1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đánh giá kết quả cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương việt nam (techcombank)

91 138 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 622,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá về kết quả hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP kỹ thương Việt Nam.. - Các kết quả nghiên cứu đã đạt được: + Cơ sở lý luận và thực tiễn

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

ĐỖ THẾ KHƯƠNG

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƯƠNG VIỆT NAM

(TECHCOMBANK)

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Hữu Ảnh

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn

và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Đỗ Thế Khương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lê Hữu Ảnh người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn tới tập thể các thầy cô giáo Khoa Kế toán và QTKD

và các thày cô khác đã truyền đạt kiến thức cũng như giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường để tôi có đủ kiến thức để thực hiện nghiên cứu đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc và tập thể cán bộ nhân viên tại ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã tận tình giúp đỡ trong quá trình tôi thực hiện nghiên cứu đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn ở bên động viên chia sẻ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu luận văn này./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Đỗ Thế Khương

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan iiii

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng vi

Danh mục sơ đồ vi

Trích yếu luận văn viii

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Đối tượng và phạm vi thực hiện của đề tài 2

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 3

2.1 Cơ sở lý luận 3

2.1.1 Cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại 3

2.1.2 Hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp của NHTM 6

2.1.3 Kết quả cho vay ngắn hạn 12

2.2 Cơ sở thực tiễn 26

2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong việc nâng cao kết quả cho vay 26

2.2.2 Bài học kinh nghiệm cho các ngân hàng thương mại Việt Nam trong việc nâng cao kết quả cho vay 27

Phần 3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 28

3.1 Đặc điểm ngân hàng TMCP kỹ thương Việt Nam 28

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam 28

3.1.2 Cơ cấu tổ chức và quản lý 30

Trang 5

3.2 Phương pháp nghiên cứu 31

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 31

3.2.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 32

3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 33

Phần 4 Kết quả và thảo luận 31

4.1 Khái quát hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam 34

4.2 Thực trạng hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam 36

4.2.1 Thực trạng thực hiện quy trình cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) 36

4.2.2 Thực trạng kết quả cho vay ngắn hạn theo loại hình doanh nghiệp 44

4.2.3 Thực trạng kết quả cho vay theo ngành nghề kinh doanh 45

4.2.4 Thực trạng nợ quá hạn và nợ xấu cho vay ngắn hạn KHDN của Techcombank 46

4.3 Đánh giá về kết quả hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP kỹ thương Việt Nam 49

4.3.1 Những thành công đã đạt được 47

4.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 52

4.4 Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng Techcombank 55

4.4.1 Định hướng và mục tiêu phát triển của NHTM cổ phần Kỹ thương Việt Nam 55

4.4.2 Giải pháp nâng cao kết quả cho vay ngắn hạn đối với KHDN tại Techcombank 58

Phần 5 Kết luận 75

Danh mục tài liệu tham khảo 78

Phụ lục 79

Trang 6

TCTD : Tổ chức tín dụng TMCP : Thương mại cổ phần

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Kết quả kinh doanh của Techcombank từ 2013 - 2015 35 Bảng 4.2 Đánh giá của khách hàng doanh nghiệp về quy trình cho vay

của ngân hàng 44 Bảng 4.3 Dư nợ cho vay ngắn hạn theo loại hình doanh nghiệp 45 Bảng 4.4 Cơ cấu dư nợ cho vay theo ngành nghề kinh doanh 46 Bảng 4.5 NQH, nợ xấu trong cho vay ngắn hạn KHDN của

Tehcombank các năm 2013 - 2015 46 Bảng 4.6 Đánh giá của khách hàng doanh nghiệp về tình hình quản lý

nợ của ngân hàng 48 Bảng 4.7 Kế hoạch phát triển của Techcombank đến năm 2020 56

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 4.1 Quy trình cho vay ngắn hạn đối với KHDN tại Techcombank 37

Trang 8

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

1 Tóm tắt

- Tên tác giả: Đỗ Thế Khương

- Tên luận văn: Đánh giá kết quả cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh

nghiệp tại ngân hàng kỹ thương Việt Nam (Techcombank)

- Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh

- Mã số: 60.34.01.02

- Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

2 Nội dung bản trích yếu

- Mục đích nghiên cứu của luận văn: Trên cơ sở đánh giá thực trạng kết

quả hoạt động cho vay ngắn hạn của khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao kết quả hoạt động cho vay ngắn hạn của khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam

- Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng:

+ Phương pháp thu thập số liệu

* Số liệu thứ cấp từ Báo cáo thường niên của Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam, Thu thập số liệu từ Khối KHDN của ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam

* Số liệu sơ cấp từ khảo sát khách hàng doanh nghiệp

+ Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu

Sau khi thu thập các số liệu, tác giả sẽ tiến hành tổng hợp để xử lý các số liệu Đối với các dữ liệu thứ cấp, tác giả tiến hành chắt lọc các thông tin quan trọng và cần thiết sau đó sử dụng vào luận văn Đối với dữ liệu sơ cấp, sau khi thu thập, tác giả sử dụng phần mềm Excel để tính toán, xử lý các dữ liệu và cho ra kết quả cuối cùng, sử dụng trong luận văn

+ Phương pháp phân tích số liệu: Phương pháp thống kê mô tả và phương pháp so sánh thống kê

- Các kết quả nghiên cứu đã đạt được:

+ Cơ sở lý luận và thực tiễn về cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại thông qua các khái niệm, đặc điểm, các tiêu chí đánh giá kết quả cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại

Trang 9

+ Thực trạng kết quả cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam Techcombank qua việc đánh giá: Quy trình cho vay, dư nợ cho vay ngắn hạn theo loại hình doanh nghiệp, dư nợ cho vay ngắn hạn theo ngành nghề kinh doanh, tỷ lệ nợ xấu và nợ quá hạn tại ngân hàng tại ngân hàng kỹ thương Việt Nam (Techcombank)

+ Để nâng cao kết quả cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng kỹ thương Việt Nam (Techcombank) cần thực hiện những giải pháp cơ bản sau: 1) Giải pháp về hoàn thiện quy trình cho vay ; 2) Giải pháp nâng cao kết quả cho vay; 3) Giải pháp quản lý nợ và giảm tỷ lệ nợ quá hạn 4) Một số giải pháp có liên quan

Trang 10

THESIS ABSTRACT

1 Summary

- Author: Do The Khuong

- Thesis title: Evaluation of short-term lending to corporate customers in Vietnam Technological and Commercial Bank (Techcombank)

- Major: Business Administration Code: 60.34.01.02

- Training insttitution: the Vietnam Academy of Agriculture

2 Contents of the extract:

- Research purpose of the thesis: On the basis of assessing the situation of term lending activities for corporate customers at Vietnam Commercial and Technological Joint Stock bank, thereby propose the solutions to improve the performance of corporate short-term lending activity in Techcombank

short The applied research methods :

+ Methods of data collection

* Secondary data from the Annual Report of Techcombank, collect data from Techcombank’s Corporate Division

* Primary data from corporate customers’ survey

+ Method of synthesis and processing data:

After collecting the data, Author will perform summary to process the data For secondary data, author will filter the important and necessary information then applied

in the thesis For primary data, after collection, author uses Excel software to calculate software, process the data and use the final result in the thesis

+ The method of data analysis: descriptive statistics method and statistical comparision method

- The achieved research results:

+ The theoretical and practical basis of short-term lending to corporate customers of Commercial banks through the concepts, characteristics and criteria for evaluating the results of short-term lending to corporate customers, and the factors affecting the results of short-term lending to corporate customers of commercial banks + The situation of results of corporate short-term lending at Techcombank by assessing: lending process, short term debt balance sorted by type of corporate business, short-term debt balance sorted by business lines, the proportion of bad debts and overdue debts at Techcombank

+ In order to improve the results of short-term lending to corporate customers in Techcombank, the following basic solutions should be implemented: 1) Solutions to improve the process of lending; 2) Solutions to improve lending results; 3) Solutions of debt management and reducing the rate of overdue 4) Some other relevant solutions

Trang 11

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Cùng với sự tăng trưởng và phát triển không ngừng của nền kinh tế, nhu cầu vốn đã và đang là một nhu cầu vô cùng cấp thiết cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng bị cũng như mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế Cho vay ngắn hạn là công cụ đắc lực để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam chiếm một vị trí chiến lược trong việc đáp ứng nhu cầu vốn đối với nền kinh tế Nhận thấy tầm quan trọng cho vay ngắn hạn cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế, các NHTM cũng đang triển khai nhiều biện pháp để có những bước chuyển dịch về cơ cấu cho vay, tăng dần tỷ trọng cho vay ngắn hạn nhằm gia tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế Việc phát triển cho vay Ngân hàng không những chỉ mang lại lợi ích cho toàn bộ nền kinh tế mà nó còn trực tiếp mang lại lợi ích thiết thực cho ngành ngân hàng

Tuy nhiên, thực tế hoạt động cho vay ngắn hạn đối với các doanh nghiệp còn đang gặp nhiều khó khăn, nổi cộm vẫn là vấn đề kết quả cho vay ngắn hạn còn thấp Ngoài ra, tỷ lệ nợ quá hạn (NQH) còn cao, cho vay ra nhưng không thu hồi được cả gốc và lãi nên đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế nói chung và của hệ thống Ngân hàng nói riêng

Chính vì vậy vấn đề kết quả cho vay ngắn hạn đối với các doanh nghiệp đang là một vấn đề được mọi người trong và ngoài ngành quan tâm, giải quyết

Và đây cũng đang là đề tài của nhiều cuộc trao đổi, thảo luận tại các hội thảo, diễn đàn nghiên cứu

Là một trong những NHTM cổ phần đầu tiên tại Việt Nam, Ngân hàng

TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã nhanh chóng xác lập ví trí

trên thị trường tài chính – tiền tệ thông qua những hoạt động kinh doanh của

mình Vì vậy, đề tài: “Đánh giá kết quả cho vay ngắn hạn đối với khách hàng

doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam” được chọn để

nghiên cứu Đề tài này góp phần đánh kết quả hoạt động cho vay ngắn hạn đối

Trang 12

với khách hàng doanh nghiệp (KHDN) tại Techcombank trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động tín dụng từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao kết quả tín dụng ngắn hạn đối với KHDN cho phù hợp với thực tiễn và xu thế hội nhập

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI THỰC HIỆN CỦA ĐỀ TÀI

- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu kết quả cho vay ngắn hạn đối với KHDN tại Techcombank thông qua hoạt động thực tiễn từ năm 2013 đến năm 2015

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trong phạn vi không gian tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam vào phạm vi thời gian từ năm 2013 đến năm 2015 Trong đó đối tượng được tập trung phân tích xuyên suốt là Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam Đề tài nghiên cứu các cơ sở lý luận về cho vay ngắn hạn đối với KHDN từ đó áp dụng, trình bày, phân tích hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN tại Ngân hàng TMCP

Kỹ Thương Việt Nam Từ việc phân tích thực trạng cho vay ngắn hạn tại Techcombank, thấy được kết quả cho vay ngắn hạn tại Techcombank Để từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao kết quả cho vay ngắn hạn đối với KHDN tại ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam

Trang 13

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.1.1 Cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại

2.1.1.1 Các nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng thương mại

Khái niệm Ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển hàng trăm

năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh

mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM:

Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính

Ở Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội nước Cộng hoà xã hội

chủ nghĩa thông qua ngày 16/06/2010 định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là

loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt

Qua các khái niệm trên chúng ta có thể rút ra một số nhận xét sau: NHTM là một loại hình doanh nghiệp vì nó có cơ cấu, tổ chức bộ máy, cấu trúc tài chính giống như một doanh nghiệp Bên cạnh đó, hoạt động của NHTM

là hoạt động kinh doanh vì mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận Tuy nhiên, NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt bởi vì:

- Lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng Đây là một lĩnh vực rất nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến tất cả các ngành cũng như mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội

- Chất liệu kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ - một công cụ được nhà nước sử dụng để quản lý vĩ mô nền kinh tế và quyết định đến sự phát triển hay

Trang 14

- Nguồn vốn chủ yếu ngân hàng sử dụng là vốn từ bên ngoài Tỷ trọng vốn riêng trong tổng nguồn vốn kinh doanh rất thấp

- Hoạt động kinh doanh của ngân hàng chịu sự chi phối rất lớn bởi chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương

- NHTM là một trung gian tín dụng, đóng vai trò là tổ chức trung gian huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế rồi biến nguồn vốn đó để cấp tín dụng đáp ứng các nhu cầu vốn cho kinh doanh, đầu tư và tiêu dùng của nền kinh tế

Các nghiệp vụ chủ yếu của Ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt với nhiều hoạt động đa dạng, có thể tổng hợp những hoạt động đó theo 3 nhóm hoạt động

cơ bản, đó là: nghiệp vụ huy động vốn, nghiệp vụ sử dụng vốn

và cung cấp các dịch vụ tài chính trung gian

a) Nghiệp vụ sử dụng vốn – Cho vay:

- Dự trữ bắt buộc: đây là khoản dự trữ mà ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng thương mại nộp vào tài khoản tại ngân hàng Nhà nước nhằm mục đích: hỗ trợ, bảo đảm an toàn cho hoạt động của ngân hàng thương mại

Dự trữ vượt quá: là các khoản dự trữ tồn tại dưới dạng tiền mặt tại quỹ, các khoản tiền gửi tại ngân hàng khác, tiền mặt trong quá trình thu

Nhìn chung, ngân quỹ của ngân hàng thương mại là tài sản không sinh lời (hoặc sinh lời thấp trong trường hợp tiền gửi tại ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng khác được hưởng lãi) song lại là tài khoản có tính thanh khoản cao nhất, đáp ứng nhu cầu chi trả thường xuyên Do vậy, mỗi ngân hàng đều cố gắng giữ ngân quỹ ở mức thấp nhất có thể được

- Nghiệp vụ ngân quỹ: Thu, chi tiền mặt đối với khách hàng

- Cho vay: là việc ngân hàng nhường quyền sử dụng vốn cho người khác trong một thời gian, sau đó được quyền thu cả gốc lẫn lãi Cho vay là khoản mục

có tỷ lệ cao nhất trong các loại tài sản của ngân hàng Có rất nhiều loại hình cho vay khác nhau đáp ứng nhu cầu của dân cư hay các doanh nghiệp

- Các hoạt động đầu tư: Ngân hàng nhường quyền sở hữu cho người khác dưới hình thức hùn vốn, thu nhập căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận, tỷ lệ vốn góp Có nhiều hình thức đầu tư: đầu tư vào chứng khoán, đầu tư vào các dự án, đầu tư dưới dạng liên doanh với nhau để hình thành các ngân hàng liên doanh

Trang 15

- Cho vay đồng tài trợ: Là hình thức tín dụng mà NHTM tham gia tài trợ cho doanh nghiệp thông qua một NHTM đầu mối Phương thức cho vay này thường thấy trong các dự án lớn mà ngân hàng tiếp cận đầu tiên không đủ vốn để tài trợ hoặc số tiền vay vượt quá số tiền cho vay mà một NHTM có thể được phép cấp cho một khách hàng hoặc trong trường hợp các NHTM muốn phân tán rủi ro

- Các hoạt động sử dụng vốn khác: quảng cáo, quảng bá, tài trợ cho sự phát triển nguồn nhân lực, các chương trình phát triển

b) Cung cấp dịch vụ tài chính trung gian

- Chuyển tiền: Ngân hàng làm theo lệnh của khách hàng chuyển trả tiền cho một người nào đó

- Thanh toán không dùng tiền mặt: Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng Người gửi tiền không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách, khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền Các hình thức thanh toán ngày càng đa dạng: thanh toán bù trừ, sec, L/C, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, hối phiếu, thanh toán bằng thẻ

Bảo lãnh: Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho 1 khách hàng là rất lớn và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của khách hàng nên ngân hàng có

uy tín trong bảo lãnh cho khách hàng Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác

Dịch vụ ngân hàng điện tử: NHTM cung cấp các giải pháp về quản lý tài khoản, thanh toán thông qua mạng internet hoặc mạng TT trực tuyến cho khách hàng

Trang 16

2.1.1.2 Một số vấn đề về cho vay doanh nghiệp

Theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng và Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ban hành ngày 03/02/2005 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN

ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì : “Cho vay là hình thức

cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”

Thời hạn nhất định ở đây chính là thời hạn cho vay Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng nhận vốn vay cho đến khi trả hết

cả gốc và lãi đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng

và khách hàng

2.1.2 Hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN của NHTM

2.1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của cho vay ngắn hạn

a Khái niệm về cho vay ngắn hạn

Cho vay ngắn hạn nhằm tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn nhu cầu ngắn hạn của doanh nghiệp, hộ sản xuất Ngân hàng có thể áp dụng cho vay trực tiếp hoặc cho vay gián tiếp cho vay theo món hoặc cho vay theo hạn mức hoặc không cần đảm bảo dưới hình thức chiết khấu thấu chi hoặc luân chuyển

Theo các quy định hiện nay, cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân Khoản cho vay ngắn hạn chủ yếu tài trợ cho các hoạt động sau:

- Cho vay mua hàng dự trữ

Các khoản cho vay này chủ yếu được sử dụng để tài trợ cho việc mua hàng dự trữ như nguyên liệu thô Các khoản cho vay như vậy tận dụng được chu kỳ tiền mặt thông thường trong một hãng kinh doanh như sau:

Tiền mặt được chi dùng mua dự trữ nguyên vật liệu và bán thành phẩm hoặc thành phẩm

Hàng hoá được sản xuất hoặc dữ trữ để bán

Trang 17

- Cho vay vốn lưu động

Thông thường các khoản vay vốn lưu động được sử dụng để đáp ứng mức sản xuất và nhu cầu tín dụng trong thời kỳ cao điểm của chu kỳ kinh doanh Thông thường các khoản cho vay vốn lưu động được đảm bảo bằng các khoản phải thu hoặc thế chấp bằng hàng tồn kho và khách hàng sẽ phải chịu lãi suất thả nổi trên lượng tiền thực tế họ đã sử dụng Khoản lệ phí cam kết được tính trên phần tín dụng thuộc hạn mức không sử dụng và đôi khi tính trên toàn bộ giá trị của hạn mức Ngân hàng thường yêu cầu khách hàng phải có số dư bù tiền gửi Số dư bù tiền gửi bao gồm lượng tiền gửi tối thiểu bắt buộc được xác định trên cơ sở quy mô hạn mức tín dụng và một lượng tiền gửi bắt buộc bổ xung bằng một tỉ lệ phần trăm quy định trên tổng lượng tín dụng mà khách hàng thực sử dụng

- Cho vay ngắn hạn các công trình xây dựng

Các khoản cho vay này cung cấp vốn cho bên thi công để thuê công nhân, thuê thiết bị xây dựng, mua vật liệu xây dựng và giải phóng mặt bằng Khi giai đoạn xây dựng kết thúc, bên thi công thường vay thế chấp dài hạn từ các tổ chức tài chính khác, để lấy tiền thanh toán cho các khoản vay xây dựng ngắn hạn Trong thực tế chỉ khi Công ty xây dựng chắc chắn có một cam kết cho vay thế chấp để tiếp tục tài trợ dài hạn cho các dự án sau khi kết thúc giai đoạn xây dựng thì ngân hàng mới thực hiện các khoản cho vay xây dựng ngắn hạn Gần đây một vài ngân hàng đã cho vay với thời hạn khá dài 5 đến 7 năm, cung ứng vốn cho việc xây dựng và hoạt động trong giai đoạn đầu của công trình

- Cho vay kinh doanh chứng khoán

Những người kinh doanh chứng khoán Chính phủ và chứng khoán tư nhân thường cần sự hỗ trợ vốn ngắn hạn để mua chứng khoán mới và duy trì

Trang 18

bán hoặc đến hạn thanh toán Các ngân hàng lớn nhất thường sẵn sàng cho vay đối với người kinh doanh chứng khoán vì những khoản cho vay này có chất lượng cao, thường được đảm bảo bằng chứng khoán Chính phủ do nhà kinh doanh chứng khoán nắm giữ Hơn nữa nhiều khoản vay kinh doanh chứng khoán có kỳ hạn rất ngắn, chỉ là vay qua đêm hoặc vài ngày Nhờ vậy ngân hàng có thể nhanh chóng thu hồi vốn hoặc cho vay các khoản mới với lãi suất cao hơn nếu thị trường tín dụng trở nên căng thẳng

Một hình thức cho vay khác thuộc loại này là cho vay đối với các tổ chức ngân hàng đầu tư Hỗ trợ cho hoạt động bảo lãnh phát hành trái phiếu , cổ phiếu công ty và các giấy nợ của Chính phủ Việc bảo lãnh phát hành chứng khoán thường diễn ra khi ngân hàng đầu tư giúp đỡ khách hàng trong việc mua lại công

ty khác, giúp đỡ Công ty phát hành chứng khoán lần đầu, phát hành thêm cổ phiếu để tăng quy mô vốn kinh doanh hiện có, hoặc hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện hoạt động đầu tư mới Khi ngân hàng bán chứng khoán mới cho các nhà đầu

tư trên thị trường vốn thì khoản vay cùng với lãi sẽ được hoàn trả

- Cho vay kinh doanh bán lẻ

Các ngân hàng hỗ trợ người tiêu dùng trong việc mua trả góp xe máy, đồ dùng gia đình, nội thất và các hàng hoá lâu bền khác bằng cách tài trợ cho các khoản phải thu mà người bán những hàng hoá này sẽ nhận được sau khi họ ký hợp đồng bán trả góp Hợp đồng trả góp sẽ được ngân hàng của người bán lẻ xem xét Nếu đáp ứng các yêu cầu tín dụng, ngân hàng sẽ mua những hợp đồng này với một mức lãi suất thay đổi tuỳ theo chất lượng tín dụng người vay vốn, chất lượng của vật thế chấp và thời hạn của mỗi khoản vay

- Cho vay trên tài sản

Trong những năm gần đây, những khoản cho vay trên tài sản là khoản tín dụng được đảm bảo bằng các tài sản ngắn hạn của hãng được dự tính sẽ chuyển thành tiền mặt trong tương lai ngày càng chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng cho vay ngắn hạn Tài sản chủ yếu được dùng để bảo đảm cho các khoản vay bao gồm các khoản phải thu, nguyên vật liệu hoặc thành phẩm tồn kho Ngân hàng cho vay theo một tỷ lệ phần trăm nhất định trên giá trị ghi sổ của tài khoản phải thu, hoặc trên giá trị hàng tồn kho Ví dụ ngân hàng có thể sẵn sàng cho vay một khoản tiền bằng 70% khoản phải thu trên tài khoản thanh toán vãng lai của doanh nghiệp Một cách khác ngân hàng có thể cho vay tới 40% giá trị hàng tồn kho

Trang 19

hiện tại của doanh nghiệp gồm hàng hoá đang bán hoặc hàng hoá trong kho Khi thu hồi được các khoản phải thu hoặc bán được hàng doanh nghiệp sẽ chuyển một phần tiền mặt thu về tới ngân hàng để trả nợ tiền vay

Đối với hầu hết những khoản vay được thế chấp bằng các khoản phải thu hay hàng tồn kho doanh nghiệp đi vay vẫn có quyền sở hữu đối với các tài sản

đó Tuy nhiên đôi khi quyền sở hữu cũng được chuyển sang cho ngân hàng để hạn chế rủi ro khi một số khoản nợ không được thanh toán như dự tính

b Đặc điểm của cho vay ngắn hạn

• Về cơ sở cho vay: Cho vay là quan hệ vay mượn dựa trên cơ sở lòng tin Chỉ khi ngân hàng tin tưởng người đi vay sẽ sử dụng vốn vay có kết quả và hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi cho ngân hàng thì lúc đó mới thiết lập quan hệ vay mượn Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị NHTM Trong thực tế một số nhân viên tín dụng khi xét duyệt cho vay không dựa trên cơ sở đánh giá mức độ tín nhiệm về khách hàng mà lại chú trọng đến các đảm bảo, chính quan điểm này

đã làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng

• Về tài sản giao dịch: tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng tồn tại ở hai hình thức là cho vay và cho thuê (bất động sản và động sản) Trước đây, hoạt động tín dụng ngân hàng chỉ có hình thức cho vay bằng tiền Từ những năm 1970 trở lại đây, dịch vụ cho thuê hoạt động và cho thuê tài chính đã được ngân hàng hoặc các định chế tài chính cung cấp cho khách hàng

• Về nguyên tắc hoàn trả và thời gian hoàn trả: Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời vốn vay trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng đã thoả thuận thì người đi vay phải hoàn trả cho ngân hàng

• Về giá trị hoàn trả: giá trị hoàn trả thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài gốc Để thực hiện được nguyên tắc này, ngân hàng phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỷ

lệ lạm phát, hay nói cách khác lãi xuất thực phải dương (Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa - Tỷ lệ lạm phát) Tuy nhiên, vì lãi suất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu

tố khác nhau, nên trong một số trường hợp cụ thể lãi suất danh nghĩa có thể thấp hơn tỷ lệ lạm phát Ngoại lệ này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn và sẽ được điều chỉnh nhanh chóng

Trang 20

2.1.2.2 Cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp

a Nhu cầu vốn ngắn hạn của doanh nghiệp

• Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp cần đầu tư vốn vào tài sản lưu động và tài sản cố định Về nguyên tắc, doanh nghiệp có thể sử dụng nguồn vốn ngắn hạn hoặc dài hạn để tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động, tuy nhiên

do nhu cầu vốn dài hạn để đầu tư vào tài sản cố định rất lớn nên doanh nghiệp khó có thể sử dụng nguồn vốn dài hạn để đầu tư vào tài sản lưu động Do vậy để đầu tư tài sản lưu động doanh nghiệp thường sử dụng nguồn vốn ngắn hạn

• Nguồn vốn ngắn hạn mà doanh nghiệp thường sử dụng để đầu tư tài sản lưu động bao gồm:

Các khoản nợ phải trả người bán

Các khoản ứng trước của người mua

Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước

Các khoản phải trả khác

Vay ngắn hạn từ ngân hàng

• Về nguyên tắc, doanh nghiệp nên tận dụng và huy động tất cả các nguồn ngắn hạn mà doanh nghiệp có thể tận dụng được, khi nào thiếu hụt sẽ sử dụng nguồn tài trợ ngắn hạn của ngân hàng Sự thiếu hụt vốn ngắn hạn của doanh nghiệp có thể do chênh lệch về thời gian và doanh số giữa tiền bán hàng

và tiền để đầu tư vào tài sản lưu động hoặc do nhu cầu gia tăng đầu tư tài sản lưu động đột biến theo thời vụ Do vậy nhu cầu vốn ngắn hạn của doanh nghiệp

có thể chia thành

• Nhu cầu tài trợ ngắn hạn thường xuyên: xuất phát từ sự chênh lệch hoặc không ăn khớp nhau về thời gian và quy mô giữa tiền vào và tiền ra của doanh nghiệp Khi doanh nghiệp tiêu thụ hàng hóa và thu tiền về thì doanh nghiệp có dòng tiền vào Ngược lại, khi doanh nghiệp mua nguyên liệu hoặc hàng hóa dự trữ phục vụ sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp có dòng tiền ra Nếu dòng tiền chi ra lớn hơn dòng tiền thu vào thì doanh nghiệp cần bổ sung thiếu hụt Khoản thiếu hụt này trước hết bổ sung từ vốn chủ sở hữu và các khoản phải trả khác mà doang nghiệp có thể huy động được Phần còn lại doanh nghiệp sẽ sử dụng tài trợ ngắn hạn của ngân hàng

• Nhu cầu tài trợ ngắn hạn mùa vụ: xuất phát từ đặc điểm thời vụ của sản xuất kinh doanh khiến cho nhu cầu vốn ngắn hạn tăng đột biến, khi đó doanh

Trang 21

nghiệp cần tài trợ vốn ngắn hạn ngân hàng để bổ sung cho nhu cầu vốn mang tính thời vụ

Tóm lại, trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp có nhu cầu tài trợ vốn ngắn hạn thường xuyên hoặc thời vụ từ ngân hàng, chính nhu cầu tài trợ này là

cơ sở để ngân hàng thực hiện cấp tín dụng Điều này có lợi cho cả doanh nghiệp

và ngân hàng Về phía doanh nghiệp, việc cấp tín dụng của ngân hàng giúp doanh nghiệp bổ sung vốn thiếu hụt đảm bảo cho doanh nghiệp duy trì và mở rộng sản xuất kinh doanh Về phía ngân hàng, việc cấp tín dụng cho doanh nghiệp giúp ngân hàng bán được sản phẩm của mình góp phần mang lại lợi nhuận cho ngân hàng

b Các hình thức cho vay ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp

• Cho vay thấu chi doanh nghiệp: Thấu chi doanh nghiệp là hình thức cho vay qua đó ngân hàng cho phép khách hàng được chi nhiều hơn số tiền gửi của khách hàng hiện có trong tài khoản tiền gủi của khách hàng trong một thời gian nhất định với một giới hạn nhất định

• Cho vay theo hạn mức: Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thoả thuận cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu và nhu cầu vay vốn của khách hàng Trong kỳ khách hàng có thể thực hiện vay - trả nhiều lần, song dư nợ không được vượt quá hạn mức tín dụng Một số trường hợp ngân hàng quy định hạn mức cuối kì Dư nợ trong kỳ có thể lớn hơn hạn mức Tuy nhiên đến cuối kỳ, khách hàng phải trả nợ để giảm dư nợ sao cho dư nợ cuối kỳ không được vượt quá hạn mức tín dụng Mỗi lần vay khách hàng chỉ cần trình phương án sử dụng tiền vay, nộp các giấy tờ cần thiết Đây là hình thức cho vay thuận tiện đối với KHDN có nhu cầu vay vốn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh Trong nghiệp vụ này ngân hàng không xác định trước kỳ hạn nợ và thời hạn tín dụng Khi khách hàng có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ, do đó chủ động quản lý ngân quỹ cho khách hàng Tuy nhiên do các lần vay không tách biệt thành các kỳ hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát kết quả sử dụng từng lần vay Ngân hàng chỉ có thể phát hiện vấn đề khi khách hàng nộp báo cáo tài chính dư nợ lâu không giẩm sút

Trang 22

• Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối với các KHDN không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi doanh nghiệp Một số khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay vốn ngân hàng, tức là vốn ngân hàng chỉ tham gia vào một giai đoạn nhất định trong chu kỳ sản xuất kinh doanh Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trình lên ngân hàng phương án sử dụng vốn, ngân hàng sẽ xem xét và ký hợp đồng cho vay

• Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hoá Doanh nghiệp khi mua hàng hoá có thể thiếu vốn Ngân hàng có thể cho vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi khách hàng bán được hàng Cho vay luân chuyển thường áp dụng đối với các doanh nghiệp thương nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng

2.1.3 KẾT QUẢ CHO VAY NGẮN HẠN

2.1.3.1 Khái niệm về kết quả cho vay ngắn hạn

Kết quả cho vay là một trong những biểu hiện của kết quả kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng Đó là khả năng cung ứng tín dụng phù hợp với yêu cầu phát triển của các mục tiêu kinh tế xã hội và nhu cầu của khách hàng đảm bảo nguyên tắc hoà trả nợ vay đúng hạn, mang lại lợi nhuận cho NHTM từ nguồn tích luỹ do đầu

tư tín dụng và do đạt được các mục tiêu tăng trưởng kinh tế Trên cơ sở đó đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của ngân hàng

Kết quả cho vay là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh khả năng thích nghi của tín dụng ngân hàng với sự thay đổi của các nhân tố chủ quan (khả năng quản lý, trình độ của cán bộ quản lý ngân hàng …) khách quan mức độ an toàn vốn tín dụng ,lợi nhuận của khách hàng, sự phát triển kinh tế xã hội …) Do đó kết quả tín dụng là kết quả của mối quan hệ biện chứng giữa ngân hàng - khách hàng vay vốn - nền kinh tế xã hội, cho nên việc xem xét kết quả hoạt động cho vay được đánh giá trên nhiều khía cạnh khác nhau: từ góc độ ngân hàng, khách hàng và đặt nó trong tổng thể chung của nền kinh tế - xã hội

* Dưới góc độ ngân hàng thương mại:

Kết quả cho vay thể hiện qua khả năng đem lại kết quả kinh tế cho ngân hàng thương mại trên hai khía cạnh: mặt chất và mặt lượng

Trang 23

- Mặt chất: thể hiện ở mức độ an toàn vốn, rủi ro thấp, tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu thấp, khả năng sinh lời do hoạt động tín dụng mang lại Khi khoản tín dụng được cấp, mục tiêu các ngân hàng thương mại quan tâm là khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, giá trị tài sản đảm bảo đủ, khả năng hoàn trả gốc, lãi đúng thời hạn và lợi nhuận mang lại cho ngân hàng

- Mặt lượng: thể hiện ở quy mô hoạt động tín dụng và nguồn thu từ hoạt động tín dụng Quy mô tín dụng là nhân tố quan trọng quyết định tới kết quả kinh

tế do hoạt động tín dụng đem lại Một ngân hàng thương mại có tỷ lệ nợ xấu thấp nhưng quy mô tín dụng nhỏ nên nguồn thu từ hoạt động tín dụng nhỏ thì cũng không thể coi là chất lượng tín dụng tốt Hoạt động cho vay đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển trong nền kinh tế nói chung và của tất cả các doanh nghiệp nói riêng trong đó có các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại Song hoạt động cho vay của ngân hàng sao cho có kết quả thì ngân hàng phải xác định được tác dụng của nguồn vốn mà mình cung cấp Thông qua việc xem xét kết quả của hoạt động cho vay sẽ giúp cho ngân hàng có thể đánh giá được hoạt động cho vay của mình, từ đó có thể đưa ra những giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, thiếu sót và đẩy mạnh hơn nữa hoạt động cho vay Quan điểm trên có nghĩa là các ngân hàng khi tiến hành cho vay thì khoản tín dụng đó phải đem lại thu nhập cho ngân hàng, đảm bảo trang trải được chi phí trả cho lãi suất huy động hoặc đi vay, chi phí ngân hàng và rủi ro có thể có của ngân hàng Song không phải các ngân hàng cứ cho vay nhiều là có kết quả cao bởi vì nếu cho vay ra mà không thu hồi được vốn cho vay hoặc cho vay không cân xứng với nguồn huy động được thì sớm hay muộn ngân hàng cũng sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ, phá sản Do đó vấn đề kết quả trong tín dụng ngân hàng là yếu

tố quan trọng liên quan trực tiếp tới sự tồn tại của ngân hàng

* Dưới góc độ doanh nghiệp tiếp nhận vốn tín dụng:

Một khoản tín dụng được doanh nghiệp đánh giá tốt khi nó thỏa mãn nhu cầu về dịch vụ tín dụng của doanh nghiệp Mức độ thỏa mãn thể hiện ở sự

ấp ứng nhu cầu vốn kịp thời, đầy đủ, lãi suất hợp lý, kỳ hạn phù hợp với chu

kỳ sản xuất kinh doanh, thủ tục nhanh gọn, thuận tiện, tạo sự thoải mái cho doanh nghiệp, tiết kiệm thời gian và chi phí giao dịch, đặc biệt là phù hợp với

cơ hội kinh doanh của khách hàng

Trang 24

* Dưới góc độ nền kinh tế - xã hội :

Chất lượng tín dụng được thể hiện thông qua những lợi ích mà hoạt động tín dụng đem lại cho nền kinh tế và toàn thể xã hội Xã hội đó bao gồm cả các doanh nghiệp, các ngân hàng, toàn thể nhân dân và cả Nhà nước Cụ thể hơn, chất lượng tín dụng thể hiện ở sự đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu tín dụng cho nền kinh tế, có tác động tích cực tới ngành kinh tế mà ngân hàng đã tham gia đầu

tư, làm động lực cho nền kinh tế tăng trưởng, phát triển bền vững, góp phần giải quyết công ăn việc làm cải thiện đời sống người dân, không làm tổn hại đến môi trường sống, là công cụ hữu hiệu để Nhà nước đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế và công bằng, an ninh xã hội của quốc gia

Như vậy, có thể hiểu : Kết quả hoạt động cho vay của NHTM được đánh

giá qua những lợi ích kinh tế đem lại cho cả người cấp tín dụng (NHTM) và người đi vay (DN), đồng thời là khả năng đáp ứng được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nói chung

Tuy nhiên, để đồng thời đạt được các mục tiêu này là rất khó vì chúng mâu thuẫn trực tiếp với nhau: ngân hàng muốn đạt lợi nhuận cao thì lãi suất phải cao, nhưng doanh nghiệp muốn đạt kết quả cao thì phải tối thiểu hóa chi phí, đòi hỏi lãi suất thấp; doanh nghiệp muốn giảm thiểu chi phí thường muốn bỏ qua các công đoạn bảo vệ môi trường nhưng chất lượng tín dụng ngân hàng cao là phải điều tiết phù hợp, đảm bảo an ninh xã hội, bảo vệ môi trường Do vậy, để đạt kết quả hoạt động cho vay cao cần phải dung hòa lợi ích của ngân hàng, doanh nghiệp và mục tiêu chung phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia

2.1.3.2 Nội dung đánh giá kết quả cho vay ngắn hạn

a Đánh giá quy trình cho vay

Quy trình cho vay là bảng tổng hợp mô tả công việc của ngân hàng từ khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của một khách hàng cho đến khi quyết định cho vay, giải ngân, thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng

Việc xác lập một quy trình cho vay và không ngừng hoàn thiện nó đặc biệt quan trọng đối với một ngân hàng thương mại Về mặt hiệu quả, một quy trình tín dụng hợp lý sẽ giúp cho ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu rủi ro tín dụng, Về mặt quản lý, quy trình cho vaycó tác dụng: làm cơ sở cho việc phân định quyền, trách nhiệm cho các bộ phận trong hoạt động tín dụng

và là cơ sở để thiết lập các hồ sơ, thủ tục vay vốn

Trang 25

Các bước thực hiện một quy trình cho vay

Bước 1: Lập hồ sơ vay vốn

Bước này do cán bộ tín dụng thực hiện ngay sau khi tiếp xúc khách hàng Nhìn chung một bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập các thông tin như: Năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng Khả năng sử dụng vốn vay Khả năng hoàn trả nợ vay (vốn vay + lãi)

Bước 2: Phân tích tín dụng

Phân tích tín dụng là xác định khả năng hiện tại và tương lại của khách hàng trong việc sử dụng vốn vay và hoàn trả nợ vay Với mục tiêu:

• Tìm kiếm những tình huống có thể xảy ra dẫn đến rủi ro cho ngân hàng,

dự đoán khả năng khắc phục những rủi ro đó, dự kiến những biện pháp giảm thiểu rủi ro và hạn chế tổn thất cho ngân hàng

• Phân tích tính chân thật của những thông tin đã thu thập được từ phía khách hàng trong bước 1, từ đó nhận xét thái độ, thiện chí của khách hàng làm cơ

sở cho việc ra quyết định cho vay

Bước 3: Ra quyết định tín dụng

Ở khâu này, ngân hàng sẽ ra quyết định đồng ý hoặc từ chối cho vay đối với một hồ sơ vay vốn của khách hàng

Bước 4: Giải ngân

Ở bước này, ngân hàng sẽ tiến hành phát tiền cho khách hàng theo hạn mức tín dụng đã ký kết trong hợp đồng tín dụng

Nguyên tắc giải ngân đó là phải gắn liền sự vận động tiền tệ với sự vận động hàng hóa hoặc dịch vụ có liên quan, nhằm kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng và đảm bảo khả năng thu nợ Nhưng đồng thời cũng phải tạo sự thuận lợi, tránh gây phiền hà cho công việc sản xuất kinh doanh của khách hàng

Trang 26

b Đánh giá kết quả cho vay theo loại hình doanh nghiệp

Đánh giá kết quả cho vay theo loại hình doanh nghiệp rất quan trọng, nó

có ảnh hưởng không nhỏ tới quyết định cho vay của ngân hàng Về cơ bản, những sự khác biệt tạo ra bởi loại hình doanh nghiệp là:

• Uy tín doanh nghiệp do thói quen tiêu dùng

• Khả năng huy động vốn

• Rủi ro đầu tư

• Tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp

• Tổ chức quản lý doanh nghiệp

Hiện nay nước ta có 5 loại hình doanh nghiệp chính Trong đó bao gồm có các loại hình doanh nghiệp như sau :

Doanh nghiệp nhà nước

Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn đây là một loại hình có

tư cách pháp nhân đầy đủ 4 yếu tố chính của bộ luật dân sự nằm trong điều 84 được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hợp pháp có yếu tố cá nhân hợp pháp có cơ cấu chặt chẽ đươc tham gia vào các hoạt động pháp luật độc lập

và được sử quản lý bởi vốn nhà nước hiện nay các doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân do nhà nước giao cho vốn kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về quản lý sản xuất chịu trách nhiệm về kinh tế và chịu bù đắp hay hưởng lợi nhuận với mức vốn được cấp đó Tức là nhà nước không còn bao cấp như trước đây mà các doanh nghiệp phải tự bù đắp những chi phí, tự trang trải mọi nguồn vốn đồng thời làm tròn nghĩa vụ với nhà nước xã hội như các doanh nghiệp khác.Các hình thức doanh nghiệp nhà nước bao gồm Công ty nhà nước, công ty cổ phần nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn

có 2 thành viên trở lên

Doanh nghiệp tư nhân

Đây là loại hình doanh nghiệp do một cá nhân đứng lên xây dựng làm chủ chịu trách nhiệm với pháp luật về các hoạt động cũng như tài sản của doanh nghiệp và chịu một số giới hạn so với doanh nghiệp nhà nước :Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ một loại chứng khoán nào.mỗi một cá nhân

Trang 27

chỉ được thành lập một doanh nghiệp tư nhân Các doanh nghiêp và cá nhân đó là người có thể đứng lên điều hành trực tiếp hoặc gián tiếp những hoạt động của doanh nghiệp đó và phải chịu toàn bộ về các khoản nợ cũng như lãi xuất của doanh nghiệp đó vốn của doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tư nhân tự khai, chủ doanh nghiệp có nghĩa vụ khai báo chính xác tổng số vốn đầu tư, trong

đó nêu rõ: số vốn bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và các tài sản khác Đối với vốn bằng tài sản khác cũng phải ghi rõ loại tài sản, số lượng, giá trị còn lại của mỗi loại tài sản Toàn bộ vốn và tài sản, kể cả vốn vay và tài sản thuê, được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân đều được phải ghi chép đầy đủ vào sổ kế tóan và báo cáo tài chính của doanh nghiệp

tư nhân Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư của mình vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việc tăng, giảm vốn đầu tư của của chủ doanh nghiệp phải được ghi chép vào sổ

kế toán Trường hợp giảm vốn đầu tư xuống thấp hơn vốn đầu tư đó đăng ký thì chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ được giảm vốn sau khi đó khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp Có nghĩa là chủ doanh nghiệp có trách nhiệm chịu toàn bộ các tài sản của mình trong kinh doanh lẫn ngoài kinh doanh của doanh nghiệp đó.và doanh nghiệp tư nhân không đươc phát hành chứng khoán để huy động vốn trong kinh doanh và các doanh nghiệp tư nhân không có

tư cách là xã viên theo quy định của Điều lệ hợp tác xã nhưng không được trực tiếp quản lý, điều hành hợp tác xã, hộ gia đình mà các thành viên có tài sản

Trang 28

chung cùng đóng góp công sức để họat động kinh tế chung trong hoạt động sản xuất nông lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể quan hệ pháp luật khi tham gia

Công ty cổ phần

Đây là loại hình doanh nghiệp Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần theo điều 77 Luật doanh nghiệp Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn

đã góp vào doanh nghiệp các cổ đông có thể bán các cổ phần hoặc chuyển nhượng cổ phần của mình cho các thành viên hay cá nhân khác Số lượng cổ đông được bao gồm ít nhất ba cổ đông và không hạn chế số cổ đông Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa.Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán.Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.về vốn của công

ty Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau hoặc gọi là cổ phần Mỗi cổ phần được thể hiện dưới dạng văn bản chứng trỉ do công ty phát hành bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số

cổ phần của công ty gọi là cổ phiếu Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu Một cổ phiếu có thể phản ánh mệnh giá của một hay nhiều cổ phần Việc góp vốn vào công ty được thực hiện bằng việc mua cổ phần Mỗi cổ đông có thể mua nhiều cổ phần về thành viên của công ty Trong suốt quá trình hoạt động ít nhất phải có ba thành viên tham gia công ty cổ phần.về trách nhiệm của công ty Công ty cổ phần chịu trách nhiệm bằng tài sản của công ty Các cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn đã góp vào công ty (đến hết giá trị cổ phần mà họ sở hữu)

Công ty cổ phần là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.về phát hành chứng khoán Công ty cổ phần có quyền phát hành các loại chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và các loại chứng khoán khác để huy động vốn.Cuối cùng là chuyển nhượng phần vốn góp (cổ phần) Cổ phần của các thành viên được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu Các cổ phiếu của công ty cổ phần được coi là hàng hoá, được mua, bán, chuyển nhượng tự do theo quy định của pháp luật

Trang 29

Công ty trách nhiệm hữu hạn

Đây là loại hình doanh nghiệp phổ biến hiện nay đây là loại hình doanh nghiệp có 2 thành viên trở lên và công ty TNHH 1 thành viên: Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên thuộc điều 38 luật doanh nghiệp

là doanh nghiệp trong đó có Thành viên của công ty có thể tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên công ty không vượt quá 50 Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp;Phần vốn của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại Điều 43,44,45 của Luật Doanh nghiệp công ty TNHH có tư cách pháp nhân từ ngày được cấp giấy phép kinh doanh: Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phần;về vốn của công ty Vốn điều lệ của công

ty được chia thành nhiều phần bằng hoặc không bằng nhau Công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên chịu trách nhiệm bằng tài sản của công ty; các thành viên công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn cam kết góp vào công ty.về thành viên của công ty Trong suốt quá trình hoạt động ít nhất phải có từ hai thành viên và tối đa không quá 50 thành viên tham gia công ty.về phát hành chứng khoán Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên không được quyền phát hành cổ phần để huy động vốn Phần vốn góp của các thành viên công ty được chuyển nhượng theo quy định của pháp luật

Công ty hợp danh:

Đây là loại hình đặc trưng của công ty đối nhân trong đó có các cá nhân

và thương nhân cùng hoạt động lĩnh vực thương mại dưới một hãng và cùng nhau chịu mọi trách nhiệm về các khoản nợ của công ty.công ty hợp danh ở nước ta hiện nay có một số quan điểm khác với cách hiểu truyền thống về công

ty hợp danh

Việc đánh giá kết quả cho vay theo loại hình doanh nghiệp là nhân tố ảnh

hưởng đến việc phát triển hoạt động cho vay của ngân hàng Ngân hàng luôn đặt mục tiêu an toàn lên hàng đầu, coi trọng chất lượng hơn số lượng, vì vậy ngân hàng luôn phải xem xét đặc điểm của mỗi loại hình doanh nghiệp bởi mỗi loại hình doanh nghiệp nào đều có những ưu điểm và hạn chế Ngay cả các doanh nghiệp lớn, khi thực hiện hoạt động kinh doanh đều có thể xảy ra rủi ro và đặc biệt là nếu loại doanh nghiệp này mà xảy ra rủi ro thì tổn thất sẽ lớn hơn các loại hình doanh nghiệp khác rất nhiều Vì vậy chỉ cần các ngân hàng quan tâm hơn

Trang 30

các loại hình doanh nghiệp này, tổ chức kiểm tra thẩm định tốt thì việc cho vay

sẽ có thể được mở rộng và thu được kết quả tốt

c Đánh giá kết quả cho vay theo ngành nghề kinh doanh

Hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp thường được thực hiện trong một hoặc một số ngành kinh doanh nhất định Mỗi ngành kinh doanh có những đặc điểm kinh tế - kỹ thuật riêng có ảnh hưởng không nhỏ tới việc tổ chức tài chính của doanh nghiệp Do vậy đánh giá kết quả cho vay theo ngành nghề kinh doanh nhằm giúp các ngân hàng thực sự thấu hiểu khách hàng” khi đưa ra những giải pháp, sản phẩm để đáp ứng đúng nhu cầu và có các sản phẩm thiết kế riêng cho từng ngành cũng như quy định thời gian cho vay và kế hoạch trả nợ phù hợp với đặc điểm kinh doanh của từng ngành

- Những doanh nghiệp hoạt động trong ngành thương mại, dịch vụ thì nhu cầu vay vốn lưu động chiếm tỷ trọng cao hơn, tốc độ chu chuyển của vốn lưu động cũng nhanh hơn so với các ngành nông nghiệp, công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng, ở các ngành này, vốn cố định thường chiếm tỷ lệ cao hơn vốn lưu động, thời gian thu hồi vốn cũng chậm hơn

- Những doanh nghiệp sản xuất ra những loại sản phẩm có chu kỳ sản xuất ngắn thì nhu cầu vốn lưu động giữa các thời kỳ trong năm thường không có biến động lớn, doanh nghiệp cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng, nhờ đó có thể dễ dàng bảo đảm cân đối giữa thu và chi bằng tiền, cũng như bảo đảm nguồn vốn cho nhu cầu kinh doanh Ngược lại, những doanh nghiệp sản xuất ra những loại sản phẩm có chu kỳ sản xuất dài, phải ứng ra lượng vốn lưu động lớn hơn Những doanh nghiệp hoạt động trong những ngành sản xuất có tính thời vụ thì nhu cầu về vốn lưu động giữa các thời kỳ trong năm chênh lệch nhau rất lớn, giữa thu và chi bằng tiền thường có sự không ăn khớp nhau về thời gian Đó là điều phải tính đến trong việc tổ chức tài chính, nhằm bảo đảm vốn kịp thời, đầy

đủ cho hoạt động của doanh nghiệp cũng như bảo đảm cân đối giữa thu và chi bằng tiền

Đánh giá kết quả cho vay theo ngành nghề kinh doanh giúp ngân hàng phát triển nhiều sản phẩm dịch vụ thuận tiện cho khách hàng như đa dạng kì hạn vay vốn, có những hình thức cho vay phù hợp với chu kì kinh doanh của từng ngành nghề kinh doanh, đa dạng các hình thức bảo đảm tiền vay, không nhất thiết phải có tài sản bảo đảm mà có thế dùng các hình thức khác như cho vay dựa

Trang 31

trên dự án khả thi… thì chắc chắn các doanh nghiệp sẽ nhận thấy được những lợi ích khi vay vốn ngân hàng và họ sẽ tìm đến Từ đó, hoạt động cho vay doanh nghiệp sẽ phát triển và đạt hiệu quả tốt hơn Để có được những sản phẩm cho vay phù hợp với các doanh nghiệp thì các ngân hàng phải quan tâm và tìm hiểu kĩ về đặc điểm của các ngành nghề kinh doanh Hiện nay nhiều sản phẩm cho vay chưa phù hợp với các doanh nghiệp, chưa tạo điều kiện thuận lợi, đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp bởi các ngân hàng chưa thực sự có thái độ quan tâm đánh giá kết quả cho vay theo ngành nghề kinh doanh nên hoạt động cho vay doanh nghiệp tại các ngân hàng chưa thực sự đạt kết quả như mong đợi

d Đánh giá nợ xấu cho vay ngắn hạn

Nợ quá hạn ( Nợ xấu) là những khoản nợ mà thời gian tồn tại của nó vượt quá thời gian cho vay theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng cộng với thời gian đã được gia hạn thêm nếu khách hàng yêu cầu Nợ quá hạn có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau từ phía doanh nghiệp, hay do khách quan Chỉ tiêu này cho thấy khả năng thu hồi vốn của ngân hàng đối với các khoản vay ngắn hạn Tỉ lệ này càng cao càng chứng tỏ hoạt động của ngân hàng kém hiệu quả và ngược lai Các ngân hàng luôn mong muốn giảm thấp tỉ lệ nợ quá hạn bởi

nó làm giảm lợi nhuận của ngân hàng

“Nợ quá hạn” là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc( hoặc lãi) đã quá hạn:

NQH cho vay ngắn hạn KHDN Tổng dư nợ ngắn hạn KHDN

Đây là một trong những chỉ tiêu chủ yếu đánh giá chất lượng cho vay của một ngân hàng Chỉ tiêu tỉ lệ nợ quá hạn ngắn hạn phản ánh chất lượng của khoản vay ngắn hạn Tỉ lệ này càng nhỏ thì phản ánh chất lượng hoạt động của ngân hàng đó là hiệu quả Còn nếu các tỉ lệ này càng lớn thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong kinh doanh, có thể từ việc mất khả năng thanh toán hoặc tệ hơn nữa là phá sản

Tỉ lệ nợ quá hạn (NQH) ngắn hạn chịu ảnh hưởng của chính sách xóa nợ của ngân hàng, một ngân hàng có chính sách tốt là phải thiết lập được quĩ dự

Tỷ lệ nợ quá hạn cho

vay ngắn hạn

KHDN =

Trang 32

phòng rủi ro đủ mạnh và thông báo định kì về các món vay không có khả năng thu hồi Tránh tình trạng trong một lúc phải thông báo con số nợ không có khả năng thu hồi là quá lớn và làm giảm tài sản của ngân hàng một cách nghiêm trọng Thông thường khi lập bảng theo dõi nợ quá hạn ngân hàng thường phải phân nợ quá hạn theo thời gian 30, 60, 90,120 ngày Sự phân loại này có ý nghĩa đối với việc quản lí chất lượng tín dụng và đánh giá thiết lập dự phòng mất vốn

Tại Việt Nam theo thông tư 49/2004/TT – BTC ngày 03/06/2004 hướng dẫn chỉ tiêu hoạt động tài chính của các tổ chức tín dụng nhà nước xếp loại như sau:

- Tổ chức cho vay : Tổ chức cho vay tuỳ thuộc vào nhiều yêú tố như quy mô ngân hàng, quy mô các khoản tín dụng hay các loại cho vay Nhân viên tín dụng thường tiếp xúc trực tiếp với người vay, nhận đơn xin vay, phỏng vấn người vay, quyết định xem xét đơn xin vay và thu thập thông tin từ phía khách hàng Tại mỗi ngân hàng, các cán bộ tín dụng cho vay có thể được sắp xếp kết hợp với các nhiệm vụ khác, mỗi nhân viên có những quyết định nhất định hoặc nhân viên tín dụng có nhiều uỷ quyền và chuyên môn trong hoạt động cho vay hơn, có thể có một uỷ ban cho vay để xử lý các yêu cầu xin vay lớn đến một mức độ nhất định Tổ chức cho vay tại ngân hàng lớn thường được chuyên môn hoá thành các bộ phận phụ trách các loại cho vay khác nhau Công tác thu thập xử lý thông tin cũng được thực hiện một cách có hệ

Trang 33

thống và tạo nhiều thuận lợi cho cán bộ tín dụng Như vậy, có thể thấy công tác tổ chức cho vay có thể hỗ trợ đắc lực cho nhân viên tín dụng và công tác này ảnh hưởng quan trọng đến kết quả tín dụng

- Thông tin tín dụng: Thông tin tín dụng là yếu tố cơ bản trong quản lý tín dụng Nhờ thông tin tín dụng, người quản lý có thể đưa ra những quyết định cần thiết về cho vay, theo dõi và quản lý khoản vay của doanh nghiệp Thông tin tín dụng càng nhanh càng chính xác và toàn diện thì khả năng phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng càng tốt Ngược lại khi thông tin tín dụng không được cung cấp một cách đầy đủ và kịp thời thì sẽ dẫn đến quyết định cho vay của cán

bộ tín dụng là sai lầm, việc đầu tư ngân hàng không có kết quả Trong nhiều trường hợp có thể dẫn đến việc mất vốn Chính vì vậy, việc thu thập đầy đủ chính xác thông tin về đối tượng cho vay là hết sức quan trọng

- Khả năng vốn của ngân hàng: Nguồn vốn cho vay bằng tiền là cơ sở để ngân hàng hoạt động tín dụng Quy mô và cơ cấu vốn quyết định lựa chọn các hình thức đầu tư Khi có lượng vốn cần thiết thì ngân hàng mới có thể tiến hành cấp tín dụng cho doanh nghiệp được Thực tế các ngân hàng trong giai đoạn hiện nay về huy động nguồn vốn là hết sức nan giải Chính vì lẽ đó, cần thực hiện chiến lược đa dạng hoá, đa phương hoá các phương thức, giải pháp huy động vốn

từ mọi nguồn, kể cả nước ngoài, ngân hàng phải tạo được cơ cấu hợp lý

- Chính sách lãi suất: Ngân hàng là định chế tài chính trung gian thực hiện

đi vay để cho vay với lãi suất cao hơn Nguồn vốn hoạt động của các ngân hàng chủ yếu bằng vốn huy động, khi huy động vào phải trả lãi suất cho người gửi tiền, và khi cho vay họ sẽ thu được lãi suất cho vay Trong cơ chế thị trường thì lãi suất luôn biến động, phụ thuộc vào cung và cầu trên thị trường Do đó, phải

có một chính sách lãi suất phù hợp làm cơ sở cho ngân hàng nâng cao kết quả tín dụng tức là phải đảm bảo các điều kiện sau đây:

Bảo vệ lợi ích của người gửi tiền, ngoài tiền lãi còn có các lợi ích khác như sự an toàn, thanh toán lợi nhuận

Lãi suất cho vay phải bù đắp được chi phí về huy động vốn chi phí về nghiệp kinh doanh của ngân hàng có dự phòng bù đắp rủi ro và bảo đảm mức thu nhập ròng hợp lý cho ngân hàng

Lãi suất phải được thay đổi theo cung và cầu thị trường nhưng sự biến

Trang 34

Lãi suất cho vay phải phù hợp với đối tượng của tín dụng có nghĩa là lãi suất cho vay dài hơn phải lớn hơn lãi suất ngắn hạn bởi cho vay dài hạn có mức độ rủi ro cao hơn

- Chính sách tín dụng: Đối với các ngân hàng và trong từng thời kỳ thường có những chính sách khác nhau Chính sách tín dụng của ngân hàng ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng các khoản cho vay, quy mô của từng khoản vay, các khoản đảm bảo và nhiều yếu tố khác Chính sách tín dụng của ngân hàng không những phụ thuộc khá nhiều vào chính sách của Chính Phủ và các cơ quan quản lý Chính sách tín dụng tạo ra sự quản lý hướng dẫn cần thiết cho các nhân viên tín dụng và rõ ràng có ảnh hưởng mạnh đến kết quả tín dụng

- Cán bộ tín dụng : Tín dụng là công việc khá phức tạp nó đòi hỏi người cán bộ tín dụng phải nắm được đặc thù của mỗi ngành sản xuất kinh doanh, am hiểu về pháp luật, nắm bắt được thông tin thị trường và điều quan trọng phải biết thẩm định dự án, có như vậy thì mới có thể làm tốt được nghiệp vụ này Vì lẽ đó

mà ngân hàng gặp không ít khó khăn bởi mỗi ngành sản xuất kinh doanh đều có chỉ tiêu định mức kinh tế và những yếu tố tạo nên giá thành sản phẩm khác nhau

Mà thực tế trình độ ngân hàng nói riêng và cán bộ tín dụng nói chung vẫn còn chưa hoàn toàn đáp ứng tốt trong công tác thẩm định và yêu cầu ngày càng phát triển cao của công việc Do vậy, dễ dẫn đến tình trạng cấp tín dụng kém kết quả Các quyết định cho vay đều có vai trò quan trọng của cán bộ tín dụng Dựa vào mối quan hệ và các thông tin có được, cán bộ tín dụng tìm đến dự án, để xác định nhu cầu vay của chủ đầu tư Để có thể cho vay, cán bộ tín dụng có thể tiếp thẩm định dự án hoặc có thể nhờ phòng thẩm định hỗ trợ Dù có phòng thẩm định nhưng vai trò và trách nhiệm của cán bộ tín dụng có thể trực tiếp thẩm định là rất quan trọng Cán bộ tín dụng là người theo sát dự án, phát hiện kịp thời thông tin

và là người chịu trách nhiệm chính của khoản vay Hiện nay, ngoài trình độ và kinh nghiệm, người ta thường hay đề cập đến vấn đề đạo đức của cán bộ tín dụng Cho vay là một công việc phức tạp liên quan đến tài chính do đó mà tính trung thực của cán bộ tín dụng là hết sức quan trong bởi vì khi đã có những sai phạm của cán bộ tín dụng thì hậu quả thường rất lớn đối với ngân hàng và đối với nền kinh tế

- Kiểm tra kiểm soát nội bộ: Các quy chế thể lệ cho vay và các nguyên tắc cho vay nếu cán bộ ngân hàng (NH) không nắm vững sẽ gây nên tổn thất, ảnh

Trang 35

hưởng tới kết quả tín dụng Do đó, công tác này giúp cán bộ điều hành công việc theo đúng cơ chế, đúng pháp luật, mặt khác, nắm được những sai sót lệch lạc trong hoạt động tín dụng để có biện pháp khặc phục kịp thời Thông qua kiểm tra, kiểm soát đảm bảo cho hoạt động thông suốt kết quả, đảm bảo lợi ích của ngân hàng Nâng cao chất lượng công tác này sẽ góp phần không nhỏ vào việc nâng cao kết quả tín dụng

b Từ phía doanh nghiệp

- Trình độ tổ chức quản lý: Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì trước tiên phải có một ban điều hành, một đội ngũ cán bộ năng động sáng tạo.Sự thành bại của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào khả năng thích nghi với môi trường kinh doanh và bộ máy quản lý Nếu bộ máy quản lý kinh doanh của doanh nghiệp có năng lực kinh doanh tốt, có trình độ học vấn, có khả năng xoay xở trong mọi tình huống thì tính khả thi của dự án xin vay sẽ cao hơn Chính vì vậy, ngân hàng không thể bỏ qua việc xem xét đánh giá cụ thể trong bộ máy quản lý

- Nguồn vốn cuả doanh nghiêp: Thể hiện ở khối lượng vốn tự có và tỷ lệ vốn tự có trên tổng nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng Điều kiện tín dụng quy định một tỷ lệ cụ thể tối thiểu của vốn tự có trên tổng nguồn vốn để xác định lượng vốn tối đa mà doanh nghiệp có thể vay ở ngân hàng Nếu doanh nghiệp sử dụng vốn kinh doanh vượt quá khả năng về vốn tự có thì hiện tượng chiếm dụng vốn lẫn nhau sẽ xảy ra, nhiều trường hợp doanh nghiệp làm ăn thua lỗ nảy sinh ý định chiếm dụng vốn thậm chí lừa đảo Vì vậy, khả năng trả nợ cho ngân hàng sẽ

bị ảnh hưởng Năng lực tài chính của doanh nghiệp còn thể hiện ở khả năng thanh toán là sự so sánh giữa số tiền doanh nghiệp có thể thanh toán và các khoản nợ phải thanh toán Việc đáp ứng nhu cầu thanh toán còn phụ thuộc khá lớn vào cơ cấu tài sản của doanh nghiệp Năng lực tài chính càng cao, khả năng đáp ứng các điều kiện tín dụng càng lớn, góp phần nâng cao kết quả tín dụng

- Tính trung thực của doanh nghiệp: Đây là vấn đề hết sức nhạy cảm trong công tác cho vay đối với ngân hàng Sự trung thực của doanh nghiệp thể hiện họ kinh doanh đúng nghành nghề, đúng mục đích…như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng Song trên thực tế có nhiều trường hợp ban đầu doanh nghiệp làm ăn có kết quả song sau đó gặp một số khó khăn thì quay ra lừa đảo không tuân thủ theo

Trang 36

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong việc nâng cao kết quả cho vay

a Kinh nghiệm của Mỹ: Ở Mỹ không phải tất cả các loại tín dụng đều được xếp

loại, các khoản tín dụng được xếp thành 4 loại: Những khoản tín dụng đáng lưu

ý, những khoản nợ kém tiêu chuẩn, các khoản nợ có nghi ngờ, các khoản tín

dụng bị mất trắng

Quỹ dự phòng tổn thất cho vay được trừ từ chi phí và được thu chi ở mức vừa đủ để trang trải các khoản tổn thất đã biết trong cơ cấu tín dụng Ngoài ra ngân hàng ở Mỹ còn có các đặc điểm sau:

- Để tránh rủi ro sự lưa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức ngân hàng tiến hành cho vay được xây dựng theo nguyên tắc: Sàng lọc, giám sát, thiết lập các mối quan hệ khách hàng lâu dài, các mức tín dụng, yêu cầu thế chấp và những yêu cầu về số dư đền bù và sự hạn chế tín dụng

- Phần lớn các NHTM để thực hiện cho vay trên cơ sở kỳ phiếu, mức cho vay bằng 75% tổng giá trị kỳ phiếu

Các bộ phận nghiệp vụ chịu trách nhiệm phân tích, phát hiện các khoản vay không hoạt động Căn cứ vào kết quả thanh tra để loại khỏi tài sản những khoản

nợ quá hạn không có khả năng trả

b Kinh nghiệm của Thái Lan: Nợ kém tiêu chuẩn ngân hàng được xử lý gồm ba

loại: Tổn thất có nghi ngờ kém tiêu chuẩn Quỹ dự phòng được lập cho khoản nợ nghi ngờ ở mức tỷ lệ 50% và nợ mất trắng ở mức 100% Các ngân hàng ở Thái Lan cũng chú ý đến khoản nợ cần lưu ý vì những khoản nợ này tuy tốt hơn nợ kém tiêu chuẩn những có rủi ro cao do các hợp đồng rút quá số dư hạn mức, các khoản nợ không thấy trả lãi hoặc trả lãi thấp hơn bình thường…

c Kinh nghiệm của Pháp: Luật ngân hàng quy định TCTD phải chấp

hành các chỉ tiêu về quản lý, nhằm đảm bảo khả năng sẵn sàng chi trả, thanh toán cũng như khả năng về cơ cấu tài chính Các TCTD phải chấp hành các hệ số sau:

- Hệ số khả năng thanh toán quy định là 8%,

- Hạn mức cho vay khách hàng hay một tập đoàn tối đa không vượt quá 40% vốn tự có, mức rủi ro với mỗi khách hàng là 15% vốn tự có của TCTD

- Hệ số vốn khả dụng là 100%, hệ số vốn tự có và nguồ vốn thường xuyên ít nhất là 60% giữa tổng nguồn vốn có thời hạn hơn 5 năm với tổng số vốn

sử dụng có thời hạn còn lại trên 5 năm

Trang 37

2.2.2 Bài học kinh nghiệm cho các ngân hàng thương mại Việt Nam trong việc nâng cao kết quả cho vay

Việc nâng cao kết quả cho vay của các NHTM cần phải được sự quan tâm của chính phủ và NHNN với các giải pháp mạnh và tập trung là việc cơ cấu lại các ngân hàng thương mại, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước

Chính phủ cũng cần ban hành các cơ chế cho các công ty quản lý nợ một cách hiệu quả, giúp cho các ngân hàng thương mại xử lý tốt nợ tồn đọng Bên cạnh đó NHNN đưa ra các cảnh báo đối với việc đầu tư của các NHTM nhằm hạn chế những rủi ro tín dụng từ đó nâng cao được chất lượng tín dụng đối với các NHTM, giúp các NHTM phát triển một cách bền vững trong môi trường cạnh tranh mạnh mẽ thời kỳ hội nhập

Kết quả cho vay của các NHTM đóng vai trò quan trọng, quyết định đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại và có tác động to lớn đến sự phát triển kinh tế- xã hội Việc nghiên cứu về chất lượng cho vay cũng như kinh nghiệm nâng cao chất lượng cho vay ở một số nước trên thế giới là rất cần thiết

để có thể áp dụng đối với thực tiễn hoạt động cho vay của các NHTM, từ đó để

có những biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao kết quả cho vay tại các NHTM

Trang 38

PHẦN 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐẶC ĐIỂM NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam

Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (tên giao dịch là Techcombank) là một pháp nhân được thành lập trên cơ sở tự nguyện của các cổ đông theo Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính số 38/LTC-HĐNN8 ngày 24/05/1990 của Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được Thống đốc NHNN Việt Nam cấp giấy phép hoạt động số 0040/NH-GP ngày 06/08/1993 với thời gian hoạt động là 22 năm Thời hạn hoạt động của ngân hàng được gia hạn lên 99 năm theo Quyết định số 330/QĐ-NH ngày 08/10/1997 của Ngân hàng nhà nước

Khi mới bắt đầu thành lập, Techcombank là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt nam được thành lập trong bối cảnh đất nước đang chuyển sang nền kinh tế thị trường với số vốn điều lệ là 20 tỷ đồng và trụ sở chính ban đầu được đặt tại số 24 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội, nay trụ sở chính đặt tại 70 – 72 Bà Triệu, Hoàn Kiếm, Hà Nội Khởi đầu một cách

tự tin với những thế mạnh sẵn có, hiện nay Techcombank là một trong những ngân hàng TMCP lớn nhất Việt Nam với tốc độ tăng trưởng về tổng tài sản và doanh thu hàng năm trên 30% trong nhiều năm qua Mạng lưới phân phối lớn với 313 chi nhánh/phòng giao dịch trên khắp 45 tỉnh thành,; hơn 1.250 máy ATM và đội ngũ trên 7.600 nhân viên được đào tạo chuyên nghiệp; Techcombank hiện đang phục

vụ hơn 66.000 khách hàng doanh nghiệp và 2,3 triệu khách hàng cá nhân trên toàn quốc Trên thị trường liên ngân hàng, Techcombank hiện là một trong những ngân hàng năng động nhất trong giao dịch với các công ty lớn và tổ chức tài chính khác Techcombank hiện đang cung ứng các sản phẩm ngoại hối, giao dịch vốn, chiết khấu chứng từ có giá, các công cụ phái sinh và quản trị rủi ro cho rất nhiều khách hàng trong nước trên cơ sở hợp tác với các tổ chức quốc tế và sàn giao dịch lớn trên thế giới Cùng với sự hỗ trợ của cổ đông chiến lược HSBC có tỷ

lệ cổ phần nắm giữ tối đa 20% và tư vấn chiến lược McKínsey, Techcombank đang hướng tới mục tiêu trở thành Ngân hàng tốt nhất và Doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam

Trang 39

∗ Ngành nghề kinh doanh của Techcombank:

Huy động vốn ngắn hạn, vốn trung và dài hạn và nhận tiền gửi bằng VND Cấp các khoản vay ngắn, trung và dài hạn

Tham gia quản lý tài sản cho các tổ chức tài chính trong nước khác

* Các mốc thời gian gắn liền với những sự kiện chính trong quá trình hình thành và phát triển của Techcombank kể từ ngày thành lập:

1994 - 1995 • Tăng vốn điều lệ lên 51.495 tỷ đồng

• Thành lập Chi nhánh Techcombank Hồ Chí Minh, khởi đầu cho quá trình phát triển nhanh chóng của Techcombank tại các đô thị lớn

1996 • Tăng vốn điều lệ tiếp tục lên 70 tỷ đồng

1998 • Trụ sở chính được chuyển sang Toà nhà Techcombank, 15

Đào Duy Từ, Hà Nội

1999 • Tăng vốn điều lệ lên 80.020 tỷ đồng

2001 • Tăng vốn điều lệ lên: 102.345 tỷ đồng

2002 • Là Ngân hàng Cổ phần có mạng lưới giao dịch rộng nhất

tại thủ đô Hà Nội Mạng lưới bao gồm Hội sở chính và 8 Chi nhánh cùng 4 Phòng giao dịch tại các thành phố lớn trong cả nước

• Tăng vốn điều lệ lên 104.435 tỷ đồng

• Chuẩn bị phát hành cổ phiếu mới để tăng vốn điều lệ Techcombank lên 202 tỷ đồng

Trang 40

Mốc thời gian Sự kiện chính

2003 • Vốn điều lệ tăng lên 180 tỷ tại 31/12/2004

2004 • Ngày 30/6/2004: Tăng vốn điều lệ lên 234 tỷ đồng

• Ngày 02/8/2004: Tăng vốn điều lệ lên 252 tỷ đồng

• Ngày 26/11/2004: Tăng vốn điều lệ lên 412 tỷ đồng

2005 • Ngày 21/07/2005: Tăng vốn điều lệ lên 453 tỷ đồng

• Ngày 2809/2005: Tăng vốn điều lệ lên 498 tỷ đồng

• Ngày 28/10/2005: Tăng vốn điều lệ lên 555 tỷ đồng

2006 • Ngày 24/11/2006: Tăng vốn điều lệ lên 1.500 tỷ đồng

2007 • Tổng tài sản đạt gần 2,5 tỷ USD

• Trở thành ngân hàng có mạng lưới giao dịch lớn thứ hai trong khối ngân hàng TMCP với gần 130 chi nhánh và phòng giao dịch tại thời điểm cuối năm 2007

• HSBC tăng phần vốn góp lên 15% và trực tiếp hỗ trợ tích cực trong quá trình hoạt động của Techcombank

2008 • Tháng 09/2008: Tăng tỷ lệ sở hữu của đối tác chiến lược

HSBC từ 15% lên 20% và tăng vốn điều lệ lên 3.165 tỷ đồng

2009 • Tháng 07/2009: Tăng vốn điều lệ lên 4.337 tỷ đồng

• Tháng 09/2009: Tăng vốn điều lệ lên 5.400 tỷ đồng

2010 • Tháng 6/2010: Tăng vốn điều lệ lên 6.932 tỷ đồng

3.1.2 Cơ cấu tổ chức và quản lý

Techcombank là một ngân hàng cổ phần – công ty cổ phần Mô hình quản lý của Techcombank cũng giống như các công ty cổ phần khác, được tổ chức theo chiều dọc, bao gồm 04 cấp: Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban điều hành và mạng lưới các chi nhánh/điểm giao dịch

Ngày đăng: 29/09/2017, 20:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w