CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA MỘT SỐ TRÒ CHƠI NGÔN NGỮ .... Cơ sở lí luận của việc sửa lỗi phát âm cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua một số trò chơi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LOAN
SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
- -
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LOAN
SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA
MỘT SỐ TRÒ CHƠI NGÔN NGỮ
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Lan Anh
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nghiên cứu và dữ liệu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình khoa học nào
Tác giả
Nguyễn Thị Phương Loan
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt đề tài này em vô cùng cảm ơn các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non và khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Các giáo viên chủ nhiệm cùng các trẻ lớp mẫu giáo lớn Trường Mầm non Hoa Sen - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc, lớp Mẫu giáo lớn trường Mầm non Hội Hợp - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc và lớp mẫu giáo lớn Trường Mầm non Hợp Thịnh
- Huyện Tam Dương - Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện thuận lợi để em thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Đặc biệt hơn em xin chân thành biết ơn cô Lê Thị Lan Anh, giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình hướng dẫn em thực hiện đề tài này
Đề tài được hoàn thành là niềm vui rất lớn đối với chúng em Hi vọng
nó sẽ có ích được cho những ai cần tài liệu tham khảo để giúp trẻ phát âm đúng thông qua một số trò chơi ngôn ngữ
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn!
Xuân Hòa, ngày tháng …… năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thị Phương Loan
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA MỘT SỐ TRÒ CHƠI NGÔN NGỮ 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Trên thế giới 6
1.1.2 Ở Việt Nam 8
1.2 Cơ sở lí luận của việc sửa lỗi phát âm cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua một số trò chơi ngôn ngữ 11
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 11
1.2.2 Cơ sở tâm sinh lí của việc sửa lỗi phát âm cho trẻ mẫu giáo lớn 15
1.2.3 Cơ sở ngôn ngữ học của việc sửa lỗi phát âm 22
Kết luận chương 1 41
Chương 2 THỰC TRẠNG SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA MỘT SỐ TRÒ CHƠI NGÔN NGỮ 43
2.1 Thực trạng sửa lỗi phát âm cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua một số trò chơi ngôn ngữ 43
2.1.1 Khái quát địa bàn điều tra 43
Trang 62.1.2 Mục đích điều tra 45
2.1.3 Thời gian điều tra 45
2.1.4 Đối tượng điều tra 45
2.1.5 Nội dung điều tra 45
2.1.6 Phương pháp điều tra 45
2.1.7 Tình hình lỗi phát âm của trẻ 46
2.1.8 Hình thức khảo sát 47
2.1.9 Tiến hành khảo sát 47
2.1.10 Kết quả điều tra 51
2.2 Nguyên nhân mắc lỗi phát âm của trẻ mẫu giáo lớn 54
2.2.1 Nguyên nhân chung 54
2.2.2 Nguyên nhân chủ quan 55
2.2.3 Nguyên nhân khách quan 56
Kết luận chương 2 58
Chương 3 BIỆN PHÁP SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA MỘT SỐ TRÒ CHƠI NGÔN NGỮ VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 59
3.1 Một số yêu cầu khi tổ chức trò chơi ngôn ngữ cho trẻ 59
3.1.1 Trò chơi ngôn ngữ phải mang tính mục đích 59
3.1.2 Trò chơi ngôn ngữ phải phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi 59
3.1.3 Trò chơi ngôn ngữ phải mang tính thẩm mĩ 60
3.1.4 Trò chơi phù hợp với từng lỗi phát âm của trẻ 60
3.1.5 Giáo viên sửa lỗi phát âm cho trẻ phải yêu nghề, mến trẻ, nắm vững nội dung ngôn ngữ 60
3.2 Một số trò chơi ngôn ngữ 61
3.2.1 Các bước sử dụng trò chơi ngôn ngữ 61
3.2.2 Một số trò chơi sửa lỗi âm đầu 61
3.2.3 Một số trò chơi sửa lỗi âm đệm 65
Trang 73.2.4 Một số trò chơi sửa lỗi âm chính 69
3.2.5 Một số trò chơi sửa lỗi âm cuối 72
3.2.6 Một số trò chơi sửa lỗi thanh điệu 75
3.3 Thực nghiệm sư phạm 80
3.3.1 Mục đích thực nghiệm 80
3.3.2 Đối tượng, phạm vi và thời gian thực nghiệm 80
3.3.3 Nội dung thực nghiệm 81
3.3.4 Tiêu chí đánh giá thực nghiệm 81
3.3.5 Phân tích kết quả thực nghiệm 82
Kết luận chương 3 93
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 94
1 Kết luận 94
2 Khuyến nghị 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
S Phát âm sai
SL Số lượng
TB Trung bình
TN Thực nghiệm
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Bảng thống kê đặc điểm xã hội của gia đình trẻ Trường Mầm non
Hoa Sen 25
Bảng 1.2 Bảng thống kê đặc điểm xã hội của gia đình trẻ Trường Mầm non Hội Hợp 26
Bảng 1.3 Bảng thống kê đặc điểm xã hội của gia đình trẻ Trường Mầm non Hợp Thịnh 27
Bảng 1.4 Số lượng phụ huynh trong các nghề 29
Bảng 1.5 Thực trạng phát âm phụ huynh trẻ trường Mầm non Hoa Sen 30
Bảng 1.6 Thực trạng phát âm của phụ huynh trường Mầm non Hội Hợp 31
Bảng 1.7 Thực trạng phát âm của phụ huynh trường Mầm non Hợp Thịnh 32 Bảng 2.1 Khảo sát tình hình phát âm của trẻ 5 - 6 tuổi Trường Mầm non Hoa Sen - Thành phố Vĩnh Yên 48
Bảng 2.2 Khảo sát tình hình phát âm của trẻ 5 - 6 tuổi Trường Mầm non Hội Hợp - Thành phố Vĩnh Yên 49
Bảng 2.3 Khảo sát tình hình phát âm của trẻ 5 - 6 tuổi Trường Mầm non Hợp Thịnh 50
Bảng 2.4 Tổng kết khảo sát tình hình phát âm của trẻ 5 - 6 tuổi ở 3 trường mầm non 51
Bảng 2.5 Thống kê một số trò chơi phát triển ngôn ngữ 78
Bảng 3.1 Mức độ biểu hiện về sửa lỗi phát âm của trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa Sen của 2 nhóm TN và nhóm ĐC trước thực nghiệm 82
Bảng 3.2 Mức độ biểu hiện về sửa lỗi phát âm của trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hội Hợp của 2 nhóm TN và nhóm ĐC trước thực nghiệm 84
Trang 10Bảng 3.3 Mức độ biểu hiện về sửa lỗi phát âm của trẻ mẫu giáo lớn trường
mầm non Hợp Thịnh của 2 nhóm TN và nhóm ĐC trước thực nghiệm 86 Bảng 3.4 Mức độ biểu hiện về sửa lỗi phát âm của trẻ mẫu giáo lớn trường
mầm non Hoa Sen của 2 nhóm TN và nhóm ĐC sau thực nghiệm 87 Bảng 3.5 Mức độ biểu hiện về sửa lỗi phát âm của trẻ mẫu giáo lớn trường
mầm non Hội Hợp của 2 nhóm TN và nhóm ĐC sau thực nghiệm 89 Bảng 3.6 Mức độ biểu hiện về sửa lỗi phát âm của trẻ mẫu giáo lớn trường
mầm non Hợp Thịnh của 2 nhóm TN và nhóm ĐC sau thực nghiệm 91
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Kết quả biểu hiện của trẻ ở nhóm mẫu giáo lớn trường mầm non
Hoa Sen TN và ĐC trước thực nghiệm 83 Biểu đồ 3.2 Kết quả biểu hiện của trẻ ở nhóm mẫu giáo lớn trường mầm non
Hội Hợp TN và ĐC trước thực nghiệm 85 Biểu đồ 3.3 Kết quả biểu hiện của trẻ ở nhóm mẫu giáo lớn trường mầm non
Hợp Thịnh TN và ĐC trước thực nghiệm 86 Biểu đồ 3.4 Kết quả biểu hiện của trẻ ở nhóm mẫu giáo lớn trường mầm non
Hoa Sen TN và ĐC sau thực nghiệm 88 Biểu đồ 3.5 Kết quả biểu hiện của trẻ ở nhóm mẫu giáo lớn trường mầm non
Hội Hợp TN và ĐC sau thực nghiệm 90 Biểu đồ 3.6 Kết quả biểu hiện của trẻ ở nhóm mẫu giáo lớn trường mầm non
Hợp Thịnh TN và ĐC trước thực nghiệm 92
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trẻ em là niềm hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai, niềm tự hào của dân tộc Để những mầm non với tâm hồn trong sáng hồn nhiên này trở thành những công dân có ích cho xã hội thì chúng ta - những người đi trước cần quan tâm, chú trọng tới việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ Vì mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống Giáo dục quốc dân Giữ vai trò nền tảng quan trọng đặt những viên gạch đầu đời trên bước đường tương lai của trẻ để trẻ trong việc giáo dục hình thành và phát triển toàn diện nhân cách
Có như vậy trẻ mới phát triển đúng hướng và nhân cách mới toàn diện phù hợp với mục tiêu chung của Giáo dục mầm non
Trong mục tiêu chung của Giáo dục mầm non đã đặt ra rất nhiều kế hoạch nhằm phát triển trẻ về mọi mặt: đạo đức, thẩm mĩ, trí tuệ, lao động, thể chất… để trẻ có hành trang vững bước khi đến các cấp bậc học phổ thông khác Từ đó trẻ có thể tự lập trên vốn hiểu biết vững chắc của mình Mục tiêu khẳng định rằng, giáo dục cho trẻ trước tuổi đi học là vô cùng quan trọng và cần thiết Nếu trẻ không được rèn luyện, không được chăm sóc, không được giáo dục và bỏ mặc trẻ thì trẻ không phát triển bình thường được Ở môi trường sống bên ngoài lúc nào cũng cần có người có năng lực, nhanh nhẹn, hiểu biết, trẻ không đáp ứng được sẽ không hòa nhập với môi trường này Chính vì vậy, Giáo dục mầm non không chỉ chú trọng phát triển nhân cách cho trẻ mà qua đó còn chuẩn bị cho xã hội những công dân mới tiên tiến Nhà văn L.N.Tônxtôi đã nhận định khi nhấn mạnh ý nghĩa của trước
tuổi đi học rằng: “Tất cả những gì mà đứa trẻ sẽ có sau này khi trở thành
người lớn đều được thu nhận trong thời thơ ấu Trong quãng đời còn lại những cái mà nó thu nhận được chỉ đáng 1% những cái đó mà thôi” Ông
đã nêu ra một phép so sánh “Nếu từ đứa trẻ 5 tuổi đến người lớn, khoảng
Trang 13cách chỉ là một bước thì đứa trẻ sơ sinh đến đứa trẻ 5 tuổi là khoảng cách dài kinh khủng”
Với ý nghĩ vô cùng to lớn ấy, bậc học mầm non ngày nay được Đảng và Nhà nước vô cùng quan tâm Mầm non càng vững chắc thì tương lai của nước nhà càng phát triển, phồn vinh
Ngôn ngữ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của mỗi con người, trong sự hình thành và phát triển của xã hội loài người Lời nói là công cụ để phát triển tâm lí con người, tạo điều kiện cho sự phát triển trí tuệ, cảm xúc và các quá trình tâm lí khác Trẻ ngôn ngữ còn là phương tiện để điều chỉnh hành vi, là phương tiện giao tiếp chủ yếu và còn giúp trẻ lĩnh hội các giá trị đạo đức mang tính chuẩn mực, tiếp thu giá trị tinh hoa của dân tộc và thế giới
Trẻ từ 0 - 6 tuổi đang trong giai đoạn học nói, 3 - 6 tuổi là giai đoạn
“siêu tốc” phát triển ngôn ngữ đầu tiên của đời người Trẻ ở giai đoạn này tò
mò về mọi thứ trẻ chưa biết về cuộc sống xung quanh nên trẻ muốn hiểu, muốn biết về tất cả Chính vì vậy nên trẻ hay đặt ra những câu hỏi để tìm hiểu nguyên nhân, nguồn gốc của sự vật, hiện tượng với những câu hỏi như: vì sao? như thế nào? tại sao? Tất cả để thỏa mãn trí tò mò của trẻ Đồng thời đi cùng với sự học hỏi là sự mắc lỗi, trẻ thường mắc một số lỗi về ngôn ngữ đặc biệt là lỗi phát âm và đây chính là thời điểm tốt nhất để rèn phát âm cho trẻ Việc sửa phát âm cho trẻ là càng sớm càng tốt giúp trẻ hiểu đúng từ đó phát triển vốn từ một cách toàn diện hơn
Với sự nhiệt tình, lòng yêu nghề, mến trẻ chúng tôi mong muốn trẻ phát
âm chuẩn mực nên chúng tôi tìm hiểu các lỗi phát âm thường gặp ở trẻ mẫu giáo lớn từ đó tìm ra nguyên nhân và các biện pháp sửa lỗi phát âm cho trẻ
Chúng tôi lựa chọn nghiên cứu “Sửa lỗi phát âm cho trẻ Mẫu giáo lớn thông qua một số trò chơi ngôn ngữ”
Trang 14Quá trình sửa lỗi phát âm cho trẻ mầm non
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Lỗi phát âm cho trẻ mẫu giáo lớn
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được những biện pháp sửa lỗi phát âm cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua một số trò chơi ngôn ngữ hợp lí, hiệu quả, nhẹ nhàng và khả thi thì trẻ mẫu giáo lớn sẽ hạn chế được lỗi phát âm và phát âm chuẩn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng hợp tài liệu, xây dựng hệ thống cơ sở lí luận cho đề tài
Điều tra thực trạng của việc sửa lỗi phát âm cho trẻ mẫu giáo lớn qua
Trong phạm vi đề tài chúng tôi chỉ đưa ra biện pháp sửa lỗi phát âm
cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua một số trò chơi ngôn ngữ tại ba trường mầm non tỉnh Vĩnh Phúc: Trường MN Hoa Sen - Vĩnh Yên, MN Hội Hợp - Vĩnh Yên, Trường MN Hợp Thịnh - Huyện Tam Dương
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Trang 15Thu thập tài liệu, nghiên cứu, phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát và
hệ thống hóa các vấn đề cần nghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2 Phương pháp đàm thoại
Trao đổi với giáo viên mầm non nhằm tìm hiểu nhận thức của giáo viên về sự cần thiết phải sửa lỗi phát âm cho trẻ mẫu giáo lớn và ý nghĩa của trò chơi ngôn ngữ đối với việc sửa lỗi phát âm cho trẻ
7.2.3 Phương pháp điều tra bằng phiếu anket
Dùng phiếu điều tra thăm dò nhận thức của giáo viên về hiểu biết
những lỗi phát âm của trẻ đồng thời tìm hiểu những biện pháp của họ để sửa
lỗi phát âm cho trẻ mẫu giáo lớn qua việc sử dụng một số trò chơi ngôn ngữ
7.2.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tổng kết về việc sửa lỗi phát âm cho trẻ mẫu giáo lớn qua việc sử dụng
một số trò chơi ngôn ngữ
7.2.5 Phương pháp chuyên gia
Để lấy ý kiến về vấn đề nghiên cứu ở trường mầm non
7.2.6 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm thăm dò: Tìm hiểu thực trạng của việc sửa lỗi phát âm
cho trẻ mẫu giáo lớn qua việc sử dụng một số trò chơi ngôn ngữ
Trang 16Thực nghiệm tác động: Tiến hành thực nghiệm các biện pháp đã xây dựng đối với nhóm trẻ thực nghiệm
7.2.7 Phương pháp xử lí số liệu
Dùng các công thức của toán thống kê để phân tích số liệu thu được Dùng các phương tiện kĩ thuật để nghiên cứu (lấy thông tin, lưu giữ thông tin, xử lí thông tin, trình bày kết quả nghiên cứu…)
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Nội dung được chia làm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lí luận của việc sửa lỗi phát âm cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua một số trò chơi ngôn ngữ
Chương 2: Thực trạng sửa lỗi phát âm cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua một số trò chơi ngôn ngữ
Chương 3: Biện pháp sửa lỗi phát âm cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua một số trò chơi ngôn ngữ và thực nghiệm sư phạm
Trang 17Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC SỬA LỖI PHÁT ÂM CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA MỘT SỐ
và nhân loại
Ngay từ thời cổ đại vấn đề cổ đại vấn đề ngôn ngữ đã được đề cập đến tuy nhiên thời điểm đó người ta nghiên cứu ngôn ngữ không tách khỏi triết học và logic học Các nhà triết học cổ đại đã coi ngôn ngữ như là một hình thức biểu hiện bề ngoài của cái bên trong là “logos”, tinh thần, trí tuệ của con người Trong cuốn “bàn về phương pháp”, Descartes đã chỉ ra những đặc tính chủ yếu của ngôn ngữ và lấy đó làm tiêu chí phân biệt con người khác với động vật Ông đã nhấn mạnh tính chất của ngôn ngữ, cái tín hiệu duy nhất ấy chắc chắn là của một tư duy tiềm tàng trong cơ thể và kết luận rằng “có thể lấy ngôn ngữ làm chỗ khác nhau thật sự giữa con người và con vật” Chỉ đến giữa thế kỉ XIX khuynh hướng tâm lí học mới nảy sinh trong ngôn ngữ học Người đầu tiên đề xuất hướng nghiên cứu tâm lí học ngôn ngữ là Shteintal (1823 - 1899) Theo ông, ngôn ngữ học phải dựa vào tâm lí cá nhân khi nghiên cứu ngôn ngữ của dân tộc [20]
V.Vunt (1832 - 1920) là đại biểu của thuyết tâm lí liên tưởng, đã nghiên cứu lí thuyết về dạng thức bên trong của từ, về các loại ý nghĩa chuyển đổi của từ, về nghĩa hiện có của từ và câu, về mối quan hệ liên tưởng có tính ngữ đoạn
Trang 18Sau Cách Mạng tháng Mười Nga 1917, các nhà ngôn ngữ học, tâm lí học Xô Viết đã vận dụng quan điểm của Mác - Lênin vào hoạt động nghiên cứu ngôn ngữ đó là: xem xét ngôn ngữ với tư cách là một hiện tượng xã hội Ngôn ngữ thể hiện các mối quan hệ giữa con người với con người được quy định bởi những điều kiện cụ thể của thời kì lịch sử nhất định Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy và là phương tiện giao tiếp chủ yếu nhất của con người Tiêu biểu cho quan điểm đó có thể kể đến L.X.Vưgotxki; E.D.Polivanov; K.N.Derzhavin;… họ đã nghiên cứu tính chất xã hội của ngôn ngữ, về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, sự phụ thuộc qua lại giữa các thuộc tính của ngôn ngữ… [19]
Việc nghiên cứu ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi mầm non cũng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm Nhìn lại các công trình nghiên cứu lí luận và thực tiễn về ngôn ngữ ở giai đoạn này chúng ta có thể thấy các tác giả đã nghiên cứu theo các xu hướng chủ yếu sau:
Hướng nghiên cứu đầu tiên là nghiên cứu chức năng, vai trò của ngôn ngữ trong sự phát triển và giáo dục của trẻ Đây là hướng nghiên cứu nổi bật được thể hiện trong các công trình khoa học của nhiều tác giả như: E.I.Tikheeva, Ph.A.Sookhina, L.X.Vưgôtxki, J.Piaget… Các tác giả đều đi đều nhận định ngôn ngữ là công cụ nhận thức thế giới xung quanh của trẻ, là phương tiện giao tiếp, phương tiện giúp trẻ chiếm lĩnh các giá trị đạo đức, chuẩn mực xã hội Đặc biệt các tác giả đều nhấn mạnh vai trò của ngôn ngữ trong sự phát triển tư duy
của trẻ.[20]
Hướng nghiên cứu thứ hai được các tác giả quan tâm là nghiên cứu đặc điểm phát trển ngôn ngữ của trẻ trước tuổi học Hướng nghiên cứu này được phản ánh trong công trình của các tác giả: E.I.Tikheeva, Ph.A.Sookhina, L.P.Phêdôrenko… Trong các công trình nghiên cứu của mình các tác giả đã
Trang 19nghiên cứu vốn từ, ngữ âm, ngữ pháp và phát triển ngôn ngữ như: đặc điểm phát triển vốn từ, ngữ âm, ngữ pháp và phát triển lời nói mạch lạc… ở từng
độ tuổi khác nhau Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ ở từng độ tuổi, các tác giả đã đưa ra một số quy luật phát triển ngôn ngữ của trẻ mà cho đến bây giờ vẫn còn một số ý nghĩa quan trọng đối với việc lựa chọn nội dung, phương pháp, biện pháp dạy tiếng mẹ đẻ cho trẻ trước tuổi
đi học
Hướng nghiên cứu thứ ba là nghiên cứ các điều kiện đảm bảo sự phát triển ngôn ngữ của trẻ Hướng nghiên cứu này được phản ánh trong công trình của các tác gỉa sau đây: E.I.Tikheeva, Ph.A.Sookhina, Helen Gloeb, Kak-hainodich… Trên cơ sở các đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ, các tác giả
đã nghiên cứu những điều kiện cần thiết cho sự phát triển ngôn ngữ như: bộ máy phát âm hoàn chỉnh, môi trường ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ của những người lớn xung quanh… từ đó xây dựng nội dung, phương pháp, biện pháp và các bài tập phát triển ngôn ngữ cho trẻ trước tuổi đi học Đây là hướng nghiên cứu đang diễn ra mạnh mẽ ở các nước trên thế giới, đặc biệt là trong những năm trở lại đây
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam những công trình nghiên cứu về ngôn ngữ của trẻ em rất phong phú: Các tác giả đã nghiên cứu sự phát triển của trẻ em theo từng giai đoạn 12 - 24 tháng, 24 - 36 tháng, 3 tuổi, 4 - 5 tuổi, 1- 3 tuổi, 3 - 5 tuổi như tác giả Lưu Thị Lan (1986), Bùi Việt Anh (1989)…
Nghiên cứu sự phát triển các thành phần ngôn ngữ (vốn từ, ngữ pháp, hiểu từ, ngôn ngữ mạch lạc) của trẻ em các độ khác nhau có thể kể đến công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Minh Huệ (1989), Hồ Minh Tâm (1989), Dương Diệu Hoa (1985), Lưu Thị Lan (1996), Nguyễn Thị Mai
Trang 20(1998), Đỗ Thị Xuyến (2000), Nguyễn Thị Oanh (2000), Bùi Thị Thanh (2005)…
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em (môi trường sống, sức khoẻ, giáo dục gia đình…) qua công trình nghiên cứu của Lưu Thị lan (1989), Võ Phan Thu Hương (2006)…
Các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhà trẻ - mẫu giáo qua các công trình nghiên cứu của tác giả trong nước như Nguyễn Gia Cầu (1986), Đỗ Thị Xuyến (2000), Nguyễn Thị Băng Tâm (2000), Nguyễn Xuân Khoa (2004), Nguyễn Thị Yến (2004), Nguyễn Thị Hằng (2008)…
Tác giả Phan Thiều trong tác phẩm “Dạy nói cho trẻ trước tuổi lớp
một” 1979 [27] và Tác giả Tạ Thị Ngọc Thanh trong tác phẩm “Dạy phát âm
và làm giàu vốn từ cho trẻ mẫu giáo” 1980 [26] là một trong những công
trình tiêu biểu nghiên cứu về nội dung và phương pháp dạy tiếng Việt ở nhà trường Tuy nhiên, nội dung bài nghiên cứu vẫn chưa đi sâu mà chỉ dừng lại ở
sự giải thích, vận dụng các tri thức ngôn ngữ học, các thành tựu ngôn ngữ về tiếng Việt vào nhà trường
Từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945, việc sử dụng ngôn ngữ của trẻ được quan tâm hơn Một số Hội nghị Khoa học Trung ương và địa phương đã hướng nội dung vào việc thảo luận nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong trường mầm non
Ngày nay càng ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu đi sâu vào nghiên cứu về sự phát triển lời nói của trẻ em 5 - 6 tuổi Vì đây là giai đoạn tiếp nối của trẻ 5 - 6 tuổi chuẩn bị vào lớp 1 Trẻ 5 - 6 tuổi là bước bức phá quan
trọng về tất cả các mặt đặc biệt là tiếng nói của trẻ
Trong tác phẩm “Phương phát phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” của tác giả Nguyễn Xuân Khoa [15] cũng đã đề cập đầy đủ các mặt phát triển của ngôn ngữ, đồng thời tác giả cũng đưa ra được các phương pháp và biện
Trang 21pháp hướng dẫn cụ thể: dạy trẻ nghe và phát âm đúng, phương pháp phát triển
từ ngữ, phương pháp dạy trẻ đặt câu, phương pháp phát triển lời nói mạch lạc, cho trẻ làm quen tác phẩm văn chương, chuẩn bị cho trẻ học đọc, viết…
Tác giả Nguyễn Thị Phương Nga với công trình nghiên cứu “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non” [21] cũng đưa ra các mặt phát triển của ngôn ngữ như của tác giả Nguyễn Xuân Khoa, nhưng được bổ sung nhiều tài liệu và hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực phát triển vốn từ cho trẻ Trong tài liệu nghiên cứu đã xác định các nhiệm vụ cần phát triển: dạy trẻ nghe và phát âm đúng, phương pháp phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, dạy trẻ nói mạch lạc, chuẩn bị cho trẻ học ngôn ngữ viết
“Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi” của nhóm tác
giả Hoàng Thị Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội/2005 tìm hiểu các vấn đề luyện phát âm cho trẻ các lứa tuổi.[21]
Tác giả Đinh Hồng Thái cũng biên soạn cuốn “Phương pháp phát triển lời nói cho trẻ em” [27] cũng đã đề cập đến Những vấn đề chung dạy nói cho trẻ trong ba năm đầu, dạy nói cho trẻ tuổi mẫu giáo, chuẩn bị dạy cho trẻ tiếng Việt ở trường phổ thông
Bên cạnh đó trong cuốn “Giáo dục Mầm non, lí luận và thực tiễn”
[30] , Nguyễn Ánh Tuyết chỉ đề cập đến một lỗi phát âm của trẻ mẫu giáo là nói lắp Tác giả đã đưa ra nguyên nhân chính gây ra hiện tượng nói lắp ở trẻ
và một số biện pháp chữa nói lắp
Bài viết “Một số biện pháp rèn phát âm l/n cho trẻ 5 tuổi” trong Tạp
chí Giáo dục số 3/2006 của tác giả Đỗ Thị Lương Huệ đã đưa ra một số biện pháp rèn phát âm l/n cho trẻ như: tự rèn phát âm chuẩn xác l/n, sửa lỗi phát
âm phụ âm l/n thông qua hoạt động chung cho trẻ làm quen với chữ cái, rèn cho trẻ luyện phát âm l/n thông qua các hoạt động khác, khuyến khích trẻ tự phát hiện và sửa lỗi phát âm cho nhau [11]
Trang 22Như vậy, hầu hết các tác giả đều quan tâm tới lỗi phát âm của trẻ, tìm
ra nguyên nhân và đưa ra được biện pháp khắc phục Song các tác giả mới đưa ra những vấn đề còn chung chung, sơ lược, mang tính lí luận mà chưa đi sâu vào thực tiễn Đặc biệt là chưa đưa ra được những biện pháp tối ưu nhất, mang tính thực tiễn nhất để sửa lỗi phát âm cho trẻ Chính vì lí do này chúng
tôi càng có quyết tâm theo đuổi, nghiên cứu đề tài “Sửa lỗi phát âm cho trẻ
Mẫu giáo lớn thông qua một số trò chơi ngôn ngữ” với mong muốn sẽ hoàn
thiện hơn nữa những vấn đề mà các tác giả trước đây đã nghiên cứu
1.2 Cơ sở lí luận của việc sửa lỗi phát âm cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua một số trò chơi ngôn ngữ
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1 Khái niệm chuẩn phát âm
Phát âm đúng là phát âm chính xác các thành phần âm tiết không ngọng, không lắp, biết điều chỉnh âm lượng của mình Hiện nay chuẩn phát
âm tiếng Việt là chuẩn phát âm Hà Nội bổ sung âm s, tr, r và hai vần ưu, ươu
1 2.1.2 Thế nào là nói ngọng
Nói ngọng là tình trạng xuất hiện ở rất nhiều trẻ Đa phần, việc nói ngọng sẽ dần cải thiện theo thời gian, nhưng có những trường hợp trẻ sẽ ngọng đến lúc lớn lên Ngay khi phát hiện trẻ nói ngọng, cha mẹ cần giúp trẻ chỉnh sửa ngay để tránh kéo dài
Ngọng là một biểu hiện phát triển ngôn ngữ không hoàn thiện thường thấy ở trẻ dưới 5 tuổi Ngọng là do không nói được đúng một số âm hoặc trẻ
tự thay thế những âm này bằng âm khác như th thành kh, b thành p…
Qua nghiên cứu, người ta thấy ngọng có hai loại là ngọng thực thể và ngọng cơ năng
Ngọng chỉ ảnh hưởng tới từng âm riêng lẻ (ngọng âm) hoặc từng nhóm
âm (ngọng âm tiết) hoặc toàn bộ từ ngữ bị phát âm méo mó Rối loạn các âm
Trang 23gió gọi là ngọng âm gió, rối loạn phát âm âm “r” gọi là ngọng âm r màn hầu,
do môi, răng, ngọng âm “l”… Nếu trẻ bị ngọng thì việc điều trị càng sớm sẽ càng tốt, phải xử trí trước khi hình thành ngôn ngữ hoàn thiện là 4 - 5 tuổi Nếu có những tổn thương tại cơ quan phát âm như sứt môi, hở hàm ếch, xẻ lưỡi gà… nên phẫu thuật chỉnh hình, tái tạo lại cơ quan phát âm
1.2.1.3 Thế nào là nói lắp
Nói lắp là một dạng rối loạn trong giao tiếp bằng lời nói mà trong đó, người nói lặp đi lặp lại hoặc kéo dài nhiều âm thanh, từ ngữ hay trọng âm, khiến cho mạch giao tiếp bị gián đoạn Người nói lắp có thể có biểu hiện căng thẳng, nháy mắt liên tục hoặc run môi Tình trạng nói lắp thường xuyên sẽ gây khó khăn cho các hoạt động giao tiếp và ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống hàng ngày của người nói lắp
1.2.1.4 Chơi
Chúng tôi quan niệm theo cách tiếp cận của Đặng Thành Hưng “Chơi
là kiểu hành vi hoặc hoạt động tự nhiên, tự nguyện, có động cơ thúc đẩy là những yếu tố bên trong quá trình chơi và chủ thể không nhất thiết theo đuổi những mục tiêu là lợi ích thực dụng một cách tự giác trong quá trình đó”
Chơi là hành vi có thể có tính xã hội (ở người) và có thể chỉ là hành vi bản năng (ở động vật).[12]
1.2.1.5 Khái niệm trò chơi
Theo nghiên cứu của Đặng Thành Hưng, thì Trò chơi là thuật ngữ có hai nghĩa khác nhau tương đối xa: 1 Một kiểu loại phổ biến của Chơi Nó chính là Chơi có luật (tập hợp qui tắc định rõ mục đích, kết quả và yêu cầu hành động) và có tính cạnh tranh hoặc tính thách thức đối với người tham gia;
2 Những thứ công việc được tổ chức và tiến hành dưới hình thức chơi, như chơi, bằng chơi, chẳng hạn: học bằng chơi, giao tiếp bằng chơi, rèn luyện thân thể dưới hình thức chơi đá bóng…[12]
Trang 24Chúng tôi quan niệm: Trò chơi là tổ hợp những hành động (nhận thức,
giao tiếp, tương tác,…) của người chơi và các luật lệ phù hợp với chúng có chức năng kết hợp chúng lại nhằm thực hiện chơi có luật để đạt được mục đích và lợi ích nhất định
1.2.1.6 Khái niệm trò chơi ngôn ngữ
Trò chơi ngôn ngữ là một hình thức hoạt động thường được đông đảo học sinh hứng thú tham gia trong và ngoài lớp học Tham gia vào các trò chơi ngôn ngữ, học sinh còn được rèn luyện, phát triển về cả trí tuệ, thể lực và nhân cách, đáp ứng mục tiêu môn học
Trò chơi ngôn ngữ trong dạy Luyện từ và câu là trò chơi mà luật của nó bao gồm các qui tắc gắn với kiến thức kĩ năng có được trong hoạt động học tập, gắn với nội dung bài học, giúp học sinh khai thác vốn kinh nghiệm của bản thân để chơi, thông qua chơi học sinh được vận dụng các kiến thức kĩ năng đã học vào các tình huống trò chơi và do đó học sinh được luyện tập thực hành củng cố, mở rộng kiến thức, kĩ năng đã học Như vậy các kĩ năng học tập môn luyện từ và câu được đưa vào trò chơi
Tuỳ theo mục đích sử dụng và các quan điểm tiếp cận, trò chơi được
phân loại và xác định tên gọi cụ thể Trong bài viết này, khái niệm Trò chơi
ngôn ngữ được hiểu là dạng trò chơi giáo dục sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện và mục đích, có nội dung giáo dục và rèn đúng phát âm cho trẻ [12]
1.2.1.7 Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ
Ngôn ngữ là phương tiện hình thành và phát triển nhận thức của trẻ
về thế giới xung quanh Ngôn ngữ chính là cơ sở của mọi sự suy nghĩ và là công cụ của tư duy
Thật vậy, hầu hết trẻ thơ đều có một tâm hồn nhạy cảm Đối với các
em, thế giới xung quanh chứa đựng biết bao nhiêu điều mới lạ, hấp dẫn Ngay
Trang 25trong những cái tưởng chừng như bình thường và giản dị thì các em cũng phát hiện ra những điều lí thú
Chẳng vậy mà Pauxtopxky có nhận xét rằng: “Thời thơ ấu không còn mãi,… Trong thời thơ ấu tất cả đều khác Trẻ em đã nhìn thế giới bằng đôi mắt trong sáng và đối với tất cả với chúng đều rực rỡ hơn nhiều Mặt trời chói lọi hơn, đồng ruộng được cày sâu hơn, tiếng sấm vang rền hơn, mưa to hơn,
cỏ mọc cao hơn và cả lòng người cũng mở rộng hơn Nỗi đau thương cũng sâu sắc hơn và mảnh đất quê hương cũng chứa đầy bí ẩn, nhiều hơn gấp hàng nghìn lần”
Chẳng thế mà khi người lớn đưa ra các câu hỏi, câu trả lời hay khi đàm thoại trực tiếp với trẻ thì cũng đồng thời ngay lúc đó trẻ làm quen được với các sự vật, hiện tượng có ở môi trường xung quanh, và trẻ hiểu được những đặc điểm, tính chất, công dụng của các sự vật cùng với các từ tương ứng với
nó thông qua các từ ngữ đó Trẻ thường nhìn sự vật trong tính toàn vẹn của nó
mà chưa hề bị chia cắt ra từng mảng, từng bộ phận rạch ròi khô cứng
Những thuộc tính cụ thể - cảm tính sinh động như màu sắc, âm thanh
… có tác động mạnh mẽ lên giác quan và ghi dấu ấn sâu đậm trong tâm trí của trẻ Từ ngữ và hình ảnh trực quan của các sự vật cùng đi vào nhận thức của trẻ Nhờ có ngôn ngữ, trẻ nhận biết được ngày càng nhiều các sự vật, hiện tượng từ đơn giản dần tới phức tạp mà trẻ được tiếp xúc trong cuộc sống hằng ngày, giúp trẻ hình thành, phát triển phong phú các biểu tượng về thế giới xung quanh
Ngôn ngữ và tư duy có mối quan hệ mật thiết với nhau Ngôn ngữ là sự hiện hữu của tư duy, cả hai cùng song song tồn tại và phát triển với nhau, Những ý tưởng của trẻ được bộc lộ bằng ngôn ngữ Ngôn ngữ là phương tiện giúp trẻ hình thành và phát triển tư duy Ngôn ngữ của trẻ được phát triển dần theo lứa tuổi, điều đó sẽ giúp trẻ không chỉ tìm hiểu những hiện tượng, sự vật
Trang 26gần gũi xung quanh, mà còn có thể tìm hiểu cả những sự vật không xuất hiện trước mắt trẻ, những sự việc xảy ra trong quá khứ và tương lai Ngôn ngữ còn
là công cụ giúp trẻ hoạt động vui chơi và nhận thức thế giới xung quanh một cách phong phú hơn Bởi chơi là phương tiện mở rộng, củng cố chính xác hóa biểu tượng của trẻ về cuộc sống xung quanh Nội dung chủ yếu của chơi là phản ánh thế giới xung quanh trẻ, nên khi tham gia vào hoạt động này trẻ càng hiểu sâu hơn về cuộc sống xung quanh mình
Tất cả những điều trẻ lĩnh hội trước lúc chơi dưới nhiều hình thức hoạt động khác nhau sẽ được chính xác hơn, phong phú hơn Khi tham gia vào trò chơi, trẻ sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp với bạn, trao đổi, phân vai trong trò chơi: Chọn vai nào, chơi như thế nào, và quá trình thỏa thuận này không thể thiếu vai trò của ngôn ngữ Ngoài ra, trong quá trình chơi sẽ nảy sinh các tình huống chơi đòi hỏi mỗi đứa trẻ tham gia vào trò chơi phải có một trình độ phát triển ngôn ngữ nhất định Trẻ bộc lộ những suy nghĩ của mình với các bạn và nghe ý kiến của các bạn để đi đến thỏa thuận trong khi chơi
1.2.1.8 Phân biệt “sửa” và “chữa”
Theo từ điển Tiếng Việt, “sửa” là làm cho không còn những chỗ hư
hỏng, sai sót hoặc không thích hợp, để trở thành bình thường hoặc tốt hơn
“chữa” là làm cho khỏi bệnh hoặc hết hư hỏng
Vì lí do trên chúng tôi chọn sử dụng thuật ngữ: Sửa lỗi phát âm chứ không phải chữa lỗi phát âm Sửa lỗi để cho trẻ phát âm chính xác hơn, đúng hơn
1.2.2 Cơ sở tâm sinh lí của việc sửa lỗi phát âm cho trẻ mẫu giáo lớn
1.2.2.1 Cơ sở sinh lí
a Đặc điểm hệ thần kinh
Khi ra đời, đứa trẻ sơ sinh bị rơi vào những điều kiện mới, vào một môi trường sống mới, hoàn toàn khác với môi trường trong bụng mẹ Cơ thể trẻ tác động qua lại với môi trường xung quanh thông qua các cơ quan cảm giác
Trang 27và hệ thần kinh Hệ thần kinh điều khiển sự hoạt động của các cơ quan trong
cơ thể, phối hợp và điều hòa sự hoạt động của các cơ quan làm cho cơ thể thích nghi được sự thay đổi thường xuyên của môi trường và có thể cải tạo
nó Hệ thần kinh chính là cơ quan điều khiển cơ thể như là một khối thống nhất
Khi ra đời bộ não của trẻ chưa phát triển đầy đủ để thực hiện chức năng của mình, mặc dù cấu tạo và hình thái không khác của người lớn, trọng lượng lúc sơ sinh là 370 - 392 gam, khi được 6 tháng trọng lượng tăng gấp đôi, 3 tuổi tăng gấp 3, 9 tuổi thì nặng đến 1300 gam
Hệ thần kinh có một tác động chi phối và điều tiết đối với vận động cơ thể cải thiện tính không cân bằng của quá trình thần kinh Cần chú ý tới sự luân phiên giữa động và tĩnh trong quá trình vận động của trẻ
b Đặc điểm hệ vận động
Hệ vận động của trẻ bao gồm hệ xương, hệ cơ và khớp Quá trình phát triển hệ cơ xương diễn ra nhanh, xương vẫn còn tính chất đàn hồi Hệ xương gồm: xương sọ, xương thân và xương chi Xương sống và các xương khác còn mềm và yếu vì trong đó còn chứa nhiều tính chất sụn Thành phần hóa học xương của trẻ có chứa nhiều nước và chất hữu cơ hơn chất vô cơ so với người lớn nên rất dễ cong và gãy Cấu tạo xương chưa kết thúc ở nhiều xương, mặc dù sự cung cấp máu của trẻ tốt hơn người lớn
Các khớp của trẻ rất linh hoạt, dây chằng dễ bị dãn, các gân còn yếu Các khớp còn nông, cơ bắp xung quanh khớp còn mềm, yếu, dây chằng lỏng lẻo, tính vững chắc của khớp còn tương đối kém
Hệ cơ bao gồm trên 600 cơ, chiếm 42% trọng lượng cơ thể Chia thành
4 nhóm cơ chính: cơ đầu, cơ cổ, cơ mình và cơ chi Hệ cơ của trẻ phát triển yếu, tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ nhỏ, mảnh, thành phần nước trong cơ thể tương đối nhiều nên sức mạnh cơ bắp còn yếu, cơ nhanh mệt mỏi
Trang 28c Đặc điểm hệ tuần hoàn
Hệ tim mạch của trẻ bắt đầu hoạt động sớm hơn các hệ khác và các mạch máu của trẻ rộng hơn so với người lớn (về tỉ lệ) nên áp lực của máu vào thành mạch yếu, để bù đắp vào đó tần số co bóp của tim lại nhanh Tim trẻ 5 -
6 tuổi nặng gấp 4 - 5 lần trẻ sơ sinh Hệ thống điều khiển hoạt động của tim vẫn tiếp tục phát triển mạnh, mạch đập có chậm hơn trẻ 1 - 2 tuổi nhưng vẫn còn nhanh hơn so với người lớn rất nhiều Mạch đập của trẻ 5 - 6 tuổi là 90 -
100 lần/ phút Huyết áp tăng, số lượng hồng cầu trong máu tăng, tỉ lệ huyết sắc tố trong máu tăng rõ nét Sự điều hòa thần kinh tim còn chưa hoàn thiện nên nhịp co bóp dễ mất ổn định và cơ tim rất nhanh mệt mỏi Tuy vậy khi thay đổi hoạt động theo xu hướng giảm dần thì tim trẻ lại phục hồi rất nhanh
d Đặc điểm hệ hô hấp
Đường hô hấp của trẻ tương đối hẹp, niêm mạc và đường hô hấp mềm mại, mao mạch phong phú nên dễ phát sinh nhiễm cảm Khí quản của trẻ 5 - 6 tuổi nhỏ không khí đưa vào ít, trẻ thở nông nên khả năng trao đổi không khí phổi kém Bộ máy hô hấp của trẻ còn nhỏ, không chịu được những vận động quá sức kéo dài liên tục Tần số hô hấp của trẻ ở lứa tuổi này thường là 26 -
28 lần/ phút Đến 5 - 6 tuổi thể tích khí lưu thông của trẻ là 215ml, thể tích phút ở trẻ 5 - 6 tuổi là 5.800ml Sinh lượng phổi của trẻ 5 - 6 tuổi là 700ml đến 800ml
Trung khu hô hấp của trẻ rất dễ hưng phấn Trẻ chỉ hơi bị xúc động, hoặc lao động chân tay chút ít hoặc hơi bị nóng đã thở nhanh hơn bình thường
e Đặc điểm bộ máy phát âm
Phát âm của trẻ phụ thuộc vào sự hoàn thiện của bộ máy phát âm cũng như khả năng điều khiển hoạt động của bộ máy này Do đó đặc điểm của bộ máy phát âm ở trẻ em cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát âm của trẻ
Trang 29Các bộ phận chính yếu của bộ máy phát âm bao gồm:
* Bộ phận cung cấp làn hơi
Bao gồm hai lá phổi, dưới sự tác động của cơ hoành, cơ sườn, cơ ngực,
cơ bụng và các mô Từ sơ sinh đến 8 tuổi, phổi phát triển chủ yếu bằng tăng
số lượng phế nang Phổi trẻ có đặc điểm: nhiều mạch máu và bạch mạch, nhiều cơ trơn, ít tổ chức đàn hồi, đặc biệt là quanh các phế nang và thành bạch mạch Các cơ hô hấp chưa phát triển hoàn chỉnh nên lồng ngực di động kém Do những đặc điểm trên nên trẻ càng nhỏ khả năng phát âm càng kém, chủ yếu chỉ là những tiếng ê a chưa rõ ràng, ngắn gọn
* Bộ phận truyền tăng âm
Gồm chủ yếu là cuống họng (yết hầu) thông với đường miệng hoặc mũi Họng hầu trẻ em tương đối ngắn và hẹp, có hình phễu, sụn mềm và nhẵn, họng phát triển mạnh trong năm đầu và vào tuổi dậy thì Niêm mạc họng được phủ bằng lớp biểu mô rung hình trụ
Các chấn động âm thanh do thanh đới tạo ra được bộ phận truyền âm gom lại và dẫn ra ngoài theo hai hướng miệng hoặc mũi Cuống họng và miệng không những truyền âm, mà còn góp phần khác quan trọng vào việc tăng âm (đóng vai trò như là một hộp cộng hưởng)
Trang 30* Bộ phận phát âm (nhả chữ)
Là miệng với các hoạt động của môi, răng, lưỡi, hàm dưới, vòm mềm (hàm ếch mềm, cúa mềm, ngạc mềm) Chúng ta nhận ra giộng nói với ý nghĩa của nó là nhờ vào hoạt động các cơ quan trên Ở trẻ, do sự hoạt động của môi, lưỡi, hàm dưới, vòm mềm chưa linh động và răng chưa phát triển đầy đủ nên phát âm chưa chuẩn, chưa rõ ràng Đối với những trẻ mắc dị tật bẩm sinh ở những cơ quan trên sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát âm và càng khó khăn hơn để có thể phát âm đúng, chuẩn
1.2.2.2 Cơ sở tâm lí
Tâm lí của trẻ Mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi phát triển mạnh, dần trẻ học cách hành động có chủ định theo mục đích đặt ra có ý thức Mầm mống tình cảm cao cấp đã xuất hiện: tình cảm đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ… Nhân cách toàn diện của trẻ dần hình thành, phẩm chất và tính cách đã được xác định
Tính tự lực của trẻ đã xuất hiện, trẻ đã biết thiết lập các mối quan hệ rộng rãi và phong phú với các bạn chơi “Một xã hội trẻ em” được hình thành Hiện tượng thủ lĩnh cũng đã xuất hiện và trong “xã hội trẻ em” dần được hình thành cũng những dư luận chung
Trí nhớ của trẻ chủ yếu nhờ hoạt động có tính trực quan, hiện tượng trẻ
nhớ rất tốt các sự việc cụ thể trong thực tế
Ý nghĩa của âm thanh làm cho trẻ đã chú ý nhiều, từ âm thanh bên ngoài, trẻ biết chú ý tập trung vào sự suy nghĩ, cảm xúc bên trong óc trẻ
Trang 31Thời điểm này di chuyển chú ý của trẻ nhanh, nếu sự hướng dẫn di chuyển tốt Trẻ đã biết phân tích tổng hợp không chỉ dừng lại ở đồ vật, hình ảnh mà ngay cả từ ngữ Nhưng tư duy của trẻ dần dần mất đi tính duy kỉ, tiến dần đến khách quan, hiện thực hơn Dần dần trẻ phân biệt được thực và hư
Trẻ ý thức rõ về những ý nghĩ, tình cảm của mình, trách nhiệm đối với hành vi của mình Các phẩm chất của tư duy đã bộc lộ đủ về cấu tạo và chức năng hoạt động của nó như tính mục đích, độc lập sáng tạo, tính linh hoạt, độ mềm dẻo
Ở trẻ 5 - 6 tuổi phát triển cả 3 loại tư duy, tư duy hành động trực quan vẫn chiếm ưu thế Ở lứa tuổi này trẻ xuất hiện tình cảm bạn bè
Các sắc thái xúc cảm con người trong quan hệ với các loại lứa tuổi khác nhau, vị trí xã hội khác nhau, được hình thành như: Tình cảm mẹ con, ông bà, anh chị em, tình cảm với cô giáo, với người thân, người lạ
Tình cảm trí tuệ: Tình cảm trí tuệ của trẻ phát triển, mỗi nhận thức mới đều kích thích niềm vui, hứng thú, sự say mê thích thú của trẻ; tính tò mò ham hiểu biết, làm nảy sinh nhiều xúc cảm tích cực; trong vui chơi, học tập, lao động tự phục vụ nhiều thành công thất bại củng cố sự phát triển tình cảm trí tuệ ở trẻ
Tình cảm đạo đức: Do lĩnh hội được ý nghĩa các chuẩn mực hành vi tốt, xấu Qua vui chơi giao tiếp với mọi người; do các thói quen nếp sống tốt được gia đình, các lớp mẫu giáo xây dựng cho trẻ Trẻ ý thức được nhiều hành vi tốt đẹp cần thực hiện để vui lòng mọi người
Tình cảm thẩm mĩ: Qua các tiết học nghệ thuật tạo hình, âm nhạc, tìm hiểu môi trường xung quanh Cùng với những nhận thức về cái đẹp tự nhiên, hài hoà về bố cục, sắp xếp trong gia đình và lớp học Trẻ ý thức rõ nét về cái đẹp cái xấu theo chuẩn (lúc đầu theo chuẩn của bé dần dần phù hợp với đánh giá của những người xung quanh) xúc cảm thẩm mĩ, óc thẩm mĩ phát triển
Trang 32Cùng đó là sự phát triển về ý chí: Do có khả năng làm chủ được nhiều hành vi, được người lớn giao cho nhiều việc nhỏ Trẻ dần dần đã xác định
rõ mục đích của hành động Trẻ dần dần tách động cơ ra khỏi mục đích với sự
cố gắng hoàn thành nhiệm vụ Trẻ muốn chơi trò chơi, trẻ muốn được nghe kể chuyện nhiều hơn nhưng không được cô giáo đáp ứng, phải chuyển trò chơi
mà trẻ không thích Tính mục đích càng ngày càng được trẻ ý thức và cố gắng hoàn thành công việc
Tính kế hoạch xuất hiện, trẻ biết sắp xếp "công việc" vui chơi và phải quét nhà, nhặt rau để khi mẹ về là mọi việc phải xong cho mẹ hài lòng
Tinh thần trách nhiệm bản thân dần dần được hình thành ở trẻ
Sự phát triển ý chí mạnh hay yếu tuỳ thuộc phần lớn vào sự giáo dục, các biện pháp giáo dục của cha mẹ, cô giáo và những người lớn xung quanh
Để đánh giá bản thân một cách đúng đắn, đầu tiên đứa trẻ phải học cách đánh giá người khác và nghe những người xung quanh đánh giá mình như thế nào Ở tuổi mẫu giáo lớn, sự tự ý thức còn được biểu hiện rõ trong sự phát triển giới tính của trẻ Trẻ không những nhận ra mình là trai hay gái mà còn biết nếu mình là trai hay gái thì hành vi này phải thể hiện như thế nào cho phù hợp với giới tính của mình
Thời điểm lúc trẻ tròn 6 tuổi là một bước ngoặt quan trọng của trẻ em
Ở độ tuổi mẫu giáo lớn là thời kì trẻ đang tiến vào bước ngoặt đó với sự biến đổi của hoạt động chủ đạo Hoạt động vui chơi vốn giữ vị trí chủ đạo trong suốt thời kì mẫu giáo, nhưng vào cuối tuổi này không còn giữ nguyên dạng hoàn chỉnh của nó, những yếu tố của hoạt động học tập bắt đầu nảy sinh
Cuối giai đoạn mẫu giáo lớn, trẻ đã có những tiền đề cần thiết của sự chín muồi đến trường về các mặt tâm sinh lí, nhận thức, trí tuệ ngôn ngữ và tâm thế để trẻ có thể thích nghi bước đầu với điều kiện học tập ở lớp 1
Trang 33Như vậy các đặc điểm tâm lí chung của trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi là thời điểm gạch nối giữa hai độ tuổi nên chưa được rõ nét mà đang được
hình thành và phát triển mạnh mẽ
1.2.3 Cơ sở ngôn ngữ học của việc sửa lỗi phát âm
1.2.3.1 Đặc điểm âm tiết tiếng Việt
Là tính phân tiết cao, mỗi âm tiết đứng độc lập Mỗi âm tiết bao giờ cũng gắn liền với thanh điệu, cũng làm thay đổi ý nghĩa của âm tiết Vì vậy, lời nói của con người bao giờ cũng là lời nói thành tiếng Khi nói chúng ta phải phát âm ra thành từ, thành câu, thành văn bản để truyền đạt lại nội dung thông báo Khi nghe chúng ta phải phát âm ra từ, thành từ, thành câu, thành văn bản để truyền đạt lại nội dung của lời nói Trong âm thanh của lời nói do một các nhân phát ra, ngoài những đặc điểm cụ thể còn có một cái chung nhất mang chức năng xã hội đó là những âm thanh cụ thể của lời nói của mỗi cá nhân
Mô hình cấu trúc âm tiết tiếng Việt có 5 thành phần được sắp xếp theo
sơ đồ sau:
Thanh điệu (5)
Âm đầu
(1)
Vần
Âm đệm (2)
Âm chính (3)
Âm cuối (4)
Thành phần ở vị trí (5) là thanh điệu bao trùm lên toàn bộ âm tiết, 6 thanh điệu: thanh ngang, thanh huyền, thanh sắc, thanh nặng, thanh hỏi, thanh ngã
- Thành phần ở vị trí (1) là âm đầu do các phụ âm đảm nhiệm
- Thành phần ở vị trí (2) là âm đệm / u / có hai con chữ thể hiện là o và
u, chẳng hạn: Toan, Tuân
Trang 34- Thành phần ở vị trí 3 là âm chính do các nguyên âm đảm nhiệm Âm chính là hạt nhân của âm tiết
- Thành phần ở vị trí 4 là âm cuối do 6 phụ âm là /m/, /n/, /p/, /t/, /k/, // và 2 bán âm là / i /, / u / đảm nhiệm
- Các thành phần ở vị trí (2), (3), (4) ghép lại với nhau thành một bộ phận gọi là phần vần Âm bao giờ cũng phải có âm chính và thanh điệu, vị trí còn lại có thể có hoặc không
- Thanh điệu là sự thay đổi độ cao những âm tiết: ca, cá, cã đối lập với
cà, cả, cạ Các âm tiết trước đều được phát âm với cao độ cao, các âm tiết sau phát âm với âm độ thấp
- Thanh điệu là sự thay đổi về âm điệu, trong những âm tiết trên thì những âm tiết cùng thuộc độ cao lại đối lập nhau về sự biến thiên của độ cao, trong thời gian âm tiết “la” được phát âm với cao độ hoàn toàn bằng phẳng, còn “lã” với đường nét biến thiên, cao độ không bằng phẳng, âm điệu là những đường nét biến thiên về cao độ
- Nguyên âm trong tiếng Việt được coi là âm chính, nguyên âm là khi nói âm phát ra luồng hơi đi tự do không có gì cản trở Trong tiếng Việt có 16 nguyên âm, bao gồm 13 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi
+ Nguyên âm đơn:
9 nguyên âm dài: a, ơ, u, e, ê, o, ô, i, ư
Trang 35ie (iê, ia, yê, ya)
- Phụ âm: các âm vị đảm nhiệm thành phần âm đầu của âm tiết tiếng Việt bao giờ cũng là phụ âm Phụ âm là vị trí khi phát âm luồng hơi đi ra bị cản ở chỗ nào đó trong bộ máy phát âm, phụ âm có loại bị cản ở môi, có loại
bị cản ở răng, có loại bị cản ở thanh hầu Về phương thức phát âm người ta chia phụ âm thành:
+ Phụ âm tắc: hơi bị cản lại sau thoát ra đường miệng vào mũi: b, d, t,
s, c, k, m, r, ng
+ Phụ âm sát: hơi đi qua kẽ hở miệng: p, v, s , z, l, x, y, h
+ Phụ âm vang: hơi thoát ra đầu lưỡi và bên lưỡi: m, n, nh
+ Phụ âm ồn: hơi thoát ra đằng miệng có tiếng ồn: b, d, t, c, k, p, x, v, z,
y, h
+ Phụ âm hữu thanh, vô thanh trong các âm ồn: căn cứ vào chỗ dây thanh có rung hay không rung người ta chia ra:
Phụ âm hữu thanh: dây thanh rung (d, v, y)
Phụ âm vô thanh: dây thanh không rung (t, k, c, b, s, x, h)
+ Về vị trí cấu âm ta phân phụ âm thành:
Phụ âm môi: p, b, v, m
Phụ âm lưỡi: d, t, s, z, l, n
Phụ âm hầu: h
Trong các âm lưỡi, sự đối lập nhau giữa đầu lưỡi hẹp: r, t, s, l, n;
đầu lưỡi quặt: đ
Phần vần là do thành phần của âm đệm, âm chính, âm cuối ghép với nhau
Ví dụ : âm tiết Toan: o là âm đệm, n là âm cuối, oan là phần vần
1.2.3.2 Đặc điểm phát âm của phụ huynh trẻ và giáo viên
a Đặc điểm phát âm của phụ huynh
Trang 36Trong điều kiện giới hạn cho phép chúng tôi chỉ điều tra về đặc điểm
xã hội của gia đình trẻ đóng tại 6 khu hành chính với số lượng phụ huynh đã điều tra nghề nghiệp là 70 phụ huynh/ 70 trẻ của lớp 5 - 6 tuổi C trường Mầm non Hoa Sen Trường Mầm non Hội Hợp, chúng tôi điều tra 6/10 khu hành chính, số lượng phụ huynh là 56 phụ huynh/ 56 trẻ lớp 5 tuổi A Trường Mầm non Hợp Thịnh chúng tôi điều tra 6/10 khu hành chính, số lượng phụ huynh là
40 phụ huynh/ 40 trẻ lớp 5 tuổi A Sau đây là bảng thống kê:
Bảng 1.1 Bảng thống kê đặc điểm xã hội của gia đình trẻ
Trường Mầm non Hoa Sen
Địa bàn dân cư
Nghề nghiệp
Khu hành chính
1
Khu hành chính
2
Khu hành chính
3
Khu hành chính
5
Khu hành chính
7
Khu hành chính
Trang 37tương đối tốt Có cha mẹ của trẻ là cán bộ cơ quan, công nhân viên chức và giáo viên với trình đọ học vấn và nhận thức của họ nên việc nuôi dạy con có phần tiến bộ hơn rất nhiều Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có một phần tỉ lệ không nhỏ thành phần phụ huynh làm công nhân buôn bán, lái xe…
Chúng tôi đã điều tra tương tự với các phụ huynh của trẻ ở Trường Mầm non Hội Hợp Dưới đây là bảng thống kê:
Bảng 1 2 Bảng thống kê đặc điểm xã hội của gia đình trẻ
Trường Mầm non Hội Hợp
Địa bàn dân cư
Nghề nghiệp
Khu hành chính
1
Khu hành chính
2
Khu hành chính
3
Khu hành chính
4
Khu hành chính
5
Khu hành chính
Trang 38non Hội Hợp với tỉ lệ làm ngoài nhà nước khá cao nên ít có thời gian chăm sóc tới trẻ, cha mẹ trẻ mải kinh doanh buôn bán và kiếm tiền nên trẻ khi được phát hiện ra lỗi và sử dụng biện pháp kết hợp giữa gia đình và nhà trường là rất khó
Chúng tôi cũng đã điều tra tương tự với các phụ huynh của trẻ ở trường Mầm non Hợp Thịnh Dưới đây là bảng thống kê:
Bảng 1 3 Bảng thống kê đặc điểm xã hội của gia đình trẻ
Trường Mầm non Hợp Thịnh
Địa bàn dân cư
Nghề nghiệp
Khu hành chính
1
Khu hành chính
2
Khu hành chính
3
Khu hành chính
4
Khu hành chính
5
Khu hành chính
Trang 39các cô giáo nếu là người dân gốc của địa phương thì tỉ lệ phát âm sai cũng chiếm tỉ lệ khá cao
* Nhận xét chung:
Qua bảng trên chúng tôi thấy trẻ mẫu lớn 5 - 6 tuổi trường Mầm non Hoa Sen có môi trường ngôn ngữ tốt nhất trong ba trường Và trường Mầm non Hợp Thịnh là nơi có mỗi trường ngôn ngữ không tốt nhất cho trẻ khi sửa lỗi phát âm cho trẻ
Qua tỉ lệ của công việc phụ huynh của trẻ ta có thể nhận thấy rõ sự chênh lệch khá lớn giữa các trường nên có ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình phát âm của trẻ, nhất là về việc giao tiếp, gần gũi với cha mẹ trẻ và cha
mẹ trẻ ít có thời gian quan tâm và chăm sóc trẻ
Một số tình hình về ngữ âm của gia đình trẻ
Để tìm hiểu phụ huynh của trẻ phát âm đúng hay chưa chúng tôi
Câu đồng dao:
“Lúa nếp là lúa nếp làng
Lúa lên lớp lớp lòng nàng lâng lâng”
Trong khi phụ huynh làm các yêu cầu đó, để có được kết quả khảo sát đúng, khách quan, chúng tôi không để phụ huynh trẻ biết là mình đang được khảo sát về lỗi phát âm
Để xác định mức độ chuẩn phát âm của phụ huynh chúng tôi dựa vào chính âm phương ngữ của người Hà Nội gốc
Do điều kiện không cho phép nên chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát trên
97 phụ huynh trong đó có 32 phụ huynh của trẻ 5 - 6 tuổi trường Mầm non
Trang 40Hoa Sen, 35 phụ huynh của trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non Hội Hợp và 30 phụ huynh của trẻ trường mầm non Hợp Thịnh
Trong đó số lượng phụ huynh trong các nghề của cả ba lớp thuộc ba trường như sau:
Bảng 1.4 Số lượng phụ huynh trong các nghề STT Nghề nghiệp của phụ huynh MNHS MNHH MNHT