1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu một số giải pháp góp phần quản lý rừng bền vững tại vườn quốc gia vũ quang, tỉnh hà tĩnh

77 270 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THƯỢNG HẢI NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG TẠI VƯỜN QUỐC GIA VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng Mã số: 60.62.68 LUẬN

Trang 1

-

NGUYỄN THƯỢNG HẢI

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG TẠI VƯỜN QUỐC GIA VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2011

Trang 2

NGUYỄN THƯỢNG HẢI

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG TẠI VƯỜN QUỐC GIA VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH

Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng

Mã số: 60.62.68

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS VƯƠNG VĂN QUỲNH

HÀ NỘI, 2011

Trang 3

sinh nên trong đó có nhiều loài động, thực vật quý hiếm và chứa đựng nhiều yếu tố đặc hữu Nơi đây đã thống kê được 465 loài thực vật bậc cao với nhiều loài quý, hiếm như: Cẩm lai, Du sam, Lát hoa, Lim, Giổi, Pơ mu, Hoàng đàn, Trầm hương…,

70 loài thú, trong đó có nhiều loài được xếp vào sách đỏ Việt Nam và thế giới như: Voi, Hổ, Bò tót… Đặc biệt ở đây vào những năm 1992, 1993 đã phát hiện ra hai

loài thú mới cho khoa học thế giới là: Sao la Pseudoryx nghetinhensis, Mang lớn

Megamuntiacus vuquangensis

VQG Vũ Quang không chỉ giàu tính đa dạng sinh học (ĐDSH) mà còn có những cảnh quan sinh thái đẹp, có thể tìm thấy ở đây 2 kiểu rừng chính là: Rừng kín thường xanh á nhiệt đới phân bố trên độ cao 1.000 m với các loài thực vật ưu thế thuộc các họ á nhiệt đới như: Đỗ quyên, Hồi, Dẽ, Mộc lan.v.v ; kiểu rừng kín thường xanh nhiệt đới dưới 1.000 m, với nhiều cây gỗ lớn, có trữ lượng cao, ưu thế

rõ nhất là: Re, Xoan, Bồ hòn.v.v

Cùng với sự đa dạng của các cảnh quan thiên nhiên, các hệ sinh thái, các giống loài cùng những mối quan hệ phức tạp giữa chúng với nhau, VQG Vũ Quang còn là nơi lưu giữ nguồn gen nhiều loài động, thực vật quý hiếm, cung cấp các mẫu vật và là nơi thực tập cho học sinh, sinh viên về nhiều lĩnh vực khác nhau như: Sinh vật học, sinh thái học, khí tượng, thủy văn…

Để bảo vệ những cánh rừng nguyên sinh, bảo tồn sự đa dạng sinh học đặc trưng của vùng rừng phía Tây Nam khu IV, góp phần duy trì sự cân bằng về sinh thái, tăng độ che phủ của rừng, bảo đảm an ninh môi trường và phát triển về kinh tế, đồng thời phát huy các giá trị sinh thái phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, tham quan và du lịch Ngày 30/7/2002 Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 102/2002/QĐ-TTg chuyển Khu BTTN Vũ Quang thành Vườn quốc gia Vũ Quang

Cùng với tình trạng chung trong cả nước, Vườn quốc gia Vũ Quang đang phải đối mặt với tệ nạn khai thác gỗ, lâm sản ngoài gỗ, săn bắt các loài động vật rừng trái

Trang 4

phép, nếu tình trạng này vẫn cứ tiếp diễn thì trong tương lai không xa tài nguyên rừng VQG Vũ Quang sẽ bị suy thoái, mất đi những giá trị quý báu của nó

Ngăn chặn những tác động xâm hại đến tài nguyên rừng là điều băn khoăn, trăn trở của các cấp, các ngành, cán bộ và người dân địa phương Để góp phần giải quyết vấn đề trên, trong khuôn khổ một luận văn cao học, tôi tiến hành thực hiện đề tài

“Nghiên cứu một số giải pháp góp phần quản lý rừng bền vững tại Vườn quốc gia

Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh”

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Định nghĩa về quản lý rừng bền vững

Từ lâu quản lý rừng bền vững đã được các nhà lâm học xem là vấn đề cơ bản của kinh doanh rừng Phần lớn các học thuyết về rừng đều hướng vào phân tích những quy luật sinh trưởng, phát triển của cá thể và quần thể rừng trong mối quan

hệ với các điều kiện tự nhiên và những tác động của kỹ thuật của con người Trên

cơ sở đó người ta xây dựng những biện pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao năng suất và tính ổn định của hệ sinh thái rừng Những kiến thức liên quan đến quản lý rừng bền vững được trình bày trong nhiều môn học khác nhau như lâm học, trồng rừng, quy hoạch rừng, điều chế rừng v.v Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, quản

lý rừng bền vững (QLRBV) đã trở thành một nguyên tắc đối với quản lý kinh doanh rừng, đồng thời cũng là một tiêu chuẩn mà quản lý kinh doanh rừng phải đạt tới Theo tổ chức Gỗ Nhiệt đới (ITTO), QLRBV là quá trình quản lý những lâm phận ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều hơn những mục tiêu quản lý rừng đã

đề ra một cách rõ ràng, như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng, không gây ra những tác động tiêu cực đối với môi trường tự nhiên và xã hội [8]

Theo Tiến trình Helsinki, QLRBV là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp đề duy trì tính ĐDSH, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng và duy trì tiềm năng của rừng trong quá trình thực hiện và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia và toàn cầu không gây ra những tác hại đối với các hệ sinh thái khác [8]

Hai khái niệm này đã nêu lên được mục tiêu chung của QLRBV là đạt được sự

ổn định về diện tích, bền vững về tính ĐDSH, về năng Suất kinh tế và đảm bảo được hiệu quả về môi trường sinh thái của rừng Tuy nhiên, vấn đề QLRBV cũng phải đảm bảo tính linh hoạt khi áp dụng các biện pháp quản lý rừng cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương, được quốc gia và quốc tế chấp nhận

Trang 6

Như vậy, QLRBV được hiểu là việc quản lý rừng bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt được mục tiêu đề ra như: ngăn chặn được tình trạng mất rừng, mà trong

đó việc khai thác lợi dụng rừng không mâu thuẫn với việc duy trì được diện tích và chất lượng của rừng, đồng thời duy trì và phát huy được chức năng bảo vệ môi trường sinh thái lâu bền đối với con người và thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn loài, bảo tồn các hệ sinh thái Quản lý rừng bền vững nhằm phát huy đồng thời những giá trị về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường của rừng

Mục tiêu cơ bản của quản lý rừng bền vững là đồng thời đạt được bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường

- Bền vững về kinh tế là đảm bảo kinh doanh rừng lâu dài liên tục với năng suất, hiệu quả ngày càng cao (không khai thác lạm vào vốn rừng; duy trì, phát triển diện tích, trữ lượng rừng; áp dụng các biện pháp kỷ thuật làm tăng năng suất rừng)

- Bền vững về xã hội là đảm bảo kinh doanh rừng phải tuân thủ các luật pháp, thực hiện tốt các nghĩa vụ đóng góp với xã hội, đảm bảo quyền hạn và quyền lợi cũng như mối quan hệ tốt với nhân dân, với cộng đồng địa phương

- Bền vững về môi trường là đảm bảo kinh doanh duy trì được khả năng phòng

hộ môi trường, duy trì được tính đa dạng sinh học của rừng, đồng thời không gây tác hại đối với các hệ sinh thái khác

Trên quan điểm kinh tế sinh thái thì hiệu quả về mặt môi trường của rừng hoàn toàn có thể xác định được bằng giá trị về kinh tế Thực chất việc nâng cao giá trị về môi trường sinh thái của rừng sẽ góp phần giảm những chi phí cần thiết để góp phần phục hồi và ổn định môi trường sống Với ý nghĩa này, quản lý sử dụng rừng bền vững đã trở thành một nhiệm vụ cấp bách, một giải pháp quan trọng cho sự tồn tại lâu dài của con người và thiên nhiên

1.2 Khái quát tình hình phát triển và nghiên cứu về quản lý rừng bền vững

1.2.1 Quản lý rừng bền vững trên thế giới

Trên thế giới, lịch sử quản lý rừng được phát triển từ rất sớm Đầu thế kỷ 18, các nhà lâm học Đức (G.L.Hartig, 1840; Heyer, 1883, Hundeshagen, 1926 ) đã đề xuất nguyên tắc lợi dụng lâu bền đối với rừng thuần loại đồng tuổi Cũng vào thời điểm đó,

Trang 7

các nhà lâm nghiệp Pháp (Gournand, 1922) và Thuỵ sĩ (H Biolley, 1922) cũng đã đề ra phương pháp kiểm tra điều chỉnh sản lượng đối với rừng khác tuổi khai thác chọn Trong thời kỳ này, hệ thống quản lý rừng phần lớn vẫn dựa trên các mô hình kiểm soát quốc gia trung ương Các khu đất rừng công cộng chiếm từ 25 -75% tổng diện tích đất đai của nhiều quốc gia Hiện nay, nhiều chính phủ vẫn giữ nguyên quyền pháp lý độc nhất kiểm soát toàn bộ khu rừng tự nhiên Các cơ quan Lâm nghiệp được giao bảo vệ những khu đất này thường phải đương đầu với các vấn đề vốn và nhân sự do ngân sách khu vực công cộng bị giảm xuống trong quá trình cải tổ kinh tế

Trong giai đoạn từ thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20, hệ thống quản lý rừng thường mang tính tập trung cao ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển Trong thời kỳ này, vai trò sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng không được chú ý Mặc dù trong các qui định pháp luật thì rừng là tài sản của toàn dân xong trong thực tế người dân không hề được hưởng lợi từ rừng và vì vậy người dân cũng không hề quan tâm đến vấn đề xây dựng và bảo vệ vốn rừng Họ chỉ biết khai thác tài nguyên rừng để lấy lâm sản và lấy đất canh tác phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của chính họ Bên cạnh đó cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp, nhu cầu lâm sản ngày càng tăng lên nên tình trạng khai thác quá mức đối với tài nguyên rừng trong giai đoạn này cũng trở thành nguyên nhân quan trọng của tình trạng suy thoái tài nguyên rừng Bước sang giai đoạn từ giữa thế kỷ 20 trở lại đây, khi tài nguyên rừng ở nhiều quốc gia đã bị giảm sút một cách quan trọng, môi trường sinh thái và cuộc sống của đồng bào miền núi bị đe doạ thì phương thức quản lý tập trung như trước đây không còn thích hợp nữa Người ta đã tìm mọi cách cứu vãn tình trạng suy thoái tài nguyên rừng thông qua việc ban bố một số chính sách nhằm động viên và thu hút người dân tham gia quản lý và

sử dụng tài nguyên rừng Phương thức quản lý rừng cộng đồng (hay lâm nghiệp cộng đồng) xuất hiện đầu tiên ở Ấn độ và dần dần biến thái thành các hình thức quản lý khác nhau như: Lâm nghiệp trang trại, Lâm nghiệp xã hội (Nêpan, Thái lan, Philippin ) Hiện nay, ở các nước đang phát triển, khi sản xuất nông Lâm nghiệp còn chiếm vị trí quan trọng đối với người dân nông thôn miền núi, thì quản lý rừng theo phương thức phát triển

Trang 8

Lâm nghiệp xã hội sẽ là một hình thức mang tính bền vững nhất về cả phương diện kinh

tế, xã hội lẫn môi trường sinh thái

1.2.2 Quản lý rừng bền vững ở Việt Nam

Tài nguyên rừng ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và đời sống kinh tế nói chung của chừng một phần ba dân số của cả nước Nó không chỉ cung cấp những sản phẩm phục vụ sinh hoạt hàng ngày như: gỗ, củi, lương thực, thực phẩm, dược liệu v.v , mà còn cung cấp những sản phẩm phục vụ nhu cầu công nghiệp, thủ công nghiệp và xuất khẩu Trong nhiều trường hợp rừng mang lại tới 60% tổng thu nhập của người dân Ngoài ra, do phân bố ở những vùng sinh thái nhạy cảm như các vùng đầu nguồn rộng lớn, các vùng ngập mặn, các vùng sình lầy v.v rừng còn là một trong những yêú tố

có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến hoàn cảnh môi trường của đất nước Nó góp phần quan trọng vào chống lại biến đổi khí hậu, điều tiết nguồn nước, giảm tần suất và mức nguy hiểm của các thiên tai như lũ lụt, hạn hán v.v…

Sự thất bại của công tác quản lý rừng và tài nguyên đất đai vùng đầu nguồn trong những thập kỷ qua đã làm Việt Nam mất đi hàng triệu ha rừng và là nguyên nhân chủ yếu gây ra những biến đổi khí hậu, gia tăng tần suất xuất và mức độ thiệt hại của hạn hán và lũ lụt, là nguyên nhân buộc Nhà nước phải đầu tư hàng nghìn tỉ đồng mỗi năm để củng cố đê điều và chống lũ cho các cánh đồng, là nguyên nhân của xói mòn và sự hoang hoá tới trên 50% diện tích đất đồi núi Quản lý rừng không hiệu quả trong những năm qua cũng làm cho nhiều vùng đất trũng, đất ngập mặn trù phú bởi các thảm rừng tràm, rừng đước với hàng trăm loài động vật hoang dã có giá trị cao đã và đang bị thay thế bởi các vùng nuôi tôm, các rừng trồng công nghiệp với mức độ măn hoá, phèn hoá ngày một nghiêm trọng

Trước những biến đổi mạnh mẽ của môi trường và hiểm hoạ sinh thái có thể xảy ra thì quản lý rừng bền vững ngày càng trở lên quan trọng Phần lớn các chương trình, dự án quốc tế hỗ trợ ngành lâm nghiệp hiện nay đều hướng vào quản lý rừng bền vững Những chương trình phát triển lâm nghiệp lớn của Nhà nước như chương trình 4304, 327, 5 triệu ha rừng v.v cũng xem quản lý rừng bền vững như một mục tiêu quan trọng Lâm nghiệp đang trở thành ngành kinh tế phát triển không chỉ

Trang 9

nhờ vào khả năng cung cấp hàng hoá lâm sản mà còn nhờ vào khả năng cung cấp các hàng hoá và dịch vụ về môi trường đáp ứng yêu cầu trong nước và quốc tế Quản lý rừng bền vững đang được đặt ra như một vấn đề bức xúc cả về quan điểm, phương pháp luận đến những giải pháp cụ thể Kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm trong nước và quốc tế về quản lý rừng bền vững thực sự là những bài học quý cho quản lý rừng ở mỗi địa phương

Các hoạt động nông nghiệp và khai thác gỗ trong những năm qua phát triển hết sức mạnh mẽ là nguyên nhân chủ yếu làm suy thoái tài nguyên rừng của Việt Nam Các khu rừng nguyên vẹn phần lớn chỉ còn sót lại ở các vùng núi cao, những nơi hiểm trở Đó là những nơi còn giữ được sự phong phú của các loài, là những nơi

cư trú cuối cùng của các loài đặc hữu và các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng

Ngoài các nguyên nhân làm mất rừng do sự gia tăng dân số, thiếu thốn về lương thực, phá rừng lấy đất canh tác, khai thác lâm sản quá mức, rừng Việt Nam còn bị ảnh hưởng bởi sự huỷ diệt trầm trọng bởi 2 cuộc chiến tranh kéo dài đã làm cho tài nguyên rừng bị gỉam sút vì bị bom đạn, chất độc hoá học tàn phá quá nặng

nề Nếu như tỷ lệ che phủ của rừng ở nước ta vào năm 1943 còn 43,3% thì đến năm

1976 chỉ còn 33,8% Tỷ lệ che phủ thấp nhất là vào năm 1995 với 28,2% Trong những năm gần đây nỗ lực của nhà nước với những chính sách đổi mới đã làm cho diện tích rừng tăng một cách rõ rệt Đến năm 2009, tỷ lệ che phủ rừng của cả nước

Trang 10

Qua kết quả kiểm kê rừng cho ta thấy, rừng sản xuất chỉ chiếm khoảng 1/3 tổng diện tích rừng, còn lại là rừng phòng hộ và đặc dụng Một số người cho rằng cơ cấu 3 loại rừng như trên trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay là chưa hợp lý, cần xem xét lại cơ cấu các loại rừng đồng thời cần có kế hoạch mở rộng diện tích rừng sản xuất để ngành lâm nghiệp có điều kiện đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế quốc dân Nguồn quỹ đất chưa có rừng chiếm 20%, đây là điều kiện thuận lợi để nâng cao diện tích rừng sản xuất đồng thời góp phần hoàn thành mục tiêu nâng độ che phủ rừng nước ta lên 43% trong tương lai Đây là việc làm khó khăn nhưng hoàn toàn có cơ sở và có khả năng đạt được Quản lý rừng bền vững là vấn đề rất cần thiết và hết sức cấp bách, là nhiệm vụ quan trọng, nặng nề của đất nước Công tác tổ chức quản lý sử dụng tài nguyên rừng ở Việt Nam có thể được chia thành 3 thời kỳ như sau

1.2.2.1 Thời kỳ trước năm 1945

Đơn vị quản lý rừng trong thời kỳ này được gọi là hạt lâm nghiệp có qui mô tương đương với cấp tỉnh Nội dung hoạt động lâm nghiệp trong thời kỳ này chủ yếu là quản lý tài nguyên rừng nhằm để thu thuế là chính Để thực hiện mục tiêu khai thác tài nguyên rừng, người ta đã chia rừng thành ba loại

- Rừng không thuộc quản lý của Nhà nước Đây là những khu rừng ở vùng sâu vùng xa với mật độ dân địa phương rất thấp, khó tiếp cận và kiểm soát Ở những khu rừng này dân địa phương có quyền tự do khai thác gỗ, lâm sản và phát nương làm rẫy để đáp ứng các nhu cầu hàng ngày của họ

- Rừng khai thác là những khu rừng tự nhiên nằm gần các khu dân cư và có điều kiện giao thông thuận lợi Rừng được phân chia thành các đơn vị quản lý, được kiểm kê tài nguyên, điều tra các thông tin cơ bản phục vụ quản lý Các đơn vị rừng được chia thành các coup (cúp) khai thác và Nhà nước quy định cấp kính tối thiểu được phép khai thác Kiểm lâm đặt các trạm kiểm soát ở cửa rừng, tất cả các gỗ khai thác ra được chấp nhận, đóng búa, nộp thuế và cho phép lưu thông [8]

- Rừng quan trọng là những khu rừng có vị trí quan trong về kinh tế được khai thác và bảo vệ trong suốt luân kỳ hoặc là những khu rừng có chức năng quan trọng khác như rừng đầu nguồn cần bảo vệ nghiêm ngặt

Trang 11

1.2.2.2 Thời kỳ từ năm 1946 - 1990

Sau năm 1945, ngành Lâm nghiệp được quản lý bởi Nha lâm chính thuộc Bộ canh nông với nhiệm vụ được qui định là Quản lý lâm phận: Ngăn ngừa sự tàn phá rừng và sự lạm dụng lâm sản, gìn giữ các khu rừng có quan hệ đến sự điều hoà khí hậu và mực nước của các triền sông, giữ vững các cồn cát để khỏi lấn vào nội địa; thi hành lâm pháp và thi hành thể lệ về săn bắn

Các hoạt động lâm nghiệp trong giai đoạn này luôn gắn liền với nhiệm vụ kháng chiến và tập trung chủ yếu vào các nhiệm vụ: (i) - Xây dựng chính sách thể chế lâm nghiệp bao gồm: Xoá bỏ các thể lệ lâm nghiệp độc quyền, xây dựng tổ chức và chính sách thể chế lâm nghiệp mới; cải tiến chế độ thu tiền bán khoán lâm sản; chính sách phát triển trồng cây gây rừng; (ii) - Các thể chế về bảo vệ rừng, sản xuất, lưu thông và xuất nhập khẩu lâm sản; thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng: Khai thác gỗ và lâm sản phục vụ yêu cầu kháng chiến; vận động nhân dân trồng cây; đóng góp các nguồn thu của ngành lâm nghiệp vào ngân sách; đào tạo cán bộ lâm nghiệp; công tác nghiên cứu lâm nghiệp

Đến giai đoạn 1956 - 1975, được đánh dấu bởi sự thành lập của Tổng cục Lâm nghiệp như là cơ quan đầu não của ngành lâm nghiệp Ở cấp tỉnh có các ty lâm nghiệp

để quản lý nhà nước về lâm nghiệp Hoạt động lâm nghiệp trong thời kỳ này chủ yếu vẫn là khai thác và bảo vệ rừng tự nhiên Lượng gỗ khai thác thời kỳ này trung bình khoảng 1,5 triệu m3/năm Nhiệm vụ trồng rừng tuy có được chú ý nhưng qui mô nhỏ (50.000 ha/năm) và tỷ lệ thành rừng rất thấp (khoảng 30%) Giai đoạn 1976 -1990 là những năm có nhiều thay đổi trong hệ thống tổ chức và chính sách quản lý lâm nghiệp được đánh dấu bằng sự thành lập Bộ Lâm nghiệp năm 1976 [8]

Năm 1986, rừng được qui hoạch thành ba loại theo chức năng, đó là: Rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng Rừng được giải thửa thành các tiểu khu để làm đơn vị quản lý Các hoạt động quản lý và sản xuất lâm nghiệp của ba loại rừng nói trên được nghiên cứu phát triển và có nhiều đổi mới trong giai đoạn này Tổ chức của các

hệ thống quản lý ba loại rừng có thể được tóm lược như sau: Đối với rừng sản xuất, được quản lý bởi các Liên hiệp lâm nông công nghiệp và các lâm trường quốc doanh; đối với rừng phòng hộ các vùng đầu nguồn trọng yếu như: Sông Đà, Dầu Tiếng, Trị

Trang 12

An, Thạch Nham có các ban quản lý rừng phòng hộ trực thuộc Bộ Lâm nghiệp, các khu rừng phòng hộ khác do các lâm trường quản lý hoặc các ban quản lý rừng phòng

hộ trực thuộc tỉnh, liên hiệp ; đối với rừng đặc dụng, thành lập các Vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên có ban quản lý để bảo vệ nghiêm ngặt theo quy chế riêng

1.2.2.3 Thời kỳ từ năm 1991 đến nay

Từ tháng 10/1995, Bộ Lâm nghiệp (cũ) cùng với Bộ Thủy lợi (cũ) sát nhập vào với Bộ Nông nghiệp (cũ) để thành lập Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Trong Bộ mới có 2 Cục chuyên ngành Lâm nghiệp đó là Cục Phát triển Lâm nghiệp

và Cục Kiểm lâm

Tại các tỉnh có Sở NN&PTNT, trong sở có hai cơ quan chuyên ngành lâm nghiệp đó là Chi cục Phát triển Lâm nghiệp và Chi cục Kiểm lâm, một số tỉnh thì Chi cục Kiểm lâm trực thuộc UBND tỉnh

Ở cấp huyện, có phòng NN&PTNT và Hạt kiểm lâm Phòng NN&PTNT giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ lợi và phát triển nông thôn; Hạt kiểm lâm trực thuộc Chi cục kiểm lâm cấp tỉnh

và chịu sự lãnh đạo của UBND huyện để thực hiện các nhiệm vụ được giao cho lực lượng kiểm lâm trên địa bàn huyện

Ở cấp xã, hiện nay đa số các xã đã có kiểm lâm viên, công tác BVR được tăng cường đến tận các khu rừng trên địa bàn xã

Bốn định hướng đổi mới về chiến lược phát triển lâm nghiệp đã được vạch ra trên cơ sở của dự án “Nghiên cứu tổng quan phát triển Lâm nghiệp Việt Nam”: Chuyển lâm nghiệp từ ngành kinh tế có nhiệm vụ khai thác tài nguyên rừng là chính, trở thành một ngành kinh tế có nhiệm vụ cơ bản là xây dựng và phát triển vốn rừng; chuyển lâm nghiệp từ một ngành kinh tế chỉ có Nhà nước và tập thể sang một nền lâm nghiệp xã hội, thu hút nhiều thành phần kinh tế trong đó có cả hộ gia đình, cá nhân và các lực lượng xã hội tham gia xây dựng rừng và kinh doanh rừng; chuyển lâm nghiệp từ một nền kinh tế chuyên khai thác gỗ tự nhiên sang một ngành kinh tế kinh doanh nhiều sản phẩm, phát triển nhiều ngành nghề; chuyển lâm nghiệp

Trang 13

từ tình trạng quảng canh, trình độ khoa học kỹ thuật thấp sang xây dựng một ngành lâm nghiệp, thâm canh, có trình độ khoa học kỹ thuật cao

Để thực hiện định hướng chiến lược có 4 chương trình: Chương trình quản lý rừng (điều chế rừng), bảo vệ rừng và tổ chức lại sản xuất lâm nghiệp; chương trình trồng rừng, sử dụng đất trống đồi núi trọc và phát triển lâm nghiệp theo phương thức nông lâm kết hợp; chương trình khai thác hợp lý và sử dụng có hiệu quả tài nguyên rừng và chương trình đổi mới tổ chức và cơ chế quản lý lâm nghiệp theo cơ chế thị trường

Trong giai đoạn này, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách liên quan đến quản

lý rừng bền vững; đó là Luật đất đai và các chính sách giao đất lâm nghiệp; Luật bảo vệ

và phát triển rừng (1991, năm 2004 ) và các thể chế về tăng cường quản lý bảo vệ rừng; Qui chế quản lý 3 loại rừng: sản xuất, phòng hộ và đặc dụng Nghị định của Chính phủ quy định trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp

Về cơ sở lý luận, ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững Một số đề tài nghiên cứu đã bước đầu đề xuất các giải pháp cụ thể áp dụng cho một số vùng như quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững lưu vực sông Sê San của Phạm Đức Lân và Lê Huy Cường [26]; quản lý bền vững rừng khộp ở Ea Súp - Đăc Lắc của

Hồ Viết Sắc [33]; du canh với vấn đề QLRBV ở Việt Nam của Đỗ Đình Sâm [34]

Hiện nay, trên địa bàn các tỉnh Bắc Trung Bộ chưa có một đề tài nghiên cứu nào về công tác quản lý sử dụng rừng bền vững Vì vậy, đề tài sẽ nghiên cứu một số giải pháp chính áp dụng cho công tác quản lý sử dụng rừng theo hướng tổng hợp và bền vững trên địa bàn VQG Vũ Quang, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh là sự cần thiết

Trang 14

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu tổng quát: Góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng tại VQG Vũ Quang

- Mục tiêu cụ thể:

+ Làm rõ được thực trạng quản lý rừng ở VQG Vũ Quang

+ Xác định được các yếu tố thuận lợi và khó khăn với quản lý rừng ở VQG Vũ Quang

+ Đề xuất một số giải pháp góp phần quản lý rừng bền vững tại VQG Vũ Quang

2.2 Nội dung nghiên cứu

Phù hợp với mục tiêu nghiên cứu và những điều kiện cụ thể của địa phương đề tài tiến hành một số nội dung sau:

- Đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng Vườn quốc gia Vũ Quang

Nội dung này nhằm đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng ở Vườn quốc gia Vũ Quang, bao gồm: Diện tích các loại rừng, quy hoạch sử dụng rừng, sự đa dạng về tài nguyên thực vật, động vật và các sinh cảnh cũng như sự phân bố của chúng theo không gian và các vùng địa lý khác nhau Đồng thời xác định tầm quan trọng của VQG Vũ Quang đối với đời sống kinh tế, xã hội địa phương cũng như giá trị sinh thái đối với quốc gia và thế giới

- Đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng tài nguyên rừng ở VQG Vũ Quang

Trong nội dung này đề tài phân tích đặc điểm quản lý tài nguyên rừng, trong

đó tập trung vào các hoạt động bảo vệ, phát triển và sử dụng tài nguyên rừng ở VQG Vũ Quang và vùng đệm

- Những yếu tố thuận lợi và khó khăn đối với hoạt động quản lý rừng ở VQG

Vũ Quang

Nội dung này nhằm phân tích nhóm các yếu tố tự nhiên, kinh tế và xã hội có ảnh hưởng tới hoạt động quản lý rừng ở vườn quốc gia Vũ Quang

Trang 15

- Nghiên cứu những giải pháp để góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng

Từ kết quả nghiên cứu những nội dung trên để tìm ra những giải pháp góp phần bảo vệ bền vững tài nguyên rừng tại VQG Vũ Quang

2.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là VQG Vũ Quang

và một số khu vực vùng đệm thuộc địa phận huyện Vũ Quang, Hương Khê và huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh

- Phạm vi nghiên cứu: Những vấn đề có liên quan đến tài nguyên rừng, những giải pháp góp phần quản lý bền vững tài nguyên rừng tại VQG Vũ Quang

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp luận

- Đề tài vận dụng quan điểm hệ thống để xây dựng phương pháp nghiên cứu Theo quan điểm này rừng vừa là một bộ phận của hệ thống tự nhiên vừa là một bộ phận của hệ thống kinh tế xã hội

Rừng là một bộ phận của hệ thống tự nhiên, bởi vì sự tồn tại và phát triển của

nó phụ thuộc những quy luật của tự nhiên, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác trong hệ thống tự nhiên như: địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, sinh vật v.v Do có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố tự nhiên mà có thể quản lý rừng bằng tác động vào các yếu tố tự nhiên Trên quan điểm hệ thống có thể xem những giải pháp quản lý rừng như là những giải pháp điều khiển hệ thống tự nhiên để ổn định thành phần và các mối quan hệ trong hệ sinh thái rừng Đây là lý do vì sao trong đề tài này, nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên đến rừng được coi là một nội dung quan trọng Rừng cũng là một bộ phận của hệ thống kinh tế vì sự tồn tại và phát triển của nó gắn liền với các hoạt động kinh tế của con người như trồng rừng, khai thác lâm sản, làm nương rẫy, săn bắt chim, thú, phát triển du lịch v.v Mặt khác, các hoạt động này lại phụ thuộc vào mức sống kinh tế, cơ cấu ngành nghề, nhu cầu thị trường, khả năng đầu tư, lợi nhuận v.v Ngoài ra, rừng cũng tác động mạnh mẽ tới các yếu tố kinh tế thông qua cung cấp nguyên liệu, năng lượng và thông tin cho nhiều hoạt động kinh tế của con người Nó có tác động tới nhiều yếu tố của hệ thống kinh tế từ sản

Trang 16

xuất, phân phối, lưu thông, tiêu dùng và tích luỹ v.v Vì quan hệ chặt chẽ với các yếu tố trong hệ thống kinh tế nên có thể quản lý rừng bằng việc tác động vào những yếu tố kinh tế Đây là lý do vì sao việc nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế đến hiệu quả của hoạt động quản lý rừng và xây dựng những giải pháp kinh tế cho quản lý rừng được xác định như một trong những nhiệm vụ của đề tài

Rừng cũng là một thực thể xã hội, sự tồn tại và phát triển của rừng phụ thuộc nhiều vào hoạt động của con người Hoạt động của họ theo hướng bảo vệ và phát triển rừng hay tàn phá nó luôn bị chi phối bởi nhiều yếu tố xã hội như nhận thức về giá trị của rừng, ý thức với luật pháp Nhà nước, trách nhiệm với cộng đồng, kiến thức về quản lý rừng, những phong tục, tập quán liên quan đến quản lý rừng v.v Rừng và hiệu quả của hoạt động quản lý rừng cũng phụ thuộc vào những vấn đề thể chế và chính sách như hoạt động của hệ thống tổ chức Nhà nước trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, các chính sách đất đai, chính sách sở hữu và sử dụng rừng ở địa phương Rừng và hiệu quả của quản lý rừng còn phụ thuộc vào sự hiện diện của các tổ chức cộng đồng và những quy định của cộng đồng Chúng hỗ trợ Nhà nước trong việc tuyên truyền vận động người dân, động viên và giám sát họ thực hiện những chính sách Nhà nước Do rừng có liên quan chặt chẽ với các yếu tố xã hội nên có thể quản lý rừng bằng tác động vào những yếu tố xã hội Đây là lý do vì sao trong đề tài này phân tích ảnh hưởng của những yếu tố xã hội đến hiệu quả của quản

lý rừng, coi đây là một nội dung quan trọng Những giải pháp xã hội cho quản lý rừng bền vững sẽ là những giải pháp tác động vào các mối quan hệ xã hội để lôi cuốn cộng đồng vào hoạt động quản lý bảo vệ rừng

- Quản lý rừng là hoạt động vừa mang tính kỹ thuật, vừa mang tính kinh tế và

xã hội nhân văn nên những giải pháp quản lý rừng phải được xây dựng trên quan điểm đa ngành

Quản lý rừng là hoạt động mang tính kỹ thuật, nhưng cũng là hoạt động mang tính kinh tế xã hội Vì vậy, những giải pháp quản lý rừng sẽ bao gồm cả những giải pháp khoa học công nghệ và giải pháp kinh tế xã hội Những giải pháp này sẽ liên quan đến cả lâm nghiệp, nông nghiệp, thuỷ lợi, địa chính, giao thông, môi trường,

Trang 17

văn hoá, giáo dục, quốc phòng v.v và được xây dựng trên cơ sở những kiến thức khí tượng học, thuỷ văn học, lâm sinh học, dân tộc học, xã hội học, thể chế kinh tế, môi trường và phát triển v.v Chúng được lồng ghép với nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau để đạt được mục tiêu đặt ra và giảm đến mức thấp nhất những chi phí của

xã hội và vẫn đạt được mục tiêu quản lý rừng

- Quản lý rừng bền vững là một hoạt động phát triển

Quản lý rừng bền vững hướng vào cải thiện chất lượng cuộc sống con người,

vì vậy, nghiên cứu những quản lý rừng phải được thực hiện theo cách tiếp cận của nghiên cứu phát triển Trong đề tài này các giải pháp quản lý rừng luôn hướng vào mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và được lồng ghép với những hoạt động phát triển kinh tế xã hội khác Trình tự của nghiên cứu trong đề tài này là: phân tích thực trạng, xác định nguyên nhân và xây dựng giải pháp phù hợp với hoàn cảnh địa phương Đây là lý do vì sao trong đề tài này coi phương pháp nghiên cứu tham dự là một trong những phương pháp chủ đạo

2.4.2 Phương pháp thu thập thông tin

Quá trình thu thập và sử lý thông tin được tiến hành theo các phương pháp chủ yếu sau:

- Kế thừa các tư liệu trong và ngoài nước

Những tài liệu được tham khảo trong quá trình phân tích thực trạng tìm kiếm các giải pháp quản lý rừng ở địa phương như sau:

+ Những tài liệu khí hậu thủy văn, kết quả điều tra đất, thực vật, động vật, tài liệu thống kê tài nguyên đất đai, dân số và lao động, chính sách kinh tế - xã hội, tài liệu về lịch sử làng xã

+ Những kết quả nghiên cứu liên quan đến quản lý rừng ở địa phương

+ Những tài liệu về kinh nghiệm quản lý rừng của các nước, những nguyên tắc

và tiêu chuẩn QLRBV của các tổ chức quốc tế

- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn RRA và đánh giá nông thôn có sự tham gia PRA

Trang 18

+ Lựa chọn đối tượng: Nhóm đối tượng phỏng vấn, thảo luận thu thập thông tin đa dạng, phong phú như, mức sống khác nhau, địa bàn cư trú khác nhau, địa vị

xã hội khác nhau, lĩnh vực quản lý khác nhau nhưng đều có sự hiểu biết về các vấn

đề có liên quan đến quản lý rừng

• Giải pháp nhằm góp phần QLRBV ở Vườn quốc gia Vũ Quang

Một số công cụ PRA được áp dụng trong quá trình khảo sát như sau:

+ Lược sử thôn bản;

+ Biểu đồ hướng thời gian;

+ Lịch thời vụ;

+ Bảng câu hỏi phỏng vấn bán định hướng;

Phương pháp đánh giá nông thôn tham dự (PRA) được áp dụng để kiểm tra kết quả và xác định những yếu tố quan trọng nhất đang thúc đẩy hay cản trở, thách thức quá trình quản lý rừng; lựa chọn những giải pháp ưu tiên, đề xuất những khuyến nghị sử dụng hợp lý tài nguyên rừng tại địa phương PRA được thực hiện sau nghiên cứu RRA thông qua một số cuộc thảo luận với những nhóm người dân, cán

bộ thôn, xã, huyện ở địa bàn nghiên cứu Một số công cụ PRA được lựa chọn trong quá trình khảo sát như sau:

+ Lược sử thôn bản Công cụ lược sử thôn bản được sử dụng để tìm hiểu quá trình hình thành các buôn làng, quá trình di cư, chuyển đổi các hình thái tổ chức sản xuất, diễn biến của hoạt động sử dụng rừng và đất rừng, sự thay đổi về quan điểm, nhận thức, kiến thức của người dân và những nguyên nhân thay đổi này ở địa phương

+ Biểu đồ hướng thời gian Công cụ này được sử dụng để thu thập và phân tích thông tin liên quan đến quản lý sử dụng tài nguyên rừng

+ Lịch thời vụ Công cụ này được sử dụng để thu thập thông tin về bố trí cơ cấu cây trồng, biện pháp kỹ thuật gieo trồng ở địa phương để có thể xem xét đánh giá các kiến thức bản địa cổ truyền tương ứng

Trang 19

+ Bảng câu hỏi phỏng vấn bán định hướng Các câu hỏi phỏng vấn là câu hỏi bán định hướng, chúng được sắp xếp theo chủ đề phỏng vấn

- Phương pháp chuyên gia

Đề tài sử dụng phương pháp chuyên gia để điều chỉnh và hoàn thiện những giải pháp đã được hình thành sau khi phân tích tài liệu ngoại nghiệp Với phương pháp này đề tài dự kiến sẽ gửi báo cáo sơ bộ của luận án cho một số chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý rừng và phát triển nông thôn miền núi Những ý kiến của họ sẽ được sử dụng để điều chỉnh và hoàn thiện các giải pháp quản lý bền vững rừng ở địa phương

2.4.3 Phương pháp xử lý thông tin

Trong quá trình xử lý tài liệu, đề tài tiến hành chỉnh lý và sắp xếp các thông tin được thu thập theo thứ tự ưu tiên, mức độ quan trọng của vấn đề, phân tích các ý kiến, quan điểm để lựa chọn và tìm giải pháp Đồng thời phải tính định lượng một

số vấn đề có thể thực hiện được và liên hệ với các kết quả điều tra nhanh Những thông tin thu thập được có những thông tin định tính và những thông tin định lượng, các thông tin này đều có giá trị quan trọng như nhau khi sử dụng xây dựng luận văn Toàn bộ những thông tin, số liệu thu thập được sẽ được chỉnh lý, tổng hợp phân tích đánh giá về các mặt sau:

+ Phân tích đánh giá các thông tin về điều kiện tự nhiên như địa hình, địa mạo, khí hậu thuỷ văn, tài nguyên đất và tài nguyên sinh vật bằng cách thống kê sắp xếp, phân tích đánh giá các thông tin

+ Phân tích đánh giá các thông tin về chính sách trong công tác quản lý sử dụng và phát triển rừng, những tồn tại vướng mắc về chế độ chính sách trong quá trình thực hiện công tác quản lý sử dụng rừng bằng phương pháp SWOT

+ Thống kê phân tích tổng hợp đánh giá các thông tin về xã hội

+ Tổng hợp đánh giá các thông tin về kinh tế, đánh giá hiệu quả sản xuất theo các mô hình canh tác theo chỉ tiêu tổng hợp lợi nhuận, bằng phương pháp dựa trên các yếu tố tĩnh

+ Hiệu quả kinh tế của các mô hình sử dụng đất và phương án sử dụng đất của các hộ dân trong vùng nghiên cứu

Trang 20

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Lược sử hình thành và phát triển của Vườn quốc gia Vũ Quang

Vũ Quang trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ là một khu bảo tồn rừng với diện tích khoảng 30.000 ha và vì thế, cấm mọi hoạt động xâm hại rừng đối với cộng đồng dân cư địa phương Đến những năm 1960 – 1977, các lâm trường Trại Trụ, Vũ Quang được thành lập để khai thác nguyên liệu gỗ phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Trong thời gian này, gỗ ở khu vực Vũ Quang bị khai thác mạnh, cấu trúc rừng bị phá vỡ, nhất là khu vực núi thấp Năm 1986, rừng Vũ Quang được Chính phủ công nhận là Khu bảo tồn thiên nhiên theo quyết định số 194, ngày 09/08/1986 của Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) với diện tích 16.000 ha Năm 1992, các nhà khoa học đã phát hiện ở khu vực Vũ Quang 2 loài thú mới là Sao la và Mang lớn Sau phát hiện gây chấn động này, Dự án đầu tư Khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang được Viện Điều tra Quy hoạch rừng và Quỹ Bảo

vệ thiên nhiên Quốc tế (WWF) hoàn thành, trong đó đề xuất diện tích khu bảo tồn thiên nhiên với diện tích 55.950 ha Do đó, ngày 30/7/2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 102/2002/QĐ-TTg chuyển hạng khu BTTN Vũ Quang thành Vườn Quốc Gia Vũ Quang với tổng diện tích là là 55.058 ha

Năm 2006, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã đề xuất Thủ tướng Chính phủ chuyển đổi 2,17 ngàn ha rừng đặc dụng VQG Vũ Quang sang mục đích khác để phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn (quyết định số 1404/QĐ-TTg, ngày 30/10/2006) [36], đồng thời ban hành Quyết định số 3209/QĐ-UBND, ngày 29/12/2006 về việc phê duyệt quy hoạnh 3 loại rừng thì diện tích VQG là 56.915,6

Trang 21

Vườn quốc gia Vũ Quang có toạ độ địa lí: từ 18o09’ đến 18o27’ vĩ độ Bắc và

từ 105o16’ đến 105o35’ độ kinh Đông Ranh giới phía Đông giáp rừng phòng hộ Sông Tiêm và khu dân cư xã Hòa Hải, huyện Hương Khê Phía Nam và Tây giáp với nước Cộng hòa DCND Lào và rừng phòng hộ Công ty TNHH lâm nghiệp và dịch vụ Hương Sơn Phía Bắc giáp khu dân cư và trụ Sở UBND huyện Vũ Quang Vườn được kẹp giữa 3 vùng thượng nguồn sông Rào Nổ, Ngàn Trươi và Ngàn Phố

3.2.2 Đặc điểm địa chất, khí hậu thủy văn

3.2.2.1 Địa hình địa mạo [19]

Vườn Quốc gia Vũ Quang có nhiều đỉnh núi với các độ cao khác nhau từ núi thấp đến núi cao Trong đó có đỉnh Rào Cỏ cao với 2286 m Sườn núi Đông của hệ núi trùm lên một phần lớn diện tích vùng núi của Hà Tĩnh đến tận thung lũng của Hương Khê Vườn có sườn phía Nam giáp Lào, địa hình khá thoải về thung lũng Nậm Ca Đinh của Lào, với nhiều diện tích bằng phẳng trải rộng Địa hình Vườn Quốc gia Vũ Quang được đặc trưng bởi các kiểu sau đây:

- Kiểu địa hình núi diện tích 31.180 ha chiếm 56,6% diện tích VQG, phân bố chạy dọc theo biên giới Việt Lào Độ cao của địa hình núi từ 301 – 2.000 m với nhiều đỉnh cao độ dốc 20o – 35o có nơi hơn 35o Đây là kiểu địa hình đặc trưng có ý nghĩa quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học

- Kiểu địa hình đồi đai cao <300 m có diện tích 23.681 ha chiếm 43% tổng diện tích VQG, độ dốc nhỏ hơn so với kiểu địa hình núi là từ 15o – 30o phân bố chủ yếu ở phân khu hồi sinh thái Thực vật ở kiểu địa hình này chụi nhiều tác động của con người, đặc biệt năm 1986 trở về trước là khu vực dành riêng cho khai thác lâm sản Kiểu địa hình đồi có ý nghĩa trong việc phục hồi hệ sinh thái bản địa góp phần bảo tồn nguồn gen, đa dạng sinh học

- Kiểu địa hình đồng bằng dốc tụ và thung lũng có diện tích rất ít 197 ha chiếm 0,4% VQG, phân bố theo dạng đồng bằng ở Hương Quang và dạng thung lũng ở Hoà Hải, hiện đang được sử dụng canh tác nông lâm ngư nghiệp và dân cư Nhìn chung VQG Vũ Quang có nhiều đỉnh núi cao hiểm trở, độ dốc lớn và nhiều khe suối nên đã chia cắt địa hình thành nhiều lưu vực, lòng chảo, có sườn

Trang 22

nghiêng, và bãi bằng dưới các đỉnh núi Vì vậy đã tạo ra tính đa dạng về dạng lập địa và các kiểu vùng khí hậu Đây là nguyên nhân hình thành nhiều hệ sinh thái điển hình, đặc trưng là kiểu rừng hỗn hợp cây lá rộng, lá kim ẩm á nhiệt đới với loài

Pơmu (Fokienia hodginsii) sống đại trà; kiểu rừng lùn đỉnh núi (rừng cảnh tiên) với các loại cây hạt trần như: Đỗ quyên (Phododeudron spp), Dẻ lá nhỏ

(Quereusuyreinae folia)

3.2.2.2 Địa chất và thổ nhưỡng

Toàn bộ VQG Vũ Quang nằm ở sườn Đông Bắc của dãy Trường Sơn giai đoạn tán kiến tạo được nâng lên do những chuyển động đôi khi xảy ra những hoạt động phun trào mắc ma, tạo nền đỏ bazan ở một vài điểm nhỏ ở gần biên giới Việt Lào, còn các vùng trũng có cuội kết thô, cát kết, bột kết màu đỏ, chính những vận động địa chất ấy đã tạo nên dạng kiến trúc không đối xứng trong khu vực Do đó địa chất được chia thành hai nhóm chính sau [19]:

- Nhóm đá mắc ma axít kết tinh chua: Phân bố chủ yếu ở trên kiểu địa hình núi Do có độ dốc lớn nên đất hình thành ở nhóm đá này thường có kết cấu không bền vững, hàm lượng mùn thấp, khi mưa rất dễ bị xói mòn rửa trôi trở thành đất trơ sỏi đá

- Nhóm đá phiến thạch sét: Phân bố chủ yếu ở địa hình đồi, phần lớn ở phân khu phục hồi sinh thái Đất có hàm lượng khoáng dễ tiêu (N, P, K, Mg…) tương đối cao, kết cấu tương đối tốt

- Đất feralit mùn vàng đỏ phát triển trên đá phún xuất kết tinh chua (FH) trên núi trung bình và cao, phân bố từ 700 m trở lên

- Đất feralit vàng đỏ: phát triển trên đá phún xuất kết tinh chua ở vùng đồi và núi thấp, phân bố ở độ cao dưới 700m, đất có tầng trung bình đến dày, độ pH =3,5 phân bố chủ yếu ở vùng phòng hộ sinh thái

- Đất phù sa được bồi hàng năm ở vùng đồng bằng ven cửa sông có thành phần cơ giới cát pha hoặc thịt trung bình, không chua, độ pH=5,6

Trang 23

3.2.2.3 Khí hậu và thuỷ văn

Vườn Quốc gia Vũ Quang có chế độ khí hậu kết hợp giữa khí hậu Lào và khí hậu miền Trung Việt Nam

- Chế độ khí hậu trên núi cao

Ở các vùng núi cao dọc biên giới, khí hậu chịu ảnh hưởng của khí hậu Lào

Ở đây, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 với gió mùa từ Lào và kết thúc cùng với mùa mưa ở miền Trung Việt Nam vào tháng 11 Kết quả là đã có một sự tương phản giữa mùa hè nóng khô ở vùng đồng bằng của VQG với lượng mưa phong phú và gió mạnh ở các vùng núi cao Ở phía Lào của dãy Trường Sơn, mùa đông tương đối khô với gió mùa thổi từ Ấn độ dương đạt đỉnh điểm vào tháng 6, 7 và 8 Trong khi phía Lào có một mùa mưa không rõ ràng và phía Việt Nam nhận được lượng mưa tương đối lớn vào các tháng 6, 7 và 8, thì các đỉnh núi lại có lượng mưa cao từ tháng

5 đến tháng 10 và không có mùa khô Chế độ mưa như vậy là nét độc đáo của chế

độ khí hậu Vũ Quang, nó ảnh hưởng tới thực vật của khu vực và sự phân bố của các loài động vật quý hiếm ở đây

- Chế độ khí hậu vùng đồng bằng và đồi núi thấp

+ Ở vùng đồng bằng và vùng đồi thấp, khí hậu có ba mùa Mùa đông từ tháng

12 đến tháng 3 với thời tiết lạnh và độ ẩm cao, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 8 và mùa mưa với các trận mưa rào lớn và thường xảy ra lụt lội từ tháng 9 đến tháng 11 Đôi khi có những cơn mưa lớn bất thường vào tháng 5 gây ra lụt tiểu mạn Ở vùng này không có mùa khô rõ ràng

+ Nhiệt độ trung bình năm là 25,60C Tháng 7 là tháng nóng nhất có nhiệt độ tối cao trung bình là 30,50C, tháng Giêng (một) lạnh nhất với nhiệt độ trung bình 19,60C, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối là 2,60C Biên độ nhiệt độ cao nhất và nhiệt độ thấp nhất trong ngày lớn nhất vào tháng 6, 7 và nhỏ nhất vào tháng 1 và tháng 2 + Lượng mưa: Tổng lượng mưa trung bình hàng năm của Vũ Quang là 2.697,6

mm, tập trung nhiều vào các tháng 8, 9 và 10 là Số ngày mưa trong tháng tương đối đồng đều quanh năm từ 10 đến 18 ngày Mùa đông lượng mưa không lớn, chủ yếu là mưa phùn, trong khi mùa thu thường có mưa rào

Trang 24

+ Độ bốc hơi và độ ẩm: VQG Vũ Quang có một đặc điểm là độ ẩm cao quanh năm (lớn hơn 70%) Độ ẩm cao nhất 80,4% là vào tháng 12 khi nhiệt độ thấp và biên độ dao động nhiệt trong ngày thấp Khí hậu tháng 1, tháng 2 có đặc điểm là nhiều sương mù và mưa phùn Độ ẩm thấp nhất vào tháng 6 khi số giờ nắng và nhiệt độ đều đạt tối đa + Chế độ gió: Gió là một yếu tố khí hậu có ảnh hưởng lớn tới thảm thực vật của vườn quốc gia Từ tháng 4 đến tháng 8 thường có gió Tây nam (gió Lào) khô nóng thổi từ Ấn Độ và Pakistan qua với vận tốc 10-15m/s, có khi nhiệt độ lên đến

40 – 500C, thường thổi từ lúc bình minh đến giữa buổi chiều và theo chu kỳ 3 đến 4 ngày, giữa các đợt gió thường kèm theo mưa rào

- Một số nét chính của khí hậu VQG Vũ Quang:

+ Nhiệt độ bình quân năm: 25,60C

+ Nhiệt độ trung bình cao nhất : 30,50C

+ Nhiệt độ trung bình thấp nhất : 19,60C

+ Lượng mưa trung bình năm: 2.697,6 mm

+ Độ ẩm trung bình năm: 75,4 %

+ Số giờ nắng bình quân năm: 1.215 giờ

Để thấy được sự tương quan giữa nhiệt độ và độ ẩm ta có thể xem hình 3.1 sau đây

64 66 68 70 72 74 76 78 80 82

Hình 3.1: Biểu đồ độ ẩm và nhiệt độ

Trang 25

Qua việc phân tích các yếu tố khí hậu ở VQG Vũ Quang ta thấy đây là một vùng

có khí hậu rất khác biệt với nhiều nơi trong cả nước, là sự giao thoa giữa khí hậu Lào

và khí hậu miền Trung Việt Nam Chính sự khác biệt này làm cho nơi đây có nhiều sinh cảnh rất độc đáo và chứa đựng nhiều loài động, thực vật có yếu tố đặc hữu

- Chế độ thuỷ văn

Vũ Quang là vùng có hệ thống sông ngòi tương đối dày và là khu vực thượng nguồn của 3 con sông chính: Sông Ngàn Phố ở huyện Hương Sơn, sông Ngàn Sâu và Ngàn Trươi ở huyện Hương Khê Có thể chia hệ thống thuỷ văn của VQG thành ba hệ thuỷ rõ rệt

+ Về phía Tây là hệ thuỷ Khe Tre thuộc huyện Hương Sơn Vùng thượng lưu bắt nguồn từ độ cao trên 1.400m và đổ xuống theo một độ nghiêng rất dốc trên một đoạn dài 8 km xuống độ cao 300m và chảy tiếp với độ dốc không đáng kể đến tận trạm bảo vệ rừng Khe Tre, sau đó nhập với sông Ngàn Phố Các suối ở đây rất dốc ngắn và hẹp nên dòng chảy rất mạnh

+ Sông Ngàn Trươi dài 30 km, rộng 30m đến 35m, bắt nguồn từ các suối ven biên giới Việt Lào có độ cao 1.000m Đoạn thượng nguồn rất dốc nhiều đá nổi và thác, gây nhiều khó khăn trong việc đi lại Đoạn đường từ đồn biên phòng đến sông Ngàn Sâu chảy dọc theo thung lũng tương đối bằng phẳng, độ dốc thấp nên có thể

đi lại bằng thuyền nhỏ

+ Sông Rào Nổ nằm phía Bắc Vườn quốc gia thuộc huyện Hương Khê, tập trung nước của các khe Mang Đằng, Hỗ chảy qua các xã Hoà Hải và Hương Thọ Sông có những đoạn đổ dốc rất khó khăn cho việc đi lại

Trong khu vực Vũ Quang, suối có đặc điểm là ngắn và dốc nhiều thác ghềnh Khi mưa lũ lên rất nhanh nhưng xuống cũng rất nhanh, khả năng điều tiết nước kém, mùa lũ xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 11 Đây là một đặc điểm gây khó khăn cho các hoạt động bảo vệ rừng và du lịch sinh thái

Lượng mưa và lượng bốc hơi khu vực vườn quốc gia VQG Vũ Quang được thể hiện qua biểu đồ sau:

Trang 26

0 100 200 300 400 500 600 700 800 900

Hình 3.2: Biểu đồ lượng mưa và lượng bốc hơi hàng tháng

Từ hình 3.1 và 3.2 cho thấy nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng 1, 2 với 19,6oC và cao nhất vào tháng 6 và 7 với 30,5oC Tương tự lượng mưa thấp nhất vào tháng Giêng với 43,4 mm và cao nhất vào tháng 10 với 876,7 mm Độ ẩm tương đối biến động không lớn, đạt max vào tháng 10 và min vào tháng 6 Còn lượng bốc hơi biến đổi khá mạnh, tháng thấp nhất chỉ có 30 mm còn tháng cao nhất lên tới 137 mm

3.3 Điều kiện kinh tế xã hội

3.3.1 Dân số, dân tộc và phân bố dân cư

Vũ Quang

Thị trấn Vũ Quang 6 804 2.925 100 Hương Minh 10 631 2.421 100 Hương Thọ 11 679 2.660 100 Hương Quang 4 423 1.764 78,02 21,98 Hương Điền 6 272 1.145 100

Hương Sơn Sơn Tây 14 2.023 8.083 100

Sơn Kim 2 14 1.174 4.036 99,9 0,1 Hương Khê Hòa Hải 21 1.582 7.275 100

(Nguồn: Dự án VCF - VQG Vũ Quang)

Trang 27

- Dân số: Có 30.309 người thuộc 86 thôn (8 xã của 3 huyện) hiện đang sinh sống trong vùng đệm của Vườn Quốc gia Hầu hết là người dân của xã Sơn Tây huyện Hương Sơn (8.083 khẩu thuộc 14 thôn), xã có ít cư dân nhất là xã Hương Điền thuộc huyện Vũ Quang với 6 thôn, 1.145 nhân khẩu [48]

- Tỷ lệ tăng dân số năm 2010 là 1,2%

- Dân tộc: Trong vùng đệm vườn Quốc gia Vũ Quang có 2 dân tộc sinh sống là: dân tộc Kinh và Lào (thường gọi là Lào Thừng) Trong đó, dân tộc Kinh chiếm 97%, dân tộc Lào chỉ chiếm 3% (129 hộ với 923 nhân khẩu), tập trung chủ yếu ở xã Hương Quang và rãi rác ở xã Sơn Kim 2 Đây là một điểm khác biệt của Vườn quốc gia Vũ Quang so với các Vườn quốc gia khác trên toàn quốc

3.3.1.2 Mật độ dân số

- Mật độ dân số của ba huyện có các xã nằm trong vùng đệm VQG Vũ Quang như sau: Huyện Vũ Quang 49 người/km2, huyện Hương Sơn 105 người/km2: huyện Hương Khê: 79 người/km2

Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân cơ bản được quan tâm, các chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ em, phun tẩm màn, chương trình phòng chống bệnh lao, công tác phòng chống HIV/AIDS… được phổ biến và thực hiện rộng rãi trong toàn dân Đặc biệt bệnh sốt rét vẫn là mối đe doạ đối với người dân sinh sống trong vùng, nhất là vào mùa mưa Tuy nhiên, trong mấy năm gần đây bệnh sốt rét

đã có chiều hướng giảm so với các năm trước [48]

Trang 28

3.3.2 Giáo dục

3.3.2.1 Tỷ lệ trẻ đến trường

Theo báo cáo của UBND các huyện Vũ Quang, Hương Sơn và Hương Khê thì 100% trẻ em đến tuổi đều đi học và các huyện đều đã hoàn thành chương trình phổ cấp giáo dục tiểu học

3.3.3 Cơ sở hạ tầng, đường giao thông

Trong vùng đệm VQG Vũ Quang có tỉnh lộ 5, đường mòn Hồ Chí Minh đi qua

là tuyến đường huyết mạch thông thương từ miền xuôi lên miền núi, là một điều kiện rất thuận lợi để phát triển nền kinh tế vùng Bên cạnh tuyến tỉnh lộ còn có một hệ thống đường do tỉnh, huyện, xã quản lý cũng góp phần rất quan trọng để nối kết giữa các thôn bản trong vùng Hiện nay, hầu hết các xã đều có đường ô tô rải nhựa vào đến trung tâm

xã, một số tuyến nhánh được đổ bằng bê tông, chỉ còn xã Hương Điền - huyện Vũ Quang đường chưa được rải nhựa nên vào mùa mưa đi lại khó khăn

- Hệ thống bưu chính viễn thông

Khu vực trung tâm gần Trụ sở ban quản lý VQG Vũ Quang và các vùng lân cận có hệ thống điện thoại hữu tuyến và vô tuyến, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt trong cả nước và trên thế giới, kịp thời an toàn và thuận tiện

Trang 29

3.3.4 Nông nghiệp và thực trạng thu nhập

Các hoạt động sản xuất chủ yếu hiện nay ở ba huyện vùng đệm Vũ Quang, huyện Hương Sơn và huyện Hương Khê tập trung trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, thuỷ sản, công nghiệp và một số hoạt động khác Trong đó, sản xuất Nông nghiệp chủ đạo nhưng với diện tích gieo trồng còn nhỏ, manh mún, bình quân mỗi hộ 0,36 ha Cơ cấu các loài cây trồng chính như: Lúa, ngô, sắn, lạc, mía nhưng

đa số các vùng có năng suất cây trồng thấp nên đời sống của người dân nơi đây còn gặp nhiều khó khăn Vẫn còn 26,89% số hộ thiếu lương thực trong những tháng giáp hạt

Bảng 3.2 Tình trạng nghèo đói ở vùng đệm VQG Vũ Quang

Trang 30

dân vùng đệm VQG, không những cung cấp thực phẩm tại chỗ mà còn cung cấp sức kéo cũng như phân bón phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, góp phần làm tăng năng suất cây trồng, cải tạo đồng ruộng Tỷ lệ chăn thả rông Trâu bò khu vực vùng đệm VQG Vũ Quang vẫn còn phổ biến, nhất là ở một số xã cận kề ranh giới Vấn đề này cần được xem xét trong việc quy hoạch vùng chăn thả cho các xã vùng đệm Sản xuất công nghiệp chưa phát triển

+ Các ngành nghề khác

Các ngành nghề phi nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại chưa phát triển, một số nơi đã xuất hiện các ngành nghề đan lát thủ công mỹ nghệ nhưng còn manh mún, nhỏ lẻ, thu nhập từ nghề này không đáng kể Một mặt do đường sá

đi lại tương đối khó khăn, xa trung tâm huyện lỵ, mặt khác, trong vùng hiện tại chưa phát triển được nền sản xuất hàng hoá, nên khả năng tiêu thụ và giao lưu sản phẩm còn ít Sức mua, bán mới chỉ dừng ở các sản phẩm phục vụ nhu cầu thiết yếu của đời sống và sản xuất

Trang 31

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Hiện trạng tài nguyên rừng Vườn quốc gia Vũ Quang

4.1.1 Diện tích rừng và đất lâm nghiệp Vườn quốc gia quản lý

- Tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp được giao quản lý: 56.915,6 ha

Trong đó: + Rừng tự nhiên: 52.246,1 ha

- Rừng đặc dụng được phân theo phân khu chức năng:

+ Bảo vệ nghiêm ngặt: 31.673,0 ha

+ Phục hồi sinh thái: 20.614,1 ha

+ Hành chính dịch vụ: 594,6 ha

- Diện tích vùng đệm: 41.39 ,1 ha

4.1.2 Tài nguyên thực vật và các sinh cảnh

Rừng chiếm 95% diện tích VQG, trong đó rừng nguyên sinh chiếm 61% phân bố ở độ cao 400m trở lên, tán dày, cây to, trữ lượng lớn, còn 39% là rừng thứ sinh trong đó rừng tre nứa chiếm 5,1%, đây là vùng thích nghi cho các loài thú lớn như Voi, Bò tót, Mang lớn v.v

VQG Vũ Quang có hai kiểu rừng chính, đó là rừng kín thường xanh á nhiệt đới ở đai cao và rừng kín thường xanh ở đai thấp [1]

- Rừng kín thường xanh á nhiệt đới phân bố ở độ cao trên 1.000m thực vật ưu thế thuộc các họ á nhiệt đới: Đỗ quyên, Hồi, Dẽ, Mộc lan.v.v Đặc biệt là ở đây xuất hiện Pơmu và Hoàng đàn giả là hai cây hạt trần có kích thước lớn và là loài gỗ quý

Trang 32

- Rừng kín thường xanh nhiệt đới phân bố ở độ cao dưới 1.000m độ dốc thấp cây có kích thước lớn, trữ lượng cao, các loài cây có ưu thế rõ rệt nhất là: Re, Xoan,

Bồ hòn.v.v nhưng lại có tổ thành thấp hơn

Khi phân chia theo đai thực vật rừng ở VQG Vũ Quang được chia làm 5 đai,

cụ thể như sau [1]:

- Rừng thường xanh trên đất thấp phân bố ở đai cao 10 - 300m ở phía Bắc và đông Bắc VQG, rừng ở đây chủ yếu đây là rừng thứ sinh phục hồi trên đất thấp, xen

kẻ có một số diện tích trảng cỏ và cây bụi

- Rừng thường xanh trên núi thấp phân bố trong khoảng đai cao từ 300m - 1.000m, ở vùng trung tâm của VQG Rừng ở đai này chủ yếu là rừng thứ sinh có trữ lượng lớn

- Rừng thường xanh trung bình phân bố trên đai có độ cao từ 1.000 - 1.400m, dọc theo dải hẹp, chạy dài liên tục từ phía Bắc đến Đông nam VQG Kiểu rừng này chủ yếu các loài cây lá rộng, nhưng cũng có một số loài cây lá kim thuộc các họ Kim giao

(Podocarpaceae) và Hoàng đàn (Cupressaceae), Pơ mu (Fokienia hodginsii)

- Rừng thường xanh trên núi cao: Phân bố ở đai cao 1.400 - 1.900 m trên các sườn dốc và các dông ở phía Nam và phía Tây nam VQG Kiểu rừng này có một số

loài cây lá kim, nhưng ưu thế là các loài họ Côm (Eleocarpaceae), họ Dẻ

(Fagaeae), Long não (Lauracaea), Mộc lan (Magnoliaceae) Đặc biệt ở đây xuất

hiện loài Du sam (Keteleeria evelyniana)

- Rừng phân bố trên độ cao > 1.900m Chủ yếu rừng lùn ở tận cùng phía nam VQG Trên các đai cao này liên tục có mây mù che phủ, độ ẩm lớn thuận lợi cho việc

phát triển kiểu rừng với ưu thế các loài Đỗ quyên (Rhododendron sp) cùng với các loài cây thuộc họ Dẻ (Fagaceae), Long não (Lauraceae) và họ Côm (Elaeocarpaceae)

Qua điều tra đã thống kê được 1.032 loài, 326 chi, 134 họ thực vật bậc cao Nhìn chung hệ thực vật của Vũ Quang thuộc khu hệ Nam Trung Hoa - Bắc Việt Nam, ở đây xuất hiện các yếu tố chuyển tiếp với khu hệ nhiệt đới điển hình của Việt Nam như: Cẩm lai, Song bột… đặc trưng cho khu hệ phía Nam và tại Vũ Quang còn có nhiều loài

thực vật quý hiếm, như: Trầm Hương (Aquylaria crasna), Pơmu (Fokienia hodginsii), Thông tre (Fodocaypus nenriifolius), Cẩm lai (Datbergia sp), Song Bột (Calamus

poilanei), Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum)

Trang 33

Tài nguyên thực vật ở đây được phân thành 5 nhóm

+ Nhóm cây gỗ: 103 loài với nhiều loài cây gỗ quý như: Lát hoa, Cẩm lai, Pơmu.v.v + Nhóm cây hoa và cây cảnh: 50 loài đáng chú ý là Thanh đạm và Phi điệp v.v + Nhóm cây thuốc: 77 loài đáng chú ý là Sa nhân, Ba kích, Thiên niên kiện, Hoàng đằng, Sâm Vũ Quang với số lượng tương đối nhiều [1]

+ Nhóm cây ăn quả với nhiều loài như: Sấu, Dâu da xoan, Bứa, Dọc.v.v…

Sự đa dạng các loài thực vật của VQG Vũ Quang được thể hiện qua bảng so sánh với các Vườn quốc gia khác như sau:

Bảng 4.1: Một số trung tâm đa dạng sinh học của Việt Nam

Vườn

Quốc gia

Diện tích (ha)

Số loài thực vật

Cát Bà 15.200 620 Rừng trên núi đá vôi

Cát Tiên 73.878 1.362 Rừng thường xanh đất thấp, đầm lầy

Cúc Phương 22.200 1.944 Rừng nguyên sinh trên núi đá vôi

(Nguồn: VQG Vũ Quang)

Bên cạnh sự đa dạng về số loài thì Vườn Quốc gia Vũ Quang còn có nhiều loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam và Thế giới Bảy trong số 36 loài loài thực vật tìm thấy ở Vũ Quang được đưa vào danh sách các loại thực vật bị đe doạ của IUCN,

16 loài có trong Sách đỏ Việt Nam và Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ

4.1.3 Tài nguyên động vật

Cả thế giới biết đến sự độc đáo và giàu có về ĐDSH của VQG Vũ Quang khi

ở đây đã phát hiện ra hai loài thú mới năm 1992 và 1993 là: Sao la (Pseudoryx

nghetinhensis), Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis) Tiếp sau đó vào năm

1998, phát hiện thêm loài Thỏ vằn (Nesolagus timminsis) Ngoài ra cũng tại đây

cũng là nơi sinh sống của nhiều loài thú quý hiếm đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng như: Bò tót, voi, hổ Đông dương Bên cạnh các loài thú quan trọng nêu trên,

Trang 34

thì năm 1998 tại VQG Vũ Quang lại mô tả được 5 loài cá chưa từng được phát hiện

ở Việt Nam [19]

Hình 4.1 Các loài thú mới được phát hiện ở VQG Vũ Quang

Cụ thể đã thống kê được 575 loài động vật có xương sống, bao gồm 87 loài thú,

311 loài chim, 65 loài bò sát, 26 loài lưỡng cư, 88 loài cá Ngoài ra ở đây có số lượng loài bướm phong phú với 316 loài Trong đó có rất nhiều loài quan trọng (bảng 4.2)[19]

- Trong 87 loài thú có 37 loài có tầm quan trọng của quốc gia và quốc tế Ở đây có những loài thú lớn như: Voi, Bò tót, Nai Ngoài ra còn có các loài quý hiếm như: Chà vá chân nâu, Voọc gáy trắng, Vượn má vàng

- Chim được phân bố nhiều ở VQG Vũ Quang đặc biệt có những loài quý

hiếm như: Trĩ sao (Rheinartia ocellata), Gà lôi hông tía (Lophura diardi), Gõ kiến đầu đỏ (Picus rabieri), Hồng hoàng (Bucero bicornis)

Bảng 4.2: Tổng hợp thành phần loài động thực vật ở VQG Vũ Quang

loài

Loài thuộc danh mục CITES

2008

Loài trong Sách đỏ

2007

Loài thuộc danh lục đỏ IUCN 2009

Trang 35

là trong 11 loài thú mới được phát hiện ở Việt Nam gần đây thì có 7 loài có mặt ở VQG Vũ Quang

Bảng 4.3 Danh mục một số loài động vật quý hiếm ở VQG Vũ Quang

Ghi chú

1 Sao la Pseudoryxnghetinhensis Phát hiện ở

Vũ Quang (*)

2 Mang lớn Megamuntaius vuquangensis (*)

3 Gà Lam đuôi trắng

(Gà lừng) Lophura hatinhensis

4 Mang trường sơn Caninmuntiacus truongsonensis

5 Chà vá chân nâu Pygathrix n nemaeus

Trang 36

- Tổ chức mạng lưới bảo vệ rừng

Hoạt động bảo vệ rừng Vườn quốc gia Vũ Quang do Hạt Kiểm lâm vườn thực hiện Hạt Kiểm lâm do Giám đốc vườn làm Hạt trưởng, được biên chế 52 người Hạt gồm: văn phòng Hạt, 9 trạm Kiểm lâm và 01 Đội Kiểm lâm Cơ động và PCCCR Đa

số Kiểm lâm vườn đã qua đào tạo từ các trường chuyên ngành (12 đại học, 9 trung cấp,

31 sơ cấp) nên trình độ chuyên môn tương đối tốt, chỉ một số ít được chuyển từ lâm trường khai thác và tuyển từ địa phương Về phương tiện, trang thiết bị, dụng cụ: 01 xe

ô tô tuần tra và 01 xe ô tô cẩu, 10 xe máy, 10 cưa xăng, 12 máy thổi gió và một số công

cụ hỗ trợ như: Súng hơi cay, dùi cui điện, cao su, còng số 8

Qua kết quả phỏng vấn cán bộ bảo vệ rừng Vườn quốc gia thì đây là lực lượng tương đối mạnh, đa số trẻ, khỏe, nhiệt tình có đủ năng lực để hoàn thành nhiệm vụ Tuy nhiên, hiện nay lực lượng bảo vệ rừng của Vườn còn thiếu 50 định biên so với quy định, nguyên nhân là do Chính phủ và tỉnh Hà Tĩnh chưa bố trí cho vườn

Trong những năm qua, để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ rừng, Vườn quốc gia Vũ Quang đã tạo điều kiện cho cán bộ công chức, viên chức được tham gia đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tại các trường, trung tâm trong nước, đồng thời tổ chức tập huấn nâng cao nghiệp vụ về Kỹ năng làm việc với cộng đồng, kỹ thuật tuần tra rừng, điều tra một số loài động vật quý hiếm như các loài Linh trưởng, móng guốc… và sử dụng máy tính, GPS; tổ chức tham quan học tập kinh nghiệm quản lý BVR ở một số địa phương trong nước

- Đóng mốc ranh giới Vườn quốc gia

Năm 1986, sau khi được thành lập, Ban quản lý Khu BTTN Vũ Quang đã phối hợp với chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng và cộng đồng dân cư sống trong vùng đệm, vùng giáp ranh KBT, tiến hành khảo sát, xác định ranh giới quản lý trên bản đồ và thực địa, đồng thời đóng một số mốc trên các tuyến ranh giới nhạy cảm, có nguy cơ lấn chiếm đất rừng cao Năm 2002, sau khi được chuyển từ KBT thành Vườn quốc gia đến nay, Vườn đã đầu tư kinh phí đóng mốc ranh giới trên toàn bộ diện tích được giao quản lý Ranh giới được xác định rõ ràng nên tình trạng lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy không còn xảy ra

Trang 37

- Tăng cường cơ sở vật chất để bảo vệ rừng, PCCCR

Để tăng cường năng lực cho công tác bảo vệ rừng, PCCCR, Vườn quốc gia

Vũ Quang đã huy động mọi nguồn lực để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng cho lực lượng bảo vệ rừng Hiện nay, Vườn quốc gia có hệ thống thông tin liên lạc tương đối hoàn chỉnh, như: máy bộ đàm, điện thoại di động, mạng internet, các thiết

bị điều tra rừng (địa bàn cầm tay, GPS) đảm bảo thông tin, liên lạc xuyên suốt kịp thời giữa các trạm với Văn phòng Hạt Kiểm lâm; phương tiện tuần tra, bảo vệ rừng như: xe ô tô, mô tô, xe cẩu; dụng cụ PCCCR như: cưa xăng, máy thổi gió, bình chữa cháy thủ công và một số công cụ hỗ trợ Đây là những thiết bị, phương tiện đem lại hiệu quả trong bảo vệ rừng và PCCCR Tuy nhiên, để phục vụ các công việc đòi hỏi có độ chính xác cao, kịp thời, trong thời gian tới Vườn phải đầu tư trang bị thêm một số thiết bị cho việc giám sát những hành vi xâm hại rừng, giám sát lửa rừng, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và nghiên cứu khoa học

- Tuyên truyền giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức, ý thức bảo vệ rừng

Để thực hiện công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật, Vườn quốc gia đã phối hợp với Chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng, tổ chức chính trị, xã hội trên địa bàn tổ chức tuyên truyền sâu, rộng đến các tầng lớp nhân dân, đặc biệt các cộng đồng sống trong vùng đệm Vườn quốc gia

Công tác tuyên truyền giáo dục được thực hiện thông qua nhiều hình thức, phong phú về nội dung, phù hợp với đối tượng, phong tục tập quán nên đã đem lại hiệu quả trong công tác bảo vệ rừng Việc thực hiện tuyên truyền, phổ biến pháp luật được thể hiện thông qua một số hình thức như sau:

Thực hiện Dự án 327, 661, VQG Vũ Quang đã tiến hành giao khoán trồng rừng, bảo vệ, khoanh nuôi XTTS cho các cộng đồng người dân đang sinh sống trong vùng đệm Thông qua dự án để thảo luận xây dựng cam kết về quyền lợi và trách nhiệm của bên giao và bên nhận khoán, do đó ý thức của người dân về bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường đã được nâng lên; thực hiện Dự án bảo tồn, Vườn đã tuyên truyền hướng dẫn người dân kỷ thuật canh tác nông, lâm nghiệp, trồng các loài cây phù hợp với nhu cầu sử dụng để bỏ dần tập quán sống dựa vào rừng tự nhiên, quen dần với

Trang 38

phương thức sản xuất mới; dự án phát triển rừng sản xuất Vườn đề nghị UBND các huyện ưu tiên cho các xã vùng đệm trồng hàng nghìn ha rừng nguyên liệu, trong đó

có hỗ trợ kỷ thuật, cây giống và phân bòn; dự án phát triển nông thôn đã xây dựng hoạt động khuyến nông giúp người dân xây dựng những mô hình trình diễn sản xuất

có hiệu quả cao, mở các lớp đào tạo cho cán bộ và cho nông dân địa phương về kỹ thuật sản xuất tiến bộ, lồng ghép với hoạt động bảo vệ rừng

Bảng 4.4 Các hoạt động về tuyên truyền giáo dục từ năm 2006 - nay

Stt Hoạt động vị tính Đơn Số

lượng

Đơn vị phối hợp tổ chức Địa điểm

1 Tuyên truyền lưu động Cuộc 126

UBND các xã (văn hóa, lâm nghiệp, phụ

nữ, thanh niên

Các xã, thôn gần rừng

2 Phóng sự truyền hinh, phát

thanh huyện, xã Cuộc 600 UBND huyện, xã Toàn huyện

3 Cam kết trong trường học,

thôn bản

Đơn vị/bản

120 /4926

Kiểm lâm huyện, Ban giám hiệu, học sinh các trường

Các trường PTCS, THCS, các xã vùng đệm

5 Số lượng tờ rơi, tờ bướm,

các ấn phẩm tuyên truyên Tờ 8.000

Các tổ chức đòn thể, cán bộ thôn xóm Các xã vùng đệm

(Nguồn: VQG Vũ Quang)

Nhằm tăng cường năng lực cũng như kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục bảo tồn ở các trường Trung học cơ sở, VQG Vũ Quang đã phối hợp với Phòng Truyền thông của ENV, Hon đa Việt Nam tổ chức các đợt tập huấn với đối tượng là cán bộ huyện, phòng giáo dục, giáo viên các trường THCS và cán bộ đoàn cơ sở, thành lập các “Câu lạc bộ xanh” để tuyên truyền tại các trường học, cơ quan đơn vị trên địa bàn

Kết quả phỏng vấn cho thấy những hoạt động tuyên truyền đã có tác dụng tích cực đến thay đổi nhận thức, ý thức và hành vi về bảo vệ rừng cho nhiều người, bao gồm cả những người trực tiếp tham gia và những người không trực tiếp tham gia hoạt động tuyên truyền

Ngày đăng: 28/09/2017, 14:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm