Để đảm bảo nguồn lực sinh kế cho các hộ dân phụ thuộc vào rừng trên địa bàn huyện Na Rì, các cơ quan ban ngành, các tổ chức cần hướng dẫn người dân khai thác có hiệu quả các nguồn lực sẵ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho học viên thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Trần Thị Thanh Huyền
Trang 3Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,
Bộ môn Quản trị kinh doanh, Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh – Học viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn chính quyền địa phương huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn cùng với sự hỗ trợ của dự án REDD+“Giảm thiếu phát thải khí nhà kính từ mất rừng và suy thoái rừng (REDD+): Đánh giá các phương thức quản lý rừng qua thời gian” do Cơ
quan Phát triển Quốc tế Đan Mạch (DANIDA) tài trợ, đã tạo giúp đỡ và tạo điều kiện
cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Trần Thị Thanh Huyền
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục sơ đồ, biểu đồ vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract ix
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 5
2.1 Cơ sở lý luận về sinh kế 5
2.1.1 Các khái niệm cơ bản 5
2.1.2 Nội dung đánh giá sinh kế 7
2.1.3 Phương pháp và chỉ tiêu đánh giá nguồn lực sinh kế 12
2.1.4 Rừng và ảnh hưởng của rừng đến sinh kế của người dân 18
2.1.5 Cơ sở lý luận về mức độ phụ thuộc vào rừng của người dân 19
2.2 Cơ sở thực tiễn về đánh giá nguồn lực và nâng cao kết quả sinh kế 20
2.2.1 Trên thế giới 20
2.2.2 Ở Việt Nam 21
2.2.3 Một số công trình nghiên cứu liên quan 23
Phần 3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 24
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 24
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 24
3.1.2 Các nguồn tài nguyên 25
3.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội 29
3.2 Phương pháp nghiên cứu 33
Trang 53.2.1 Phương pháp tiếp cận 33
3.2.2 Khung phân tích đề tài 34
3.2.3 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 35
3.2.4 Phương pháp phân tích 36
3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá/ lượng hóa các nguồn lực sinh kế 36
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 40
4.1 Thực trạng nguồn lực sinh kế của hộ tại huyện na rì, tỉnh Bắc Kạn 40
4.1.1 Đặc điểm cơ bản của hộ điều tra 40
4.1.2 Bối cảnh dễ bị tổn thương của hộ 41
4.1.3 Nguồn lực sinh kế 44
4.1.4 Đánh giá thực trạng các nguồn lực sinh kế 60
4.2 Thực trạng kết quả sinh kế 67
4.2.1 Thực trạng kết quả sinh kế của huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn năm 2015 67
4.2.2 Thực trạng sinh kế của hộ điều tra tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn 68
4.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao kết quả sinh kế 71
4.3.1 Giải pháp về nguồn lực con người 71
4.3.2 Giải pháp về nguồn lực xã hội 74
4.3.3 Giải pháp về nguồn lực tài chính 77
4.3.4 Giải pháp về nguồn lực tự nhiên 79
4.3.5 Giải pháp về nguồn lực vật chất 82
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 85
5.1 Kết luận 85
5.2 Kiến nghị 85
5.2.1 Nhà nước 85
5.2.2 Địa phương 86
Tài liệu tham khảo 87
Phụ lục 89
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của
Liên Hiệp Quốc AusAID Cơ quan phát triển quốc tế Úc
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình nhân khẩu tại huyện Na Rì 30
Bảng 3.2 Mô tả biến chiến lược sinh kế của hộ 36
Bảng 3.3 Cách quy đổi điểm các chỉ tiêu 37
Bảng 3.4 Các chỉ tiêu thể hiện nguồn lực và kết quả sinh kế sinh kế 37
Bảng 4.1 Giới thiệu về hộ điều tra 40
Bảng 4.2 Một số thông tin cơ bản của chủ hộ 41
Bảng 4.3 Bối cảnh dễ bị tổn thương của các hộ 42
Bảng 4.4 Nguồn lực con người của hộ điều tra 45
Bảng 4.5 Trình độ học vấn của chủ hộ 46
Bảng 4.6 Tình hình học sinh đến trường theo đúng độ tuổi 48
Bảng 4.7 Nguồn lực xã hội của hộ điều tra 50
Bảng 4.8 Chi tiết về nguồn lực xã hội của hộ điều tra 51
Bảng 4.9 Nguồn lực tài chính của hộ điều tra 54
Bảng 4.10 Bảng số nguồn thu nhập của hộ điều tra 54
Bảng 4.11 Chi tiết về nguồn vốn tài chính của hộ điều tra 55
Bảng 4.12 Nguồn lực vật chất của hộ điều tra 57
Bảng 4.13 Bảng tình trạng và chất lượng nhà ở của hộ điều tra 58
Bảng 4.14 Nguồn lực tự nhiên của hộ điều tra 59
Bảng 4.15 Đánh giá điểm của các nguồn lực trong hộ điều tra 62
Bảng 4.16 Đánh giá nguồn lực sinh kế của hộ điều tra 65
Bảng 4.17 Kết quả sinh kế của hộ điều tra 69
Bảng 4.18 Bảng mức độ của một số chỉ tiêu đánh giá kết quả sinh kế 70
Bảng 4.19 Đánh giá nguồn lực con người và đề xuất giải pháp 72
Bảng 4.20 Đánh giá nguồn lực xã hội và đề xuất giải pháp 75
Bảng 4.21 Đánh giá nguồn lực tài chính và đề xuất giải pháp 78
Bảng 4.22 Đánh giá nguồn lực tự nhiên và đề xuất giải pháp 80
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Khung phân tích đề tài 34
Biểu đồ 4.1 Mức độ của biến cố có người ốm nặng trong GĐ 43
Biểu đồ 4.2 Mức độ của biến cố mất mùa nghiêm trọng 43
Biểu đồ 4.3 Trình độ học vấn của các thành viên trong hộ 47
Biểu đồ 4.4 Tỷ lệ tham gia của vợ và chồng vào hội nông dân 53
Biểu đồ 4.5 Biểu đồ đánh giá nguồn lực sinh kế tại huyện Na Rì 67
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Nghiên cứu này nhằm đánh giá nguồn lực và kết quả sinh kế cho người dân phụ thuộc vào rừng Dữ liệu nghiên cứu được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp đối với
130 hộ sống gần rừng ở huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn Cách tiếp cận sinh kế bền vững, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh, và kiểm định T-test được sử dụng Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mức độ phụ thuộc vào rừng của hộ được điều tra còn lớn; Cả năm nhóm nguồn lực có sự khác nhau giữa các nhóm hộ với mức độ phụ thuộc vào rừng ít, vừa phải và cao Tuy nhiên, đánh giá chung nguồn lực của các nhóm hộ còn thấp; Hộ có mức phụ thuộc vào rừng thấp thường là hộ có nguồn lực mạnh, có thu nhập cao Đánh giá kết quả sinh kế của hộ thông qua các chỉ tiêu như hài lòng, đầy đủ, sung túc, sung túc so với 5 năm trước và đáng sống Nhìn chung kết quả sinh kế cũng được đánh giá ở mức trung bình và có sự khác nhau giữa các nhóm hộ Hộ có mức phụ thuộc cao vào rừng có kết quả sinh kế thấp hơn nhóm còn lại Để nâng cao kết quả sinh kế, cần đưa ra những giải pháp đồng bộ để khai thác hiệu quả các nguồn lực sinh kế
Trang 10THESIS ABSTRACT
The aim of this study is to assess the livelihood capitals and livelihood outcomes for forest-dependent people The data were collected through direct interviews from 130 households living near the forest in the district of Na Ri, Bac Kan province The sustainable livelihoods approach, methods of descriptive statistics, comparison and student T-test are used in the study The results reveal that degree of the forest- dependent households is still high All of five livelihood capitals is different among the groups with the degree of forest-dependent small, medium, and high However, in average, the livelihood capitals in the study area are still low; The low levels of forest- dependent households usually have reliable capitals, high-income The livelihood outcomes are evaluated through indicators such as satisfaction, full, abundance, affluence compared to 5 years ago and worth living Overall, results were also evaluated livelihood inadequate and there is a difference among the groups Households with a high dependency on forests have lower livelihood outcomes remaining groups To improve livelihood outcomes, to make synchronization solution for efficient exploitation of the resources of livelihood
Trang 11PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đã từ lâu, rừng được xem là một nguồn thu nhập quan trọng đối với nhiều người nghèo trên thế giới Tuy nhiên, việc xác định chính xác đóng góp của rừng đối với nền kinh tế nông thôn, như là bao nhiêu thu nhập có nguồn gốc từ rừng, hay nghèo đói có liên quan ra sao với nạn phá rừng, thực sự là một việc khó (Mard-13/8/2014) Một nghiên cứu được tiến hành trên phạm vi toàn cầu bởi Mạng lưới Nghèo đói và Môi trường (PEN) đã giúp làm sáng tỏ vai trò của rừng trong việc thúc đẩy đời sống của người dân, khẳng định rừng là nguồn quan trọng mang lại thu nhập nông thôn
Hàng triệu người trên thế giới phụ thuộc vào các sản phẩm và dịch vụ rừng mang lại cho cuộc sống hàng ngày của họ (Vedeld et al., 2007) Tài nguyên môi trường rừng cung cấp một đóng góp đáng kể cho lợi ích của nhiều người dân nông thôn Một số học giả cho rằng rừng ngoài việc cung cấp một nguồn thu nhập cho các hộ gia đình nông thôn đồng thời cũng cung cấp một mạng lưới an toàn cho người dân trong thời kỳ khan hiếm hoặc trường hợp khẩn cấp (Reardon và Vosti 1995; Angelsen và Wunder, 2003; Neumann và Hirsch, 2000; de Sherbinin et al., 2007) Do đó, thu nhập từ rừng đã được coi là một chiến lược khả thi để cải thiện thu nhập giữa các cư dân nông thôn (Pokorny et al., 2012) Tuy nhiên, mức độ phụ thuộc vào các sản phẩm từ rừng có sự khác nhau giữa các hộ gia đình Các yếu tố điều kiện cho sự phụ thuộc của một hộ gia đình vào một hoạt động kinh tế cụ thể nói chung và trên lâm sản đặc biệt có thể thay đổi, tùy thuộc vào các nguồn lực sẵn
có của các hộ gia đình, đặc điểm nhân khẩu học và kinh tế của hộ gia đình và các yếu tố ngoại sinh như thị trường, giá cả và công nghệ Về vấn đề này, sự hiểu biết các yếu tố xác định sự thay đổi trong việc lựa chọn các hoạt động của gia đình và đặc biệt là sự hiểu biết sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng là rất cần thiết cho cả việc bảo tồn và các chính sách phát triển mục tiêu
Rừng không chỉ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sinh kế của người dân nghèo tại các nước đang phát triển mà còn góp phần rất tích cực cho kinh tế xanh Nó giúp tạo ra môi trường sống trong lành, an toàn cho con người và tất cả các sinh vật trên trái đất, hấp thụ và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ môi trường cho phát triển sản xuất và đời sống, cung
Trang 12cấp nơi ở, việc làm, tạo sinh kế ổn định và là khởi nguồn đời sống văn hóa tâm linh của những cộng đồng sống trong và gần rừng
Na Rì là huyện nằm ở phía đông bắc tỉnh Bắc Kạn, cách trung tâm tỉnh lỵ hơn 72 km Huyện có 66.949,96 ha đất lâm nghiệp, chiếm 78,49% diện tích tự nhiên; trong đó rừng sản xuất chiếm 64,14% diện tích đất lâm nghiệp, rừng phòng hộ chiếm 19,04% đất lâm nghiệp, rừng đặc dụng 16,82% đất lâm nghiệp Rừng được phân bố ở tất cả các xã và thị trấn trong huyện Sự phụ thuộc của người dân nơi đây vào rừng là rất lớn Họ dễ bị tổn thương khi Nhà nước thực thi các chính sách bảo vệ và duy trì diện tích rừng thông qua hạn chế sự tiếp cận nguồn tài nguyên rừng Để đảm bảo nguồn lực sinh kế cho các hộ dân phụ thuộc vào rừng trên địa bàn huyện Na Rì, các cơ quan ban ngành, các tổ chức cần hướng dẫn người dân khai thác có hiệu quả các nguồn lực sẵn có tại địa phương, giúp họ thấy được nguyên nhân chính gây ra cái nghèo, tránh đầu tư sai lầm trong sản xuất kinh doanh, bảo quản nguồn vốn tốt Bên cạnh đó, cần xây dựng giúp họ nguồn lực sinh kế lâu dài, đồng thời hướng dẫn họ thực hiện các hoạt động Việc giám sát và đánh giá hiệu quả của các hoạt động sinh kế của người dân cũng là một vấn đề quan trọng trong quá trình giúp người dân phát triển sinh
kế bền vững
Xuất phát từ vấn đề đó, học viên chọn nghiên cứu đề tài: “Đánh giá
nguồn lực và kết quả sinh kế cho người dân phụ thuộc vào rừng tại huyện
Trang 13- Định hướng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao kết quả sinh kế của người dân phụ thuộc vào rừng tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn trong thời gian tới
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu đánh giá nguồn lực và kết quả sinh kế cho người dân phụ thuộc vào rừng tại huyện Na Rì, Bắc Kạn
- Đề tài được thực hiện từ ngày 30/03/2015 đến 30/05/2016 Các giải pháp
đề xuất áp dụng cho giai đoạn 2016-2020
- Thời gian thu thập số liệu: Tháng 4 năm 2015
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC HOẶC THỰC TIỄN
Luận văn đã tìm ra được những điểm mới, có ý nghĩa thực tiễn
- Áp dụng kiểm định T- Test, luận văn đã chỉ ra được sự khác biệt về nguồn lực sinh kế giữa các nhóm hộ phụ thuộc ít vào rừng, phụ thuộc vào rừng ở mức vừa phải và phụ thuộc nhiều vào rừng cũng như sự khác biệt trong kết quả sinh kế của các nhóm hộ này
- Các nghiên cứu tương tự về đánh giá nguồn lực sinh kế của người dân phụ thuộc vào rừng thường đi đến kết luận diện tích rừng của nhóm phụ thuộc vào rừng là lớn nhất Tuy nhiên ở nhiên cứu này, chỉ tiêu diện tích đất rừng lại
có sự khác biệt rõ nét, nhóm hộ có mức phụ thuộc ít vào rừng lại sở hữu diện tích rừng lớn hơn hai nhóm hộ còn lại Điều này là do tại địa bàn nghiên cứu, nguồn
Trang 14thu nhập từ rừng chủ yếu là các lâm sản ngoài gỗ, người dân khai thác ở những cánh rừng gần nhà, dễ tiếp cận, không phụ thuộc vào việc cánh rừng đó thuộc sở hữu của cộng đồng hay của một hộ gia đình khác
- Đề tài đã áp dụng được khung sinh kế bền vững DFID (2001) vào một địa phương cụ thể là huyện Na Rì Qua đánh giá nguồn lực và kết quả sinh kế của huyện, đề tài bước đầu đưa ra được một số giải pháp có ý nghĩa thực tiễn giúp cải thiện kết quả sinh kế của các hộ dân tại Na Rì, Bắc Kạn
Trang 15PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SINH KẾ
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
Phương pháp tiếp cận sinh kế đã được phát triển và hoàn thiện ở các nước phát triển trên thế giới, dựa trên khuôn khổ cam kết hỗ trợ của Bộ phát triển quốc
tế Anh (DFDI) về “Những chính sách và hành động cho việc xúc tiến các loại hình sinh kế bền vững” Đây là một trong ba mục tiêu mà DFDI đã đặt ra trong Sách Trắng năm 1997 nhằm đạt được những mục đích chung về xoá đói giảm nghèo Theo khái niệm của DFID đưa ra thì: “Một sinh kế có thể được miêu tả như là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ” Theo khái niệm nêu trên thì chúng
ta thấy sinh kế bao gồm toàn bộ những hoạt động của con người để đạt được mục tiêu dựa trên những nguồn lực sẵn có của con người như các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguồn vốn, lao động, trình độ phát triển của khoa học công nghệ
Tiếp cận sinh kế là cách tư duy về mục tiêu, phạm vi và những ưu tiên cho phát triển nhằm đẩy nhanh tiến độ xoá nghèo Đây là phương pháp tiếp cận sâu rộng với mục đích nắm giữ và cung cấp các phương tiện để tìm hiểu nguyên nhân
và các mặt trọng của đói nghèo với trọng tâm tập trung vào một số yếu tố (như các vấn đề kinh tế, an ninh lương thực) Nó cũng cố gắng phác họa những mối quan hệ giữa các khía cạnh khác nhau của nghèo đói, giúp xác lập ưu tiên tốt hơn cho những hoạt động xoá nghèo Phương pháp tiếp cận sinh kế có mục đích giúp người dân đạt được thành quả lâu dài trong sinh kế mà những kết quả đó được đo bằng các chỉ số do bản thân họ tự xác lập và vì thế họ sẽ không bị đặt ra bên
Trang 16ngoài Điều đó thể hiện tính chất lấy người dân làm trung tâm Phương pháp này thừa nhận người dân có những quyền nhất định, cũng như trách nhiệm giữa họ với nhau và xã hội nói chung Phương pháp tiếp cận sinh kế được sử dụng để xác định, thiết kế và đánh giá các chương trình, dự án mới, sử dụng cho đánh giá lại các hoạt động hiện có, sử dụng để cung cấp thông tin cho việc hoạch định chiến lược và sử dụng cho nghiên cứu Một trong những điểm nổi trội của tiếp cận sinh kế là khả năng linh hoạt và khả năng áp dụng của chúng đối với nhiều tình huống
Như vậy sinh kế theo nghĩa chung nhất bao gồm các khả năng, tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống Ở Việt Nam, khái niệm về sinh kế của hộ hay một cộng đồng được hiểu là một tập hợp các nguồn lực, và khả năng của con người kết hợp với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để kiếm sống đồng thời đạt được những mục tiêu đa dạng hơn Một cách đơn giản và dễ hiểu, sinh kế của một hộ gia đình hay một cộng đồng chính là kế sinh nhai của hộ hay cộng đồng đó Từ
đó ta có thể hiểu sinh kế bao gồm hai khía cạnh cơ bản: (1) Các nguồn lực, nguồn vốn để đảm bảo sinh kế; (2) Các hoạt động sinh kế cụ thể
2.1.1.2 Nguồn lực sinh kế
a Nguồn lực
Lâu nay không có gì tranh luận lớn, nhưng nhìn nhận về nguồn lực chưa nhất quán và thiếu cách nhìn định lượng, chưa quan tâm đúng mức đến việc tranh giành và độc quyền đối với một số nguồn lực nhờ danh nghĩa tổ chức nhà nước Việc lãng phí nguồn lực cũng chưa được xem xét đúng mức Thực tiễn khai thác và sử dụng nguồn lực hiện nay đặt ra nhiều vấn đề từ nhận thức đến phương cách tiếp cận mới theo chiều hướng thực tế, thiết thực hơn, kết hợp định tính với định lượng trong đánh giá nguồn lực; làm cho nguồn lực mang giá trị đúng của nó để phát triển đất nước nhanh, có chất lượng và bền vững Những thứ được coi là nguồn lực phải là những thứ được sử dụng hoặc có khả năng sử dụng trong thời kì dự kiến phát triển Tiềm năng chưa đưa được vào sử dụng hoặc chưa có khả năng đưa vào sử dụng thì chưa được xem là nguồn lực
Các nguồn lực được xem xét dưới nhiều góc độ Có nghĩa là dưới nhiều góc độ, người ta chia các nguồn lực thành các loại khác nhau để có thái độ đúng đắn và có cách ứng xử với chúng thích hợp Thông thường nguồn lực được phân chia thành hai nhóm là nhóm nguồn lực vật chất (nguồn vật lực) và nhóm nguồn lực con người (nguồn nhân lực) Trong đó: Nhóm nguồn lực vật chất gồm có: Tài
Trang 17nguyên thiên nhiên (tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên thủy điện, tài nguyên nước, tài nguyên khí hậu, vị trí địa lí kinh tế ) và cơ sở vật chất kĩ thuật đã tạo dựng (nhà cửa, công trình công cộng, đường xá, hải cảng, sân bay, hệ thống sản xuất và truyền tải điện, hệ thống cung cấp và thoát nước, hệ thống xử lí chất thải, hệ thống viễn thông và truyền thông ) Nhóm nguồn lực con người bao gồm sức khỏe, trình độ nhận thức, trình độ chuyên môn…
b Nguồn lực sinh kế
Nguồn lực sinh kế được hiểu như là các điều kiện khách quan và chủ quan tác động vào một sự vật hiện tượng làm cho nó thay đổi về chất hoặc lượng Theo DFID’s Sustainable Livelihood Guidance Sheet có 5 loại cơ bản: Nguồn lực tự nhiên, nguồn lực xã hội, nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất và nguồn lực con người
2.1.2 Nội dung đánh giá sinh kế
2.1.2.1 Khung sinh kế
Khung sinh kế là một công cụ được xây dựng nhằm xem xét những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sinh kế con người, đặc biệt là những yếu tố gây khó khăn hoặc tạo cơ hội trong sinh kế Đồng thời khung sinh kế cũng nhằm mục đích tìm hiểu xem những yếu tố này liên quan với nhau như thế nào trong những bối cảnh cụ thể
Khung sinh kế bền vững bao gồm những nhân tố chính ảnh hưởng đến sinh kế của con người, và những mối quan hệ cơ bản giữa chúng Nó có thể sử dụng để lên kế hoạch cho những hoạt động phát triển mới và đánh giá sự đóng góp vào sự bền vững sinh kế của những hoạt động hiện tại Cụ thể là: (i) Cung cấp bảng liệt kê những vấn đề quan trọng nhất và phác hoạ mối liên hệ giữa những thành phần này, (ii) Tập trung sự chú ý vào các tác động và các quy trình quan trọng, (iii) Nhấn mạnh sự tương tác phức tạp giữa các nhân tố khác nhau, làm ảnh hưởng tới sinh kế
Khung chương trình sinh kế bền vững là một công cụ trực quan hóa được
Bộ Phát triển Quốc tế Anh (Department for International Development – DIFID) xây dựng từ những năm 80 của thế kỉ trước nhằm tìm hiểu các loại hình sinh kế Mục đích của nó là giúp người sử dụng nắm bắt được những khía cạnh khác nhau của các loại hình sinh kế, đặc biệt là những yếu tố làm nảy sinh vấn đề hay những yếu tố tạo cơ hội Một số tổ chức khác cũng đã phát triển nững khung sinh
Trang 18kế tương tự và có sự bổ sung cho khung của DIFID Khung này không chỉ đơn thuần là công cụ phân tích Người ta xây dựng nó với dụng ý nó sẽ cung cấp nền tảng cho các hoạt động hướng đến sinh kế bền vững Nghĩ đến các mục tiêu được
mô tả sinh động Hãy nghĩ về các kết quả mà chúng sẽ hướng sự quan tâm đến các thành công gặt hái được, sự phát triển các thông số và sự tiến bộ trong xoá nghèo
Sơ đồ 2.1 Khung sinh kế bền vững
Khung sinh kế có thể chia làm năm hợp phần chính: Bối cảnh tổn thương; các nguồn lực sinh kế; chính sách và thể chế; các chiến lược, hoạt động sinh kế
Ở Việt Nam, bối cảnh tổn thương tác động rất mạnh đến chiến lược xoá
Trang 19đói giảm nghèo, do người nghèo là người dễ bị tổn thương nhất, sức chống đỡ đối với các cú sốc là rất yếu, cùng với khả năng tăng thu nhập rất hạn chế nên sinh kế của họ thường không bền vững, hiện tượng tái nghèo thường phổ biến (nhất là vùng xa, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số)
2.1.2.3 Các nguồn lực sinh kế
a Nguồn lực con người
Nguồn lực con người thể hiện kĩ năng, kiến thức, năng lực để lao động, và cùng với sức khỏe tốt giúp con người theo đuổi những chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu sinh kế của mình Ở mức hộ gia đình thì nguồn lực con người là yếu tố về số lượng và chất lượng lao động sẵn có; yếu tố này thay đổi tùy theo số lượng người trong hộ, kĩ năng lao động, khả năng lãnh đạo, tình trạng sức khỏe, v.v…Ví dụ về nguồn lực con người: trình độ học vấn, kiến thức chuyên môn, khả năng ngôn ngữ, kĩ năng quản lý tài chính, khả năng kinh doanh
b Nguồn lực xã hội
Nguồn lực xã hội của con người bao gồm khả năng tham gia trong các tổ chức, các nhóm chính thức cũng như các mối quan hệ và mạng lưới phi chính thức mà họ xây dựng lên do có cùng chung sở thích và khả năng để mọi người cùng nhau cộng tác Thành viên của các tổ chức chính thức (như các tổ chức đoàn thể, hợp tác xã, các nhóm tín dụng tiết kiệm) thông thường phải tuân thủ những quy định và luật lệ đã được chấp nhận Nguồn lực xã hội có thể có hiệu quả trong tăng cường quản lý các nguồn lực chung (vốn tự nhiên) và bảo dưỡng các công trình hạ tầng (vốn vật chất)
Nguồn lực xã hội của các hộ gia đình nghèo, các cộng đồng nghèo thường rất thấp do nhận thức xã hội của họ còn ở mức thấp, thể hiện rõ rệt nhất là khả năng tiếp cận, khả năng nắm bắt các cơ hội hỗ trợ giảm nghèo rất hạn chế Những hiện tượng cho thấy khả năng huy động vốn xã hội còn thấp như bán lúa non, cúng bái khi bị bệnh hiểm nghèo, bị lép vế khi kiện tụng còn phổ biến
c Nguồn lực tự nhiên
Các nguồn lực tự nhiên bao gồm: Các tài sản và dòng sản phẩm (khối lượng sản phẩm từ đất, rừng); Các dịch vụ về môi trường (giá trị bảo vệ chống bão và xói mòn của rừng ) Những tài sản và dịch vụ này cũng có thể cho cả hai loại lợi ích trực tiếp và lợi ích gián tiếp Hiện tại, nhiều hộ gia đình nghèo là do thiếu nguồn vốn tự nhiên, đặc biệt là do thiếu đất canh tác (do nhiều nguyên
Trang 20nhân), một số hộ gia đình nghèo có đất nhưng chất lượng đất bị thoái hoá nghiêm trọng do phương thức quảng canh, đất bị rửa trôi các chất dinh dưỡng mạnh, do
sự khắc nghiệt của tự nhiên (hạn hán, lũ lụt ) dẫn tới năng suất cây trồng rất thấp và do đó thiếu an ninh lương thực, thu nhập thấp sinh kế gặp khó khăn
d Nguồn lực tài chính
Nguồn lực tài chính được định nghĩa là các nguồn tài chính mà con người dùng để đạt được mục tiêu của mình Những nguồn này bao gồm nguồn dự trữ tài chính và dòng tài chính
Dự trữ tài chính: tiết kiệm là một loại vốn tài chính được ưa chuộng do nó không kèm theo trách nhiệm liên quan Tiết kiệm có thể dưới nhiều dạng: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng hoặc các tài sản khác như vật nuôi, đồ trang sức Các nguồn tài chính cũng có thể có được qua các đơn vị hoạt động tín dụng Nguồn lực tài chính là một loại nguồn lực sinh kế mà người nghèo thường có ít nhất Trên thực tế, do thiếu nguồn lực tài chính nên đã làm cho các nguồn lực sinh kế khác trở nên rất có giá trị đối với người nghèo
e Nguồn lực vật chất
Nguồn lực vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội cơ bản cũng như các tài sản và công cụ sản xuất của hộ gia đình Một số nghiên cứu đã cho thấy việc thiếu hạ tầng cơ bản, nơi trú ngụ không đảm bảo và thiếu hàng hoá tiêu dùng là những vấn đề cốt lõi của nghèo đói Nếu không có sự trợ giúp của công
cụ và thiết bị, sẽ không khai thác hết được tiềm năng sản xuất của con người
2.1.2.4 Chính sách, thể chế và những tác động của chúng lên sinh kế
Các chính sách và thể chế bao gồm một loạt những yếu tố liên quan đến bối cảnh có những tác động mạnh lên mọi khía cạnh của sinh kế Rất nhiều trong số những yếu tố này có liên quan đến chính sách và các dịch vụ do Nhà nước thực hiện Tuy nhiên, những vấn đề đó cũng bao gồm cả các cơ quan cấp địa phương, các tổ chức dựa vào cộng đồng và những hoạt động của khu vực tư nhân Các chính sách và thể chế là phần quan trọng trong khung sinh kế bởi chúng định ra: (i) Khả năng người dân tiếp cận các nguồn vốn sinh kế, những chiến lược sinh
kế, với những cơ quan ra quyết định và các nguồn lực ảnh hưởng; (ii) Những quy định cho việc trao đổi giữa các loại thị trường vốn sinh kế; (iii) Lợi ích của người dân khi thực hiện hoặc đầu tư một số hoạt động sinh kế nhất định
Trang 212.1.2.5 Chiến lược sinh kế và hoạt động sinh kế
a Chiến lược sinh kế
Chiến lược sinh kế là những quyết định trong việc lựa chọn, kết hợp, sử dụng và quản lý các nguồn lực sinh kế của hộ gia đình hoặc cá nhân để kiếm sống cũng như đạt được ước vọng của họ Ví dụ: quyết định đầu tư vào loại vốn sinh kế, quyết định qui mô của các hoạt động tạo thu nhập, cách thức sử dụng tài sản và đối phó với rủi ro để đạt kết quả sinh kế tốt Để duy trì hộ, hộ gia đình thường có các chiến lược sinh kế khác nhau, theo (Seppaira, 1996) chiến lược sinh kế có thể chia làm 3 loại: (i) Chiến lược tích lũy: là chiến lược dài hạn nhằm hướng tới tăng trưởng và có thể là kết hợp của nhiều hoạt động hướng tới tích luỹ
và giàu có; (ii) Chiến lược tái sản xuất: là chiến lược trung hạn gồm nhiều hoạt động tạo thu nhập, những ưu tiên có thể nhắm tới hoạt động của cộng đồng và an sinh xã hội; (iii) Chiến lược tồn tại: là chiến lược ngắn hạn, gồm cả các hoạt động tạo thu nhập chỉ để tồn tại mà không tích luỹ
Thuật ngữ “chiến lược sinh kế” được dùng để chỉ phạm vi và sự kết hợp những lựa chọn và quyết định mà người dân đưa ra trong việc sử dụng, quản lý các nguồn vốn và tài sản sinh kế nhằm tăng thu nhập và nâng cao đời sống (kết quả sinh kế) Chiến lược sinh kế bao gồm những lựa chọn và quyết định của người dân về những việc như: Họ đầu tư vào nguồn vốn và sự kết hợp tài sản sinh kế nào; Quy mô của các hoạt động tạo thu nhập mà họ theo đuổi; Cách thức
họ quản lý như thế nào để bảo tồn các tài sản sinh kế và thu nhập; Cách thức họ thu nhận và phát triển như thế nào những kiến thức, kỹ năng cần thiết để kiếm sống; Họ đối phó như thế nào với những rủi ro, những cú sốc và những cuộc khủng hoảng ở nhiều dạng khác nhau và họ sử dụng thời gian và công sức lao động mà họ có như thế nào để làm được những điều trên
2.1.2.6 Kết quả sinh kế
Mục đích của việc sử dụng khung sinh kế là để tìm hiểu những cách thức
Trang 22mà con người kết hợp và sử dụng các nguồn lực, khả năng nhằm kiếm sống cũng như đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ Những mục tiêu và ước nguyện này có thể gọi là kết quả sinh kế - đó là những thứ mà con người muốn đạt được trong cuộc sống cả trước mắt lẫn lâu dài Kết quả sinh kế có thể là:
(i) Hưng thịnh hơn: Thu nhập cao và ổn định hơn, cơ hội việc làm tốt hơn; kết quả của những côngviệc mà người dân đang thực hiện tăng lên và nhìn chung lượng tiền của hộ gia đình thu được gia tăng
(ii) Đời sống được nâng cao: Ngoài tiền và những thứ mua được bằng tiền, người ta còn đánh giá đời sống bằng giá trị của những hàng hoá phi vật chất khác Sự đánh giá về đời sống của người dân chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu
tố, ví dụ như căn cứ vào vấn đề giáo dục và y tế cho các thành viên gia đình được đảm bảo, các điều kiện sống tốt, sự an toàn
(iii) Khả năng tổn thương được giảm: Người nghèo luôn phải sống trong trạng thái dễ bị tổn thương Do vậy, sự ưu tiên của họ có thể là tập trung cho việc bảo vệ gia đình khỏi những đe doạ tiềm ẩn, thay vì phát triển tối đa những cơ hội của mình Việc giảm khả năng tổn thương có trong ổn định giá cả thị trường, an toàn sau các thảm hoạ, khả năng kiểm soát dịch bệnh gia súc
(iv) An ninh lương thực được củng cố: An ninh lương thực là một vấn đề cốt lõi trong sự tổn thương và đói nghèo Việc tăng cường an ninh lương thực có thể được thực hiện thông qua đảm bảo khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên đất, nâng cao và ổn định thu hoạch mùa màng, đa dạng hoá các loại cây lương thực
(v) Sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên Sự bền vững môi trường là một mối quan tâm lớn mang ý nghĩa quan trọng và hỗ trợ cho các kết quả sinh kế khác
Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung đánh giá nguồn lực sinh kế và kết quả sinh kế của người dân phụ thuộc vào rừng
2.1.3 Phương pháp và chỉ tiêu đánh giá nguồn lực sinh kế
2.1.3.1 Phương pháp đánh giá nguồn lực sinh kế
Nguồn lực sinh kế gồm năm nguồn lực cơ bản bao gồm con người, tự nhiên, vật chất, tài chính và xã hội Để đánh giá tổng hợp năm loại nguồn lực này, người ta sử dụng ngũ giác sinh kế Ngũ giác sinh kế nằm ở trung tâm của khung phân tích sinh kế, “bên trong” bối cảnh bi tổn thương Ngũ giác sinh kế đã phát triển để mang đến thông tin về nguồn lực mà hộ có được, nó đánh giá quan
Trang 23hệ bên trong quan trọng giữa các giá trị tài sản
Ngũ giác sinh kế được sử dụng để thể hiện dưới dạng biểu đổ sự biến đổi trong sử dụng tài sản của con người Nó là trung tâm của ngũ giác sinh kế, nơi các đường gặp nhau, tượng trưng cho tiếp cận đối với tài sản trong khi chu vi ở phí xa tượng trung cho tiếp cận lớn nhất tài sản Một sự khác biệt cơ bản trong vòng tròn ngũ giác có thể chỉ ra tổ chức khác nhau hoặc nhóm xã hội trong cộng đồng Tiếp cận sinh kế liên quan đầu tiên và trước nhất đến con người Nó nghiên cứu để đạt tới sự hiểu biết chính xác và thực tế về điểm mạnh của con người (tài sản hoặc nguồn vốn) và họ đã cố gắng như thế nào để biến đổi sức mạnh đó thành kết quả sinh kế tốt Sự tiếp cận sinh kế chỉ ra rằng con người yêu cầu một nhóm các loại tài sản để đạt được kết quả kinh kế tốt, không có loại tài sản đơn lẻ nào là đủ để sản xuất ra nhiều và đa dạng các kết quả sinh kế mà con người tìm kiếm Nó đặc biệt đúng với những người nghèo người mà các nguồn lực thường bị giới hạn Kết quả là hộ phải tìm cách nâng cao và kết nối các tài sản họ có để bảo đảm sự sống
Một chú ý quan trọng rằng tài sản vật chất riêng lẻ có thể tạo ra nhiều lợi ích Nếu một người có tài sản về đất họ có thể có liên hệ với tài sản tài chính, như sử dụng hiệu quả đất không chỉ để sản xuất trực tiếp mà còn để tích luỹ cho nguồn lực tài chính Tương tự như vậy, vật nuôi có thể trở thành tài sản vật chất trong sản xuất (vật nuôi lấy sức kéo) và nó cũng là tài sản tự nhiên Để nâng cao
sự hiểu biết về mối quan hệ phức tạp này, rất cần thiết để nhìn lại nguồn gốc tài sản, nghĩ về cách sử dụng phổ biến của các loại cấu trúc và quá trình thứ biến tài sản thành kết quả sinh kế
Ngũ giác sinh kế có thể sử dụng như một điểm tập trung cho cuộc tranh luận về hướng đi ổn định, làm thế nào để đáp dứng nhu cầu của các nhóm xã hội khác nhau và sự đánh đổi giữa các tài sản khác nhau Tuy nhiên, sử dụng ngũ giác sinh kế trong đánh giá sinh kế là cần thiết Ở đây, không có sự gợi ý rằng chúng ta có thể hoặc phải làm gì với tất cả các tài sản, để phát triển riêng lẻ cho phép so sánh trực tiếp giữa các tài sản Tất nhiên, đây không phải là quy tắc cho
sự phát triển, chỉ tiêu chất lượng của tài sản, nơi chúng được sử dụng hiệu quả
Sự biến đổi trạng thái nguồn lực trong ngũ giác sinh kế thể hiện trạng thái nguồn lực sinh kế của hộ/cộng đồng trong từng thời điểm cụ thể Giá trị tài sản thay đổi, làm ngũ giác sinh kế thay đổi Một khung phân tích nhiều chiều với các
Trang 24kích thước thời gian có thể thay đổi để hình dung Tuy nhiên, rất cần thiết để kết hợp chặt chẽ nhiều chiều để phân tích nguồn lực sinh kế Thông tin phải được tập hợp theo xu hướng trong toàn bộ tài sản được tích lũy, bị mất đi và tại sao Đâu
là quá trình loại trừ xã hội trong công việc, thứ làm người nghèo với tài sản có thể trở tốt hơn, không phải tất cả nhưng đáng kể
Trong ngũ giác sinh kế, các nguồn lực được kết hợp theo nhiều cách khác nhau tạo mối quan hệ sinh kế khác nhau Có hai loại mối quan hệ đặc biệt quan trọng: (i) Sự sắp xếp theo dãy: Những người thoát khỏi đói nghèo bắt đầu với việc kết hợp đặc biệt các tài sản? Loại tài sản nào là quan trọng và đủ để thoạt khỏi đói nghèo Nếu có, đâu là những hướng đẫn để được tham khảo; (ii) Sự thay thế: Có một loại tài sản nào được thay thể bời tài sản khác Ví dụ, có thể tăng vốn con người dể bù đắp sự thiếu hụt vốn tài chính trong một vài trường hợp Nếu có, đây có thể đưa ra lựa chọn ủng hộ
Trong khung phân tích sinh kế, ngũ giác sinh kế có quan hệ chặt chẽ với các hợp phần còn lại Trong mối quan hệ với bối cảnh bị tổn thương, nguồn lực sinh kế có thể bị phá hủy và tạo ra một kết quả phương hướng, cú sốc và lý do của bối cảnh tổn thương Đối với chính sách và thể chế, nó có ảnh hưởng sâu sắc đến tiếp cận nguồn lực Cụ thể, nó có thể tạo ra tài sản như Chính sách đầu tư vào
cơ sở hạ tầng (vốn vật chất) hoặc sự tồn tại của cơ quan địa phương tăng cường nguồn lực xã hội Đồng thời Chính sách xác định giá trị như Quyền sở hữu, sử dụng hay tiếp cận Chính sách làm thay đổi tỷ lệ của tài sản thông qua việc Chính phủ ảnh hưởng trở lại với chiến lược sinh kế khác nhau, chính sách thuế Tuy nhiên đây không phải là mối quan hệ đơn giản Các cá nhân và các nhóm ảnh hưởng đến thay đổi cấu trúc và quá trình Những người có giá trị tài sản lớn hơn ảnh hưởng nhiều hơn, Một cách để tăng sức mạnh có thể là ủng hộ người để xây dựng giá trị tài sản của họ
Nguồn lực sinh kế và kết quả sinh kế có mối quan hệ chặt chẽ Phân tích đói nghèo chỉ ra rằng khả năng của con người để thoát khỏi đói nghèo phụ thuộc vào cách tiếp cận tài sản của hộ Các tài sản khác nhau đòi hỏi để đạt được kết quả sinh kế khác nhau Ví dụ, một vài người cân nhắc một số ít nguồn lực xã hội
là quan trọng nếu họ giành được các phúc lợi Hoặc tại các vùng nông thôn xa xôi, con người cảm thấy cần một mức độ chắc chắn về vốn tự nhiên để cung cấp
an toàn Như vậy, mối quan hệ sẽ cần thiết để đầu tư trong tường hợp này
Trang 25Để đánh giá nguồn lực sinh kế, có nhiều phương pháp khác nhau Theo nghiên cứu của B Becher (2012) chỉ ra rằng việc xác định các chỉ số tổng hợp của các nguồn lực sinh kế là việc đầu tiên để số hóa các dữ liệu minh chứng cụ thể cho công tác đánh giá sinh kế bền vững Dựa trên các số liệu thu thập được, hình thành bảng tính chỉ số nguồn lực sinh kế theo từng nguồn lực cụ thể Bảng tính này gồm 5 chỉ số tổng hợp của năm nguồn lực sinh kế và các chỉ số của các chỉ tiêu cụ thể cho từng nguồn lực Chỉ số tổng hợp được tính bằng tổng chỉ số của các chỉ tiêu cụ thể trong từng nguồn lực Quy trình cụ thể có thể tuân theo bốn bước cơ bản sau:
Bước 1: Lựa chọn 3 - 5 chỉ tiêu cụ thể cho từng nguồn lực sinh kế Các chỉ tiêu này phản ánh các yếu tố trong từng nguồn lực (Ví dụ như tỷ lệ lao động, trình độ học vấn, chất lượng nhà ở, nhà vệ sinh, tiếp cận nước sạch, điện lưới hay tỷ lệ hoàn thành bậc học trung học phổ thông,…)
Bước 2: Xác định phạm vi cho từng biến Phạm vi cho từng biến chính là điểm số tối đa của mỗi chỉ tiêu nhận được Nó có thể là 10, 50, 60, 100… Thông thường phạm vi đối với các biến tỷ lệ có thể tối thiểu là 0 và tối đa là 100%, các biến khác phạm vi có thể được thiết lập để bằng 0 và giá trị tối đa trong phạm vi đã được thiết lập để bằng 100 Việc xác định phạm vi và lượng hoá từng chỉ tiêu cần được tiến hành kết hợp với phương pháp thảo luận nhóm tập trung với người chủ chốt tại địa phương Từ đó các biến nguồn lực cụ thể được lượng hóa và đưa vào sử dụng
Bước 3: Xác định trọng số cho từng biến Trọng số này phản ánh mức độ quan trọng của các biến đối với các nguồn lực và việc xác định các trọng số này tùy thuộc vào nhận định chủ quan của người thực hiện đánh giá kết hợp với ý kiến khảo sát của người dân cũng như cán bộ chủ chốt của địa phương
Bước 4: Tính toán các chỉ số từng biến và chỉ số tổng hợp cho từng nguồn lực Công thức:
Giá trị chỉ số biến = W x 100 x i
Trong đó: + W: giá trị của biến
+ i: trọng số của biến Chỉ số tổng hợp là tổng giá trị các biến cụ thể Các chỉ số tổng hợp của từng nguồn lực được xác định là tốt khi giá trị lớn hơn hoặc bằng 50 (đối với thang điểm 100) tổng số giá trị tối đa của nguồn vốn đó; không tốt khi giá trị này nhỏ hơn 50 Sau khi xác định được các chỉ số tổng hợp cho từng nguồn lực
Trang 26ta biểu diễn các chỉ số này trên sơ đồ mạng nhện để nhìn nhận được tổng quan hiện trạng sinh kế của địa bàn nghiên cứu Từ đó đánh giá được mức độ mạnh yếu của từng nguồn lực để có các chiến lược và biện pháp duy trì và phát triển các nguồn lực mạnh và cải thiện các nguồn lực yếu hơn
2.1.3.2 Chỉ tiêu đánh giá nguồn lực sinh kế
a Nguồn lực con người
Nguồn lực con người của hộ được thể hiện qua các chỉ số: (i) Số lượng
và cơ cấu nhân khẩu của một hộ gia đình gồm tỷ lệ giữa người trong độ tuổi lao động và người không thuộc diện lao động, giới tính; (ii) Kiến thức và giáo dục của các thành viên trong gia đình bao gồm trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, kiến thức truyền thống; (iii) Sức khoẻ tâm lý và sinh lý của các thành viên trong gia đình, đời sống tâm linh và tình cảm của họ; (iv) Khả năng lãnh đạo và các kỹ năng lao động; (v) Quỹ thời gian của mọi người và khả năng sử dụng thời gian 1 cách hiệu quả; (vi) Hình thức phân công lao động cho cả người lớn
và trẻ em
Nguồn lực con người của các gia đình và cộng đồng nghèo vùng núi có một số đặc điểm đáng được quan tâm: (i) Người lao động ít, người ăn theo nhiều (do xu hướng tăng dân số); (ii) Trình độ lao động thấp (do giáo dục và đào tạo nghề còn rất hạn chế); (iii) Sức khoẻ lao động chưa đạt yêu cầu (do điều kiện sống còn rất khó khăn, y tế chưa phát triển, chưa đáp ứng được nhu cầu phòng và chữa bệnh, tác động của tệ nạn xã hội)
b Nguồn lực xã hội
Nguồn lực xã hội của hộ gia đình được thể hiện qua các chỉ số: (i) Các mạng lưới hỗ trợ từ bạn bè, họ hàng, láng giềng, hội đồng niên; (ii) Các cơ chế hợp tác trong sản xuất và trên thị trường (ví dụ các hợp tác xã và các hiệp hội); (iii) Những luật lệ, quy ước của thôn, bản về các hành vi ứng xử, sự trao đổi và quan hệ qua lại trong cộng đồng; (iv) Các sự kiện, lễ hội và niềm tin xuất phát
từ truyền thống, tôn giáo; (v) Những cơ hội để tiếp cận thông tin như các cuộc họp thôn, câu lạc bộ khuyến nông, câu lạc bộ phụ nữ; (vi) Những cơ hội tham gia và tạo ảnh hưởng đến các công việc của địa phương như tham gia vào các tổ chức đoàn thể và chính quyền xã; (vii) Những cơ chế hoà giải mâu thuẫn của địa phương
Trang 27c Nguồn lực tự nhiên
Nguồn lực tự nhiên của hộ được thể hiện ở các chỉ số: (i) Các loại đất đai
do cộng đồng quản lý như đất rừng và rừng cộng đồng, đất thuộc các công trình
cơ sở hạ tầng do cộng đồng quản lý; (ii) Các loại đất của hộ gia đình bao gồm đất ở, đất trồng cây nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất vườn hộ; (iii) Nguồn cung cấp thức ăn và nguyên liệu từ tự nhiên và nguồn do con người sản xuất ra; (iv) Đa dạng sinh học, các nguồn gen thực vật và động vật từ việc nuôi, trồng của hộ và
từ rừng trong tự nhiên; (v) Các khu vực chăn thả và các nguồn cây thức ăn gia súc cho chăn nuôi; (vi) Các nguồn nước và việc cung cấp nước cho sinh hoạt hàng ngày, thuỷ lợi (nước cho sản xuất), nuôi trồng thuỷ sản; (vii) Các nguồn dinh dưỡng trong đất trồng bao gồm cả các chất hữu cơ và chu kỳ dinh dưỡng; (viii) Các yếu tố khí hậu và những yếu tố về thời tiết địa phương; (ix) Giá trị cảnh quan cho việc quản lý các nguồn tài nguyên và giải trí
từ phúc lợi xã hội (như lương hưu, một số miễn trừ chi phí) và một số dạng trợ cấp của nhà nước
e Nguồn lực vật chất
Nguồn lực vật chất của hộ gia đình được thể hiện dưới các chỉ số: (i) Cơ
sở hạ tầng và các dịch vụ công cộng gồm đường giao thông, cầu cống, công trình thuỷ lợi, các hệ thống cấp nước sinh hoạt và vệ sinh, các mạng lưới cung cấp năng lượng, trạm y tế, trường học, nơi làm việc của chính quyền xã và nơi tổ chức các cuộc họp của thôn bản; (ii) Nhà ở, nơi trú ngụ và các dạng kiến trúc khác như chuồng trại, nhà vệ sinh; (iii) Các tài sản trong gia đình như đồ nội thất, dụng cụ nấu nướng, đồ chơi trẻ em; (iv) Các công cụ sản xuất như dụng cụ, trang thiết bị và máy móc chế biến nông sản; (v) Các hệ thống vận tải công cộng như xe chở khách
Trang 28và các phương tiện giao thông của gia đình như xe máy; (vi) Cơ sở hạ tầng về truyền thông và thiết bị truyền thông của gia đình như đài, ti vi…
2.1.4 Rừng và ảnh hưởng của rừng đến sinh kế của người dân
Morozov (1930) đưa ra khái niệm: “Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khi quyển Rừng chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý” Năm 1952, M.E Tcachenco phát biểu:“Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan
hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài” Theo đó, rừng
có ảnh hưởng không nhỏ đến sinh kế của người dân
Tạo dựng một môi trường kinh tế thuận lợi
Những người dân sống phụ thuộc vào các tài sản sẵn có để phục vụ sinh kế của họ Một cộng đồng nào đó có thể thiếu một vài loại nguồn lực sinh kế và như vậy họ bị hạn chế về các giải pháp lựa chọn để sinh sống Bằng việc tạo ra một môi trường kinh tế thuận lợi, chúng ta có thể làm gia tăng nguồn lực sinh kế của
hộ gia đình và cộng đồng Cải thiện các nguồn lực sinh kế, và tạo điều kiện tiếp cận chúng, có thể giúp đạt được 2 mục tiêu cùng lúc: cải thiện điều kiện sống và
mở ra các giải pháp sinh kế tích cực hơn
- Cải thiện điều kiện sống
Mức sống người dân có thể được cải thiện nhờ môi trường tự nhiên tốt hơn, và có điều kiện tiếp cận dễ dàng hơn tới các nguồn lực sinh kế Những cải thiện như vậy có thể giúp tăng mức sống và sự thịnh vượng trong cộng đồng, giảm thiểu những khó khăn Một cách gián tiếp, những cải thiện đó cũng có thể giúp tăng thu nhập hoặc thực phẩm phục vụ sức khoẻ người dân, mặt khác lại đỡ tốn thời gian (cải thiện nguồn nhân lực)
- Mở ra những giải pháp sinh kế tích cực hơn
Nhờ gia tăng nguồn lực sinh kế của cộng đồng và giúp người dân dễ dàng tiếp cận với chúng, mà cộng đồng có năng lực tốt hơn để tự cải thiện cuộc sống Không chỉ dừng lại ở việc phát triển những hình thức doanh nghiệp tư nhân hoặc các hoạt động sinh kế bổ trợ, mà những nguồn sinh kế được gia tăng cũng tạo ra môi trường kinh tế thuận lợi cho các thành viên cộng đồng phát triển những hoạt động sinh kế bổ trợ cho chính bản thân họ Những giải pháp sinh kế tích cực hơn
Trang 29bao gồm: (i) Cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông có thể giúp tiếp cận dễ dàng hơn với thị trường, mở ra các cơ hội trao đổi thương mại với các cộng đồng khác, đặc biệt là các tỉnh miền núi, nơi có giao thông đi lại còn khó khăn; (ii) Cải thiện giáo dục đào tạo giúp người dân có được công việc ổn định hơn (điều mà họ khó đạt được trước đây), mặt khác giúp họ phát triển các ngành nghề mới nhờ trang bị các
kỹ năng và tri thức cần thiết; (iii) Cải thiện việc cung cấp điện và các nhu yếu phẩm khác cũng sẽ tạo thuận lợi cho nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội
Tăng cường các hoạt động tạo thu nhập và sinh kế hiện tại
Nguồn lực sinh kế được tăng cường giúp nâng cao khả năng sinh lợi và
tính bền vững của các hoạt động sinh kế hiện tại Bên cạnh việc làm gia tăng nguồn lực sinh kế, các chương trình hỗ trợ có thể tập trung vào việc cải thiện sinh
kế hiện tại và giải quyết những khó khăn trong công tác phát triển Đó có thể là (i) Giảm thiểu rủi ro - xây dựng kế hoạch đối phó với những nguy cơ gây hại cho sức khoẻ con người, cũng như những hiểm hoạ kinh tế; (ii) Gia tăng giá trị - tạo thêm giá trị gia tăng cho các sản phẩm và dịch vụ hiện có; (iii) Quản lý nguồn lợi tốt hơn
- các nguồn lợi tự nhiên nếu được quản lý và bảo vệ tốt hơn sẽ làm tăng tính bền vững của sinh kế, và duy trì được lâu dài các hoạt động tạo thu nhập; (iv) Tạo thuận lợi cho việc tiếp cận các thị trường và tiêu thụ sản phẩm - giúp cho người sản xuất thu lãi nhiều hơn thông qua các cơ chế trao đổi thương mại tốt hơn
Phát triển các hoạt động tạo thu nhập thay thế hoặc bổ trợ
Ngoài việc làm gia tăng nguồn lực sinh kế nói chung để tạo ra những giải pháp lựa chọn sinh kế tốt hơn, các chương trình hành động có thể tập trung vào việc xác định và trợ giúp cho các hoạt động tạo nguồn thu nhập thay thế hoặc bổ sung cho các hoạt động hiện thời Có thể sẽ có nhiều cơ hội sinh kế bổ trợ hơn, nếu các nguồn lực sinh kế được tăng cường và một môi trường kinh tế thuận lợi được hình thành Cần hướng sự hỗ trợ vào việc cải thiện những nguồn lực sinh kế
cụ thể, các nhân tố cần thiết khác trong quá trình phát triển này, chẳng hạn như cơ
sở hạ tầng, tiếp cận thị trường, áp dụng công nghệ mới, và đào tạo dạy nghề
2.1.5 Cơ sở lý luận về mức độ phụ thuộc vào rừng của người dân
2.1.5.1 Khái niệm người dân sống phụ thuộc vào rừng
Có một số phương pháp xác định “những người sống phụ thuộc vào rừng”
và tuỳ theo phương pháp sử dụng mà số người được coi là “sống phụ thuộc vào rừng” có sự khác biệt rất lớn Theo Đinh Đức Thuận và cs (2005), cộng đồng
Trang 30sống phụ thuộc rừng bao gồm: (i) Các cộng đồng và thôn bản nghèo ở vùng sâu, cùng cao, khu vực biên giới không có cơ hội phát triển công nghiệp, thương mại lại có nhiều diện tích đất rừng được chính thức xếp vào khu vực rừng phòng hộ; (ii) Những diện tích do các lâm trường quốc doanh hoặc ban quản lý rừng đầu nguồn là chủ sở hữu ban đầu và các diện tích trong một số hoàn cảnh cụ thể giao cho các cán bộ công nhân cũ hoặc đương nhiệm và những cộng đồng bản địa ở những khu vực này; (iii) Xã và thôn bản nằm ở ranh giới hoặc trong khu vực rừng đặc dụng, vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên có giá trị đa dạng sinh học cao, có các quy định và lệnh cấm đặc biệt đối với giao đất giao rừng và sử dụng các sản phẩm rừng; (iv) Cộng đồng những người học theo cách này hay cách khác phụ thuộc vào những sản phẩm từ rừng như những người sản xuất đồ
gỗ gia dụng có thể ở đô thị hay ở miền núi cũng được coi là phụ thuộc vào rừng
2.1.5.2 Mức độ phụ thuộc vào rừng của người dân
Đối với mức độ phụ thuộc vào rừng của hộ, Bedru Babulo và cộng sự (2008) sử dụng cơ cấu thu nhập từ rừng và môi trường so với tổng thu nhập của
hộ để chia ra làm bốn nhóm chiến lược sinh kế của người dân Thứ nhất, chiến lược ít phụ thuộc vào rừng với thu nhập từ rừng và môi trường nhỏ hơn 20% Thứ hai, chiến lược phụ thuộc vào rừng ở mức độ trung bình (20 - 40%) Thứ ba, chiến lược phụ thuộc cao vào rừng (40 - 60%) Cuối cùng, những hộ có thu nhập
từ rừng và môi trường chiếm từ 60% trở lên được gọi là chiến lược phụ thuộc rất cao vào rừng
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ ĐÁNH GIÁ NGUỒN LỰC VÀ NÂNG CAO KẾT QUẢ SINH KẾ
2.2.1 Trên thế giới
2.2.1.1 Chương trình Phát triển Kecamatan (KDP)
Chương trình KDP được triển khai thí điểm từ năm 1998 ở 28 thôn làng của Indonesia Kinh nghiệm nâng cao kết quả sinh kế của dự án là trao quyền ra quyết định phát triển cho cấp cơ sở, tới hàng vạn dân nghèo trên toàn đất nước Indonesia Chương trình này cho phép các cộng đồng nông thôn tự quyết định cách thức cải thiện sinh kế của họ, xây dựng cơ sở hạ tầng thích hợp, cung cấp dịch vụ y tế và giáo dục, và củng cố các thể chế có hiệu quả trong cộng đồng cũng như chính quyền Các khoản tài trợ, dao động từ 50.000 đến 150.000 USD cho mỗi kecamatan (tức tiểu khu, tương đương cấp xã), được cấp thẳng cho các cộng đồng làm kinh phí thực hiện cho những họat động mà người dân cho là
Trang 31quan trọng nhất Các cán bộ hướng dẫn đã qua đào tạo tổ chức hỗ trợ kỹ thuật cho các cộng đồng trên cả nước Trong vòng 9 năm, KDP đã cải thiện đời sống của nhân dân ở hơn 34.000 thôn làng - gần bằng một nửa tổng số các cộng đồng nghèo vùng nông thôn ở Indonesia “
2.2.1.2 Kinh nghiệm phân tích nguồn lực sinh kế tại nông thôn Ấn Độ
Dự án hợp tác nghiên cứu Ấn Độ - Thụy Sỹ trên các hệ thống sinh kế nông thôn ở Ấn Độ bán khô hạn, Baumgartner & Högger (năm 2004) đã chỉ rõ
có rất nhiều nguồn lực ảnh hưởng đến sinh kế của một gia đình, các nguồn lực thuộc bản thân con người bao gồm: Sự định hướng nghề nghiệp của một cá nhân,
sự định hướng nghề nghiệp của gia đình, sự định hướng của tập thể, tình hình kinh tế xã hội, thể trạng, hiểu biết và hành động của con người, cảm xúc, đời sống tinh thần; các nguồn lực bên ngoài bao gồm: chính trị và pháp luật, con người, điều kiện tự nhiên, tài chính, xã hội, khoa học tự nhiên Những nguồn lực này sẽ tác động theo các hướng khác nhau: theo hướng rủi ro, dễ bị nguy hiểm,
dễ bị tổn thương; theo hướng là cơ hội có thể tận dụng được Từ sự phân tích các nguồn lực dẫn đến hình thành nên sự phát triển của chiến lược sinh kế và có thể đưa ra được chiến lược sinh kế, đạt được kết quả trong sinh kế và hoàn tất việc lựa chọn chiến lược
2.2.2 Ở Việt Nam
2.2.2.1 Dự án bảo tồn và phát triển khu Dự trữ sinh quyển Kiên Giang
Năm 2006, Kiên Giang đã được tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang, với tổng diện tích 1.188,105 ha, bao gồm cả biển, đất liền và hải đảo, với không gian vô cùng rộng lớn kết nối 3 cùng lõi là Vườn Quốc Gia U Minh Thượng, Vườn quốc gia Phú Quốc; Khu bảo tồn biển Phú Quốc; Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Chông và đất rừng ngập mặn ven biển Tây Hầu hết các hệ sinh thái nhiệt đới đều có mặt ở đây như hệ sinh thái biển và ven bờ, rừng ngập mặn, hải đảo, rạn san hô, đầm lầy, rừng tràm ngập nước theo mùa và những cánh rừng nhiệt đới nguyên sinh và thứ sinh trên đảo Phú Quốc, với hệ động thực vật có khoảng 2.340 loài, trong đó có nhiều loài đặc hữu, quý hiếm được ghi vào sách
đỏ của Việt Nam và thế giới Dự án bảo tồn và phát triển khu dự trữ sinh quyển Kiển Giang bắt đầu từ tháng 7 năm 2008 và sẽ kết thúc vào tháng 7 năm 2017
Dự án được tài trợ bởi AusAID (Cơ quan phát triển quốc tế Úc) và thực hiện bởi
Trang 32tổ chức phát triển Đức (GIZ) Đối tác chính của dự án là UBNN tỉnh Kiên Giang, các đối tác khác bao gồm sở Khoa học công nghệ, và sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Trong giai đoạn đầu của dự án, hai nghiên cứu cơ bả dể tạo tiền
đề cho việc xác định các hoạt động nâng cao kết quả sinh kế Nghiên cứu đầu tiên được thực hiện bởi Alexander (2009) cho biết phạm vi thực hiện và các cộng đồng được chọn tiến hành thử nghiệm mô hình sinh kế, trong quan điểm nhân rộng nếu thành công Nghiên cứu thứ hai được tiến hành bởi Mackay (2009), cung cấp các thông tin cơ bản về tình hình kinh tế- xã hội ở các cộng đồng ven biển trong khu dự trữ sinh quyển và thực trạng sinh kế tại những nơi này Hai nghiên cứu đã góp phần đưa ra giải pháp để nâng cao kết quả sinh kế bao gồm (i) Cải thiện chiến lược quản lý sử dụng đất cho dự trữ sinh quyển và phát triển quy hoạch quản lý đa dạng sinh học; (ii) Xóa đói nghèo thông qua nâng cao năng lực, cải thiện và đa dạng hóa nguồn thu nhập; phát triển cơ hội sinh kế; (iii) Nâng cao nhận thức môi trường trong nhóm đối tượng của dự án, bao gồm bộ phận dân số nghèo đang sử đụng tài nguyên thiên thiên trong vùng, cán bộ công chức của các
sở ban ngành, vườn các quốc gia, đối tác cấp tỉnh, cấp huyện
2.2.2.2 Kinh nghiệm cải thiện sinh kế cho vùng ven biển Bắc Bộ
Theo số liệu của Viện Nghiên cứu phát triển bền vững vùng (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), biểu hiện rõ rệt của biến đổi khí hậu tới sinh kế tiểu vùng ven biển - hải đảo là ở tỷ lệ số hộ phải tạm dừng sản xuất kinh doanh, kiên cố hóa nhà ở hay di chuyển nơi ở Hơn 10% số hộ trong vùng phải tạm dừng hoạt động khai thác thủy, thổ sản; hơn 9% số hộ phải thay đổi kế hoạch sản xuất, kinh doanh; 71% số hộ phải thực hiện kiên cố hóa nhà ở; gần 16% số hộ phải thay đổi chỗ ở và có tới 49% hộ thường trực phải chuẩn bị lương thực và thuốc phòng khi có thiên tai xảy ra Để nâng cao kết quả sinh kế người chính quyền cần tuyên truyền, giúp đỡ, hỗ trợ người dân vê năng lực thích ứng, giúp người dân biết chủ động phòng ngừa và hành động khi diễn biến thời tiết bất lợi xảy ra để sản xuất ổn định Bên cạnh đó, chính quyền cần xây dựng mô hình sinh kế phù hợp cho mỗi địa phương Với Thái Bình - địa phương có khả năng bị tổn thương cao khi biến đổi khí hậu xảy ra, theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh, giải pháp mang tính bền vững, lâu dài nhất đối với sinh kế cho người nghèo
ở địa phương là ổn định tư liệu sản xuất cho người dân Người nghèo ven biển có thể đánh bắt thủy hải hản, đi biển, nhưng đó chỉ là nghề phụ, nghề chính của họ vẫn phải là nông nghiệp Trong tình trạng đất đai bị ảnh hưởng nhiều bởi xâm
Trang 33nhập mặn, thì giải pháp về thủy lợi cần phải đặt lên hàng đầu, cần cải tạo hệ thống thủy lợi để có thể tưới tiêu và rút bớt độ mặn của đất, có thể canh tác được Giải pháp thứ 2 là có thể chuyển sang mô hình nuôi trồng thủy sản nhưng cần có
sự quy hoạch cụ thể, cũng như phát triển nghề phụ cho người nghèo
2.2.3 Một số công trình nghiên cứu liên quan
- Ngô Quang Sơn (2013) đã nghiên cứu đề tài “Phát triển mô hình cải thiện sinh kế bền vững cho cộng đồng dựa trên tiềm năng tri thức bản địa của các dân tộc thiểu số” Nghiên cứu được tiến hành tại Lai Châu (dân tộc Mông và Dao) và Đắk Lắk (dân tộc Ê Đê và Gia Rai) Mặc dù các nguồn lực sinh kế đã được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều hạn chế Hoạt động sinh kế của người dân chủ yếu là nương rẫy và trồng lúa nước Tri thức bản địa, các tập quán đời sống
và sản xuất lạc hậu ảnh hưởng lớn đến sinh kế người dân Để cải thiện sinh kế tại đây, tác giả đã đưa ra một số biện pháp như tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức; xây dựng chính sách cải thiện sinh kế phù hợp với văn hóa, tri thức bản địa; chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật phù hợp với văn hóa, tri thức bản địa; xây dựng mô hình phát triển sinh kế vền vững dựa trên tri thức bản địa; tăng cường nguồn lực tài chính
- Nguyễn Thị Hường (Luận văn thạc sỹ, 2008) đã nghiên cứu đề tài:
“Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn sinh kế của
hộ nông dân các xã đặc biệt khó khăn huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ” Nghiên cứu đánh giá thực trạng sử dụng và hiệu quả các nguồn vốn sinh kế của hộ nông dân các xã đặc biệt khó khăn huyện Thanh Thủy tỉnh Phú Thọ Từ đó đề xuất giải pháp nhằm phối hợp và sử dụng tốt hơn các nguồn vốn sinh kế của hộ
Trang 34PHẦN 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Na Rì là huyện miền núi, nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Bắc Kạn, có diện tích tự nhiên là 85.300,00 ha, chiếm 17,54% diện tích tự nhiên tỉnh Bắc Kạn, gồm 21 xã và 01 thị trấn với 233 thôn, bản; nằm trong toạ độ địa lý từ khoảng 210 55’ đến 220 30’ vĩ độ Bắc, 1050 58’ đến 106018’ kinh độ Đông
- Phía Bắc giáp huyện Ngân Sơn
- Phía Nam giáp huyện Chợ Mới và tỉnh Thái Nguyên
- Phía Đông giáp huyện Bình Gia và Tràng Định (tỉnh Lạng Sơn)
- Phía Tây giáp huyện Bạch Thông
Thị trấn Yến Lạc là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của huyện, cách thị xã Bắc Kạn 69 km và thành phố Thái Nguyên 130 km theo Quốc lộ 3B và Quốc lộ 3 Đời sống kinh tế của nhân dân còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng như đường giao thông, trường học, điện lưới quốc gia, trạm y
tế xã mặc dù đã được Nhà nước quan tâm đầu tư xong vẫn còn nhiều khó khăn
3.1.1.2 Địa hình
Na Rì có địa hình phức tạp, chủ yếu là đồi núi với nhiều núi đá vôi, thung lũng hẹp, độ dốc lớn, thuộc cánh cung Ngân Sơn Độ cao trung bình toàn huyện
là 500m, cao nhất là núi Phyia Ngoằm (xã Cư Lễ) với độ cao 1.193m, thấp nhất ở
xã Kim Lư với độ cao 250m so với mực nước biển Nhìn tổng thể, địa hình của huyện có hướng thấp dần từ Tây Nam sang Đông Bắc, được chia thành 2 dạng địa hình sau:
* Địa hình vùng núi đá
Các dãy núi đá trải dài trên hầu hết các địa bàn trong huyện là các xã Kim
Hỷ, Ân Tình, Lạng San, Lam Sơn, Hảo Nghĩa, Cư Lễ với độ dốc trên 200 Tại nhiều nơi núi đá còn có độ dốc tới 600 với độ cao thay đổi từ 300m - 500m Khối núi đá vôi Kim Hỷ được đánh giá là loại địa hình caxtơ trẻ với những đỉnh đá tai mèo, vách đứng, vực sâu, nhiều sông suối chảy ngầm, vô cùng nguy hiểm
Trang 35* Địa hình vùng núi đất
Phân bố ở hầu hết các xã trong huyện, gồm các dãy núi kéo dài liên tiếp nhau có độ cao thay đổi từ 300m - 700m Địa hình vùng này rất phức tạp, hầu hết các dãy núi được hình thành trên các khối đá mắc ma, biến chất, trầm tích, có đỉnh nhọn, độ dốc lớn Xen kẽ giữa các dãy núi chạy dọc theo các sông suối lớn
có các thung lũng nhỏ hẹp dạng lòng máng hầu hết đã được khai thác để trồng lúa màu Ở vùng này thực vật phát triển rất đa dạng và phong phú, những nơi còn rừng đất đai còn tốt, tầng đất dày Một số nơi do việc khai thác không hợp lý, độ che phủ thực vật giảm, đất đai bị xói mòn, rửa trôi, hàm lượng các chất dinh dưỡng suy giảm nhiều
Địa hình của huyện Na Rì đã ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành đất, cụ thể là các quá trình rửa trôi và tích luỹ Quá trình rửa trôi diễn ra mạnh vào mùa mưa ở vùng núi đá chia cắt, dốc nhiều, ở vùng đồi núi thấp có những thung lũng tương đối bằng phẳng, thích nghi với các loại cây lương thực và cây ngắn ngày vùng nhiệt đới
3.1.2 Các nguồn tài nguyên
3.1.2.1 Tài nguyên đất
Đất Na Rì chủ yếu được hình thành do sự phong hóa trực tiếp của đá mẹ
và một phần hình thành do sự bồi tụ phù sa các hệ thống sông, suối Toàn huyện gồm có 10 loại được phân thành 2 nhóm chính: Nhóm đất thủy thành và nhóm đất địa thành
* Nhóm đất địa thành (đồi núi)
Có diện tích 81.999 ha, chiếm 96,13% diện tích tự nhiên; nhóm đất này gồm các loại đất sau:
+ Đất Feralít mùn vàng nhạt trên núi cao trên 700 m (FH): loại đất này có diện tích 3.297 ha, chiếm 3,87% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở các xã Cư
Lễ, Vũ Loan, Kim Hỷ, Côn Minh, Đổng Xá, Dương Sơn Hình thành trên các loại đá: Granít, Liparit, phiến thạch biến chất,… tầng đất mỏng, màu vàng nhạt
có nhiều đá lộ đầu, địa hình hiểm trở, độ dốc lớn, tỷ lệ mùn cao, mức độ tích luỹ sắt (Fe3+), nhôm (Al3+) không nhiều bằng vùng núi thấp và vùng trung du Loại đất này chủ yếu dành cho phát triển lâm nghiệp, tuy nhiên có thể lựa chọn một số nơi để trồng cây ăn quả như: đào, lê, táo, mơ, mận,…
+ Đất Feralít đỏ nâu trên đá vôi (FQv): loại đất này có diện tích 23.518ha,
Trang 36chiếm 27,57% diện tích tự nhiên, phân bố ở các xã Đổng Xá, Xuân Dương, Dương Sơn, Hảo Nghĩa, Côn Minh, Hữu Thác, Cư Lễ, Lam Sơn, Lương Thành, Lạng San, Vũ Loan, Lương Hạ, Văn Minh, Cường Lợi, Văn Học, Kim Hỷ, Ân Tình, Liêm Thuỷ Đất phát triển trên đá vôi, tầng đất mỏng, tỷ lệ sét cao nhưng thường thoát nước nhanh vì nền đá vôi có nhiều hang động và suối ngầm (hiện tượng Kastơ) nên đất thường bị hạn Loại đất này ngoài khả năng trồng các cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày còn có thể trồng được các cây ăn quả như: mận, đào, táo, lê,… nhưng diện tích không lớn
+ Đất Feralít đỏ vàng trên đá biến chất (FQj): loại đất này có diện tích 1.052ha, bằng 1,23% diện tích tự nhiên, phân bố rải rác ở các xã trong huyện Đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, tỷ lệ sét cao, hàm lượng mùn và đạm tổng số khá giàu, hàm lượng kali, lân tổng số và lân dễ tiêu nghèo, loại đất này chủ yếu dành cho lâm nghiệp
+ Đất Feralít vàng đỏ trên phiến thạch sét (FQs): Là loại đất có diện tích lớn nhất so với các loại đất khác với 50.416ha, bằng 59,10% diện tích tự nhiên, phân bố ở hầu khắp các xã trong huyện Đất có thành phần cơ giới nặng, hàm lượng mùn từ trung bình đến khá Phần lớn đất nằm trên địa hình hiểm trở, độ dốc lớn nên được sử dụng cho lâm nghiệp là chính Một số ít diện tích đã được cải tạo để trồng hoa màu, cây lâu năm và bãi chăn thả gia súc
+ Đất Feralít màu vàng nhạt trên đá cát (FQq): Loại đất này có diện tích 3.680ha, chiếm 4,31% diện tích tự nhiên, phân bố ở các xã Lương Thượng, Lạng San, Vũ Loan, Văn Học Đất có thành phần cơ giới nhẹ, tỷ lệ cát cao, nhất là ở những vùng đồi trọc, khả năng giữ ẩm và giữ màu của đất kém, hàm lượng oxit sắt (Fe2O3), nhôm (Al2O3) Hàm lượng mùn và đạm tổng số thay đổi theo mật độ cây rừng Lân tổng số và dễ tiêu nghèo, Kali vào loại trung bình Đất thích hợp với nhiều loại cây trồng, khi sử dụng để trồng trọt cần phải thận trọng trong việc lựa chọn tầng đất, độ dốc, chống xói mòn rửa trôi để bảo đảm được thâm canh lâu dài
Trang 37Kim Lư, thị trấn Yến Lạc, loại đất này có thành phần cơ giới nhẹ, càng xa bờ sông thành phần cơ giới nặng thêm, loại đất này thuận lợi cho trồng lúa, màu và cây ăn quả
+ Đất phù sa ngòi, suối: Có diện tích 1.281ha, chiếm 1,50% diện tích tự nhiên, phân bố dọc theo các triền suối thuộc các xã Kim Hỷ, Đổng Xá, Kim Lư,… là sản phẩm bồi tụ phù sa của ngòi, suối Đất có thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình, hơi chua, hàm lượng các chất hữu cơ từ trung bình đến khá, thích hợp để trồng lúa và hoa màu, khả năng thâm canh tốt
+ Đất dốc tụ trồng lúa nước: Có diện tích 139ha, chiếm 0,16% diện tích
tự nhiên, phân bố chủ yếu ở các xã Xuân Dương, Ân Tình, Hảo Nghĩa, Lương Thành Là kết quả của quá trình xói mòn từ đồi núi đổ xuống theo dòng chảy được tích tụ lại ở chân sườn dốc và các lòng chảo đã được khai phá thành ruộng
để trồng lúa nước Đất có thành phần cơ giới nặng hay nhẹ phụ thuộc vào đá
mẹ, mật độ che phủ thực vật, mức độ xói mòn, độ dốc ở nơi trực tiếp hình thành
ra nó, hàm lượng các chất dinh dưỡng từ trung bình đến nghèo Thích hợp cho trồng lúa nước và cây hoa màu, tuy nhiên về mặt giá trị sử dụng không bằng đất phù sa ngòi, suối Trong quá trình canh tác cần chú ý tạo điều kiện thoát nước
về vụ đông
+ Đất dốc tụ trồng lúa nước ảnh hưởng Cacbonat (LdK): Có diện tích 211ha, chiếm 0,23% diện tích đất tự nhiên, phân bố rải rác ở các xã có núi đá vôi như Liêm Thuỷ, Xuân Dương, Côn Minh, Dương Sơn, Lương Hạ, Kim Lư,… Loại đất này chỉ khác đất dốc tụ (Ld) là bị ảnh hưởng Cacbonat, nên đất có phản ứng hơi kiềm (pHkcl = 6,5 - 7,5) Đất thường có màu xám đen, thường bị hạn vì
ở vùng núi đá vôi có nhiều suối ngầm khe nứt dễ thoát nước, đất trở nên cứng rắn khi khô hạn và keo dính khi gặp nước
+ Đất Feralít biến đổi do trồng lúa nước (Lf): Có diện tích 346ha, chiếm 0,41% diện tích tự nhiên, phân bố ở các xã Vũ Loan, Cường Lợi, Hảo Nghĩa, Quang Phong, Hữu Thác,… được hình thành từ đất đồi được san thành ruộng bậc thang để trồng lúa nước nên tính chất đất khác hẳn về màu sắc, thành phần cơ giới và các chất dinh dưỡng Do thường xuyên ngập nước nên đã xuất hiện Glây
ở các lớp dưới tầng canh tác, hàm lượng mùn sét bị rửa trôi nhiều, hầu hết diện tích mới chỉ trồng được một vụ mùa và bỏ hoá vụ đông xuân
Nhìn chung đất đai Na Rì cho phép phát triển đa dạng các loại cây trồng,
Trang 38vật nuôi Tuy nhiên, phần lớn đất của huyện là đất bị xói mòn trơ sỏi đá, thoái hoá nghiêm trọng, nên việc phục hồi, nâng cao chất lượng đất là một nhiệm vụ quan trọng trong sử dụng đất
3.1.2.2 Tài nguyên rừng
Hiện nay, huyện có 66.949,96 ha đất lâm nghiệp, chiếm 78,49% diện tích
tự nhiên; trong đó rừng sản xuất chiếm 64,14% diện tích đất lâm nghiệp, rừng phòng hộ chiếm 19,04% đất lâm nghiệp, rừng đặc dụng 16,82% đất lâm nghiệp Rừng được phân bố ở tất cả các xã và thị trấn trong huyện
Rừng của Na Rì ngày nay liên quan mật thiết với những đặc trưng địa lý
tự nhiên và quá trình diễn biến tài nguyên rừng, thảm thực vật rừng của huyện Rừng phát huy tác dụng rất cao đối với đất - nước - môi trường của huyện, trong điều kiện hiện tại thuộc tính phòng hộ của rừng đối với nguồn nước, ngăn chặn xói mòn và thoái hóa đất, điều hòa khí hậu thể hiện rất rõ rệt Nằm trong vùng có điều kiện khí hậu, địa hình, đất đai nhiều thuận lợi, nên thảm thực vật ở đây phát triển rất đa dạng và phong phú Tuy nhiên, trong những năm qua, do rừng bị khai thác không theo quy hoạch nhằm đáp ứng các nhu cầu trước mắt của người dân nên diện tích rừng đang bị suy kiệt mạnh, diện tích rừng nhất là rừng gỗ quý hiếm giảm nhanh chóng và diện tích đất trống đồi núi trọc tăng lên Kể từ khi có chủ trương của Nhà nước về việc tăng cường giao đất, giao rừng cho nông dân nên diện tích rừng của huyện đã được phục hồi theo hướng tích cực, độ che phủ rừng ngày càng được nâng cao Đến nay độ che phủ rừng của huyện đã đạt 66% Thảm thực vật rừng của huyện được chia thành 2 dạng sau:
Các kiểu rừng khác ở Na Rì có diện tích không lớn, được phát triển trên
Trang 39địa hình đồi lượn sóng và trên nhiều loại đất với cây tiêu biểu là khộp, có nơi xen
kẽ khộp và le, trúc, tre, nứa, Đây là kiểu rừng thưa, cây lá rộng thường có một tầng duy nhất, cây ít cành và ít lá, tầng mặt cỏ vẫn phát triển được Rừng non tái sinh và cây bụi là kết quả của việc khai thác qua nhiều năm, rừng cây lá rộng đã nhường lại cho cây non phát triển, cây cao từ 2 - 15m, phân bố ở hầu khắp các vùng trên địa bàn huyện, trên các dạng địa hình và các loại đất khác nhau với thảm thực vật chủ yếu là các cây họ dầu, đậu, xoan, dẻ, gai, sim, cỏ lau Hiện nay loại rừng này là đối tượng bị khai thác mạnh nhất do việc chuyển mục đích
sử dụng sang trồng cây nông nghiệp
Thảm cỏ tự nhiên: Loại hình này là kết quả của nhiều lần khai phá, đốt nương làm rẫy, các loại cây gỗ bị phá bỏ nhường chỗ lại cho thảm cỏ tự nhiên phát triển
* Thảm thực vật trồng
Bên cạnh sự phong phú về thảm thực vật tự nhiên, thảm thực vật trồng ở
Na Rì cũng hết sức đa dạng về chủng loại với nhiều loại cây nhiệt đới điển hình
như các loại cây ăn quả và nhiều loại cây lương thực khác
Nhìn chung, Na Rì là huyện có nguồn tài nguyên rừng rất phong phú và đa dạng với nhiều loài động, thực vật quý hiếm ở trong nước và quốc tế Tuy nhiên
do nạn phá rừng cùng với công tác quản lý chưa được chặt chẽ đã làm cho nguồn tài nguyên phong phú này có nguy cơ bị cạn kiệt
3.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội
3.1.3.1 Tình hình nhân khẩu và lao động của huyện
Na Rì đất rộng người thưa Dưới thời Pháp thuộc, dân số toàn huyện (năm 1932) chỉ có 8.740 người Ngày nay, dân số toàn huyện có xấp xỉ 41.000 người Nơi đây là nơi quy tụ nhiều dân tộc cùng sinh sống như: Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông Cộng đồng dân cư thường sinh sống tập trung theo dòng họ, đời sống gắn với ruộng vườn Các dân tộc Tày, Nùng thường quần cư trong các thung lũng, ven sông suối, canh tác trên các thửa ruộng bậc thang Đồng bào người Dao trước đây thường có tập quán du canh du cư, phát nương làm rẫy Người Kinh, người Hoa chủ yếu sống tập trung ở vùng trung tâm, làm các nghề may mặc hoặc cửa hiệu phục vụ ăn uống, buôn bán tạp hóa
Trang 40Bảng 3.1 Tình hình nhân khẩu tại huyện Na Rì
Biểu đồ 3.1 Cơ cấu lao động của huyện Na Rì năm 2015
3.1.3.2 Tình hình cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng nông thôn cũng phát triển khá mạnh, huyện Na Rì đã tranh thủ các nguồn vốn của Trung ương, các nguồn vốn tài trợ triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình 134, 135 giai đoạn 2, Quyết định 167 của Chính phủ
ĐVT: %