1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu sử dung tưới nhỏ giọt cho cà chua trồng trên giá thể tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

58 492 17

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả đánh giá ảnh hưởng của giá thể đến thời gian sinh trưởng của cây cà chua trên hệ thống tưới nhỏ giọt.. 27 4.4 Kết quả đánh giá ảnh hưởng của giá thể đến tỉ lệ đậu quả và năng suấ

Trang 1

KHOA NÔNG HỌC

BÁO CÁO TỔNG KẾT QUẢ

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG TƯỚI NHỎ GIỌT CHO CÀ CHUA TRỒNG TRÊN GIÁ THỂ TẠI TRƯỜNG ĐẠI

HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

Mã số: SV 2016 – 02

Chủ nhiệm đề tài : Bế Thị Huệ

Thái Nguyên, 2/2017

Trang 2

KHOA NÔNG HỌC

BÁO CÁO TỔNG KẾT QUẢ

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG TƯỚI NHỎ GIỌT CHO CÀ CHUATRỒNG TRÊN GIÁ THỂ TẠI TRƯỜNG ĐẠI

HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

Trang 3

Em xin chân thành cảm ơn bạn Nông Thị Bé và Dương Thị Thảo đã cùng

em thực hiện và hoàn thành đề tài khoa học này

Thái Nguyên, tháng 2 năm 2017

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC VIẾT TẮT v

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU vi

PHẦN I PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích - yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1.Nguồn gốc, phân loại 3

2.1.1.Nguồn gốc 3

2.1.2.Phân loại 4

2.2 Giá trị sử dụng và ý nghĩa kinh tế 5

2.3 Đặc điểm thực vật học của cây cà chua 6

2.3.1 Rễ 6

2.3.2 Thân 6

2.3.3 Lá 7

2.3.4 Hoa 7

2.3.5 Quả- hạt 7

2.4 Yêu cầu và điều kiện ngoại cảnh của cây cà chua 8

2.4.1 Nhiệt độ 8

2.4.2 Ánh sáng 9

2.4.3 Nước 9

2.4.4 Dinh dưỡng 10

2.5 Nghiên cứu về giá thể trồng rau 11

2.5.1 Trên thế giới 11

Trang 5

2.5.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 13

2.6 Hệ thống tưới nhỏ giọt 16

PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu 20

3.1.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu 20

3.1.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 20

3.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 20

3.2.1 Nội dung nghiên cứu 20

3.2.2.Phương pháp nghiên cứu 20

3.3.Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 21

3.3.1.Chỉ tiêu về sinh trưởng: 21

3.3.2.Chỉ tiêu về phát triển: 22

3.3.3.Chỉ tiêu về năng suất và yếu tố cấu thành năng suất 22

3.5 Phương pháp xử lí số liệu 23

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24

4.1 Kết quả đánh giá ảnh hưởng của giá thể đến thời gian sinh trưởng của cây cà chua trên hệ thống tưới nhỏ giọt 24

4.2 Kết quả đánh giá ảnh hưởng của giá thể đến động thái và tốc độ tăng trưởng chiều cao cây cà chua 25

4.3 Kết quả đánh giá ảnh hưởng của giá thể đến tốc độ ra lá của cây cà chua sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt 27

4.4 Kết quả đánh giá ảnh hưởng của giá thể đến tỉ lệ đậu quả và năng suất cây cà chua sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt 28

PHẦN V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 31

5.1 Kết luận 31

5.2 Đề nghị 31

TÀI LIỆU THAM KHẢO 33

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 4.1 Ảnh hưởng của giá thể đến thời gian sinh trưởng của cây cà chua trên

hệ thống tưới nhỏ giọt 24

Bảng 4.2 Ảnh hưởng của giá thể đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây cà chua 26

Bảng 4.3 Ảnh hưởng của giá thể đến tốc độ ra lá của cây cà chua 27

Bảng 4.4 ảnh hưởng của giá thể đến tỉ lệ đậu quả cây cà chua 28

Bảng 4.5 Ảnh hưởng của giá thể đến năng suất cây cà chua 29

Trang 8

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: “ Nghiên cứu sử dung tưới nhỏ giọt cho cà chua trồng trên giá thể tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên”

- Mã số: SV2016 – 02

- Chủ nhiệm đề tài: Sv Bế Thị Huệ

Điện thoại: 0165952682 Email: huebe95@gmail.com

- Cơ quan chủ trì: Khoa Nông học – Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

- Nhóm thực hiện đề tài: Bế Thị Huệ

Nông Thị Bé Dương Thị Thảo

- Thời gian thực hiện: Từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 12 năm 2016

4 Kết quả nghiên cứu đạt được

- Đánh giá được ảnh hưởng của giá thể đến thời gian sinh trưởng của cây

cà chua sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt

- Đánh giá ảnh hưởng của giá thể đến tốc độ tăng trưởng chiều cao của cà chua sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt

Trang 9

- Đánh giá ảnh hưởng của giá thể đến tốc độ ra lá của cà chua sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt

- Đánh giá ảnh hưởng của giá thể đến tỉ lệ đậu quả và năng suất của cà chua sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt

5 Sản phẩm:

1 khóa luận tốt nghiệp

6 hiệu quả và khả năng áp dụng:

Trang 10

INFORMATION ON RESEARCH RESULTS

1 General information:

- Project title: “Study on use of drip irrigation for tomato planted on substrate at Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry”

- Code number: SV2016 – 02

- Coordinator: Be Thi Hue

Tell: 0165952682 Email: huebe95@gmail.com

- Implementing instrution: Department of Agriculture - Thai Nguyen University

of Agriculture and Forestry

- Cooperating Insttution: Be Thi Thi Hue

Nong Thi Be Duong Thi Thao

- Duration: From January 2016 to December 2016

- Evaluate the effect of substrate on tomato growth on drip irrigation system

- Evaluate the effect of substrate on the rate of fruiting and tomato yield using a drip irrigation system

Trang 11

- Evaluate the effect of substrate on leaf speed of tomato using drip irrigation system

- Evaluate the effect of substrate on the rate of fruiting and the yield of tomato using a drip irrigation system

5 Products:

1 graduation thesis

6 Effectiveness and applicability:

Trang 12

PHẦN I PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cà chua là một loại rau ăn trái rất được ưa thích vì phẩm chất ngon và chế biến được nhiều cách Cây cà chua dễ trồng, dễ chăm sóc, cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao Quả cà chua chứa hàm lượng dinh dưỡng cao như vitamin A, B, C các chất khoáng, được sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, làm đẹp và làm thuốc

Để sản xuất cà chua với số lượng lớn, cung cấp sản phẩm trong thời gian dài, độ đồng đều cao, đặc biệt là phải đảm bảo chất lượng, an toàn cho con người là mục tiêu của các chuyên gia trong ngành sản xuất rau Trong những năm qua, các cơ quan chuyên môn, nhiều nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu theo nhiều hướng khác nhau, một trong những hướng được các nước ứng dụng rộng rãi và ngày càng hoàn thiện cao hơn là sản xuất theo hướng công nghiệp Ngoài việc dùng đất để trồng cây người ta còn sử dụng một phương pháp khác

để trồng, đó là trồng cây trên giá thể Đây thực chất là một kỹ thuật trồng cây không dùng đất mà cây được trồng trực tiếp trên các giá thể hữu cơ hay giá thể trơ cứng và được bổ sung các chất dinh dưỡng đã được các nước phát triển trên thế giới áp dụng nhiều năm nay, có ưu điểm thay thế đất trồng, quy trình sản xuất khép kín, kiểm soát được các yếu tố gây bệnh và lây truyền cho cây Ở nước ta, trước mắt và trong những năm tới ngành sản xuất rau cũng không nằm ngoài quỹ đạo ấy

Cà chua trồng trong bầu được tưới nhỏ giọt là kỹ thuật công nghệ cao trong nông nghiệp Giúp cho sinh viên nắm được rất đặc điểm sinh trưởng, nhu cầu dinh dưỡng và nước tưới của cây cà chua trong mỗi giai đoạn phát triển Tiện ích hơn nữa, trồng cà chua trồng bầu giảm công làm cỏ, tưới nước thường xuyên, giảm lao động phổ thông đơn giản và có nhiều thời gian nghiên cứu chuyên môn Sản phẩm cà chua thu hoạch theo kỹ thuật này dễ đạt tiêu chuẩn an toàn cao và nhiều người tiêu dùng ưa thích

Trang 13

Hệ thống tưới nhỏ giọt là một hệ thống tưới tiêu có ưu điểm như: Tiết kiệm nước tưới, thời gian, công sức lao động Hệ thống này đã xuất hiện và được áp dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp tuy nhiên chưa được áp dụng rộng rãi miền Bắc nói chung và Thái Nguyên nói riêng

Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu sử dụng tưới nhỏ giọt cho cà chua trồng trên giá thể tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên”

1.2 Mục đích - yêu cầu của đề tài

1.3 Ý nghĩa của đề tài

- Giúp sinh viên củng cố và hệ thống hóa kiến thức đã học áp dụng vào thực tế Đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận với những phương pháp nghiên cứu khoa học, nâng cao kiến thức và tích lũy kinh nghiệm thực tế

- Qua kết quả nghiên cứu xác định loại giá thể thích hợp cho cà chua có

sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt, góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật trồng cà chua trên nên giá thể phù hợp nhất từ đó khuyến cáo đưa ra sản xuất

Trang 14

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1.Nguồn gốc, phân loại

2.1.1.Nguồn gốc

Học thuyết về trung tâm phát sinh cây trồng của N.I Valilov đề xướng và P.M Zukovxki bổ xung, cho rằng quê hương của cây cà chua ở vùng Nam Mỹ Nhiều tài liệu nghiên cứu của các tác giả De Calldolle (1884), Muler (1940), Lukwill (1943) và Sinskaia (1969) cho rằng số lượng lớn của cà chua hoang dại cũng như cà chua trồng được tìm thấy ở Pêru, Equado, Bolivia Quá trình thuần hoá và du nhập của cà chua đến các Châu lục có thể tóm tắt như sau:

Theo tài liệu từ Châu Âu thì chắc chắn cà chua được người Aztec và người Toltec mang đến Đầu tiên năm 1554 nhà nghiên cứu về thực vật Pier Andrea Mattioli giới thiệu những giống cà chua của Mehico có màu vàng nhạt

và đỏ nhạt Năm 1960 ở Bắc Âu thời gian đầu cà chua chỉ được dùng để trang trí và thoả trí tò mò Mặc dù cà chua đã được rất nhiều nhà khoa học quan tâm, nhưng thời bấy giờ người ta vẫn quan niệm là cà chua là một cây trồng độc hại

vì nó có họ hàng với loại cà độc dược Đầu thế kỷ thứ 18, các giống cà chua đã trở lên đa dạng và phong phú, nhiều vùng đã trồng cà chua để làm thực phẩm Cuối thế kỷ 18, cà chua mới được dùng làm thực phẩm ở Nga và Italia Đến thế

kỷ thứ 19 cà chua đã trở thành thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày Những tiến bộ về dòng, giống cà chua là hoàn toàn dựa vào châu Âu Năm

1863, có 23 giống được giới thiệu và trong vòng hai thập kỷ, dòng, giống cà chua được phát triển tới hàng mấy trăm giống Năm 1886, chương trình thử nghiệm của Liberty Hyde Bailey ở trường nông nghiệp Michigan (Mỹ) đã tiến hành chọn lọc và phân loại giống cà chua trồng trọt Từ năm 1870 đến 1893 ông

đã giới thiệu 13 giống cà chua trồng trọt được chọn lọc theo phương pháp chọn lọc cá thể Quá trình chọn lọc và cải tiến giống được các nhà chọn giống thực hiện liên tục không ngừng, đến nay giống cà chua đã trở lên phong phú và đa dạng, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng trên thế giới.[2]

Trang 15

lycopersicon Tour được phân làm hai chi phụ

* Chi phụ eriopersicon: Chi này gồm các loài dại, cây dại một năm hoặc

nhiều năm Quả thường có lông, vỏ xanh hoặc vàng nhạt, có các vệt màu với các sắc tố Anthocyanin, hạt nhỏ, chùm hoa có lá bao Chi này gồm các chi phụ: L.peruvianumm Mill; L.cheesmanii; L.hirsutum; L.glandulosum

* Chi phụ Eulycopersicon: thuộc dạng cây hàng năm, quả không có lông,

khi chín có màu đỏ hoặc đỏ vàng, hạt to, chùm hoa không có lá bao, trong nhóm này gồm hai loài:

L.pimpinellifolium: Đặc trưng bởi thân yếu và mảnh, quả nhỏ màu đỏ, hoa mọc thành chùm từ 15-20 quả/chùm, quả có hai ngăn

L.esculentum: Là dạng cà chua trồng trọt, loại hình sinh trưởng từ hữu hạn, đến vô hạn

Chi này bao gồm 5 biến chủng:

+ L.esculentum var Commune - là giống cà chua thông thường Hầu hết

cà chua trồng hiện nay thuộc dạng biến chủng này Thân lá rậm rạp, sum suê phải cắt tỉa cành, hoa, quả có khối lượng từ trung bình đến lớn

+ L.esculentum var Cerasiforme: Cà chua anh đào, lá nhỏ, mỏng, hoa

mọc thành chùm dài, khoảng 10 quả/chùm, có màu đỏ hoặc vàng

+ L.esculentum var.Pyriforme: Cà chua hình quả lê, thuộc loại hình sinh

trưởng vô hạn Có khoảng 10 quả/chùm, quả màu vàng hoặc da cam

+ L.esculentum var Grandifolium – lá của biến chủng này to giống lá

khoai tây, mặt lá rộng và láng bóng , số lá trên cây từ ít đến trung bình

Trang 16

+ L.esculentum var Vadium - cà chua anh đào, thuộc loại sinh trưởng hữu

hạn cây đứng, mập, mọc thẳng và lùn, lá màu xanh đậm, quăn và nhiều lá [8]

2.2 Giá trị sử dụng và ý nghĩa kinh tế

Cây cà chua là loại rau ăn quả có giá trị dinh dưỡng cao, trong quả chín có nhiều dường, chủ yếu là đường glucoza, có nhiều vitamin: caroten, B1, B2, C; aixit amin và các chất khoáng quan trọng; Ca, P, Fe…

Các chất hóa học trong cà chua cũng thay đổi tùy vào điều kiện ngoại cảnh, đất đai biện pháp kỹ thuật, chăm sóc mùa vụ, thời kỳ thu hoạch Ví dụ: Giống cà chua PH5 có hàm lượng đường cao hơn cà chua Balan, cà chua vụ đông xuân có hàm lượng vitamin A cao hơn vụ Xuân Hè Ngay trong một quả, thành phần hóa học cũng có sự thay đổi, ở giữa quả chất khô và đường nhiều còn xung quanh quả Axít nhiều nhưng hàm lượng đường ít

Theo Edward C.Tigchelaar ( 1989 )thì thành phần hóa học của cà chua như sau:

Nước: 94-95%

Chất khô: 5-6%

Trong chất khô gồm có các chất chủ yếu sau:

- Đường (glucoza, fuctoza, sucroza): 55%

- Chất không hòa tan trong rượu ( protein, xenlulo, pectin, polysacarit ): 21%

- Axit hữu cơ ( xitric, malic, galacturonic, pyrrolidon-caboxylic ): 12%

- Chất vô cơ: 7%

- Các chất khác ( carotenoit, ascorbic, chất dễ bay hơi, aminoaxit, v.v… ): 5%

Do có thành phần dinh dưỡng phong phú nên cà chua đã trở thành món ăn thông dụng của nhiều nước trên 150 năm nay và là cây rau ăn quả được trồng rộng rãi trên khắp các châu lục Cà chua cũng là các loại rau có nhiều cách sử dụng: Có thể dùng để ăn như quả tươi, trộn salat, nấu canh, sào, nấu sốt vang và chế biến thành các sản phẩm như: Cà chua cô đặc, tương cà chua, nước sốt nấm…

Trang 17

Cà chua là loại rau cho hiệu quả kinh tế cao và là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nhiều nước như Đài Loan hàng năm xuất khẩu cà chua tươi với tổng giá trị là 952.000USD và 40.800USD cà chua chế biến [3]

2.3 Đặc điểm thực vật học của cây cà chua

2.3.1 Rễ

Rễ cà chua thuộc rễ chùm, ăn sâu và phân nhánh mạnh, khả năng phát triển

rễ phụ rất lớn Trong điều kiện tối hảo những giống tăng trưởng mạnh có rễ ăn sâu 1 - 1,5m và rộng 1,5 - 2,5m vì vậy cà chua chịu hạn tốt Khi cấy rễ chính bị đứt, bộ rễ phụ phát triển và phân bố rộng nên cây cũng chịu đựng được điều kiện khô hạn Bộ rễ ăn sâu, cạn, mạnh hay yếu đều có liên quan đến mức độ phân cành và phát triển của bộ phận trên mặt đất, do đó khi trồng cà chua tỉa cành, bấm ngọn, bộ rễ thường ăn nông và hẹp hơn so với điều kiện trồng tự nhiên

2.3.2 Thân

Thân tròn, thẳng đứng, mọng nước, phủ nhiều lông, khi cây lớn gốc thân dần dần hóa gỗ Thân mang lá và phát hoa Ở nách lá là chồi nách Chồi nách ở các vị trí khác nhau có tốc độ sinh trưởng và phát dục khác nhau, thường chồi nách ở ngay dưới chùm hoa thứ nhất có khả năng tăng trưởng mạnh và phát dục sớm so với các chồi nách gần gốc

Tùy khả năng sinh trưởng và phân nhánh các giống cà chua được chia làm

4 dạng hình:

- Dạng sinh trưởng hữu hạn (determinate)

- Dạng sinh trưởng vô hạn (indeterminate)

- Dạng sinh trưởng bán hữu hạn (semideterminate)

Trang 18

Khi trưởng thành cây có màu xanh hơi tối, thường có tiết diện đa giác, cây cứng, phần gốc hóa gỗ

2.3.3 Lá

Lá thuộc lá kép lông chim lẻ, mỗi lá hoàn chỉnh có 3 - 4 đôi lá chét Ngọn

lá có 1 phiến lá riêng gọi là lá đỉnh Giữa các lá chét còn có lá giữa và lá bên nhỏ hơn lá chét Rìa lá chét đều có răng cưa nông hay sâu tùy giống Phiến lá thường phủ lông tơ Đặc tính lá của giống thường thể hiện đầy đủ sau khi cây có chùm hoa đầu tiên

- Đài hoa: Chiều rộng và chiều dài đài hoa phụ thuộc vào giống có khoảng

từ 5-7 hoặc nhiều hơn

- Cánh hoa: Số lượng cánh hoa phù hợp với số lượng lá đài, gốc gắn liền với nhau Trước khi hoa nở cánh hoa có màu xanh vàng, khi nở hoàn toàn màu vàng tươi, khi hoa héo có màu vàng úa

- Nhị: Nhị có cuống ngắn đính vào gốc cánh hoa, thông thường cà chua có trên 8 nhị, túi phấn tách rời và nhị hợp thành 2-3 bó

- Nhụy: Chiều cao của nhụy so với nhị là đặc trưng của giống, thường vị trí của nhụy thấp hơn nhị

2.3.5 Quả- hạt

Quả thuộc loại mọng nước, có hình dạng thay đổi từ tròn, bầu dục đến dài Vỏ trái có thể nhẵn hay có khía Màu sắc của trái thay đổi tùy giống và điều kiện thời tiết Thường màu sắc trái là màu phối hợp giữa màu vỏ trái và thịt trái

Quá trình chín của trái chia làm 4 thời kỳ:

Trang 19

+ Thời kỳ trái xanh: Trái và hạt phát triển chưa hoàn toàn, nếu đem dấm trái không chín, trái chưa có mùi vị, màu sắc đặc trưng của giống

+ Thời kỳ chín xanh: Trái đã phát triển đầy đủ, trái có màu xanh sáng, keo xung quanh hạt được hình thành, trái chưa có màu hồng hay vàng nhưng nếu đem dấm trái thể hiện màu sắc vốn có

+ Thời kỳ chín vàng: Phần đỉnh trái xuất hiện màu hồng, xung quanh cuống trái vẫn còn xanh, nếu sản phẩm cần chuyên chở đi xa nên thu hoạch lúc nay để trái chín từ từ khi chuyên chở

+ Thời kỳ chín đỏ: Trái xuất hiện màu sắc vốn có của giống, màu sắc thể hiện hoàn toàn, có thể thu hoạch để ăn tươi Hạt trong trái lúc nay phát triển đầy

đủ có thể làm giống

- Hạt: Hạt cà nhỏ, dẹp, nhiều lông, màu vàng sáng hoặc hơi tối Hạt nằm trong buồng chứa nhiều dịch bào kiềm hãm sự nảy mầm của hạt Trung bình có

50 - 350 hạt trong trái Trọng lượng 1000 hạt là 2,5 - 3,5g.[8]

2.4 Yêu cầu và điều kiện ngoại cảnh của cây cà chua

2.4.1 Nhiệt độ

Cà chua ưa khí hậu ấm áp, khả năng thích nghi rộng, chịu được nhiệt độ

cao, nhưng mẫn cảm với rét Cà chua thường sinh trưởng bình thường trong phạm vi nhiệt độ 15-350C Nhiệt độ thích hợp cho cà chua nằm trong giới hạn 22-240C Giới hạn nhiệt độ tối thấp là 100C và nhiệt độ tối cao là 350C Hạt nảy mầm tốt ở nhiệt độ 25-300C, nhưng nhiệt độ thích hợp là 290C Quả sinh trưởng tốt ở nhiệt độ 20-220C, sắc tố hình thành ở nhiệt độ 200C, quả chín ở nhiệt độ 24-300C, lớn hơn 300C các sắc tố bị phân giải

Theo tài liệu nghiên cứu của nhiều tác giả khi cây cà chua còn non rễ ra ít, mẫn cảm với nhiệt độ thấp hơn so với thân lá

Cà chua yêu cầu nhiệt độ để thông qua giai đoạn xuân hóa có thể phân thành 3 loại sau:

Yêu cầu nhiệt độ thấp dể thông qua giai đoạn xuân hóa 2-30C

Yêu cầu nhiệt độ cao để thông qua giai đoạn xuân hóa 20-250C

Trang 20

Phản ứng không rõ ràng với nhiệt độ cao hay thấp

2.4.2 Ánh sáng

Cà chua thuộc loại cây ưa sáng nhưng không phản ứng với độ dài ngày nên

cà chua có thể ra hoa cả trong điều kiện chiếu sáng ngày dài hay ngày ngắn Vì thế cà chua có tính thích nghi rộng, có thể trồng quanh năm và ở nhiều vùng khác nhau ở nước ta Cà chua ưa cường độ ánh sáng mạnh, từ 4.000 -10.000 lux, nếu được chiếu sáng đầy đủ 11-13h, cây con sinh trưởng tốt, ra quả thuận lợi, năng suất và chất lượng quả cao Cây thiếu ánh sáng sinh trưởng yếu ớt, lá nhỏ, mỏng, cây vống, ra hoa, ra quả chậm, năng suất và chất lượng quả giảm, hương

vị nhạt đồng thời cũng rụng nụ, rụng hoa, rụng quả, nhụy co rút lại làm giảm khả năng tiếp nhận của hạt phấn và quả bị dị hình Thành phần hoá học của quả

cà chua chịu tác động lớn của chất lượng ánh sáng, thời gian chiếu sáng và cường độ ánh sáng Theo Hamner và cộng sự (1945) cho biết ánh sáng mạnh rất quan trọng và ảnh hưởng lớn đến hàm lượng axít ascorbic trong quả cà chua, khi ánh sáng yếu làm giảm hàm lượng vitamin C trong quả [7]

2.4.3 Nước

Cà chua là cây ưa ẩm nhưng không chịu úng và yêu cầu về nước ở các giai đoạn rất khác nhau, xu hướng ban đầu cần ít nước sau cần nhiều hơn Lúc cây ra hoa là thời kỳ cần nhiều nước nhất Nếu ở thời kỳ này độ ẩm không đáp ứng, việc hình thành chùm hoa và tỷ lệ đậu quả giảm Một số nghiên cứu cho thấy giữa năng suất cà chua và lượng nước bốc hơi trên lớp đất mặt sâu 1 cm có mối quan hệ chặt Một nghiên cứu của Mỹ cho thấy một giống cà chua đạt năng suất 220 tấn/ha thì hiệu quả sử dụng nước là 3,1 tấn/cm/ha lượng nước thoát hơi

Độ ẩm đất thích hợp cho cà chua nảy mầm là 70%, sinh trưởng phát triển là 80% và độ ẩm không khí là 70 - 80% Thiếu nước cây sẽ bị rụng nụ, rụng hoa, rụng quả, cây còi cọc, lá bé Thời kỳ cần nước nhiều nhất là từ hình thành hạt phấn hoa đến hình thành và phát triển quả (giai đoạn ra hoa - ra quả) Khi đất quá khô hay quá ẩm đều ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển và năng suất của

70-cà chua Biểu hiện thừa nước hay thiếu nước đều làm cho cây héo Khi ruộng bị

Trang 21

ngập nước, trong đất thiếu oxy, thừa khí cacbonic làm rễ cà chua bị ngộ độc đẫn đến cây héo Khi thiếu nước quả cà chua chậm lớn thường xảy ra hiện tượng thối đáy quả, quả dễ bị nám do canxi bị giữ chặt ở các bộ phận già không vận chuyển đến các bộ phận non Nhiệt độ đất và không khí phụ thuộc rất lớn vào lượng mưa, đặc biệt là các thời điểm trái vụ, mưa nhiều là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng phát triển của cây Cà chua yêu cầu độ ẩm không khí thấp trong quá trình sinh trưởng phát triển, thích hợp 45 - 55%, độ ẩm cao trên 65% cây dễ dàng bị bệnh, ảnh hưởng đến sự tung phấn của hạt phấn, làm hạt phấn vỡ, làm giảm nồng độ đường ở

núm nhụy Như vậy cà chua là cây “chân ướt đầu khô”

2.4.4 Dinh dưỡng

Rễ cây cà chua tập trung chủ yếu ở vùng đất mặt ở độ sâu 0 - 40cm, rễ ăn sâu và rộng hơn nhiều các loại rau khác Cà chua có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng thích hợp nhất là đất phù sa (thịt nhẹ), cát pha, tơi xốp, tưới tiêu chủ động Giới hạn pH đất có thể trồng cà chua là hơi chua - hơi kiềm (5,5 -7,5), pH thích hợp nhất từ 6,0 - 6,5; đất giàu mùn, tầng canh tác dày,

dễ thoát nước Cà chua là cây yêu cầu chế độ luân canh, luân phiên rất nghiêm ngặt Không nên trồng cà chua trên các chân đất trước đó trồng cây họ cà, đất có

ít nguồn nấm bệnh là điều kiện rất cơ bản để trồng cà chua có năng suất cao Trong các nguyên tố dinh dưỡng thì cà chua hút nhiều nhất kali thứ đến là đạm

và ít nhất là lân Cà chua sử dụng tới 60% N; 50 - 60% K2O và 15-20% P2O5

tổng lượng bón vào đất trong suốt chu kỳ sinh trưởng

- Đạm (N): Đạm có tác dụng thúc đẩy sinh trưởng thân lá, phân hoá hoa sớm, số lượng hoa/cây nhiều, hoa to, tăng khối lượng và kích thước quả, tăng năng suất Tuy nhiên bón đạm quá nhiều làm sinh trưởng quá mạnh cành lá rậm rạp, chậm ra hoa ra quả, chất lượng quả giảm, nhiều bệnh hại nặng đặc biệt là mốc sương Trong lúc đó thiếu đạm cây sinh trưởng còi cọc, hoa quả ít, quả nhỏ, rụng hoa, rụng quả năng suất, chất lượng giảm mạnh

- Lân ( P2O5 ): Lân có tác dụng kích thích hệ rễ phát triển đặc biệt thời kỳ cây con (3- 4 lá thật), tăng cường phát dục của hoa (phân hoá hoa sớm), làm cho

Trang 22

quả chín sớm, rút ngắn thời gian sinh trưởng, nâng cao chất lượng quả và hạt (tăng sức sống hạt phấn, tăng tỷ lệ đậu quả, tăng chất lượng quả) Vì vậy nếu ruộng để giống cần bón lân đầy đủ

- Ka li (K2O): Kali tăng cường khả năng quang hợp, tham gia tổng hợp đường (gluxít), tăng cường quá trình vận chuyển các chất hữu cơ và đường vào quả Kali còn làm cho cây cứng, khoẻ tăng khả năng chống chịu bệnh và điều kiện bất lợi (chống rét), tăng chất lượng quả (làm cho quả nhẵn, thịt quả chắc, tăng khả năng vận chuyển và bảo quản khi quả chín, tăng hàm lượng đường, hàm lượng chất tan, vitamin C

- Các nguyên tố vi lượng: Nguyên tố vi lượng có tác dụng quan trọng đến sinh trưởng phát triển của cà chua đặc biệt là nâng cao chất lượng quả Trong các nguyên tố vi lượng cà chua phản ứng với tốt với các nguyên tố vi lượng B, Mn, Zn trên đất chua nên bón phân Mo.[3]

2.5 Nghiên cứu về giá thể trồng rau

2.5.1 Trên thế giới

Giá thể trồng cây cũng rất nhiều loại nhưng hầu hết được phối trộn từ các vật liệu dễ kiếm trong tự nhiên như: Trấu hun, xơ dừa, mùn cưa, cát, bột đá Tuy nhiên giá thể được tạo ra phải có độ thông thoáng và có khả năng giữ nước tốt

Ở các nước đang phát triển, hỗn hợp đặc biệt gồm đá trân châu, than bùn có sẵn ở dạng sử dụng được cung cấp ngay cho mục đích thay thế cho đất Các trại thâm canh chủ yếu ở các nước đnag phát triển thiên về nhập khẩu những hỗn hợp không phải là đất này, không có khả năng khai thác việc sử dụng vật liệu sẵn có ở địa phương Thực tế môi trường nhệt đới rất có nhiều liệu có thể sử dụng pha chế hỗn hợp bầu trong vườn ươm Hỗn hợp bầu trong vườn ươm cần đảm bảo khả năng giữ nước và làm thoáng khí, khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, sạch bệnh Hỗn hợp vườn ươm được sử dụng có rất nhiều công thức phối trộn, dựa vào khả năng có sẵn nguyên vật liệu có tỉ lệ 1:1:1 là cát rây

Trang 23

+ đất vườn + phân hữu cơ; đất vườn + bột xơ dừa + phân hữ cơ hay đất vườn + phân chuồng + bột xơ dừa.[7]

Theo Lawtence; Newell (1950) [11] cho biết Anh sử dụng đất mùn + than bùn + cát thô (tính theo thể tích) có tỉ lệ 2:1:1 để gieo hạt, để trồng cây

là 7:3:2

Theo Masstalerz (1977) [12], đối với cùng một loại cây nhưng với thành phần giá thể khác nhau: Để gieo hạt cải bắp, cải xanh nếu thành phần giá thể gồm 3 phần mùn + 1 phần đất đồi + 0,3 phần phân bò và trong 1kg hỗn hợp trên

có thêm 1g N, 4g P2O5 và 1g K2O thì năng suất sớm đạt 181,7 tạ/ha Nếu thành phần giá thể gồm than bùn 3 phần + mùn 1 phần + phân bò 1 phần và lượng chất khoáng như trên thì năng suất sớm đạt 170 tạ/ha Không chỉ đối với bắp cải, cải xanh mà đối với dưa chuột cũng thế Nếu thành phần giá thể cây con gồm 4 phần mùn + 1 phần đất đồi và trong một hỗn hợp trên thêm 1g N, 4g P2O5, 1g

K2O thì năng suất sớm đạt 238 tạ/ha Nếu thành phần giá thể gồm 4 phần mùn +

1 phần đất trồng thì năng suất sớm đạt 189 tạ/ha

Roe và cs (1993)[2] việc ứng dụng sản xuất giá thể đặt nền tảng cho việc phòng trừ cỏ dại sinh trưởng giữa các hàng rau ở các thời vụ Chất thải hữu cơ là tiền đề làm tăng giá trị thương mại của các loại giá thể Nhờ vào kỹ thuật, công nghệ mà làm tăng chất lượng cây và giảm thời gian sản xuất Cho thấy lợi nhuận của việc sử dụng giá thể trên vùng đất nghèo dinh dưỡng làm tăng độ màu mỡ của đất, tăng thêm lượng đạm trong đất và làm tăng năng suất rau

Trung tâm nghiên cứu phát triển rau Châu Á khuyến cáo việc sử dụng rêu than bùn hoặc chất khoáng được coi như môi trường tốt cho cây con Ví dụ: Đối với ớt, sử dụng 3 phần than bùn + 1 phần chất khoáng Hỗn hợp đặc biệt bao gồm đất + rêu than bùn + phân chuồng Trấu hun và trấu đốt cũng được sử dụng như thành phần của hỗn hợp [14]

Masstalerz (1997) [12] cho biết ở Mỹ đưa ra công thức phối trộn (tính theo thể tích) thành phần hỗn hợp bầu bao gồm nùn sét, mùn cát sét và mùn cát có tỉ

Trang 24

lệ 1:2:2; 1:1:1 hay 1:2:0 đều cho hiệu quả Cho thêm 5,5 – 7,7g bột đá vôi và 7,7 – 9,6g supe phosphat cho một đơn vị thể tích

Bunt (1965)[13] sử dụng hỗn hợp cho gieo hạt (tính theo thể tích) 1 than bùn rêu nước +1 cát +2,4kg/m3 đá vôi nghiền và hỗn hợp trồng cây: 3 than bùn rêu nước +1 cát + 1,8kg đá vôi nghiền đều cho thấy cây con mập, khỏe

2.5.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ngô Thị Hạnh (1997), [4]Viện rau quả Hà Nội đưa ra công thức phối trộn giá thể gieo cải bao trong khay gồm đất + cát + phân chuồng + trấu hun tỷ lệ 3:1:1:1 và lượng NPK là 500g sunphat amon, 500g supe photphat và 170g clorua kali trong 1 tấn giá thể

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Lê Hữu Phan (2001)[5] qua thực tế cho biết: Trong nhà lưới có mái che, cứ 100kg đất than bùn thì trộn 10kg vôi bột, 10kg supe lân

và 6kg N-P-K con cò (13-8-12) và ủ 1-2 tháng rồi đem vào khay để gieo hạt Theo Trần Thu Hà và cộng sự, (2010)[8] cứ 10kg giá thể gieo hạt rau trộn thêm 0,5 kg supelân để xúc tác quá trình và sinh trưởng của rễ

Trước đây giá thể chủ yếu sử dụng là cát hoặc sỏi Ngày nay giá thể đã được thay đổi rất nhiều Như ta đã biết cây cần cả oxi và dinh dưỡng tiếp xúc với rễ cây Giá thể lý tưởng là loại có khả năng giữ nước tương đương với độ thoáng khí Khả năng giữ nước và độ thoáng khí của giá thể được quyết định bởi những khoảng trống (khe, kẽ) trong nó Trong cát mịn có những khoảng trống rất nhỏ, không chứa nhiều nước và oxi Ngược lại, sỏi thô tạo ra những khoảng trống quá lớn, nhiều không khí nhưng mất nước nhanh

Giá thể lí tưởng phải có những đặc điểm:

- Có khả năng giữ ẩm cũng tốt như độ thoáng khí

- Có pH trung tính và có khả năng ổn định pH

- Thấm nước dễ dàng

- Bền, có khả năng tái sử dụng hoặc phân huỷ an toàn cho môi trường

- Nhẹ, rẻ và thông dụng

Trang 25

Giá thể có nhiều loại như xơ dừa, trấu hun, mùn cưa, cát, sỏi vụn, đất nung xốp, đá trân châu, đá bọt núi lửa, rockwool (loại vật liệu có nhiều thớ, sợi, rất được các trang trại lớn ở nước ngoài ưa chuộng) Có thể dùng đơn lẻ hoặc trộn lại để tận dụng ưu điểm từng loại

Sau nhiều năm tìm tòi và nghiên cứu, Tiến sĩ Lê Thị khánh, Trưởng bộ môn Khoa học nghề vườn thuộc khoa Nông Học, trường Đại học Nông lâm Huế

đã trồng thử nghiệm rau sạch trên giá thể thành công Đây là mô hình trồng rau sạch lần đầu tiên tại Thừa Thiên Huế nói riêng và miền Trung nói chung, mở ra nhiều hướng phát triển mới cho nông nghiệp Hiện nay, Tiến sĩ Lê Thị Khánh đã thành công trong việc tạo ra giá thể bằng trấu hun, mùn cưa, vỏ lạc ủ, đầu tôm ủ, rơm sau khi đã trồng nấm Đây là nguyên liệu sẵn có, dễ làm, không mất tiền mua, lại giả quyết được vấn đề vệ sinh môi trường Điều đặc biệt giá thể sau thời gian nuôi rau sạch (khoảng 3-4 năm) trong nhà lưới,có thể dùng vào việc bón phân cho cây cảnh.[2]

Cũng sau nhiều năm nghiên cứu, thử nghiệm và xây dựng nhiều mô hình trên diện rộng thành công, mới đây Trung tâm nghiên cứu phân bón và dinh dưỡng cây trồng trực thuộc Viện Thổ Nhưỡng Nông hóa đưa ra khuyến cáo bà con nông dân và các hộ gia đình ở thành phố áp dụng kỹ thuật trồng rau an toàn trên nền giá thể GT 05 GT05 là giá thể sinh học không dất, có hàm lượng chất hữu cơ (OM) và dinh dưỡng cao: 44% chất hữu cơ (OM), 1,2% đạm (N), 0,8% lân (P2O5), 0,7 kali (K2O) và các dinh dưỡng trung và vi lượng cần thiết khác cho cây trồng GT 05 cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng, có

độ tơi, xốp, thoáng khí, nhẹ, sạch nguồn bệnh, không có tuyến trùng, hút và giữ

ẩm tốt Trong sản xuất rau an toàn, GT 05 được sử dụng làm bầu gieo ươm cây rau giống, sản xuất cây rau mầm, rau thương phẩm như các loại rau ăn lá, rau ăn quả rất hiệu quả và thuận lợi

Dòng sản phẩm đất Multi của công ty TNHH Nguyên Nông Gion đã được

xử lý bằng công nghệ sinh học, thích hợp với khí hậu Việt Nam để trồng trong khay, chậu, máng, bồn hay luống Thành phần chính của hệ Multi là giá thể hữu

Trang 26

cơ từ sợi xơ dừa, phân trùn quế, rong biển, hệ vi sinh vật hữu ích, bánh dầu lên men Đây là nguồn hữu cơ lâu dài, thân thiện với môi trường, không chất độc

vi sinh vật gây hại, hoàn toàn không có đất thật, không dùng phân hóa học, thuốc trừ bệnh hóa học Hệ Multi có 11 sản phẩm riêng được phối trộn khác nhau để tạo nền dinh dưỡng cân đối cho nhiều loại cây trồng, đồng thời có sự kết hợp liên hoàn giữa các sản phẩm với nhau Ví dụ: Đất Multi tổng quát, đất cho rau ăn lá, đất cho rau ăn quả và hoa, đất ăn trái, đất giun chuyên trồng rau mầm [5]

Sở NN & PTNT Hà Nội (2003) [6] qua nghiên cứu bước đầu, đã đưa ra 5 công thức phối trộn giá thể cho 5 loại cây trồng như sau: Cây hồng Đà Lạt: Than bùn 76,5% + bèo dâu 13,5% + 10% đất; cây cảnh: than bùn 76,5% + 6,75% trấu + 6,75% bèo dâu + 10% đất; hoa giống: Than bùn 45% +22,5% trấu + 22,5% bèo dâu + 10% đất; ớt: Than bùn 67,5% + 22,5% trấu hun + 10% đất và cà chua: 67,5% than bùn +22,5 bèo hoa dâu + 10% đất

Theo Trần Thu Hà và cộng sự, (2010) [8] ở những vùng có điều kiện tự nhiên khác nghiệt và đối với những giống rau quý hiếm có thế gieo cây con trong vườn ươm Giá thể làm bầu gồm đất bột đã phơi ải, đập nhỏ, sạch cỏ dại chiếm 1/3 khối lượng ruột bầu, 1/3 xỉ than và 1/3 phân chuồng hoai mục trộn đều, cứ 10kg ruột bầu (chất bồi dưỡng cây giống) trộn thêm 0,5 supe lân để xúc tiến quá trình hình thành và sinh trưởng phát triển của rễ Nếu gieo hạt vào khay thì độ dày của chất bồi dưỡng tùy theo loại cây trồng, trung bình từ 5-7 cm Nghiên cứu về giá thể để trồng rau sạch cũng đã được Trường Đại Học An Giang nghiên cứu với đề tài: “ Nghiên cứu một số giá thể trồng cải mầm thích hợp và cho hiệu quả kinh tế cao” Nghiên cứu sử dụng giá thể và dinh dưỡng thích hợp cho việc trồng cải mầm được thực hiện tại khoa Nông Nghiệp TNTN – Trường Đại Học An Giang từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2015 với 4 loại giá thể

rẻ tiền và có sẵn tại tỉnh An giang là trấu, tro trấu, đất hỗn hợp với các trường hợp không sử dụng hoặc có sử dụng bổ sung phân cá, dinh dưỡng thủy canh rau Châu Á (Hà Nội), dinh dưỡng MS (Murashge Skoog) tự pha chế Qua thí

Trang 27

nghiệm đã cho thấy sử dụng phân cá với giá thể tro trấu + trấu cho lợi nhuận cao 23.616 đồng/kg Từ đó có thể thấy việc trồng cải mầm bằng giá thể là khá đơn giản, dễ thực hiện, giá thể trồng rất dồi dào và luôn sẵn có, chi phí đầu tư thấp, hiệu quả kinh tế khá cao

Theo Dương Thiên Tước (1997)[1] để nhân giống cây trong vườn dùng chậu, bồn để giâm Dưới đáy bồn chậu nên lót bằng than củi để dễ thoát nước, bên trên dùng 4/5 bù ao phơi khô, đập nhỏ 1/5 cát vàng (hoặc cát đen) trộn phủ một lớp tro bếp mịn

Đánh giá về các nguồn nguyên liệu sử dụng để phối trộn giá thể, đối với rau giống và rau an toàn thì đất phù sa sông Hồng và sông Cửu Long là thành phần cơ bản của giá thể Tuy nhiên, tỷ lệ phối trộn ở miền Bắc và miền Nam khác nhau phụ thuộc vào chất độn hữu cơ Miền Bắc chủ yếu dùng trấu hun và rơm rạ mục, miền Nam chủ yếu là xơ dừa ngoài ra có bổ sung than bùn và phân chuồng hoai mục.[9]

2.6 Hệ thống tưới nhỏ giọt

Tưới nhỏ giọt là kỹ thuật tưới cung cấp nước vào đất dưới dạng các giọt nước nhỏ ra đều đều từ công cụ hay thiết bị tạo giọt đặt tại một số điểm trên mặt đất gần gốc cây Tưới nhỏ giọt đã có từ thời kỳ cổ đại với các bình đất sét đục lỗ cho nước thấm qua hay hệ thống ống dẫn đục lỗ tại Đức (năm 1920) nhưng phải đến năm 1959, nhờ công sức của hai cha con Simcha Blass và Yeshayahu người Israel, phương pháp này mới được hoàn thiện

Hệ thống tưới nhỏ giọt đơn giản bao gồm bồn chứa nước, hệ thống ống dẫn và đầu tưới nhỏ giọt hay dây nhỏ giọt Phần điều khiển tự động bao gồm van điện điều khiển khu vực tưới, bộ lọc, bộ điều khiển số lần và thời gian tưới trong ngày Hệ thống tưới nhỏ giọt có thể kết hợp với bộ châm phân tự động, cung cấp phân bón khi tưới tiêu, cách này được gọi là tưới bón

Đến nay, hệ thống tưới nhỏ giọt là biện pháp tưới tiêu tiết kiệm nước nhất, giảm đến 30-60% nước so với phương pháp tưới truyền thống Nông dân có thể mang nước, phân bón đến đúng địa chỉ với liều lượng vừa đủ dung thong

Trang 28

qua hệ thống van, đường ống, máy bơm và hiện đại hơn là kết nối với hệ thống máy tính kiểm soát Đặc biệt hơn, còn có them đầu cảm ứng cắm vào đất và lắp đặt chung với hệ thống tưới nhỏ giọt Đầu này có thể cảm ứng được

độ ẩm của đất và điều khiển quá trình tưới dựa trên nguyên tắc thông minh của con người "đất khô thì tưới, đất ẩm thì ngưng"

Tưới nhỏ giọt được áp dụng nhiều trong các nông trang, nhà kính và vườn gia đình cũng như thích hợp nhất với các loại cạy như dừa, nho, chuối, cam quýt, dâu tây, mía, bong, ngô, cà chua và một số cây công nghiệp khác

Hệ thống tưới nhỏ giọt đạt yêu cầu, nhất là trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, phải là một hệ thống vận hành một cách tinh tế và "cảm nhận" được sự lớn lên, phát triển từng ngày cho mỗi loại cây trồng, cung cấp nước tưới và phân bón thích hợp nhất để đạt kết quả vụ mùa như mong muốn của nhà nông Các hệ thống tưới nhỏ giọt sẽ được thiết kế, chế tạo dựa trên một nguyên lý chung, thế nhưng mỗi hệ thống đều mang vẻ độc đáo riêng tuỳ thuộc loại cây trồng, thổ nhưỡng, địa hình khi vực, quy mô mà hệ thống tưới… Cùng một nhà sản xuất, nhưng các hệ thống tưới sẽ rất khác nhau về nguồn nước cấp, cột áp nước, đường kính và chiều dài đường ống chính, ống nhánh, khoảng

Trang 29

cách giữa các đầu nhỏ giọt, Tất cả phụ thuộc quy mô, nhu cầu tưới tiêu và sinh trưởng của cây trồng Điều này đòi hỏi nhà sản xuất hệ thống tưới nhỏ giọt phải có kinh nghiệm về chế tạo cơ khí, điện, điện tử, tự động hoá cả lập trình trên máy tính… và còn phải am hiểu sinh lí của cây trồng và các loại phân bón

có thể được sử dụng Có thể nói sản xuất một hệ thống tưới nhỏ giọt tương tự như tạo hoá tạo ra một con người, trên một cơ chế giống nhau, nhưng hàng triệu người thì khác biệt nhau vô cùng

Israel đi đầu trong công nghệ tưới trên thế giới Nói đến hệ thống tưới nhỏ giọt phải kể đến tập đoàn Netafim, Israel nổi tiếng thế giới Công nghệ tưới tiết kiệm nước Israel hiện không chỉ tập trung tại những khu vực ít nguồn nước tự nhiên của các nước phát triển mà đang được mở rộng trên phạm vi toàn cầu Hiện có hơn 110 quốc gia trên thế giới đang sử dụng công nghệ và thiết bị của hãng này Tại Nam Mỹ và Châu Âu, tưới nhỏ giọt đã trở nên phổ biến Tập đoàn Netafim đã nhập hợp đồng cung cấp hệ thống tưới tiêu nhỏ giọt trị giá 22 triệu USD cho dự án trồng mía đường quy mô lớn tại Peru Việc áp dụng hệ thống tưới nhỏ giọt đang trong giai đoạn phát triển ở Châu Á, đặc biệt tại Ấn Độ và Trung Quốc là hai quốc gia có tỷ lệ diện tích được tưới lớn nhất thế giới Tại Iraq, hệ thống tưới nhỏ giọt "made in Israel" chiếm được nhiều cảm tình của nông dân nước này Một số quốc gia Trung Á cũng đang chuyển đổi hệ thống thuỷ lợi tưới dưới thời Liên Xô được thiết kế cho các nông trang lớn sang biện pháp tưới tiêu hiện đại tiết kiệm nước phù hợp với mô hình nông trang nhỏ hơn Có thể nói công nghệ tưới nước tiết kiệm Israel đang dẫn đầu thế giới, nhưng theo dữ liệu sáng chế tiếp cận được thì các sáng chế kiên quan đến tưới nước không thấy xuất hiện nhiều ở Israel Lĩnh vực này trên thế giới

có gần 800 sáng chế (SC), trong đó, Trung Quốc có nhiều SC được đăng ký nhất (445 SC), tiếp đến là Mỹ với 149 SC Sở hữu nhiều SC về hệ thống tưới nhỏ giọt là công ty Xinjiang Tianye (Group) Co.,Ltd (Trung Quốc); T- Systems International, Inc ( Mỹ)

Ngày đăng: 28/09/2017, 16:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm