1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Rèn kỹ năng tập trung cho trẻ tăng động giảm chú ý trong trường mầm non, thông qua việc tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề

120 709 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 2,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu của đề tài “Rèn kỹ năng tập trung cho trẻ tăng động giảm chú ý trong trường mầm non, thông qua việc tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề ” đƣợc tôi n

Trang 1

NGUYỄN THỊ KIM THỊNH

RÈN KỸ NĂNG TẬP TRUNG CHO TRẺ TĂNG ĐỘNG GIẢM CHÖ Ý TRONG TRƯỜNG MẦM NON, THÔNG QUA VIỆC TỔ CHỨC TRÕ CHƠI

ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ

Chuyên ngành: Giáo dục mầm non

Mã số: 60140101

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Thị Hạnh

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập tại trường đến nay, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình và bạn bè Với lòng biết

ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý thầy cô ở Khoa Mầm non - Trường Đại học sư phạm Hà nội 2 đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường Và đặc biệt em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tiến sỹ Hoàng Thị Hạnh đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn

Em xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè, ban giám hiệu trường Mầm non Bồ Sao đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em để em hoàn thành đề tài này

Trong quá trình làm luận văn khó tránh khỏi sai sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy, cô để em học thêm được nhiều kinh nghiệm và sẽ hoàn thành tốt hơn trong những công việc sắp tới

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 15 tháng 06 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Kim Thịnh

Trang 3

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu của đề tài “Rèn kỹ năng tập trung

cho trẻ tăng động giảm chú ý trong trường mầm non, thông qua việc tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề ” đƣợc tôi nghiên cứu và hoàn thành trên

cơ sở kế thừa và phát huy những công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả khác, cùng với sự nỗ lực cố gắng của bản thân và sự chỉ bảo, giúp đỡ của tiến sĩ Hoàng Thị Hạnh

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Đề tài nghiên cứu của tôi không trùng khớp với bất kì đề tài nào của các tác giả khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 15 tháng 06 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Kim Thịnh

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 3

5 Giả thuyết khoa học: 4

6 Các phương pháp nghiên cứu 4

7 Cấu trúc đề tài 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Tổng quan nghiên cứu về hội chứng tăng động giảm chú ý 6

1.1.1 Các nghiên cứu về trẻ tăng động giảm chú ý trên thế giới 6

1.1.2 Các nghiên cứu về trẻ tăng động giảm chú ý tại Việt Nam 11

1.2 Khái niệm công cụ được sử dụng trong đề tài 14

1.3 Các trò chơi đóng vai ở trường mầm non 16

1.4 Đặc điểm tâm lý của trẻ ADHD lứa tuổi mầm non 21

1.4.1 Đặc điểm cảm giác, tri giác 21

1.4.2 Đặc điểm chú ý 22

1.4.3 Đặc điểm trí nhớ 23

1.4.4 Đặc điểm tư duy 23

1.4.5 Đặc điểm ngôn ngữ 24

1.4.6 Đặc điểm phát triển tình cảm 24

1.5 Những khó khăn của trẻ ADHD trong hoạt động ở trường mầm non 26 1.5.1 Những khó khăn về hành vi 26

1.5.2 Khó khăn về sự tập trung 29

1.5.3 Khó khăn về mối quan hệ 29

1.6 Kỹ năng rèn luyện sự tập trung cho trẻ tăng động giảm chú ý 30

Trang 5

QUA VIỆC TỔ CHỨC TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ 33

2.1 Tổ chức nghiên cứu 33

2.1.1 Nội dung khảo sát 33

2.1.2 Địa bàn, thời gian, đối tượng khảo sát 33

2.2 Thực trạng về rèn kỹ năng tập trung cho trẻ ADHD trong trường mầm non 36

2.2.1 Biểu hiện về hành vi của học sinh mầm non bị ADHD 36

2.2.2 Thực trạng rèn kỹ năng tập trung cho trẻ ADHD 42

2.2.3 Những khó khăn của giáo viên trong việc rèn kỹ năng tập trung cho trẻ ADHD 42

2.3 Đánh giá chung về thực trạng 54

2.3.1 Thành công 54

2.3.2 Hạn chế 55

2.3.3 Nguyên nhân 55

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QỦA RÈN KỸ NĂNG TẬP TRUNG CHO TRẺ TĂNG ĐỘNG GIẢM CHÖ Ý TRONG TRƯỜNG MẦM NON THÔNG QUA VIỆC TỔ CHỨC TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ 59

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 59

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 59

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 59

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 59

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 60

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 61

Trang 6

3.2.1 Nâng cao nhận thức của Giáo viên mầm non và phụ huynh về

rèn kỹ năng tập trung cho trẻ ADHD 62

3.2.2 Tăng cường bồi dưỡng cho giáo viên mầm non kĩ năng lựa chọn và sử dụng đa dạng các trò chơi đóng vai theo chủ đề trong việc rèn kỹ năng tập trung cho trẻ ADHD 64

3.3 Huy động sự giúp đỡ của nhóm trẻ trong quá trình tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề nhằm rèn kỹ năng tập trung cho trẻ ADHD 69

3.3.1 Mục tiêu 69

3.3.2 Nội dung 69

3.3.3 Cách thức tiến hành 70

3.3.4 Điều kiện cần đảm bảo để thực hiện biện pháp 70

3.4 Tăng cường phối hợp với phụ huynh trong việc rèn kỹ năng tập trung cho trẻ ADHD thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề 71

3.4.1 Mục tiêu 71

3.4.2 Cách tiến hành 72

3.4.3 Điều kiện cần đảm bảo để thực hiện biện pháp 73

3.4.4 Đảm bảo các điều kiện cần thiết để rèn kỹ năng tập trungcho trẻ ADHD thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề 73

3.4.5 Mục tiêu 73

3.4.6 Nội dung 74

3.5 Thăm dò sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 76

3.5.1 Mục đích 76

3.5.2 Thời gian - Đối tượng thăm dò - Nội dung thăm dò 76

3.5.3 Quy trình 76

3.5.4 Kết quả 77

Trang 7

3.7 Nội dung rèn kỹ năng tập trung 80

3.8 Đối tƣợng Rèn kỹ năng tập trung 80

3.9 Tiến hành thử nghiệm 82

3.9.1 Đánh giá trước thử nghiệm 82

3.9.2 Mô tả tiến trình thử nghiệm 82

3.10 Đánh giá kết quả rèn kỹ năng tập trung cho trẻ ADHD 83

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 93

Trang 8

- ADHD - Attention dificit hyperactivity disorder

- TCĐVTCĐ - Trò chơi đóng vai theo chủ đề

Trang 9

Bảng 2.1 Thống kê các giáo viên được khảo sát 34

Bảng 2.2: Đánh giá của Giáo viên về mức độ biểu hiện hành vi của trẻ ADHD 39

Bảng 2.3 Các thể của ADHD 42

Bảng 2.4 Khó khăn của GV trong việc rèn kỹ năng tập trung cho trẻ ADHD 43

Bảng 2.5 Đánh giá của GV về tầm quan trọng của trò chơi ĐVTCĐ 44

Bảng 2.6 Nhận thức của giáo viên về vai trò của trò chơi ĐVTCĐ 45

Bảng 2.7 Nhận thức của GV về ảnh hưởng của trò chơi ĐVTCĐ 46

Bảng 2.8 Đánh giá của giáo viên về sự cần thiết rèn luyện kỹ năng tập trung cho trẻ ADHD 48

Bảng 2.9 Đánh giá của giáo viên về mức độ sử dụng các loại trò chơi đóng vai theo chủ đề trong việc giáo dục hành vi cho trẻ ADHD 49

Bảng 2.10 Hình thức tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề cho trẻ ADHD 50

Bảng 2.11 Thời gian tổ chức các trò chơi đóng vai theo chủ đề cho trẻ ADHD 51

Bảng 3.1 Thăm dò tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 77

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Rối loạn tăng động giảm chú ý (Attention dificit hyperactivity disorder- ADHD) là một rối loạn đã được biết đến cách đây hơn 100 năm, đặc trưng bởi

sự kết hợp của một hành vi hoạt động quá mức, thiếu kiềm chế với giảm chú

ý rõ rệt và thiếu kiên trì trong mọi công việc.[34]

ADHD bắt đầu sớm trong quá trình phát triển, thường từ 3 đến 6 tuổi (tuổi mẫu giáo), con trai gặp nhiều hơn con gái tỷ lệ là mắc rối nhiễu ở con trai so với con gái (4,5/1) Các nét đặc trưng của rối nhiễu là thiếu sự kiên trì trong các hoạt động đòi hỏi phải có sự tham gia của nhận thức, trẻ luôn có khuynh hướng chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác, nhưng không hoàn thành hoạt động nào cả, kết hợp với một sự hoạt động quá mức, thiếu tổ chức và kém điều tiết Những trẻ này thường dại dột, xung động, dễ bị tai nạn và bản thân trẻ thường vi phạm kỷ luật do không tôn trọng các quy tắc (vì thiếu suy nghĩ hơn

là cố tình chống đối) Các quan hệ của trẻ đối với người lớn là thiếu kiềm chế, thiếu thận trọng và dè dặt, trẻ không được các trẻ khác thừa nhận và có thể trở nên bị cô lập Cũng thường gặp các tật chứng về nhận thức và các trạng thái chậm phát triển đặc hiệu về vận động và ngôn ngữ đi kèm

Tăng động giảm chú ý là một dạng bệnh trong nhóm rối loạn phát triển xâm nhập ảnh hưởng đến nhiều mặt của sự phát triển của trẻ đặc biệt là về kĩ năng giao tiếp Điều này gây trở ngại rất lớn trong việc kết bạn, quan hệ xã hội, tham gia các hoạt động vui chơi, học tập của trẻ dẫn đến trẻ cảm thấy lạc lõng, chán học và thậm chí không muốn đến trường,…

Hiện nay, rối loạn tăng động giảm chú ý đã không còn xa lạ với nhiều người, nhưng nhận thức của mọi người về dạng rối loạn này cũng chưa rõ ràng Chính vì vậy, khi đến trường, trẻ ADHD nghịch ngợm, phá phách thái quá sẽ bị cho là “học sinh cá biệt”, thường xuyên bị phê bình và phạt lỗi

Trang 11

Những biểu hiện của các em hoàn toàn không phải do các em muốn làm hoặc cố ý làm mà do một rối loạn bên trong khiến các em không thể làm chủ được hành vi của bản thân

Vì vậy, trẻ ADHD luôn rất cần sự cảm thông, giúp đỡ của giáo viên - người gần gũi nhất với trẻ khi ở trường Nếu nhận được sự hỗ trợ, quan tâm sâu sát của giáo viên trẻ có thể vượt qua được những khó khăn để tiếp tục học tập

Trong điều kiện của Việt Nam, hiện nay các trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý, đặc biệt là các trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý ở mức độ trung bình

và nặng khó có thể theo học ở các trường học bình thường Tại các trường học chuyên biệt, giáo viên sẽ lập chương trình riêng cho mỗi trẻ, xác định nhu cầu của mỗi trẻ và phối hợp với gia đình để cùng giúp trẻ học tập và phát triển

Nhưng không phải nơi nào cũng có điều kiện để trẻ được học tại các trường chuyên biệt, một số trẻ phải đến trường bình thường như bao trẻ khác

Do đó, việc giáo dục hành vi cho trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý chưa được quan tâm

Trên thực tế, những trẻ mắc hội chứng rối loạn tăng động giảm chú ý ngày càng phổ biến, những hành vi do rối loạn tăng động giảm chú ý ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động thể chất và tinh thần Vì vậy, để giúp trẻ có thể tham gia các hoạt động và hòa nhập với xã hội một cách dễ dàng thì giáo viên phải thiết kế tổ chức các trò chơi đóng vai theo chủ đề để giáo dục hành

vi cho trẻ là điều cần thiết

Mặc dù, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về rối loạn tăng động giảm chú ý nhưng giáo dục rèn kỹ năng tập trung cho trẻ tăng động giảm chú

ý trong rường mầm non là một vấn đề cần được đặt ra, và làm thế nào để trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý có thể nhận thức được hành vi của mình Cha

mẹ, giáo viên, nhà trường và các ngành giáo dục cần phải làm gì và đâu là giải pháp tốt… Xuất phát từ những lí do trên người nghiên cứu chọn đề tài:

Trang 12

“Rèn kỹ năng tập trung cho trẻ tăng động giảm chú ý trong trường mầm non, thông qua việc tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề” Với hy

vọng có thể góp một phần nhỏ bé vào việc hỗ trợ giáo viên trong việc rèn trẻ tăng động giảm chú ý tại trường Mầm non Bồ Sao - huyện Vĩnh Tường - tỉnh

Vĩnh Phúc

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các biện pháp rèn kỹ năng tập trung cho trẻ tăng động giảm chú

ý trong trường mầm non, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục cho trẻ ADHD ở các trường mầm non hòa nhập

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Nghiên cứu lý luận:

 Tìm hiểu cơ sở lí luận của việc rèn kỹ năng tập trung cho trẻ tăng động giảm chú ý trong trường mầm non

+ Nghiên cứu thực tiễn:

 Thực trạng về biểu hiện tăng động giảm chú ý của trẻ tại trường mầm non

- Các biện pháp rèn kỹ năng của các trường mầm non đang thực hiện thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề

 Đề xuất biện pháp rèn kỹ năng tập trung cho trẻ tăng động giảm chú ý trong trường mầm non thông qua việc tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trẻ mắc hội chứng ADHD (lứa tuổi 2 - 5 tuổi) trong trường mầm non

Bồ sao

4.2 Khách thể nghiên cứu:

- 15 GV dạy trẻ ADHD trong trường

- 8 trẻ bị ADHD trong đó có nam là 5 nữ là 3

Trang 13

5 Giả thuyết khoa học:

Nếu các biện pháp rèn kỹ năng tập trung cho trẻ tăng động giảm chú ý trong trường mầm non thông qua việc tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề được sử dụng và phối hợp một cách hệ thống, thường xuyên và linh hoạt, phù hợp với các hoạt động ở trường mầm non thì sẽ góp phần rèn kỹ năng tập trung cho trẻ

6 Các phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận: Sử dụng các phương pháp phân

tích tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa, cụ thể hóa các tài liệu lý luận có liên

quan để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Tìm hiểu thực trạng công tác rèn

kỹ năng tập trung cho trẻ tăng động giảm chú ý trong trường mầm non thông qua việc tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề, tổ chức thăm dò tìm hiểu tính

cần thiết, khả thi và hiệu quả của các biện pháp được đề xuất bao gồm

a Phương pháp quan sát sư phạm: Phương pháp này sử dụng để tìm

hiểu thực trạng rèn kỹ năng tập trung cho trẻ tăng động giảm chú ý đồng thời

cũng là cơ sở để khẳng định, kiểm định các biện pháp

b Phương pháp điều tra: Đây là phương pháp chủ yếu của đề tài, chúng

tôi sử dụng điều tra bằng phiếu hỏi nhằm tìm hiểu nhận thức, kiến thức, thực trạng những thuận lợi khó khăn trong việc rèn kỹ năng tập trung cho trẻ tăng động giảm chú ý của Giáo viên

c Phương pháp phỏng vấn trò chuyện: Đây là phương pháp bổ trợ, qua

trao đổi cụ thể với cán bộ giáo viên phụ huynh học sinh về các vấn đề khảo sát, chúng tôi có thể thu thập được các thông tin liên quan

Trang 14

d Phương pháp nghiên cứu trường hợp: là phương pháp nghiên cứu

xem xét lại những thành quả của thưc tiễn trong quá khứ để rút ra những kết luận bổ ích cho thực tiễn và khoa học

e Phương pháp thực nghiệm khoa học: Phương pháp này được sử dụng

để đưa ra những phương pháp rèn kỹ năng tập trung cho trẻ tăng động giảm

chú ý trong trường mầm non những phương pháp mang tính khoa học

6.3 Phương pháp thống kê toán học: Phương pháp này sử dụng để xử lý

và tính phần trăm số liệu thu được, cũng như dùng để định giá tính cấp thiết

và mức độ khả thi của các biện pháp

Chương 2: Thực trạng “Rèn kỹ năng tập trung cho trẻ tăng động giảm chú ý trong trường mầm non, thông qua việc tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề”

Chương 3: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả “Rèn kỹ năng tập trung cho trẻ tăng động giảm chú ý trong trường mầm non, thông qua việc

tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề”

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan nghiên cứu về hội chứng tăng động giảm chú ý

1.1.1 Các nghiên cứu về trẻ tăng động giảm chú ý trên thế giới

Nghiên cứu của (Douglas - 1983, Cohalen - 1989) về rối loạn có thể

biểu hiện với sự tổn thương sinh học hay loạn chức năng hệ thần kinh trung ương Những biểu hiện của loạn chức năng theo giả thiết này là những khó khăn trong việc kiểm tra sự tự điều chỉnh, tổ chức quá trình thông tin, sự chú

ý, sự phản ứng xã hội và sự kiềm chế thích hợp

Nhiều nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ của rối loạn nhân cách chống xã hội, chứng nghiện rượu, lạm dụng ma tuý ở cha và rối loạn phân ly ở mẹ của trẻ ADHD không liên quan trong việc phân biệt những trẻ có và không kèm theo các vi phạm về đạo đức August và Steward ( 1983 ) thì cho rằng những rối loạn ở cha mẹ được kể ở trên đi kèm với ADHD chỉ khi hội chứng cùng xảy ra với những rối loạn khác Tuy vậy, cha của trẻ ADHD thường cũng có biểu hiện tương tự hoặc đã có trong thời thơ ấu Điều này gợi ý là có yếu tố di truyền Zametkin và Rapopoit thì cho rằng chức năng catecholamine và sự điều tiết của nó rất có khả năng liên quan đến nguyên nhân gây bệnh và điều trị ADHD Một số nghiên cứu lại phát hiện ở trẻ ADHD methylphenidate và dextroamphetamine gây ra việc tiết nhanh nhiều các hóc môn tăng trưởng Thomson và cộng sự (1989) đã phát hiện mức chì trong máu cao có khả năng gây các vấn đề về hành vi và nhận thức ở trẻ

Một số nghiên cứu gần đây sử dụng kỷ thuật chụp cắt lớp có đồng vị phóng xạ, đã chứng minh được những thay đổi về phát triển trong suốt thời thơ ấu và vị thành niên theo mật độ của thực thể dopamine, lượng máu não và

sử dụng glucose ở thùy trán

Nhiều nghiên cứu cũng đã quan tâm đến các yếu tố tâm lý xã hội Một số báo cáo chỉ ra sự liên quan giữa stress gia đình và địa vị kinh tế xã hội thấp với

Trang 16

tỷ lệ mắc ADHD Sự hiện diện của tình trạng dễ bị thương tổn sinh học cùng với sự gia tăng ly hôn, cha mẹ làm việc suốt ngày, cha mẹ và thầy cô giáo ít quan tâm chăm sóc có thể làm cho trẻ dễ bị rối loạn hơn trẻ bình thường

Tóm lại, sự dễ tổn thương sinh học và các yếu tố tâm lý xã hội, môi trường cùng tương tác để tạo ra nguyên nhân, tính phức tạp và hậu quả của rối loạn

Về điều trị, những nghiên cứu gần đây đã nói lên rằng liệu pháp hoá học

có hiệu quả hơn liệu pháp hành vi hay chăm sóc tại cộng đồng

Các nghiên cứu cũng chỉ ra những ảnh hưởng của kém tập trung như: gây khó khăn trong biểu hiện, ảnh hưởng đến những mối quan hệ, giảm sự nhận thức về giá trị bản thân Kém tự tin về khả năng đạt được thành công

trong cuộc sống như mong muốn, ngăn cản phát huy tiềm lực bản thân…[8] Rối loạn tăng động giảm chú ý (Attention deficit hyperactivity disorder-

ADHD) dùng để mô tả những trẻ có biểu hiện thường xuyên các triệu chứng kém chú ý, tăng hoạt động, xung động không phù hợp theo tuổi, những triệu chứng này đủ để gây ra suy kém các hoạt động chủ yếu trong đời sống hằng ngày (APA, 2000) [22]

Thuật ngữ tăng động giảm chú ý được quan tâm, chú ý và bình luận và trở thành đối tượng nghiên cứu của khoa học trong suốt thế kỷ qua Ở mỗi một thời kỳ nó được gọi bởi những cái tên khác nhau nhưng về bản chất của rối loạn này thì thay đổi rất ít, từ những mô tả đầu tiên của nhà văn Sir Alexander Crichton (1798) đến những tiêu chí của DSM - IV (1994)

Năm 1798, trong cuốn sách của Sir Alexander Crichton “Một cuộc điều tra về bản chất và nguồn gốc của tình trạng loạn thần” đã mô tả một “tinh thần bồn chồn” với những điều quan sát được “…trong căn bệnh của sự chú ý, mọi

ấn tượng dường như là những kích động và gây ra cho cho họ những mức độ bất ổn về tinh thần…”

Trang 17

Năm 1845, Tiến sĩ Heinrich Hoffman trong bài thơ "Câu chuyện của

Philip ngồi không yên - The Story of Fidgety Philip" mô tả về đứa con trai bé

của mình với những mô tả như: nghịch ngợm, bồn chồn, tăng động, thô lỗ và hoang dã Mặc dù mô tả của ông đã được viết hơn 150 năm trước đây, nhưng

nó vẫn là những dấu hiệu đặc trưng của rối loạn tăng động giảm chú ý

Mãi đến năm 1902, George F Still xuất bản một loạt bài giảng cho Hội y học Hoàng gia Anh, trong đó mô tả một nhóm các trẻ hiếu động với những dấu hiệu bất thường về hành vi - nguyên nhân do rối loạn chức năng di truyền chứ không phải do dạy dỗ kém Đó là những trẻ mà ngày nay chúng ta dễ dàng nhận ra chúng bị mặc bệnh rối loạn tăng động giảm tập trung chú ý Kể

từ đó, hàng nghìn tài liệu khoa học về ADHD đã được xuất bản, cung cấp thông tin về bản chất tự nhiên, tiến triển, nguyên nhân, các tật chứng và các phương pháp điều trị bệnh ADHD

Sau dịch viêm não năm 1917 - 1918, Hohman (1922), Strecker và Ebaugh (1923) nhận thấy có nhiều bệnh nhân có những di chứng về cảm xúc, những đảo lộn về nhân cách, có những khó khăn trong học tập nhất là hành vi tăng động Họ cho rằng có mối liên hệ giữa những tổn thiệt trong não và chứng tăng động

Smith (1926) đề nghị thay đổi thuật ngữ “tổn thiệt trong não” bằng thuật ngữ “tổn thương não tối thiểu”

Năm 1932, bác sĩ người Đức Franz Kramer và Hans Pollnow đã quan sát những trẻ có tăng động thường không có sự kiên trì, hay bừa bãi chạm vào hoặc di chuyển tất cả mọi thứ có sẵn mà không cần theo đuổi một mục tiêu nào cả; thường không thể hoàn thành nhiệm vụ hoặc không thể tập trung vào các nhiệm vụ khó khăn

Năm 1960, Chess mô tả cụ thể hội chứng tăng động ở trẻ em (hyperactive child syndrome) như là một hội chứng rối loạn hành vi với sự suy giảm khả năng chú ý và gia tăng hành vi đáng kể

Trang 18

Những năm 50 (thế kỉ XX), nhiều tác giả lại quan tâm đến những hành vi đặc trưng của tăng động và xung động, được gọi là rối loạn tăng động xung động Đến năm 1969, Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders (DSM - II) xuất hiện và tất cả các rối loạn thời thơ ấu được mô tả như là những phản ứng và hội chứng tăng động giảm chú ý ở trẻ em thành phản ứng tăng động thời thơ ấu

Cho đến những năm 70 (thế kỉ thứ XX), các tác giả lại đi đến nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề duy trì chú ý và kiểm soát xung động (Douglas, 1972) Những quan điểm của Douglas ảnh hưởng lớn đến nhiều nghiên cứu

về chú ý sau này, dẫn đến việc đổi tên gọi từ phản ứng tăng động thời thơ ấu trong DSM - II thành rối loạn suy giảm chú ý (ADD) trong DSM- II (APA, 1980) Trong DSM - II, ADD được chia làm hai thể: thể có tăng động và thể không tăng động

Một vài năm sau khi khái niệm ADD ra đời, các nghiên cứu lại cho thấy rằng tăng hoạt động và xung động là những đặc trưng rất quan trọng để phân biệt rối loạn này với rối loạn khác và để dự đoán sự phát triển sau này Năm

1987, rối loạn được đổi tên thành rối loạn tăng động giảm chú ý trong DSM -

II (APA, 1987)

Tiếp sau đó có rất nhiều các công trình nghiên cứu khác có liên quan đến rối loạn tăng động giảm chú ý như nghiên cứu về sự tự điều chỉnh kém, khó khăn trong việc ức chế hành vi trong rối loạn tăng động giảm chú ý của Barkley - 1997; Douglas - 1999; Nig - 2001 hay các nghiên cứu về sự tiến triển của rối loạn tăng động giảm chú ý ở trẻ của Barkley - 1990; R.G Klein,T.L Giampino, 1988 [20, 21]

Tóm lại, hội chứng tăng động giảm chú ý đã được biết đến từ rất lâu Nhưng nhìn chung hiện nay, các vấn đề xung quanh hội chứng rối loạn tăng động giảm chú ý đã được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu

và đã có những sự thống nhất nhất định

Trang 19

Trên thế giới, đã có một số nghiên cứu ứng dụng liệu pháp trò chơi như

là một công cụ chẩn đoán và trị liệu cho các đối tượng ADHD Đáng chú ý là những nghiên cứu của:

A Freud và M Klein (những năm 20 - 30) là những người đầu tiên sử dụng phương pháp này phân tích hình tượng trò chơi mà sau đó họ gọi là liệu pháp trò chơi (Play therapy), các tác giả này đã quan sát trẻ chơi sau đó phân tích nhằm tìm hiểu sâu hơn những xung đột của trẻ D Levy (1939) đã sử dụng trò chơi như là những điều kiện ban đầu để chẩn đoán và lập kế hoạch huấn thị [163, 6]

Erikson (1964), một trong những đại diện của phân tâm học hiện đại, người có nhiều đóng góp trong việc phát triển và ứng dụng liệu pháp trò chơi cho rằng thông qua việc sử dụng trò chơi - trò chơi có hướng dẫn hay trò chơi phân vai, các xung đột tâm lí bên trong được giải tỏa, các quá trình tâm lí được luyện tập và củng cố, nâng cao tính dung nạp stress Liệu pháp trò chơi tạo ra tâm trạng vui vẻ, nâng cao bản lĩnh tâm lí của trẻ Vì vậy, liệu pháp trò chơi được coi là phương tiện chữa trị tự nhiên, phù hợp với tâm lý lứa tuổi trẻ

em Thông qua trò chơi, hành vi của trẻ sẽ dần dần được điều chỉnh theo hướng tích cực [164,6]

Tiến sĩ Carol Brady, nhà tâm lý học trẻ em ở Houston trong quyển “Top

10 Educational Gamess for kids” cũng đã nêu ra nhiều trò chơi có thể dùng để trị liệu hành vi cho trẻ ADHD [23]

Tiến sĩ Patricia O Quinn, trong quyển “The Best of Brakes Activity Book” và “50 Activities and Games for Kids with ADHD” cũng đã đề cập đến rất nhiều trò chơi nhằm mục đích trị liệu hành vi cho trẻ ADHD, giúp các

em gia tăng sự thành công ở trường học, thiết lập được mối quan hệ tốt đẹp với mọi người xung quanh [29]

Tiến sĩ người Mĩ Robert Myers, một nhà tâm lý học trẻ em, người sáng lập chương trình Total Focus Programe, trong quyển “5 Simple Concentration

Trang 20

Building Techniques for Kids with ADHD”, đã đề cập đến một số trò chơi nhằm mục đích giáo dục hành vi cho trẻ ADHD đồng thời cũng nhằm giúp trẻ ADHD nâng cao khả năng tập trung chú ý [30]

Tóm lại, liệu pháp trò chơi rất có hiệu quả đối với HS đầu cấp tiểu học, khi sự phát triển nhân cách của các em diễn ra rất mạnh mẽ

1.1.2 Các nghiên cứu về trẻ tăng động giảm chú ý tại Việt Nam

Ở Việt nam, tình hình nghiên cứu về các rối loạn phát triển ở trẻ em nói chung, rối loạn tăng động giảm chú ý nói riêng chưa được các nhà khoa học quan tâm chú ý, các nghiên cứu về rối loạn tăng động giảm chú ý chủ yếu dừng lại ở mức thống kê, mô tả, đã có một số khóa luận tốt nghiệp, niên luận, tiểu luận hệ cử nhân hoặc cao học đã đề cập đến các phương diện như mô tả, thống kê, tìm hiểu nguyên nhân, nghiên cứu tỷ lệ học sinh mầm non mắc hội chứng rối loạn tăng động giảm chú ý Đáng chú ý là các nghiên cứu khoa học:

 Tìm hiểu ảnh hưởng của hội chứng tăng động giảm chú ý đối với học tập ở trẻ em của Đặng Hoàng Minh và T.S Hoàng Cẩm Tú (2001) [2]

 Bên cạnh những nghiên cứu về tình hình của trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý đã nêu ở trên thì cũng có một vài nghiên cứu về việc sử dụng trò chơi để giáo dục hành vi cho trẻ ADHD Đáng chú ý là các nghiên cứu sau:

 Những trò chơi thư giãn cho trẻ thoải mái và chú ý của Trần Văn Công (2006) [13]

 Bước đầu ứng dụng liệu pháp hành vi vào can thiệp cho trẻ tăng động giảm chú ý độ tuổi đầu tiểu học của Trần Văn Công ( 2006)[16]

Nghiên cứu vào năm 2000 Tại phòng Tham vấn tâm lý trẻ em - Bệnh viện tâm thần TW2, mặc dù mới triển khai khám và điều trị các rối nhiễu tâm

lý trẻ em trong vòng một năm nay, tỷ lệ trẻ mắc chứng tăng động giảm chú ý đến với phòng cũng chiếm 10 % trẻ đến khám và điều trị tâm lý

Tỷ lệ hiện mắc ADHD ở trẻ dao động từ 2-18% tùy thuộc vào tiêu chuẩn chẩn đoán và tùy theo nghiên cứu Tỷ lệ mắc ở trẻ lứa tuổi học đường vào

Trang 21

khoảng 8-10%, khiến ADHD trở thành một trong những rối loạn thường gặp nhất ở trẻ em

Tại Việt Nam, vẫn chưa có một khảo sát nào trên phạm vi toàn quốc Một số khảo sát tại các khu vực phía nam cho thấy khoảng 6,5% trẻ có biểu hiện ADHD Hay nói cách khác, cứ khoảng 20 trẻ lại có một trẻ bị ADHD Điều đặc biệt là chứng tăng động ở trẻ nam nhiều hơn trẻ nữ với tỷ lệ nữ / nam là 1/5-6 Tỷ lệ mắc ADHD gia tăng theo độ tuổi (6,6% ở độ tuổi 4-10 tuổi; 11,2% ở 11-14 tuổi; 13,6% ở 15-17 tuổi)

Tuy tỷ lệ trẻ bị bệnh ngày càng cao, nhưng trong nhiều cộng đồng xã hội người ta vẫn chưa biết đến, kể cả những cộng đồng có liên quan trực tiếp như ngành giáo dục và y tế Đối với họ, những đứa trẻ mắc chứng tăng động giảm chú ý không phải là những bệnh nhân mà đơn giản chỉ là những trẻ chưa được giáo dục tốt hay là kỷ luật chưa đúng mức Đây có thể xem là một bệnh thiểu năng của trẻ ở dạng tiềm ẩn Và nếu như những trẻ tăng động giảm chú ý không được quan tâm và có chiến lược điều trị đúng đắn , di chứng của nó để lại sẽ là một nhân cách chống đối xã hội như trộm cắp, đánh nhau, đua xe, phạm pháp và cả ma tuý, thuốc lắc…

Trẻ mắc ADHD thường có một số rối loạn tâm lý đi kèm, bao gồm rối loạn chống đối, rối loạn tư cách, trầm cảm, rối loạn lo âu, mất khả năng học

tập Các rối loạn đi kèm này có thể là nguyên phát hoặc thứ phát [9]

 Nhưng nhìn chung các nghiên cứu này chỉ dừng lại ở mức đề cập đến các trò chơi cho trẻ ADHD chứ chứ tập trung đi sâu vào việc sử dụng trò chơi như là một liệu pháp tâm lý trị liệu hành vi cho trẻ ADHD Và cho đến nay chúng ta chưa có một công trình lớn chính thức nào đề cập đến việc xây dựng một chương trình giáo dục hành vi cho trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý thông qua hoạt động vui chơi

Trang 22

 Biểu hiện của trẻ tăng động giảm chú ý:

 Trẻ ADHD không thể tập trung lâu vào bài học, không thể ngồi yên, hành động bộc phát thiếu suy nghĩ và hiếm khi hoàn thành được một việc gì

đó Nếu chịu khó quan sát, ta có thể nhận thấy trong nhiều lớp học luôn có một vài em không ngồi yên, không tập trung vào bài giảng, thậm chí la hét và

có thể chạy khỏi chỗ ngồi mà không xin phép giáo viên Đối với quan hệ bạn

bè, trẻ ADHD thường trêu chọc các bạn, xen vào cuộc chơi của các bạn nhưng không bạn nào chịu chơi cùng Kết quả là trẻ bị bạn bè tẩy chay, thầy

cô khó chịu và có ác cảm với các em

 Khi mắc ADHD trẻ hoạt động suốt ngày, chân, tay luôn cựa quậy, bạ

gì sờ nấy, tìm kiếm sự kích thích Những biểu hiện này làm trẻ thiếu tập trung trong lúc chơi, không thể chơi những trò chơi cần đến sự kiên nhẫn như: trò chơi xây dựng, xếp hình Từ đó, dẫn đến các rối loạn về hoạt động, trẻ hoạt động không có mục đích, rất nhạy cảm với những gì đang xảy ra từ môi trường như: tiếng động, màu sắc, ánh sáng… trẻ luôn tìm kiếm những kích thích mới lạ, rất thích trò chơi điện tử, xem hoạt hình, quảng cáo trên ti vi

Vì vậy, việc vui chơi, học tập đối với trẻ này là rất khó khăn và ít có kết quả, không thích nghi được với xã hội Kèm theo hiện tượng này là các rối loạn về ngôn ngữ, nhận thức, giấc ngủ hay hung tính, và trẻ thường tìm những khoái cảm như: mút tay, nghịch bẩn, đòi hỏi những thứ mà bố mẹ cấm…

 Trong quá trình vui chơi, học tập, trẻ không chịu nghe giảng, hay phá quấy, không chịu làm bài, la hét ầm ĩ trong khi cả lớp đang ngoan ngoãn nghe giảng Trẻ thường viết nguệch ngoạc, trêu chọc trẻ bên cạnh,… khiến thầy cô quát mắng và kết luận là kém học, lười học, thiếu tập trung Có đúng là trẻ có những biểu hiện như kết luận của cô giáo không? Không hẳn là như vậy, bởi

vì hầu hết các trẻ có biểu hiện như vậy là do trẻ mắc rối loạn tăng động giảm chú ý, những biểu hiện đó không phải là do trẻ cố ý, trẻ muốn làm như vậy

Trang 23

mà là do những rối loạn bên trong cơ thể, khiến trẻ không tự kiềm chế được, hoạt động nhiều, chạy nhảy, không ngồi yên một chỗ

1.2 Khái niệm công cụ được sử dụng trong đề tài

 Rối loạn tăng động giảm chú ý

Theo ICD - 10 (Phân loại bệnh tật quốc tế sửa đổi lần thứ 10 - the 10th revision of the International Statistical Classfication of Diseases), rối loạn

tăng động giảm chú ý thuộc mục F90 có đặc điểm là: dấu hiệu khởi phát sớm,

sự kết hợp của một hành vi hoạt động quá mức, kém kiểm tra với thiếu chú ý

rõ rệt và thiếu kiên trì trong công việc; và những đặc điểm hành vi lan tỏa

trong một số lớn hoàn cảnh và kéo dài với thời gian [21]

Theo DSM - IV (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, Fourth Edition) thì ADHD là một mẫu hành vi khó kiểm soát, biểu hiện dai dẳng sự kém tập trung chú ý và tăng cường hoạt động một cách thái quá, khác biệt hẳn với một mẫu hành vi của những trẻ bình thường khác cùng tuổi phát triển [22]

Nhiều bất thường khác có thể kết hợp với các rối loạn này Những trẻ em tăng động thường hay có hành động dại dột, thiếu kiểm soát và hay để xảy ra tai nạn Bản thân trẻ thường hay vi phạm kỷ luật do thiếu tôn trọng các quy tắc trong gia đình và trong trường học Sự vi phạm kỷ luật này thường là do trẻ chóng quên và hành động thiếu suy nghĩ hơn là cố tình chống đối Trong các mối quan hệ xã hội, trẻ thường hay thiếu kiềm chế, không thận trọng, thường hay làm phiền nên không được trẻ em khác thừa nhận và dễ bị cô lập Các tật chứng về nhận thức cũng thường gặp và các trạng thái chậm phát triển đặc hiệu về vận động và ngôn ngữ cũng gặp nhiều hơn một cách không cân xứng [258,15]

Các triệu chứng thứ phát bao gồm tác phong chống đối xã hội và tự ti

Do vậy, có sự gối lên nhau quan trọng giữa tăng động và các rối loạn hành vi

Trang 24

khác, như rối loạn hành vi ở những người không thích ứng xã hội Tuy nhiên, những bằng chứng hiện nay nghiêng về sự phân ra một nhóm rối loạn trong

đó tăng động là vấn đề trung tâm [259, 15]

Các tên gọi khác nhau của ADHD theo trình tự thời gian:

 1902: Bệnh thiếu kiểm soát về đạo đức (morbid defecfs of moral control)

 1926: Tổn thương não tối thiểu (lesion cerebrale a minima)

 1934: Thuật ngữ “cưỡng bức một cách có hệ thống” (organically driven, organic driveness)

 1947: Hội chứng tổn thương não tối thiểu (Minimal Brain Damage Syndrome)

 1957: Rối loạn tăng động xung động

 1962: Rối loạn chức năng não tối thiểu (Minimal Brain Dysfunction) (MBD)

 1968: Phản ứng tăng động ở trẻ nhỏ (hyperkinetic syndrome ofchilhood) (DSM - II)

 1980: Rối loạn giảm chú ý (ADD) trong DSM - III (APA)

 1987: Rối loạn tăng động giảm chú ý hay Rối loạn giảm chú ý không phân biệt (DSM - III - R)

 1994: Rối loạn Tăng động/Giảm chú ý (DSM - IV) Phân loại các thể ADHD tách tăng động và giảm chú ý thành: thể tăng động chiếm ưu thế, thể

giảm chú ý chiếm ưu thế và thể kết hợp cả tăng động và giảm chú ý

 Các dạng trẻ ADHD

Dạng giảm tập trung : (Attention Deficit Disordr - ADD) trẻ có vấn

đề trong tập trung ở lớp và thường đãng trí, đễ bị các tác nhân khác làm sao nhãng, trẻ có điểm đặc trưng là “mơ màng” làm việc cẩu thả, khó theo dõi trọn vẹn điều gì, thường khó khăn với việc hoạt động có tổ chức, hay đánh

Trang 25

mất đồ vật, hay lơ đãng, làm việc không hết khả năng, thẫn thờ hay quên, trẻ

ở dạng này có xu hướng hướng nội hơn là hướng ngoại Đầu óc của trẻ có thể quá linh hoạt, nhiều suy nghĩ cùng một lúc và thường có các kết quả mang tính sang tạo, trong khi cơ thể lại vận động chậm chạp Trẻ ở dạng này thường không đạt kết quả tốt trong học tập, chúng không hay phá phách như trẻ quá hiếu động - hấp tấp nên các giáo viên có thể quản lý tình trạng của trẻ này quá

dễ dàng

Dạng qúa hiếu động hấp tấp ( Hype ractivity Disorder - HD) bao

gồm những trẻ không thể ngồi yên, nói quá nhiều và khó có thể chơi đùa một cách yên lặng, trẻ ở dạng này hường gây nhiều khó khăn cho cha mẹ trong công việc dạy dỗ chúng, chúng thường có vấn đề về ngủ, đái dầm, bướng bỉnh, hay nổi cơn cáu giận hơn những trẻ trẻ dạng mất tập trung hoặc nững trẻ không bị rối loạn ADHD, chúng có xu hướng dễ gặp tai nạn, có thể bị thương hoặc bị ngộ độc tình cờ hơn những trẻ khác

Dạng liên kết - ADHD: là những trẻ có cả những đặc điểm của tình

trạng giảm tập trung lẫn quá hiếu động - hấp tấp, đôi khi chúng mất tập trung

và như “Đang ở một thế giứo khác” tuy vậy chúng có vấn đề với sự quá hiếu động hấp tấp

1.3 Các trò chơi đóng vai ở trường mầm non

Đặc điểm đặc trưng của trò chơi đóng vai theo chủ đề đó là khi chơi trẻ không bao giờ chỉ thực hiện các vai chơi của mình mà trẻ thường vừa chơi vừa giao lưu, vừa thể hiện tình cảm để mô phỏng lại những việc làm của người lớn Chính vì vậy trong mỗi chủ đề giáo viên thường giành thời gian trò chuyện với trẻ ở mọi lúc, mọi nơi như giờ đón trẻ, giờ trả trẻ, trò chuyện với trẻ về các tình huống trẻ biết nói lời cảm ơn, xin lỗi, chào hỏi lễ phép, biết chú ý lắng nghe, biết thể hiện sự quan tâm của mình với người khác… trẻ tỏ

ra hứng thú khi trò chuyện với cô, trẻ đã biết bày tỏ tình cảm của mình giành

Trang 26

cho những người thân, biết nựng em khi em khóc, biết nhường em phần hơn, trẻ bắt đầu hiểu được sự vất vả của bố mẹ khi lao động từ đó trẻ yêu quý bố

mẹ, biết tự mình phải ngoan, vâng lời, biết được khi bản thân mình không ngoan bố mẹ sẽ buồn…

Trò chơi đóng vai theo chủ đề giúp trẻ có ý thức về bản thân mình, biết

thể hiện tình cảm với những người thân trong gia đình qua trò chơi: “Gia đình”trẻ đóng vai các thanh viên trong gia đình mẹ - con; bố - mẹ; anh - chị -

em… Trẻ biết tự phân vai chơi và chơi thành một nhóm bạn mô phỏng lại một

số công việc hàng ngày của bố mẹ, công việc của anh chị và bản thân mình

Bố mẹ đưa con đi học, bố cho con ngủ, dỗ em, mẹ đi chợ… cứ như vậy trẻ say xưa nhập vai chơi của mình, chơi không toan tính, trẻ cảm thấy thỏa mãn khi được bắt chước các công việc của người lớn Qua các vai chơi của mình trẻ đã tích lũy vốn kinh nghiệm sống của bản thân, cứ như vậy trẻ dần hiểu được các mối quan hệ trong xã hội, cách xưng hô, tình cảm của mọi người

dành cho nhau ( Hình ảnh minh họa phần phụ lục )

Trẻ vừa chơi vừa được làm động tác giống mẹ hàng ngày đi chợ, biết khi

đi chợ phải mua những gì? Khi mua thì phải chọn mua những đồ gì? và giao lưu với bác bán hàng như thế nào… Khi thấy trẻ hứng thú với trò chơi này rồi giáo viên còn giả làm người hàng xóm trò chuyện vớ trẻ “Bác ơi hôm nay bác

đi chợ nào thế? Bác mua được những gì? Quả hôm nay có đắt không? Bác mua về làm gì? ” cứ như vậy giáo viên đã nhận thấy niềm vui từ trẻ, trẻ hào hứng, tích cực và hăng say với vai chơi của mình hơn

Trò chơi đóng vai theo chủ đề gây hứng thú và ngộ nghĩnh không chỉ bởi cách chơi mà trẻ thích những vai chơi xuất phát từ tình cảm của chính bản thân mình trẻ yêu bố mẹ, yêu cô giáo, em của mình, thích làm bác sĩ…Từ tình yêu đó trẻ mong muốn được thể hiện qua vai chơi của mình, vai chơi của trẻ

đã phần nào phản ánh được tâm tư tình cảm của trẻ, trẻ luôn lấy các mối quan

Trang 27

hệ trong gia đình, trong cuộc sống hàng ngày của người lớn làm thước đo cho

trò chơi ( Hình ảnh minh họa phần phụ lục )

Với trò chơi “Bác sĩ” trẻ lại có thêm những mối quan hệ, vai chơi phong phú hơn, bố đưa con đi khám bệnh, đến bệnh viện có cô y tá, bác sĩ khám…trẻ đã bắt đầu có ý thức về bản thân mình, khám bệnh cho bệnh nhân cẩn thận, trao đổi với bệnh nhân, trẻ đã biết nói lời cảm ơn, chào hỏi lễ phép, biết chú ý lắng nghe khi cần thiết

Khi tham gia các trò chơi đóng vai theo chủ đề trẻ đã bắt đầu ý thức về bản thân, biết quan tâm yêu mến những người thân trong gia đình, trẻ thể hiện tình cảm của mình qua các hành động chơi, trẻ nhận thấy được vị trí của mình trong gia đình, vai trò của mình trong gia đình, trẻ đã thể hiện tất cả các vai trò ý thức, trách nhiệm qua vai chơi mà mình lựa chọn, yêu thích Nếu một đứa trẻ ở độ tuổi 4 tuổi đôi khi vẫn còn nũng nịu, mong muốn được nựng, nhưng khi tham gia vào trò chơi đóng vai trẻ hoàn toàn tự chủ với bản thân mình, coi mình như một người lớn hơn và có thể làm cho người khác vui vì

mình ( Hình ảnh minh họa phần phụ lục )

Với mỗi trò chơi khác nhau trẻ có cách thể hiện tình cảm của mình phù hợp với hoàn cảnh chơi, thể hiện vai chơi của mình để toát lên được nội dung chơi Mỗi vai chơi được trẻ mô phỏng bắt chước các hoạt động hàng ngày của người lớn Qua các trò chơi trẻ đã tích lũy được những kinh nghiệm sống cho bản thân

A.X.Macarencô đã viết: “Trò chơi có một ý nghĩa rất quan trọng đối với trẻ Ý nghĩa này chẳng khác gì ý nghĩa của sự hoạt động, sự làm việc và sự phục vụ đối với người lớn Đứa trẻ thể hiện như thế nào trong trò chơi thì sau này trong phần lớn trường hợp nó cũng thể hiện như thế trong công việc Vì vậy một nhà hoạt động trong tương lai trước tiên phải được giáo dục trong trò chơi Toàn bộ lịch sử của mỗi con người là một nhà hoạt động hay một

Trang 28

cán bộ có thể quan niệm như là một quá trình phát triển của một trò chơi…”(2)

Mỗi gia đình là một tế bào của xã hội, cũng chính vì vậy các trò chơi

“Gia đình” luôn gần gũi và gắn liền với mỗi đứa trẻ, từ tình bạn bè, khi tham

gia chơi trẻ đã chuyển thành tình cảm mẹ - con… ( Hình ảnh minh họa phần phụ lục )

 Tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề ở các hoạt động giúp phát triển rèn kỹ năng cho trẻ

Trò chơi đóng vai theo chủ đề gắn liền với cuộc sống sinh hoạt của người lao động, trong mỗi gia đình, trong các nơi công cộng như: Trường học, bệnh viện…Qua mỗi trò chơi như gợi lại những hình ảnh thật của xã hội

thu nhỏ mà người ta thường gọi đó là “Xã hội trẻ em” Tuy nhiên không phải

đứa trẻ 4-5 tuổi nào cũng cảm nhận được những điều đó Trẻ phải nhờ sự hướng dẫn giảng giải của cô giáo để cho trẻ hiểu về trò chơi thấy được, cái hay, cái đẹp, cái thích thú khi được tham gia trò chơi Mỗi trò chơi có một cách chơi khác nhau, sự dí dỏm khác nhau Nhưng giáo viên phải làm thế nào cho trẻ ham mê, trẻ có thể diễn tả lại cách chơi, mô phỏng lại thao tác của trò chơi, đó chính là điều cô đã làm cho đứa trẻ nói lên và hiểu được tính chất

của trò chơi, nét đẹp của trò chơi ( Hình ảnh minh họa phần phụ lục )

Trẻ được cô hướng dẫn về kỹ năng bán hàng, cách trò chuyện với người mua hàng, cùng với những kinh nghiệm của bản thân trẻ tích lũy được trong cuộc sống hàng ngày trẻ đã dần thể hiện được thành công trong vai chơi của mình mô phỏng lại một hoạt động thường ngày diễn ra ở mọi nơi Khi trẻ tham gia trò chơi trẻ cảm nhận được sự cần thiết của mỗi công việc, sự cần thiết của mỗi con người đang hàng ngày hoạt động, từ những hiểu biết của bản thân và được sự hướng dẫn của cô trẻ đã thành công trong việc thể hiện vai chơi của mình tuy chưa phản ánh được chi tiết của đời sống thực của

Trang 29

người lớn nhưng phải khẳng định rằng trẻ đã có nhận thức về bản thân mình,

hành động chơi của mình trong trò chơi (Hình ảnh minh họa phần phụ lục)

Nều trò chơi đóng vai theo chủ đề chỉ đơn thuần là trẻ giao tiếp với nhau

để đạt được mục đích chơi thì khi trẻ đã đạt được mục đích trò chơi sẽ dần nhàm chán, nhưng khi trò chơi được liên kết vơi nhau và được mở rộng nội dung chơi trẻ sẽ hứng thú và say xưa hơn Chẳng hạn, khi trong trò chơi “Bán hàng” mục đích của người bán là bán được hàng và người mua là mua được những đồ mà mình thích thì trò chơi sẽ dần nhàm chán khi trẻ đã đạt được mục đích chơi của mình, nhưng khi có sự gợi ý của cô “Bác bán hàng xong sẽ làm gì?” “Bác đi chợ mua đồ về làm gì” Trẻ sẽ ý thức được thêm vai trò của mình, đi mua hàng về nhà để nấu ăn, để trang trí nhà…Cũng với trò chơi

“Bán hàng” ở những lần chơi sau cô giáo chỉ là người bao quát, trẻ là người nhắc lại cảnh chơi và tự tổ chức cho nhau chơi.Từ chỗ trẻ quá nhút nhát, thiếu

tự tin, chưa hiểu biết và diễn đạt ý muốn của mình thì khi thông qua trò đóng vai theo chủ đề trẻ đã ý thức được về bản thân mình, trẻ trao đổi và đưa ra ý kiến của mình, trẻ đã có biểu hiện về các mối quan hệ thông qua các trò chơi đóng vai theo chủ đề

Chẳng hạn với trò chơi “Cô giáo” lúc đầu trẻ chỉ biết phân một bạn làm

cô giáo và một nhóm bạn làm học sinh.(Hình ảnh minh họa phần phụ lục)

Trẻ mới chỉ dừng đến mức độ phân vai chơi chứ trẻ chưa hiểu và chơi được Khi được cô giới thiệu cách chơi, các mối quan hệ cần thiết trong khi chơi, cách xưng hô, cách bố trí tổ chức chơi, cô tổ chức cho một nhóm trẻ chơi thử, trẻ dần dần thấy hiểu và biết được mình đang đóng vai gì (Cô giáo, học sinh) Trẻ phải hiểu được cô giáo làm những công việc gì, nhiệm vụ của học sinh làm gì, cách xưng hô gọi tên giữa các bạn trong nhóm chơi Khi trò chơi diễn ra vai chơi “Cô giáo” đóng vai trò như một vai chơi chính biết đặt câu hỏi cho học sinh, biết bài dạy hôm nay của mình sẽ dạy gì? (Múa, hát, đọc chữ…)

Trang 30

Trò chơi đóng vai theo chủ đề giúp giáo dục trẻ về mọi mặt: vì chơi là hoạt động có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tâm tư, tình cảm, đạo đức của trẻ.Thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ biết đối xử nhẹ nhàng, yêu thương, che chở các em nhỏ hơn, lo lắng cho người thân khi người thân bị ốm đau biết chăm sóc, biết cảm thông, chia sẻ, quan tâm, thật thà, dũng cảm, lòng nhân ái,…

Trò chơi đóng vai theo chủ đề còn giúp giáo dục và phát triển thể chất: trò chơi mang lại niềm vui cho trẻ giúp phát triển thể lực và tinh thần khỏe mạnh, sảng khoái, giúp đẩy mạnh trao đổi chất, tăng cường hô hấp và tuần hoàn máu, giúp trẻ phát triển hoàn thiện các vận động cơ bản dưới sự hướng dẫn của cô giáo

Giáo dục và phát triển thẩm mỹ: thông qua các trò chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ cảm nhận được cái đẹp ở màu sắc, hình dạng, kích thước của đồ chơi, cảm nhận được cái đẹp trong hành vi, cách ứng xử, lời nói khi trẻ thực hiện vai chơi

Giáo dục và phát triển lao động: trong quá trình chơi, dưới sự hướng dẫn của cô, trẻ hình thành được một số kỹ năng sử dụng đồ dùng, đồ chơi và hình thành các phẩm chất đạo đức của người lao động trong tương lai như tính mục đích, sánh tạo, kiên trì, yêu lao động

Trong quá trình chơi trẻ học hỏi được cách ứng xử giao tiếp, thấu cảm được tình người của con người với con người, con người với thiên nhiên và với thế giới đồ vật,… góp phần hình thành hành vi kĩ năng xã hội cho trẻ

1.4 Đặc điểm tâm lý của trẻ ADHD lứa tuổi mầm non

1.4.1 Đặc điểm cảm giác, tri giác

 Các cơ quan cảm giác: Trẻ ADHD cũng có những đặc điểm chung của lứa tuổi Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác đều phát triển

và đang trong quá trình hoàn thiện Cảm xúc của các em này thường xuyên

Trang 31

thích hợp và có thể hoan hỉ, nhưng không phải khoái cảm Khí sắc thường xuyên bình thường, ngoại trừ những giai đoạn ít được tôn trọng và tăng khí sắc (loạn khí sắc) Nói như thế không có nghĩa là khí sắc và cảm xúc bị ảnh hưởng chủ yếu bởi ADHD [1]

 Tri giác: Tri giác của học sinh mầm non nói chung và trẻ ADHD nói riêng mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và mang tính không ổn định, do

đó trẻ phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm và có khi còn lẫn lộn

Ở các lớp mẫu giáo, tri giác của trẻ em thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn của trẻ Đến cuối tuổi mẫu giáo, tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn Tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng gọi là tri giác có chủ định (trẻ biết đến lớp chào cô, biết làm việc khi cô giáo yêu cầu …) [1]

1.4.2 Đặc điểm chú ý

Chú ý có chủ định của học sinh mầm non còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý một cách có ý chí chưa mạnh Ở giai đoạn này, chú ý không chủ định chiếm ưu thế Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn, có nhiều tranh ảnh, trò chơi hoặc cô giáo xinh đẹp, dịu dàng,… Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập [5]

Ở trên, chúng ta đề cập đến đối tượng trẻ bình thường, riêng trẻ ADHD thường có những đặc điểm đặc thù sau đây: [9]

 Không chú ý lắng nghe người khác nói, không tuân theo hướng dẫn

 Thường không chú ý đến các chi tiết một cách cẩn thận, hay gặp sai sót trong học tập ở trường, trong công việc và trong các hoạt động khác

 Hay có khó khăn trong việc duy trì chú ý trong công việc cũng như trò chơi và thường thất bại trong các nhiệm vụ đòi hỏi phải tập trung chú ý

Trang 32

 Thường né tránh hoặc miễn cưỡng, không thích làm những công việc đòi hỏi phải cố gắng về tâm trí

 Hay làm mất các đồ dùng cần thiết cho hoạt động học tập, vui chơi

 Thường sao nhãng, đãng trí, dễ bị cuốn hút vào những kích thích bên ngoài

 Thường xuyên cần sự định hướng lại của người lớn

1.4.3 Đặc điểm trí nhớ

Do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất ở trẻ lứa tuổi này tương đối chiếm ưu thế nên trí nhớ trực quan - hình tượng được phát triển hơn trí nhớ từ ngữ - logic [4]

Ở trẻ ADHD thường sao nhãng, đãng trí, dễ bị cuốn hút vào những kích thích bên ngoài, hay quên trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày Việc trẻ hay bỏ quên đồ chơi ở đâu đó khi ở nhà là việc bình thường Điều này lý giải

là do thần kinh trung ương kiểm soát trí nhớ tạm thời có vấn đề [5]

1.4.4 Đặc điểm tư duy

Tư duy của trẻ ở tuổi này vẫn còn bị cái tổng thể chi phối Tư duy phân tích bắt đầu hình thành nhưng còn yếu nên các biểu tượng được hình thành ở trẻ chưa thật chính xác và vững chắc, trẻ có thể bị nhầm lẫn, sai sót trong khi lĩnh hội các bài học cụ thể

Theo Barkley (1997), trẻ bị ADHD mất khả năng ức chế những đáp ứng không phù hợp với môi trường Do vậy, chúng kém duy trì được những hành

vi hướng mục đích Chúng nhanh nhau trả lời ngay mà không cần suy nghĩ hoặc nghe hết câu hỏi Chúng cũng rất khó duy trì được quá trình thực hiện bài tập để có thể được thưởng hoặc để hài lòng với bài tập đã được hoàn thành Đối với chúng, công việc ở trường cũng như một số yêu cầu nào đó là những việc tẻ nhạt, khó chịu Hệ quả là chúng sẽ không biết tổ chức công việc, không thích tham gia vào các công việc đòi hỏi phải nỗ lực trí tuệ Như

Trang 33

vậy đồng nghĩa với việc trẻ có ADHD rất khó khăn khi giải quyết những vấn

đề trừu tượng, rất khó giải thích hay mô tả sự vật

1.4.5 Đặc điểm ngôn ngữ

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ Nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ

Theo Barkley (1997), khi lớn lên, trẻ thường dùng đối thoại bên trong làm phương tiện tự kiểm soát Ngôn ngữ nội tâm hóa được phát triển vào độ tuổi 3 - 4, đây là thời điểm mà trẻ ADHD thường được xác định đầu tiên Điều này cũng không phải là ngẫu nhiên: Barkley cho rằng trẻ ADHD có những vấn đề về tổ chức ngôn ngữ bên trong và điều này góp phần vào rối loạn tổ chức đáp ứng đối với những sự kiện bên ngoài Barkley cũng lưu ý rằng trẻ có ADHD có vẻ như là người “thích tán gẫu”, tuy nhiên câu chuyện của chúng thường gắn liền với hiện tại hơn là tương lai: những ý nghĩ không dẫn dắt đến lập kế hoạch dự định tương lai Lời nói có tốc độ bình thường nhưng có thể to hơn do xung động bên trong Quá trình suy nghĩ được định hướng nhưng có thể gặp khó khăn với một chủ đề hay nhiệm vụ Điều này dẫn đến việc thiếu khả năng nói, ngôn ngữ và giao tiếp sẽ hạn chế [25]

1.4.6 Đặc điểm phát triển tình cảm

Tình cảm là một mặt rất quan trọng trong đời sống tâm lý nói chung và nhân cách nói riêng Đối với trẻ mầm non tình cảm có vị trí đặc biệt vì nó là khâu trọng yếu gắn liền nhận thức với hoạt động của trẻ em

Tình cảm, cảm xúc của trẻ mầm non mang tính cụ thể trực tiếp, thường gắn liền với các sự vật hiện tượng cụ thể, sinh động Các em rất dễ xúc cảm, xúc động và khó kìm hãm cảm xúc của mình Vì thế có thể nói tình cảm của

Trang 34

trẻ mầm non còn mỏng manh, chưa bền vững, chưa sâu sắc Từ những đặc điểm này, trong quá trình giáo dục và dạy học, chúng ta cần khơi dậy những cảm xúc tự nhiên của trẻ mầm non, đồng thời khéo léo, tế nhị rèn luyện cho trẻ khả năng tự làm chủ tình cảm của mình, không được đè nèn hoặc có những lời nói, việc làm gây xúc động mạnh (lo sợ, buồn bực, uất ức) hoặc hưng phấn

Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm cho trẻ mầm non luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu: trẻ mầm non có thể xuất hiện các năng khiếu như thơ ca, kể chuyện, hát múa khi đó cần phát hiện và bồi dưỡng kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả mà không làm thui chột năng khiếu của trẻ [5] 22

Sự rối loạn trong quá trình phát triển tâm lý ở trẻ em ADHD đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển tình cảm và cảm xúc của trẻ Một trong những biểu hiện đặc trưng đó là ở trẻ xuất hiện nhiều loại phản ứng mang tính xúc cảm khác nhau: tự vệ - công kích, tự vệ - thụ động Trẻ ADHD thường tự đánh giá cao mình, có tính ích kỷ, thiếu tính yêu lao động, không có khả năng đồng cảm và tự hạn chế, có xu hướng cảm xúc mạnh

Trẻ ADHD thường không có khái niệm về bản thân, về những người xung quanh, trẻ không biết thiết lập mối quan hệ và bày tỏ thái độ tích cực của mình với người khác, không biết thể hiện tình cảm của mình đối với những gì mà chúng yêu thích hoặc không thích, thậm chí có trẻ còn có những hành vi bất thường đối với những món đồ chơi như: bẻ chân tay của búp bê, móc mắt, cắt tóc, đập vỡ ô tô, xé sách,…

Chúng có thể gặp khó khăn khi kết bạn với những trẻ khác trong lớp và

có thể gặp khó khăn khi suy nghĩ về những kết quả (hậu quả) về mặt xã hội cho những hành động của chúng Trẻ cũng rất khó khăn trong việc hợp tác với người lớn như bố mẹ, anh chị, thầy cô giáo trong sinh hoạt hằng ngày

Trang 35

Tất cả những điều trên cho chúng ta thấy rằng ở trẻ ADHD sự rối loạn hành vi và cảm xúc cũng biểu hiện rất rõ [9]

1.5 Những khó khăn của trẻ ADHD trong hoạt động ở trường mầm non

1.5.1 Những khó khăn về hành vi

Trẻ ADHD dường như có khó khăn đặc biệt trong việc kiểm soát những hành vi của chúng trong các tình huống đòi hỏi sự tập trung chú ý, sự im lặng, ngồi yên một chỗ như trong lớp học hoặc trong các tình huống đòi hỏi tốc độ

xử lí thông tin Những trẻ này thường được coi là thùy trán bên phải có vấn

đề Trẻ ADHD dường như không có khả năng ngừng vận động hoặc ngừng nói Rất nhiều trẻ tăng động có khó khăn đặc biệt trong việc hòa nhập với các bạn cùng trang lứa, khó khăn trong việc thiết lập tình bạn, có thể vì hành vi của chúng thường có tính gây hấn, hoặc kém tế nhị, gây sự khó chịu ở trẻ khác và người lớn Mặc dù chúng là những đứa trẻ cởi mở, tốt bụng, nhưng chúng thường không nhạy cảm, tỏ ra kém tế nhị trong các tình huống giao tiếp, hoạt động cùng nhau Chẳng hạn, chúng không để ý đến các bạn cùng

hoạt động đang mệt mỏi thế nào đối với những hành động thái quá của chúng

Chúng cũng thường xuyên hiểu sai những mong muốn hoặc ý định của các bạn cùng tuổi do vậy hay tạo nên những lỗi lầm không chủ định trong các quan hệ xã hội Nhiều trẻ ADHD có thể biết một hoạt động xã hội đúng

là gì trong các tình huống giả định nhưng không có khả năng chuyển những hiểu biết này thành hành vi phù hợp trong các hoạt động sinh hoạt trong đời sống thực

Phần lớn trẻ mắc ADHD có khó khăn về học tập R.Delong (1995) đã nghiên cứu trẻ rối loạn ADHD 6 - 9 tuổi tại Pháp, theo ông khoảng 41 - 80%

số trẻ này có rối loạn học tập Một nghiên cứu khác của M Touzin và cộng sự (1997) trên 350 trẻ em của bệnh viện Robert Debre tại Pháp, kết quả trẻ ADHD có khó khăn về viết (29%), khó đọc (26,6%), rối loạn ngôn ngữ biểu đạt (18%)

Trang 36

Một nghiên cứu khác của Dupaul và Mc Murray (1990), Barkley (2003), có 20 - 25% trẻ mắc ADHD có vấn đề với các môn Toán/Tập đọc/Chính tả, khó khăn trong điều hợp vận động tinh và vận động thô, ngôn ngữ diễn đạt kém lưu loát, yếu khả năng hoạch định và tổ chức Nghiên cứu của Brown, học viện sức khỏe tâm thần Hoa Kì (1999) cho thấy gần một phần

ba số trẻ ADHD có kèm với chứng khó học, hoặc rối loạn đọc (August và Garfinkel, 1990)

 Nguyên nhân

Việc tìm kiếm nguyên nhân của ADHD khá phức tạp bởi tính không thuần nhất của những trẻ đã được chuẩn đoán ADHD Các bằng chứng cho thấy một nguyên nhân duy nhất không thể giải thích được cho rối loạn này Yếu tố di truyền (gene): Trong một nghiên cứu trên 238 cặp song sinh, Goodman và Stevenson (1989) đã tìm ra sự phù hợp cho chẩn đoán lâm sàng tăng động ở 51% các cặp sinh đôi cùng trứng và 33% các cặp sinh đôi khác trứng

Người ta vẫn chưa biết chính xác cái gì được di truyền, nhưng những nghiên cứu gần đây đã nêu lên một số khác biệt trong chức năng não Trao đổi chất ở não thấp hơn mức bình thường ở nữ có ADHD, nhưng không phải ở nam (Ernst và cộng sự, 1994), mặc dù điều này có thể là do tình trạng rối loạn nặng nề hơn ở những phụ nữ đã được nghiên cứu (những người tham gia thuộc một tổ chức ADHD) Trong một nghiên cứu quan trọng trong 10 năm của Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia, Catellanos và cộng sự (1996) đã so sánh những lớp chụp cộng hưởng từ MRI ở nam giới bình thường và bị ADHD và đã phát hiện ra thùy trán nhỏ hơn ở những trẻ mắc rối loạn Bằng chứng từ những nghiên cứu khác đã chỉ ra hoạt động kém hơn của trẻ ADD ở những trắc nghiệm tâm lý - thần kinh về chức năng của thùy trán (như việc kiềm chế những đáp ứng hành vi) đã ủng hộ ý kiến cho rằng một sự suy yếu

Trang 37

đáng kể ở phần này của bộ não có thể liên quan đến rối loạn (Barkley, 1997; Chelune và cộng sự, 1986; Heilman, Voeller, & Nadeau, 1991) [411, 24]

 Các độc tố từ môi trường: Các lý thuyết phổ biến của ADHD qua nhiều năm đã chú ý tới vai trò của các độc tố từ môi trường trong sự tiến triển của tăng động Hút thuốc lá trong suốt thời kỳ mang thai được cho là có liên quan đến tăng nguy cơ có ADHD cho trẻ Nicôtin, đặc biệt là việc hút thuốc ở người mẹ, là một độc tố từ môi trường có thể đóng vai trò trong tiến triển ADHD Milberger và cộng sự (1996) mới báo cáo rằng 22% người mẹ của những trẻ có ADHD hút trên một bao thuốc mỗi ngày trong suốt quá trình mang thai, so với nhóm đối chứng chỉ có 8% Hơn nữa, những nghiên cứu trên động vật đã chỉ ra rằng nicôtin làm tăng giải phóng dopamin và gây ra tăng động (Fung và Lau, 1989; John và cộng sự, 1982) Dựa trên nền tảng của những số liệu này, Milberger và những người cộng tác giả thuyết rằng hút thuốc ở người mẹ có thể ảnh hưởng đến hệ thống tiết dopamin của bào thai đang phát triển, làm mất phản xạ có điều kiện hành vi và ADHD [411, 24]

 Beiser, R.Dion, A.Gotowiec (2000) phân tích các số liệu trên 1555 trẻ

là dân bản xứ và 489 trẻ nhập cư ở Bắc Mĩ, Greenfield (2003), các tác giả cho thấy yếu tố văn hóa như ngôn ngữ, giá trị, niềm tin, truyền thống, tập quán và tín ngưỡng của cộng đồng có ảnh hưởng đến việc sàng lọc, phát hiện, đánh giá, trị liệu và giáo dục trẻ có rối loạn ADHD

 Bruno Bettelheim cho rằng, ở một số trẻ quá nhạy cảm, lại đi kèm với cách giáo dục độc đoán của bố mẹ, đặc biệt người mẹ kém kiên trì, dễ bực bội, hay cáu bẳn khi yêu cầu đứa trẻ phải vâng lời Nếu đứa trẻ lại không vâng lời, thì quan hệ mẹ - con sớm trở nên xung đột và trẻ càng có biểu hiện tăng động

 Theo Ross hành vi tăng động có thể được mô hình hóa từ hành vi của

bố mẹ hay anh chị em ruột Mối quan hệ bố mẹ - con cái là mối quan hệ hai

Trang 38

chiều Chỉ cần bố mẹ của những trẻ ADHD ra nhiều mệnh lệnh và có những tương tác tiêu cực với trẻ thì chúng sẽ biểu hiện ít phục tùng mệnh lệnh hơn

và có những tương tác tiêu cực hơn với bố mẹ

1.5.2 Khó khăn về sự tập trung

Tất cả mọi giáo viên đều cho rằng họ gặp khó khăn trong việc rèn kỹ năng tập trung cho trẻ ADHD, vì trẻ ADHD rất ít vâng lời, hay chống đối, không làm theo sự hướng dẫn của giáo viên, ngoài ra giáo viên còn gặp khó khăn trong việc tìm những trò chơi, bài dạy cho phù hợp với trẻ ADHD, sự hợp tác của các trẻ trong lớp là chưa cao nên giáo viên khó khăn trong công tác huy động sự giúp đỡ của các trẻ với nhau, giáo viên rất cần sự đồng cảm của phụ huynh (vì phụ huynh nghĩ là đã giao cho cô giáo thì giáo viên phải

biết cách dạy, phải biết cách giải quyết)

1.5.3 Khó khăn về mối quan hệ

Những đứa trẻ mắc chứng ADHD thường gặp rắc rối trong quan hệ với anh chị em trong gia đình và với cả những trẻ khác ở trường, hàng xóm, hay ở những nơi sinh hoạt công cộng Những trẻ có vấn đề về khả năng tập trung chú ý thường đi liền với việc gặp khó khăn trong học tập Sự thôi thúc, hấp tấp không cưỡng lại được (một đặc trưng của chứng ADHD) có thể làm chúng gặp những rắc rối, hay nguy hiểm cho bản thân, bởi những đứa trẻ mắc chứng ADHD gặp khó khăn trong việc kiểm soát hành vi bản thân Chúng thường bị cho là “những đứa trẻ hư” hay “những đứa trẻ xấu”

ADHD không chỉ là hội chứng ảnh hưởng trực tiếp tới những trẻ mắc phải mà còn ảnh hưởng đến những người sống xung quanh chúng Nếu không chữa trị kịp thời ngay khi phát hiện ra hội chứng này thì những triệu chứng nghiêm trọng hơn sẽ phát triển và dẫn đến những vấn đề trầm trọng khác, ảnh hưởng tới cả cuộc đời của trẻ, như kết quả học tập yếu kém ở trường, gặp rắc rối với pháp luật, thất bại trong các mối quan hệ, tương tác xã hội và mất khả năng duy trì công việc

Trang 39

1.6 Kỹ năng rèn luyện sự tập trung cho trẻ tăng động giảm chú ý

Trẻ mắc ADHD thường gặp khó khăn trong cả hai chức năng đó là sự tập trung và sự chú ý, tuy nhiên có trẻ chỉ gặp trở ngại với một trong hai chức năng mà thôi

Trẻ ADHD có vấn đề trong chú ý thường hay bị chia trí nhớ/lơ đễnh khi làm việc các em thường để ý tới bất kỳ sự thay đổi nào diễn ra ở môi trường xung quanh và chúng sẽ phản ứng ngay cho dù đó chỉ là một tiếng động nhỏ trong lớp học Nói cách khác Trẻ ADHD dễ bị phân tán sự chú ý bởi các yếu

tố kích thích bên ngoài dẫn đến kết quả học tập chưa cao Ví dụ: trong giờ học

cá nhân hay trong hoạt động chung của cả lớp, trẻ sẽ mất đi sự chú ý vào nhiệm vụ mình đang thực hiện hoặc bỏ mất kiến thức khi giáo viên giảng bài

vì bất kỳ tiếng ồn, sự dịch chuyển, ánh sáng lóe lên hay do một màu sắc nào

đó làm trẻ hưng phấn Biểu hiện hành vi của những trẻ này là tính hiếu động Trẻ luôn bồn chồn, táy máy, không thể ngồi yên một chỗ, lơ đễnh và thường ngọ nguậy, hay đứng lên đi quậy phá các trẻ khác hoặc nghịch ngợm thứ gì đó

có màu sắc/biết chuyển động/phát ra âm thanh mà chúng quan tâm

Tóm lại đối với trẻ bị suy giảm khả năng tập trung khả năng chọn lọc thông tin của chúng chỉ đạt ở một mức độ nhất định nào đó, tuy nhiên những trẻ mắc hội chứng tăng động giảm tập trung cũng có thể duy trì sự tập trung vào bất kỳ một điều đáng chú ý nào đó mà chúng cho là quan trọng và chúng

có thể duy trì sự tập trung đó trong một khoảng thời gian nhất định Ví dụ có trẻ ADHD tên X thích chơi lắp ghép, trẻ có thể ngồi hàng giờ say sưa tháo lắp các khối để tạo ra một hoặc nhiều sản phẩm mới do sự sáng tạo của chúng Nhưng cũng là trẻ X đó khi tham gia các hoạt động khác mà nó không thích thì X khó duy trì sự tập trung trong khoảng 8 phút Tuy nhiên những điều mà chúng chọn và cho là cần phải chú ý thì rất ít và không dựa trên cơ sở nào cả

Do vậy khi gặp đúng những vấn đề thực sự quan trọng, cần thiết phải duy trì

Trang 40

sự chú ý, chúng cũng không thể tập trung được Và nếu trẻ càng phải đối phó với những vấn đề quan trọng như thế trẻ càng bộc lộ rõ sự suy giảm năng lực tập trung

Bởi vậy, nếu trong lớp/gia đình có trẻ ADHD người lớn cần làm gì để nâng cao khả năng tập trung chú ý cho trẻ

+ Một số kỹ năng rèn luyện sự tập trung cho trẻ tăng động giảm chú ý:

- Tạo môi trường không/có rất ít yếu tố gây cho trẻ phân tán sự chú ý: loại bỏ các tiếng ồn, tranh ảnh, bảng biểu và các thứ không cần thiết trong lớp/phòng cá nhân để trẻ không bị phân tán sự chú ý vào việc nghe và nhìn

- Loại bỏ các sách/vở/bút hay đồ dùng nào không cần dùng đến cho nhiệm vụ hiện tại của trẻ ở trên bàn học

- Cho trẻ ADHD một khoảng thời gian riêng biệt để hoàn thành công việc/nhiệm vụ được giao

- Thiết kế và tổ chức các hoạt động cho trẻ trong thời gian ngắn

- Cho trẻ đeo nút tai chống ồn để giảm đi các âm thanh từ bên ngoài gây phân tán sự chú ý của trẻ

- Dùng miếng bìa có khoét một ô dài hoặc một khung giấy để trẻ tập trung chú ý vào một chỗ, một hàng hay một đoạn, trên trang sách/truyện

- Dùng vải màu trẻ ADHD thích để trải bàn khi trẻ được giao thực hiện nhiệm vụ để giảm sự phân tán với việc nhìn do các yếu tố gây nhiễu khác gây ra

- Sắp xếp các hoạt động diễn ra trong giờ học cá nhân hay công việc trong ngày sao cho các hoạt động gia tăng kích thích hoặc hưng phấn sau cùng Vì những hoạt động này có thể làm tăng thêm thời gian tập trung chú ý

- Khi xếp/kê bàn học cho trẻ ADHD nên để trẻ ngồi quay mặt vào tường, lưng quay ra trẻ khác

- Nội dung trong các hoạt động khác nhau, hấp dẫn, lôi cuốn trẻ

- Khen thưởng kịp thời khi trẻ hoàn thành nhiệm vụ

Ngày đăng: 28/09/2017, 14:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Cao Thị Minh Châu, Vũ Thị Bích Hạnh, Nguyễn Thị Minh Thủy (2004), Một số dạng tật thường gặp ở trẻ em và cách phát hiện huấn luyện trẻ, NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số dạng tật thường gặp ở trẻ em và cách phát hiện huấn luyện trẻ
Tác giả: Cao Thị Minh Châu, Vũ Thị Bích Hạnh, Nguyễn Thị Minh Thủy
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2004
[2] Đặng Hoàng Minh và Hoàng Cẩm Tú (2001) “Tìm hiểu ảnh hưởng của hội chứng tăng động giảm chú ý đối với học tập ở trẻ em tiểu học”, Đề tài nghiên cứu khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu ảnh hưởng của hội chứng tăng động giảm chú ý đối với học tập ở trẻ em tiểu học
[3] Lê Thị Minh Hà và Lê Nguyệt Trinh (2013), Giáo dục trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý ở lứa tuổi tiểu học, NXBGDVN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý ở lứa tuổi tiểu học
Tác giả: Lê Thị Minh Hà và Lê Nguyệt Trinh
Nhà XB: NXBGDVN
Năm: 2013
[4] Maurice Reuchlin (1991), Tâm lý đại cương (tập 1, 2 và 3), dịch giả: BS. Lê Văn Luyện, NXB Thế Giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý đại cương (tập 1, 2 và 3)
Tác giả: Maurice Reuchlin
Nhà XB: NXB Thế Giới
Năm: 1991
[5] Nghiêm Chưởng Châu, Nguyễn Thị Nhất và BS. Nguyễn Khắc Viện (2007), Tâm lý học sinh mầm non, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học sinh mầm non
Tác giả: Nghiêm Chưởng Châu, Nguyễn Thị Nhất và BS. Nguyễn Khắc Viện
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
[6] Nguyễn Công Khanh (2002), Tâm lí trị liệu (Ứng dụng trong lâm sàng và tự chữa bệnh), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí trị liệu (Ứng dụng trong lâm sàng và tự chữa bệnh)
Tác giả: Nguyễn Công Khanh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
[7] Nguyễn Công Khanh (2002), Bước đầu thích nghi hóa các thang đánh giá những hành vi kém thích nghi của Conners trên học sinh, mầm non ,tiểu học và trung học cơ sở, Báo cáo khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu thích nghi hóa các thang đánh giá những hành vi kém thích nghi của Conners trên học sinh, mầm non ,tiểu học và trung học cơ sở
Tác giả: Nguyễn Công Khanh
Năm: 2002
[8] Nguyễn Công Khanh (2002), Rối nhiễu hành vi: Tăng động giảm chú ý ở học sinh tiểu học. Tạp chí Tâm lí giáo dục. 28/04/2002. 7 - 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối nhiễu hành vi: Tăng động giảm chú ý ở học sinh tiểu học
Tác giả: Nguyễn Công Khanh
Năm: 2002
[9] Nguyễn Thị Hồng Nga (2003), Thử ứng dụng một vài liệu pháp tâm lý trong trị liệu tăng động giảm chú ý ở học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội, Đề tài nghiên cứu khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử ứng dụng một vài liệu pháp tâm lý trong trị liệu tăng động giảm chú ý ở học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Nga
Năm: 2003
[10] Nguyễn Thu Hằng (ngày 13/03/2006) Trẻ quá hiếu động, thiếu tập trung. Nguồn: http/www.lamchame.com. Bác sĩ Nguyễn Thu Hằng biên dịch tổng hợp từ các trang http://www.caducee.net, http:// esculape Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trẻ quá hiếu động, thiếu tập trung
[11] Nguyễn Trọng Trung (1998) Nghệ thuật giáo dục trẻ cá biệt. Biên dịch và biên soạn theo cuốn The Hidden Handicap, How to help children who suffer from dyslexia, hyperactivity and learning difficulties của Bác sĩ Gordon Serfontein - NXB Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật giáo dục trẻ cá biệt". Biên dịch và biên soạn theo cuốn "The Hidden Handicap, How to help children who suffer from dyslexia, hyperactivity and learning difficulties của Bác sĩ Gordon Serfontein
Nhà XB: NXB Phụ nữ
[13] Nicole Malenfan (2005), Những trò chơi thư giãn cho trẻ thoải mái và chú ý, Người dịch Trần Văn Công Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những trò chơi thư giãn cho trẻ thoải mái và chú ý
Tác giả: Nicole Malenfan
Năm: 2005
[14] Phạm Minh Hạc (2002), Về phát triển toàn diện con người trong thời kì CNH - HĐH. NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phát triển toàn diện con người trong thời kì CNH - HĐH
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
[15] Tổ chức Ytế Thế giới (1992). Phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10 (PLBQT - 10) về các rối loạn tâm thần và hành vi. Mô tả lâm sàng và nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán. Bản dịch của Viên Sức khỏe Tâm thần - Bệnh viện Tâm thần trung ƣơng. Hà Nội 258 - 262 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10 (PLBQT - 10) về các rối loạn tâm thần và hành vi. Mô tả lâm sàng và nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán
Tác giả: Tổ chức Ytế Thế giới
Năm: 1992
[16] Trần Văn Công (2006), Bước đầu ứng dụng liệu pháp hành vi vào can thiệp cho trẻ tăng động giảm chú ý độ tuổi đầu tiểu học. Luận văn tốt nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu ứng dụng liệu pháp hành vi vào can thiệp cho trẻ tăng động giảm chú ý độ tuổi đầu tiểu học
Tác giả: Trần Văn Công
Năm: 2006
[18] Viện khoa học giáo dục (2000), Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010
Tác giả: Viện khoa học giáo dục
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
[19] Võ Thị Minh Chí (2002), “Một số nhận xét về kết quả nghiên cứu test Luria - 90 trên học sinh tăng động giảm chú ý bậc trung học cơ sở”, Đề tài nghiên cứu khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về kết quả nghiên cứu test Luria - 90 trên học sinh tăng động giảm chú ý bậc trung học cơ sở”
Tác giả: Võ Thị Minh Chí
Năm: 2002
[20] Zakhrov A.I (1987). Liệu pháp tâm lí loạn thần kinh chức năng ở trẻ em và thanh thiếu niên. Người dịch Lê Hải Chi. NXB Mir Matxcơva - NXB Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liệu pháp tâm lí loạn thần kinh chức năng ở trẻ em và thanh thiếu niên
Tác giả: Zakhrov A.I
Nhà XB: NXB Mir Matxcơva - NXB Y học Hà Nội
Năm: 1987
[21] American Academy of Pediatrics (Oct 2001). Clinical Practice Guideline: Treatment of the School - Aged Child With Attention - Defict Hyperactivity Disorder. Pediatrics. Vl08i4p1033 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical Practice Guideline: Treatment of the School - Aged Child With Attention - Defict Hyperactivity Disorder
[23] Carol Brady, Top 10 Educational Gamess for kids From: http://www.additudemag.com/adhd-web/article/567.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Top 10 Educational Gamess for kids

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w