Những năm qua ngành lâm nghiệp huyện đạt được những thành tựu quan trọng, tuy nhiên bên cạnh những mặt đạt được, ngành lâm nghiệp huyện cũng còn những mặt hạn chế như quá trình bảo vệ và
Trang 1-
NGUYỄN VĂN NGHỊ
XÁC ĐỊNH CƠ SỞ KHOA HỌC PHỤC VỤ CHO
CÔNG TÁC QUY HOẠCH BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG
HUYỆN ĐÀ BẮC - TỈNH HOÀ BÌNH
Chuyên ngành : Lâm học
Mã số : 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN PHÚ HÙNG
HÀ NỘI - 2011
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những thập kỷ qua, vốn rừng của Việt Nam đã bị suy giảm nghiêm trọng do nạn khai thác rừng trái phép, đốt, phát nương làm rẫy làm cho môi trường sinh thái bị hủy hoại, diện tích đất trống đồi núi trọc ngày càng tăng Chính vì vậy, việc quản lý, bảo vệ, khôi phục, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, phấn đấu hạn chế và tiến tới chấm dứt nạn mất rừng, nâng cao độ che phủ của rừng là mục tiêu của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đổi mới
Hiện nay, vai trò của rừng nói riêng hay ngành Lâm nghiệp nói chung không những được đánh giá ở khía cạnh kinh tế thông qua những sản phẩm trước mắt thu được từ rừng mà còn tính đến những lợi ích to lớn về xã hội, môi trường mà rừng và nghề rừng mang lại Sự tác động đến rừng và đất rừng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến nghề rừng và sự phát triển kinh tế - xã hội tại khu vực có rừng mà còn tác động nhiều mặt đến các khu vực phụ cận cũng như nhiều ngành sản xuất khác Do vậy, để sử dụng tài nguyên rừng một cách bền vững và lâu dài, việc xây dựng phương án quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng hợp lý là yêu cầu cấp thiết đối với các nhà quản lý
Huyện Đà Bắc, nằm về phía Tây Bắc tỉnh Hòa Bình, cách thành phố Hòa Bình không xa nhưng gần như tách biệt với các huyện khác trong tỉnh bởi sông Đà ngăn cách, nên phần nào hạn chế giao lưu hàng hóa với các vùng lân cận Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện 77.796,07 ha; Đây là huyện có vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống lưu vực thủy điện hồ Hòa Bình
Những năm qua ngành lâm nghiệp huyện đạt được những thành tựu quan trọng, tuy nhiên bên cạnh những mặt đạt được, ngành lâm nghiệp huyện cũng còn những mặt hạn chế như quá trình bảo vệ và phát triển rừng cũng như trong quản lý sử dụng rừng còn nhiều tồn tại, bất cập: Những diện tích rừng
và đất lâm nghiệp đã được giao, khoán ổn định lâu dài theo quy định của Nhà nước sử dụng kém hiệu quả, năng suất và chất lượng rừng chưa cao, tình trạng
Trang 3khai thác rừng trái phép vẫn diễn ra Công tác quy hoạch phân chia ba loại rừng chưa phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, việc sử dụng rừng chưa đúng mục đích Những tồn tại này làm cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng gặp rất nhiều khó khăn Do vậy, việc lập và triển khai một phương án quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng hợp lý, có cơ sở khoa học sẽ góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống của người dân địa phương, thực hiện xoá đói giảm nghèo và đưa kinh tế - xã hội miền núi phát triển hoà nhập với tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
Xuất phát từ nhận thức và thực tiễn trên, mục tiêu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, áp dụng những kiến thức đã được học, để góp phần bảo
vệ phát triển tài nguyên rừng, ổn định đời sống người dân địa phương cũng như cải thiện điều kiện môi trường sinh thái Tác giả tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu:
“Xác định cơ sở khoa học phục vụ cho công tác quy hoạch bảo vệ
và phát triển rừng huyện Đà Bắc - tỉnh Hoà Bình”
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Quy hoạch nói chung và quy hoạch lâm nghiệp nói riêng là một hoạt động định hướng nhằm sắp xếp, bố trí sử dụng đất một cách hợp lý vào thời điểm hiện tại và phù hợp với mục tiêu trong tương lai Vấn đề quy hoạch sử dụng đất
có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với nền kinh tế xã hội Nếu quy hoạch sử dụng đất hợp lý thì nền kinh tế xã hội sẽ phát triển bền vững, trong điều kiện ngược lại thì sự phát triển của nền kinh tế xã hội sẽ gặp những cản trở, khó khăn Ngày nay, nhu cầu của xã hội về đất ở, đất canh tác, đất xây dựng cơ sở
hạ tầng, nguyên liệu gỗ củi, v.v ngày càng cao, từ đó tạo ra áp lực lớn vào tài nguyên rừng và đất rừng Chính vì vậy, việc quy hoạch sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên đất và tài nguyên rừng cũng như xây dựng nền lâm nghiệp bền vững không còn là trách nhiệm riêng của một quốc gia nào mà là công việc chung của toàn nhân loại
1.1 Trên thế giới
Quy hoạch lâm nghiệp là một bộ phận cấu thành của quy hoạch tổng thể phát triển nông thôn Do đó, công tác quy hoạch lâm nghiệp cần có sự phối hợp chặt chẽ với quy hoạch phát triển nông thôn nhằm tránh sự chồng chéo, hạn chế lẫn nhau giữa các ngành Thực chất của công tác quy hoạch là tổ chức không gian và thời gian phát triển cho một ngành hoặc lĩnh vực sản xuất trong từng giai đoạn cụ thể Mỗi ngành kinh tế muốn tồn tại, phát triển thì nhất thiết phải tiến hành quy hoạch, sắp xếp một cách hợp lý, mà trong đó công tác điều tra cơ bản phục vụ cho quy hoạch phát triển phải được đi trước một bước
Trang 51.1.1 Quy hoạch vùng lãnh thổ
Quy hoạch vùng lãnh thổ tuân theo học thuyết Mác - Lê Nin về phân bố
và phát triển lực lượng sản xuất theo lãnh thổ và sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng
- Các Mác và Ăng Ghen đã chỉ ra “Mức độ phát triển lực lượng sản xuất
của một dân tộc thể hiện rõ nét hơn hết ở sự phân công lao động của dân tộc
đó được phát triển đến mức độ nào”
- Lê Nin đã chỉ ra “Sự nghiên cứu tổng hợp tất cả các đặc điểm tự nhiên
kinh tế xã hội của mỗi vùng là nguyên tắc quan trọng để phân bố sản xuất”
Vì vậy, nghiên cứu các đặc điểm đặc trưng cho sự phân bố lực lượng sản xuất cho một vùng trong quá khứ và hiện tại để xác định khả năng tiềm tàng và
tương lai phát triển của vùng đó
Dựa trên học thuyết của Mác và Ăng Ghen, V.I Lê Nin đã nghiên cứu các hướng cụ thể về kế hoạch hóa phát triển lực lượng sản xuất trong xã hội chủ nghĩa Sự phân bố lực lượng sản xuất được xác định theo các nguyên tắc sau:
- Phân bố lực lượng sản xuất có kế hoạch trên toàn bộ lãnh thổ của đất nước, tỉnh, huyện nhằm thu hút các nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động của tất cả các vùng và quá trình tái sản xuất mở rộng
- Đưa các xí nghiệp, công nghiệp đến gần nguồn tài nguyên để hạn chế chi phí vận chuyển
- Kết hợp tốt lợi ích Nhà nước và nhu cầu kinh tế của từng tỉnh, vùng
- Tăng cường toàn diện tiềm lực kinh tế…
- Kết hợp chặt chẽ các ngành kinh tế từng vùng, từng huyện nhằm nâng cao năng suất lao động và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên
1.1.1.1 Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Bungari
a Mục đích
- Sử dụng hiệu quả nhất lãnh thổ của đất nước
Trang 6- Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên phải bảo vệ
- Lãnh thổ thiên nhiên không có vùng nông thôn, sự tác động của con người vào đây rất ít
- Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên có mạng lưới nông thôn, ít có sự can thiệp của con người, thuận lợi cho kinh doanh về du lịch
- Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp có mạng lưới nông thôn và có sự can thiệp của con người, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
- Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp không có mạng lưới nông thôn nhưng có sự tác động của con người
- Lãnh thổ là môi trường công nghiệp với sự can thiệp tích cực của con người
b Nội dung của quy hoạch
- Cụ thể hóa, chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp
- Phối hợp giữa sản xuất công nghiệp và sản xuất nông nghiệp theo ngành dọc
- Xây dựng các mạng lưới công trình phục vụ công cộng và sản xuất
- Tổ chức đúng đắn mạng lưới khu dân cư và phục vụ công cộng liên hợp trong phạm vi hệ thống nông thôn
- Bảo vệ môi trường thiên nhiên, tạo điều kiện tốt cho nhân dân lao động, sinh hoạt
1.1.1.2 Quy hoạch vùng lãnh thổ của Thái Lan
Công tác quy hoạch vùng lãnh thổ được chú ý từ những năm 1970 Hệ thống quy hoạch được tiến hành theo 3 cấp: (Quốc gia, vùng, địa phương)
* Vùng (Region) được coi như là một á miền (Supdivision) của đất nước,
đó là điều cần thiết để phân chia Quốc gia thành các á miền theo các phương diện khác nhau như: phân bố dân cư, địa hình, khí hậu…
- Quy mô diện tích của vùng phụ thuộc vào diện tích của đất nước
Trang 7- Quy hoạch phát triển vùng tiến hành ở cấp á miền được xây dựng theo
1.1.2 Quy hoạch vùng nông nghiệp
- Quy hoạch vùng nông nghiệp là một biện pháp tổng hợp của Nhà nước về phân bố và phát triển lực lượng sản xuất trên lãnh thổ các vùng hành chính, nông nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về phát triển tất cả các ngành kinh tế trong vùng
- Quy hoạch vùng nông nghiệp là giai đoạn kết thúc của kế hoạch hóa tương lai của Nhà nước một cách chi tiết sự phát triển và phân bố lực lượng sản xuất theo lãnh thổ của các vùng là biện pháp xác định các xí nghiệp chuyên môn hóa một cách hợp lý Là biện pháp sử dụng đất đai, lợi dụng các yếu tố tự nhiên, áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật…
- Vùng hành chính là đối tượng quy hoạch vùng nông nghiệp, đồng thời cũng là vùng lãnh thổ mà ở đó có các điều kiện kinh tế, vùng tổ chức lãnh thổ thuận lợi cho việc phát triển tất cả các ngành kinh tế - quốc dân
1.1.3 Quy hoạch vùng lâm nghiệp
- Sự phát triển của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển kinh tế
Tư bản chủ nghĩa Do công nghiệp và giao thông vận tải phát triển, nên nhu cầu khối lượng gỗ ngày càng tăng Sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa phương của chế độ phong kiến và bước vào thời đại kinh tế hàng hoá Tư bản chủ nghĩa Thực tế sản xuất lâm nghiệp đã không còn bó hẹp trong việc sản xuất gỗ đơn thuần mà cần phải có ngay những lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo thu
Trang 8hoạch lợi nhuận lâu dài cho các chủ rừng Chính hệ thống hoàn chỉnh về lý luận quy hoạch lâm nghiệp đã được hình thành trong hoàn cảnh như vậy
- Đầu thế kỷ 18, phạm vi quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ giải quyết việc
“Khoanh khu chặt luân chuyển”, có nghĩa đem trữ lượng hoặc diện tích tài
nguyên rừng chia đều cho từng năm của chu kỳ khai thác và tiến hành khoanh khu chặt luân chuyển theo trữ lượng hoặc diện tích Phương thức này phục vụ cho phương thức kinh doanh rừng chồi, chu kỳ khai thác ngắn
- Sau Cách mạng công nghiệp, vào thế kỷ 19 Phương thức kinh doanh rừng chồi được thay bằng Phương thức kinh doanh rừng hạt với chu kỳ khai thác dài
Và phương thức “Khoanh khu chặt luân chuyển” nhường chỗ cho phương thức
“Chia đều” của Hartig Hartig đã chia đều chu kỳ khai thác thành nhiều thời kỳ lợi dụng và trên cơ sở đó khống chế lượng chặt hàng năm Đến năm 1816, xuất hiện Phương thức luân kỳ lợi dụng của H Cotta, Cotta chia chu kỳ khai thác thành 20 thời kỳ lợi dụng và cũng lấy đó để khống chế lượng chặt hàng năm
- Sau đó phương pháp “Bình quân thu hoạch” ra đời, quan điểm phương
pháp này là giữ đều mức thu hoạch trong chu kỳ khai thác hiện tại, đồng thời vẫn đảm bảo thu hoạch được liên tục trong chu kỳ sau Và đến cuối thế kỷ 19, xuất
hiện phương pháp “Lâm phần kinh tế” của Judeich Phương pháp này khác với phương pháp “Bình quân thu hoạch” về căn bản, Judeich cho rằng những lâm
phần nào đảm bảo thu hoạch được nhiều tiền nhất sẽ được đưa vào diện khai
thác Hai phương pháp “Bình quân thu hoạch” và “Lâm phần kinh tế” chính là
tiền đề của hai phương pháp tổ chức kinh doanh và tổ chức rừng khác nhau
- Phương pháp “Bình quân thu hoạch” và sau này là phương pháp “Cấp
tuổi” chịu ảnh hưởng của “Lý luận rừng tiêu chuẩn”, có nghĩa là rừng phải có
kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng như về diện tích, trữ lượng, vị trí và đưa các cấp tuổi cao vào diện tích khai thác Hiện nay, phương pháp kinh doanh rừng này được dùng phổ biến ở các nước có tài nguyên rừng phong phú Còn
Trang 9phương pháp “Lâm phần kinh tế” và hiện nay là phương pháp “Lâm phần”
không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần tiến hành phân tích, xác định sản lượng và biện pháp kinh doanh Cũng từ
phương pháp này, còn phát triển thành “Phương pháp kinh doanh lô” và
“Phương pháp kiểm tra”
1.2 Ở Việt Nam
1.2.1 Quy hoạch vùng chuyên canh
Trong quá trình xây dựng nền kinh tế, đã quy hoạch các vùng chuyên canh lúa ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, các vùng rau thực phẩm cho các thành phố lớn, các vùng cây công nghiệp ngắn ngày (hàng năm): Vùng bông Thuận Hải, vùng đay Hưng Yên, vùng thuốc lá Quảng An - Cao Bằng, Ba vì - Hà Tây, Hữu Lũng - Lạng Sơn, Nho Quan – Ninh Bình, vùng mía Vạn Điểm, Việt Trì, Sông Lam, Quảng Ngãi Các vùng cây công nghiệp dài ngày (lâu năm): Vùng cao su Sông Bé, Đồng Nai, Buôn Hồ - Đắc Lắc, Chư Pả - Gia Lai Kon Tum, vùng cà phê Krông Búc, Krông Bách - Đắc Lắc, Chư Pả, Ninh Đức - Gia Lai Kon Tum (hợp tác với Liên Xô trước đây, Cộng hoà dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Bungari), vùng chè ở Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Thái Nguyên, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang, Lâm Đồng, Gia Lai Kom Tum, vùng dâu tằm Bảo Lộc - Lâm Đồng
1.2.1.1 Quy hoạch vùng chuyên canh đã có tác dụng:
- Xác định phương hướng sản xuất, chỉ ra những vùng chuyên môn hoá
Trang 10- Cơ sở để xây dựng kế hoạch phát triển nghiên cứu tổ chức quản lý kinh doanh theo ngành và theo lãnh thổ
Quy hoạch vùng chuyên canh đã thực hiện nhiệm vụ chủ yếu là bố trí cơ cấu cây trồng được chọn với quy mô và chế độ canh tác hợp lý, theo hướng tập trung để ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao năng xuất, sản lượng và chất lượng sản phẩm cây trồng đồng thời phân bố các chỉ tiêu nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ sở sản xuất, làm cơ sở cho công tác quy hoạch, kế hoạch của các cơ sở sản xuất
1.2.1.2 Quy hoạch vùng chuyên canh có các nội dung chủ yếu sau:
- Xác định quy mô, ranh giới vùng
- Xác định phương hướng, chỉ tiêu nhiệm vụ sản xuất
- Ước tính đầu tư và hiệu quả kinh tế
- Dự kiến tiến độ thực hiện quy hoạch
1.2.2 Quy hoạch nông nghiệp huyện
1.2.2.1 Nhiệm vụ chủ yếu của quy hoạch nông nghiệp huyện:
(1) Trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện căn cứ vào
dự án phát triển, phân bố lực lượng sản xuất và phân vùng nông nghiệp tỉnh hoặc thành phố đã được phê duyệt, xác định phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu phát triển nông nghiệp và xây dựng các biện pháp nhằm thực hiện được các mục tiêu đó theo hướng chuyên môn hoá tập trung hoá kết hợp phát triển tổng hợp nhằm thực hiện 3 mục tiêu nông nghiệp là giải quyết lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp và nông sản xuất khẩu ổn định
Trang 11(2) Hoàn thiện phân bổ sử dụng đất đai cho các đối tượng sử dụng đất nhằm sử dụng đất đai được hiệu quả cao, đồng thời bảo vệ và nâng cao được
độ phì nhiêu của đất
(3) Tạo điều kiện để ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp (4) Tính vốn đầu tư cơ bản và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp theo quy hoạch
1.2.2.2 Nội dung chủ yếu của quy hoạch nông nghiệp huyện:
- Xác định phương hướng và mục tiêu phát triển nông nghiệp
- Bố trí sử dụng đất đai
- Xác định cơ cấu và quy mô sản xuất nông nghiệp (phân chia và tính toán quy mô các vùng sản xuất chuyên môn hoá, xác định vùng sản xuất thâm canh cao sản, các tổ chức liên kết nông - công nghiệp, các cở sở dịch vụ nông nghiệp, bố trí trồng trọt, bố trí chăn nuôi)
- Tổ chức các cơ sở sản xuất nông nghiệp
- Tổ chức công nghiệp chế biến nông sản và tiểu thủ công nghiệp trong nông nghiệp
- Giải quyết mối quan hệ giữa các ngành sản xuất có liên quan trong và ngoài nông nghiệp
- Bố trí cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ nông nghiệp (thuỷ lợi, giao thông, cơ khí điện, cơ sở dịch vụ thương nghiệp)
- Tổ chức sử dụng lao động nông nghiệp, phân bố các điểm dân cư nông thôn
- Những cân đối chính trong sản xuất nông nghiệp (lương thực, thực phẩm), thức ăn gia súc, phân bón, vật tư kỹ thuật nông nghiệp, nguyên liệu cho các xí nghiệp chế biến
- Tổ chức các cụm kinh tế xã hội
- Bảo vệ môi trường
- Vốn đầu tư cơ bản
Trang 12- Hiệu quả sản xuất và tiến độ thực hiện quy hoạch
Đối tượng của quy hoạch nông nghiệp huyện là toàn bộ đất đai, ranh giới hành chính huyện
1.2.3 Quy hoạch lâm nghiệp
Quy hoạch lâm nghiệp là tiến hành phân chia, sắp xếp hợp lý về mặt không gian tài nguyên rừng và bố trí cân đối các hạng mục sản xuất kinh doanh theo các cấp quản lý lãnh thổ và các cấp quản lý sản xuất khác nhau, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch cho sản xuất kinh doanh lâm nghiệp đáp ứng nhu cầu lâm sản cho nền kinh tế quốc dân, cho kinh tế địa phương, đồng thời phát huy những tác dụng có lợi khác của rừng
Quy hoạch lâm nghiệp áp dụng ở nước ta ngay từ thời kỳ Pháp thuộc Như việc xây dựng phương án điều chế rừng chồi, sản xuất củi Điều chế rừng Thông theo phương pháp hạt đều
Đến năm 1955-1957, tiến hành sơ thám và mô tả ước lượng tài nguyên rừng Năm 1958-1959 tiến hành thống kê trữ lượng rừng miền Bắc Mãi đến năm 1960 - 1964, công tác quy hoạch lâm nghiệp mới áp dụng miền Bắc Từ năm 1965 đến nay, lực lượng quy hoạch lâm nghiệp ngày càng được tăng cường
và mở rộng Viện điều tra quy hoạch rừng kết hợp chặt chẽ với lực lượng điều tra quy hoạch của các địa phương (nay Sở Nông nghiệp & PTNT) không ngừng cải tiến phương pháp điều tra, quy hoạch lâm nghiệp của các nước ngoài cho phù hợp với trình độ và điều kiện tài nguyên rừng ở nước ta Tuy nhiên, so với lịch
sử phát triển của các nước khác thì quy hoạch lâm nghiệp nước ta hình thành
và phát triển muộn hơn nhiều Vì vậy, những nghiên cứu cơ bản về kinh tế, xã hội, kỹ thuật và tài nguyên rừng làm cơ sở cho công tác này ở nước ta đang trong giai đoạn vừa tiến hành vừa nghiên cứu áp dụng
Theo chiến lược phát triển lâm nghiệp Quốc gia giai đoạn 2006 - 2020,
một trong những tồn tại mà Bộ Nông nghiệp và PTNT đánh giá là “Công tác
quy hoạch nhất là quy hoạch dài hạn còn yếu và chậm đổi mới, chưa kết hợp
Trang 13chặt chẽ với quy hoạch của các ngành khác, còn mang nặng tính bao cấp và thiếu tính khả thi Chưa quy hoạch 3 loại rừng hợp lý và chưa thiết lập được lâm phần ổn định trên thực địa ” [22] Đây cũng là nhiệm vụ đặt ra ngày
càng được hoàn thiện đối với ngành lâm nghiệp
1.2.3.1 Đặc thù của công tác quy hoạch lâm nghiệp
- Địa bàn quy hoạch lâm nghiệp rất đa dạng, phức tạp (bao gồm cả vùng ven biển, trung du, núi cao và biên giới, hải đảo), thường có địa hình cao, dốc, chia cắt phức tạp, giao thông đi lại khó khăn và có nhiều ngành kinh tế hoạt động
- Là địa bàn cư trú của đồng bào các dân tộc ít người, trình độ dân trí thấp, kinh tế xã hội chậm phát triển, đời sống vật chất và tinh thần còn gặp nhiều khó khăn Đối tượng của công tác quy hoạch lâm nghiệp là rừng và đất lâm nghiệp, từ bao đời nay là “của chung” của đồng bào các dân tộc, nhưng thực chất là vô chủ
- Cây lâm nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài (ngắn 8-10 năm, dài 40-100 năm) Người dân chỉ tự giác bỏ vốn tham gia trồng rừng nếu biết chắc chắn sẽ có lợi
- Mục tiêu của quy hoạch lâm nghiệp cũng rất đa dạng: Quy hoạch rừng phòng hộ (phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng hộ môi trường); Quy hoạch rừng đặc dụng (các vườn Quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu di tích văn hoá - lịch sử - danh thắng) và quy hoạch phát triển các loại rừng sản xuất
- Quy mô của công tác quy hoạch lâm nghiệp bao gồm cả tầm vĩ mô và
vi mô: Quy hoạch toàn quốc, từng vùng lãnh thổ, từng tỉnh, huyện, xí nghiệp, lâm trường, quy hoạch phát triển lâm nghiệp xã và làng lâm nghiệp
- Lực lượng tham gia làm công tác quy hoạch lâm nghiệp thường luôn phải lưu động, điều kiện sinh hoạt khó khăn, cơ sở vật chất thiếu thốn về mọi mặt Đội ngũ cán bộ xây dựng phương án quy hoạch cũng rất đa dạng, bao gồm cả lực lượng của Trung ương và địa phương, thậm chí các ngành khác cũng tham gia làm quy hoạch lâm nghiệp (nông nghiệp, công an, quân đội ); Trong đó, có một bộ phận được đào tạo bài bản qua các trường lớp, song phần lớn chỉ dựa vào kinh nghiệm hoạt động lâu năm trong ngành lâm nghiệp
Trang 14* Những yêu cầu của công tác quy hoạch lâm nghiệp phục vụ chuyển đổi
cơ cấu nông nghiệp nông thôn
Công tác quy hoạch lâm nghiệp được triển khai dựa trên những chủ trương, chính sách và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước và chính quyền các cấp trên từng địa bàn cụ thể Với mỗi phương án quy hoạch lâm nghiệp phải đạt được:
- Hoạch định rõ ranh giới đất nông nghiệp - đất lâm nghiệp và đất do các ngành khác sử dụng; Trong đó, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp được quan tâm hàng đầu vì là hai ngành chính sử dụng đất đai
- Trên phần đất lâm nghiệp đã được xác định, tiến hành hoạch định 3 loại rừng (phòng hộ, đặc dụng và sản xuất) Từ đó xác định các giải pháp lâm sinh thích hợp với từng loại rừng và đất rừng (bảo vệ, làm giàu rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng, trồng rừng mới, nuôi dưỡng rừng, nông lâm kết hợp khai thác lợi dụng rừng)
- Tính toán nhu cầu đầu tư (chủ yếu nhu cầu lao động, vật tư thiết bị và nhu cầu vốn) Vì là phương án quy hoạch nên việc tính toán nhu cầu đầu tư chỉ mang tính khái quát, phục vụ cho việc lập kế hoạch sản xuất ở những bước tiếp theo
- Xác định một số giải pháp đảm bảo thực hiện những nội dung quy hoạch (giải pháp lâm sinh, khoa học công nghệ, cơ chế chính sách, giải pháp
về vốn, lao động )
- Đổi mới một số phương án quy hoạch có quy mô lớn (cấp toàn quốc, vùng, tỉnh) còn đề xuất các chương trình, dự án cần ưu tiên để triển khai bước tiếp theo là lập dự án đầu tư hoặc báo cáo nghiên cứu khả thi
1.2.3.2 Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp
a Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý SXKD
Trang 15Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý SXKD bao gồm: Quy hoạch tổng công ty lâm nghiệp, công ty lâm nghiệp; Quy hoạch lâm trường; Quy hoạch lâm nghiệp cho các đối tượng khác (quy hoạch cho các khu rừng phòng
hộ Quy hoạch các khu rừng đặc dụng và quy hoạch phát triển sản xuất lâm nông nghiệp cho các cộng đồng làng bản và trang trại lâm nghiệp hộ gia đình) Các nội dung quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản xuất kinh doanh là khác nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi đơn vị và thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất lâm nghiệp mà lựa chọn các nội dung quy hoạch cho phù hợp
b Quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý lãnh thổ
Ở nước ta, các cấp quản lý lãnh thổ bao gồm các đơn vị quản lý hành chính: Từ toàn quốc tới tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương), huyện (thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, quận) và xã (phường) Để phát triển, mỗi đơn vị đều phải xây dựng phương án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển các ngành sản xuất và quy hoạch dân cư, phát triển xã hội…
Ở những đối tượng có tiềm năng phát triển lâm nghiệp thì quy hoạch lâm nghiệp là một vấn đề quan trọng, làm cơ sở cho việc phát triển sản xuất nghề rừng nói riêng và góp phần phát triển kinh tế - xã hội nói chung trên địa bàn
Quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc
Quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc là quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp trên phạm vi lãnh thổ quốc gia nhằm giải quyết một số vấn đề cơ bản, bao gồm: Xác định phương hướng nhiệm vụ chiến lược phát triển lâm nghiệp toàn quốc Quy hoạch đất đai tài nguyên rừng theo các chức năng (sản xuất, phòng hộ và đặc dụng) Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển tài nguyên rừng hiện có Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm tái sinh tự nhiên và trồng rừng), thực hiện nông lâm kết hợp Quy hoạch lợi dụng rừng, chế biến lâm sản gắn với thị trường tiêu thụ Quy hoạch tổ chức sản xuất, phát triển
Trang 16nghề rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải Xác định tiến độ thực hiện
Do đặc thù khác với những ngành kinh tế khác, cho nên thời hạn quy hoạch lâm nghiệp thường được thực hiện trong thời gian 10 năm và các nội dung quy hoạch được thực hiện tuỳ theo các vùng kinh tế lâm nghiệp
Quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh
Quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh giải quyết những vấn đề: Xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp trong phạm vi tỉnh căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, căn cứ quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc đồng thời căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Tiến hành quy hoạch đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh theo ba chức năng: Rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, căn cứ vào điều kiện đất đai tài nguyên rừng, đồng thời căn cứ vào nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển tài nguyên rừng hiện có Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm tái sinh tự nhiên và trồng rừng), thực hiện nông lâm kết hợp Quy hoạch lợi dụng rừng, chế biến lâm sản gắn với thị trường tiêu thụ Quy hoạch tổ chức sản xuất, phát triển nghề rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải Xác định tiến độ thực hiện
Quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện
Quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện về cơ bản các nội dung quy hoạch lâm nghiệp cũng tương tự như quy hoạch lâm nghiệp tỉnh, tuy nhiên nó được thực hiện cụ thể, chi tiết hơn và được tiến hành trên phạm vi địa bàn huyện Quy hoạch lâm nghiệp huyện đề cập giải quyết các vấn đề sau:
- Căn cứ vào phương hướng, nhiệm vụ phát triển tổng thể kinh tế - xã hội của huyện
Trang 17- Căn cứ vào phương án phát triển lâm nghiệp của tỉnh và điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội, đặc biệt là điều kiện tài nguyên rừng của huyện để xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển trên địa bàn huyện
- Căn cứ phương hướng phát triển lâm nghiệp huyện và điều kiện đất đai tài nguyên rừng, nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác Tiến hành quy hoạch đất lâm nghiệp trong huyện theo 3 chức năng: Phòng hộ, đặc dụng và sản xuất
- Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng tài nguyên rừng hiện có
- Quy hoạch các biện pháp tái sinh rừng: Trồng rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên Quy hoạch thực hiện nông lâm kết hợp và sản xuất hỗ trợ trên đất lâm nghiệp
- Quy hoạch khai thác lợi dụng lâm đặc sản, chế biến lâm sản gắn liền với thị trường tiêu thụ
- Quy hoạch tổ chức sản xuất lâm nghiệp, quy hoạch đất lâm nghiệp cho các thành phần kinh tế trong huyện, tổ chức phát triển lâm nghiệp xã hội
- Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải
- Xác định tiến độ thực hiện
Thời gian quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện thường là 10 năm Các nội dung quy hoạch lâm nghiệp cũng cần phải phù hợp với phương hướng phát triển kinh tế - xã hội chung của từng tiểu vùng trong huyện
Quy hoạch lâm nghiệp cấp xã
Xã là đơn vị hành chính nhỏ nhất, là đơn vị cơ bản quản lý và tổ chức sản xuất lâm nghiệp trong các thành phần kinh tế tập thể và tư nhân Quy hoạch lâm nghiệp xã thường tiến hành các nội dung sau:
- Điều tra các điều kiện cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất lâm nghiệp như: Điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện tài nguyên rừng Căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, căn cứ vào quy
Trang 18hoạch cấp huyện và các điều kiện cơ bản của xã, xác định phương hướng nhiệm vụ phát riển lâm nghiệp trên địa bàn xã
- Quy hoạch đất đai trong xã theo ngành và theo đơn vị sử dụng Xác định rõ mối quan hệ giữa các ngành sử dụng đất đai trên địa bàn xã Căn cứ vào phương hướng phát triển, các điều kiện về nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác (nếu có) phân chia đất lâm nghiệp theo ba chức năng sử dụng: Sản xuất, phòng hộ, đặc dụng
- Quy hoạch các nội dung sản xuất kinh doanh lợi dụng rừng, bố trí không gian, tổ chức các biện pháp kinh doanh lợi dụng rừng: bảo vệ và nuôi dưỡng rừng hiện có, trồng rừng và tái sinh phục hồi rừng, nông lâm kết hợp, khai thác, chế biến các loại lâm sản, đặc sản phục vụ nhu cầu của địa phương
và thị trường, quy hoạch các nội dung sản xuất hỗ trợ
- Quy hoạch tổ chức sản xuất lâm nghiệp cho các thành phần kinh tế trong xã gắn với phát triển lâm nghiệp xã hội
- Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, các công trình phục vụ sản xuất và đời sống Ước tính đầu tư và hiệu quả: ước tính đầu tư lao động tiền vốn, vật tư thiết bị Hiệu quả đầu tư cần được đánh giá đầy đủ trên các mặt kinh tế - xã hội, môi trường Xác định tiến độ thực hiện
Về cơ bản nội dung quy hoạch lâm nghiệp cho các cấp quản lý lãnh thổ
từ toàn quốc đến tỉnh, huyện, xã là tương tự như nhau Tuy nhiên mức độ giải quyết khác nhau về chiều sâu và chiều rộng tuỳ theo các cấp
1.2.3.3 Các văn bản chính sách Nhà nước liên quan đến quy hoạch lâm nghiệp
- Hiến pháp của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
nêu: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp
luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và hiệu quả Nhà nước giao đất cho các
tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”
Trang 19- Luật Đất đai năm 2003 quy định rõ 3 loại đất (đất nông nghiệp; đất phi nông nghiệp; đất chưa sử dụng) và 6 quyền sử dụng (được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước về bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp; được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp; được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền
sử dụng đất hợp pháp của mình; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi
vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai) [9]
- Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 phân định rõ 3 loại rừng (rừng phòng hộ; rừng đặc dụng; rừng sản xuất) làm cơ sở cho quy hoạch lâm nghiệp [11]
- Quy chế quản lý rừng năm 2006 quy định về việc tổ chức quản lý, bảo
vệ, phát triển và sử dụng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất, bao gồm diện tích có rừng và diện tích không có rừng đã được Nhà nước giao, cho thuê hoặc quy hoạch cho lâm nghiệp [20]
- Quyết định số 61/2005/QĐ - BNN, ngày 12/10/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành bản quy định về tiêu chí phân cấp rừng phòng hộ;
- Quyết định số 62/2005/QĐ – BNN, ngày 12/10/2005 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc ban hành bản quy định về tiêu chí phân cấp rừng đặc dụng;
- Chỉ thị số 38/CT - TTg ngày 05/12/2005 của Thủ tướng chính phủ về việc rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng;
Trang 20- Thông tư số 05/2008/TT-BNN, ngày 14/01/2008 của Bộ Nông nghiệp
và phát triển nông thôn về việc hướng dẫn lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng;
Từ trước tới nay, công tác quy hoạch lâm nghiệp đã được triển khai trên toàn quốc ở nhiều cấp độ, quy mô khác nhau phục vụ cho mục tiêu phát triển ngành Song căn cứ vào yêu cầu, trong mỗi giai đoạn cụ thể, trong từng thời điểm, căn cứ vào nguồn vốn được cấp và yêu cầu mức độ kỹ thuật khác nhau
mà nội dung các phương án quy hoạch, dự án đầu tư cũng được điều chỉnh cho phù hợp
Trang 21Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Xác định cơ sở khoa học phục vụ cho công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Phân tích điều kiện cơ bản ảnh hưởng đến phát triển lâm nghiệp huyện
- Đánh giá tình hình sản xuất Lâm nghiệp và dự báo nhu cầu lâm sản
- Xác định được định hướng, nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp huyện
- Đề xuất các nội dung cơ bản cho quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng
- Phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của phương án quy hoạch
- Đề xuất giải pháp thực hiện
- Đề xuất, kiến nghị liên quan đến công tác Quy hoạch bảo vệ phát triển rừng tại địa phương
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Rừng và đất lâm nghiệp của huyện Đà Bắc - tỉnh Hoà Bình
- Phạm vi nghiên cứu: Toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp thuộc huyện Đà Bắc- tỉnh Hoà Bình
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên, đề tài tiến hành triển khai nghiên cứu các nội dung cụ thể sau:
Trang 222.3.1 Các cơ sở lý luận và thực tiễn quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Đà Bắc
2.3.1.1 Cơ sở pháp lý
Tập hợp các văn bản luật, văn bản dưới luật và các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương có liên quan đến quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng
2.3.1.2 Phân tích điều kiện kinh tế - xã hội
Phân tích thực trạng phát triển kinh tế xã hội, vấn đề phát triển kinh tế -
xã hội và tình hình sử dụng đất lâm nghiệp của huyện Đà Bắc
2.3.1.3 Đánh giá chung về hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp của huyện
và dự báo nhu cầu phát triển trong giai đoạn sắp tới
Đánh giá hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp theo đơn vị chủ quản lý,
đánh giá hiệu quả hoạt động lâm nghiệp của huyện và dự báo các chỉ tiêu
2.3.1.4 Định hướng và nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp huyện Đà Bắc đến năm 2020
2.3.2 Đề xuất các nội dung cơ bản của quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Đà Bắc
2.3.2.1 Định hướng chung phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phân bố
sử dụng đất lâm nghiệp huyện Đà Bắc
2.3.2.2 Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Đà Bắc
2.3.2.3 Quy hoạch các biện pháp kinh doanh lợi dụng rừng theo chức năng (PH, ĐD, SX)
- Quy hoạch biện pháp kinh doanh, lợi dụng tổng hợp rừng
- Quy hoạch phát triển công nghệ chế biến lâm sản
2.3.2.4 Đề xuất một số giải pháp thực hiện quy hoạch
- Giải pháp về quản lý bảo vệ, sử dụng tài nguyên rừng
- Những kiến nghị và đề xuất liên quan đến công tác quy hoạch lâm nghiệp tại địa phương
Trang 232.3.2.5 Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội và môi trường của phương
án quy hoạch
2.3.2.6 Xây dựng đề xuất tiến độ thực hiện quy hoạch rừng theo giai đoạn
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
2.4.1.1 Những thông tin cần thu thập
- Các thông tin liên quan đến các điều kiện tự nhiên như:
+ Vị trí địa lý
+ Đặc điểm điều kiện khí hậu thủy văn
+ Điều kiện địa hình
+ Điều kiện đất đai, thổ nhưỡng
+ Hiện trạng sử dụng tài nguyên đất đai tài nguyên rừng
- Các thông tin về điều kiện kinnh tế xã hội như:
+ Dân số, mật độ dân số
+ Cơ cấu lao động, tập quán canh tác
+ Cơ sở hạ tầng (Y tế, giáo dục, giao thông, thuỷ lợi )
+ Thực trạng sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện
+ Những kết quả thực hiện từ trước đến nay
2.4.1.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Sử dụng phương pháp kế thừa có chọn lọc các nguồn tài liệu từ các cơ quan chuyên ngành như: Chi cục kiểm lâm, Chi cục lâm nghiệp, Uỷ ban nhân dân huyện Đà Bắc, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện, Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện, Hạt kiểm lâm huyện và một số cơ quan hữu quan khác, bao gồm:
+ Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hoà Bình + Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Đà Bắc
Trang 24+ Báo cáo kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Hoà Bình giai đoạn
2006 -2010, định hướng đến năm 2015
+ Báo cáo quy hoạch sử dụng đất đai huyện Đà Bắc
+ Báo cáo quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp huyện Đà Bắc
+ Một số hoạt động sản xuất kinh doanh lâm nghiệp trên địa bàn huyện, các tài liệu, văn bản về chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như các chính sách của địa phương, các ngành có liên quan đến ngành lâm nghiệp
+ Các chương trình, công trình điều tra cơ bản về tài nguyên rừng, động vật rừng, tài nguyên đất, khí hậu như chương trình 5 triệu ha rừng
2.4.1.3 Khai thác, sử dụng các loại bản đồ
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất
- Bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng
2.4.1.4 Sử dụng phương pháp khảo sát thực địa, bổ sung, kiểm tra thông tin
- Trên cơ sở số liệu và bản đồ kết quả rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng,
số liệu và bản đồ hiện trạng rừng từ ảnh Spot 5 và bản đồ hiện trạng mới nhất của huyện, tiến hành kiểm tra, đánh giá hiện trạng rừng và sử dụng đất bằng cách chồng xếp và bổ sung các lô rừng mới trồng đến năm 2010 đảm bảo độ chính xác cho phép, đề xuất sử dụng tài liệu hiện có Nếu xã nào có sự sai khác lớn về diện tích rừng, đất trống sẽ tiến hành kiểm chứng thực địa để bổ sung diện tích rừng và đất trống có khả năng trồng rừng nhằm đề xuất các giải pháp lâm sinh hợp lý
- Thu thập số liệu ở các công ty, ban quản lý lâm nghiệp trong huyện và các xã có đất lâm nghiệp của huyện Đà Bắc- tỉnh Hoà Bình về các hoạt động sản xuất kinh doanh lâm nghiệp
- Khảo sát thực địa, cập nhật, bổ sung hiện trạng rừng, đặc biệt đối với diện tích rừng trồng từ năm 2007-2010 Kiểm chứng kết quả quy hoạch 3 loại rừng, điều chỉnh những bất hợp lý trong quá trình thực thi
Trang 25- Xác định được diện tích, trữ lượng các trạng thái rừng và diện tích đất trống làm cơ sở đưa ra biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý nhằm đáp ứng các mục tiêu kinh doanh
+ Xác định hiện trạng đất trống có khả năng trồng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất
+ Xác định hiện trạng rừng tự nhiên nghèo kiệt thuộc rừng sản xuất cần cải tạo, làm giàu rừng
+ Xác định hiện trạng rừng trồng kém chất lượng cần cải tạo
- Thu thập cây trồng phân tán tại các cơ quan trong huyện (Hạt kiểm lâm, ban quản lý dự án )
- Về trữ lượng rừng: Kế thừa các chỉ tiêu điều tra bình quân của các trạng thái rừng (rừng tự nhiên, rừng trồng) trong báo cáo quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Hòa Bình, giai đoạn 2010-2020
- Tính toán diện tích, thống kê xây dựng các loại biểu theo phương pháp chuyên gia có sự hỗ trợ của máy tính
+ Tài liệu trung gian được thống kê từ xã lên huyện
+ Tài liệu thành quả: Tổng hợp theo mẫu biểu quy định
- Xây dựng bản đồ hiện trạng rừng và sử dụng đất theo phương pháp chuyên gia có sự hỗ trợ của phần mềm chuyên dụng như: Mapinfor; Microstation và Microsoft Excel
2.4.2 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
2.4.2.1 Xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel, soạn thảo trình bày văn bản bằng Microsoft Word
2.4.2.2 Xây dựng các loại bản đồ của huyện Đà Bắc
- Bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng
- Bản đồ quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Đà Bắc
- Sử dụng phần mềm Mapinfo và Microstation
Trang 26Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Các cơ sở lý luận và thực tiễn quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Đà Bắc
- Quyết định số 245/1998/QĐ-TTg ngày 21/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp;
- Quyết định số 661/TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện trồng mới 5 triệu ha rừng;
- Quyết định số 61/2005/QĐ-BNN ngày 12/10/2005 về việc ban hành bản quy định về tiêu chí phân cấp rừng phòng hộ;
- Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg ngày 05/12/2005của Thủ tướng Chính phủ về việc rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất);
- Quyết định 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 về việc ban hành quy chế quản lý rừng;
- Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020;
- Quyết định số 100/2007/QĐ-TTg ngày 06/7/2007 về việc sửa đổi một
số điều của Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 về mục tiêu, nhiệm
vụ ,chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng;
Trang 27- Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg ngày 10/9/2007 về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007-2015;
- Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/ 11/2004 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Thông tư số 05/2008/TT-BNN ngày 14/01/2008 của Bộ Nông nghiệp
và PTNT Hướng dẫn lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng;
- Thông tư số 24/2009/TT-BNN ngày 05/5/2009 của Bộ Nông nghiệp và PTNT Ban hành để hướng dẫn chuyển đổi rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được quy hoạch sang rừng sản xuất và ngược lại từ rừng sản xuất được quy hoạch thành rừng phòng hộ, đặc dụng sau rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng theo chỉ thị số 38/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ;
- Quyết định số: 60/2010/QĐ-TTg, ngày 30 tháng 9 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ ban hành nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu
tư phát triển bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước giai đoạn 2011 - 2015; công văn số 2108/TTg-KTN ngày 17/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ về chủ trương nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2010-2015
- Quyết định số: 676/QĐ-UBND, ngày 03 tháng 04 năm 2007 của UBND tỉnh Hoà Bình V /v phê duyệt kết quả rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng tỉnh Hoà Bình giai đoạn 2008-2015, và định hướng đến năm 2020
- Quyết định số: 1953/QĐ-UBND ngày 12 tháng 9 năm 2008 của UBND tỉnh Hoà Bình, V/v phê duyệt chiến lược phát triển lâm nghiệp tỉnh Hoà Bình;
- Quyết định số: 2449/QĐ-UBND ngày 13 tháng 11 năm 2008 của UBND tỉnh Hoà Bình, V/v phê duyệt Dự án Rà soát quy hoạch đầu tư phát triển rừng sản xuất tỉnh Hoà Bình;
Trang 28- Quyết định số: 2510/QĐ-UBND, ngày 17 tháng 11 năm 2008 của UBND tỉnh Hoà Bình V/v phê duyệt Dự án rà soát quy hoạch đầu tư phát triển rừng phòng hộ, đặc dụng thuộc dự án trồng mới 5 triệu ha rừng tỉnh Hoà Bình;
- Nghị quyết số 144/2010/NQ-HĐND ngày 21/7/2010 của HĐND tỉnh
về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2011-2015)
- Quyết định số: 1724/QĐ-UBND, ngày 14 tháng 10 năm 2010 của UBND tỉnh Hoà Bình, về việc phân bổ nguồn vốn kết dự Dự án 5 triệu ha rừng tỉnh Hoà Bình;
- Quyết định số: 425/QĐ-UBND, ngày 29 tháng 3 năm 2011 của UBND tỉnh Hoà Bình, về việc phê duyệt điều chỉnh nội bộ quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Hoà Bình
- Quyết định số: 447/QĐ-UBND, ngày 31 tháng 3 năm 2011 của UBND tỉnh Hoà Bình, về việc phê duyệt đề án Dự án quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Hoà Bình giai đoạn 2010-2020;
- Quyết định số: 804/QĐ-UBND ngày 30/9/2010 của UBND huyện Đà Bắc về việc phê duyệt Dự án hỗ trợ đầu tư trồng rừng sản xuất giai đoạn 2010 – 2015 huyện Đà Bắc - Tỉnh Hoà Bình
- Số liệu kiểm kê đất đai năm 2010 huyện Đà Bắc
- Số liệu giải đoán ảnh vệ tinh Spot5
- Số liệu diễn biến tài nguyên rừng của hạt kiểm lâm huyện Đà Bắc
- Rà soát ngoài thực địa
- Số liệu thống kê hàng năm của huyện
- Căn cứ thực trạng sản xuất lâm nghiệp và đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Đà Bắc
Trang 293.1.2 Phân tích điều kiện tự nhiên và tài nguyên rừng ảnh hưởng đến quy hoạch phát triển lâm nghiệp huyện Đà Bắc
Ranh giới hành chính tiếp giáp với các địa phương:
Phía Bắc giáp huyện Phù Yên - Sơn La và huyện Thanh Sơn - Phú Thọ Phía Nam giáp Thành phố Hòa Bình, huyện Cao Phong và huyện Tân Lạc Phía Đông giáp Thành phố Hòa Bình
Phía Tây giáp huyện Mai Châu – tỉnh Hòa Bình và huyện Mộc Châu - tỉnh Sơn La
3.1.2.2 Địa hình, địa thế
Nhìn chung, Đà Bắc có địa hình khá phức tạp, chia cắt nhiều bởi hệ thống khe suối, núi cao Độ cao trung bình tuyệt đối trên 1000m như núi Ba Chi, núi Biều, Phu Canh Độ dốc bình quân 300, có nhiều vực thẳm và suối sâu dẫn nước ra hồ Sông Đà Chính vì vậy giao thông đi lại, giao lưu bên ngoài cũng như trong các xã, các khu vực với nhau còn rất khó khăn Hướng nghiêng chính của địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam
3.1.2.3 Khí hậu, thủy văn
a Khí hậu
Theo quan trắc của đài khí tượng thuỷ văn huyện Đà Bắc thì khí hậu của
Đà Bắc trong vòng 5 năm trở lại đây có một số đặc điểm chính sau:
Là huyện nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ không khí bình quân năm 23,20C, nhiệt độ bình quân cao nhất 350C vào tháng 6-7, thấp nhất 60C vào tháng 1 năm sau
Trang 30Độ ẩm không khí bình quân 85%, cao nhất 89% vào tháng 4, thấp nhất 80% vào tháng 1
Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa bình quân 1.600 mm, chiếm 92% tổng lượng mưa cả năm
Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa bình quân 135
mm, chiếm khoảng 8% tổng lượng mưa cả năm
Sương mù thường xuyên xuất hiện từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Mùa hè có gió đông và tây nam là chủ yếu, mùa đông có gió bắc và đông bắc xuất hiện từng đợt, mỗi đợt kéo dài từ 5 - 7 ngày có xuất hiện rét đậm rét hại
b Thuỷ văn
Huyện Đà Bắc có mạng lưới suối lớn như suối Nhạp chảy qua 2 xã Tân Pheo và Giáp Đắt; suối Chầm xã Tân Minh; suối Sổ xã Trung Thành Một số
hồ lớn như hồ Cang xã Đoàn Kết; hồ Nà Tàm xã Cao Sơn; hồ Cháu, hồ Cót,
xã Tu Lý; hồ Mu Công ở Thị trấn Đà Bắc Tuy nhiên do độ dốc lớn nên khả năng dự trữ và cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt bị hạn chế rất nhiều Khi có mưa to thường xảy ra lũ cục bộ
Những đặc điểm khí hậu thủy văn kể trên gây ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống kinh tế xã hội của huyện Đà Bắc, đặc biệt trong sản xuất Nông lâm nghiệp
3.1.2.4 Địa chất, đất đai
Do điều kiện địa hình bị chia cắt phức tạp, núi non hiểm trở, độ dốc lớn, cấu thành địa chất phức tạp nên đất đai của huyện không thuần nhất Nhìn chung đất của huyện Đà Bắc được hình thành trên các loại đá mẹ chính như
Trang 31- Nhóm đất Feralit màu vàng nhạt phát triển trên đá phiến thạch có kết cấu hạt mịn, tầng dày trên 130 cm
- Đất Feralit biến đổi do trồng lúa nước
Đất lâm nghiệp chủ yếu gồm 2 loại chính là đất Feralit màu vàng nhạt và đất Feralit màu nâu, có tầng dày từ 80 - 130 cm, đất tốt phù hợp với các loại cây lâm nghiệp dài ngày
3.1.2.5 Tài nguyên động, thực vật rừng
a Tài nguyên thực vật rừng
Những năm trước đây do công tác quản lý bảo vệ rừng chưa được quan tâm, rừng bị tàn phá nghiêm trọng, kéo theo các loài thực vật cũng bị suy giảm đáng kể Theo tài liệu điều tra về thực vật của khu bảo tồn Thiên nhiên Phu Canh
và một số tài liệu của các chương trình dự án phòng hộ sông Đà thì rừng tự nhiên huyện Đà Bắc thuộc kiểu rừng rậm thường xanh nhiệt đới, thực vật rừng phong phú và đa dạng, có thể chia thành các kiểu phụ sau:
- Kiểu phụ rừng rậm thường xanh cao nguyên, phân bố ở độ cao từ 800m - 1000m, tập trung chủ yếu ở một số xã như xã Đoàn Kết, xã Đồng Chum, xã Đồng Ruộng, xã Tân Pheo Thực vật rừng sinh trưởng phát triển tốt, còn nhiều loài cây gỗ quý như Pơ mu, chò chỉ, chò nâu, sến mật, giổi, de, lát, lim v.v Rừng trung bình, trữ lượng gỗ từ 150 - 180 m3/ha
- Kiểu phụ rừng thường xanh núi đất: Phân bổ ở độ cao dưới 800 m, có đặc điểm là rừng nguyên sinh đã bị khai thác chọn, tác động ở nhiều mức độ khác nhau; những cây gỗ quý đã bị khai thác kiệt, chỉ còn lại phần lớn những cây
gỗ kém giá trị kinh tế như: Dẻ, ngát, ràng ràng, kháo, bứa, muồng, vàng anh v.v Rừng chủ yếu là rừng nghèo, rừng phục hồi, trữ lượng gỗ 35 - 45 m3/ha
- Kiểu phụ núi đá vôi: Núi đá hiểm trở, rừng có 2 tầng: Tầng trên chủ yếu cây sến, trai, nghiến, táu v.v , tầng dưới chủ yếu hoắc quang, đinh
Trang 32thối, sến mủ v.v tập trung ở các xã Đồng Nghê, xã Suối Nánh, xã Đồng Ruộng, xã Trung Thành
Thực vật rừng khá phong phú, riêng cây thân gỗ có khoảng 995 loài, trong
180 họ, thuộc 3 ngành (Dương xỉ, hạt trần, hạt kín) và 2 lớp: Một lá mầm và 2 lá mầm
b Tài nguyên động vật rừng
Động vật rừng của Đà Bắc trước đây cũng tương đối phong phú, tuy nhiên đi đôi với việc các diện tích rừng tự nhiên bị suy giảm và sự tác động tiêu cực của con người đến tài nguyên rừng, nên hiện nay động vật rừng trên địa bàn huyện giảm cả về chất lượng và số lượng Qua các tài liệu nghiên cứu
về động vật rừng có tại hạt Kiểm lâm và bằng phương pháp điều tra thu thập trong nhân dân thì động vật rừng có xương sống trong khu bảo tồn thiên nhiên
và một số khu rừng tự nhiên tập trung tại các xã, đã xác định được 300 loài trong 88 họ và 25 bộ, số bộ, họ có nhiều loài nhất là bộ gặm nhấm, bộ sẻ, bộ linh trưởng Hiện nay một số loài động vật lớn như hổ, báo không thấy xuất hiên; các loài gấu, khỉ số lượng còn lại rất ít ở những khu rừng núi đá, những khu rừng cao xa hiểm trở
3.1.2.6 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên
a Thuận lợi
Đà Bắc có vị trí thuận lợi về giao thông thuỷ do nằm ven hồ sông Đà tạo điều kiện tốt cho giao lưu kinh tế hàng hoá, bên cạnh đó huyện còn có tiềm năng lớn về diện tích nuôi trồng thuỷ sản, đất đai thích hợp cho phát triển lâm nghiệp
Là một trong những huyện có nguồn tài nguyên rừng còn nhiều trong tỉnh, tổ thành loài thực vật phong phú, là nơi còn lưu giữ được các nguồn gen thực vật quý hiếm, có giá trị cao về tài nguyên đa dạng sinh học
Trang 33Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng tích nhiệt hàng năm lớn, số giờ nắng trong năm nhiều, nền nhiệt độ tương đối ổn định, lượng mưa hàng năm cao, rất thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển
b Khó khăn
Bên cạnh những điều kiện tự nhiên thuận lợi, huyện cũng phải đối phó với những khó khăn do điều kiện tự nhiên mang lại, đó là tình trạng thiên tai, lũ lụt, tình trạng đói nghèo, vấn đề áp lực của phát triển kinh tế xã hội đối với đất đai Địa hình một số xã chia cắt mạnh, mưa lớn kéo dài, dễ gây ra sụt lở đất, lũ quét thường xuyên xảy ra gây ảnh hưởng lớn đến tài sản của nhân dân Đồng thời gây khó khăn nhất định trong công tác phát triển sản xuất lâm nghiệp
3.1.3 Phân tích điều kiện kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quy hoạch phát triển lâm nghiệp huyện Đà Bắc
3.1.3.1 Dân số, dân tộc và lao động
a Dân số, dân tộc
Dân số của huyện là 52.402 người, trong đó nam: 26.629 người (chiếm 50,82%); nữ 25.773 người (chiếm 49,18%); Tỷ lệ tăng dân số là 1,04 % (tuy nhiên tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trong vùng khá chênh lệch giữa các xã) Mật
độ dân số bình quân 67,36 người/ km2, mật độ dân số phân bố không đồng đều; Thị trấn và các xã vùng thấp mật độ dân số cao, các xã vùng cao và xa mật độ dân số thấp
Toàn huyện có 05 dân tộc, chủ yếu là dân tộc Tày chiếm 40,57%; dân tộc Mường chiếm 34,03%; dân tộc Dao chiếm 12,8%; còn lại là các dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số khác chiếm khoảng 12,6% [15]
b Lao động:
Theo số liệu thống kê đến tháng 12 năm 2010 Tổng số lao động trên địa bàn toàn huyện là 25.634 lao động, chiếm 48,9 % dân số, trong đó lao động nông lâm
Trang 34nghiệp là 23.071 lao động chiếm 90,0%; lao động công nghiệp - xây dựng - dịch
vụ và lao động thuộc các ngành, lĩnh vực khác là 2.563 lao động chiếm 10,0%
3.1.3.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội huyện Đà Bắc
a Tăng trưởng kinh tế
* Ngành nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện, vững chắc, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, đảm bảo an ninh lương thực Cơ cấu kinh tế, tỷ trọng nông lâm nghiệp, thuỷ sản chiếm 54% tổng giá trị sản phẩm của huyện [15]
- Trồng trọt:
+ Trình độ thâm canh tăng vụ trong huyện được đẩy mạnh và nâng cao,
hệ số sử dụng đất đạt 2,5 lần/năm Trong sản xuất, công tác ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật được chú trọng, nhiều giống mới được áp dụng vào sản xuất nông lâm nghiệp, diện tích gieo trồng hàng năm 10.683 ha tổng sản lượng lương thực cây có hạt năm 2010 đạt 31.505 tấn
+ Sản xuất lâm nghiệp có chuyển biến khá, Công tác trồng, chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng có chuyển biến tích cực, trồng rừng mới 1.300 ha/năm nạn phá rừng làm nương rẫy, tình hình khai thác, buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép đã được hạn chế Chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá, đã hình thành và phát triển một số vùng chuyên canh cây công nghiệp mía, dong riềng, chè tại các xã Cao Sơn, xã Mường Tuổng, thị trấn Đà Bắc, xã Vây Nưa và xã Yên Hoà
- Chăn nuôi: Phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm có giá trị kinh tế cao, tổng đàn trâu 8.976 con, bò có khoảng 8.468 con, đàn lợn 22.228 con, gia cầm 178 triệu con
- Thuỷ sản: Do nằm trong vùng hồ sông Đà nên nuôi trồng thuỷ sản trở thành một nghề có thu nhập ổn định đối với nhiều hộ gia đình, diện tích nuôi trồng thuỷ sản 75,1 ha, sản lượng ước đạt 129 tấn
Trang 35* Công nghiệp, xây dựng phát triển đúng hướng, có tốc độ tăng trưởng đạt bình quân 14 %/năm, sản phẩm đa dạng hơn, đáp ứng nhu cầu thị trường Cơ cấu kinh tế,
tỷ trọng công nghiệp và xây dựng chiếm 12% tổng giá trị sản phẩm của huyện [15]
* Dịch vụ có bước phát triển khá, tốc độ tăng trưởng đạt 11 %/năm, hệ thống thương mại phục vụ nhân dân, đặc biệt là nhân dân các xã vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn được đảm bảo Cơ cấu kinh tế, tỷ trọng dịch vụ chiếm 34% tổng giá trị sản phẩm của huyện [15]
b Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Là huyện miền núi kinh tế địa phương còn nhiều khó khăn, nhưng mấy năm gần đây nền kinh tế của huyện đã có sự chuyển biến tích cực, xuất hiện những mô hình tốt tạo đà tiếp tục đổi mới và phát triển đồng loạt các ngành nghề trong huyện Theo số liệu báo cáo đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2010 của UBND huyện Đà Bắc [28]: Kinh tế tăng trưởng khá ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế trong huyện bình quân năm đạt 12,3% Thu nhập bình quân 7,68 triệu đồng/người /năm Cơ cấu kinh
tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp, xây dựng, dịch vụ, giảm tỷ trọng Nông lâm nghiệp thuỷ sản Các ngành, các lĩnh vực sản xuất đều phát triển
3.1.3.3 Thực trạng cơ sở hạ tầng
a Giao thông
Hệ thống đường bộ có gần 80 km đường tỉnh lộ 433 đã được trải nhựa,
đi qua 09 xã và 1 thị trấn, chạy dọc huyện từ xã Đồng Nghê qua các xã Suối Nánh, xã Mường Chiềng, xã Giáp Đắt, xã Tân Pheo, xã Tân Minh, xã Cao Sơn, xã Tu Lý, thị trấn Đà Bắc và xã Toàn Sơn Ngoài ra còn có hệ thống đường liên xã như Tân Minh đi xã Đoàn Kết, xã Trung Thành, xã Đồng Ruộng; tuyến đường liên xã Hiền Lương đi xã Tiền Phong và các đường liên thôn, đường dân sinh được nâng cấp và mở mới thường xuyên thông qua các
Trang 36chương trình dự án như dự án 135, dự án giảm nghèo huyện, dự án ổn định dân cư và phát triển kinh tế vùng hồ sông Đà, song hệ thống đường này vẫn thường xuyên bị sạt lở do mưa lũ nên việc đi lại của nhân dân trong vùng còn khó khăn, tất cả các xã còn lại đều có đường đi đến trung tâm xã Huyện còn
có gần 62 km đường thuỷ trên sông Đà thuận lợi cho giao thông đường thuỷ Với hệ thống mạng lưới đường giao thông như trên có thuận lợi cho việc
đi lại giao thương hàng hoá, thông tin liên lạc, phục vụ tốt cho các hoạt động thông thương của người dân trong huyện
b Thuỷ lợi
Trên địa bàn huyện có nhiều hồ chứa nước, phai đập và trạm thủy lợi nhưng nhìn chung, hệ thống các công trình thuỷ lợi chưa đáp ứng yêu cầu tưới tiêu chủ động gieo trồng chăm sóc đối với cây trồng, chưa đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu cho sản xuất cũng như cấp nước sinh hoạt Phần lớn diện tích canh tác phải dựa vào nguồn nước mưa Bên cạnh đó chất lượng các công trình thủy lợi hiện tại đã bị xuống cấp cần được tu bổ lại, do đó việc mở rộng canh tác, thâm canh và tăng năng suất cây trồng nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn
c Điện, nước sinh hoạt:
- Mạng luới điện: Trên địa bàn huyện có tuyến đường dây tải điện 35
kw, có trạm biến áp trung gian, tuyến đường dây 10 kw, trạm biến áp 10/04 kv đi qua, ngoài ra còn có một số công trình thủy điện nhỏ và một số hộ gia đình sử dụng máy thủy điện nhỏ, tỷ lệ hộ được dùng điện lưới 96,8%
- Nước sinh hoạt: Các xã trong những năm qua đã được chương trình
135, giảm nghèo, dự án ổn định dân cư và phát triển kinh tế vùng hồ sông Đà v.v đầu tư xây dựng một số bể nước, đường ống dẫn nước phục vụ sinh hoạt nên phần nào đã cải thiện được nhu cầu sử dụng nước Số hộ được dùng nước hợp vệ sinh ước tính khoảng trên 91,43%
Trang 37d Y tế
Huyện Đà Bắc có 1 bệnh viện đa khoa, 2 phòng khám đa khoa và 20 xã, Thị trấn đều có trạm y tế Đội ngũ cán bộ y tế của huyện khá đông đảo với
320 người, trong đó có 35 bác sỹ, 87 y sỹ, 16 kỹ thuật viên trung cấp, 107 y
tá, 15 nữ hộ sinh, 3 xét nghiệm viên, 3 hộ lý và 25 dược sỹ, dược tá Ngoài ra,
ở các khu dân cư đều có cán bộ y tế thôn bản hoạt động với 204 người
Tuy nhiên trang thiết bị còn thiếu thốn, giường bệnh thiếu, thuốc chữa bệnh không đủ, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ y tế còn nhiều hạn chế nên kết quả khám chữa bệnh còn thấp
Nhìn chung cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học đã được quan tâm đầu
tư theo hướng kiên cố hoá, hiện đại hoá, cơ bản đáp ứng được yêu cầu giảng dạy và học tập
f Thông tin văn hoá, thể dục - thể thao
Tất cả các xã trong huyện đều có điểm bưu điện văn hoá xã, một số xã
đã có điểm truy cập internet và phủ sóng điện thoại di động
Hiện nay 100% số xã đã được xem truyền hình, thông tin báo chí được đưa về tới các xã, đây là điều kiện thuận lợi cho việc cập nhật các thông tin về kinh tế, xã hội, kỹ thuật mới trong sản xuất, việc tuyên truyền các chủ trương chính sách và pháp luật của nhà nước tới cộng đồng người dân
Hoạt động văn hoá - thông tin tuyên truyền, thể dục - thể thao trên địa bàn huyện ngày càng được củng cố và từng bước nâng cao chất lượng
Trang 38g Quốc phòng - An ninh
Thực hiện có hiệu quả công tác phối hợp giữa cơ quan Quân sự, Công an huyện và các đơn vị đóng quân trên địa bàn huyện, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội Hoàn thành tốt nội dung diễn tập phòng thủ khu vực huyện, thực hiện tốt công tác báo động, kiểm tra sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng đối phó với thiên tai Tình hình an ninh chính trị trên địa bàn huyện tiếp tục được giữ vững và ổn định
3.1.3.4 Vấn đề phát triển kinh tế - xã hội và áp lực đối với sử dụng đất đai
Với diện tích đất tự nhiên 77.796,07 ha, xét về mặt diện tích cũng như các chỉ tiêu bình quân về đất đai thì huyện Đà Bắc là huyện có diện tích lớn nhất tỉnh Hoà Bình song việc sử dụng đất ở đây vấn còn tồn tại một số vấn đề: Chưa tập trung khai thác hết tiềm năng của đất, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động để phát triển kinh tế Đầu tư thâm canh, áp dụng tiến
bộ khoa học công nghệ và nhân rộng các mô hình điển hình còn hạn chế Việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, quản lý và tổ chức sản xuất giống cây trồng, vật nuôi chưa thích đáng
Công nghiệp phát triển chưa cao, công nghệ và máy móc còn lạc hậu Công tác quy hoạch, quản lý, duy tu, bảo dưỡng các công trình hạ tầng như giao thông, thuỷ lợi …mức đầu tư thực tế còn thấp
Dân cư phân bố rải rác ở các xã do đó việc giao đất dùng vào mục đích ở
và các công trình phục vụ đời sống của người dân tại các khu vực này là vấn
đề cần được quan tâm giải quyết
Do yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong giai đoạn mới nên việc phân bố, bố trí sử dụng đất đai cần được tính toán, cân nhắc, tìm ra phương pháp, mô hình hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả Đặc biệt việc bố trí xây dựng các công trình sản xuất, cở sở hạ tầng tại nơi đông dân
Trang 39Mức độ đầu tư của Nhà nước còn hạn chế, vốn đầu tư còn dàn trải, giá
cả tiêu thụ sản phẩm chưa ổn định [14]
Để cải thiện và không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân thì hàng loạt các công trình phục vụ đời sống văn hoá, giáo dục, thể thao, giải trí, nghỉ ngơi như: nhà văn hoá thôn xóm, nhà thi đấu, trường học cũng phải được cải tạo và mở rộng kết hợp với xây mới Đây là một thách thức đòi hỏi cần phải có sự quy hoạch hợp lý về không gian và thời gian
Một mặt đảm bảo an ninh lương thực cho toàn huyện, do đó giữ nguyên diện tích đất sản xuất lương thực, mặt khác phát huy tối đa khả năng mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp lâu năm
Việc khai thác các nguồn tài nguyên (đá, quặng) phục vụ xây dựng cơ bản và công nghiệp không theo định hướng và quy hoạch cụ thể cũng là một trong những nguyên nhân gây áp lực cho việc sử dụng đất đai
3.1.3.5 Những dự báo cơ bản
a Dự báo về sự gia tăng dân số
Căn cứ vào số liệu của phòng thống kê huyện Đà Bắc qua các năm thì tỷ
lệ tăng dân số tự nhiên của huyện là 1,04%, dự báo dân số toàn huyện năm
2015 là 55.184 người; đến năm 2020 là 58.114 người Dự đoán cơ cấu dân số của huyện trong những năm tới sẽ có sự chuyển dịch, dân số sống ở vùng nông thôn sẽ giảm, nhưng lực lượng lao động trong ngành nông lâm nghiệp không giảm Vì vậy, vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nông thôn đang
là nhiệm vụ đặt ra hàng đầu cho các cấp chính quyền ở địa phương
b Sự đói nghèo
Theo Nghị quyết Đảng bộ huyện giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 37% xuống còn 30% vào năm 2015 theo tiêu chuẩn nghèo giai đoạn 2010 – 2015 và phấn đấu đến năm 2020 giảm còn 15% hộ nghèo Đây là một nhiệm vụ hết sức khó khăn với chính quyền địa phương [27]
Trang 40c Sự phụ thuộc vào rừng
Dự báo trong những năm tới cùng với những chính sách khuyến khích phát triển lâm nghiệp của Đảng và Chính Phủ cũng như của địa phương, hoạt động lâm nghiệp trên địa bàn huyện sẽ gia tăng dưới nhiều hình thức như: Phát triển kinh tế trang trại, trồng rừng kinh tế, trồng cây công nghiệp và sự tham gia của người dân vào phát triển rừng Dự kiến lao động tham gia vào nghề rừng
và các hoạt động lâm nghiệp tiếp tục tăng, giá trị kinh tế do hoạt động sản xuất lâm nghiệp mang lại sẽ chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng giá trị sản xuất nông lâm nghiệp
d Nhu cầu sử dụng lâm sản
Trong những năm tới nhu cầu gỗ phục vụ cho nguyên liệu giấy, chế biến
gỗ của một số nhà máy, công ty trong khu vực rất lớn Đến năm 2015 dự báo nhu cầu sử dụng gỗ là 6.884,38 m3; tre nứa 550.750 cây; đến năm 2020 nhu cầu gỗ là 7.262,9 m3; tre nứa 580.103 cây
Bảng 3.1: DỰ BÁO NHU CẦU LÂM SẢN CÁC GIAI ĐOẠN HUYỆN ĐÀ BẮC
Loại lâm sản Định mức
Tre nứa, luồng 10 cây /người /năm 524.020 cây 550.750 cây 580.103 cây
Do nhu cầu phát triển kinh tế, trong thời gian tới nhu cầu gỗ, tre luồng cho công nghiệp giấy, ván nhân tạo, sản xuất đồ gỗ cho thị trường trong nước
và xuất khẩu tăng mạnh Như vậy để đáp ứng nhu cầu lâm sản cho thị trường, hàng năm cần phải đẩy mạnh công tác trồng rừng, bảo vệ và phát triển diện tích rừng tự nhiên hiện có [26]