trung Quốc và Việt Nam, chăn nuôi lợn được phát triển Dân cư phía Bắc đã nhập các giống lợn lang Trung Quốc vào nuôi tại các tỉnh miền Đông Bắc Bộ Tuy nhiên trong thời kỳ này trình độ chăn nuôi lợn vẫn còn rất thấp Trong thời kỳ Pháp thuộc, khoảng 1925, Pháp bắt đầu cho nhập các giống lợn châu Âu vào nước ta như giống lợn Yorkshire, Berkshire

và cho lai tạo với các giống lợn nội nước ta như lợn Móng Cái, lợn Ỉ, lợn Bồ Xụ Cùng với việc tăng nhanh về số lượng, chất lượng đàn lợn cũng không ngừng được cải thiện Các phương pháp nhân giống thuần chủng và các phép lai được

Trang 37

thực hiện Đặc biệt giai đoạn từ 1986 đến nay: Đây là giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với môi trường sinh thái nông nghiệp sản xuất hàng hóa để tham gia thị trường khu vực (AFTA) và tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Từ đó các mô hình chăn nuôi lợn được hình thành và phát triển ở các tỉnh miền Nam và miền Bắc, hình thức chăn nuôi lợn theo trang trại và doanh nghiệp tư nhân phát triển mạnh Ngoài ra, còn có nhiều doanh nghiệp và công ty chăn nuôi lợn có vốn đầu tư nước 100% của nước ngoài Với hình thức chăn nuôi công nghiệp tập trung này, trong những năm tới chăn nuôi lợn của nước ta sẽ phát triển nhanh chóng Cho đến nay, có thể nói nhiều doanh nghiệp, công ty hay các Trung tâm giống lợn đã có khả năng sản xuất các giống lợn tốt đáp ứng nhu cầu nuôi lợn cao nạc và phát triển chăn nuôi

lợn ở các hình thức khác nhau trong cả nước

2.2.2.1 Kinh nghiệm phát triển sản xuất và tiêu thụ lợn giống của công ty TNHH giống hạt nhân Dabaco

Công ty TNHH lợn giống hạt nhân Dabaco (tiền thân là xí nghiệp lợn giống Thuận Thành), qui mô 200 nái cụ kỵ, 800 nái ông bà, 120 con đực cụ

kỵ loại: Duroc, Piteran, Landat, Yorshre, được nhập từ Canada, Đan Mạch, Tây Ban Nha, Mỹ, được đầu tư hệ thống chuồng trại và thiết bị chăn nuôi hiện đại bậc nhất hiện nay Công ty là đơn vị duy nhất trong tỉnh được UBND tỉnh Bắc Ninh giao nhiệm vụ nuôi giữ, lai tạo đàn giống gốc cụ kỵ, ông bà, bố mẹ, con thương phẩm Sản phẩm con giống và tinh lợn được tiêu thụ khắp tỉnh Bắc Ninh, phục

vụ cho đàn nái Công ty, cung cấp cho các nhà chăn nuôi trong tỉnh và các tỉnh lân cận; được người chăn nuôi đánh giá là sản phẩm chất lượng cao Công ty đạt danh hiệu đơn vị anh hùng lao động thời kỳ đổi mới Các sản phẩm của công ty

đa dạng, đảm bảo chất lượng và cung ứng kịp thời cho nhu cầu của thị trường DABACO luôn đặt mục tiêu chất lượng lên hàng đầu, lấy chất lượng để cam kết với khách hàng, lấy thị trường làm định hướng, không ngừng cải tiến

kỹ thuật, đổi mới công nghệ và thiết bị, đào tạo cán bộ, tạo môi trường làm việc lành mạnh, sáng tạo, nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng sự tin dùng của khách hàng

DABACO cam kết xây dựng, thực hiện, duy trì và không ngừng cải tiến

hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với các tiêu chuẩn: ISO 9001-2008; ISO 22.000-2005 và Phòng thí nghiệm đạt Tiêu chuẩn quốc gia VILAS 645 (ISO/IEC 17025:2005), nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ tốt nhất, đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm đáp ứng yêu cầu của khách hàng (Dabaco.com.vn)

Trang 38

2.2.2.2 Kinh nghiệm phát triển sản xuất và tiêu thụ lợn giống của công ty liên doanh Austfeed

Kể từ năm 2010 đến nay, Công ty Liên doanh Austfeed đã liên tục đầu tư

và chú trọng phát triển Trung tâm heo giống hạt nhân Hưng Việt, với qui mô 1.200 heo giống cấp GGP (cụ/kỵ) và GP (ông bà) tại Việt Nam Toàn bộ đàn heo giống của Trung tâm Hưng Việt đều được nhập khẩu trực tiếp từ Vương quốc Anh, với mục đích cung cấp cho thị trường chăn nuôi trong nước sản phẩm heo giống phẩm chất cao, tăng trưởng mạnh, kháng bệnh tốt Đàn heo giống cấp GGP được nhập khẩu sẽ giúp Austfeed tăng thêm số lượng đàn heo giống chất lượng cao của mình Và với kinh nghiệm cùng công nghệ hiện đại sẵn có, Austfeed sẽ nhân giống, chọn lọc để tạo ra các giống mới cung cấp cho thị trường, giúp người chăn nuôi Việt Nam có thêm những sản phẩm chăn nuôi chất lượng cao, mang lại hiệu quả kinh tế tốt Các nỗ lực phát triển giống này càng khẳng định uy tín và thương hiệu hàng đầu của Công ty Liên doanh Austfeed Công ty Liên doanh Austfeed là một trong số rất ít các doanh nghiệp tại Việt Nam, áp dụng được mô hình sản xuất “Từ nông trại tới bàn ăn”, với chuỗi giá trị khép kín, từ khâu thức ăn chăn nuôi, con giống, thuốc thú y, chăn nuôi cho đến chế biến và cung cấp thực phẩm chất lượng cao, đảm bảo yêu cầu

vệ sinh an toàn đến tay người tiêu dùng

2.2.2.3.Kinh nghiệm phát triển sản xuất và tiêu thụ lợn giống của công ty TNHH một thành viên Japfa Hypor

Công ty TNHH Di truyền giống Japfa Hypor được thành lập từ tháng 8 năm 2012 tại xã Minh Tâm, huyện Hớn Quảng, tỉnh Bình Phước Japfa Hypor là liên doanh giữa Công ty TNHH Japfa Comfeed Long An và Công ty Hypor B.V – Hà Lan Công ty chuyên hoạt động trong lĩnh vực di truyền giống lợn và cung cấp lợn giống cho thị trường Việt Nam Với sứ mệnh góp phần cải tạo giống, thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn Việt Nam phát triển toàn diện, công ty Japfa Hypor cam kết với mỗi sản phẩm đưa ra thị trường đều được trải qua một quá trình tạo giống và chọn lọc chuẩn mực và kỹ càng để có được những cá thể lợn giống tuyệt vời nhất

Với số vốn đầu tư hơn 5 triệu USD, đây là trại lợn giống cụ kỵ quy mô hiện đại bậc nhất ở Việt Nam hiện nay, nhằm tạo ra thế hệ lợn giống ông bà tốt nhất để từ đó có thể phát triển chất lượng con giống tại Việt Nam lên một tầm cao mới.Con giống cụ kỵ mà Công ty Hypor cung cấp cho trại lợn giống hạt nhân

Trang 39

này là lợn giống cụ kỵ Yorkshire, Landrace, Duroc và Pietrain, mang ưu điểm di truyền vượt trội của nó và có khả năng thích nghi cao nhất.Sau khi khánh thành, trại lợn giống cụ kỵ được đưa vào hoạt động ngay thông qua việc nhập 700 con giống cụ kỵ từ Canada và Pháp vào tuần đầu của tháng Chín, với tổng giá trị hơn 1,5 triệu USD.Trong công tác quản lý, trại lợn này sẽ này sử dụng phần mềm của Agrovision (Hà Lan) và được kết nối với hệ thống dữ liệu toàn cầu của công ty Hyor Việc ước lượng giá trị di truyền giống và tỷ lệ chọn lọc thông qua các chỉ

số được cập nhật liên tục hàng tuần Nhờ đó, các tính năng di truyền của đàn giống cụ kỵ liên tục được cải thiện ngang bằng với sự tiến bộ của di truyền giống của thế giới Để đảm bảo trại giống cụ kỵ vận hành một cách tối ưu, ngoài việc đầu tư tốt nhất vào cơ sở hạ tầng, lãnh đạo trại lợn này còn chú trọng đào tạo đội ngũ nhân viên qua các chuyến học tập và đào tạo thực tế tại các trang trại hiện đại ở nước ngoài, tạo cơ hội để họ tiếp cận những tiến bộ mới nhất của ngành chăn nuôi lợn.Trại lợn giống cụ kỵ này được đưa vào hoạt động sẽ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thịt lợn ngày càng cao cả về lượng và chất của thị trường nội địa, góp phần vào mục tiêu đạt 34,8 triệu con lợn của Việt Nam vào năm 2020, đồng thời giúp phát triển ngành di truyền giống trong chăn nuôi lợn Việt Nam tiến đến mục tiêu xuất khẩu thịt lợn trong tương lai gần

Triết lý của Japfa Hypor khi tạo nên những con giống vật nuôi là dựa trên các yếu tố ảnh hưởng đến tổng lợi nhuận của toàn thể hệ thống Japfa Hypor tập trung vào việc tối ưu hóa kết quả từ dưới lên thay vì tập trung vào hiệu năng của từng giai đoạn hoặc đặc tính riêng lẻ Japfa Hypor thực hiện điều này là bởi biết rằng mọi thứ đều liên quan một cách chặt chẽ

2.2.2.4 Kinh nghiệm phát triển sản xuất và tiêu thụ lợn giống của công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam

Tập đoàn C.P (Charoen Pokphand Group) được thành lập năm 1921 tại Bangkok, Thái Lan Nay là một tập đoàn sản xuất kinh doanh đa ngành nghề và

là một trong những tập đoàn mạnh nhất của Thái Lan trong lĩnh vực công - nông nghiệp và chế biến thực phẩm Tập đoàn C.P bắt đầu vào Việt Nam năm 1988 với văn phòng đại diện tại TP Hồ Chí Minh Hệ thống sản xuất đa ngành khép kín theo mô hình “FEED-FARM-FOOD” là một thế mạnh của Công ty CPV trong sản xuất thực phẩm chất lượng cao và an toàn cho người tiêu dùng

Hệ thống sản xuất heo giống của Công ty CPV thực hiện theo mô hình giống hình tháp bao gồm

Trang 40

Sơ đồ 2.2 Mô hình hệ thống sản xuất của công ty CPV

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam được đánh giá là công ty tiên tiến, hiệu quả đầu tư cao Đặc biệt, với

mô hình chăn nuôi hiện đại, CPV đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của ngành chăn nuôi Việt Nam, thúc đẩy quá trình chuyển đổi phương thức sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình chăn nuôi công nghiệp tập trung

Hiện tại, CPV đang tiến hành chuyển giao công nghệ chăn nuôi khép kín, năng suất cao cho người chăn nuôi Việt Nam thông qua hình thức chăn nuôi hợp đồng CPV cũng khuyến khích, hỗ trợ nông dân để họ tự chủ trong hoạt động chăn nuôi, giúp họ trở thành khách hàng của CPV trong tương lai Bằng hình thức liên kết chăn nuôi hợp đồng, CPV đã hợp tác với nông dân phát triển hơn 3,000 trang trại trên toàn quốc và tạo công ăn việc làm cho khoảng

Ngày đăng: 29/09/2017, 20:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w