Đông Hà có tổng diện tích tự nhiên là 7.295,9 ha, trong đó có gần 30% diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp; mặc dù đóng góp cho ngân sách từ ngành lâm nghiệp của Thành phố còn khiêm tố
Trang 1-
TRẦN ĐẠI ĐỨC
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT NỘI DUNG CƠ BẢN QUY HOẠCH BẢO
VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ GIAI ĐOẠN
Trang 2Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Nhâm
Phản biện 1: Đinh Hữu Khánh
Phản biện 2: TS Vũ Thế Hồng
Luận văn đã được bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp, họp tại trường Đại học Lâm nghiệp
Vào hồi 10 giờ 45 phút , Ngày 28 tháng 10năm 2011
Có thể tìm hiểu luận văn tại thư viện của trường Đại học Lâm nghiệp
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Luận văn được hoàn thành theo chương trình đào tạo cao học khóa 17 của Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam mở tại Phân hiệu Đại học Huế tại Quảng Trị
Tôi xin chân thành cám ơn Ban giám hiệu trường Đại học Lâm nghiệp, Khoa sau đại học, các thầy cô giáo, đặc biệt là PGS.TS Vũ Nhâm, người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu và giành những tình cảm tốt đẹp cho tôi trong thời gian học tập cũng như quá trình hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến UBND thành phố Đông Hà các phòng Kinh tế, Tài nguyên môi trường, Thống kê và Trạm Kiểm lâm thành phố Đông Hà đã tạo điều kiện, tận tình giúp đỡ, cung cấp đầy đủ số liệu và động viên tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Mặc dù đã làm việc với tất sự nổ lực, nhưng do có những hạn chế nhất định về trình độ chuyên môn và thời gian thực hiện nên luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp xây dựng quý báu của các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp
Tôi xin cam đoan các số liệu thu thập, kết quả tính toán trong luận văn này là trung thực, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rỏ nguồn gốc
Tôi xin chân thành cám ơn./
Hà Nội, ngày 09 tháng 9 năm 2011
Tác giả
Trần Đại Đức
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA Trang
LỜI CÁM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Trên thế giới 4
1.1.1 Quy hoạch vùng lãnh thổ của một số nước trên thế giới 4
1.1.2 Quy hoạch BV&PTR 7
1.2 Ở Việt Nam 8
1.2.1 Quy hoạch vùng chuyên canh 8
1.2.2 Quy hoạch BV&PTR 9
1.2.3 Quy hoạch BV&PTR cho các cấp 14
Chương II: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 17
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 17
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 17
2.2 Đối tượng nghiên cứu 17
2.3 Phạm vi nghiên cứu 17
2.4 Nội dung nghiên cứu: 18
2.4.1 Cơ sở lý luận quy hoạch BV&PTR cấp huyện (thành phố trực thuộc tỉnh) 18
Trang 52.4.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Đông Hà ảnh hưởng
đến BV&PTR thành phố Đông Hà 18
2.4.4 Một số dự báo cơ bản 18
2.4.5 Quy hoạch BV&PTR thành phố Đông Hà giai đoạn 2012- 2021 18 2.5 Phương pháp nghiên cứu 18
2.5.1 Quan điểm phương pháp luận: 18
2.5.2 Những tài liệu cần thu thập trong khu vực nghiên cứu 18
2.5.3 Phương pháp thu thập số liệu 19
2.5.4 Xây dựng bản đồ Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp, Bản đồ quy hoạch BV&PTR của thành phố đến năm 2021 20
2.5.5 Tổng hợp xây dựng Phương án quy hoạch BV&PTR 20
Chương III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
3.1 Cơ sở lý luận quy hoạch BV&PTR cấp huyện (thành phố trực thuộc tỉnh) 22
3.1.1 Cơ sở pháp lý: 22
3.1.2 Quy hoạch BVPTR thành phố trong hệ thống Quy hoạch BV&PTR tỉnh và Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH Thành phố 24
3.1.3 Quy hoạch BVPTR thành phố trên cơ sở điều kiện tự nhiên KT-XH địa phương, nhu cầu thị trường và định hướng phát triển 25
3.1.4 Quan điểm, nguyên tắc và yêu cầu đối với quy hoạch BV&PTR Thành phố 26
3.2 Điều kiện tự nhiên, KT-XH của thành phố Đông Hà 27
3.2.1 Phân tích điều kiện tự nhiên và tài nguyên rừng ảnh hưởng đến Quy hoạch BV&PTR thành phố Đông Hà: 27
3.2.2 Phân tích điều kiện KT-XH ảnh hưởng đến quy hoạch BV&PTR thành phố Đông Hà 33
3.3 Hiện trạng sử dụng đất; quản lý, BV&PTR trên địa bàn thành phố: 39
3.3.1 Hiện trạng quản lý sử dụng đất thành phố Đông Hà 39
3.3.2 Hiện trạng công tác quản lý, BV&PTR trên địa bàn thành phố 42
Trang 63.4 Một số dự báo cơ bản 59
3.4.1 Dự báo về dân số 59
3.4.2 Dự báo nhu cấu về lâm sản: 60
3.4.3 Dự báo về môi trường 62
3.4.4 Dự báo về nhu cầu sử dụng đất 63
3.4.5 Dự báo về phát triển khoa học công nghệ trong lâm nghiệp 63
3.5 Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng thành phố Đông Hà giai đoạn 2012- 2021 64
3.5.1 Quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ: 64
3.5.2 Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp thành phố Đông Hà đến năm 2021 69
3.5.3 Quy hoạch 3 loại rừng thành phố Đông Hà đến năm 2021 69
3.5.4 Quy hoạch đất lâm nghiệp theo chủ quản lý 71
3.5.5 Quy hoạch định hướng các biện pháp bảo vệ và phát triển rừng 72
3.5.6 Phân kỳ quy hoạch và tiến độ thực hiện 86
3.5.7 Các giải pháp thực hiện 87
3.5.8 Dự tính vốn đầu tư và hiệu quả đầu tư 94
KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KHUYẾN NGHỊ 99
1 Kết luận 99
2 Những tồn tại mà đề tài chưa giải quuyết được trong xây dựng Quy hoạch BV&PTR thành phố Đông Hà 100
3 Kiến nghị: 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TĂT
BV&PTR Bảo vệ và phát triển rừng
GCN QSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn:
TN&MT Tài nguyên và môi trường
TNHH MTV Trách nhiệm hửu hạn một thành viên
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
3.4 Kết quả rà soát 3 loại rừng năm 2007 trên địa bàn Thành phố như sau 45
3.7 So sánh quy hoạch 3 loại rừng (năm 2007) và hiện trạng năm 2010 55
3.10 Quy hoạch 3 loại rừng đến năm 2021 của thành phố Đông Hà 713.11
Quy hoạch đất lâm nghiệp phân theo chủ quản lý thành phố Đông Hà
3.15 Tiến độ thực hiện phát triển 3 loại rừng thành phố Đông Hà 86
`
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
3.1 Sơ đổ Venn - mối quan hệ giữa lâm nghiệp và các ngành khác 39
3.4 Bản đồ Quy hoạch BV&PTR Thành phố Đông Hà giai đoạn
2012-202
85
Trang 10
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là tài nguyên quý báu của đất nước, có khả năng tái tạo, là một bộ phận quan trọng bậc nhất của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, gắn liền với đời sống nhân dân và sự sống còn của dân tộc
Đồng hành với sự phát triển của nền công nghiệp trên thế giới là những tác động tiêu cực, khó lường của sự biến đổi khí hậu toàn cầu do vậy người ta càng thấy rõ hơn vai trò và ý nghĩa to lớn của rừng Hiện nay vai trò của rừng không những được đánh giá ở khía cạnh kinh tế thông qua những sản phẩm trước mắt thu được từ rừng mà còn tính đến những lợi ích to lớn về xã hội, môi trường mà rừng và nghề rừng mang lại Sự tác động đến rừng và đất rừng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến nghề rừng và sự phát triển kinh tế - xã hội tại khu vực có rừng mà còn tác động nhiều mặt đến các khu vực phụ cận cũng như nhiều ngành sản xuất khác Do vậy, để sử dụng tài nguyên rừng một cách bền vững và lâu dài, việc xây dựng phương án quy hoạch bảo vệ phát triển rừng (BV&PTR) hợp lý là yêu cầu cấp thiết đối với các nhà quản lý
Quy hoạch BV&PTR liên quan rất nhiều đến các hoạt động sản xuất của các ngành khác và nó được đặt trong bối cảnh phát triển KT-XH của vùng, khu vực cũng như nhu cầu của từng địa phương, do đó phương án quy hoạch cần xem xét mối quan hệ này, đặc biệt là xuất phát từ thực tế Quy hoạch BV&PTR là vấn đề cần thiết, được tiến hành theo giai đoạn nhằm phát huy vai trò chỉ đạo, định hướng đối với sản xuất lâm nghiệp Những năm qua, một số địa phương trong cả nước đã thực hiện công tác quy hoạch BV&PTR song vẫn còn nhiều bất cập Việc đánh giá hiện trạng sử dụng đất đai, tài nguyên rừng và quy hoạch BV&PTR cấp huyện, thành phố trực thuộc tỉnh chưa được thực hiện kịp thời và chưa thu hút được sự tham gia của người dân và cộng đồng Mục tiêu và nội dung của phương pháp quy hoạch thường chưa quan tâm một cách thoả đáng tới những lợi thế và thách thức cũng như tiềm năng cung cấp các nguồn lực và nhu cầu lâm sản đầu ra của các hoạt động sản xuất nên vai trò của phương án quy hoạch còn nhiều hạn chế Ngoài ra, trong tiến trình đổi mới của nền kinh tế, phương thức quản lý sử dụng đối với các
Trang 11nguồn tài nguyên trong đó có tài nguyên đất và rừng cũng có nhiều thay đổi
Đông Hà là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Trị, nơi gặp nhau của nhiều đầu mối giao thông quan trọng, thành phố Đông Hà có nhiều lợi thế về vị trí địa lý - kinh tế để phát triển thành một đô thị loại lớn trong khu vực Đông Hà có tổng diện tích tự nhiên là 7.295,9 ha, trong đó có gần 30% diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp; mặc dù đóng góp cho ngân sách từ ngành lâm nghiệp của Thành phố còn khiêm tốn nhưng với vai trò là tác nhân chủ đạo để giữ ổn định môi trường, sinh thái, cảnh quan cho thành phố tỉnh lỵ trong điều kiện khắc nghiệt của khí hậu thời tiết tại Quảng Trị; đồng thời tạo thu nhập, công ăn việc làm cho một bộ phận không nhỏ người dân trên địa bàn, có thể nói lâm nghiệp Đông Hà có vị trí quan trọng, góp phần làm cho quá trình phát triển KT-XH chung của toàn Thành phố được bền vững
và ổn định Sự phát triển ngành lâm nghiệp sẽ là cơ sở vững chắc cho việc xây dựng một đô thị xanh, sạch đẹp, những sản phẩm của lâm nghiệp sẽ góp phần vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn trên địa bàn Thành phố, sẽ là nhân tố quan trọng trong chiến lược xoá đói giảm nghèo và phát triển KT-
XH của Thành phố
Xuất phát từ những vấn đề trên, để góp phần bảo vệ phát triển tài nguyên rừng,
ổn định đời sống người dân địa phương cũng như cải thiện điều kiện môi trường
sinh thái của thành phố tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đề xuất nội dung cơ bản quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng Thành phố Đông Hà giai đoạn 2012- 2021”
Trang 12Chương I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Từ khi Luật BV&PTR năm 2004 có hiệu lực thi hành thì nhiệm vụ trung tâm giữ một vai trò quan trọng trong sản xuất lâm nghiệp là BV&PTR, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay sự giảm sút nghiêm trọng của rừng về cả số lượng và chất lượng trên toàn cầu và quốc gia thì nhiệm vụ BV&PTR phải được đặt lên trên hết, nội dung của quy hoạch BV&PTR bao trùm hầu như toàn bộ nội dung của QHLN Quy hoạch BV&PTR nhằm mục đích định hướng và góp phần cho quản lý rừng bền vững, hay còn gọi là quản lý rừng có chất lượng Quản lý rừng bền vững là thực hiện triệt để và đồng bộ hệ thống các hành động nhằm không ngừng phát huy với hiệu quả cao, ổn định liên tục những tác dụng và lợi ích của rừng trên các lĩnh vực
về môi trường, kinh tế, văn hoá, xã hội hiện tại và lâu dài
Các phương thức quản lý rừng trước đây đã bộc lộ nhiều nhược điểm, diện tích rừng bị thu hẹp nhanh, đồng thời với nó là các khu rừng có chất lượng ngày càng kém là do phương thức quản lý rừng truyền thống dựa trên khai thác gỗ là chính và tách vai trò con người cũng như các bên liên quan Thu hút các bên có liên quan vào tiến trình lập kế hoạch và thực thi quản lý rừng, đặc biệt là các cộng đồng sống trong rừng và gần rừng, có đời sống phụ thuộc vào rừng là điều quan trọng trong xây dựng một chiến lược quản lý rừng bền vững, chia sẻ lợi ích với các bên
Ngày nay, do dân số trên thế giới không ngừng tăng lên tạo ra áp lực lớn, nền kinh tế thế giới cũng phát triển một cách mạnh mẽ; đồng thời phát triển các ngành công nghiệp, sự đô thị hoá cũng diễn ra với tốc độ nhanh do vậy tài nguyên rừng của thế giới cũng như ở Việt Nam đã và đang bị thu hẹp về diện tích, giảm sút về chất lượng, môi trường bị suy thoái, ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng dẫn đến thiên tai, lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh xảy ra ngày càng tăng Chính vì vậy, việc quy hoạch BV&PTR để sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên rừng cũng như xây dựng nền lâm nghiệp bền vững không còn là trách nhiệm riêng của một quốc gia nào mà là công việc chung của toàn nhân loại
Trang 13sự chồng chéo quy hoạch sau đè lên quy hoạch trước, hạn chế lẫn nhau giữa các ngành
và tuân thủ theo nguyên tắc, định hướng của Quy hoạch vùng Nói chung, quy hoạch chính là tổ chức không gian và thời gian cho phát triển KT-XH, môi trường hoặc cho một ngành, một lĩnh vực sản xuất trong từng giai đoạn cụ thể
1.1.1 Quy hoạch vùng lãnh thổ của một số nước trên thế giới
1.1.1.1 Quy hoạch vùng lãnh thổ của Thái Lan:
Về hệ thống phân vị, quy hoạch tiến hành theo ba cấp: Quốc gia, Vùng, Á vùng hay địa phương
Vùng (Region) được coi như là một Á miền (Subdivision) của đất nước Đó là điều cần thiết để phân chia quốc gia thành Á miền theo các phương diện khác nhau như phân bố dân cư, khí hậu, địa hình Đồng thời vì lý do quản lý hay chính trị, đất nước được chia thành các miền như: Đơn vị hành chính hay đơn vị bầu cử Thông thường vùng nằm trên một diện tích lớn hơn đơn vị hành chính lớn nhất
Sự phân bố các vùng theo mục đích của quy hoạch, theo đặc điểm của lãnh thổ
Quy hoạch phát triển vùng tiến hành ở cấp Á miền được xây dựng theo 2 cách:
Thứ nhất: Sự bổ sung của kế hoạch Nhà nước được giao cho vùng, những mục tiêu và hoạt động được xác định theo cơ sở vùng, sau đó kế hoạch vùng được giải quyết trong kế hoạch quốc gia
Thứ hai: Quy hoạch vùng được giải quyết căn cứ vào đặc điểm của vùng, các
kế hoạch đóng góp vào việc xây dựng kế hoạch quốc gia
Quy hoạch phải gắn liền với tổ chức hành chính và quản lý Nhà nước, phải phối hợp với Chính phủ và chính quyền địa phương
Trang 14Dự án phát triển của Hoàng gia Thái Lan đã xác định được vùng nông nghiệp chiếm một vị trí quan trọng về kinh tế xã hội và chính trị ở Thái Lan và tập trung xây dựng ở 2 vùng Trung tâm và Đông Bắc Trong 30 nằm (1961 - 1988 đến 1992 - 1996), tổng dân cư nông thôn trong các vùng nông nghiệp từ 80% giảm xuống 66,6
%, các dự án tập trung vào mấy vấn đề quan trọng: Nước, đất đai, vốn đầu tư kỹ thuật, nông nghiệp, thị trường
1.1.1.2 Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Bungari trước đây
a) Mục đích của quy hoạch vùng lãnh thổ ở Bungari
- Sử dụng một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả nhất lãnh thổ của đất nước
- Đảm bảo an ninh môi trường
- Bố trí hợp lý các hoạt động của con người, đảm bảo tái sản xuất mở rộng
- Quy hoạch lãnh thổ đất nước được phân thành các vùng:
+ Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên phải bảo vệ
+ Lãnh thổ thiên nhiên không có nông thôn, sự tác động của con người vào đây rất ít
+ Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên có mạng lưới nông thôn, có sự can thiệp vừa phải của con người, thuận lợi cho nghỉ mát
+ Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp không có mạng lưới nông thôn nhưng
có sự tác động của con người
+ Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp có mạng lưới nông thôn và sự can thiệp vừa phải của con người, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
+ Lãnh thổ là môi trường công nghiệp với sự can thiệp tích cực của con người
Tiến hành quy hoạch lãnh thổ vùng và quy hoạch lãnh thổ địa phương dựa trên
cơ sở quy hoạch vùng lãnh thổ cả nước Trên cơ sở quy hoạch vùng lãnh thổ bao gồm các vùng lớn ranh giới bằng một tỉnh hoặc lớn hơn một tỉnh Nhiệm vụ khảo sát quy hoạch lãnh thổ vùng, trong đó có quy hoạch vùng nông nghiệp là sự bố trí đúng đắn và hợp lý các hoạt động khác trên lãnh thổ vùng, sử dụng một cách có hiệu quả nhất là nguồn tài nguyên thiên nhiên, liên hiệp với các môi trường sống, hoàn thiện mạng lưới nông thôn
Trang 15b) Nội dung của quy hoạch vùng:
Thông thường, đồ án quy hoạch lãnh thổ địa phương là thể hiện quy hoạch chi tiết và giải quyết các vấn đề sau:
- Chuyên môn và cụ thể hoá hoá sản xuất nông nghiệp
- Với mục đích liên kết dọc tiến hành phối hợp hợp lý sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và các ngành sản xuất khác
- Xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng và sản xuất
- Tổ chức đúng đắn mạng lưới khu dân cư và phục vụ công cộng liên hợp trong phạm vi hệ thống nông thôn
- Bảo vệ môi trường thiên nhiên và tạo điều kiện tốt nhất cho nhân dân lao động ăn, ở, nghỉ ngơi
1.1 1 3 Quy hoạch vùng ở Pháp
Quan điểm chung về hệ thống các mô hình quy hoạch vùng của M.Thénevin (M Piene Thénevin), một chuyên gia thống kê đã giới thiệu một số mô hình quy hoạch vùng được áp dụng thành công miền Tây Nam nước cộng hoà Côte d'ivoire Thực chất mô hình là một bài toán quy hoạch tuyến tính có cấu trúc Ở mô hình quy hoạch vùng này, người ta đã nghiên cứu hàm mục tiêu cực đại giá trị tăng thêm xã hội với các ràng buộc trong nội vùng, có quan hệ với các vùng khác và với nước ngoài
a) Các hoạt động sản xuất
- Sản xuất nông nghiệp theo các phương thức trồng trọt gia đình và trồng trọt công nghiệp với các mức thâm canh cao độ, thâm canh trung bình và cổ điển (truyền thống)
- Hoạt động khai thác rừng
- Hoạt động đô thị: Chế biến gỗ, bột giấy, vận chuyển, dịch vụ thương mại
b) Nhân lực theo các dạng thuê thời vụ, các loại lao động nông nghiệp, lâm nghiệp
c) Cân đối xuất nhập, thu chi và các cân đối khác vào ràng buộc về diện tích đất, về nhân lực, về tiêu thụ lương thực
Trang 16Quy hoạch vùng nhằm đạt mục đích khai thác lãnh thổ theo hướng tăng thêm giá trị sản phẩm của xã hội theo phương pháp mô hình hoá trong điều kiện thực tiễn của vùng, so sánh với vùng xung quanh và nước ngoài
1.1.2 Quy hoạch BV&PTR
Sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa kéo theo sự phát triển của BV&PTR: Do
sự phát triển của ngành công nghiệp và giao thông vận tải nên khối lượng gỗ yêu cầu ngày càng tăng Sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa phương của Phong kiến và bước vào thời đại kinh tế hàng hoá Tư bản chủ nghĩa Thực tế sản xuất lâm nghiệp đã không còn bó hẹp trong việc sản xuất gỗ đơn thuần mà cần phải có ngay những lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo thu hoạch lợi nhuận lâu dài cho các chủ rừng Chính hệ thống hoàn chỉnh về lý luận Quy hoạch BV&PTR và điều chế rừng
đã được hình thành trong hoàn cảnh như vậy
Phạm vi quy hoạch BV&PTR vào thời kỳ đầu thế kỷ 18 chỉ giải quyết việc
"Khoanh khu chặt luân chuyển", có nghĩa là đem trữ lượng hoặc diện tích tài nguyên rừng đem chia đều cho từng năm của chu kỳ khai thác và tiến hành khoanh khu chặt luân chuyển theo trữ lượng hoặc diện tích Phương thức này phục vụ cho phương thức kinh doanh rừng chồi, chu kỳ khai thác ngắn
Vào thế kỷ 19, sau cách mạng công nghiệp, phương thức kinh doanh rừng chồi được thay bằng phương thức kinh doanh hạt với chu kỳ khai thác dài Và phương thức "Chia đều: của Hating đã thay thế phương thức "Khoanh khu chặt luân chuyển" bằng cách chia chu kỳ khai thác thành 20 thời kỳ lợi dụng và cũng lấy đó khống chế lượng chặt hàng năm
Tiếp theo là phương pháp "Bình quân thu hoạch" ra đời, với quan điểm là giữ đều mức thu hoạch trong chu kỳ khai thác hiện tại, đồng thời vẫn đảm bảo thu hoạch được liên tục trong chu kỳ sau Và đến cuối thế kỷ 19, phương pháp "Lâm phần kinh tế" của Judeich xuất hiện, phương pháp này khác với phương pháp "Bình quân thu hoạch" về căn bản, Judeich cho rằng những lâm phần nào đảm bảo thu hoạch được nhiều tiền nhất sẽ được đưa vào diện khai thác Hai phương pháp "Bình
Trang 17quân thu hoạch" và "Lâm phần kinh tế" chính là tiền đề của hai phương pháp tổ chức kinh doanh và tổ chức rừng khác nhau
Phương pháp "Bình quân thu hoạch" và sau này là phương pháp "Cấp tuổi" chịu ảnh hưởng của "Lý luận rừng tiêu chuẩn", có nghĩa là rừng phải có kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng như về diện tích và trữ lượng, vị trí và đưa các cấp tuổi cao vào diện tích khai thác Hiện nay, phương pháp kinh doanh rừng được dùng phổ biến ở các nước có tài nguyên rừng phong phú Còn phương pháp "Lâm phần kinh tế" và hiện nay là phương pháp "Lâm phần" không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần tiến hành phân tích, xác định sản lượng và biện pháp kinh doanh, phương thức điều chế rừng Cũng từ phương pháp này còn phát triển thành "Phương pháp kinh doanh lô" và "Phương pháp kiểm tra"
1.2 Ở Việt Nam
1.2.1 Quy hoạch vùng chuyên canh
Để phù hợp với quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế, ở nước ta đã tiến hành quy hoạch các vùng chuyên canh lúa ở vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long; các vùng rau thực phẩm cho các thành phố lớn; các vùng cây công nghiệp ngắn ngày:Vùng bông Thuận Hải, vùng đay Hải Hưng, vùng thuốc lá Quảng An - Cao Bằng, Ba Vì - Hà Sơn Bình, Hữu Lũng - Lạng Sơn, Nho Quan -
Hà Nam Ninh, vùng mía Vạn Điểm, Việt Trì, Sông Lam, Quảng Ngài Các vùng cây công nghiệp dài ngày: Vùng cao su Sông Bé, Đồng Nai, Buôn Hồ - Đắc Lắc, Chư Par - Gia Lai Kon Tum, vùng cà phê Krông Búc, Krông Bách - Đắc Lắc, Chư Pả, Ninh Đức - Gia Lai Kon Tum (hợp tác với Liên Xô trước đây, Cộng hoà dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Bungari) vùng chè ở Hoàng Liên Sơn Mộc Châu, Bắc Thái, Vĩnh Phú, Hà Tuyên, Lâm Đồng, Gia Lai Kon Tum vùng dâu tằm Bảo Lộc - Lâm Đồng
1.2.1.1 Tác dụng của quy hoạch vùng chuyên canh:
- Chỉ ra những vùng chuyên môn hoá và những vùng có khả năng hợp tác kinh
tế, xác định phương hướng sản xuất phù hợp cho từng vùng
- Chọn những vùng trọng điểm giúp nhà nước tập trung vốn đầu tư đúng đắn
Trang 18- Xác định được các chỉ tiêu sản xuất sản phẩm và sản phẩm hàng hoá của vùng, xây dựng được cơ cấu sản xuất, yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ sản xuất nhu cầu lao động
- Là cơ sở để xây dựng kế hoạch phát triển nghiên cứu tổ chức quản lý kinh doanh theo ngành và theo lãnh thổ
Nhiệm vụ chủ yếu của quy hoạch vùng chuyên canh là thực hiện là bố trí cơ cấu cây trồng được chọn với quy mô và chế độ canh tác hợp lý, theo hướng tập trung để ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm cây trồng đồng thời phân bố các chỉ tiêu nhiệm vụ cụ thể cho từng
cơ sở sản xuất, làm cơ sở cho công tác quy hoạch, kế hoạch sản xuất của các cơ sở
1.2.1.2 Nội dung của quy hoạch vùng chuyên canh:
- Xác định quy mô, ranh giới vùng
- Bố trí sử dụng đất đai
- Xác định phương hướng, chỉ tiêu nhiệm vụ sản xuất
- Xác định quy mô, ranh giới, nhiệm vụ chủ yếu cho các xí nghiệp trong vùng
và tổ chức sản xuất ngành nông nghiệp
- Xác định hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất đời sống
- Tổ chức và sử dụng lao động
- Ước tính đầu tư và hiệu quả kinh tế
- Dự kiến tiến độ thực hiện quy hoạch
1.2.2 Quy hoạch BV&PTR
Ngay từ thời kỳ Pháp thuộc, quy hoạch BV&PTR đã được áp dụng ở nước ta như việc xây dựng phương án điều chế rừng chồi, sản xuất củi; điều chế rừng Thông theo phương pháp hạt đều
Thời kỳ 1955 - 1957, tiến hành sơ thám và mô tả để ước lượng tài nguyên rừng Từ năm 1958 - 1959 tiến hành thống kê trữ lượng rừng miền Bắc Đến năm
1960 - 1 964, công tác quy hoạch mới áp dụng ở miền Bắc Từ năm 1965 đến nay, lực lượng quy hoạch BV&PTR ngày càng được tăng cường và mở rộng Viện điều tra quy hoạch rừng kết hợp chặt chẽ với lực lượng điều tra quy hoạch của các Sở
Trang 19lâm nghiệp (nay là Sở Nông nghiệp và PTNT) không ngừng cải tiến phương pháp điều tra, quy hoạch của nước ngoài cho phù hợp với trình độ và điều kiện tài nguyên rừng ở nước ta Tuy nhiên, so với lịch sử phát triển của các nước khác thì quy hoạch lBV&PTR nước ta hình thành và phát triển muộn hơn nhiều Vì vậy những nghiên cứu cơ bản về kinh tế, xã hội, kỹ thuật và tài nguyên rừng làm cơ sở cho công tác quy hoạch BV&PTR chưa được giải quyết, nên công tác này ở nước ta đang trong giai đoạn vừa tiến hành vừa nghiên cứu áp dụng [24]
Một trong những tồn tại mà Bộ NN&PTNT đã đánh giá trong chiến lược phát
triển lâm nghiệp Quốc gia giai đoạn 2006 - 2020 là: "Công tác quy hoạch nhất là quy hoạch dài hạn còn yếu và chậm đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ với quy hoạch của các ngành khác, còn mang nặng tính bao cấp và thiếu tính khả thi Chưa quy hoạch được 3 loại rừng hợp lý và chưa thiết lập được lâm phần ổn định trên thực địa ” Đây chính là nhiệm vụ nặng nề và cấp bách đối với ngành lâm nghiệp ở
nước ta hiện nay [11]
1.2.2.1 Đặc thù của công tác quy hoạch BV&PTR
Công tác quy hoạch BV&PTR được tiến hành trên các địa bàn đa dạng, phong phú và vô cùng phức tạp từ miền ngược cho đến miền xuôi, từ biên giới đến hải đảo; địa hình tác nghiệp thường hiểm trở, có độ dốc lớn và bị chia cắt bởi những ngọn núi cao, vực sâu, giao thông đi lại rất khó khăn và có nhiều ngành kinh tế đang hoạt động Mặt khác địa bàn vùng quy hoạch BV&PTR cũng thường là nơi cư trú của nhiều đồng bào dân tộc ít người sinh sống, trình độ dân trí thấp, còn nhiều hủ tục lạc hậu, kinh tế chậm phát triển, đời sống vật chất, tinh thần còn nhiều khó khăn, người dân bị bó buộc trong hoàn cảnh với miếng ăn trước mắt Trong khi đó chu kỳ kinh doanh cây lâm nghiệp dài ít nhất cũng từ 6 năm trở lên, mức đọ rủi ro trong BV&PTR cao Chính vì vậy thời gian thu hồi vốn đầu tư cũng rất dài do vậy người dân không muốn bỏ vốn ra trồng rừng, chăm sóc bảo vệ rừng
Quy hoạch BV&PTR có mục tiêu rất đa dạng như: Phân tích được điều kiện cơ bản ảnh hưởng đến BV&PTR; đánh giá tình hình BV&PTR và dự báo nhu cầu lâm sản; xác định được các quan điểm và định hướng quy hoạch BV&PTR ổn định
Trang 20trong đó quy hoạch rừng phòng hộ (phòng hộ đầu nguồn, ven biển, phòng hộ môi trường), quy hoạch rừng đặc dụng (các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh ) và quy hoạch phát triển rừng sản xuất; quy hoạch hệ thống các công trình bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR)
Về quy mô: Công tác quy hoạch BV&PTR bao gồm cả tầm vĩ mô và vi mô như: quy hoạch BV&PTR toàn quốc, từng vùng lãnh thổ, tỉnh, huyên, xã và các chủ rừng Lực lượng tham gia làm công tác quy hoạch BV&PTR luôn phải lưu động, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, khó khăn về mọi mặt Đội ngũ cán bộ xây dựng phương án quy hoạch cũng rất đa dạng bao gồm cả lực lượng của trung ương và địa phương, thậm chí các ngành khác cũng có thể tham gia làm quy hoạch BV&PTR (công an, quân đội, nông nghiệp ) trong đó có một số bộ phận được đào tạo bài bản qua các trường lớp, song phần lớn chỉ dựa vào kinh nghiệm hoạt động lâu năm trong ngành lâm nghiệp
Nguyên tắc lập Quy hoạch BV&PTR
- Quy hoạch BV&PTR phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; chiến lược phát triển lâm nghiệp, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước và từng địa phương Quy hoạch BV&PTR của các cấp phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ
- Việc lập quy hoạch BV&PTR phải đồng bộ với việc lập quy hoạch sử dụng đất Trong trường hợp phải chuyển đổi đất có rừng tự nhiên sang mục đích sử dụng khác thì phải có kế hoạch trồng rừng mới để bảo đảm sự phát triển rừng bền vững ở từng địa phương và trong phạm vi cả nước
- Quy hoạch BV&PTR phải bảo đảm khai thác, sử dụng tiết kiệm, bền vững,
có hiệu quả tài nguyên rừng; bảo vệ hệ sinh thái rừng, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; đồng thời bảo đảm xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực nhằm nâng cao hiệu quả và tính khả thi, chất lượng của quy hoạch BV&PTR
- Việc lập quy hoạch BV&PTR phải bảo đảm dân chủ, công khai
Trang 21- Quy hoạch BV&PTR phải được lập và được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền phê duyệt, quyết định trong năm cuối kỳ quy hoạch trước đó [16]
1.2.2.2 Những yêu cầu của công tác quy hoạch BV&PTR
Quy hoạch BV&PTR được xây dựng dựa trên những chủ trương, chính sách
và định hướng phát triển KT-XH của Nhà nước, chính quyền các cấp trên từng địa bàn cụ thể Phương án quy hoạch BV&PTR phải đạt được:
- Hoạch định rõ ranh giới đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất do các ngành khác sử dụng Trong đó đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp được quan tâm hàng đầu vì là hai ngành chính sử dụng đất đai
- Trên diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp, ta tiến hành xác định diện tích
và sự phân bố các loại rừng trong kỳ quy hoạch; xác định phương hướng, mục tiêu bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng; xác định các biện pháp quản lý, bảo vệ, sử dụng
và phát triển các loại rừng Từ đó xác định các giải pháp lâm sinh thích hợp với từng loại rừng và đất rừng như: bảo vệ làm giàu rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh
tự nhiên, trồng rừng, và thực hiện các biện pháp nông lâm kết hợp
- Dự báo kết quả của Quy hoạch BV&PTR
- Xác định một số giải pháp đảm bảo thực hiện những nội dung quy hoạch
1.2.2.3 Các văn bản, chính sách Nhà nước liên quan đến quy hoạch BV&PTR
- Hiến pháp Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 nêu:
"Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật đảm bảo
sử dụng đúng mục đích và hiệu quả Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình
và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài"
- Luật đất đai năm 2003
- Luật bảo vệ phát triển rừng năm 2004
- Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật BV&PTR năm 2004;
- Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/2/2007 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020;
Trang 22- Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg ngày 10/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ
về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007-2015;
- Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tưóng Chính phủ
về việc ban hành Quy chế quản lý rừng và Thông tư số 99/2006/TT-BNN ngày 6/11/2006 của Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn một số điều của Quy chế quản
lý các loại rừng ban hành kèm theo Quyết định số 186/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ
- Thông tư số 05/2008/TT-BNN ngày 14/01/2008 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về Hướng dẫn lập Quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng;
- Thông tư số 34/2009/TT-BNN ngày 10/6/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng
- Thông tư số 24/2009/TT-BNN ngày 05/5/2009 của Bộ NN&PTNT Hướng dẫn chuyển đổi rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được quy hoạch sang rừng sản xuất
và ngược lại từ rừng sản xuất được quy hoạch thành rừng phòng hộ, đặc dụng sau rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng theo Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ
- Quyết định số 61/2005/QĐ-BNN ngày 12/10/2005 của Bộ trưởng bộ NN&PTNT quy định về tiêu chí phân cấp rừng phòng hộ và quyết định số: 62/2005/QĐ-BNN ngày 12/10/2005 của Bộ trưởng bộ NN&PTNT quy định về tiêu chí phân loại rừng đặc dụng
- Trong thời gian qua, công tác quy hoạch BV&PTR đã được triển khai trên toàn quốc ở nhiều cấp độ với những quy mô khác nhau phục vụ cho mục tiêu phát triển ngành Song căn cứ vào yêu cầu trong mỗi giai đoạn cụ thể trong từng thời điểm, nguồn vốn và yêu cầu về mức độ kỹ thuật khác nhau mà nội dung các phương án quy hoạch dự
án đầu tư được điều chỉnh cho phù hợp
Trang 231.2.3 Quy hoạch BV&PTR cho các cấp
1.2.3.1 Quy hoạch BV&PTR toàn quốc:
- Được thực hiện trên phạm vi lãnh thổ quốc gia nhằm giải quyết một số vấn
đề bao gồm: Xác định phương hướng, mục tiêu bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng toàn quốc; xác định diện tích và sự phân bố các loại rừng; xác định biện pháp quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển các loại rừng Quy hoạch tái sinh rừng (trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên và có trồng bổ sung), thực hiện các biện pháp nông lâm kết hợp Quy hoạch lợi dụng rừng, chế biến lâm sản gắn với thị trường tiêu thụ Quy hoạch tổ chức sản xuất, phát triển nghề rừng phát triển lâm nghiệp xã hội Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải Xác định tiến độ thực hiện
- Kỳ quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng là mười năm
1.2.3.2 Quy hoạch BV&PTR cấp tỉnh
Trên cơ sở quy hoạch BV&PTR toàn quốc và phương hướng nhiệm vụ phát triển KT-XH của tỉnh, tiến hành xây dựng quy hoạch BV&PTR của tỉnh với các nội dung: tiến hành quy hoạch BV&PTR trên địa bàn tỉnh theo 3 chức năng: phòng hộ, đặc dụng và sản xuất, mỗi loại rừng có chế độ quản lý bảo vệ và phát triển vốn rừng khác nhau Căn cứ vào điều kiện đất đai tài nguyên rừng, đồng thời căn cứ nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển tài nguyên rừng hiện có Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm trồng rừng và xúc tiến khoanh nuôi tái sinh tự nhiên rừng) thực hiện Nông - Lâm kết hợp Quy hoạch lợi dụng rừng, chế biến lâm sản gắn với thị trường tiêu thụ Quy hoạch tổ chức sản xuất, phát triển nghề rừng, phát triển Lâm nghiệp xã hội Quy hoạch xây dựng cơ sở
hạ tầng, giao thông vận tải, xác định tiến độ thực hiện
1.2.3.3 Quy hoạch BV&PTR cấp huyện (thành phố trực thuộc tỉnh)
Ở những huyện có rừng thì quy hoạch BV&PTR là một vấn đề quan trọng, làm
cơ sở cho việc phát triển sản xuất nghề rừng nói riêng và góp phần phát triển
KT-XH nói chung trên địa bàn
Trang 24Đông Hà là một thành phố thuộc tỉnh Quảng Trị, Quy hoạch BV&PTR Thành phố đề cập giải quyết các vấn đề sau:
- Căn cứ vào phương hướng, nhiệm vụ phát triển tổng thể KT-XH của thành phố, căn cứ vào chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2005-2010 và định hướng phát triển đến năm 2020, Đề án quy hoạch, kế hoạch BV&PTR đến năm
2010 và định hướng đến năm 2020 của tỉnh Quảng Trị và điều kiện tự nhiên
KT-XH, đặc biệt là điều kiện tài nguyên rừng của thành phố để xác định phương hướng nhiệm vụ BV&PTR trên địa bàn thành phố
- Căn cứ vào phương hướng phát triển ngành lâm nghiệp thành phố và điều kiện đất đai tài nguyên rừng nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác, tiến hành quy hoạch rừng của thành phố theo 3 chức năng: Sản xuất, phòng hộ và đặc dụng
- Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng, phát triển rừng hiện có
- Quy hoạch các biện pháp tái sinh rừng: Trồng rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên Quy hoạch thực hiện nông lâm kết hợp và sản xuất hỗ trợ trên đất lâm nghiệp, Quy hoạch các khu du lịch sinh thái
- Quy hoạch khai thác lợi dụng lâm đặc sản, chế biến lâm sản gắn với thị trường tiêu thụ
- Quy hoạch tổ chức sản xuất lâm nghiệp, quy hoạch đất lâm nghiệp cho các thành phần kinh tế trong thành phố, tổ chức phát triển lâm nghiệp xã hội
- Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải
"Tầm quan trọng của ngành Lâm nghiệp chưa được đánh giá một cách đầy đủ,
Trang 25khách quan và công bằng nên ảnh hưởng đến việc hoạch định các chính sách đầu tư
và phát triển ngành" Đây cũng là nhiệm vụ đặt ra cần được ngày càng hoàn thiện đối với ngành NN& PTNT
Việc lập quy hoạch BV&PTR phải đồng bộ với việc lập quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất và phải căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất của địa phương
Thành phố Đông Hà đã xây dựng được quy hoạch sử dụng đất đai giai đoạn
2005 - 2010 và định hướng đến năm 2020, hàng năm đều tiến hành thống kê, theo dõi biến động các loại đất Đã có một số dự án lâm nghiệp triển khai thực hiện trên địa bàn thành phố từ những năm 90 trở lại đây như: Dự án Pam 4304 và 2780, Dự
án 327, Dự án 661 Tuy nhiên trong quá trình hoạt động sản xuất lâm nghiệp đã có nhiều biến đổi; nhiều tài liệu quy hoạch rừng qua quá trình sử dụng đã không còn phù hợp với thực tiễn khách quan và quy luật phát triển KT-XH của thành phố
Từ thực trạng trên cho thấy việc nghiên cứu, tiến hành quy hoạch BV&PTR cho thành phố nhằm quản lý bảo vệ chặt chẽ, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên rừng quý giá của thành phố là việc làm hết sức cần thiết
Trang 26Chương II MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
- Đánh giá tình hình sản xuất lâm nghiệp và dự báo nhu cầu lâm sản
- Xây dựng được cơ sở khoa học cho quy hoạch BV&PTR thành phố Đông
Hà, tỉnh Quảng Trị
- Xác định được các quan điểm và định hướng quy hoạch BV&PTR ổn định trong 10 năm
- Đề xuất các nội dung, giải pháp cho quy hoạch BV&PTR
- Phân tích hiệu quả kinh tế, môi trường và xã hội
- Đề xuất lựa chọn phương án và các giải pháp thực hiện
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là rừng, đất lâm nghiệp của các chủ quản lý
và các cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản trên địa bàn thành phố Đông Hà tỉnh Quảng Trị
2.3 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu trên địa bàn Thành phố Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị
Trang 27- Đề tài chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu, đề xuất những giải pháp cơ bản cho quy hoạch BV&PTR của thành phố Đông Hà
2.4 Nội dung nghiên cứu:
2.4.1 Cơ sở lý luận quy hoạch BV&PTR cấp huyện (thành phố trực thuộc tỉnh) 2.4.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Đông Hà ảnh hưởng đến BV&PTR thành phố Đông Hà
2.4.4 Một số dự báo cơ bản
2.4.5 Quy hoạch BV&PTR thành phố Đông Hà giai đoạn 2012- 2021
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Quan điểm phương pháp luận:
- Quy hoạch BV&PTR là một hệ thống các biện pháp về tổ chức kinh tế kỹ thuật và pháp chế của nhà nước nhằm khai thác hợp lý nguồn tài nguyên rừng để phát triển KT-XH nhưng vẫn đảm bảo việc bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên rừng theo hướng bền vững
- Việc quy hoạch phải đạt được mục tiêu trước mắt và lâu dài phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển của địa phương và ngành Do vậy chúng ta phải quyết định mối quan hệ giữa hiện tại và tương lai, giữa cung và cầu làm sao để quy hoạch đạt được hiệu quả cao nhất mà vẫn đảm bảo tính ổn định, bền vững
2.5.2 Những tài liệu cần thu thập trong khu vực nghiên cứu
- Nhóm thông tin về điều kiện tự nhiên bao gồm:
+ Vị trí địa lý
+ Điều kiện địa hình
+ Điều kiện đất đai, thổ nhưỡng
+ Điều kiện khí hậu thuỷ văn
+ Hiện trạng, tài nguyên sinh vật rừng
- Nhóm thông tin về chính sách:
+ Các tài liệu về chính sách được lấy từ các văn bản pháp qui do Nhà nước ban hành Hiến pháp, Pháp luật, Chỉ thị, Nghị quyết, Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định, các Quyết định của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương
Trang 28+ Tình hình thực hiện công tác quản lý, BV&PTR của chính quyền địa phương
và các cơ quan chức năng trên địa bàn thành phố
- Nhóm thông tin về xã hội
Thông tin tài liệu về xã hội được thu thập từ phòng Thống kê thành phố Đông
Hà bao gồm:
+ Dân số: Tiến hành thu thập các số liệu thông kế về dân số, nguyên nhân của
việc tăng dân số tự nhiên, cơ học, trình độ dân trí
+ Về lao động: Phân tích nhu cầu tình hình sử dụng lao động, giá nhân công tại
địa bàn, tiềm năng nguồn lao động ở địa phương
+ Văn hoá, Giáo dục, Y tế, Bưu điện: Đánh giá trình độ dân trí, trình độ văn
hoá, trình độ chuyên môn, khả năng tiếp nhận chuyển giao khoa học kỹ thuật và công nghệ mới
+ Vấn đề cơ sở hạ tầng: Đánh giá thực trạng các hệ thống công trình phúc lợi,
đường giao thông, các công trình thuỷ lợi và các hoạt động dịch vụ trên địa bàn
- Nhóm chỉ tiêu kinh tế và sản xuất:
Nhóm thông tin này để đánh giá các hệ thống canh tác hiện có ở địa phương,
cụ thể
+ Về sản xuất nông nghiệp
+ Về sản xuất lâm nghiệp
2.5.3 Phương pháp thu thập số liệu
- Kế thừa các số liệu, tài liệu có liên quan với yêu cầu tài liệu phải mới nhất,
do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp, đảm bảo độ chính xác theo yêu cầu của chủ đề nghiên cứu
Trang 29+ Thu thập, xử lý, sử dụng và kế thừa các thông tin từ các cơ quan chuyên ngành như: Sở nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Sở tài nguyên - Môi trường, Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị, Cục Thống Kê, UBND thành phố Đông Hà, Phòng Kinh Tế Thành phố, phòng Tài nguyên - Môi trường, Trạm Kiểm lâm Thành phố và một số cơ quan khác
+ Từ các chương trình, công trình điều tra cơ bản về tài nguyên rừng, tài nguyên đất, nước, khí hậu Như Chương trình 5 triệu ha, kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng, kết quả cập nhật diễn biến rừng
- Tìm hiểu và thu thập tình hình của Thành phố về các mặt:
+ Diện tích các loại đất bao gồm: Đất Nông nghiệp, đất Lâm nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng
+ Tình hình dân sinh: Dân số, lao động, trình độ dân trí, phong tục tập quán,
hệ thống y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng
+ Tình hình quản lý sử dụng đất, tài nguyên rừng trên địa bàn
+ Tình hình quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
2.5.4 Xây dựng bản đồ Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp, Bản đồ quy hoạch BV&PTR của thành phố đến năm 2021
- Sử dụng máy định vị GPS để khoanh vẽ Bản đồ và xác định các vị trí xây dựng các công trình BVR-PCCCR, các cơ sở KDCBLS
- Bản đồ hiện trạng rừng và đất Lâm nghiệp, bản đồ Quy hoạch BV&PTR được xây dựng trên nền toạ độ VN 2000, trên cơ sở, bổ sung Bản đồ quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH thành phố Đông Hà giai đoạn 2011- 2020 và Chiến lược phát triển lâm nghiệp của thành phố
- Ngoài ra còn thừa hưởng thành quả Bản đồ quy hoạch 3 koại rừng; Bản đồ hiện trạng rừng và đất Lâm nghiệp cập nhật năm 2010
2.5.5 Tổng hợp xây dựng Phương án quy hoạch BV&PTR
- Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp
+ Quy hoạch phân chia rừng phòng hộ và rừng sản xuất
+ Quy hoạch kinh doanh rừng theo các phương án khác nhau
Trang 30- Quy hoạch tác nghiệp
+ Quy hoạch xây dựng vốn rừng
+ Quy hoạch quản lý bảo vệ rừng
+ Quy hoạch khoanh nuôi, làm giàu rừng:
+ Quy hoạch trồng và chăm sóc rừng
- Đề xuất giải pháp thực hiện các phương án quy hoạch
Trang 31Chương III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Cơ sở lý luận quy hoạch BV&PTR cấp huyện (thành phố trực thuộc tỉnh)
3.1.1 Cơ sở pháp lý:
- Hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 nêu
"Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo
sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài"
- Luật Đất đai năm 2003 quy định rõ 3 nhóm đất với 6 quyền chung của người
sử dụng đất, tuỳ theo từng loại đất và mục đích sử dụng mà được giao cho tổ chức,
cá nhân quản lý và sử dụng
- Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 quy định về: Nguyên tắc, căn cứ, nội dung, kỳ quy hoạch, trách nhiệm lập lập quy hoạch BV&PTR, thẩm quyền phê duyệt, quyết định, điều chỉnh, công bố và thực hiện quy hoạch BV&PTR; nội dung bảo vệ và phát triển, sử dụng rừng, quyền và nghĩa vụ của chủ rừng, phân định rõ 3 loại rừng
- Nghị định 23 về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng, quy định về việc: quy hoạch, kế hoạch BV&PTR; giao rừng, cho thuê rừng; thống kê, kiểm kê, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng; tổ chức quản lý rừng, bảo vệ rừng, phát triển rừng và
sử dụng rừng đó là những cơ sở cho công tác quy hoạch BV&PTR
- Nghị định số 99/2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
- Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/2/2007 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020;
- Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg ngày 10/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ
về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007-2015;
Trang 32- Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tưóng Chính phủ
về việc ban hành Quy chế quản lý rừng và Thông tư số 99/2006/TT-BNN ngày 6/11/2006 của Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn một số điều của Quy chế quản
lý các loại rừng ban hành kèm theo Quyết định số 186/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ
- Thông tư số 05/2008/TT-BNN ngày 14/01/2008 của Bộ NN& PTNT về Hướng dẫn lập Quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng;
- Thông tư số 24/2009/TT-BNN ngày 05/5/2009 của Bộ NN&PTNT Hướng dẫn chuyển đổi rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được quy hoạch sang rừng sản xuất
và ngược lại từ rừng sản xuất được quy hoạch thành rừng phòng hộ, đặc dụng sau rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng theo Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ
- Thông tư số 34/2009/TT-BNN ngày 10/6/2009 của Bộ NN&PTNT về Quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng
- Thông tư số 35/2011/TT-BNNPTNT ngày 20/5/2011 của Bộ N&PTNT Hướng dẫn thực hiện khai thác, tận thu gỗ và lâm sản ngoài gỗ
- Quyết định số 61/2005/QĐ-BNN ngày 12/10/2005 của Bộ trưởng bộ NN&PTNT quy định về tiêu chí phân cấp rừng phòng hộ và quyết định số: 62/2005/QĐ-BNN ngày 12/10/2005 của Bộ trưởng bộ NN&PTNT quy định về tiêu chí phân loại rừng đặc dụng
- Chiến lược phát triển lâm nghiệp tỉnh Quảng Trị ban hành theo Quyết định số 1775/QĐ-UBND ngày 4/8/2005 của UBND tỉnh Quảng Trị
- Quyết định số 855/QĐ-UBND ngày 27/4/2007 của UBND tỉnh Quảng Trị về việc phê duyệt kết quả rà soát, quy hoạch 3 loại rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị
- Quyết định số 08/2007/QĐ-UBND ngày 11/5/2007 của UBND tỉnh Quảng Trị về việc phê duyệt quy hoạch, kế hoạch BV&PTR dến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
- Quyết định số 1011/QĐ-UBND ngày 11/5/2007 của UBND tỉnh Quảng Trị
về việc phê duyệt khung định mức chi phí trồng rừng phòng hộ, đặc dụng, sản xuất,
Trang 33chăm sóc rừng trồng, bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung giai đoạn 2007 - 2010
- Công văn số 81/SNN-LN ngày 14/02/2008 về việc hướng dẫn lập quy hoạch,
kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp huyện, xã
3.1.2 Quy hoạch BVPTR thành phố trong hệ thống Quy hoạch BV&PTR tỉnh và Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH Thành phố
Quy hoạch BV&PTR cấp thành phố làm cơ sở cho việc phát triển sản xuất Lâm nghiệp bền vững và góp phần phát triển KT-XH trên địa bàn
Đông Hà là một thành phố thuộc tỉnh Quảng Trị, Quy hoạch BV&PTR thành phố đề cập giải quyết các vấn đề sau:
- Xác định phương hướng nhiệm vụ BV&PTR trên địa bàn thành phố dựa trên Chiến lược phát triển lâm nghiệp, phương án quy hoạch BV&PTR của tỉnh; phương hướng, nhiệm vụ phát triển tổng thể KT-XH của thành phố
- Tiến hành quy hoạch BV&PTR của thành phố theo 3 chức năng của rừng là: Sản xuất, phòng hộ và đặc dụng dựa trên tiêu chí phân cấp chung; phương hướng phát triển lâm nghiệp, điều kiện đất đai tài nguyên rừng, nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác của thành phố
- Xác định tiến độ thực hiện: tiến độ thực hiện là 10 năm và phải phù hợp với phương hướng phát triển chung của thành phố
Quy hoạch chung thành phố Đông Hà đến năm 2020 đã được UBND tỉnh Quảng Trị ra Quyết định phê duyệt tại Quyết định số: 1166/QĐ-UB ngày 22/6/2006 Cho đến nay quan điểm phát triển, một số mục tiêu, định hướng quy hoạch các ngành, lĩnh vực, các chương trình, dự án ưu tiên đầu tư trong quy hoạch chung cơ bản vẫn còn phù hợp
Ngày 11/8/2009 Thủ Tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số: 33/NQ-CP thành lập thành phố Đông Hà trực thuộc tỉnh Quảng Trị Với vị thế là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của tỉnh, là cửa ngỏ phía Đông trên trục hành lang kinh tế Đông Tây, nên thành phố Đông Hà có những cơ hội và thách thức mới Những vấn
đề này đã được đề cấp đến trong quy hoạch đã xây dựng, tuy nhiên việc tính toán
Trang 34một số chỉ tiêu, một số chương trình, dự án chưa sát với thực tế hiện tại và dự báo trong tương lai Vì vậy, nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng quy hoạch BV&PTR giai đoạn 2012 - 2021, là tất yếu khách quan và rất cần thiết Nhằm khai thác tiềm năng,
sử dụng tài nguyên rừng có hiệu quả góp phần tích cực vào phát triển KT-XH, bảo
về an ninh môi trường; lập và phê duyệt các dự án đầu tư trên địa bàn thành phố, tạo điều kiện để phát triển các ngành sản xuất nguyên vật liệu và chế biến lâm sản, xây dựng mới và nâng cấp kết cấu hạ tầng, mở rộng các hoạt động giao lưu, trao đổi hàng hoá; bảo vệ môi trường sinh thái bền vững
3.1.3 Quy hoạch BVPTR thành phố trên cơ sở điều kiện tự nhiên KT-XH địa phương, nhu cầu thị trường và định hướng phát triển
Quy hoạch BV&PTR phải được xác định và phân tích một cách sâu sắc dựa trên những yếu tố về điều kiện tự nhiên, KT-XH và nhu cầu thị trường, những yếu
tố và nguồn lực cho sự phát triển; đánh giá một cách khách quan đúng đắn thực trạng phát triển KT-XH những năm gần đây nhằm xác định các tiềm năng, lợi thế so sánh, các hạn chế, những thách thức và cơ hội; khắc phục những mặt tồn tại yếu kém, định hướng phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội đặt ra Đưa ra các quan điểm, mục tiêu, giải pháp, biện pháp để khắc phục khó khăn, phát huy lợi thế, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng KT-XH, đảm bảo phát triển nhanh bền vững góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
- Căn cứ vào Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020
đó là:
+ BV&PTR đồng bộ từ quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng hợp lý tài nguyên,
từ trồng rừng, cải tạo rừng đến khai thác chế biến lâm sản, dịch vụ môi trường, du lịch sinh thái
+ BV&PTR phải đóng góp ngày càng tăng vào tăng trưởng kinh tế, xoá đói, giảm nghèo và bảo vệ môi trường
+ Quản lý, sử dụng và phát triển bền vững là nền tảng cho BV&PTR
+ BV&PTR phải trên cơ sở đẩy nhanh và làm sâu sắc hơn chủ trương xã hội
hoá nghề rừng, thu hút các nguồn lực đầu tư cho BV&PTR
Trang 35- Căn cứ vào quy hoạch phát triển KT-XH và quy hoạch BV&PTR của tỉnh: BV&PTR phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện KT-XH, tiềm năng đất đai, tập quán canh tác truyền thống của địa phương kết hợp với ứng dụng các khoa học công nghệ vào sản xuất Phải phù hợp với chiến lược phát triển lâm nghiệp quốc gia, phải gắn với phát triển KT-XH, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ khôi phục các giá trị đa dạng sinh học
3.1.4 Quan điểm, nguyên tắc và yêu cầu đối với quy hoạch BV&PTR Thành phố
- Quan điểm BV&PTR của thành phố Đông Hà đến năm 2021 là:
+ BV&PTR gắn với phát triển KT-XH, nâng cao đời sống nhân dân và giữ vững an ninh quốc phòng
+ BV&PTR lấy xây dựng và phát triển vốn rừng đi đôi với bảo vệ rừng, chú trọng rừng phòng hộ bảo vệ môi trường, rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học và
du lịch sinh thái
+ BV&PTR toàn diện theo xu thế xã hội hoá nghề rừng, vận dụng, lồng ghép các chương trình dự án như Lâm nghiệp xã hội, Lâm nghiệp trang trại, sản xuất nông lâm kết hợp lấy ngắn nuôi dài tăng hệ số sử dụng đất, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia phát triển rừng
+ Tổ chức phân định rõ 3 loại rừng một cách khoa học, chính xác trên cơ sở đó
tổ chức sản xuất kinh doanh theo chức năng từng loại rừng và tổ chức quản lý, bảo
vệ và sự dụng hợp lý Phát triển vốn rừng ưu tiên vùng trồng rừng nguyên liệu tập trung và vùng trồng rừng kinh doanh gỗ nhỏ thâm canh đưa tiến bộ khoa học vào sản xuất tăng nhanh năng suất chất lượng rừng
- Quy hoạch BV&PTR trên địa bàn thành phố phải đảm bảo các nguyên tắc:
+ Quy hoạch BV&PTR phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển KT-XH, quốc phòng, an ninh; Chiến lược phát triển lâm nghiệp, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Tỉnh và của Thành phố Quy hoạch BV&PTR của Thành phố phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ
Trang 36+ Việc lập quy hoạch BV&PTR phải đồng bộ với việc lập quy hoạch sử dụng đất Trong trường hợp phải chuyển đổi đất có rừng sang mục đích sử dụng khác thì phải có kế hoạch trồng rừng mới để bảo đảm sự phát triển rừng bền vững ở từng phường và trong phạm vi toàn thành phố
+ Quy hoạch BV&PTR phải bảo đảm khai thác, sử dụng tiết kiệm, bền vững,
có hiệu quả tài nguyên rừng; bảo vệ hệ sinh thái rừng, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; đồng thời bảo đảm xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực nhằm nâng cao hiệu quả và tính khả thi, chất lượng của quy hoạch BV&PTR
+ Việc lập quy hoạch BV&PTR phải bảo đảm dân chủ, công khai
- Quy hoạch BV&PTR trên địa bàn Thành phố phải đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Phù hợp với điều kiện tự nhiên, KT-XH
+ Phát huy cao tiềm năng đất đai
+ Đem lại hiệu quả kinh tế
+ Được người dân chấp nhận
+ Đảm bảo an ninh môi trường
3.2 Điều kiện tự nhiên, KT-XH của thành phố Đông Hà
3.2.1 Phân tích điều kiện tự nhiên và tài nguyên rừng ảnh hưởng đến Quy hoạch BV&PTR thành phố Đông Hà:
3.2.1.1 Vị trí địa lý
- Đông Hà là thành phố tỉnh lỵ nằm ở: 16044'36'' đến 16051'40'' vĩ độ Bắc;
107001'38'' đến 107008'57'' kinh độ Đông;
+ Phía Đông giáp huyện Gio Linh và huyện Triệu Phong
+ Phía Bắc giáp huyện Gio Linh và huyện Cam Lộ
+ Phía Tây giáp huyện Cam Lộ
+ Phía Nam giáp huyện Triệu Phong
- Tổng diện tích tự nhiên của thành phố là 7.295,9 ha, gồm có 9 Phường: Phường 1, 2, 3, 4, 5, Đông Lương, Đông Lễ, Đông Giang, và phường Đông Thanh
Trang 373.2.1.2 Địa hình, địa mạo
Nét dặc trưng của Đông Hà có hình thể như một mặt cầu mở rộng ra hai phía Nam- Bắc của Quốc lô 9, địa hình nghiêng và thấp dần từ Tây sang Đông, vùng đất đồi có nhiều quả đồi nhỏ hình bát úp ít có sự chia cắt Địa hình Đông Hà có thể chia thành hai dạng cơ bản như sau:
- Dạng địa hình gò đồi bát úp ở phía Tây và Tây Nam thành phố có độ cao trung bình từ 5-100 m;
- Dạng địa hình đồng bằng nằm ở phía Đông Bắc, có độ cao trung bình là 3 m
so với mực nước biển
3.2.1.3 Khí hậu và thuỷ văn
a) Khí hậu
Khí hậu thành phố Đông Hà mang nét đặc trưng của Khí hậu nhiệt đới gió mùa và
có những biểu hiện đặc thù so với các vùng khí hậu khu vực Đông Trường Sơn đó là
do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió phơn Tây Nam nên tạo thành một vùng khí hậu khô, nóng Chế độ khí hậu chia làm 02 mùa rõ rệt là mùa mưa và mưa khô nóng
Về mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, do chịu ảnh hưởng của không khí lạnh cực đới tràn về tới Đèo Hải Vân nên khu vực Đông Hà có mùa đông tương đối lạnh so với các vùng phía Nam Chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất từ 9- 100C, đây cũng là khu vực có lượng mưa tương đối lớn nhưng tập trung chủ yếu trong bốn tháng mùa mưa (khoảng 80%) làm ảnh hưởng đến bố trí thời vụ của một số cây trồng và ảnh hưởng đến sản xuất Nông- Lâm nghiệp Mùa khô từ tháng 4 đến tháng 9, mùa này có gió Phơn Tây Nam hoạt động rất mạnh nên có hiện tượng khô và nóng, độ ẩm không khi thấp nên dể xãy ra cháy rừng
b) Thuỷ văn
Do địa hình tương đối đơn giản nên hệ thống sông, suối trên địa bàn thành phố cũng đơn giản Thành phố Đông Hà nằm ở hạ lưu của 02 con sông đó là sông Hiếu ở phía Bắc và sông Vĩnh Phước ở phía Tây- Nam; ở Đông Hà có 05 công trình
hồ chứa và 05 công trình đập dâng với dung tích là khoảng 1.700.000 m3 Ngoài ra
Trang 38còn có các mỏ nước, mạch nước có khả năng khai thác để phục vụ sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân
3.2.1.4 Đất đai thổ nhưỡng
Theo kết quả điều tra nông thôn hoá thổ nhưỡng cho thấy đất đai của thành phố Đông Hà bao gồm các loại đất chủ yếu sau: Đất Feralit trên sa phiến, đất phù sa bồi, phù sa không được bồi, đất phù sa glây, đất cát nhưng chiếm tỷ lệ lớn nhất và có ý nghĩa kinh tế bao gồm các loại đất sau:
- Đất phù sa được bồi hàng năm (Pb): Phân bố chủ yếu ở các vùng khu vực triền sông Hiếu, sông Vĩnh Phước, diện tích khoảng 500 ha Đây là loại đất thích hợp cho việc trồng cây lương thực, cây ăn quả và cây công nghiệp
- Đất Feralít vàng phát triển trên phiến sét (Fs): Phân bố tập trung ở vùng đồi phía tây và phía tây nam thành phố Diện tích đất này chiếm khoảng 3.500 ha, chủ yếu thích hợp trồng cây lâm nghiệp, cây ăn quả, phát triển đồng cỏ chăn nuôi
- Đất phù sa Glây (Pg): Phân bố rãi rác ở các khu vực trồng lúa (thuộc các phường Đông Thanh, Đông Giang, Đông Lễ, Đông Lương) có diện tích 1.000 ha, chuyên trồng lúa và hoa màu Đặc điểm chung của các loại đất trên là bị chua phèn,
độ PH dao động từ 4,5 đến 6,5 nên độ phì kém
Theo thống kê của các xã, phường và một số tài liệu thống kê khác, hiện trạng
sử dụng đất năm 2010 của thành phố Đông Hà như sau:
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng dất thành phố Đông Hà
( Nguồn: Phòng Tài nguyên môi trường thành phố)
Như vậy, đất đang sử dụng là 6.433,2 ha, chiếm 88,1% diện tích đất tự nhiên, trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp 1.795,7 ha, chiếm 24,6%, đất lâm nghiệp:
Trang 392.242,5 chiếm 30,7%; và đất phi nông nghiệp: 2.395,0 chiếm 32,8% Đất chưa sử
dụng là 862,7 ha chiếm 11,9% tổng diện tích tự nhiên
Là thành phố tỉnh lỵ cho nên quỹ đất cho sản xuất nông nghiệp hạn chế, đặc biệt ruộng nước bình quân đầu người chỉ có 0,026 ha/người (260m2/người) (của tỉnh
là 0,047 ha/người) Hướng tới cần phải quản lý chặt chẻ diện tích đất Nông nghiệp hạn chế việc chuyển đổi mục đích sử dung đất Nông nghiệp sang dất ở và đất xây dựng các khu Công nghiệp
3.2.1.5 Các nguồn tài nguyên
a) Tài nguyên nước và thuỷ năng
- Tài nguyên nước mặt: Thành phố Đông Hà có tổng trữ lượng nguồn nước mặt lớn, phân bố khá đều trên thành phố Ngoài nguồn nước từ sông Hiếu, Vĩnh Phước, Thạch Hãn, Hói Sòng và hàng chục khe suối, các hồ chứa, Đông Hà còn có một số
hồ đập nhân tạo phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, cải tạo môi trường và nuôi trồng thuỷ sản như: hồ Trung Chỉ, hồ Khe Mây, hồ Đại An, hồ Khe Sắn Hệ thống hồ đập
ở thành phố là tiềm năng lợi thế để đầu tư xây dựng hình thành các cụm điểm vui chơi, nghỉ ngơi giải trí theo hướng hệ lâm viên dịch vụ sinh thái
- Nguồn nước ngầm: Nước ngầm vùng Đông Hà tồn tại dưới 2 dạng chính: Trong các lổ hổng và các tầng chứa nước khe nứt của đất đá chứa nước gọi là các tầng chứa nước lổ hổng và các tầng chứa nước khe nứt Theo tài liệu đánh giá của
Sở Khoa học và Công nghệ thì vùng trung tâm thành phố và khu vực đất đồi tầng ngầm nghèo Nguồn nước mạch nông tồn tại ở vùng đất trũng thuộc khu vực trầm tích phù sa Không có nguồn nước ngầm mạch sâu ở khu vực nội thị nhưng có thể khai thác nguồn nước ngầm mạch sâu cách trung tâm thành phố 12km về phía Đông Bắc, với công suất 15.000m3/ngày (tại huyện Gio Linh), trữ lượng nước tương ứng với cấp C1 là 19.046m3/ngày, cấp C2= 98.493m3/ngày Lưu lượng giếng khoan từ 15- 191/s, tổng độ khoáng hoá 80-280mg/l
b) Tài nguyên thuỷ sản:
Đông Hà không có bờ biển, các con sông có lưu vực nhỏ nên tiềm năng đánh bắt tự nhiên không đáng kể Hiện tại, thành phố đang phát triển chuyển đổi cơ cấu
Trang 40đất đai một số vùng để phát triển nuôi trồng thuỷ sản, đây cũng là một trong những định hướng có khả năng phát triển kinh tế trên địa bàn Diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 151,7 ha với bình quân tổng sản lượng thuỷ sản khai thác hàng năm là 471 tấn
c) Tài nguyên rừng và đất rừng
- Rừng tự nhiên
Hiện tại toàn Thành phố chỉ còn 37 ha rừng tự nhiên với trử lượng khoảng 30
m3/ha (tổng trữ lượng khoảng 1.110 m3) Rừng tự nhiên là rừng gỗ với kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, ở độ cao dưới 700 m
- Rừng trồng
Diện tích rừng trồng của toàn thành phố là: 1.874,0 ha trong đó rừng trồng có trử lượng là 1.258,1 ha, rừng trồng chưa có trử lượng là 615,9 ha Nhìn chung chất lượng rừng trồng khá, tăng trưởng ở mức độ trung bình Ngoài cây Thông nhựa được trồng chủ yếu cho mục đích phòng hộ, các loài cây nhập nội được chú trọng đưa vào trồng rừng sản xuất, trồng cây phân tán và cây trồng phụ trợ trong trồng
rừng phòng hộ bao gồm chủ yếu các giống Keo lá tràm (Acacia auriculiformis), Keo tai tượng (Acacia mangium), Keo lai hom (giữa Keo tai tượng x Keo lá tràm)
- Đất chưa sử dụng quy hoạch cho lâm nghiệp
Hiện nay, trên toàn thành phố Đông Hà còn 331,5 ha diện tích đất chưa sử dụng quy hoạch cho lâm nghiệp (đất trống, đồi núi trọc) Đây là những diện tích rừng sau khai thác, cần xác định mục tiêu quy hoạch rõ ràng để tiếp tục giao đất trồng rừng, hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng
d) Tài nguyên khoáng sản
Nguồn khoáng sản ở Đông Hà rất nghèo, chỉ có đất sét làm gạch ngói, trữ lượng lại không lớn, phân bố rãi rác ở các phường Đông Giang, Đông Thanh, Đông Lương và phường II Do đó việc khai thác không cho phép thực hiện trên diện rộng
và có quy mô lớn Các đợt thăm dò địa chất trước đây cho biết, trên đất Đông Hà có quặng sắt ở đồi Quai Vạc (km 6 và km7), sắt ở đường 9 (gần trung tâm thành phố)