1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tác động của quản lý rừng cộng đồng đến tài nguyên rừng và sinh kế của người dân địa phương tại xã văn minh, huyện na rì, tỉnh bắc cạn

127 208 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

--- NGUYỄN THỊ NHÀN ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG ĐẾN TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG TẠI XÃ VĂN MINH, HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN LUẬN VĂN THẠC SỸ KH

Trang 1

-

NGUYỄN THỊ NHÀN

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG ĐẾN TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG TẠI XÃ VĂN MINH, HUYỆN NA RÌ,

TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2011

Trang 2

-

NGUYỄN THỊ NHÀN

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG ĐẾN TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG TẠI XÃ VĂN MINH, HUYỆN NA RÌ,

TỈNH BẮC KẠN

Chuyên ngành: Lâm học

Mã số: 60.62.60

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS LÊ XUÂN TRƯỜNG

Hà Nội, 2011

Trang 3

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu cùng quý thầy, cô giáo trường Đại học Lâm nghiệp, Chính quyền xã Văn Minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến:

TS Lê Xuân Trường đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập cũng như quá trình thực hiện luận văn này

TS Nguyễn Quang Tân, giám đốc Trung tâm vì con người và rừng (RECOFTC) Đã tạo điều kiện cho tôi làm tình nguyện viên ở tổ chức, giúp tôi trong việc thu thập số liệu và góp ý kiến cho luận văn của tôi

Mặc dù đã làm việc với sự nỗ lực của bản thân, nhưng do hạn chế về trình độ và điều kiện thực hiện đề tài nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp xây dựng quý báu của các thầy, các cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, tháng 9 năm 2011

Tác giả

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Danh mục các chữ viết tắt i

Danh mục các bảng ii

Danh mục các hình iv

Đặt vấn đề 1

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Trên thế giới 3

1.2 Ở Việt Nam 10

1.2.1 Cơ sở pháp lý tác động đến quản lý rừng cộng đồng tại Việt Nam 13

1.2.2 Những chương trình, dự án về quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam 17

1.3 Sinh kế người dân trong quan hệ với tài nguyên rừng 20

1.3.1 Khái niệm và phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững 20

1.3.2 Vai trò của rừng đối với sinh kế của người dân 22

Chương 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 25

2.1.1 Mục tiêu tổng quát 25

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 25

2.2 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu 25

2.3 Nội dung nghiên cứu 26

2.4 Phương pháp nghiên cứu 26

2.4.1 Quan điểm và phương pháp luận nghiên cứu 26

Trang 5

2.4.2 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu 29

2.4.3 Phương pháp kế thừa có chọn lọc các tài liệu liên quan sẵn có 30 2.4.4 Phương pháp, công cụ thu thập số liệu 31

2.5 Tổng hợp và phân tích số liệu 33

CHƯƠNG 3 34

ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 34

3.1 Điều kiện tự nhiên xã Văn Minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn 34

3.1.1 Vị trí địa lý 34

3.1.2 Địa hình, địa mạo 34

3.1.3 Khí hậu 35

3.1.4 Thuỷ văn 37

3.1.5 Tài nguyên đất 37

3.1.6 Tài nguyên nước 40

3.1.7 Tài nguyên rừng 40

3.1.8 Cảnh quan môi trường 42

3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 42

3.2.1 Dân số và lao động 42

3.2.2 Tình hình phát triển kinh tế 42

3.2.3 Văn hóa, giáo dục, y tế 43

3.2.4 Cơ sở hạ tầng 44

3.3 Nhận xét về đặc điểm xã Văn Minh 45

3.3.1 Thuận lợi 45

3.3.2 Khó khăn 45

CHƯƠNG 4 46

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46

4.1 Quá trình giao đất giao rừng ở xã Văn Minh 46

4.2 Thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng tại xã Văn Minh 48

Trang 6

4.2.1 Các hình thức quản lý rừng trên địa bàn xã Văn minh 48

4.2.2 Tình hình thực hiện bảo vệ rừng tại xã Văn Minh 51

4.2.3 Những thuận lợi, hạn chế trong công tác BVR 60

4.2.4 Những nguy cơ và thách thức trong công tác BVR 63

4.3 Vai trò của rừng đối với sinh kế của người dân trên địa bàn xã 68

4.3.1 Tình hình sinh kế của hộ gia đình 69

4.3.2 Vai trò của rừng đối với sinh kế của người dân 71

4.4 Đánh giá tác động của rừng cộng đồng đến kinh tế, xã hội, môi trường tại khu vực nghiên cứu 77

4.4.1 Đánh giá tác động về mặt kinh tế 77

4.4.2 Đánh giá tác động về mặt xã hội 82

4.4.3 Đánh giá tác động về mặt bảo vệ môi trường sinh thái 89

4.4.4 Những ưu điểm, hạn chế quản lý rừng cộng đồng tại khu vực nghiên cứu 94

4.5 Đề xuất một số giải pháp để cộng đồng QLBVR được bền vững 96

4.5.1 Các giải pháp về chính sách 96

4.5.2 Các giải pháp về tổ chức 104

4.5.3 Giải pháp về đào tạo tập huấn 107

4.5.4 Giải pháp về tuyên truyền giáo dục và tăng cường năng lực 109

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 111 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nguyên nghĩa

BV&PTR Bảo vệ và phát triển rừng

PRA Đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

4.1 Diện tích rừng phân theo chủ quản lý trên địa bàn xã Văn

4.3 Thống kê tình hình vi phạm Luật bảo vệ & phát triển rừng tại

4.4 Nguy cơ thách thức trong BVR trên địa bàn 62 4.5 Đặc điểm kinh tế của các nhóm hộ điều tra 68 4.6 Tình hình thu nhập các loại lâm sản trên các loại rừng 70 4.7 Cơ cấu thu nhập các loại lâm sản của các nhóm kinh tế hộ 72

4.8 Diễn biến chất lượng các loại đất rừng trước và sau khi giao

đất, giao rừng cho các đối tượng quản lí

74 4.9 Mức độ quan trọng của rừng và đất rừng đối với cộng đồng 76 4.10 Cơ cấu thu nhập của các nhóm kinh tế hộ 78

4.11 Tài sản bình quân cho mỗi hộ gia đình trước và sau giao

rừng, đất rừng cho cộng đồng quản lý tại xã Văn Minh

82

4.12 Nhận thức của cộng đồng, hộ gia đình về quyền và nghĩa vụ

đối với rừng và đất rừng được giao cho cộng đồng 84

4.13 Nguồn cung cấp kiến thức kỹ thuật cho sản xuất lâm nghiệp

của cộng đồng và các hộ gia đình

86 4.14 Sự thay đổi tài nguyên rừng trước và sau giao cho cộng đồng 87

Trang 9

4.15 Biến động thảm thực vật rừng tự nhiên phục hồi lại từ đất

trống

88 4.16 Biến động thảm thực vật rừng trồng tại ô điều tra 03 89

4.17 Diễn biến chất lượng các loại đất rừng trước và sau khi giao

đất, giao rừng cho cộng đồng quản lý

90 4.18 Tình hình thay đổi nguồn nước hiện nay 91

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

4.1 Rừng cộng đồng thôn Nà Mực, xã Văn Minh 49 4.2 Phá rừng làm nương rẫy tại địa bàn xã Văn Minh 56 4.3 Gỗ bị khai thác trái phép trên địa bàn xã Văn Minh 57 4.4 Biểu đồ dòng thu chi của 3 nhóm kinh tế hộ 70 4.5 Biểu đồ cơ cấu các nguồn thu nhập của các nhóm kinh tế hộ 78 4.6 Sơ đồ các bước tiến hành xây dựng ban quản lý rừng thôn,

bản và tổ chức thực hiện

102

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ở Việt Nam, rừng cộng đồng đã tồn tại từ lâu đời, nó gắn liền với đời sống kinh tế, văn hóa và các luật tục của nhiều cộng đồng các dân tộc sống gần rừng và sống dựa vào rừng trên khắp nước ta Mối liên kết giữa cộng đồng với rừng trở lên chặt chẽ khi mà những lợi ích từ rừng đem lại một sự đảm bảo cho cuộc sống của cả cộng đồng Sở dĩ rừng cộng đồng là một hình thức quản lý rừng xuất hiện từ rất lâu và vẫn tồn tại được cho tới ngày nay là

do nó đã dung hòa được các lợi ích khác của những nhóm người sống trong cùng một cộng đồng

Thời gian trước đây dân số ít, nhu cầu sinh kế của người dân chưa lớn, chưa đa dạng vì thế nguồn tài nguyên rừng về cơ bản có thể đáp ứng được nhu cầu của con người Bên cạnh đó, trong các cộng đồng dân tộc thiểu số việc quản lý tài nguyên rừng có sự trợ giúp đắc lực của các định chế, luật tục truyền thống trong cộng đồng và trong một thời gian dài trước đây chúng đã phát huy hiệu quả tốt do vậy mà tài nguyên rừng được bảo vệ một cách tương đối tốt Nhưng hiện nay, nhu cầu của người dân tăng cao, sự phát triển mạnh

về dân số, vấn đề di dân tự do, khai phá đất rừng trồng cây công nghiệp đã làm tài nguyên rừng suy giảm cả về số lượng và chất lượng Điều đó đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống, đến nhận thức, cách đối xử của người dân với tài nguyên rừng Các thay đổi bất lợi này lại càng gây khó khăn cho các nỗ lực của công tác xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế miền núi Đời sống của các cộng đồng dân cư, nhất là cộng đồng các dân tộc thiểu

số sống trong và gần rừng vẫn còn rất khó khăn Do đó, bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên kết hợp với việc xóa đói giảm nghèo cho người dân vùng cao là một thách thức lớn cho việc quản lí bền vững tài nguyên rừng và đất rừng vùng miền núi Việt Nam

Trang 12

Xã Văn Minh là một trong những xã vùng cao và thuộc diện đặc biệt khó khăn của huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, xã có vị trí cách quốc lộ 279 khoảng 4 km

và cách Thị trấn Yên Lạc 14 km về phía Tây Nam Dân số của xã là 1.169 người phân bố trên 11 thôn chủ yếu là đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Dao, Kinh Thu nhập chính của người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi

và lâm nghiệp [20] Trong đó, thu nhập từ lâm nghiệp chủ yếu thông qua các hoạt động tận thu lâm sản, sản vật từ rừng nên đời sống của người dân vẫn chưa được nâng cao, đặc biệt là những người dân sống gần rừng, phụ thuộc vào các sản phẩm và dịch vụ từ rừng

Trong những năm qua, để giải quyết vấn đề bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên kết hợp với việc xóa đói giảm nghèo cho người dân vùng cao Chính phủ đã ban hành nhiều chương trình, chính sách nhằm bảo tồn, khôi phục tài nguyên rừng và đất rừng cho mục tiêu phòng hộ cũng như sinh kế của người dân địa phương như: Chương trình 327, chương trình 5 triệu ha rừng, chương trình trồng rừng theo ngân sách nhà nước và ngân sách địa phương, chương trình 135, Do đó, tài nguyên rừng và cuộc sống của người dân miền núi ở Việt Nam nói chung, ở xã Văn Minh nói riêng trong những năm gần đây đã ngày càng được nâng cao (Võ Văn Dự, 2003) Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề bất cập trong việc quản lý, sử dụng các nguồn lợi từ rừng và đất rừng cũng như trong tiến trình thực hiện các chính sách, chương trình Hệ thống tổ chức lâm nghiệp địa phương còn chồng chéo, chưa đồng bộ Các hộ dân làm nghề rừng ở đây chưa được giao đất, giao rừng để ổn định sản xuất nên hiệu quả của công tác bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng còn nhiều hạn

chế Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài “ Đánh giá tác động của quản lý rừng cộng đồng đến tài nguyên rừng và sinh kế của người dân địa phương tại xã Văn Minh – huyện Na Rì – tỉnh Bắc Kạn” làm cơ sở khoa học hỗ trợ cộng

đồng quản lý bền vững rừng và đất rừng cũng như tạo sinh kế cho người dân địa phương

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới

Thuật ngữ “Quản lý rừng cộng đồng” Community Forest Management

(CFM) đầu tiên đã được FAO [8] định nghĩa như sau: “Quản lý rừng cộng

đồng diễn tả hàng loạt các hoạt động gắn người dân với rừng, cây, các sản phẩm của rừng và việc phân chia lợi ích các sản phẩm này” “Lâm nghiệp cộng đồng bao gồm bất kỳ tình huống nào mà người dân địa phương tham gia vào hoạt động lâm nghiệp”

Don Gilmour và Fischer [7] cho rằng quản lý rừng cộng đồng là các hoạt động kiểm soát và quản lý các nguồn tài nguyên rừng do người dân địa phương thực hiện, những người này sử dụng chúng cho các mục đích của cộng đồng và nó là một bộ phận hữu cơ của hệ thống canh tác

Hình thức quản lý rừng cộng đồng đã xuất hiện từ rất lâu trong quá trình sản xuất nông lâm nghiệp của loài người Tuy nhiên sự thống trị của chế

độ thực dân Châu Âu diễn ra trên diện rộng và kéo dài cho tới thế kỷ 20 đã có những ảnh hưởng tiêu cực đối với hệ thống quản lý cây và rừng cổ truyền ở nhiều địa phương Chính sách thực dân đã đập tan các hệ thống quản lý cổ truyền về tài nguyên ở các địa phương cùng với những nguồn kiến thức bản địa về tài nguyên và hệ sinh thái nơi đó Trong thời gian hậu thuộc địa, nhiều nhà quản lý sử dụng rừng vẫn chịu ảnh hưởng của những lực lượng từ bên ngoài và cũng góp phần không nhỏ trong việc làm suy giảm tài nguyên rừng

trên thế giới [15]

Một thực tế là khi mà các cộng đồng dân cư không phải là nhân tố tham gia thực hiện quản lý rừng, họ không thấy được trách nhiệm và quyền hạn của mình trong việc quản lý tài nguyên rừng thì ở đó tài nguyên rừng bị suy giảm nghiêm trọng Khi chính phủ của các quốc gia giao quyền quản lý những khu

Trang 14

rừng và tạo cơ hội cho người dân, cộng đồng được hưởng lợi từ rừng, khi đó những vấn đề như đói nghèo, suy thoái tài nguyên dần dần được đẩy lùi và cộng đồng địa phương sẽ nhận ra trách nhiệm của chính họ trong việc bảo vệ

và quản lý tài nguyên rừng, thúc đẩy cho sự phát triển của các cộng đồng dân

cư sống phụ thuộc vào rừng [8]

Thực tế trên thế giới cho thấy đã có rất nhiều nghiên cứu về các khía cạnh cải tiến chính sách, thể chế, cách tiếp cận, áp dụng công nghệ trên cơ sở kiến thức bản địa để phát triển quản lý dựa vào rừng cộng đồng Đây là những kinh nghiệm tốt có thể kế thừa và vận dụng vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia Quản lý rừng cộng đồng thường được quan tâm chú ý ở một số nước như:

- Tại Nepan việc quản lý và bảo vệ rừng cộng đồng trong đó có rừng và các tài sản khác thường gắn với các thôn bản nhỏ và hiu quạnh Khi tìm hiểu tính chất của việc quản lý tài nguyên rừng ở cấp thôn bản thì thấy chúng đều

có những nét chung và chúng thường có hiệu lực, đặc biệt là về mặt bảo vệ Các chỉ tiêu về quy chế tổ chức, phần nào dựa trên sự thống nhất ý kiến của những người sử dụng là phần quan trọng nhất của tất cả những hệ thống quản

lý rừng bản địa và những hệ thống quản lý rừng bản địa này chỉ mới được xây dựng từ năm 1950 Từ năm đó tới nay Chính phủ Nepan đã có một thay đổi mạnh mẽ về cách ứng xử đối với rừng vùng đồi, đây là một sự chuyển biến sâu sắc do nạn tàn phá rừng ngày càng rõ nét và ảnh hưởng của nó tới đời sống nông thôn ngày nay Đầu tiên là việc thi hành luật bảo vệ phát triển rừng thông qua hệ thống pháp luật của Chính phủ, nhưng việc đó đã thất bại Sau

đó đã có nhiều thay đổi về chính sách, luật lệ chuyển việc quản lý rừng cho chính những người sử dụng chúng ở thôn bản (Arnold, 1986) [15]

Trong tài liệu này Arnold cũng đã trình bày những tiến bộ mà chính phủ Nepan đạt được khi tổ chức LNCĐ tại vùng đồi của Nepan thông qua dự

Trang 15

án phát triển lâm nghiệp cộng đồng trong báo cáo “Quản lý tập thể rừng vùng đồi ở Nepan: Dự án phát triển lâm nghiệp cộng đồng” Mục tiêu của dự án này là tăng thêm nguồn cung cấp củi, thức ăn gia súc, cỏ và gỗ thông qua việc trao trách nhiệm rộng hơn về quản lý và bảo vệ rừng cho các cộng đồng địa phương Tài liệu này có đề cập tới một sáng kiến của Nepan là đã đưa ra một khuôn khổ có khả năng vận dụng được để phát triển các hệ quản lý rừng sản xuất địa phương thích hợp với các nhu cầu hiện nay, khuôn khổ đó xây dựng trên các truyền thống và phương thức địa phương để quản lý rừng cộng đồng

Số liệu điều tra cho thấy rằng sự quản lý tích cực của người sử dụng địa phương có ảnh hưởng tích cực đến rừng Rừng được cải thiện rõ khi có sự kiểm tra thu hoạch của địa phương do các cộng đồng đề ra như những quy định thời gian và các diện tích có hạn chế và các công cụ được phép sử dụng, ngược lại rừng tiếp tục bị thoái hóa khi chỉ có Chính phủ đề ra cách kiểm tra theo thường lệ như lệ phí mà người sử dụng phải trả và bài cây để chặt hạ Mặc dù những kinh nghiệm của chương trình này đến nay vẫn còn hạn chế nhưng những việc đã làm được của chương trình này cũng được coi là một sự khởi đầu đáng phấn khởi

Theo Hobley (1987) [29] thì lâm nghiệp cộng đồng không nên được định nghĩa bằng quy mô hoặc sản phẩm cuối cùng mà ở chỗ là quyền đề xuất quyết định nằm ở đâu Sự tham gia và kiểm tra của dân trong việc thành lập, duy trì, hưởng lợi và phân phối các lợi ích là những lợi ích tiên quyết cho một chương trình LNCĐ đúng đắn Kết quả điều tra cụ thể tại hai thôn bản của Nepan thông qua dự án lâm nghiệp song phương giữa Nepan và Australia là dân bản luôn luôn coi rừng là tài sản sở hữu của cộng đồng, tuy nhiên LNCĐ muốn có được những thành công thì cần phải có sự thay đổi sâu sắc về mặt xã hội tại Nepan

Trang 16

Theo Gilmour, D.A King, G.C và Hobley (1989) [15] đã mô tả hai động cơ khác nhau nhưng song song tồn tại bên nhau trong phát triển lâm nghiệp ở Nepan đó là: “Phát triển lâm nghiệp hướng về Trung ương” và “Phát triển lâm nghiệp hướng về người dân” Để nâng cao việc quản lý rừng công cộng có hiệu quả một số chương trình của Chính phủ Nepan đã phát triển theo hình mẫu “hướng về rừng” để khắc phục hiện tượng tàn phá rừng do sự tác động cộng hưởng của chính sách lâm nghiệp không hoàn chỉnh, áp lực của dân số và sự ô nhiễm môi trường Qua báo cáo của Leuschner, tác giả đã khẳng định rằng việc hợp tác giữa cư dân địa phương với cán bộ cấp huyện là rất quan trọng để đảm bảo thành công trong các dự án phát triển lâm nghiệp cộng đồng và nó có thể trở nên dễ dàng bằng cách thu hút các nhóm người dân đó vào việc lập kế hoạch phát triển địa phương Tiêu chuẩn chính cho sự thành công của dự án lâm nghiệp cộng đồng chính là việc quan tâm đến sự thích nghi của một hệ thống quản lý cộng đồng với các điều kiện và nhu cầu của người dân địa phương

- Tại Ấn Độ, mặc dù quá trình hiện đại hóa mang lại nhiều lợi ích cho những thôn bản nằm xung quanh trung tâm chính trị Delhi nhưng nó cũng đã mang lại một sự bùng nổ về dân số, làm đảo lộn cân bằng tài nguyên và cũng dẫn tới sự tan rã của các tổ chức cổ truyền như các cộng đồng thôn bản Ngày càng có sự chuyển mạnh đất công từ sở hữu cộng đồng sang các phương thức

sử dụng tư và cả sự chuyển thể đất công từ đất trồng trọt và chăn nuôi sang các phương thức sử dụng khác Kết quả là diện tích đất hoang hóa ngày một gia tăng Trong thế kỷ 19, có tới 2/3 đất đai Ấn Độ được đặt dưới sự kiểm tra của cộng đồng nhưng quá trình tư nhân hóa và Nhà nước sung công đã làm giảm tỷ lệ đó Nhiều hình thức bản địa và cổ truyền của phương thức quản lý tài nguyên sở hữu công cộng đã bị suy yếu và tan rã, tuy nhiên chúng vẫn đóng một vai trò rất quan trọng trong các hệ thống nông nghiệp và trong đời

Trang 17

sống của dân nghèo Do đó, để tiến tới việc quản lý tài nguyên sở hữu công cộng bền vững Chính phủ Ấn Độ cần dành ưu tiên cao cho việc sửa đổi chính sách và các sự yếu kém, sai sót của các luật lệ hiện hành cũng như hạn chế việc khuyến khích tiếp tục tư nhân hóa Vào đầu những năm 1970, Chính phủ ban hành nhiều chính sách nhằm khuyến khích phát triển lâm nghiệp làng bản

để giảm sức ép đối với việc tàn phá rừng Trong khoảng 15 năm, Chính phủ

đã đầu tư khoảng 400 triệu USD cho chương trình này Các vườn ươm được

thiết lập với sự tham gia của người dân [15, T78, T57]

Theo lịch sử ở Ấn Độ có nhiều loại rừng lăng miếu và chúng phục vụ nhiều cho mục đích tinh thần và tôn giáo Những rừng này đều được các tổ chức tôn giáo hoặc nhóm cộng đồng địa phương quản lý, đồng thời người dân địa phương ở Ấn Độ đã bảo vệ được các đám rừng có diện tích từ 0.5 - 10 ha dưới dạng lùm cây thiêng để thờ các vị thần của lùm cây Việc thờ cúng tại những lùm cây thiêng đó hình thành từ những xã hội chuyên săn bắt và hái lượm và việc lấy bất kỳ một sản phẩm nào ra đều là cấm kỵ và nó cũng đã góp phần vào việc duy trì và mở rộng tài nguyên rừng [15, T65]

Theo Guha (1989) [28] rừng núi không yên ổn, thay đổi sinh thái và sự chống đối của nông dân tại Himalaya cách đây trên một trăm năm, tại vùng đồi Himalaya phong trào quần chúng “ôm giữ lấy cây” (Chipko) như là một

cố gắng nổi bật của người dân địa phương để cứu vãn tài nguyên rừng đang bị suy sụp và chống lại chính sách của Chính phủ đã cho phép những người ngoài cuộc tới chặt hạ cây cối theo mục đích thương mại của họ

Basu, N.G (1987) [15] đã đề nghị Chính phủ cần có một chính sách lâm nghiệp mới cùng với một cách nhìn mới để ngăn chặn quá trình phát triển đồi trọc và để lôi cuốn nhân dân tham gia vào phong trào tái sinh rừng

Mục đích của các chương trình lâm nghiệp xã hội tại Ấn Độ tập trung giải quyết một số vấn đề như: Giúp đỡ dân nghèo và cố nông được quyền

Trang 18

hưởng thụ các tài sản công cộng của thôn bản và đất đai của cơ quan lâm nghiệp trên đó họ có thể trồng các loài cây rừng và các loài cỏ thích hợp; Tuyển chọn các biện pháp kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cho từng khu sinh thái

cụ thể; Tổ chức các cộng đồng địa phương để tiến hành phát triển có hiệu quả công tác lâm nghiệp xã hội

- Tại Indonesia, người dân ở vùng Kalimanta có tập quán canh tác du canh, lúc ban đầu du canh được tiến hành tại các khu rừng tự nhiên, sau đó các diện tích rừng thứ sinh cũng được sử dụng, từng bước các hộ gia đình đã bắt đầu đòi hỏi quyền được sở hữu nương rẫy và đất bỏ hóa Với áp lực dân

số ngày càng gia tăng những quyền lợi đó được mở rộng cho thế hệ tiếp theo Những nguồn lâm sản phụ như song mây, gỗ trầm hương và tổ ong đã có sự cạnh tranh và không thỏa hiệp về lợi ích giữa người dân địa phương và những người bên ngoài Tại miền Nam và Tây Sumatra, các thành viên cộng đồng có quyền thu hái lâm sản và mở nương làm nông nghiệp trên đất rừng của làng, trong đó một số đám rừng được giữ lại và không ai được đụng chạm

tới chúng [15, T68, T76]

Tại Tiamor, Indonesia tất cả đất đai được công khai xếp vào loại

“Adapt” tức là đều thuộc quyền sở hữu của địa chủ lớn địa phương, mãi cho tới cuối thế kỷ 20 những người nông dân mới được hưởng quyền sử dụng đất Vào những năm 1940 và 1950, tại huyện Amarasi, người ta đã đề ra nhiều bước để cải tiến việc quản lý đất đai Những biện pháp đó đều dựa trên bộ luật Adapt và sau đó được luật lệ Nhà nước củng cố để thi hành tại 64 thôn bản

của huyện Chúng gồm có nghĩa vụ trồng các hàng cây Keo dậu (Leucaena

leucocephala) theo các đường đồng mức trên các lô nương rẫy trước khi bỏ

hóa và một phần sử dụng đất tách rời các khu canh tác với các khu lâm súc dành cho chăn thả [15, T83]

Trang 19

- Tại Chiang Mai - Thái Lan, tháng 9/2001 diễn ra tổ chức một hội thảo quốc tế về lâm nghiệp cộng đồng, trong đó đã phản ánh nhu cầu phát triển phương thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng ở các quốc gia, trong đó

có Việt Nam [15]

- Tại Bolivia, mô hình phát triển quản lý tài nguyên rừng đều tập trung vào việc tổ chức các hợp tác xã lâm nghiệp, người ta đã tiến hành xây dựng thêm các xưởng cưa để tạo thêm lợi tức, kết hợp với việc quản lý rừng nhằm đạt được tính sản xuất bền vững Mặc dầu cây rừng được tập thể quản lý, người ta vẫn cần có giấy phép khai thác do các nhà đương cục của Chính phủ Bolivia cấp phát hàng năm Cộng đồng dành lại những loài cây nhập nội và có giá trị cao để xây dựng một quỹ tiết kiệm chỉ được dùng tới khi rất cần thiết [15, T210]

- Tại Peru chương trình quản lý tài nguyên Selva Trung ương, năm

1980 được phát triển, chương trình này nhằm vào việc quản lý tài nguyên rừng đặc biệt là rừng đầu nguồn với mục tiêu là tạo ra công ăn việc làm và nguồn lợi tức bằng tiền cho các thành viên cộng đồng đồng thời bảo tồn các rừng tự nhiên của cộng đồng được quản lý [15, T211]

- Tại Braxin, việc nghiên cứu nhóm người Indieng Kapor tại miền đông Amazon, Braxin đã chứng minh rằng các nhóm bản địa đã xử lý hệ động thực vật và cuối cùng đã làm tăng được tính đa dạng sinh học Điều đó góp phần vào việc duy trì và nâng cao khả năng cung ứng của rừng cho con người trong thời gian dài [15, T226]

- Tại Mexico sự tham gia của nông dân vào việc quản lý, bảo vệ và nâng cao tài nguyên rừng được thực hiện của một chính sách có tên là “Kinh tế lâm nghiệp thôn xã” đã cho thấy sự tham gia trực tiếp của người dân địa phương là chìa khóa cho sự thành công của các chương trình mong muốn phát

triển tài nguyên rừng cộng đồng [15, T238]

Trang 20

- Ở Nhật Bản văn hoá phát triển trong mối quan hệ mật thiết của gỗ và rừng, tiêu biểu là những toà nhà bằng gỗ đền "Horyn" và nhiều cây gỗ linh thiêng còn lại xung quanh những đền, miếu và điện thờ Từ sự đam mê và quan tâm đến văn hoá, người Nhật đã học được cách cải tiến việc sử dụng bền vững và bảo tồn nguồn tài nguyên rừng rất lớn Vì vậy, thực tế các mục tiêu chính trong luật pháp rừng và quản lý tài nguyên ở Nhật Bản đều được công

bố rõ ràng để đẩy mạnh phát triển bền vững dựa trên cơ sở lợi ích cộng đồng ngay từ những năm 1800 [21]

1.2 Ở Việt Nam

Theo Nguyễn Hồng Quân và các cộng tác viên (2000) [11], tính cộng đồng của các dân tộc Việt Nam là yếu tố quan trọng tạo nên cơ sở cho những thành quả đã đạt được trong công cuộc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Vì vậy, vấn đề phát huy vai trò của các cộng đồng để quản lý nguồn tài nguyên này là vấn đề vừa mang ý nghĩa phát huy truyền thống, vừa có thể tạo ra một cách quản lý tài nguyên có hiệu quả hơn, bền vững hơn, phù hợp với những xu hướng phát triển của thế giới

Khi nghiên cứu kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên nhiều tác giả đã khẳng định tầm quan trọng của kiến thức bản địa trong quản lý tài nguyên thiên nhiên Chính những cộng đồng địa phương là những người hiểu biết sâu sắc nhất về tài nguyên thiên nhiên nơi họ sinh sống, về cách thức giải quyết những mối quan

hệ kinh tế - xã hội trong cộng đồng của họ Họ biết phát triển những loài cây trồng, vật nuôi cho hiệu quả cao và bền vững trong hoàn cảnh sinh thái của địa phương [18]

Đoàn Diễm (1997) [6] nhận thấy rằng, sự tham gia của các cộng đồng góp phần làm giảm những mâu thuẫn về lợi ích trong sử dụng tài nguyên Nghiên cứu ở vùng lòng hồ Hòa Bình cho thấy, thiếu sự tham gia của các

Trang 21

cộng đồng đã không giải quyết hợp lý được mối quan hệ về lợi ích giữa quốc

gia và cộng đồng dân cư địa phương Sự thất bại của dự án 747 “Ổn định dân

cư phát triển kinh tế xã hội vùng chuyển dân sông Đà” trong những năm đầu

triển khai và thực hiện dự án có một phần quan trọng là thiếu sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng những giải pháp quản lý tài nguyên thiên nhiên Bản thân những tranh chấp về tài nguyên giữa các cá thể trong cộng đồng cũng chỉ có thể giải quyết tốt trên cơ sở các luật tục, hương ước cũng như những mối quan hệ làng bản ở từng địa phương Ngoài ra, một số chính sách Nhà nước có thể không được thực thi một cách triệt để, khi thiếu sự tham gia của các cộng đồng Những người dân địa phương là những người thực hiện và giám sát hiệu quả nhất các chương trình, dự án triển khai trên địa bàn của họ

Ngày nay ở Việt Nam, quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng đã được nhận thức như một trong những giải pháp hiệu quả để quản lý tài nguyên thiên nhiên vùng cao Đó là cách quản lý mà mọi thành viên cộng đồng đều được tham gia vào quá trình phân tích đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân và hình thành giải pháp để phát huy mọi nguồn lực của địa phương cho bảo vệ, phát triển và sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên thiên nhiên vì sự phồn thịnh của mỗi gia đình và cộng đồng

Tuy nhiên, các giải pháp để khuyến khích cộng đồng tham gia quản lý tài nguyên thiên nhiên ở mỗi hoàn cảnh cụ thể sẽ khác nhau Nó phụ thuộc vào đặc điểm của nguồn tài nguyên hiện có, vào chính sách, luật pháp Nhà nước, vào những quy định của cộng đồng, làng xóm, những phong tục, tập quán, ý thức tôn giáo, nhận thức và kiến thức, kinh nghiệm và trình độ của người dân v.v Trong nhiều trường hợp ở nước ta, sự phụ thuộc này vẫn chưa được làm sáng tỏ đầy đủ Đây là lý do vì sao việc nghiên cứu nhằm xây dựng giải pháp quản lý tài nguyên thiên nhiên trên cơ sở cộng đồng ứng với

Trang 22

mỗi nhóm dân tộc cùng toàn bộ phức hệ các điều kiện tồn tại của họ vẫn đang được đặt ra như một trong những nhiệm vụ cấp bách ở Việt Nam

Tính đến 31 tháng 12 năm 2007 [9] cả nước có 10.006 cộng đồng dân

cư thôn, chủ yếu là các cộng đồng các đồng bào dân tộc ít người, đang quản

lý và sử dụng 2.792.946,3 ha rừng và đất trống đồi trọc (gọi chung là đất lâm nghiệp) để xây dựng và phát triển rừng, trong đó: 1.916.169,2 ha đất có rừng (chiếm 68,6%) và 876.777,1 ha đất trống đồi trọc (chiếm 31,4%) Diện tích đất lâm nghiệp do cộng đồng quản lý nêu trên chiếm 17,20% diện tích đất quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp trên toàn quốc (16,24 triệu ha); diện tích đất lâm nghiệp có rừng do cộng đồng quản lý chiếm 15% tổng diện tích rừng của

cả nước (12.873.815 ha) Trong diện tích đất lâm nghiệp có rừng do cộng đồng quản lý và sử dụng thì rừng tự nhiên chiếm tuyệt đại đa số lên đến 96%, rừng trồng chỉ chiếm có 4% Cộng đồng quản lý chủ yếu rừng phòng hộ, đặc dụng (71%), rừng sản xuất chỉ chiếm 29% Cộng đồng quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp nêu trên với 3 hình thức sau:

- Thứ nhất, rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp được cơ

quan Nhà nước có thẩm quyền giao cho cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định lâu dài (có quyết định hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và rừng, sau đây gọi tắt là giao) với diện tích 1.643.251,2 ha tương đương 58,8% diện tích đất lâm nghiệp do cộng đồng quản lý và sử dụng

- Thứ hai, rừng và đất rừng do cộng đồng tự công nhận và quản lý từ

lâu đời nhưng chưa được Nhà nước giao (chưa có bất kỳ một loại giấy tờ hợp pháp nào, gọi tắt là chưa giao) với diện tích 247.029,5 ha tương đương 8,9%

Đó là các khu rừng thiêng, rừng ma, rừng mó nước, những khu rừng cung cấp lâm sản truyền thống cho cộng đồng

- Thứ ba, rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp của các tổ chức Nhà nước (Lâm trường, Ban quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng

Trang 23

hộ…) được các cộng đồng nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi và trồng mới theo

hợp đồng khoán rừng lâu năm, 50 năm, gọi tắt là nhận khoán với diện tích 902.662,7 ha tương đương 32,3%

Ngoài ra, hiện nay còn có một hình thức quản lý rừng và đất rừng cộng đồng khác nữa ở Việt Nam là các hộ gia đình trong một thôn tự nguyện góp rừng và đất lâm nghiệp đã được giao của hộ gia đình trở thành rừng và đất rừng dưới hình thức quản lý của cộng đồng nhằm thực hiện các dự án do Chính phủ hoặc nước ngoài hỗ trợ Hình thức này ban đầu cũng được coi là hình thức quản lý rừng cộng đồng nhưng cộng đồng ở đây bao gồm những thành viên có rừng và đất rừng tham gia đóng góp tự nguyện

1.2.1 Cơ sở pháp lý tác động đến quản lý rừng cộng đồng tại Việt Nam

Tiến trình phát triển chính sách lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam [9]:

- Trước năm 1954: Thừa nhận sự tồn tại của rừng cộng đồng

Lâm nghiệp thuộc địa, phong kiến thừa nhận rừng cộng đồng truyền thống Quản lý rừng cộng đồng dựa trên các hương ước và luật tục truyền thống

Trang 24

Quyết định 184 của Hội đồng Bộ trưởng năm 1982 và Chỉ thị 29 của Ban

bí thư năm 1983 về giao đất giao rừng cho các thành phần kinh tế quốc doanh

và tập thể, bắt đầu chú ý đến hợp đồng khoán rừng cho hộ gia đình

- Giai đoạn 1993-2002

+ Tăng cường quá trình phi tập trung hoá trong quản lý rừng, quan tâm đến xã hội hóa nghề rừng nhưng chính sách đối với LNCĐ chưa rõ ràng

Trang 25

Ở các địa phương thực hiện nhiều mô hình quản lý rừng cộng đồng nhưng ở mức độ tự phát hoặc mang tính chất thí điểm Bộ NN&PTNT thành lập Tổ công tác Quốc gia về LNCĐ để triển khai một số nghiên cứu và tổ chức nhiều hội thảo quốc gia về LNCĐ Nhiều chương trình, dự án quốc tế quan tâm đến phát triển LNCĐ Nhưng về cơ bản LNCĐ chưa được thể chế hóa rõ ràng

Luật đất đai (sửa đổi) năm 1993, Nghị định 02/CP năm 1994 và Nghị định 163/CP năm 1999 về giao đất lâm nghiệp đều không quy định rõ ràng cho đối tượng cộng đồng Luật Dân sự năm 1995 không quy định cộng đồng dân cư là một chủ thể kinh tế có tư cách pháp nhân Trong giai đoạn này nhiều địa phương đã vận dụng một số văn bản của Nhà nước và của ngành cho phát triển LNCĐ như Nghị định 01/CP năm 1995 về giao khoán đất lâm nghiệp, Nghị định số 29/CP năm 1998 về Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, Quyết định 245/1998/QĐ-TTg về việc thực hiện trách nhiệm của nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp, Thông tư 56/TT năm 1999 của Bộ NN&PTNT về hướng dẫn xây dựng quy ước bảo vệ phát triển rừng trong cộng đồng, Quyết định 08/2001/QĐ-TTg năm 2001 về quy chế quản lý 3 loại rừng, Quyết định 178/2001/QĐ-TTg năm 2001 về quyền hưởng lợi và nghĩa

vụ khi tham gia quản lý rừng

- Từ 2003 đến nay: Hình thành khung pháp lý cơ bản cho LNCĐ

Theo Luật Đất đai mới năm 2003[14], cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp với tư cách là người sử dụng đất

Luật BV&PTR mới năm 2004 [12] có một mục riêng quy định về giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn, quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư thôn được giao rừng

Trang 26

Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ về thi hành Luật đất đai (Nghị định 181) quy định cộng đồng dân cư thôn được giao đất rừng phòng hộ với các quyền chung như hộ gia đình và cá nhân được giao đất lâm nghiệp nhưng cộng đồng dân cư thôn không được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho quyền sử dụng đất, không được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử đụng đất

Luật Dân sự năm 2005 [13] thừa nhận khái niệm sở hữu chung của cộng đồng Theo đó, cộng đồng dân cư thôn có quyền sở hữu đối với tài sản được hình thành theo tập quán, tài sản do các thành viên trong cộng đồng đóng góp và cùng quản lý, sử dụng theo thoả thuận vì lợi ích của cộng đồng

- Các quyết định, nghị định và thông tư của Chính phủ và các văn bản của bộ có liên quan [5]:

+ Nghị định số 29/CP ngày 11/5/1998 của Chính phủ đã quy định: Thôn là nơi thực hiện dân chủ một cách trực tiếp nhằm giải quyết các công việc nội bộ trong cộng đồng

+ Quyết định số 13/2002/QĐ – BNV ngày 06/12/2002 của Bộ nội vụ ban hành về quy chế tổ chức và hoạt động của cộng đồng

+ Quyết định số 106/2006/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành bản hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng dân cư thôn

+ Thông tư số 38/2007/ TT – BNN ngày 24/5/2007 của Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn

+ Công văn số 2324/ BNN – LN ngày 21/8/2007 của Cục Lâm nghiệp

về hướng dẫn các chỉ tiêu kỹ thuật và thủ tục khai thác rừng cộng đồng

+ Quyết định số 434/QĐ –QLR ngày 11/4/2007 của Cục trưởng Cục Lâm nghiệp ban hành bản hướng dẫn xây dựng quy hoạch bảo vệ và phát

Trang 27

triển rừng cấp xã và hướng dẫn giao rừng gắn với giao đất lâm nghiệp cho cộng đồng dân cư thôn

Nhìn chung các cơ sở pháp lý trên đây đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với việc quản lý rừng cộng đồng tại Việt Nam Các cơ sở pháp lý trên đã góp phần rất tích cực trong việc hỗ trợ và tạo ra một hành lang pháp lý đảm bảo cho các hoạt động quản lý rừng

1.2.2 Những chương trình, dự án về quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam

- Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) năm

1998 đã cho biên dịch tài liệu về lâm nghiệp cộng đồng và sổ tay cẩm nang của lâm nghiệp cộng đồng do tổ chức nông lương liên hiệp quốc (FAO-UNDP) [2] xuất bản về các vấn đề cơ bản có liên quan đến lâm nghiệp cộng đồng, như: “Khái niệm, phương pháp, công cụ phục vụ luận chứng, kiểm tra, đánh giá có sự tham gia của người dân trong LNCĐ”; “Thẩm định nhanh quyền hưởng dụng đất và cây rừng của cộng đồng” … rất hữu ích cho việc nghiên cứu phát triển LNCĐ ở Việt Nam trong giai đoạn tiền phát triển Theo các tài liệu này thì LNCĐ là mọi hoạt động lâm nghiệp được những cá nhân trong cộng đồng thực hiện nhằm tăng các lợi ích mà họ cho là có giá trị

Trong hoạt động LNCĐ, người trong cuộc được hiểu là những người cùng được xác định và nằm trong cộng đồng và có mối quan hệ phụ thuộc vào cộng đồng, người ngoài cuộc là những người có thể tham gia vào một cộng đồng trong một thời gian, nhưng không được xác định với cộng đồng hoặc được cộng đồng xác nhận là thành viên của họ Sự tham gia tích cực của những người trong cuộc và người ngoài cuộc vào tất cả các quyết định có liên quan tới mục tiêu và hoạt động được gọi là sự tham gia Mục đích cơ bản của

sự tham gia là khuyến khích cộng đồng tự quyết, từ đó nuôi dưỡng và phát triển bền vững tài nguyên rừng Thông qua các chương trình, dự án người

Trang 28

trong cuộc hoặc cả người trong cuộc và người ngoài cuộc cùng nhau góp sức

để đạt được mục đích đã đề ra

- Chương trình hợp tác lâm nghiệp Việt Nam - Thụy Điển đã cho xuất bản các tài liệu rất hữu ích cho quản lý rừng cộng đồng như: “Điều tra đánh giá nông thôn có sự tham gia của nông dân, xây dựng kế hoạch ở thôn bản”,

“ Phát triển quỹ thôn bản” và tổng quan đào tạo về: “Lập kế hoạch cấp thôn/bản và hộ gia đình” [5]

- Một trong những dự án lớn nhất về lâm nghiệp cộng đồng có lẽ phải

kể tới dự án Phát triển lâm nghiệp xã hội Sông Đà Bắt đầu vào năm 1993, bên cạnh những điểm hạn chế, cho tới nay dự án đã thu được những thành công và những bài học kinh nghiệm quý báu Chương trình hợp tác với Cộng hòa liên bang Đức cho xuất bản tài liệu “Bộ công cụ PRA cho thôn bản lập kế hoạch phát triển thôn bản” năm 2006 [2] Trong bộ công cụ này có 12 công cụ hướng dẫn từng bước cho người dân địa phương đánh giá được thực trạng, thế mạnh trong sản xuất, những trở ngại, đồng thời thảo luận và tìm ra hướng khắc phục những hạn chế trong điều kiện của thôn bản mình giúp lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch phát triển thôn bản

Dự án này đã chú ý làm việc với “nhóm sử dụng rừng” hơn là với các đơn vị quản lý hành chính lâm nghiệp Tại những nơi người H'Mông sinh sống thì “nhóm sử dụng rừng” cũng chính là “nhóm bảo vệ rừng” và đó cũng chính là “cấp” để dự án can thiệp Trong khi đó, nơi người Thái sinh sống thì

“nhóm bảo vệ rừng” không đại diện cho “nhóm sử dụng rừng” và ở đó những can thiệp của dự án tập trung vào cấp bản, bắt đầu bằng những hoạt động ký hợp đồng bảo vệ rừng cho cả bản Dự án đã tiến hành những thu xếp về tổ chức khi thực hiện quy hoạch sử dụng đất và giao đất có người dân tham gia, sau đó tiến hành lập những “nhóm bảo vệ rừng” và hỗ trợ dân bản xây dựng những quy chế bảo vệ rừng Những quy chế này dựa vào việc quản lý, bảo vệ

Trang 29

rừng của cộng đồng để nâng cao sự tự giác của dân bản và tăng cường sự

kiểm soát của dân bản tránh sự phá hoại rừng từ những bản bên cạnh Những

ban quản lý thôn bản mà ít nhất có một thành viên chịu trách nhiệm về lâm

nghiệp trong bản được thiết lập khi tiến hành lập kế hoạch phát triển thôn bản

hàng năm Trong quá trình xây dựng kế hoạch dự án sử dụng 4 tiêu chí chính

để giới thiệu và tăng cường thực thi quản lý LNCĐ đó là: Quyền sử dụng,

nghiên cứu điều kiện địa phương, khả năng của cộng đồng và điều kiện địa

lý khu vực

- Chương trình tài trợ các dự án nhỏ quản lý bền vững rừng nhiệt đới

(SGP PTF/UNDP) [5] cho xuất bản sổ tay hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng

- 2007 trong đó có phân tích và hướng dẫn chi tiết về những điều kiện cơ

bản trong quản lý rừng cộng đồng, những cơ sở pháp lý và luật tục tác động

đến quản lý rừng cộng đồng và các hoạt động trong quản lý rừng cộng đồng

- Chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp và đối tác xuất bản tài

liệu “Cẩm nang ngành lâm nghiệp – Chương lâm nghiệp cộng đồng” năm

2006 [3] Trong đó có trình bày khái quát kinh nghiệm về lâm nghiệp cộng

đồng của một số nước Châu Á, tại Việt Nam cẩm nang này cũng đã trình bày,

phân tích về các khái niệm, đặc trưng, các tiêu chí nhận biết LNCĐ, hiện

trạng phát triển, các hình thức quản lý rừng cộng đồng, kinh nghiệm quản lý

rừng cộng đồng, khuôn khổ pháp lý, điều kiện và các yếu tố tác động đến

LNCĐ và các chỉ tiêu, phương pháp đánh giá LNCĐ ở Việt Nam

- Dự án “Chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng đồng” [5] – do Cục

Lâm nghiệp chủ trì đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp lý hỗ trợ 40 xã

thuộc vùng dự án trong quản lý rừng cộng đồng Bên cạnh đó cũng đã biên

soạn nhiều tài liệu tập huấn và tổ chức các lớp tập huấn với các cấp độ khác

nhau nhằm thúc đẩy nhanh và có chất lượng các hoạt động quản lý rừng bền

vững cho 90 thôn bản thuộc vùng dự án phát triển như: Tài liệu đào tạo tiểu

Trang 30

giáo viên về quản lý rừng cộng đồng; tài liệu tập huấn hiện trường về quản lý rừng cộng đồng và sổ tay hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng Các tài liệu này đang phát huy được giá trị của nó trong việc hỗ trợ và thúc đẩy các cộng đồng xây dựng các hoạt động trong quản lý rừng của mình sau khi được giao rừng, đồng thời các tài liệu này cũng đã đóng góp lớn trong việc nâng cao kiến thức

và kỹ năng cho các cán bộ quản lý lâm nghiệp địa phương cũng như, cán bộ

xã, thôn về xây dựng các hoạt động quản lý rừng cộng đồng

Các chương trình, dự án trên được coi là các cơ sở kỹ thuật quan trọng trong việc hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng tại Việt Nam

Tóm lại, những cơ sở pháp lý và cơ sở kỹ thuật về quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam ở trên có vai trò hết sức quan trọng trong việc quản lý rừng cộng đồng nhằm mục tiêu bền vững

1.3 Sinh kế người dân trong quan hệ với tài nguyên rừng

1.3.1 Khái niệm và phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững

Ý tưởng về sinh kế được đề cập tới trong tác phẩm nghiên cứu của R Chamber những năm 80 [22] Về sau khái niệm này xuất hiện nhiều hơn trong các nghiên cứu của F.Ellis [24], Barlett and Reardon, Morrison, Dorward Mặc dù có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về sinh kế, song chung quy lại đều nhất trí rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố

có ảnh hưởng đến hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình Về căn bản các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay nông hộ tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ, đồng thời chịu sự tác động của thể chế, chính sách và những quan hệ xã hội mà cá nhân hay hộ gia đình đã thiết lập trong cộng đồng

Theo R.Chamber (1989) [22]; T.Reardon, and J.E.Taylor (1996), một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và những cú sốc, duy trì hoặc tăng cường những năng

Trang 31

lực lẫn tài sản của nó ở hiện tại và tương lai mà không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên

Trong nhiều nghiên cứu của mình, F.Ellis [24], [25], [26] cho rằng sinh

kế bao gồm những tài sản (tự nhiên, phương tiện, vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến các tài sản và hoạt động đó (đạt được thông qua các thể chế và quan hệ xã hội) mà theo đó các quy định về sinh kế đều thuộc về mỗi cá nhân hoặc mỗi hộ gia đình

Theo DFID (2001) [23], một sinh kế bao gồm 3 thành tố chính:

* Các nguồn lực và khả năng mà con người có được xem là các vốn hay tài sản sinh kế bao gồm 5 loại: Vốn con người (kỹ năng, kiến thức, sự giáo dục của từng cá nhân và các thành viên trong gia đình, sức khỏe, thời gian và khả năng làm việc để họ đạt được những kết quả sinh kế), vốn xã hội (mạng lưới và mối quan hệ xã hội), vốn tự nhiên (đất đai, mùa màng, vật nuôi, rừng, nước, các nguồn tài nguyên ven biển, ), vốn tài chính (nguồn thu nhập tiền mặt và các loại hình tiết kiệm khác nhau, tín dụng và các luồng thu nhập tiền mặt khác như lương hưu, tiền do thân nhân gửi về hay những trợ cấp của nhà nước), vốn vật chất (các công trình cơ sở hạ tầng cơ bản và các công cụ sản xuất cần thiết của hộ gia đình để hỗ trợ cho sinh kế như: Phương tiện giao thông, hệ thống cấp nước và năng lượng, nhà ở và các đồ dùng, dụng cụ trong gia đình, )

* Chiến lược sinh kế là những quyết định trong việc lựa chọn, kết hợp,

sử dụng và quản lý các nguồn vốn sinh kế của người dân nhằm để kiếm sống cũng như đạt được mục tiêu và ước vọng của họ Cụ thể như là: Quyết định đầu tư vào loại nguồn vốn hay tài sản sinh kế, qui mô của các hoạt động để tạo thu nhập mà họ theo đuổi, cách thức họ quản lý và bảo tồn các tài sản sinh

kế, cách thức họ thu nhận và phát triển những kiến thức, kỹ năng cần thiết để kiếm sống Họ đối phó như thế nào với rủi ro, những cú sốc và những cuộc khủng hoảng ở nhiều dạng khác nhau và họ sử dụng thời gian, công sức lao động mà họ có như thế nào để làm được những điều trên

Trang 32

* Kết quả sinh kế là những điều mà con người muốn đạt được trong cuộc sống cả trước mắt và lâu dài, bao gồm: Sự hưng thịnh hơn (thu nhập cao

và ổn định hơn, cơ hội việc làm tốt hơn, kết quả của những công việc mà người dân đang thực hiện tăng lên và nhìn chung lượng tiền của hộ gia đình thu được gia tăng), đời sống được nâng cao (ngoài tiền và những thứ mua được bằng tiền, người ta còn đánh giá đời sống bằng giá trị của những hàng hóa phi vật chất khác như: Giáo dục và y tế cho các thành viên gia đình có được đảm bảo, khả năng tiếp cận các dịch vụ có tốt không ), khả năng tổn thương được giảm (Người nghèo luôn luôn sống trong trạng thái dễ bị tổn thương Do vậy, sự ưu tiên của họ có thể là tập trung cho việc bảo vệ gia đình khỏi những đe dọa tiềm ẩn, thay vì phát triển tối đa những cơ hội của mình Việc giảm khả năng tổn thương được thể hiện trong ổn định giá cả thị trường,

an toàn sau các thảm họa, khả năng kiểm soạt dịch bệnh cho gia súc, gia cầm…), an ninh lương thực được củng cố (an ninh lương thực là một cốt lõi trong sự tổn thương và đói nghèo Việc tăng cường an ninh lương thực có thể được thực hiện thông qua đảm bảo khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên đất, nâng cao và ổn định thu hoạch mùa màng, đa dạng hóa các loại cây lương thực) và sử dụng bền vững hơn cơ sở nguồn tài nguyên thiên nhiên (sự bền vững môi trường là một mối quan tâm lớn mang ý nghĩa quan trọng và hỗ trợ cho các kết quả sinh kế khác)

1.3.2 Vai trò của rừng đối với sinh kế của người dân

Theo phát biểu của Subinay Nandy (Hội nghị tư vấn quốc tế xây dựng

kế hoạch hành động bảo vệ môi trường 2006 – 2010, Hà Nội, 2005): “Sinh kế của hầu hết người nghèo phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên như rừng, nước và đất đai” Sự sống con người phụ thuộc vào việc quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên này Thật vậy, tài nguyên rừng cung cấp một vài dạng tài sản cho người dân và chúng có vai trò rất quan trọng Ngoài việc cung cấp đất trong trường hợp người dân thiếu đất, rừng cũng là nơi cung cấp cho họ

Trang 33

các nguồn năng lượng, lương thực, thuốc chữa bệnh cũng như các vật liệu để làm nhà, đóng thuyền và vật liệu khác (Sato, 2000) Sato còn cho rằng, người

dân sống phụ thuộc vào rừng ở hai khía cạnh Thứ nhất là phụ thuộc vào thu

nhập, liên quan đến tổng thu nhập và thu nhập họ có được bằng việc bán các

sản phẩm từ rừng Thứ hai là sự phụ thuộc vào sinh kế, được tính toán bằng

lễ nghi phù hợp, các thế lực này sẽ duy trì sự ổn định và thịnh vượng cho cộng đồng [19] Như vậy việc thừa nhận và hiểu rõ giá trị của tài nguyên rừng

có thể giúp mang lại các cơ hội kiếm sống, cải thiện điều kiện dinh dưỡng, sức khỏe và nước sinh hoạt cho người nghèo Nhìn chung giá trị của tài nguyên rừng được đánh giá thông qua các chức năng mà chúng cung cấp Chức năng của môi trường nói chung và tài nguyên rừng nói riêng được chia thành các nhóm sau: Chức năng sản xuất; chức năng truyền tải; chức năng

điều hòa; chức năng văn hóa và thông tin

Tuy nhiên, các chức năng này tác động đồng thời lên nhiều người có các nhu cầu và mối quan tâm khác nhau, những sản phẩm và dịch vụ mà một

cơ sở tài nguyên mang lại có thể cung cấp một cách không phân biệt, nhưng

có thể mang lại lợi ích khác nhau, tùy thuộc vào hệ thống sinh kế và nhận thức về các giá trị của họ Rừng còn có giá trị hơn nhiều khi được quản lý bảo

vệ để cho những sản phẩm cơ bản Nhưng tại sao người dân vẫn canh tác đốt nương làm rẫy và làm những hoạt động khác xâm hại đến tài nguyên rừng? theo Davier và Richards (1999), trường hợp này xảy ra bởi sự khác nhau

Trang 34

trong nhận thức về giá trị của những người có được từ rừng Giá trị của trữ lượng lấy ra được tính theo đơn vị diện tích, trong khi đó người dân địa phương thì tính theo giá trị trên đơn vị nhân công mà yêu cầu để có được nhiều lợi nhuận Do đó, các nhóm liên quan khác nhau có thể có những hành

vi ứng xử khác nhau và đôi khi mâu thuẫn nhau trong việc sử dụng các sản phẩm từ tài nguyên thiên nhiên cho sinh kế của họ [17]

- Xu hướng phát triển phương thức quản lý rừng cộng đồng là khách quan trong phát triển lâm nghiệp ở nhiều quốc gia nhằm định hướng thu hút

sự tham gia của cộng đồng để đóng góp vào tiến trình quản lý rừng bền vững

- Các hình thức quản lý rừng cô ̣ng đồng trong và ngoài nước đã được nêu trên sẽ được đề tài tham khảo để xây dựng nô ̣i dung và phương pháp nghiên cứu cho phù hợp với điều kiê ̣n quản lý rừng cô ̣ng đồng trên đi ̣a bàn nghiên cứu làm cơ sở đề xuất một số giải pháp để cộng đồng quản lý bảo vệ rừng được bền vững

Trang 35

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Đánh giá được ảnh hưởng của quản lý rừng cộng đồng đến tài nguyên rừng và sinh kế của người dân làm cơ sở đề xuất một số giải pháp để góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách trong quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam

2.2 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

+ Rừng và đất rừng đã giao cho cộng đồng thôn, bản quản lý, bảo vệ thuộc xã Văn Minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn

+ Luật pháp và chính sách của Trung ương, địa phương, phong tục tập quán có liên quan đến công tác quản lý bảo vệ rừng, giao rừng cho cộng đồng

- Giới hạn nghiên cứu:

+ Về không gian: Đánh giá tác động quản lý rừng cộng đồng đến tài nguyên rừng và sinh kế cho xã Văn Minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn đại diện làm cơ sở đề xuất một số giải pháp để cộng đồng quản lý bảo vệ rừng bền vững trên địa bàn nghiên cứu

Trang 36

+ Về nội dung nghiên cứu: Trong khuôn khổ giới hạn về thời gian và điều kiện nghiên cứu đề tài chỉ tập trung vào đánh giá tác động của quản lý rừng cộng đồng đến tài nguyên rừng và sinh kế Kết quả chính của đề tài là

sẽ đề xuất một số giải pháp để cộng đồng quản lý bảo vệ rừng bền vững tại địa phương

2.3 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu trên, đề tài tập trung nghiên cứu một số nội dung chủ yếu sau:

- Quá trình giao đất lâm nghiệp, giao rừng cộng đồng ở khu vực nghiên cứu

- Thực trạng công tác quản lý rừng tại xã Văn Minh

- Vai trò của rừng đối với sinh kế của người dân trên địa bàn nghiên cứu

- Đánh giá tác động của quản lý rừng cộng đồng đến kinh tế, xã hội, môi trường tại khu vực nghiên cứu

- Đề xuất một số giải pháp để cộng đồng quản lý bảo vệ rừng bền vững tại xã Văn Minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Quan điểm và phương pháp luận nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện dựa trên lý luận về lý thuyết hệ thống, quan điểm phát triển bền vững và tiếp cận có sự tham gia

2.4.1.1 Vận dụng lý luận về lý thuyết hệ thống

Khi có sự tham gia của cộng đồng dân cư thôn bản vào các hoạt động quản lý rừng là hoạt động trong hệ thống kinh tế - xã hội tác động tới hệ sinh thái tự nhiên

Sự tác động của cộng đồng dân cư thôn bản đến tài nguyên rừng là hoạt động trong hệ thống kinh tế Việc sử dụng đất rừng để canh tác nương rẫy, khai thác gỗ, tre, nứa, lâm sản ngoài gỗ….do nhu cầu sinh kế, xây dựng nhà

Trang 37

cửa, chuồng trại, sử dụng chất đốt…nhiều cộng đồng vì hiệu quả kinh tế đã quyết định tới hình thức quản lý, bảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng của mình Ngược lại, mức độ giàu có và đa dạng, trữ lượng cao và chất lượng tốt của rừng cũng tác động mạnh mẽ tới nguồn thu nhập, nhu cầu hàng ngày của người dân sống phụ thuộc vào rừng Vì vậy để đánh giá quản lý rừng cộng đồng đến tài nguyên rừng và sinh kế cần phải có nhìn nhận toàn diện, khách quan, trung thực về mặt kinh tế do rừng cộng đồng mang lại Kinh tế là yếu tố cấu trúc nội tại của cộng đồng, tạo nên đặc trưng cộng đồng và có ảnh hưởng quyết định đến các hoạt động của lâm nghiệp cộng đồng, lâm nghiệp xã hội Khi ấy tác động về mặt kinh tế trở thành luận cứ và cơ sở khoa học của phát triển lâm nghiệp cộng đồng Như vậy đánh giá tác động về mặt kinh tế là một trong những nội dung sẽ được đề tài nghiên cứu

Việc đánh giá quản lý rừng cộng đồng chỉ thực sự thành công khi có sự tham gia của mọi thành viên trong cộng đồng Các hoạt động này bị chi phối bởi: Nhận thức, trình độ học vấn, phong tục tập quán, hiểu biết pháp luật, thực thi pháp luật trong thói quen sử dụng, quản lý bảo vệ, khai thác rừng, cũng như xây dựng hương ước nội bộ để bảo vệ rừng của cộng đồng Những hoạt động này ảnh hưởng sâu sắc tới tài nguyên rừng Ngược lại, chính các hoạt động quản lý, bảo vệ rừng đã giải quyết cho người dân các vấn đề như: Tạo công ăn việc làm, nâng cao nhận thức, xóa đói giảm nghèo… đã tạo ra cho người dân và nguồn tài nguyên rừng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Bởi vậy khi nghiên cứu tại địa phương đánh giá tác động về mặt xã hội là một

trong những nhân tố được đề tài quan tâm

Rừng là một hệ thống tự nhiên không chỉ là nguồn sinh kế mà còn là môi trường sống của nhân loại Rừng cung cấp nước, không khí, bảo vệ đất, nước, không khí, tuy nhiên đó cũng là một hệ thống rất nhạy cảm khi tác động bên ngoài tới rừng cũng dẫn đến sự thay đổi các thành phần và chức năng

Trang 38

trong hệ thống tự nhiên Rừng vốn tồn tại khách quan và vận động theo những quy luật của tự nhiên Cho nên, mọi tác động của con người cũng phải tuân theo các quy luật tự nhiên Bởi vậy đánh giá tác động về mặt môi trường cũng cần phải chú ý trong nghiên cứu của đề tài

2.4.1.2 Lý luận về phát triển bền vững

Phát triển bền vững đã được hội đồng Thế giới về môi trường và phát

triển định nghĩa: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng các yêu cầu của

hiện tại mà không làm thương tổn đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai” Phát triển bền vững có thể mang ý nghĩa là sự duy trì hay

kéo dài năng lực sản xuất của một cơ sở tài nguyên thiên nhiên nhằm đáp ứng các yêu cầu của xã hội loài người ở hiện tại và tương lai Quản lý rừng bền vững là tiêu chí phấn đấu không mệt mỏi của chúng ta Những giải pháp kinh

tế - xã hội để quản lý rừng bền vững sẽ bị thất bại nếu không tuân thủ nguyên tắc của tự nhiên Vì vậy, một mặt việc quản lý phải nhằm khai thác những giá trị có lợi của nó, mặt khác phải duy trì tính ổn định và sự tồn tại lâu dài theo

thời gian của rừng Quản lý rừng bền vững tức là “phát triển và sử dụng hiệu

quả tất cả chức năng tiềm tàng” của nó đồng thời phải “bảo đảm khả năng tái tạo, phải hoàn trả lại cái đã bị lấy đi bởi người sử dụng”[3] Quản lý rừng

bền vững phải nhằm để “nâng cao chất lượng cuộc sống của con người trong

phạm vi khả năng chịu đựng của hệ sinh thái rừng” [3] Phát triển bền vững

phải sử dụng đúng mức và ổn định các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo

vệ môi trường sống Không chỉ đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững chắc nhờ khoa học kỹ thuật mà còn đảm bảo ổn định và cải thiện những điều kiện tự nhiên, môi trường Do đó, trong mỗi thời kỳ, hoàn cảnh, nguồn tài nguyên cụ thể thì con người phải tìm ra hướng phát triển tối

ưu cho mình

Trang 39

2.4.1.3 Tiếp cận có sự tham gia trong nghiên cứu

Sự tham gia được định nghĩa như một quá trình thông qua đó các chủ thể cùng tác động và chia sẻ ý kiến và cùng quyết định Điều quan trọng là người dân có thể trao đổi nguyện vọng của họ về tài nguyên rừng với nhà nước, nhà kỹ thuật, cơ quan quản lý và ngược lại, các cơ quan này có thể hiểu

và đáp ứng các nguyện vọng trên và tạo ra mối quan hệ hài hòa, biểu hiện lẫn nhau trong quản lý tài nguyên rừng

Trong nghiên cứu của đề tài này, phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân được áp dụng trong quá trình thu thập số liệu tại địa điểm nghiên cứu Người dân tham gia ở mức độ tư vấn, cung cấp thông tin Điều này được thể hiện ở các phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong đề tài: Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) Các phương pháp này giúp thu thập được các thông tin và phân tích của chính người dân địa phương về vấn đề nghiên cứu

2.4.2 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu

Chọn điểm nghiên cứu được tiến hành trước khi điều tra thu thập số liệu, nguyên tắc của chọn điểm nghiên cứu là đại diện tương đối cho khu vực nghiên cứu

Theo Donovan (1997), tiêu chuẩn chọn điểm nghiên cứu là: Thành phần dân tộc, khả năng tiếp cận và địa hình

+ Trong vùng nghiên cứu tất cả các thôn, bản đều phân bố bám rừng,

gần rừng cho nên các yếu tố về địa hình và khả năng tiếp cận với rừng tương đối đồng nhất Vì vậy, thành phần dân tộc là yếu tố lựa chọn làm tiêu chí chọn thôn nghiên cứu của đề tài

+ Thành phần dân tộc là yếu tố quan trọng ảnh hưởng lớn đến thói quen

sử dụng tài nguyên rừng, đến sinh kế, hình thức tác động của cộng đồng, khả

Trang 40

năng tiếp thu thông tin bên ngoài, dân tộc và tập tục văn hóa có thể ảnh hưởng đến quá trình đổi mới chấp nhận các kỹ thuật mới và sự tham gia vào các hoạt động phát triển rừng

Tiêu chí chọn xã, thôn, bản nghiên cứu, bao gồm các tiêu chuẩn:

+ Xã có địa bàn quản lý hành chính nằm trên địa bàn huyện Na Rì Đã thực hiện giao đất, giao rừng tới cộng đồng, hộ gia đình và cá nhân và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đã có một số hoạt động hỗ trợ phát triển sinh kế của người dân từ các tổ chức địa phương

+ Người dân trong xã có các hoạt động phụ thuộc vào tài nguyên rừng như đất canh tác nông nghiệp, gỗ, củi, động vật và các tài nguyên khác

+ Có vị trí quan trọng trong công tác phát triển lâm nghiệp tại địa phương + Có dân tộc ít người đang sinh sống

Trên cơ sở các tiêu chuẩn trên xã Văn Minh được chọn làm nghiên cứu của đề tài

2.4.3 Phương pháp kế thừa có chọn lọc các tài liệu liên quan sẵn có

- Các tài liệu kế thừa là những tài liệu mới nhất, do các cơ quan, tổ chức có chức năng cung cấp, ban hành, tài liệu đảm bảo đủ và đáp ứng được mức độ chính xác tương ứng với các kết quả nghiên cứu cần thu được

- Các loại tài liệu kế thừa, bao gồm:

+ Điều kiện cơ bản, các loại bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng thuộc địa bàn nghiên cứu

+ Các chính sách, quy định, hướng dẫn của Trung ương có liên quan đến quản lý rừng cộng đồng

+ Tài liệu có liên quan đến một số dự án hỗ trợ quản lý rừng cộng đồng như: Dự án Chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng đồng (2006 - 2009), Dự án Kfw pha 3 (2007 – 2013) Nâng cao năng lực hỗ trợ kỹ thuật quản lý rừng cộng đồng cho cán bộ quản lý Dự án cấp cơ sở và cán bộ cộng đồng dân cư thôn”

Ngày đăng: 28/09/2017, 15:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2007), Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020
Tác giả: Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2007
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), Lâm nghiệp cộng đồng, Cẩm nang ngành lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm nghiệp cộng đồng
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2006
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), Quản lý rừng bền vững, Cẩm nang ngành lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý rừng bền vững
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2006
4. Báo cáo trình bày tại hội thảo (2008), Học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm quản lý rừng cộng đồng, tại xã Văn minh, huyện Na Rì, tỉnh Bắc kạn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm quản lý rừng cộng đồng
Tác giả: Báo cáo trình bày tại hội thảo
Năm: 2008
5. Cục lâm nghiệp (2008), Sổ tay hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng, Chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng
Tác giả: Cục lâm nghiệp
Năm: 2008
6. Đoàn Diễm (1997), Suy nghĩ về công tác quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp, Tạp chí Lâm nghiệp, (Số 12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Lâm nghiệp
Tác giả: Đoàn Diễm
Năm: 1997
7. Don Gilmour (1998 ), Các phương án và phương thức tham gia của cộng đồng trong việc quản lý rừng đầu nguồn / các tài nguyên rừng ở tỉnh Đaklak, GTZ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương án và phương thức tham gia của cộng đồng trong việc quản lý rừng đầu nguồn / các tài nguyên rừng ở tỉnh Đaklak, GTZ
8. FAO (1996), Quản lý tài nguyên rừng cộng đồng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tài nguyên rừng cộng đồng
Tác giả: FAO
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
11. Nguyễn Hồng Quân và các cộng tác viên (2000), Hiện trạng rừng và xu hướng phát triển quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam, Hội thảo Lâm nghiệp cộng đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng rừng và xu hướng phát triển quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hồng Quân và các cộng tác viên
Năm: 2000
15. Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc (1996), Quản lý tài nguyên rừng công cộng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tài nguyên rừng công cộng
Tác giả: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
17. Nguyễn Thị Kim Tài (2006), Nghiên cứu sinh kế của người dân địa phương và động lực quản lý tài nguyên rừng bảo vệ tại xã Quốc Oai huyện Đạ Teh, tỉnh Lâm Đồng, luận văn Thạc Sỹ. Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sinh kế của người dân địa phương và động lực quản lý tài nguyên rừng bảo vệ tại xã Quốc Oai huyện Đạ Teh, tỉnh Lâm Đồng
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Tài
Năm: 2006
18. Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (1998), Kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên, Nxb Nông nghiệp, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên
Tác giả: Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1998
19. Trần Đức Viên và cộng sự (2005), Thành tựu và thách thức trong quản lý tài nguyên thiên nhiên và cải thiện cuộc sống người dân ở trung du – miền núi Việt Nam, Trung tâm sinh thái nông nghiệp, trường Đại học Nông Nghiệp I. Nxb chính trị Quốc Gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành tựu và thách thức trong quản lý tài nguyên thiên nhiên và cải thiện cuộc sống người dân ở trung du – miền núi Việt Nam
Tác giả: Trần Đức Viên và cộng sự
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc Gia
Năm: 2005
21. Wood Chips (1996), Một số hoạt động lâm nghiệp ở Nhật Bản, Thông tin lâm nghiệp nước ngoài, (Số 2).TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số hoạt động lâm nghiệp ở Nhật Bản
Tác giả: Wood Chips
Năm: 1996
22. Chamber, R. & Longhurst, R (1986), Trees, seasons and the poo, In Longurst, R., ed. Seasonality and poverty P. 44 – 50 IDS bulletin, Vol.17, No.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trees, seasons and the poo, In Longurst, R., ed. Seasonality and poverty P. 44 – 50 IDS bulletin
Tác giả: Chamber, R. & Longhurst, R
Năm: 1986
24. Ellis, F (2000), Rural Livelihood and Diversity in Developing Countries, Oxford: Oxford University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rural Livelihood and Diversity in Developing Countries
Tác giả: Ellis, F
Năm: 2000
25. Ellis, F and Harris (2004), Development Patterns, Mobility and Livelihood Deversification Keynote Papar for DFID Sustainble Livelihood Retreat, July, Processed Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development Patterns, Mobility and Livelihood Deversification Keynote Papar for DFID Sustainble Livelihood Retreat
Tác giả: Ellis, F and Harris
Năm: 2004
26. Ellis, F. and H.A.Freeman (2005), Rural Livelihood and Poverty Reduction Policies, London, Routlege Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rural Livelihood and Poverty Reduction Policies
Tác giả: Ellis, F. and H.A.Freeman
Năm: 2005
28. Guha,R (1989), The unquiet woods: ecological change and peasant resistance in the Himalaya, Oxford University Press, New Delhi, India Sách, tạp chí
Tiêu đề: The unquiet woods: ecological change and peasant resistance in the Himalaya
Tác giả: Guha,R
Năm: 1989
29. Hobley (1987), Involving the poor in forest management, Can it be done?, ODI Social Forestry Network paper 5c. Overseas Development Institute, London, UK Sách, tạp chí
Tiêu đề: Involving the poor in forest management, Can it be done
Tác giả: Hobley
Năm: 1987

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm